Mẹ Về Trời & Tình con yêu Chúa

Kính mừng Đại lễ Đức Maria hồn xác lên trời 15.08.2018

Hòa chung niềm vui của mẹ Giáo Hội Công Giáo. 

httpv://www.youtube.com/watch?v=cuFgoZu0YXo&list=RD83ShcuFOqxw&index=27

Mẹ Về Trời Ns: Phanxicô. Cs: Mai Thiên Vân 

httpv://www.youtube.com/watch?v=fSlW3c2rt7U&index=9&list=RD83ShcuFOqxw

Tình con yêu Chúa – Cẩm Ly.mpg

Trung tâm nghiên cứu Pew: Lý do khiến một số người Hoa Kỳ không thống thuộc tôn giáo

Trung tâm nghiên cứu Pew: Lý do khiến một số người Hoa Kỳ không thống thuộc tôn giáo

vietcatholic.net 10.8.2018

Vũ Văn An

Theo Becka A. Alper của Trung Tâm Nghiên cứu Pew, số người Hoa Kỳ không thống thuộc tôn giáo ngày càng gia tăng. Gần đây Trung Tâm này có thăm dò hơn 1,300 người trong số họ, mà ngôn ngữ hiện nay gọi là “nones”, để biết lý do tại sao họ đã không đồng hóa với bất cứ tôn giáo nào. Trong số các lý do có thể chọn trong cuộc thăm dò, lý do được chọn nhiều hơn cả là họ nghi ngờ các giáo huấn tôn giáo.

 Sáu trong mười người Hoa Kỳ không thống thuộc tôn giáo, tức những người trưởng thành tự mô tả căn tính tôn giáo của mình là vô thần, bất khả tri hay “không gì đặc biệt cả”, cho rằng nghi ngờ các giáo huấn tôn giáo là lý do rất quan trọng khiến họ không thống thuộc. Lý do được chọn nhiều thứ hai làchống đối các lập trường của các giáo hội về các vấn đề xã hội và chính trị, được 49% người trả lời trưng dẫn (cuộc thăm dò đưa ra các câu hỏi riêng biệt về mỗi một trong 6 chọn lựa). Số ít hơn, nhưng vẫn đáng kể, nói rằng họ không ưa các tổ chức tôn giáo (41%), không tin Thiên Chúa (37%), coi tôn giáo không liên quan đến họ (36%) hoặc không thích các nhà lãnh đạo tôn giáo.

Những người tự nhận là vô thần, bất khả tri hoặc “không gì đặc biệt cả” có khuynh hướng đưa ra các lý do khác nhau cho việc không thống thuộc của họ, cho thấy người “nones” không phải là một nhóm thuần nhất (monolithic group). Thí dụ, khoảng chín trong mười người tự mô tả mình vô thần (89%) nói: việc họ không tin Thiên Chúa là lý do rất quan trọng đối với căn tính tôn giáo của họ, so với 37% người bất khả tri và 21% người “không gì đặc biệt cả”. Người vô thần cũng có nhiều xác xuất hơn những người “nones” khác trong việc nói rằng tôn giáo đơn giản không liên hệ gì tới họ (63% người vô thần so với 40% người bất khả tri và 26% người trưởng thành không có tôn giáo đặc thù nào).

Trung tâm cũng hỏi những người không thống thuộc tôn giáo câu nào trong sáu tuyên bố có thể có là lý do đơn nhất quan trọng hơn cả khiến họ không thống thuộc. Một lần nữa, nghi ngờ các giáo huấn tôn giáo đứng đầu các câu trả lời, với một phần tư mọi người “nones” cho biết đây là lý do quan trọng nhất. Số tương tự (22%) trưng dẫn việc không tin Thiên Chúa, và 16% cho hay lý do quan trọng nhất là họ không thích lập trường của các giáo hội về các vấn đề xã hội và chính trị.

Cũng có nhiều dị biệt lớn giữa ba tiểu nhóm không thống thuộc về vấn đề này. Ba phần tư người vô thần nói lý do quan trọng nhất khiến họ vô thần là họ không tin Thiên Chúa. Ít người bất khả tri (17%) và người “không gì đặc biệt cả” (8%) nói lý do này. Trong số những người tự coi mình là bất khả tri, lý do quan trọng nhất được trưng dẫn khiến họ bất khả tri lànghi ngờ khá nhiều giáo huấn tôn giáo (38%).

Những người tự nhận “không gì đặc biệt cả” đưa ra một loạt các câu trả lời khác nhau khi được hỏi lý do quan trọng nhất khiến họ không thống thuộc tôn giáo, chứ không có câu trả lời đơn độc nào trổi vượt cả. Một phần tư cho hay lý do quan trọng nhất là nghi ngờ nhiều giáo huấn tôn giáo, 21% nói họ không thích lập trường của các giáo hội về các vấn đề xã hội và chính trị, và 28% nói không có lý do nào đề nghị là quan trọng cả…

Trong một cuộc thăm dò trước đây, Pew yêu cầu những người Hoa Kỳ không thống thuộc tôn giáo nhưng trước đây từng được dưỡng dục trong tôn giáo (chiếm đa số trong mọi nhóm không thống thuộc) giải thích bằng chính ngôn từ của họ tại sao họ không còn đồng hóa với bất cứ nhóm tôn giáo nào. Vấn đề này cũng nhận được hàng loạt các trả lời khác nhau từ nhóm “không gì đặc biệt cả”. Một số nói rằng họ không tin các giáo huấn tôn giáo hoặc không thích tôn giáo có tổ chức, trong khi những người khác cho hay họ là người tôn giáo (dù không thống thuộc) hoặc họ tin Thiên Chúa nhưng không thực hành bất cứ tôn giáo nào.

From:  KimBằngNguyễn

BÍ QUYẾT YÊU MẾN KINH THÁNH

BÍ QUYẾT YÊU MẾN KINH THÁNH

Cuối tháng Chín hàng năm, Giáo hội kính nhớ Thánh tiến sĩ Giêrônimô, bổn mạng các dịch giả.  Ngài sinh ra không là thánh ngay, ngài có tính nóng này và gay gắt nên nhiều người không ưa, ngài còn bị cám dỗ dữ dội về đức khiết tịnh nên ngài chiến đấu bằng cách cầu nguyện và ăn chay nhiều.

Mặc dù khuyết điểm về tính khí và thường xuyên bị kẻ thù tấn công, ngài vẫn là người thông minh xuất chúng, đam mê nghiên cứu, nhất là say mê Lời Chúa.

Giáo Hội rất biết ơnThánh Giêrônimô, đặc biệt về lòng yêu mến Lời Chúa và tác phẩm nghiên cứu của ngài.  Có điều quan trọng là ngài đã hoàn tất bản dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Latin – chúng ta gọi là “Vulgate” (bản phổ thông), và từ bản phổ thông này, Kinh Thánh đã tiếp tục được chuyển dịch sang nhiều ngôn ngữ khác – tiếng Anh, Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Việt Nam,…  Kinh Thánh là sách được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất, khoảng 2.500 ngôn ngữ.  Tất cả đều nhờ công việc khó nhọc của Thánh Giêrônimô.

Công Đồng Vatican II đã xuất bản bốn Hiến chế về Tín lý, bốn cột trụ của Giáo Hội trong thế giới ngày nay: Sacrosanctum Concilium (Hiến chế về Phụng Vụ Thánh), Gaudiumet Spes (Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội), Lumen Gentium (Ánh Sáng Muôn Dân) và Dei Verbum (Lời Thiên Chúa) – đề cập sự mặc khải và Lời Chúa. Thánh Giêrônimô nổi tiếng với câu nói này: “KHÔNG BIẾT Kinh Thánh là KHÔNG BIẾT Đức Kitô – IGNORANCE of Sacred Scripture is IGNORANCE of Christ.”

Đúng vậy!  Nếu chúng ta không đọc Kinh Thánh, đặc biệt là các Phúc Âm, chúng ta không thể biết Chúa Giêsu là ai, không biết Ngài thì không thể yêu mến Ngài, do đó mà khó có thể đi theo Ngài và làm môn đệ của Ngài được.  Vì thế, chúng ta phải dành cho Chúa tâm hồn mình, yêu mến và quý trọng Lời Chúa, bằng cách thực hiện ít nhất vài điều trong số các điều này:

  1. SỞ HỮU KINH THÁNH – Kinh Thánh có nhiều cuốn và đa dạng, nhưng bạn nên có được cuốn Kinh Thánh của Giáo Hội Công giáo.  Với điện thoại thông minh, bạn có thể sử dụng các Apps liên quan Kinh Thánh, nhưng phải cẩn trọng và chọn đúng Kinh Thánh Công giáo!
  2. TRAO TẶNG KINH THÁNH – Các dịp đám cưới, sinh nhật, kỷ niệm ngày rửa tội, thêm sức, ngân khánh, kim khánh,…  Thật là rất ý nghĩa nếu chúng ta tặng nhau một cuốn Kinh Thánh.
  3. YÊU MẾN KINH THÁNH – Hãy đặt cuốn Kinh Thánh ở nơi trang trọng, đừng bao giờ bất kính.  Điều đó có nghĩa là đừng bao giờ để sách Kinh Thánh ở nơi bất xứng – để trên nền nhà, ghế ngồi,… Kinh Thánh là Lời Chúa, chúng ta phải nâng niu, trân quý.
  4. ĐỌC VÀ SUY NIỆM – Kinh Thánh không là phần trang trí hoặc bộ sưu tập của lễ Giáng Sinh, cũng chẳng là vật kỷ niệm.  Kinh Thánh là để đọc và suy niệm không ngừng.  Hãy khắc dạ ghi tâm lời Thánh Vịnh: “Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày”(Tv 1:1-2).  Ước gì chúng ta cũng thích đọc Kinh Thánh và suy niệm Lời Chúa suốt ngày đêm!
  5. GHI NHỚ NHỮNG CÂU QUAN TRỌNG– Chúa Giêsu là gương mẫu của chúng ta!  Ngài ăn chay 40 đêm ngày, ma quỷ cám dỗ Ngài.  Cơn cám dỗ thứ nhất nó xúi giục Chúa Giêsu biến đá thành bánh mà ăn.  Ngài nói thẳng với nó: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”(Mt 4:4).
  6. BẢO VỆ ĐỨC TIN BẰNG LỜI CHÚA – Thánh Phaolô nói rằng Lời Chúa như gươm hai lưỡi tách xương và tủy.  Ngài có ý nói rằng Lời Chúa mạnh mẽ, nên được dùng làm linh khí để chiến đấu với Satan và đồng bọn của nó – những kẻ dối trá.  Hãy đọc Thánh Thomas Aquinô với Tổng Luận Thần Học (Summa Theologica) và cách ngài bảo vệ tín lý dựa vào Lời Chúa.
  7. THÁNH LỄ VÀ LỜI CHÚA – Hãy tham dự Thánh Lễ hằng ngày – cách cầu nguyện tuyệt vời nhất trên thế gian này!  Hiến chế Sacrosanctum Concilium giải thích về Thánh Lễ và Phụng Vụ, cho biết rằng có hai bàn tiệc nuôi dưỡng chúng ta trong Thánh Lễ: Bàn Tiệc Lời Chúa với Bàn Tiệc Thánh Thể.  Hãy tham dự Thánh Lễ – thực sự là Bàn Tiệc Nước Trời!
  8. LINH THAO VÀ LỜI CHÚA – Khi có cơ hội, cố gắng sống theo cách Linh Thao (Spiritual Exercises) của Thánh Inhaxiô Loyola.  Có thể đó là cuộc tĩnh tâm một tháng, tám ngày, hoặc một tuần, hoặc ngay hôm nay, tĩnh tâm giữa đời thường, có thể kéo dài sáu tháng hoặc một năm, cùng với một vị linh hướng.  Phương pháp Linh Thao của Thánh Inhaxiô Loyola là cách suy niệm hoặc chiêm niệm Lời Chúa.  Hãy thử và bạn sẽ không bao giờ hối tiếc!
  9. ĐỨC MẸ VÀ LỜI CHÚA – Khi cố gắng phát triển lòng yêu mến đối với Lời Chúa,đừng quên đến với Đức Trinh Nữ Maria, vì chính Đức Mẹ đã cưu mang Ngôi-Lời-hóa-thành-nhục-thể trong cung lòng 9 tháng.  Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Đức Mẹ đã suy niệm Lời Chúa trong Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ.  Sau khi các mục đồng đến kính viếng Hài Nhi, Đức Mẹ hoàn toàn im lặng: “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”(Lc 2:19).  Cầu xin Đức Mẹ thêm sức cho chúng ta làm được như vậy – suy niệm Lời Chúa bằng cách đọc Kinh Thánh, cầu nguyện bằng Kinh Thánh, thấm nhuần Kinh Thánh và noi gương Đức Mẹ sống Lời Chúa!

Lm Ed Broom, OMV

– Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ Catholic

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Linh mục Phêrô Phạm Văn Dương( bị MÙ): THIÊN CHÚA VIẾT THẲNG TRÊN NHỮNG ĐƯỜNG CONG

Image may contain: 3 people, people standing and indoor
Image may contain: one or more people, people standing, tree, shoes, child and outdoor
Image may contain: 1 person, closeup
Tôi Là Người Công Giáo

14 hrs

Linh mục Phêrô Phạm Văn Dương( bị MÙ):
THIÊN CHÚA VIẾT THẲNG TRÊN NHỮNG ĐƯỜNG CONG

Đôi tay người linh mục trẻ lướt nhanh thoăn thoắt trên cuốn sách lễ Rôma in bằng chữ nổi Braille.

Mọi con mắt đổ dồn về phía bàn thờ.

Không gian yên ắng đợi chờ.

Không ít người cảm động chỉ chực rưng rưng nước mắt.

Trong phút chốc, một thanh âm đĩnh đạc đầy bất ngờ được cất lên dẫn cộng đoàn bước vào thánh lễ long trọng.

Thứ thanh âm được kết tinh trong nước mắt, tăm tối, khổ đau nhưng vẫn sáng ngời niềm hy vọng…

Đúng là Thiên Chúa đã viết thẳng trên những đường cong với bất cứ ai có tấm lòng thành tâm thiện chí.

Cha Dương, tên đầy đủ là Phêrô Phạm Văn Dương, sinh ngày 6/6/1973, tại Rú Đất, hạt Bảo Nham, giáo phận Vinh, thuộc địa bàn xã Long Thành, Yên Thành, Nghệ An.

Ngài là con thứ 3 trong gia đình làm nông nghiệp và có tới 10 anh chị em.

Cuộc đời dâng hiến của Ngài bắt đầu từ mốc gia nhập dòng Anh em Đức Mẹ Về Trời (AA) kể từ năm 1998.

Sau một thời gian học tập tại Việt Nam, năm 2002, thầy Dương qua Pháp.

Thật không may mắn, đến năm 2004, khi đường tu còn dang dở, đau thương ập đến với người tu sỹ trẻ tuổi khi thầy bị một loại virus đặc biệt tấn công khiến đôi mắt trở nên mù hẳn.

Con đường ơn gọi tưởng chừng chấm dứt. Giữa lúc đau khổ cuộc sống, thầy Phêrô Dương vẫn một lòng tin tưởng vào thánh ý Chúa.

Con người lạc quan, có cách nói chuyện vui vẻ, hay đùa, hay tếu ấy không bao giờ đầu hàng số phận.

Và cuộc đời không phụ sự nỗ lực vươn lên và dấn thân miệt mài của vị tu sĩ mù.

Ngài được bề trên truyền chức vào ngày 14.10.2012 tại giáo xứ Hyppolyte, TGP Paris, Pháp quốc và chuẩn bị sứ mệnh phục vụ cộng đoàn tại Việt Nam.

Việc phong chức cho người khuyết tật hầu như “xưa nay hiếm”.

Nhiều năm trước, báo đài Công giáo loan tin một giáo phận Hàn Quốc quyết định truyền chức cho một chủng sinh khuyết tật để phục vụ anh em đồng cảnh ngộ. Dù sao, đó cũng là trường hợp hy hữu, rất đặc biệt.

Nhìn vào hành trình ơn gọi của tân chức Phêrô Phạm Văn Dương, con người nhận ra Thiên Chúa đưa là lời mời gọi và tuyển chọn không giống ai: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16).

Cha Phêrô quả là nhân chứng cho tình yêu thương dạt dào không bờ bến của Chúa. Thiên Chúa nhân lành đã “viết thẳng trên những đường cong” qua cuộc đời tưởng chừng đi vào ngõ cụt của Cha.

Hàng ngày, Cha tự dâng Lễ và làm các việc mà không hề cần ai trợ giúp, ngoại trừ việc dắt lên dắt xuống.

Những ai chứng kiến thì hoàn toàn nể trọng, cảm động và thán phục Cha. Ngoài ra, Cha còn có năng khiếu giảng rất hay và ý nghĩa.

Cha đã là tấm gương ngời sáng về sự vượt khó cho những người khuyết tật.

Chúng ta cùng cúi đầu tạ ơn Chúa với Cha và cầu cho Cha luôn là vị mục tử tuy mù loà thể xác nhưng chói sáng tình yêu thương- yêu mến Chúa và xót thương con người nơi tâm hồn. Amen.

Nguồn: http://daichungvienvinhthanh.com/le-ta-on-tan-linh-muc-phe…/

“SƠ ÊLIDABET – SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN”

            MỘT CUỐN PHIM CÔNG GIÁO ĐOẠT NHIỀU GIẢI THƯỞNG 2017 và 2018,

                                    “SƠ ÊLIDABET – SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN”

Phan Sinh Trần       

               

Có thể nói đây là một phim tài liệu hay, mô tả về cuộc đời của sơ Êlidabet, một người sống trong thời đại của chúng ta. Với đức tin mạnh mẽ, Sơ đã trải qua, làm nên nhiều điều huyền diệu: nào là thoát chết trong vượt biên tỵ nạn, rồi đến việc mua nhà, tạo mãi mà trong túi không có tiền, tiếp theo xây dựng nên các cơ sở rất lớn lao từ hai bàn tay không nhằm phục vụ cho người già cả hưu dưỡng ở Canada và Hungary, cũng như các nơi khác trên thế giới. Đã có nhiều các sự kiện giống như trong mơ, các biến cố thoát hiểm cách nhiệm mầu như được một phép lạ. Cuộc đời thành công của Sơ làm chứng cho ta và cho thế giới rằng, “nếu có một đức tin mạnh mẽ thì không có gì là không thể”. Chúa sẽ làm cho công việc thánh hiến được hoàn thành và hoàn thành vượt mức giống như câu Kinh Thánh sau:

–          … Quả thật, Ta bảo các ngươi: nếu các ngươi có lòng tin bằng hạt cải, thì các ngươi có bảo núi này: Hãy bỏ đây qua đó! Nó cũng sẽ chuyển qua, và các ngươi sẽ không bất lực trước một điều gì.(Mat thêu 17:20)

Sinh ra ở làng Pilisvörösvár thuộc nước Hungary vào mùa thu năm 1918, trong một gia đình không khá giả lắm. Ngay từ khi còn là một thanh nữ mới 17 tuổi, cô Êlidabet đã tỏ lộ thiên tài về điều hành và tổ chức, khi thấy Cha mình bị bệnh liệt gường, cô xin phép Cha cho mình được bắt đầu việc điều hành, vực dậy cơ sở nhỏ bé, sản xuất nước sô đa đang đà xuống dốc của cả nhà, bằng cách đạp xe đi khắp các tiệm ăn trong làng và vừa khéo léo vừa bạo dạn, yêu cầu chủ nhân các tiệm chỉ mua nước sô đa của cơ sở mình. Với sáng kiến để vượt qua các khó khăn về đồng vốn, về chai đựng, nguyên liệu… Cô đã thành công.

Sau khi kiếm đủ tiền cho Cha mua miếng đất chỗ đang dùng làm mái gia đình, đến một ngày nọ tình cờ cô tham dự tĩnh tâm ở dòng nữ Thánh Tâm vì nể lời mời gọi của Cha xứ, không ngờ trong cuộc tĩnh tâm này, cô biết rõ Chúa đang gọi mình và cương quyết đi theo tiếng gọi của Tình Yêu Chúa. Cô xin vào dòng nữ tu, cho dù bị Cha của mình cấm cản. Sự thể dần xấu đi, vì chuyện đi tu của Elidabet, ông Bố bất mãn không muốn mất con tháo vát việc nhà, việc hãng và sa sút đức tin, trong khi đó, bà Mẹ lại ủng hộ cho con gái được đi tu. Quá đỗi tuyệt vọng, ông quyết định ly dị vợ, đoạn tuyệt với cả nhà nhất là để xa lánh cô con gái không nghe lời.

Ở vào hoàn cảnh khó xử, thiên tài Elidabet sẽ ứng xử như thế nào đây? Sau khi cầu nguyện hỏi ý Chúa, cô quyết định rời nhà Dòng Thánh Tâm về nhà phụng dưỡng Cha Mẹ. Làm cho Bố nguôi giận, cô bày tỏ lòng kính trọng và hiếu thảo, lo chăm sóc, ân cần với Cha trên gường bệnh, ông cảm động và nhận ra sự khôn ngoan, tài giỏi của con gái, nó sẽ giúp ích cho Giáo Hội. Ông được Chúa thay lòng đổi dạ và tự ý đề nghị cho con tiếp tục đường tu trì. Thế là Elidabet lại được toại nguyện thành công một lần nữa.

Trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai, Hungary tham chiến trong phe trục Đức Quốc Xã và bị tấn công dồn dập từ hai phía Liên xô và Đồng Minh, thành phố Pudapest tan hoang, đổ nát, đói khát. Trong khi xã hội vật vã vì thiếu lương thực để sống còn, với ơn Chúa, sơ Elidabet chậy vậy lo đủ thức ăn từ thị trường chợ đen, từ làng quê mang lên thành phố cho cả nhà Dòng với nhiều người. Chúa cho cô được hoàn thành nhiệm vụ lo ăn cho Dòng đông nữ tu trong thời chiến.

Sau đệ nhị thế chiến, Liên xô cai trị Hungary và thiết lập chính quyền chuyên chính Cộng Sản, các Dòng tu bị giải tán, tài sản bị tịch thu, bề trên Dòng chủ trương cho các sơ chạy trốn, cũng như các thuyền nhân Việt vượt biên lánh nạn Cộng Sản nhiều thập kỷ tiếp theo, Elidabet đã tổ chức vượt biên, cùng một sơ già khác, họ đi qua những bãi mìn, các trạm lính gác cộng sản Hungary, trốn lánh các xe tuần tra của bộ đội Sô Viết và sơ đã thành công. Sơ nói giống như một phép lạ kỳ diệu, sơ vượt thoát được khi sinh mạng như “sợi chỉ mành treo chuông” và chỉ còn nước hoàn toàn phó thác trong bàn tay quan phòng lo liệu của Chúa.

Đến được Áo rồi sau đó đi định cư ở xứ sở tự do, nước Canada, tỉnh bang Ontario, thành phố Hamilton năm 1951.  Sơ tu trong Dòng Thánh Tâm, Cảm thông với hoàn cành nghèo nàn của di dân Hungary, sơ Elidabet ước ao được thiết lập một nhà ở cho người già đau yếu, vô gia cư trong số di dân Hungary, thiết tha muốn cho họ có nơi cư ngụ cuối cùng trước khi qua đời. Cuộc đời tu trì vốn không có tiền, không tài sản, không sở hữu nhà làm sao tiến hành công trình. Sơ cầu nguyện ngày đêm xin Chúa hướng dẫn và can thiệp. Sau nhiều ngày cầu nguyện, Chúa làm cho một ông thợ nướng bánh mì của nhà Dòng động lòng trắc ẩn, ông đã hứa giúp.

 Có một căn nhà cũ nằm trên đường John đăng biển bán, đòi giá 30 ngàn đô, sơ trả 20 vì trong túi sơ chả có đồng nào, ai ngờ họ bán. Sơ báo cho ông thợ biết, không bao lâu sau đó, ông thợ bánh quyết định bán đi căn nhà bé nhỏ, khiêm tốn của mình đang ở, được vỏn vẹn 15 ngàn đô, cùng với một ngàn đồng tiền mặt tặng thêm; Thời gian cấp bách, đúng vào hạn chót, trong ngày cuối sơ phải giao nạp tiền mua căn nhà trên đường John, Sơ nhận được tin vui “đã có tiền rồi” từ ông thợ bánh, thế là Sơ lên xe đạp, hăng hái nhấn pê đan, chạy một mạch 80 cây số đường trường,  cả đi lẫn về,  đến Toronto, nơi cư ngụ của ông thợ làm bánh, nhận tiền mang về gộp lại các quyên góp khác thì đã được đúng 20 ngàn. Vào buổi chiều tối hôm đó, sơ giao ngay cho người bán. Thế là giống như mơ, với lòng nhiệt thành tín thác vào Chúa kính yêu, Sơ lại thành công một lần nữa, mua được nhà làm cơ sở đầu tiên cho người già neo đơn. Một điều thú vị là vị ân nhân của Sơ, về cuối đời đã đến ở nhà Hưu Dưỡng, được sự ưu ái đặc biệt của mọi người, ông sống trong một phòng chung cư đặc biệt dành riêng cho ông. Kể từ cơ sở đầu tiên đó, sơ tiếp tục phát triển công việc mục vụ Bác Ái cho người già một cách tài tình, sơ thành lập hội bác ái mang tên “Hội nhà Thánh Elizabeth” vào năm 1967. Trong ba mươi năm trường, sơ cùng với Hội tiếp tục xây dựng nên cả một làng hưu dưỡng dành cho người già cả đau yếu. Dân chúng và nông gia Canada tiếp tục hiến tặng thực phẩm và tài vật cho hội, thuở ban đầu, ở nhà hưu dưỡng đầu tiên, sơ còn trẻ, lái xe về nông thôn để nhận thịt bò do một nông dân cho, ai ngờ đến nơi, bò còn sống, bác nông dân đang chờ người xẻ thịt sẽ đến vào tuần sau, không thể để cho hưu dưỡng viên dùng bữa thiếu thịt bò, sơ mượn dao tự giết xẻ thịt con bò làm bác nông dân phải nể phục, sững sờ.

Làng hưu dưỡng St Elisabeth Mills, bao gồm 600 căn nhà đơn và dưỡng đường, thánh đường trải dài trên 200 mẫu Anh, làng có 16 hồ nước thiên nhiên rất nên thơ bao quanh.

 Công việc bác ái của hội bác ái “nhà thánh Elizabeth” phát triển qua nước Hungary, ở ngoại ô Budapest, tại thành phố Pilisvôrovar với nhà Szent Erzsébet Otthon

Nhà có 200 chỗ cho những người già tuổi nhất với các phương tiện tối tân nhất thời đó ở Hungary, ngoài ra sơ cũng tiếp tay xây dựng lại nhà Dòng Mẹ ở Hungary

Chưa dừng ở đó, sơ còn tiếp tục đi ra hải ngoại, xây nhà hợp tác với Mẹ Teresa ở Ấn Độ, xây nhà cho người già ở Pakistan. Mời Bạn đọc thăm trang nhà của Hội bác ái “Nhà Thánh Elizabeth” ở mạng https://www. stelizabethhomesociety.org/

Ai cũng biết rằng, cuộc đời dương thế càng nhiều thành công càng có lắm gian truân, sơ Êlidabet đã bị báo chí soi mói và bị nghiệp đoàn ganh ghét muốn dành quyền, tuy nhiên sơ đã thoát khỏi sự ganh ghét vu oan, sự tham lam muốn cưỡng đoạt các cơ sở nhà cửa to tát, sự trả thù và bôi nhọ của thế gian. Cho dù gặp đủ thứ gian truân vượt sức chịu đựng ở tuổi 75, thậm chí bị đe dọa phải quay về Hungary, mất hết danh dự, mất làng hưu dưỡng thân yêu, sơ vẫn dí dỏm khôi hài, vui tươi nhờ vào đức tin son sắt vào Chúa Giê Su kính yêu mà vượt qua và chiến thắng vang dội ở tòa án năm 2005, trong công luận và trong Giáo Hội. Sơ nhận được sự tưởng lệ cao quý từ Đức Thánh Cha, lời biết ơn sâu xa từ Đức Hồng Y Giáo Phận Toronto, Gerald Carter và phần thưởng, huy chương cao quý từ thủ tướng Trudeau Canada, từ tổng thống Hungary, Arpad Goncz, … về công việc bác ái nhà hưu dưỡng của mình. Cho đến hơi thở cuối cùng, yếu ốm, sơ vẫn khiêm nhường ngày ngày ân cần đến bên các cụ già trong nhà hưu dưỡng. Ngài về nhà Chúa vào ngày 4 tháng 10 năm 2010 ở tuổi 92.

Cuộc đời của Sơ được ứng nghiệm với câu kinh thánh,

–          Chúa phán: “Nếu các ngươi có lòng tin bằng hạt cải, thì dẫu các ngươi có bảo cây dâu này: “Hãy bứng rễ mày đi mà xuống mọc dưới biển”, nó cũng sẽ vâng lời các ngươi” (Luca 17:6).

Xin Chúa cho Hội Thánh có nhiều hạt cải đức tin trong thời đại văn hóa sự chết của chúng con.

Sau hết, xin mời các bạn thưởng thức phim sơ Êlidabet qua Amazon Prime miễn phí, hoặc xem phim  ở kết nối sau đây:

http://www.truli.com/video/ sister-elisabeth-the-strength- of-faith

Phan Sinh Tran        

BÁNH TRƯỜNG SINH

BÁNH TRƯỜNG SINH

 Một ngôn sứ dũng cảm như Êlia trên núi Các-men cũng có lúc chán nản, thất vọng, chỉ muốn xin được chết.  Giữa sa mạc, Êlia nằm ngủ dưới gốc cây.  Ông không còn đủ sức tiếp tục cuộc hành trình.  Một thiên thần đã đem đến cho ông bánh và nước, nhờ đó ông có sức đi đến núi của Thiên Chúa. 

Người Kitô hữu cũng phải đi ngang qua sa mạc cuộc đời, với bao thách đố, ngờ vực, hiểm nguy…  Chúng ta cần được dưỡng nuôi, nâng đỡ, để có sức đi hết cuộc hành trình về quê thật.  Có thiên thần nào hiện ra đem bánh cho ta không?  Có thứ manna nào từ trời rơi xuống? 

Thiên Chúa Cha muốn ban cho ta tấm bánh từ trời, đó là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa (Ga 6,32-33). 

Đức Giêsu là Tấm Bánh Cha ban cho nhân loại, và chính Ngài cũng muốn tặng bản thân mình cho ta: “Tôi là Bánh trường sinh” (c.48).  “Tôi là Bánh hằng sống từ trời xuống” (c.51).  

Khi nói đến Bánh hằng sống, Bánh trường sinh, chúng ta thường nghĩ ngay đến bí tích Thánh Thể và ít khi nghĩ đến Tấm Bánh Lời Chúa. 

Mỗi thánh lễ là một bữa tiệc.  Chúng ta được mời đến dự bàn tiệc Lời Chúa trước khi dự bàn tiệc Thánh Thể.  Cả hai đều là lương thực cần thiết cho tín hữu.

 Công đồng Vaticanô (PV 7) khẳng định rằng khi chúng ta nghe đọc Lời Chúa trong Phụng Vụ thì Chúa Giêsu “hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi ta đọc Kinh Thánh trong Giáo Hội.” Như thế Chúa Giêsu vẫn loan báo Tin Mừng trong từng thánh lễ (PV 33).  Ngài vẫn trao cho ta Tấm Bánh là Lời của Ngài. 

Con người sống đâu chỉ nhờ cơm bánh vật chất, mà còn nhờ mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.  Đức Giêsu là Lời viết hoa của Thiên Chúa.  “Thầy có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68). 

Lời Chúa là thức ăn khó nuốt.  Cuốn Tân Ước tôi cầm trên tay là một bản văn cổ, thuộc nền văn hóa xứ Pa-lét-tin cách đây hơn 2000 năm.  Phải học hỏi, đào sâu mới hiểu đúng và hiểu đủ.  Lời Chúa cũng là thức ăn khó nuốt, vì là một lời mời gọi tôi ra khỏi mình, bỏ lại những tính toán khôn ngoan và hợp lý.  Tiếng Chúa đụng đến con người tôi, ở đây, bây giờ, và mời tôi dấn thân vào một cuộc mạo hiểm.  Nhưng Lời Chúa sẽ là tấm bánh thơm ngon nếu tôi biết lắng nghe và đem ra thực hành.  Càng sống Lời Chúa, tôi càng gặp được ánh sáng và sức mạnh, nhất là được hiệp thông với con người Đức Giêsu.

 Hãy hưởng dùng Tấm Bánh Chúa trao cho bạn, và hãy chia sẻ cho nhau kho tàng Lời Chúa.

 ****************************** ******* 

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con nhìn thấy sự hiện diện của Chúa dưới muôn ngàn dáng vẻ.

Chúa hiện diện lặng lẽ như tấm bánh nơi nhà Tạm, nhưng Chúa cũng ở nơi những ai nghèo khổ, những người sống không ra người.

Chúa hiện diện sống động nơi vị linh mục, nhưng Chúa cũng có mặt ở nơi hai, ba người gặp gỡ nhau để chia sẻ Lời Chúa.

Chúa hiện diện nơi Giáo Hội gồm những con người yếu đuối, bất toàn, và Chúa cũng ở rất sâu trong lòng từng Kitô hữu.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con thấy Chúa đang tạo dựng cả vũ trụ và đang đưa dòng lịch sử này về với Chúa.  Xin cho con gặp Chúa nơi bất cứ ai là người vì họ có cùng khuôn mặt với Chúa.  Xin cho con khám phá ra Chúa đang hẹn gặp con nơi mọi biến cố buồn vui của đời thường.  Ước gì con thấy Chúa ở khắp nơi, thấy đâu đâu cũng là nhà của Chúa.  Và ước gì con đừng bỏ lỡ bao cơ hội gặp Chúa trên bước đường đời của con. Amen.

 Trích trong “Manna”

From Langthangchieutim

THIÊN CHÚA NÓI KHÔNG

THIÊN CHÚA NÓI KHÔNG

Có một bài thơ của một tác giả vô danh mà Hồng Y Jaime Sin, Tổng giám mục Manila, Phi Luật Tân, lấy làm ưng ý nhất và thường trích dẫn trong các bài giảng của Ngài.  Bài thơ ấy như sau:

 Tôi đã xin Chúa cất khỏi sự kiêu hãnh của tôi và Chúa trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng không phải Ngài là người cất khỏi mà chính tôi mới là người phấn đấu để vượt thắng nó.

 Tôi đã xin Chúa làm cho đứa con tàn tật của tôi được lành lặn và Chúa trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng tinh thần mới lành lặn, còn thể xác chỉ là tạm bợ.

 Tôi đã xin Chúa ban cho tôi sự kiên nhẫn và Chúa đã trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng kiên nhẫn là hoa trái của thử thách.  Ngài không ban cho tôi trái ấy mà để tôi tự tìm lấy.

 Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được hạnh phúc và Chúa đã trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng Ngài ban ân phúc cho tôi, còn hạnh phúc hay không là tùy tôi.

 Tôi đã xin Chúa gia tăng tinh thần cho tôi và Chúa đã trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng tôi phải tự lớn lên, nhưng Ngài sẽ cắt tỉa để tôi mang nhiều hoa trái.

 Tôi đã xin Chúa đừng để tôi đau khổ và Ngài đã trả lời: “Không!”  Ngài nói rằng đau khổ là cho tôi được xa cách với những vướng bận trần gian và mang tôi đến gần Ngài.

 Tôi đã hỏi: “Liệu Ngài có yêu tôi không” và Ngài đã trả lời rằng: “Có!”  Ngài nói rằng Ngài đã ban cho tôi Người Con Một, Đấng đã chết vì tôi và một ngày nào đó, tôi sẽ được lên Thiên Đàng vì tôi đã tin.

 Tôi đã xin Chúa giúp tôi yêu mến tha nhân như Ngài yêu thương tôi và Chúa nói: “Cuối cùng con đã xin đúng điều ta chờ đợi.”

 Nhìn lên thập giá Đức Kitô, chúng ta được mời gọi để tin nhận rằng Thiên Chúa đã yêu thương con người, Ngài đã yêu thương đến độ đã ban Người Con Một của Ngài cho thế gian.  Tình Yêu của Thiên Chúa nhiệm màu thẳm sâu đến độ sự thất bại, cái chết ô nhục đã trở thành Một Dấu Chứng.

Tình yêu ấy nhiệm màu thẳm sâu đến độ ngay cả khi Thiên Chúa xem ra nói không với chúng ta, Ngài vẫn yêu thương chúng ta.  Ngài nói không khi chúng ta xin được khỏe mạnh, và bệnh hoạn vẫn bám lấy chúng ta.  Ngài nói không khi chúng ta xin được thành công và thất bại lại đến với chúng ta.  Ngài nói không khi chúng ta xin được cơm bánh hằng ngày và đói khổ lại cấu xé chúng ta…  Qua những cái không ấy, Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương chúng ta…

Xin cho chúng ta cảm nhận được tình yêu ấy mỗi khi chúng ta nhìn lên cái chết ô nhục của Người Con Một Thiên Chúa trên thập giá.  Và cũng giống như Người Con Một ấy, xin cho chúng ta vẫn tiếp tục dâng lời chúc tụng ngay giữa niềm đau tưởng chừng như không còn chịu đựng nổi.  Và giữa trăm nghìn đắng cay chua xót, xin cho chúng ta cũng được tiếp tục thốt lên lời xin tha thứ như Ngài… Mãi mãi, xin cho chúng ta luôn phó thác như Ngài.

****************************** ************

Lạy Chúa,
Con cầu xin ơn mạnh mẽ
để thành đạt trong cuộc đời,
Chúa lại làm cho con ra yếu ớt
để biết vâng lời khiêm hạ…

Con cầu xin có sức khỏe
để mong thực hiện những công trình lớn lao,
Chúa lại cho con chịu tàn tật
để chỉ làm những việc nhỏ tốt lành…

Con cầu xin được giàu sang
để sống sung sướng thoải mái,
Chúa lại cho con nghèo nàn
để học biết thế nào là khôn ngoan…

Con cầu xin được có uy quyền
để mọi người phải kính nể ca ngợi,
Chúa lại cho con sự thấp hèn
để con biết con cần Chúa…

Con xin gì cũng chẳng được theo ý muốn
Nhưng những điều con đáng phải mơ ước,
Mà con không hề biết thốt lên lời cầu xin,
thì Chúa lại đã ban cho con
thật dư đầy từ lâu…

Lạy Chúa,
Hóa ra, con lại là người hơn hết trên đời này,
Bởi con đã nhận được ơn Chúa vô vàn.  Amen!

Paradoxes Of Prayers

From: Langthangchieutim

LỬA MẾN THƯƠNG

LỬA MẾN THƯƠNG

  1. Mấy ngày nay, thỉnh thoảng lại hiện lên trong tôi Lời Chúa Giêsu phán xưa: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất. Và Thầy đã rất ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”(Lc 12, 49).

Tôi xin Chúa soi sáng cho tôi hiểu ý Chúa. Một lúc bất ngờ, tôi được nghe từ thẳm sâu tâm hồn tôi ý Chúa: “Lửa đó là lửa mến thương. Lửa mến Chúa, thương người, đó là lửa rất cần cho mọi môn đệ Chúa trong mọi thời mọi nơi, nhất là tại Việt Nam hôm nay”.

  1. Như thế, nghĩa là tôi cần có lửa trong tôi. Lửa đó là lửa thiêng. Bản chất lửa thiêng đó là mến yêu.

Theo Phúc Âm, thì tôi sẽ nhận ra mình có lửa đó hay không, căn cứ ở dấu chỉ này: Khi gặp người đau khổ, tôi xót thương họ, tôi cảm thương với họ, tôi dấn thân giúp đỡ họ, thì đó là dấu chỉ tôi có lửa mến thương đích thực (x. Mt 25, 35- 40).

  1. Khi hiểu ý Chúa là như vậy, tôi hồi tâm xét mình. Kết quả hiện lên trước lương tâm tôi là thế này: Rất nhiều khi tôi đã không xót thương, đã không cảm thương những người đau khổ mình gặp.

Như vậy chứng tỏ tôi không có lửa thiêng mến thương trong tôi.

  1. Nhận ra sự thực đó, tôi sám hối, và xin Chúa thương đốt lên trong tôi lửa thiêng từ trái tim Chúa.

Chúa đáp lại là Chúa luôn muốn đốt lửa đó trong tôi. Nhưng tôi có luôn đón nhận không?

  1. Thú thực là, vì không tỉnh thức và cầu nguyện, nên rất nhiều khi tôi đã không đón nhận lửa thiêng đó, hoặc đã đón nhận, rồi lại để nó nguội đi.
  2. Thiếu lửa thiêng nơi người môn đệ Chúa, đó là một thảm họa trên lĩnh vực mục vụ, truyền giáo và tu đức.

Thảm họa đó sẽ càng thê thảm, khi người môn đệ Chúa không những thiếu vắng trong mình lửa thiêng mến thương, mà còn nuôi trong mình những thứ lửa do Satan cống hiến với danh nghĩa giả tạo là mến Chúa yêu người, để rồi chống lại những người có lửa mến yêu đích thức.

  1. Chống nhau, khích bác nhau, loại trừ nhau, đó là thảm họa đang xảy ra tại nhiều nơi trong đạo ngoài đời hiện nay.
  2. Tình hình như thế không những báo hiệu sự thiếu vắng lửa thiêng mến thương, mà còn báo động một nguy cơ đau buồn có thể xảy ra, đó là những hình thức nội chiến, từ mức độ nhẹ đến mức độ lớn. Lịch sử quá khứ vốn là như vậy. Lịch sử tương lai cũng sẽ như vậy.
  3. Hình như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cảm thấy nguy cơ đó, nên ngài hay nói đến sự không nên kết án nhau. Một câu ngài có lần nói, nay đã trở thành nổi tiếng: “Tôi là ai mà dám kết án ai”. Đúng là trong ngài có lửa mến thương đích thực.
  4. Theo gương ngài, tôi để ý chỉnh đốn lại lương tâm tôi.

Một là tôi không kết án ai. Cho dù họ sai lầm rõ ràng, thì tôi vẫn cảm thương họ, vẫn xót thương họ, vẫn cứu họ.

  1. Hai là tôi tin lòng thương xót Chúa vẫn mở rộng đến mọi người, vì thế, mà nhiều người dù là Công giáo hay ngoài Công giáo, đều có thể đã đang và sẽ nhận được lửa mến thương của Người. Thực tế hôm nay cho tôi thấy nhiều người ngoài Công giáo đã là gương sáng về sự xót thương, cảm thương đối với đồng bào nghèo khó và khổ đau tại Việt Nam hôm nay.
  2. 12. Riêng tôi, để đón nhận lửa mến thương của Chúa, tôi luôn cầu xin với tư cách mình là kẻ tội lỗi: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa trời, cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi”. Tôi là kẻ tội lỗi, tôi nói với Mẹ mỗi ngày nhiều lần như vậy. Mẹ nhận lời cầu xin đó, mà dâng lên Chúa. Và Chúa đã thương ban cho tôi lửa mến thương của Chúa.
  3. Tôi cũng hay nhìn gương thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Tức là tôi đón nhận lửa mến thương của Chúa từng giây phút nhỏ, từng việc làm nhỏ. Tôi cũng cho đi lửa mến thương Chúa ban qua những việc nhỏ, trong từng giây phút nhỏ.

Tôi còn đang giữ bên cạnh mình một sợi tóc nhỏ của Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux. Để nhắc nhở tôi là lửa mến yêu, dù nhỏ như sợi tóc, vẫn có sức cứu độ.

  1. Tới đây, tôi sực nhớ tới chuyện của Thánh Gioan Vianney, cha sở xứ Ars. Một người đến với cha, khóc lóc vì một người thân mới chết, người thân đó là một tội nhân rối rắm nổi tiếng. Người đó nhảy xuống sông tự tử.

Cha thánh đã cầu nguyện và trả lời an ủi: “Anh ta đã được Chúa cứu. Từ trên cầu nhảy xuống sông chỉ là tích tắc. Nhưng trong tích tắc đó, anh đã được ơn sám hối, nhờ bao người đã cầu nguyện cho anh trước đó”.

Chuyện đó khuyên tôi hãy vững tin vào Chúa trong việc cầu xin cho mình và cho người khác. Chắc chắn sự cứu rỗi cũng đang được xảy ra, dù chỉ trong tích tắc, tại nơi này nơi nọ. Nhờ lửa mến thương của bao người.

  1. Trong con,có lửa hay không có lửa? Có lửa, thì lửa đó là lửa nào? Lửa đó là từ đâu?

Mấy ngày nay, Đức Mẹ hay hỏi tôi như vậy. Tất nhiên, tôi thưa là “Mẹ biết rõ hơn con”. Tôi trở nên rất bé nhỏ bên lòng Mẹ. Lửa từ trái tim Mẹ được chia sẻ sang tôi. Nhờ vậy tôi đã cùng với Mẹ, chúc tụng Chúa. Linh hồn tôi tung hô Chúa, thần trí tôi mừng vui vời vợi trong Đấng cứu chuộc tôi (Lc 1, 46-47).

Long Xuyên, ngày 02.8.2018

+ Gm. Gioan B BÙI TUẦN

From Vongtaysongnguyen

ĐỐI XỬ CÔNG BẰNG VỚI LINH HỒN TA 

ĐỐI XỬ CÔNG BẰNG VỚI LINH HỒN TA 

Sau khi được Chúa Giêsu ban cho một bữa ăn no nê thỏa thích qua phép lạ hóa bánh ra nhiều, đám đông người Do-thái đổ xô tìm đến với Chúa mong được Người cho ăn tiếp. Chúa Giêsu không bằng lòng với toan tính đó nên Người nói thẳng với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê.”

 Biết rõ bận tâm của đám đông là chỉ lo cho có lương thực nuôi xác, còn lương thực nuôi dưỡng tâm hồn và đời sống thiêng liêng thì chẳng màng tới, Chúa Giêsu răn bảo họ: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh.” (Ga 6, 27).

Khi nói như thế, Chúa Giêsu kêu gọi mỗi người hãy cố công chăm lo cho linh hồn mình được phúc đời đời chứ đừng chỉ dồn tất cả công sức chăm lo cho thân xác mau hư nát nầy.

 ******************************

Một nhà kia có hai người con.  Người con út được cha mẹ đem hết lòng yêu thương chăm sóc: cho ăn, cho mặc, cho học hành, cho thuốc men, cho tiêu xài thoải mái, cho tất cả những gì nó muốn và không từ chối nó bất cứ điều gì.

Trong khi đó, đứa con cả không được cha mẹ đoái hoài: không được nuôi ăn, chẳng được cấp dưỡng chút gì, bị cha mẹ bỏ mặc như thể nó không hề có mặt trên đời, mặc dù nó không làm điều gì sai trái.

 Cha mẹ phân biệt đối xử như thế là quá bất công, đáng bị lên án.  Nếu chúng ta ở vào địa vị người cha người mẹ trên đây, chắc chắn không bao giờ chúng ta đối xử bất công như thế. 

Thế nhưng, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có “hai người con” trong đời mình, đó là linh hồn và thân xác.  Thân xác nầy nay còn mai mất thì được nhiều người chăm sóc chiều chuộng tối đa, còn linh hồn trường sinh bất tử thì chẳng được đoái hoài. 

Châm ngôn của một số đông là: Tất cả dành cho thân xác, tất cả cho cuộc sống đời nầy.  Người ta không từ chối thân xác bất cứ điều gì.  Dù thân xác có đòi hỏi những điều hèn hạ, vô luân, người ta cũng chiều theo nó.  24 giờ của mỗi ngày đều dành trọn cho thân xác.  168 giờ của mỗi tuần, 720 giờ của một tháng đều dành trọn để lo cho thân xác và cứ như thế hết tháng nầy qua tháng khác, hết năm nầy qua năm kia. 

Trong khi linh hồn thì bị bỏ rơi, không được đoái hoài!  Đó là một bất công không thể chấp nhận được và mang lại hậu quả đau thương cho cuộc sống mai sau, vì không sớm thì muộn, cái chết cũng sẽ đến để cướp hết những gì người ta đang có và hủy hoại thân xác ra không.  Cuối cùng thân xác con người chỉ là một nhúm bụi đất còn linh hồn thì phải trầm luân muôn đời muôn kiếp.  Thật là điên rồ khi người ta dành hết tất cả thời gian, công sức, trí tuệ, tài năng, nghị lực của mình cho thân xác để rốt cuộc nó chỉ còn là bụi đất! 

Qua sứ điệp Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu kêu gọi mọi người hãy đối xử công bằng với linh hồn mình.  Thân xác nầy nay còn mai mất thì chỉ cần chăm lo vừa đủ, còn linh hồn sống đời đời vĩnh cửu thì phải được chăm lo nhiều lần hơn.  Khi nuôi xác bằng cơm bánh được thu hoạch từ lòng đất thì cũng phải nuôi hồn bằng “Bánh từ trời xuống.”  Chính Chúa Giêsu là Bánh bởi trời được Chúa Cha ban cho nhân loại để mang lại sự sống cho thế gian. (Ga 6, 32-35) 

“Ăn” Chúa Giêsu (theo nội dung đoạn Tin Mừng hôm nay, Gioan 6, 24-35) không có nghĩa là nhai, là nuốt Chúa Giêsu nhưng là đến với Chúa Giêsu và tin vào Người: “Chính tôi là Bánh trường sinh.  Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”  Nói khác đi, “ăn” Chúa Giêsu là đến với Chúa Giêsu, học với Chúa Giêsu, sống như Chúa Giêsu để đào tạo mình nên người có phẩm chất cao đẹp như Chúa, để rồi mỗi người chúng ta trở nên hình ảnh sống động của Chúa Giêsu và được chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Người. 

Lm. Ignatiô Trần Ngà

 From Langthangchieutim

“Trái tim con, đang rên siết héo mòn,”

Suy Tư Chúa nhật thứ 18 thường niên năm B 05/8/2018

(Ga 6: 24-35)

Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người. Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” Đức Giê-su đáp: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” Họ liền hỏi Người: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Đức Giê-su trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.” Họ lại hỏi: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây? Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: “Người đã cho họ ăn bánh bởi trời.”

Đức Giê-su đáp:”Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian.” Họ liền nói:“Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.” Đức Giê-su bảo họ:”Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!”    

&   &    &

“Trái tim con, đang rên siết héo mòn,”

“Nên chạy đến bên Người, con kêu khấn.”

(dẫn từ thơ Hoài Châu)

 Phải chăng nhà thơ nay chạy đến bên Người là vì tâm can rên siết, những héo mòn? Phải chăng nhà Đạo cũng làm thế, khi tim mình chẳng còn thấy gì hứng thú? Héo mòn và hứng thú, là hai phạm trù được diễn tả ở trình thuật thánh Gioan ghi, hôm nay.

Trình thuật thánh Gioan nay ghi, là ghi về một sự thể có tình tiết giống ở đời. Tình tiết, về Bánh Hằng Sống rất yêu thương, không chỉ có ở Tiệc Thánh, mà thôi. Nhưng, Bánh Hằng Sống còn là Lời Ngài trải rộng trong từng giai đoạn tiến triển ở Tiệc Thánh. Và, Tiệc Ngài dọn còn dành nguyên nửa buổi để giúp người dự vui hưởng tâm tình Ngài tỏ bày, qua bài đọc.

Bài đọc 1, trích từ Cựu Ước thường ăn khớp với Phúc Âm. Ở ngay giữa là bài đọc 2, gồm các thư của thánh tông đồ theo chân Chúa từ độ ấy, đa phần là thư thánh Phaolô được Hội thánh dùng làm cầu nối giữa Cựu và Tân ước. Thế nên, Tiệc Thánh vẫn là dịp thuận để người dự sống áp dụng Lời Ngài, trong cuộc đời.

Đôi lúc người dự Tiệc thấy cũng khó mà hiểu trọn các đoạn Kinh Sách được trích theo kiểu bốc thăm vốn vượt ra ngoài bối cảnh của Tin Mừng. Nên, đôi lúc người nghe cũng thấy khó mà áp dụng vào cuộc sống bình thường của người đi Đạo. Nhưng, nếu người đọc và người nghe chú tâm vào chủ đề từng biến đổi từ cảnh bạo lực trong cuộc sống thành động thái biết chọn sống hiền lành/tử tế, sẽ khác hẳn.

Đồng thời, trích dẫn bài đọc từ sách Cựu Ước theo kiểu bốc thăm/may rủi, có thể làm người nghe thấy cũng giống báo đài thuật toàn chuyện bạo lực, như: khuynh loát, sách nhiễu, hành hạ nô lệ, lưu đày, thánh chiến, nói chung về nền văn hoá Do thái trước sau lưu đày. Với người Do thái, toàn bộ nền văn hoá này gồm tóm trong Torah, vẫn tồn tại trong thế giới còn hoang sơ mà họ là thành phần thiểu số. Ở đó, còn nói đến Giao ước Chúa thiết lập với con ngưòi. Đến Lời Ngài hứa ban cho dân con một tương lai ngời sáng có “đất lành chim đậu”, có vương quốc Nước Trời hiền hoà do vua cha và ngôn sứ dành để.

Bài đọc 3, là trình thuật rút từ Giao Ước Mới của Chúa, đôi khi cũng pha dặm đôi nét bạo lực, như: cảnh Chúa cam chịu đóng đinh, đền thờ Giêrusalem bị phá hủy, hoặc đế quốc La Mã hà hiếp văn hoá của người Do thái ở thế kỷ cuối trước Công nguyên. Nói tóm, Giao Ước Mới cũng thấy cảnh khổ đau, sầu buồn, tàn bạo. Nhưng, thực chất của Giao Ước Mới chỉ đưa ra cách sống mới không bạo tàn, cưỡng bức.

Bằng vào cung cách mới này, Đức Giêsu và những người theo chân Ngài cũng từng trải sự sống không chỉ lúc nào cũng tích cực, nhưng có lúc cũng trầm buồn, rất nản lòng. Và, Ngài cũng thấy ở đó một dịp thuận tiện để ta suy tư về chủ thuyết duy-kỷ vốn lợi dụng người khác để làm lợi cho chính mình, tôn thờ mình. Trái lại, Ngài còn chấp nhận đường sống rất thấp để biến Ngài thành chốn hư không, trống rỗng, không màng quyền lực vẫn chờ chực mình ở quanh đó. Và, Ngài chấp nhận chịu đóng đinh trên thập tự là vì thế. Chấp nhận, cả cái chết rất bạo tàn qua kinh nghiệm về nỗi “chết dần chết mòn” để rồi tìm ra điều tích cực hiện tỏ sự trỗi dậy từ mồ trống.

Suốt cuộc đời, Ngài chỉ nói bằng Lời thương yêu vô điều kiện. Thứ tình thương chỉ hiện rõ nơi cuộc sống trải nghiệm về nỗi chết bạo tàn hầu chọn lựa Sự Sống tích cực mà con người vẫn giáp mặt, nhưng khó thấy. Chúa từng sống trải nghiệm vẫn giáp mặt nỗi niềm chết chóc rất tiêu cực, có thế mới ban cho ta khả năng và nghị lực cùng ý chỉ để được sống như Ngài. Và Ngài chuyển đến cho ta sức sống nội tâm là Thần Khí đến ở trong ta, để ta cùng Ngài mà sống. Sống, có thời khắc của Xuân mùa bất tận, trong đó mọi người sẽ không còn sống theo cung cách bạo lực, nữa.

Đôi lúc việc chọn bài đọc không cho người nghe biết rõ tất cả ý nghĩa của chọn lựa. Nhưng nếu người dự Tiệc Thánh vẫn thường xuyên đến với cộng đoàn để cùng dự, sẽ dễ nhận ra điều này. Và, người dự sẽ còn khám phá thêm nhiều ý nghĩa hơn. Khám phá ra Chúa đang nói Lời yêu thương với ta. Và, Ngài vẫn chờ đợi nơi ta một đáp trả, tích cực. Đáp trả, không bằng câu trích từ sách cổ, nhiều điển tích. Nhưng, bằng áp dụng Lời sống động vào cuộc sống của ta, và mọi người.

Bởi thế nên, đọc Lời Chúa ở Tiệc Thánh không chỉ đơn giản đọc và hiểu mỗi nghĩa chữ của bài đọc; nhưng nên coi đó như Lời đối thoại Chúa chuyển đến với ta, để ta đàm đạo với Người. Đối thoại, là để đáp trả từ niềm tin sau khi nghe Lời Ngài dạy dỗ. Đối thoại trong im lặng, cũng là động thái đáp trả mà Chúa vẫn chờ từ nơi ta. Đáp trả, bằng niềm tin-yêu ta vẫn có đối với Chúa, với mọi người.              

Tiếng Do thái cổ xưa, được sử dụng trong Cựu ước, thường diễn tả sự đáp trả ấy bằng cụm từ “Dabar” tức “lời được thốt” bao gồm cả một ý tưởng về một sự kiện vừa khởi đầu. Ở Tiệc Thánh, nhất là phần Tiệc Lời Chúa, là sự khởi đầu của đáp trả. Theo sau đó, có lời diễn giải của linh mục hoặc phó tế muốn biến đáp trả ấy bằng hiện thực, ngay tại chỗ. Diễn và giải, không là giáo án hoặc bài giảng thuyết. Nhưng lại là nói lên quan điểm lập trường bảo rằng Lời của Chúa trong đó bao gồm rất nhiều đường lối sống Chúa đưa ra, và có nghĩa là Ngài còn chờ sự đáp trả, không phải bằng nghi thức tế tự ở buổi Tiệc, mà bằng cuộc sống thực được áp dụng vào những tuần sau đó. 

Diễn giải hoặc san sẻ Lời của Chúa, dù gọi đó là giảng thuyết hay giảng đạo đi nữa, vẫn là để cho người dự Tiệc nghe biết về đường lối sống giống như Chúa. Giống, như một đáp trả rất thân thiện, lành mạnh. Diễn giải Lời Ngài, còn để khích lệ người dự Tiệc học được cung cách biến đổi tính bạo tàn trong cuộc sống thành tính chất hiền từ/tử tế, vào mọi lúc. Hiền từ/tử tể với chính mình, người khác và với Chúa.

Chu kỳ phụng vụ suốt 3 năm, Hội thánh trích dẫn rất nhiều bài đọc. Và, kèm theo đó, có rất nhiều bài giảng thuyết khiến người nghe những là ngủ vùi, hoặc lịm chết. Nhưng, tựu trung, Chúa vẫn tỏ ra kiên nhẫn với người diễn và giảng Lời. Thậm chí, Ngài còn mong cho mọi người cả người diễn giảng lẫn người nghe giảng giải có thể biến đổi trở nên hiền từ/tử tế, rất hết mình. Ngài không vội vã ước muốn lời diễn giảng mau chóng mang lại kết quả rất nhãn tiền. Bởi, càng vội vã bao nhiêu thì việc đổi và biến cũng không bảo đảm được chất lượng thực sự của biến đổi.

Thời nay, người người nói quá nhiều về cụm từ “đọc sách thánh”, hiểu theo nghĩa chỉ những đọc và nghe mà không theo đường lối tích cực. Tức, chỉ ngồi đó nghe tai này lọt tai khác như nghe hát nhạc kịch. Nghe rồi là xong, chẳng đánh động cũng chẳng đưa người nghe đi vào một quyết tâm. Nói cách khác, chẳng có gì bảo đảm là Lời Chúa đi sâu vào tâm khảm của người nghe lẫn người đọc để rồi khích lệ họ áp dụng vào đời sống có đáp trả.

“Đọc sách thánh” ở Tiệc Lời Chúa, lại quyết mang một ý nghĩa khác. Ý nghĩa, của sự việc giúp đỡ người nghe đi vào hiện thực. Nghe như thế, là nghe trong tư thế sẵn sàng biến đổi từ sự bạo tàn, khó chịu thành động thái chịu khó mà sống hiền từ/tử tế. Có như thế, Lời Chúa mới tiếp tục trở thành cuộc đối thoại cởi mở, giữa Chúa và chính mình. Giữa chính mình và Đức Chúa hiện diện nơi tâm người khác. Dù người đó có là Kitô-khác, hay chỉ là người “ngoài luồng”, ngoài Đạo.

Nói cách khác, “đọc sách thánh” là đọc được sự đối thoại giữa Đức Chúa và con người. Giữa con người và con người, như Kitô-khác. Đọc như thế, sẽ như thể dám cùng nhau đứng thẳng dậy mà tuyên xưng niềm tin qua kinh Tin Kính của cuộc đời vẫn tuyên bố rằng: Chúng tôi tin vào đường lối sống Chúa khuyên dạy, từ Sách thánh. Và chúng tôi sẽ tìm cách biến Lời ấy thành hiện thực, ở đời thường.

Tiệc Lời Chúa, như thế là sự thể của toàn thể vũ trụ vạn vật. Thế nên, vào giờ nguyện cầu tiếp theo sau, lời lẽ yêu cầu vào lúc ấy không còn là những thỉnh cầu lợi lộc cho riêng bản thân người cầu và nguyện, nhưng mang tính toàn cầu. Bởi lời cầu của vũ trụ không là cầu cho ông A bà B được tìm thấy sau khi bị lạc. Nguyện cầu đây, cũng không là lời cầu của vũ trụ vạn vật chỉ xin Chúa có được sự kiện lớn lao trong vũ trụ. Nhưng là lời cầu mong cho chuyện lớn trong vũ trụ được xảy đến qua đó mọi người trở nên hiền từ/tử tế, thật giống Chúa.

Nguyện cầu vào Tiệc Lời Chúa, là nguyện và cầu để vũ trụ vạn vật có được bình an, không một ai còn hằn in tính chất bạo tàn, kỳ thị. Nhưng, biết nghĩ đến người khác. Biết hỗ trợ, giùm giúp những người có nhu cầu thiết thực, ở mọi nơi. Lời cầu và nguyện ước ấy dẫn đưa người dự Tiệc hiên ngang phấn khởi để vào với phụng vụ Thánh Thể, rất hiệp thông. Xuyên suốt. Rất đậm đà tình Chúa và tình người.

Trong tâm tình đó, nay ta lại ngâm tiếp lời thơ ý nhị còn ngâm dở:

            “Trái tim con đang rên siết héo mòn,

            Nên chạy đến bên Người con kêu khấn.

            Xin Chúa thương đưa bàn tay chí thánh,

            Giúp cho con được chắp cánh cùng nàng…”

            (Hoài Châu – Nguyện Cầu)  

    Nguyện cầu đây, không chỉ để chắp cánh bay cao cùng nàng, về đâu không biết nữa. Nhưng nguyện và cầu, để người người biết nghe Lời giống như Chúa, chỉ muốn hiện thực ý của Ngài, mà thôi. 

Lm Kevin O’Shea DCCT biên soạn –

Mai Tá lược dịch

 “Rộn ràng một nỗi đau” 

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 18 Thường niên năm B 05/8/2018

 “Rộn ràng một nỗi đau”
Nghẹn ngào một nỗi vui
Dịu dàng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – Nếu Có Yêu Tôi)

(2Thessalônikê 1: 4-6)

 Trần Ngọc Mười Hai

Nỗi đau rộn ràng ư? Đã đau rồi, thì bao giờ mà chẳng rộn-ràng. Rộn và ràng, theo nghĩa “khẩn trương” thân thương thật gấp rút. Nếu không, chắc sẽ không còn đủ thì giờ mà hát với xướng, những câu sau đây:

“Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi
Ôi buồn làm sao nói lời tạ ơn. 

Nếu có bao dung thì hãy bao dung bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa đời
Đừng đợi ngày mai biết đâu tôi nằm im hơi
Tôi chẳng làm sao tạ lỗi cùng người.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Và cứ thế, người nghệ sĩ lại cứ ca hoài/ca mãi một câu hát được trích-dẫn rất nhiều lần, như sau:

“Có nhớ thương tôi thì đến với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai lúc mắt tôi khép lại
Đừng đợi ngày mai có khi tôi đành xuôi tay
Trôi dạt về đâu chốn nào tựa nương.

Và:

“Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời
Đừng đợi ngày mai có khi tôi thành mây khói
Cát bụi làm sao mà biết mỉm cười. 

Rộn ràng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui
Dịu dàng một nỗi đau
Nghẹn ngào một nỗi vui.”

(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Nỗi đau và niềm vui đây, có giống câu truyện kể ở bên dưới không?

“Truyện rằng:

Cậu bé 8 tuổi lần đầu tiên bước vào lớp ngày tựu trường.

Cô giáo hỏi:

-Này, em tên gì thế? 

-Em tên Mohamed. 

Cô giáo bèn nói tiếp:

-Em đang ở Mỹ, từ nay mọi người sẽ gọi em là Mike nha. 

 Tan trường cậu bé trở về nhà. Mẹ cậu bèn hỏi:

“Ngày đầu đi học ra sao, Mohamed?” 

Cậu bé nói:

-Con đang sống ở Mỹ, từ nay tên con sẽ là Mike. 

-Mày xấu hổ vì cái tên Mohamed hả? Mày muốn làm nhục cha mẹ, tổ tiên, truyền thống, và tôn giáo mày hả? Rồi bà mẹ đánh cậu bé một chập. 

 Lúc chồng về tới nhà, bà ta kể lại. Thế là ông cha lôi thằng bé ra đánh thêm chập nữa. 

Hôm sau tới trường, thấy mình mẫy cậu bé bị bầm dập, cô giáo hỏi,

-Em bị gì vậy Mike?” 

Mike trả lời:

-Liền sau khi vừa trở thành người Mỹ, em bị 2 đứa khủng bố Hồi giáo chúng tấn công em!

“Bị Hồi-giáo tấn công”, không sợ bằng bậc thày nọ có quan-niệm lạ về Cuộc sống, Giáo huấn và Sự việc liên quan đến Cách mạng Tôn giáo” như đã viết, rằng:   

“Từ hồi nhỏ, tôi vẫn hát những ca khúc kể về cuộc đời Đức Giêsu đã thuyết phục tôi suốt nhiều năm trường cho tới khi khôn lớn tôi vẫn nhận ra rằng đời mình còn có vấn-đề quan-trọng không kém, đó là: làm sao kể truyện Ngài đây?

 Quả thật, có nhiều cách kể về đời Đức Giêsu, nhưng kể cách nào, đó mới là vấn-đề. Và, vấn-đề này luôn mang tính nghiêm-chỉnh rất khó lường…

 Ở thế kỷ thứ tư và thứ năm, ngôn ngữ nhà Đạo luôn luôn kể rằng Đức Giêsu là “Ngôi Thứ Hai” trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời và Ngài luôn trở nên Một với Thiên-Chúa Cha”. Với người theo Đạo Chúa, thì: mặc-khải lớn về Thiên-Chúa là Đấng có xương thịt, mà ta vẫn gọi bằng cụm-từ “Con Thiên Chúa”, qua đó sự việc Ngôi Lời đã mặc tính xác thịt ôm trọn những gì mọi người nghĩ về Thiên-Chúa trong cuộc sống của con người, như Ánh Sáng chiếu rọi nhân-trần, Ngài tỏa sáng trên ta về bản-chất và ý-định của Thiên Chúa và đường lối để ta sống.

 Đã đành là, người Đạo Chúa vẫn cho rằng Kinh thánh luôn mặc-khải về Thiên-Chúa như Lời của Ngài”. Quả thật, thần-học chính-thống của Đạo Chúa từ ngàn xưa, vẫn khẳng-định rằng sự việc mặc khải Thiên-Chúa đầy tính quyết-định chính là Đức Giêsu bằng xương bằng thịt.

 Và, Kinh thánh chính là “Lời” trở thành “lời lẽ”thế nên mặc-khải về Chúa bằng “lời lẽ” của con người.

 Thành thử, Đức Giêsu chính là “Lời” trở thành xác phàm, thế nên mặc-khải về Chúa đã thành hiện-thực trong cuộc sống của con người. Thành thử ra, Đức Giêsu mang mặc đặc-tính đầy xác-quyết hơn cả Thánh Kinh…” (X. Marcus J. Borg, Jesus: Uncovering the Life, Teachings and Relevance of a Religious Revolutionary, HarperOne 1989, tr. 5-7)

Niềm vui và nỗi đau ở đời người, còn được diễn tả trong truyện kể của người mình, cũng huê-dạng như sau:

“Hà Nội là cả một thế giới bí mật, nó luôn luôn giấu những bất ngờ nho nhỏ ở một chỗ ta không hình dung ra được. Một may mắn tình cờ nào đó ta tìm thấy cái bí mật đó ngay trước mặt ta, ta bàng hoàng như được ai mời một chén rượu quý. Cái ngọt của rượu cứ vương mãi ở cổ như một bài thơ chưa đọc đến câu cuối cùng. Câu thơ đó có thể ở lại với ta suốt một đời người.

Một buổi chiều, tôi lang thang trên đường phố Hà Nội, đi một mình trong khi chờ đợi chồng con (được một ngày mẹ cho) đang phân tán trong phố cổ trở về đi ăn tối. Vừa đi vừa ngắm nghía hai bên: Phố, người, xe tấp nập buổi tan tầm, chạy đâm vào nhau, như những con rối trong tuồng múa nước. Cái cảnh này trên thế giới chỉ có ở những nơi đất hẹp người đông. Hà Nội, Sài Gòn Việt Nam là hai nơi điển hình đáng kể nhất. Chen giữa bước chân đi là những hàng ăn, hàng uống bầy cả ra hai bên phố. Ngay trước những cửa hiệu hàng hóa, ai muốn bán thì cứ bầy ra bán.

 Ở một con ngõ vào xóm người ta cũng có thể chăng một tấm bạt từ vách tường của nhà bên phải sang vách tường của nhà bên trái ở ngay đầu ngõ làm thành một quán cà phê hay một quán bán chè, bán cháo.

 Ai may mắn có được cái mặt tiền độ ba thước vuông là thành một cửa hiệu khang trang lắm rồi, còn không thì cứ bầy ngay ra trên lối đi, trên một nắp miệng cống cũng để vừa một gánh hàng rong. Khách hàng xúm xít ngồi xuống ăn uống rất là tự nhiên, giản dị, thưởng thức món ăn thật hạnh phúc, chẳng kém gì những người khách ở trong một nhà hàng sang trọng thưởng thức món ăn của mình.

Tôi hòa mình vào trong cái dòng sinh mệnh đông đảo đó. Lang thang mãi, mỏi chân và khát nước, thấy thèm một ly trà quá. Thật may, một cái quán bán nước trà, kẹo lạc (đậu phọng) đơn sơ ngay góc đường Tôn Đức Thắng và Đoàn thị Điểm. Quán không có bảng hiệu, vài cái bàn thấp và ghế đẩu, nhưng gần như mọi người đã ngồi hết, tôi đứng loay hoay một vài giây, có người giúi cho vào tay chiếc ghế đẩu, mà chẳng nói một câu gì.

 Tôi vội cám ơn và nhận được một nụ cười. Ngồi xuống, chưa kịp gọi thì chủ quán, một người đàn bà trẻ khoảng ngoài ba mươi đã đem đến trước mặt tôi một ly nước trà, và cái đĩa nhỏ có mấy chiếc kẹo. Chị không nói câu nào, đặt ly nước trà bốc khói, thơm ngát xuống ngay một góc bàn đã có bốn người ngồi trước mặt tôi với một nụ cười, tôi cũng cười lại đáp lễ, cúi xuống nhìn vào ly nước một giây, rồi uống một ngụm nhỏ. Nước trà vừa chát, vừa ngọt, vừa thơm, đúng là trà mộc Thái Nguyên. Uống ngụm nước mà như uống một nụ cười. Hình như những người ở trong quán này ai cũng hào phóng nụ cười.

Nước trà làm tôi tỉnh hẳn người, lúc đó tôi mới để ý nhìn chung quanh. Quán trà nhỏ xíu nhưng rất ấm cúng và giản dị. Chị chủ quán đang loay hoay với những chiếc ấm, những hộp, những gói trà và những chiếc ly thủy tinh. Ánh lửa ở chiếc lò ga hắt lấp lóe một bên má chị, nhìn thấy cả đuôi lông mày của con mắt bên đó kéo dài một nét thanh thanh, cái bóng nhỏ bé của chị hắt một vệt rất mờ trên vách.

 Cả quán có ba chiếc bàn vuông và một chiếc bàn dài, bàn vuông thì ngồi được hai người, bàn dài thì được bốn người. Vì quán rất hẹp, nên kê gần nhau lắm. Bàn nào hình như cũng chen thêm ghế, và khách ngồi sát vai nhau rất là thân mật. Họ chụm đầu vào nhau, trò chuyện, nhai kẹo lạc ròn thành tiếng, khói trà nghi ngút bốc lên ngang mặt mọi người, nhưng sau làn khói mỏng manh đó những con mắt vẫn ánh lên khi họ nhìn nhau trò chuyện. Thỉnh thoảng họ lại giơ tay đập vào vai nhau rất thân thiện.

Quán trà bình dân này không có tiếng hát, tiếng nhạc vỡ ra từ máy phát thanh hay truyền hình như ở các nơi khác, nên không khí rất êm ả. Khách nói chuyện với nhau rất khẽ, khẽ đến nỗi không nghe được tiếng, chỉ thấy những bàn tay xòe ra, nắm vào, những ngón tay chỉ vào ngực mình, hay chỉ vào mũi người khác thi nhau múa lên. Nếu họ nói to thì chắc là quán đang ồn lắm.

 Mặc cho tiếng ồn ào của những chiếc xe gắn máy, tiếng còi xe bóp inh ỏi, tiếng người gọi nhau ơi ới, tiếng rao hàng và đôi khi chen vào cả tiếng cãi cọ trước cửa quán, những người vào đây uống trà họ giữ được không khí rất là thinh lặng, nói rất khẽ và cười rất nhẹ. Chị chủ quán luôn luôn biết ý khách hàng, không đợi gọi, kẹo chưa hết đã mang ra, trà lúc nào cũng được rót đầy ly đem tới, chị thong thả chuyên nước sôi từ ấm sang bình, tiếng nước sôi trên bếp cũng nhẹ nhàng như tiếng guốc chị di chuyển, hình như tôi nghe được cả tiếng thở của chị.

Tôi uống đến ly trà thứ hai và ăn gần hết chiếc kẹo, tỉnh hẳn người, lúc đó mới quan sát kỹ đến những người khách chung quanh mình. Họ phần đông còn trẻ, người già nhất chắc chỉ khoảng bốn mươi, họ đang nói chuyện với nhau bằng những bàn tay, múa khoa lên trong quán. Cách nói chuyện của họ làm tôi liên tưởng đến một lớp “Sign Language” ở College tôi đã theo học cách đây mấy năm.

 Câu đầu tiên chúng tôi học là lấy ngón tay chỉ vào giữa ngực mình, xong xòe bàn tay ra áp vào bên trái ngực, rồi chỉ ngón tay vào người đối điện. Như thế có nghĩa là I love you.Tôi đã học hết khóa vỡ lòng và có thể nói chuyện vài ba câu thông thường với người câm, điếc. Bẵng đi một thời gian không học tiếp theo, bây giờ khó mà nhớ lại được hết những điều mình học.

Chị chủ quán đến gần tôi với một mảnh giấy, đưa cho tôi đọc. “Đây là quán Trà của người câm và điếc, bà cần gì thêm xin viết xuống đây.” Tôi ngẩn người ra nhìn chị, chị nhìn lại tôi cũng vẫn với nụ cười. Tôi viết lên tờ giấy của chị vừa đem đến, hỏi chị mở quán này bao lâu? Thì chị cho biết là mới hai năm, sau khi vừa lập gia đình, anh cũng là người dùng ngôn ngữ thinh lặng như chị.

 Chúng tôi tiếp tục bút đàm với nhau, chị nói khi mới mở quán trà, muốn bán cho tất cả mọi người, nhưng khách nói được đến uống trà thấy cứ phải bút đàm với chủ quán mất nhiều thời giờ quá và khách không nói được thì cứ giơ tay chỉ chỏ vào họ, nên họ bỏ đi. Dần dần những người câm, điếc rủ nhau đến đây uống trà, coi như quán này mở ra chỉ để dành riêng cho họ, những người đối thoại thinh lặng.

Tôi ngồi im trong bóng chiều chập choạng, một vài cửa tiệm đã lên đèn, chị chủ quán cũng bật lên một ngọn đèn điện ở một góc quán, ngọn đèn không được sáng lắm, nhưng cũng soi rõ những bàn tay đưa ra, những ngón tay chỏ vào nhau, tôi ngắm nhìn những bàn tay đó cố vận dụng vốn liếng ít ỏi đã học được của mình, dần dần tôi hiểu họ đang nói với nhau về việc làm, giá sinh hoạt, có người có con vừa ở bệnh viện ra, có người vừa thất nghiệp. Tôi dở quá nên nghe được mà không nói được. Nếu tôi còn nhớ để nói chuyện được với họ thì hay biết bao!

Nếu ai đã từng được thưởng thức tuồng Nô của người Nhật, là một loại tuồng các diễn viên sơn mặt trắng toát giống nhau, khi diễn kịch họ không nói tiếng nào, chỉ diễn tả bằng cách khoa tay múa chân, người xem phải đoán được cảm xúc của họ qua những cử chỉ đó, thì thấy những người đang uống trà trong quán này giống như họ vậy, có khác một điều những người này không phải kịch sĩ, họ không quét sơn trắng lên mặt, nên ta đọc được cảm xúc trên từng cái cau lông mày, cái cười mệt mỏi nửa miệng, hay nụ cười nở tung ra như một đóa hoa.

 Tôi phải nhờ chị chủ quán thông ngôn, cái ngôn ngữ thinh lặng này. Tôi viết xuống giấy câu hỏi, rồi chị chủ quán dùng tay nói lại với họ. Chị cho biết phần đông những người này không biết đọc, biết viết. Nếu tôi muốn nói chuyện với họ, phải nói thật to, không được dùng tay che miệng, họ sẽ nhìn miệng tôi mà đoán tôi đang nói câu gì.

Có người rút ở trong túi ra một tờ giấy, có bọc plastic với một dòng chữ in sẵn: Tôi vừa câm vừa điếc. Không biết chữ. Xin nói to và đừng che miệng. Tôi nhìn tờ giấy được giữ gìn cẩn trọng như một tờ căn cước mà trong lòng rưng rưng, thấy nghèn nghẹn ở cuống họng, vội cúi xuống uống ngay một ngụm trà.

Tôi ngồi chuyện trò với họ bằng sự trợ giúp của chị chủ quán, chúng tôi nói với nhau về những đời thường. Chuyện gia đình, chuyện học của con, chuyện việc làm của cha mẹ. Họ hỏi tôi về cái đất nước xa xăm tôi sống, ở đó những người câm, điếc được giúp đỡ thế nào? 

Chúng tôi hỏi nhau cả về chuyện uống trà. Câu chuyện càng lúc càng thân thiện cởi mở, họ nói năng tự nhiên, ước mơ giản dị, chỉ mong kiếm đủ ngày hai bữa, có chút tiền nhỏ phòng khi con cái ốm đau, đủ tiền đóng học phí cho con mỗi khóa học.

Những buổi chiều tan việc, họ bỏ lại tất cả nhọc nhằn khuân vác trên bến dưới thuyền ở những bãi sông; những túi xi măng, những viên gạch, tảng đá ở nơi xây cất; cái cuốc cái xẻng ở một con đường đang đào, đắp nào đó, ghé uống mấy ly nước trà và gặp những người cùng chung ngôn ngữ với họ, ngôn ngữ thinh lặng trong quán trà thinh lặng này.

Tôi ngắm nhìn họ cầm ly uống trà rất là bình dân, sảng khoái, hình dung ra ở một nơi uống trà khác của những người được gọi là thanh lịch. Những quán trà dành cho tao nhân mặc khách có những nghi thức cầu kỳ gọi là Trà Đạo. Khi cho trà vào ấm thì gọi là Ngọc Diệp hồi cung. Khi tráng trà thì gọi là Cao Sơn trường thủy (rót nước 60 độ, cao cách trà 20-30 phân). Khi pha trà thì gọi Hạ Sơn nhập thủy (rót sát miệng ấm, nước sôi đủ 100 độ). Khi nhấc chén trà lên thì mấy ngón tay cũng được thăng hoa gọi là ba con rồng Tam Long giá ngọc, trước khi uống ngụm trà đó phải từ tốn đưa lên mũi từ trái sang phải thưởng thức mùi thơm của trà gọi là Du Sơn lâm thủy.*

 Chao ôi là nghi lễ, thật cầu kỳ.

Những người uống trà trong quán trà Thinh Lặng này họ giản dị lắm, trà do chị chủ quán pha một bình lớn, rót ra sẵn trước mặt, họ cầm lấy chén trà, nhìn nhau bằng những ánh mắt thân mật, ngửa cổ lên uống một hơi đầy, uống theo cả mệt nhọc của một ngày lao động vất vả vào lồng ngực. Họ chỉ vào ngực mình, ngực bạn, nói lòng quý mến nhau. Những tiếng động bên ngoài đường của xe cộ, của âm thanh ầm ĩ, họ bỏ cả ngoài tai. Trong những lồng ngực đơn sơ đó cái âm thanh tĩnh lặng kéo dài theo nhịp đập êm ả của trái tim.

Tôi chào họ ra về, mang theo quán trà Thinh Lặng trong trái tim nhiều tiếng động đời thường của mình, nước mắt bỗng ứa ra.

 Chao ôi, là quê hương yêu dấu! Mỗi chỗ giấu một điều bí mật, ta có may mắn tìm thấy, khác nào như những người tìm được châu báu trong kho tàng cổ tích thần tiên.” (Trích “Quán Trà Thinh Lặng” của Trần Mộng Tú)

 Thinh lặng hay ồn ào, vẫn là nỗi đau của đời người, được người nghệ sĩ diễn tả thêm lần nữa, qua nét nhạc, rằng những hát:

“Có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa người
Đừng đợi ngày mai đến khi tôi phải ra đi
Ôi buồn làm sao nói lời tạ ơn. 

Nếu có bao dung thì hãy bao dung bây giờ
Đừng đợi ngày mai đến lúc tôi xa đời
Đừng đợi ngày mai biết đâu tôi nằm im hơi
Tôi chẳng làm sao tạ lỗi cùng người.
(Ngô Tịnh Yên/Trần Duy Đức – bđd)

Gặp phải nỗi đau suốt một đời, cũng đừng tạ lỗi với ai hết. Bởi, nỗi đau ở đời người luôn sát cánh với người đời, hệt như lời đấng thánh-hiền từng bảo ban, như sau:

“Bởi thế, chúng tôi hãnh diện về anh em

trước mặt các Hội Thánh của Thiên Chúa,

vì anh em kiên nhẫn

và có lòng tin mỗi khi bị bắt bớ

hay gặp cảnh gian truân.

Đó là dấu cho thấy Thiên Chúa xét xử công minh:

anh em sẽ được coi là

xứng đáng tham dự Nước Thiên Chúa,

chính vì Nước Thiên Chúa

mà anh em chịu đau khổ.”

(2Thessalônikê 1: 4-6)

 Hãnh-diện, không vì anh chị em từng chịu đau khổ suốt mọi thời. Nhưng, vì anh chị em mình đều vì Nước Thiên-Chúa, nên mới thế.

  Trần Ngọc Mười Hai

Và những nỗi đau

rất khó tả trong đời mình,

nhưng vẫn kiên nhẫn

sống vui sống mạnh với mọi người

suốt một đời.