httpv://www.youtube.com/watch?v=_mvd3aGd5s0
Làm sao để tận dụng tối đa phần đời còn lại?

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Về Công Giáo và Phật Giáo cùng các tôn giáo khác
Giàu Có và Bỏ Mọi Sự
Mt 19,23-30
Giàu có
Trên đời này có nhiều thứ làm cho ta giàu có lắm.
– Giàu có tiền của, vàng bạc đôla nhà cửa đất đai ruộng vườn… yến tiệc linh đình, gấm vóc lụa là, ăn uống phủ phê…
– Giàu có kiến thức, tư tưởng kim cổ đông tây, bằng cấp học giả, tài giỏi năng khiếu, khôn ngoan thông minh, sáng suốt hơn người
– Giàu có địa vị, quyền cao chức trọng, lên xe xuống ngựa, uy quyền thống lãnh, kẻ đón người đưa, thích đứng ở ngã tư đường cho người ta chào hỏi xin phép bái lạy…
– Giàu có miệng lưỡi, nói khéo nói khôn, danh hiệu mồm vàng, thu hút hấp dẫn lôi cuốn đến nỗi bà góa đem của cải ra trao nộp hết….
– Giàu có đạo đức, lúc nào miệng cũng lâm râm cầu nguyện, đeo nhiều thẻ kinh, mặc áo tua dài, ngày đi dăm ba lễ, lần hạt dài mấy cây số, kể lể công phúc lập được…
“Thầy còn nói cho anh em biết: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.”
Người có tật thì hay giật mình, người giàu có thì hay hỏang hốt… mà các ông môn đệ chắc là giàu có lắm nên mới giật mình sửng sốt và còn vô cùng sửng sốt; hay là các ông lo cho số phận các nhà giàu không biết: “Nghe nói vậy, các môn đệ vô cùng sửng sốt và nói :
“Thế thì ai có thể được cứu?”
Vậy thì giàu có của Chúa là giàu có thế nào?
“Đức Giê-su nhìn thẳng vào các ông và nói :
“Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được.”
Theo tôi suy đóan (hay đóan mò lắm !), giàu có theo cách của Chúa là có Chúa đầy mình, kho tàng của mình là Chúa vì kho tàng ở đâu thì lòng trí ở đó.
Chúa kêu gọi con người sám hối hóan cải để thay đổi não trạng tư duy của mình. Từ một Thiên Chúa nhỏ nhen, tính tóan, cằn nhằn, hẹp hòi… sang một Thiên Chúa giàu lòng từ bi nhân hậu, tha thứ, xót thương…
Bỏ mọi sự
Bỏ mọi sự trở nên túng bấn nghèo khổ cùng cực phải không ?
Bỏ hết mọi trở nên khù khờ cả lũ với nhau ý à ?
“Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội”.
Gấp bội cái gì nhỉ ?
chẳng lẽ từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất lại được nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất gấp bội à ?
Lại suy bụng ta ra bụng Chúa nữa,
có phải là: Có Chúa là có Tất Cả, tất cả trong Tất Cả. Có Tình Yêu là có gấp bội, hẳn nhiên là vật chất có đó (có mà đầy) nhưng không chiếm hữu (không vun vét, tích cóp, dồn lắc).
Ngài đến trần gian nối kết mọi người vào trong Vương Quốc Tình Yêu.
Vậy ai là anh em, là chị em, là cha mẹ ?
Là những người thực hành Lời Chúa và thi hành Thánh Ý của Người. Người sống trong Vương Quốc Tình Yêu,
tất cả “sự vật” thuộc trần gian trở thành thứ yếu, trở thành phương tiện… đó là ý nghĩa của việc từ bỏ.
Một khi đã cảm nhận được Chúa là hạnh phúc là niềm vui là bình an thì Chúa cũng chính là sự giàu có của mình “và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp”.
OTC
From Tramtubensuoi gởi
httpv://www.youtube.com/watch?v=X7WlZ4ihF1Q&t=21s
LINH HỒN THẦY DÒNG ĐÃ CHẾT HIỆN VỀ XIN CẦU NGUYỆN – công giáo /đời sau / thiên đàng hỏa ngục
MÊ DÂM DỤC– Bài Giảng của Thánh Gioan Maria Vianney
MÊ DÂM DỤC
Sự chết, phán xét, Thiên Đàng, Hỏa Ngục, không làm cho họ sợ hãi tí nào, không có gì lay chuyển họ được. Trong các tội lỗi, tội mê dâm dục là khó diệt trừ nhất.
Thánh Gioan Maria Vianney
Mê dâm dục là sự yêu thích các thú vui nhục dục trái ngược với đức trong sạch. Không có tội nào làm suy nhược và phá hủy linh hồn nhanh chóng cho bằng tội đáng xấu hổ này; nó lôi kéo chúng ta ra khỏi bàn tay Thiên Chúa, và ném chúng ta như ném một cục đá vào trong hố sâu bùn lầy hôi thối. Một khi đã chìm trong đống bùn nhơ đó, chúng ta không thể nào thoát ra được. Trong đống bùn đó, chúng đào cho mình một cái lỗ; càng nhúc nhích, chúng ta càng làm cho cái lỗ ra to thêm, rồi từ từ chìm xuống. Rồi chúng ta đánh mất đức tin của mình, chúng ta cười nhạo tôn giáo, không còn mơ ước Thiên Đàng, không còn sợ hãi Hỏa Ngục nữa. Thật bất hạnh biết bao cho những linh hồn sống trong đam mê tội lỗi này! Linh hồn họ đẹp đẽ đến nỗi kéo được sự chú ý của Thiên Chúa để mắt nhìn, như khi người ta nghiêng mình trên một đóa hoa hồng thơm ngát, nhưng nay đã trở nên như một xác chết lâu ngày, mùi hôi thối độc hại của nó bay thấu tận trời cao.
Chúa Giêsu Kitô đã kiên nhẫn chịu đựng sống giữa các Tông Đồ, là những người đầy kiêu căng và tham vọng, thậm chí một người đã phản bội; nhưng Người không dính một chút bợn nhơ của họ; Người ghê tởm tất cả mọi tính hư nết xấu. Thiên Chúa phán: ”Thần Khí của Ta không ở trong người, nếu người chỉ là xác thịt và thối nát.” Thiên Chúa lìa bỏ tất cả những người tâm địa độc ác và dâm ô. Chúng để mình chìm đắm trong bùn nhơ như con heo hèn hạ, nhưng lại không ngửi thấy mùi hôi thối bốc lên. Người trơ trẽn như vậy thật đáng ghê tởm trước mặt mọi người, nhưng họ không ý thức được điều đó. Thiên Chúa đã ghi dấu ô nhục trên trán của họ, nhưng họ không cảm thấy xấu hổ; họ có cái mặt bằng đồng và một trái tim bằng đá; thật là vô ích khi nói với họ về danh dự đạo đức, vì lòng trí của họ đầy tự mãn và kiêu căng.
Các chân lý như: sự chết, phán xét, Thiên Đàng, Hỏa Ngục, không làm cho họ sợ hãi tí nào, không có gì lay chuyển họ được. Trong các tội lỗi, tội mê dâm dục là khó diệt trừ nhất. Những tội khác trói chúng ta bằng xích sắt, nhưng tội mê dâm dục trói chúng ta bằng xích da bò, loại da không bao giờ rách hay đứt; tội mê dâm dục là lò lửa làm ô uế cả những người lớn tuổi cao niên. Hãy xem hai ông già bỉ ổi bị cám dỗ về sự trong sạch đem lòng thèm muốn bà Susanna; họ đã giữ cơn sốt thời trai trẻ đến lúc già yếu. Khi thân xác kiệt sức vì trụy lạc, khi họ không còn thỏa mãn được những đam mê, thì họ thay thế bằng những ước muốn và ý tưởng dâm ô.
Gần đến giờ chết, họ vẫn còn nói về đam mê cho đến hơi thở cuối cùng; họ chết như lúc họ sống – cứng lòng; sự đền tội nào có thể bù đắp cho tội mê dâm dục này? Sự hy sinh nào có thể lay động họ ở giờ phút cuối cùng, những người suốt đời chỉ nghĩ đến những thú vui nhục dục? Liệu người ta có thể nào mong đợi một lần xưng tội đàng hoàng, một lần rước lễ sốt sắng từ những người, mà lúc trai trẻ có lẽ đã cố tình giấu giếm những tội lỗi ghê tởm và xấu hổ này, đã nhiều lần phạm thánh không? Liệu miệng lưỡi họ đã khép kín lâu nay, chịu mở ra ở giờ phút cuối cùng không? Không có điều đó đâu; Thiên Chúa đã bỏ rơi họ; nhiều lớp chì đè nặng trên người họ; và họ cứ đổ thêm vào. Nhưng hãy coi chừng, đó có thể là lần cuối cùng của đời họ.
From: hnkimnga & Anh chị Thụ Mai
Suy Tư Chúa nhật thứ 21 thường niên năm B 26/8/2018
(Ga 6: 54a, 60-69)
Tại hội đường Caphácnaum, Đức Giêsu tuyên bố:“Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời.” Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” Nhưng Đức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông:”Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.
Nhưng trong anh em có những kẻ không tin.”Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. Người nói tiếp: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho.” Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.
Vậy Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai:”Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Ông Simôn Phêrô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”
* * *
“Em đi rồi, sám hối chạy trên môi,”
“Những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng…”
(dẫn từ thơ Nguyên Sa)
Mai Tá lược dịch.
Nhà thơ buồn, vì người em rày đã đi. Em đi rồi, nhà thơ thấy sám hối chạy trên môi, nên tháng ngày vật vã cứ chĩu nặng trên vai buồn. Nhà Đạo lại rất vui mà ra về khi Tiệc Thánh đến hồi chấm dứt, lòng những mang theo bài sai Chúa nhắn nhủ, và gọi mời.
Trình thuật thánh Gioan nay kết thúc với lời cuối Tin Mừng ở chương 6 Chúa nói về “Bánh Hằng Sống” khiến người nghe thấy chướng tai, bèn bỏ Ngài lại một mình. Và khi đó, Ngài hỏi đồ đệ xem các thánh nhận xét ra sao về chúng dân, đồ đệ bèn quả quyết: ai bỏ Chúa thì cứ bỏ,nhưng các thánh không bỏ Thày và cũng chẳng đi đến nơi nào không có Thầy ở đó.
Cuối buổi Tiệc, dân con Chúa những tưởng Tiệc Thánh đã chấm dứt khi chủ tế giơ tay ban phép lành kèm lời nhắn: “Anh chị em hãy ra đi bình an.” Kỳ thực, lời chúc “ra đi” hay “ra về” bình an, đều hàm ẩn một thôi thúc dân con dự Tiệc hãy về với thế trần mang theo sứ vụ Chúa trao phó, cho mọi người. Nhưng, bài sai đây là sứ vụ gì? Thực hiện sứ vụ này ra làm sao? Kết quả dẫn đến sẽ thế nào?
Ở đây, dân con dự Tiệc vào phút cuối sẽ khám phá ra một hiện diện khác từ Tiệc Thánh. Đó là, sự hiện diện mặt-đối-mặt của các sự vật có tính cách chỉ như vật thể. Dự Tiệc, không là hiện diện bằng thân xác mà dân con/cộng đoàn từng trải nghiệm theo cung cách chủ quan, hạn chế. Nhưng, hiện diện đây là qui cách hiện hữu mà chỉ mình Chúa mới có. Chính đó là Hiện Diện theo nghĩa của việc tặng ban/cho đi. Cho một cách nhưng-không chẳng màng gì lợi danh, đổi chác hoặc đáp trả theo nghĩa “có đi có lại mới toại lòng nhau”.
Đức Chúa không tặng ban cho ta chỉ một hiện hữu có ích, Ngài cũng chẳng trông chờ ta cảm kích biết ơn để rồi tạo thành ràng buộc khiến ta mất tự do, chẳng thoải mái. Ngài cũng không muốn lấy đi giây phút hiện tại ta đang sống trong nhà Chúa như một sự thể chính đáng. Và, Ngài cũng không đánh giá quá thấp chuỗi ngày dài đầy những quá khứ hoặc tương lai đang trờ đến.
Ta tưởng đó như một hiện tại kéo dài để rồi thiết lập nên những mẩu chuyện nhỏ cho một tổng thể lớn. Tổng thể, là đường lối hoàn toàn khác cho thấy người đời vẫn đặt nặng mọi thứ hơn là hiện tại. Nhất là, hiện tại xảy ra ở cuối buổi Tiệc Thánh, vào lúc ta được bảo: hãy “ra đi” mà trở thành kẻ tản bộ trong ước mơ tuy chậm nhưng rất chắc, ở thế trần. Ra đi, vì bài sai Chúa gửi đến thế trần không do ta chọn và thiết lập, mà chỉ tuân thủ và thực thi.
Và, Hội thánh hôm nay cho thấy thái độ “đóng kín” không am tường bản chất của mình, nên đã không phản ánh cái đẹp của trần thế bằng việc thể hiện động thái của mình. Và, cũng vì không am tường bản chất của chính mình nên cũng không tạo ảnh hưởng nào lên trần thế hết.
Thành thử, khi nhận bài sai ra đi về với thế trần làm chứng nhân rao giảng Lời Chúa và sống cho Chúa, nhiều dân con đi Đạo cảm thấy khó mà sống thực niềm tin giữa lòng dân tộc, thời hiện đại. Bởi thếnên, nền văn hoá thời đại chẳng dám đón nhận sứ điệp của Đạo Chúa, nữa. Thế trần thời hiện đại, là chốn miền khiến ta khó mà sống niềm tin rất đích thực. Bởi, ngày nay người người vẫn dễ dàng sống theo lề thói rất vật chất, tự do vui hưởng lợi lộc do chủ thuyết tiêu thụ dọn sẵn ý hướng chệch choạc.
Ở đây cũng thế, không dễ gì có thể định hướng được tính khí của nhân loại để người người có thể ra đi mở rộng Nước Chúa, sống cho Chúa. Bởi lẽ, cơ chế xây dựng nên Hội thánh hôm nay ngày càng ít trở nên gương mẫu cho đời thường, ở trần thế. Và vì thế, Hội thánh càng xa rời đời sống của chúng dân. Vì, nơi thế trần hôm nay cũng vậy, ngày càng thấy ít đi các Tiệc thánh hiến tế hoặc Tiệc Lòng mến thân thương đông người dự. Số lượng linh mục phục vụ Tiệc ngày càng ít, kéo theo sự thể là sứ vụ rao giảng Lời Chúa ngày càng chất chồng lên đôi vai trần của một vài vị còn ở lại với thánh hội.
Từ đó, có mục tử cùng lúc phải coi ngó nhiều giáo xứ. Có vị phải bỏ nhiều giờ để tới vùng sâu vùng xa mà “rao giảng”.
Thế nên, hôm nay, nhu cầu đòi dân con dự Tiệc nhận bài sai “ra đi rao giảng Nước Trời” trở thành chuyện sống thực ở đời. Sống thực, là sống đúng ý nghĩa của Tiệc Lòng Mến biến cải thế giới thành chốn miền đặc biệt để sống và lao động. Hôm nay, hơn năm mươi năm trôi qua kể từ ngày Công Đồng Vatican II ban hành nghị định thư về sự sống còn của dân con nhận bài sai rao giảng, cho thấy đó là quan điểm cách mạng chứng thực vai trò giáo dân đã đến hồi nở rộ, đẹp đẽ. Tốt lành.
Vấn đề của giáo dân hôm nay, không nhằm khuếch trương Hội thánh theo số lượng tăng nhanh bao gồm sự việc và phong trào do Hội thánh chủ trương. Cũng chẳng là phải làm gì hoặc làm thế nào để số người đến nhà thờ ngày một đông, có thêm người đọc kinh, hát xướng. Mà là, sống thực cuộc sống có hiệp thông ta học được từ Tiệc Thánh xảy đến ngay trong trần thế rất khí thế.
Trở thành giáo dân đúng nghĩa, là ơn gọi nhận bài sai ra đi rao giảng Lời, chứ không phải chức vụ mình nhận để thực thi. Ơn gọi giáo dân đây, là ân lộc gọi mời mọi người trở nên dân con của Chúa bằng cuộc sống hiệp thông, rất thương yêu. Gọi mời mọi người trở thành dân con sống thực Lời Chúa trong một thế giới chỉ chú trọng vật chất. Sống thực Lời Chúa, là sống hiệp thông thương yêu trong khuôn khổ của trần thế.
Sống thực ở đây không là kinh nghiệm hiệp thông rước lễ rút từ Tiệc Thánh rồi phổ biến cho thế giới cũng làm như thế. Làm thế, khác nào biến thế giới bên ngoài thành chi nhánh của Hội thánh ở bên trong. Làm thế, tức như thể dân con mình không còn tôn trọng tính đặc biệt của thế giới bên ngoài và lại chỉ muốn tân trang đổi mới mặt ngoài của thế giới, thế thôi.
Sống thực Lời của Chúa, là cởi mở với tính chất rất trần thế nơi cuộc sống đời thường vẫn như thế; để rồi, từ đó khám phá ra sự thể của cuộc sống có hiệp thông, thương yêu rút từ Tiệc Thánh đang thăng tiến với thế trần. Mãi đến nay, Hội thánh vẫn chưa đạt thành tích về chuyện này. Hội thánh lâu nay vẫn hãi sợ “thế gian” rất phàm tục. Thế gian, là cụm từ Hội thánh ít muốn nghe đến. Thế gian, là từ ngữ về hệ thống giá trị mang tính phàm tục đối nghịch hệ cấp giá trị của thánh hội. Và Hội thánh vẫn cứ sợ cả những giáo dân bên trong thánh hội của mình một ngày nào đó sẽ qua mặt cả hệ cấp rất thánh nữa.
Nay, đã thấy một vài đổi thay trong thái độ của thế gian. Nhiều vị sống ở thế giới gian trần này, nay đã biết được rằng: song song với các vận động đề cao nhân quyền của dân thường và các vậnđộng bênh vực những người thuộc sắc tộc thiểu số cùng nghèo hèn, Hội thánh nay cũng tích cực đề bạt và bàn bạc với trần thế để đi đến hành động chính đáng. Nhiều vị trong Hội thánh, nay đã biết dân con mình dù sống trong trần thế, với “thế gian” vẫn nhận lãnh nhiều ân lộc từ Đức Chúa.
Vậy thì, việc đó nói lên điều gì? Và có từ đâu? Phải chăng từ bài sai “ra đi” mà hiệp thông, thương yêu. Hiệp thông thương yêu, là kết hiệp và cảm thông với những người khác mình, trong quan hệ thường nhật. Bởi thế nên, thông điệp ở đây hôm nay, là: nếu ta học được điều hay từ hiệp thông thương yêu trong thánh hội, thì hãy sống thực điều đó bên ngoài hội thánh. Sống được thế, sẽ mang đến cho ta một khí thế, rất sống động. Hiệp thông yêu thương, là biết tôn trọng mọi người để rồi cùng họ đem tình thương đến với người khác, dù theo cung cách rất đời thường, hoặc “thế gian”.
Giáo dân ta, nay là người có cơ may nhiều hơn triều thần giáo sĩ và tu sĩ do việc họ vẫn sống và làm việc ngay trong cơ cấu trần thế. Việc của giáo dân, nay là lập quan hệ với những người sống trong trần thế, theo cung cách rất thế trần. Như thế, và như thể chính giáo dân mới là người đóng đúng vai trò thừa sai có từ bài sai “hãy ra đi mở mang Nước Trời, ở trần gian”.
Vào lúc kết thúc buổi Tiệc Thánh, giáo dân dự Tiệc là những người vẫn được giáo triều sai bảo “hãy ra đi mà về với thế gian” để triển khai công tác tốt đẹp được Chúa ủy thác. “Hãy ra đi”, bởi nay quý vị được ủy thác công tác ra mà đi, vì đã có phép lành từ Đức Chúa của hiệp thông/thương yêu ở với mình. Ra mà đi, vì ngay tại nơi mình đến đã thấy rõ dấu hiệu của sự sống lại, rất trổi trang.
Ra mà đi, nhưng không hãi sợ trần thế rất “thế gian” khi xưa được gọi là kẻ thù thứ ba rất đáng sợ. Bởi, thế gian là ta và cũng là người, chứ đâu là quỉ. “Ra mà đi”, hầu nhận lãnh sứ vụ gửi đến con người và cho con người có đính kèm phúc lành, chứ không phải lời chúc dữ dành cho “kẻ thù” là quỉ sứ, đáng hãi sợ. Hãy hiên ngang mà ra đi, vì Đức Chúa vẫn ở với mình và với người, là thế gian Ngài thương mến.
Trong tinh thần phấn chấn mà ra đi, cũng nên ngâm tiếp lời thơ vừa ngâm dở, ở trên, rằng:
“Em đi rồi, sám hối chạy trên môi,
Những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng.
Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn,
Giữ hộ anh, màu áo lụa Hà Đông.
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng,
Giữ hộ anh, bài thơ tình lụa trắng.”
(Nguyên Sa – Áo Lụa Hà Đông)
Thơ tình hay áo lụa, vẫn cứ là lời nhắn nhủ của thế trần hôm nay không còn là “kẻ thù” rất dữ tợn. Nhưng đã là mục tiêu của thánh hội được Chúa ủy thác một bài sai, bấy lâu nay.
Lm Kevin OShea DCCT biên soạn
Mai Tá lược dịch
From Vuisongtrendoi gởi
Chuyện Phiếm đọc trong tuần 21 Thường niên năm B 26-8-2018
“Quen nhau từ năm tháng rồi”
Ngàn phương xa vời
Anh đến nơi này
để rồi quen nhau mãi mãi.”
(Lê Dinh – Ngày ấy quen nhau)
(1Th 4: 16-17)
Trần Ngọc Mười Hai
Quen nhau, đã từ lâu mà sao lại bảo “anh đến nơi này để rồi quen nhau mãi mãi”? Quen nhau mãi mãi, cũng không thể như đấng bậc vị vọng nọ, nại cớ quen nhau đã từ lâu bèn làm chuyện xằng bậy như bản tường trình từ nhà Đạo, viết như sau:
“Mới đây Đức Tổng Giám Mục Wilson được coi là chức sắc cao cấp nhất trong Giáo Hội Công Giáo bị kết tội che dấu lạm dụng tình dục trẻ em. Qua một thông báo. Hội Đồng Giám Mục Úc cho biết: “Việc ngài quyết định từ chức đã đến sau khi tính chuyện tương lai tiếp theo sau việc ngài bị kết tội không báo cáo những trường hợp lạm dụng tình dục trẻ em xảy ra trong thập niên 1970”.
Thông báo cho biết tiếp: “Trong khi thủ tục tư pháp tiếp tục, viêc từ chức của ĐTGM Wilson được coi là một chương mới trong câu chuyện đau lòng của những ai bị (cựu linh mục) Jim Fletcher xâm phạm tình dục mà cuộc sống đã bị hoàn toàn thay đổi. Quyết định này có thể mang lại đôi chút an ủi cho họ mặc dầu tất cả những đau khổ mà họ đã phải gánh chịu”.
Thông báo còn cho biết thêm là “quyết định của ĐTGM Wilson có nghĩa là ngài không còn là TGM Adelaide nữa bởi vì có kéo dài thì cũng chỉ gây thêm đau khổ và phiền muộn cho nhiều người, đặc biệt là các nạn nhân còn sống và cũng cho tổng giáo phận Adelaide. Hồi tháng 5, Đức Tổng Giám Mục Wilson đã bị kết tội bao che lạm dụng tình dục và bị kết án 12 tháng quản thúc.
Trong khi đó, qua một thông cáo báo chí của Tổng Gíáo Phận Adelaide, ĐTGM Wilson cho biết hy vọng và cầu nguyện rằng quyết định của ngài sẽ là một chất xúc tác hàn gắn đau khổ và phiền muộn. Ngài cho biết:
“Vào ngày 20 tháng 7, tôi đã đệ trình đơn xin từ chức Tổng Giám Mục Adelaide lên ĐTC. Mặc dầu việc từ chức không được yêu cầu, thế nhưng tôi đã quyết định bởi vì càng ngày tôi càng quan tâm đến mức độ tổn hại mà việc tôi bị kết tội mới đây gây ra cho cộng đoàn. Tôi từng có ý gia hạn quyết định này cho đến khi thủ tục khiếu nại hoàn tất.
Thế nhưng, có quá nhiều đau khổ và phiện muộn nếu tôi tiếp tục duy trì vai trò Tổng Giám Mục Adelaide, đặc biệt đối với các nạn nhân của (cựu linh mục) Fletcher. (Vũ Nhuận chuyển ngữ từ abcnet.au)
Quen nhau trong đời, quen cả những vấn đề được kể trong đời đi Đạo, nghe rất quen. Nghe quen quen, cón có truyện kể về các thiên thần hộ thủ, được giáo dân nọ đặt câu hỏi gửi đấng bậc nhà Đạo những câu tương tự như sau:
“Thưa cha,
Vẫn biết, Giáo hội từng dạy ta rất nhiều điều về các “thiên thần hộ thủ”. Thế nhưng, loài người chúng ta có thấy các vị ấy bao giờ đâu. Nếu vậy, lấy đâu là bằng chứng để ta tin là: các thiên thần ấy có thực. Xin cha giải thích cho con biết, kẻo không còn tin vào những gì được dạy dỗ từ lúc nhỏ.” (Câu hỏi của một bổn đạo người Úc không ghi tên)
Ấy chết! Không ghi tên/tuổi hoặc gốc gác lai lịch, thì có ma nào biết được người ấy là người Úc, cơ chứ? Chẳng lẽ người Úc mình lại hay hỏi những câu vẩn vơ/lờ mờ như thế sao? Thôi thì, có hỏi sao thì cứ hỏi, rồi ra đấng bậc nhà mình vẫn vui lòng giải thích, để chính mình được vui, như sau:
“Tôi e rằng phần lớn các giáo-hữu đều tin vào chuyện thiên-thần hộ-thủ từng giúp họ một số việc trong đời thật cũng khó thuyết phục được ai; chí ít là việc này lại dính đến chuyện các thiên thần vì đã đến cứu họ, nên không để cho tai nạn xảy đến hoặc trường hợp tìm ra đồ dùng đã mất hoặc nhớ lại vào phút chót những gì mình từng quên bẵng, và nhiều thứ khác.
Lại có nhiều vị từng kinh-nghiệm về các sự việc khá ấn tượng. Như vừa rồi, có người đến kể cho tôi nghe câu chuyện một cụ bà nọ bị liệt đã té khỏi giường khi cụ ông ra khỏi nhà. Cụ không thể leo lên giường nằm trở lại được, bèn ngủ ngay trên sàn. Nhưng gặp lúc cụ ông đi làm về thấy vợ mình vẫn nằm yên trên giường ngủ. Cụ bà là người sùng kính hết sức mình vào các thiên thần hộ thủ gìn giữ cụ.
Nhiều lúc, các thiên-thần cũng đã hiện ra với ai đó qua hình-thù người phàm. Đó là trường-hợp được tổng lãnh thiên thần Raphael kể lại trong Cựu Ước. Sách này cho biết thần-sứ Raphael đã hiện ra với người trẻ mang tên Tôbia và cùng với người này lập hành-trình rất dài và rồi kết thúc bằng sự kiện tốt đẹp. Cuối cùng thì, thần sứ Raphael mới bộc-lộ lai-lịch đích-thực của mình mà bảo rằng: ngài là thiên-thần hộ -thủ. (X. Sách Tôbia 5: 4-5; 12: 15)
Nhiều vị thánh cũng tuyên bố là: các ngài có kinh-nghiệm được các thiên-thần hộ-thủ gìn giữ suốt nhiều tháng ngày trong đời mình. Trong số các vị này, phải kể đến thánh Josemaria Escriva, người Tây Ban Nha. Thánh nhân đã kể câu chuyện từng xảy đến với ngài như sau:
Năm ấy 1931, trong đợt sóng chống giáo sĩ ở nước này, trong lúc thánh-nhân đang đi bộ trên đường phố ở thủ đô Madrid thì có ba người trẻ tuổi sáp lại gần phía ông. Tức tốc, một trong ba gã ấy chạy ùa về phía thánh-nhân vội vàng kêu lớn tiếng:
-Để tao bắt lấy nó.
Lập tức, một đứa khác ngăn cản:
-Không được thế. Ngươi đừng có đánh ông ta.
Ngay sau đó, người trẻ ấy bèn gọi thánh Josemaria bằng những lời trêu chọc như sau:
-Này, chú lừa con rất bé nhỏ.
Đó là hình-tượng mà thánh-nhân nói về mình. Nhưng, những điều như thế, duy chỉ có mỗi ngài hoặc cha giải tội của ngài được biết mà thôi. Nên ngài biết chắc là kẻ dữ đã tìm cách đánh ngài và thiên-thần hộ-thủ đang đến cứu ngài.
Ít năm gần đây, tôi có nghe kể lại câu truyện cô bé nọ có tham-dự buổi tình-nguyện do nhóm Opus Dei tổ-chức tại vùng Manchester City, thuộc nước Anh. Đêm tĩnh-nguyện hôm ấy, có chủ-đề về lòng sùng kính các thiên-thần hộ-thủ. Cô bé sau đó đã nói rằng: hiện giờ chẳng có ai còn tin vào các thiên-thần hộ-thủ mình nữa.
Trên đường về nhà, cô bé phải lội bộ ngang qua một vùng tăm tối có cây phủ trùm, bỗng có một thanh-niên người sạch sẽ sáng láng xuất hiện dưới ánh đèn lù mù, trước mặt cô. Đang suy tinh không biết có nên nhắm mắt rồi lầm lũi đi về phía trước hoặc rẽ sang đường khác cố tránh né. Khi đến gần, cô thấy người trẻ tuổi kia nhìn vào mặt cô; đổi lại, cô cũng nhìn vào mặt anh ta. May mắn thay, người trẻ ấy lại không sáp đến gần cô làm gì hết.
Những ngày sau, cô mở báo ra đọc thấy có tin về một người con gái bị giết chết ở khu công viên vào cùng lúc đêm hôm ấy, và thủ-phạm đã bị bắt giữ. Cô đến đồn cảnh-sát hỏi thăm thì được tường-trình về những gì cô trải-nghiệm cùng buổi tối. Cô lân la và được phép hỏi chuyện thủ-phạm vụ giết người, thì được biết: thủ phạm lại chính là người trai trẻ từng đi ngang trước mặt. Đợi đến lúc hỏi rằng: tại sao lúc ấy hắn lại không tấn công cô thay vị một phụ nữ khác, thì anh ta bảo: “Lúc ấy có hai người con trai mạnh khỏe đã hộ-tống cô, nên hắn ta không làm hại cô được…
Một ví-dụ khác, được các đài phát thanh thời ấy nói nhiều về đám thủy quân lục chiến quan-tâm nhiều trong thời chiến ở Triều Tiên. Rõ ràng, câu chuyện thật được anh lính chiến tên gọi là Micae từng kể lại, là: anh được cha mẹ dạy mỗi ngày cứ sáng sáng phải đọc kinh xin cùng thánh Micae Tổng lãnh Thiên Thần gìn giữ anh bằng những câu kinh như:
“Lạy Tổng lãnh Thiên thần Micae,
xin thánh-nhân giữ gìn hộ thủ con vào mọi lúc.”
Anh vẫn nguyện kinh như thế mỗi ngày, chẳng hề quên. Một hôm, trong buổi tuần-tra/do thám vào mùa đông lạnh giá ở Hàn Quốc, bất chợt anh thấy mình đang ở cạnh một người lính chiến thuộc loại to lớn, rất vĩ đại chưa từng gặp, nhưng đã nói với anh rằng: Anh ta tên Micae và anh còn nói thêm: “có lẽ chúng ta sẽ gặp rắc rối, chợt đến trước mắt…
Thế rồi, trời bắt đầu có tuyết càng ngày càng nặng hạt. Nhưng, người lính nọ lại quả quyết: chẳng mấy chốc, mọi nguy hiểm rồi cũng chấm dứt. Và, quả như lời anh nói, cơn tuyết đổ đã ngừng hẳn. Sau đó, hai người lại xa cách không còn dịp làm việc chung với nhau nữa, tuy thời-điểm tuần-tra vẫn tiếp-tục diễn-tiến.
Ít lâu sau, lại có sự kiện nhóm của hai anh đi tuần-tra bèn gặp phải 7 người lính chiến thuộc đám địch thù xuất hiện tay lăm lăm mấy cây súng máy chĩa vào người cả hai anh. Bỗng anh bạn bèn hét lớn tiếng mấy câu:
“Ngồi sụp xuống, Micae!
Sụp xuống mau đí!”
Và, cả hai đều nằm rạp xuống đất, tức thì có lằn đạn bay vụt trên đầu cả hai người. Anh thấy một Micae lực lưỡng vẫn đứng yên không động đậy, dù chẳng có ai ở đó tong quãng không hôm ấy. Micae lực lưỡng bèn nhảy chồm kéo anh nằm rạp xuống, nhưng chính anh ta lại bị đạn ghim vào trước ngực. Anh vẫn thấy Micae lực lưỡng yên hàn đứng sừng sững, chung quanh có lằn ánh sánh bao bọc tay anh cầm lưỡi kiếm sáng quắc, rồi biến mất.
Thế rồi, anh lấy lại bình tĩnh trở về với thực-tại khi đám tuần-tra đến gần về phía anh đang nằm. Anh bèn hỏi đồng bạn là Micae người bạn lực-lưỡng khỏe mạnh kia đang ở đâu? Thì các bạn đều trả lời:
“Bọn tôi đâu thấy có Micae nào lại gần anh đâu!
Vả lại, trong tiểu đội của mình, duy nhất chỏi có anh tên là Micae mà thôi.”
Rồi họ hỏi làm thế nào mà có thể bắn hạ được địch quân đông hơn anh thế? Anh bèn nói: bọn tôi có làm được tích sự gì đâu. Quả thật, cây súng máy của anh không hề nhả mất viên đạn nào hết. Nhưng bảy tay quân thù kia đều chết dưới lằn gươm sắc bén, chứ không phải sung đạn.
Tựu trung, câu truyện muốn minh-chứng rằng: Thiên-thần hộ-thủ quả có thật.”(X. Lm John Flader, Are guardian angels real? The Catholic Weekly 04/01/2015, tr. 22)
Có những truyện kể trong đời, tưởng chừng nghe rất quen, có khi quen đếnđộ “nằm lòng” lại vẫn là những câu truyện được kể như sau:
“Sau tuổi 50, tôi hiểu ra rằng, cuộc đời muốn hạnh phúc chính là làm được 6 chữ này
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được rằng, thế giới thật rộng lớn, mà bản thân mình lại rất bé nhỏ, có những sự tình không cần phải xem nó nặng đến như vậy. Bản thân chúng ta vốn đã rất khổ, rất mệt, không cần cứ mãi chỉ trích lẫn nhau…
Con người ta, cả một đời đều đang bận rộn, mệt mỏi, bôn ba. Dù cho vất vả bao nhiêu, sau cùng vẫn có rất nhiều việc không thể hoàn thành được. Con người ta, cả một đời đều đang tằn tiện, tích cóp, dành dụm; sau cùng dù cho dè sẻn bao nhiêu, tiền bạc vẫn không bao giờ thấy đủ. Con người ta, cả một đời đều đang chịu đựng, nhường nhịn, sợ hãi; nhưng dù cho cẩn thận thế nào, ta vẫn đắc tội với không ít người.
Một đời chúng ta đều đang đọc, đang viết, đang cảm ngộ; nhưng dù có thông minh bao nhiêu, vẫn phải đối diện với không ít lần thua thiệt. Con người, cả một đời đều đang tỉnh táo, dù cho bình tĩnh bao nhiêu, cơ trí bao nhiêu; sau cùng vẫn không tránh khỏi những điều tiếc nuối.
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được rằng, thế giới thật rộng lớn, mà bản thân mình lại rất bé nhỏ, có những sự tình không cần phải xem nó nặng đến như vậy. Bản thân chúng ta vốn đã rất khổ, rất mệt, không cần cứ mãi chỉ trích bản thân. Đời người vốn không phải mọi chuyện đều luôn như ý, cớ chi phải cưỡng ép bản thân. Đã cố gắng hết mình rồi, dù cho kết quả thế nào cũng đều được cả. Chuyện nơi thế gian, không ai nắm chắc được vĩnh hằng.
Đời người vốn không phải mọi chuyện đều luôn như ý, cớ chi phải cưỡng ép bản thân.
Thế là sau tuổi 50, tôi hiểu được rằng: Đời người thật quá ngắn ngủi, không cần thiết phải tính toán quá chi li. Những việc không hiểu được, thế thì không cần phải hiểu; có những người không phỏng đoán được, thì không cần phải phỏng đoán; có những lý lẽ nghĩ không thông, thì không cần phải nghĩ ngợi thêm nữa. Những việc không vui trước đây, hãy đem nó cất giữ ở một góc xó không có ai.
Vậy nên, tự nhắc nhở bản thân mình: Tôi có thể không được hoàn mỹ, nhưng nhất định phải chân thực, tôi có thể không giàu có, nhưng nhất định phải vui vẻ!
Thế là sau tuổi 50, tôi hiểu được rằng: cuộc sống, sẽ không vì những lời oán trách của bạn mà thay đổi; đời người, sẽ không bởi bạn phiền muộn mà đổi khác. Dù bạn oán trách hay không, cuộc sống vẫn sẽ y như vậy; dù bạn có buồn hay không, đời người cũng sẽ y như thế. Oán trách nhiều, buồn phiền vẫn là bản thân; thương cảm nhiều, khổ não vẫn là chính mình.
Bạn khóc, cuộc đời sẽ không bởi vậy mà chảy nước mắt vì bạn; bạn khổ, cuộc đời sẽ không bởi vậy mà thêm phiền não.
Là con người, đâu có chuyện vạn sự đều luôn như ý, mọi việc đều luôn thuận tâm.
Trong công việc, đâu có chuyện vạn sự đều viên mãn, mọi việc đều không chút tiếc nuối.
Nếu đã như vậy, sao ta lại không mỉm cười? Nếu đã như vậy, hà tất phải phiền muộn lo âu?
Người sống ở đời, vui vẻ là một đời, sầu khổ cũng là một đời, vậy sao ta không vui sống cho đến cuối cuộc đời này?
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được rằng: Đừng làm khó bản thân, một người, long đong khổ sở sống ở thế gian này, đừng bởi những người mình không thích mà đánh mất niềm vui, đừng bởi những người chỉ vụt thoáng qua trong sinh mệnh đó mà lưu luyến không thôi, cũng không cần phiền não với từng áng mây thoảng qua.
Hãy sống vì bản thân, dù cuộc sống cho ta điều gì, đều thản nhiên vui vẻ đón nhận, đây mới là thái độ sống tốt nhất!
Đừng làm khó bản thân, cũng đừng bắt chước người khác, hãy là chính bản thân mình, đi tốt con đường mà mình đã chọn, làm tốt những việc trong phận của mình, sống cuộc sống mà mình mong muốn.
Người sống ở đời, vui vẻ là một đời, sầu khổ cũng là một đời, vậy sao ta không vui sống cho đến cuối cuộc đời này?
Thế là sau tuổi 50, tôi hiểu được rằng: Với những gì bản thân không với tới được, không cần phải mong muốn thái quá, hãy để mọi chuyện thuận theo tự nhiên. Lòng mệt mỏi rồi, hãy nghe vài bản nhạc hay; trong lòng có chuyện sầu não, hãy thổ lộ với người bạn yêu thương. Mệt mỏi rồi, hãy pha cho mình một ấm trà, tìm một nơi yên tĩnh, nhắm mắt nghỉ ngơi.
Những lúc buồn phiền, tìm kiếm niềm vui, đừng đánh mất hạnh phúc. Những lúc bận rộn, hãy tranh thủ thời gian nghỉ ngơi, đừng đánh mất sức khỏe. Những lúc mệt mỏi, hãy ngừng tay lại, chớ để đánh mất niềm vui.
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được: Đừng làm khổ bản thân, đời người chỉ mấy chục năm ngắn ngủi, bôn ba cũng được, lăn lộn cũng được, đều chỉ là nháy mắt. Không chỉ trích, không oán trách, cho bản thân một phần lạc quan, một phần bình hòa. Không cưỡng cầu, không mong mỏi thái quá, cho bản thân một phần tâm trạng thản nhiên, một phần tâm thái điềm tĩnh. Không so đo, không tính toán, giữ lại một phần tình cảm chân thành nhất trong tâm.
Không hâm mộ vầng hào quang của người khác, không chê trách thói đời nóng lạnh, cất những bước chân tự tin, kiên định với sự lựa chọn của riêng mình. Lấy tâm thái lạc quan mà sống tuổi già tốt đẹp nhất của mình!
Cuối cùng, sau tuổi 50, chúng ta hãy ghi nhớ rằng cách sống tốt nhất chính là 6 chữ: Nghĩ thông, nhìn thoáng và buông bỏ!
Truyện kể về đời người sau tuổi 50, vẫn là những chuyện nghe khá quen, thế nhưng người nghe ít khi chịu cho đó là sự thật. Bởi thế nên, có nhiều chuyện trong đời, cứ tưởng là sự thật được mọi người chấp-nhận, nhưng sự thật lại rất khác.
Thế đó, là đôi giòng chảy kể lể ở “Chuyện Phiếm Đạo Đời” rất quen quen, nay đưa ra để bà con ta, lấy làm đầu để để suy-tư. Suy tư đâu đấy rồi, nay xin mời bà con mình lại hát thêm vài ba đoạn ở trên để kết-thúc rồi còn đi vào thực-tế cuộc mà sống thự và sống với bà con, anh em như sau:
“Quen nhau từ năm tháng rồi
Ngàn phương xa vời
Anh đến nơi này
để rồi quen nhau mãi mãi…”
Và, thêm câu điệp khúc cứ hát mãi rằng:
“Quen nhau qua đáy mắt
Duyên tình người em gái
Ngày nào vừa quen nhau
Nay đã mến thương nhau
Giờ này người em tôi
Hoa thắm lên môi hồng
Bên câu chuyện nồng ước mộng chung.”
(Lê Dinh – bđd)
Thế đó, là vài ba đề-nghị nhỏ làm kết-luận cho chuyện phiếm đạo đời cộng với lời đấng thánh hiền, từng bảo ban, nhắn nhủ rằng:
“Vì khi hiệu lệnh ban ra,
khi tiếng tổng lãnh thiên thần
và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên,
thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống,
và những người đã chết trong Đức Kitô
sẽ sống lại trước tiên;
rồi đến chúng ta, là những người đang sống,
những người còn lại,
chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ,
để nghênh đón Chúa trên không trung.
Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi.”
(1Th 4: 16-17)
Nói cho cùng, đã có Tổng Lãnh Thiên Thần hộ-thủ rồi, thì ai trong chúng ta còn lý-do nào nữa, mà lo-ngại? Thế đó, vẫn là lời nhắn gửi đến bạn bè, người thân, hôm nay và mai ngày ở huyện nhà.
Trần Ngọc Mười Hai
Và những câu chuyện phiếm
Nghe quen quen
Nên cũng thấy khó
Mà nghĩ tiếp
Cho mình và cho người
ở trong đời.
From Vuisongtrendoi gởi
TIN MỪNG Mt 20,1-16a
“Phải chăng vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?”
X Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
Khi ấy, Đức Giê-su kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn này: “Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. Khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.” Họ liền đi.
Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy. Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?” Họ đáp: “Vì không ai mướn chúng tôi.” Ông bảo họ: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!” Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: “Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất.” Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền.
Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ:
“Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt.”
Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót.”
Suy niệm:
Lòng rộng lượng và thiện hảo của Thiên Chúa rất giầu sang không ai có thể đo lường được Và dĩ nhiên không thể nào so sánh được. Làm sao có thể so sánh được những tội lỗi chúng ta được chúa tha với lòng rộng lượng xót thương của Chúa. Cho dù chúng ta làm biết bao việc bác ái từ thiện về nhiều phương diện cũng không thể so sánh Với lòng rộng lượng khoan dung của chúa đối với tội lỗi của mỗi chúng ta.
Bài học về sự bất mãn của những người đến làm sớm trong vườn nho giúp chúng ta nhìn lại về đời sống vật chất và Đức tin: Biết bao ơn lành chúng ta nhận được từ Thiên Chúa mà không do một công trạng gì của chúng ta cả. Những gì chúng ta có thì chúng ta là ai đều do thiên chúa ban tặng nhưng không.
Mỗi khi chúng ta càm nhàm, ghen tị với những người khác, chúng ta quên mất Chúa là Đấng công chính và Ngài rất rộng lượng với chính cá nhân mình.
Thầy Bạch gởi
httpv://www.youtube.com/watch?v=YeFPKAipz2E
httpv://www.youtube.com/watch?v=mhqd1sMgsHE
httpv://www.youtube.com/watch?v=iSEiUR4zQ-w
Tại sao các Linh Hồn phải đền tội nơi Luyện Ngục?
TÍN ĐIỀU ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI
GM Giuse Vũ Duy Thống
Ngày 1.11.1950, ĐGH Piô XII đã long trọng công bố tín điều Đức Mẹ Lên Trời với nội dung: “Đức Maria vô nhiễm nguyên tội, trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa, sau khi hoàn tất hành trình dương thế, đã được cất nhắc về trời cả hồn lẫn xác.” Chọn công bố chân lý đức tin này trong ngày lễ các thánh nam nữ, Giáo Hội hữu ý cho thấy Đức Mẹ dù đứng trong hàng ngũ những người đã được thánh hoá, nhưng vinh quang Mẹ được hưởng đã đưa Mẹ lên vị trí hàng đầu: Mẹ là Đấng “đầy ơn phúc.”
Đây là một tín điều mới mẻ, mới được định tín cách đây hơn 65 năm, quý vị từ 65 tuổi đổ lên đã có một thời gian sống không có tín điều này; nhưng không phải là tín điều mới lạ, vì được châm rễ sâu trong lòng sùng mộ của dân Chúa từ lâu đời rồi. Thế kỷ thứ VI ở đông phương đã thấy có lễ mừng Đức Mẹ Ngủ, sang thế kỷ thứ VII lịch phụng vụ Rôma đã ấn định lễ Đức Mẹ Lên Trời vào ngày 15/8 hằng năm, và đến thế kỷ IX cả châu Âu đã mừng lễ với tên gọi Mông Triệu như ngày nay. Lex orandi, lex credendi, luật cầu nguyện đã dần dà chín mùi và khi đến thời đến lúc trở thành luật đức tin.
Nếu việc Đức Mẹ Lên Trời đã rõ rệt trong lòng sùng mộ của dân Chúa, thì việc đưa ra nền tảng thần học giải thích vẫn còn phải vất vả truy tìm. Một mặt biến cố Đức Mẹ Lên Trời không được Phúc Âm nói đến, cũng dễ hiểu vì Phúc Âm là cuốn sách viết về đời và lời của Chúa Giêsu. Còn Đức Mẹ xuất hiện trong đó chỉ như nhân vật phụ, lại nữa Mẹ rất kiệm lời, trong Phúc Âm chỉ thấy 7 lời của Mẹ thôi. Mặt khác như Phúc Âm thứ tư cho biết, từ dưới chân thập giá Mẹ đã được trao cho sự chăm sóc của thánh Gioan, nên sau lễ Thánh Thần hiện xuống, Mẹ cũng dần dần rút lui vào hậu trường cầu nguyện để nhẹ nhàng ra đi không để lại dấu vết gì.
Tuy nhiên, điều không tìm thấy trong Thánh Kinh lại gặp được trong Thánh Truyền. Giữa lòng Giáo Hội đông tây, từ rất sớm, các giáo phụ mỗi vị theo cách của mình đã nói đến việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời như biến cố ở đoạn cuối cuộc đời trần thế của Mẹ, và diễn giải bằng những hình bóng Thánh Kinh rất ý nhị và sâu sắc, vừa hỗ trợ cho lòng đạo nơi dân Chúa, vừa từng bước đưa ra những nền tảng hình thành tín điều đặc biệt này. Trước 1.11.1950, người ta có quyền tin hay không, nhưng kể từ ngày định tín, tín hữu vui mừng tuyên xưng đức tin của mình: Đức Mẹ đã lên trời cả hồn lẫn xác.
Có bao nhiêu đặc ân của Đức Mẹ? Thưa có bốn: Hai đặc ân cổ thời được xác tín từ lâu dựa trên phẩm tính của Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đồng Trinh. Hai đặc ân tân thời được định tín trong vòng trên dưới 150 năm nay đóng khung cuộc đời trần thế của Đức Mẹ, khởi đầu là Ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội và kết thúc là Ơn Hồn Xác Lên Trời. Cả bốn đặc ân này dẫu bản chất có khác nhau nhưng đều hoà quyện trong ơn tuyển chọn của Chúa Cha, ơn cứu độ của Chúa Kitô và ơn thánh hoá của Chúa Thánh Thần.
Chẳng phải nói đâu xa, ngay trong danh xưng ngày lễ hôm nay cũng nói lên trọn vẹn ý nghĩa của tín điều tuyên xưng. Gọi là lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Giáo Hội minh định đoạn kết vinh quang sau khi Đức Mẹ đã chu toàn trách vụ đường đời bên cạnh Đấng Cứu Thế. Còn gọi là lễ Mông Triệu, Giáo Hội lại muốn nhấn mạnh khía cạnh mầu nhiệm, Đức Mẹ không tự mình mà nhấc lên trời, nhưng do Thiên Chúa triệu vời. Nhưng dù gọi bằng danh xưng nào, đúng nghĩa Assumptio tiếng latinh, Đức Mẹ được kết hợp với Chúa Kitô phục sinh. Còn muốn đi xa hơn một chút, ta có thể lý giải: dựa trên mầu nhiệm Nhập Thể, Mẹ đã cung cấp chất liệu xác thân cho Đấng Cứu Thế làm người, nên khi thân xác Đấng Cứu Thế phục sinh về trời, thân xác Mẹ cũng được chia sẻ hiệp thông. Còn dựa trên mầu nhiệm cứu độ, Mẹ đã hiệp công cứu độ trọn vẹn với Chúa Kitô, Mẹ cũng được hiệp thông sự sống vinh quang trọn vẹn với Người trong trời mới đất mới.
Tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời như vậy đã sáng tỏ cho lòng tin của chúng ta. Nếu có gì còn khó hiểu, có lẽ nằm ở chỗ mình chưa tách bạch được hai tình trạng của thân xác: tình trạng lữ hành và tình trạng phục sinh. Trong tình trạng lữ hành, xác thân nặng nề; còn trong tình trạng phục sinh, thân xác được biến đổi thăng hoa. Thân xác của Đức Maria lên trời chính là thân xác đã được ghi dấu bằng sự phục sinh của Đức Kitô. Đức Kitô trưởng tử trong gia đình nhân loại, đã lên trời do tự mình, còn Đức Mẹ là hoa quả đầu mùa được triệu vời lên trời do ân sủng Chúa ban. Trong ngắm thứ tư Mùa Mừng ta tuyên xưng từ thuở nào “Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời,” có điều hôm nay khi mừng lễ, ta nâng cao tâm hồn để chung mừng với Giáo Hội trong lời tuyên xưng trọng thể và chung vui với Đức Mẹ nơi đặc ân lạ lùng này, “Chúa đã làm cho Đức Mẹ những điều cao trọng.”
Nhưng tín điều hôm nay kỷ niệm còn hướng các tín hữu đến việc xem Đức Mẹ như mẫu gương tuyệt vời, quyết tâm yêu mến bước theo Mẹ, sống như Mẹ để một mai khi lìa đời ta cũng sẽ có kết cục giống như Mẹ, được hưởng ơn phục sinh của Chúa Kitô. “Đức Maria, thầy dạy đức tin”, chúng ta hãy khiêm tốn tìm đến mái trường Đức Maria, học theo Mẹ những bài học từ cơ bản đến nâng cao, và sẵn sàng đi vào chuyên sâu để sống đời tận hiến cho Chúa theo gương sống của Mẹ.
Chính trên đỉnh cao của lòng tin mến ấy, chúng ta không ngại bộc bạch cho Mẹ nỗi niềm cậy trông. Mẹ nào mà chả thương con, chỉ có con bỏ mẹ chứ mẹ chẳng bỏ con bao giờ. Nếu tình mẹ nhân loại còn dạt dào như bể thì tình mẹ trên trời còn ví thể gấp trăm. Sở dĩ con cái nhân gian có thể cậy trông Mẹ, là bởi vì trước đó Tấm lòng Mẹ đã mở rộng, đôi tay Mẹ đã sẵn sàng thi ân. Mẹ lên trời không phải để cách xa cuộc sống nhân loại, nhưng trên đỉnh vinh quang thiên đàng, đó là lúc Mẹ có điều kiện phù hợp để gần gũi che chở đỡ nâng mọi người một cách rộng rãi và thuận lợi hơn.
Tóm lại, tín điều Đức Mẹ Lên Trời giúp ta tuyên xưng đức tin cách trọn vẹn hơn, giục giã yêu mến Đức Mẹ cách đậm đà hơn, và cũng thúc đẩy cậy trông nơi Mẹ gắn bó hơn. Bởi lẽ xét cho cùng, tuyên tín Mẹ lên trời không chỉ cho vinh quang của riêng Mẹ, mà còn cho hạnh phúc của con cái Mẹ trên dương thế là chính chúng ta.
Có người hỏi “Ở Tàpao có những phép lạ nào?” Tôi trả lời: Phép lạ thì không biết, nhưng ơn lạ thì hầu như ngày nào cũng có, nhất là ơn biến cải đời sống. Đang mê chuyện đỏ đen, đi Tàpao về bỏ được hết, đang xào xáo gia đình, đến Tà pao khấn về được bình yên, hay đang khô khan nguội lạnh theo bạn đến Tàpao về bỗng dưng thấy sống đức tin cách tích cực hơn, đó chẳng phải là ơn lạ ở Tàpao sao?
Xin được cùng với khách hành hương dâng lên Mẹ lời kinh tôn vinh và trông cậy:
Mẹ Vô Nhiễm, Mẹ Đồng Trinh,
Mẹ Thiên Chúa, Mẹ uy linh muôn đời.
Hôm nay mừng Mẹ lên trời,
Hành hương con đến chung lời ca khen.
Cúi xin Mẹ rất dịu hiền,
Thương con, dẫn dắt về miền trời cao,
Đời con có Mẹ Tàpao.
GM Giuse Vũ Duy Thống
httpv://www.youtube.com/watch?v=rUDNqNu6NgQ