ĐTC Phanxicô: không yêu thương là bước đầu của việc giết người

 

ĐTC Phanxicô: không yêu thương là bước đầu của việc giết người

***

Không phải chỉ khi tước đoạt sự sống của mình hay của ai đó mới là giết người. Nhưng chính việc thờ ơ với sự sống, sỉ nhục khinh khi, không tin tưởng, gây tổn thương, không yêu thương, nói hành nói xấu v.v…, cũng là những hành động giết người. Ngược lại, không giết người là chăm sóc, nhìn nhận giá trị, bao gồm nhìn nhận, tha thứ cho tha nhân. Giới răn “chớ giết người” là lời mời gọi yêu thương.

Trước khoảng 25 ngàn tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phêrô trong buổi tiếp kiến chung vào sáng thứ tư ngày 17.10, ĐTC Phanxicô tiếp tục giải thích về điều răn thứ 5 “Chớ giết người”. Trước hết, ĐTC nhắc lại điều ngài đã giải thích trong bài huấn dụ tuần trước: đối với Thiên Chúa, sự sống con người thật quý giá, thánh thiêng và bất khả xâm phạm. Không ai có thể khinh khi sự sống của người khác hay của chính mình; thực tế là con người mang trong mình hình ảnh của Thiên Chúa và là đối tượng của tình yêu vô cùng của Thiên Chúa, dù cho họ sinh ra trong hoàn cảnh nào. Tiếp đến, ĐTC trình bày  ý nghĩa sâu xa mà Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta trong đoạn Tin mừng theo thánh Mátthêu 5, 21-24.

 

Các hình thức giết người

ĐTC nói: Chúa Giêsu khẳng định rằng, trước tòa án của Thiên Chúa, cả sự giận dữ đối với anh em mình cũng là một hình thức giết người. Do điều này, thánh Gioan tông đồ viết: “Ai ghét anh em mình là giết người(Ga 3,15). Nhưng Chúa Giêsu không chỉ dừng lại ở điều này, và trong cùng cách lý luận này, Người nói thêm rằng cả việc sỉ nhục và khinh khi có thể giết chết người. Và chúng ta đã quen thuộc với việc sỉ nhục. Một lời sỉ nhục giống như một hơi thở đối với chúng ta vậy. Và Chúa Giêsu nói: “Hãy dừng lại, bởi vì sỉ nhục là điều xấu, nó giết người.” Người sỉ nhục nói: “Nhưng tôi thì… với loại người này, tôi coi thường họ.” Đây là một hình thức giết đi phẩm giá của một người. Thật là tốt nếu giáo huấn này của Chúa Giêsu đi vào tâm trí và mỗi người chúng ta sẽ nói: “Tôi không bao giờ sỉ nhục ai.” Sẽ là một đề nghị hay, bởi vì Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Xem kìa, nếu bạn sỉ nhục, nếu bạn khinh khi, nếu bạn oán ghét, điều này là việc giết người.

Cần hòa giải khi tham dự Thánh lễ

ĐTC nói tiếp: Không có bộ luật nào của con người đánh đồng các hành vi khác nhau như thế khi gán cho chúng cùng một mức độ phán xét. Và một cách cương quyết, Chúa Giêsu còn mời chúng ta, ngay lập tức, dừng lại việc dâng lễ vật trong đền thờ nếu nó nhắc chúng ta rằng chúng ta có bất hòa với một người anh em, để đi tìm anh ta và làm hòa với anh ta. Ngay cả chúng ta, khi chúng ta đi tham dự Thánh lễ, chúng ta phải có thái độ hòa giải này với những người mà chúng ta có vấn đề với họ. Ngay cả chúng ta nghĩ xầu về họ thì chúng ta đã sỉ nhục họ rồi. Nhưng nhiều lần, trong khi chúng ta chờ đợi Linh mục đến cử hành Thánh lễ, chúng ta nhiều chuyện một tí và chúng ta nói xấu người khác. Nhưng chúng ta không thể làm điều này. Chúng ta hãy suy nghĩ: sự quan trọng của việc sỉ nhục, sự quan trọng của việc khinh rẻ, sự quan trọng của việc thù ghét. Chúa Giêsu đặt những điều này ngang hàng với việc giết người.

Thờ ơ là giết người

Chúa Giêsu muốn nói điều gì khi Người mở rộng điều răn thứ 5 này đến tận điểm này? ĐTC giải thích: Con người có một sự sống cao quý, rất ý nghĩa, và có một “bản ngã” tâm lý không kém quan trọng so với sự hiện diện thể lý. Trong thực tế, một câu nói không phù hợp là đủ xúc phạm đến sự vô tội của một đứa trẻ. Một cử chỉ lạnh lùng là đủ để làm tổn thương một người phụ nữ. Không tin tưởng người trẻ là đã đủ làm tan vỡ trái tim của họ. Chỉ cần phớt lờ một người là đủ tiêu diệt anh ta. Sự thờ ơ là giết người. Nó giống như là nói với người khác: “Đối với tôi, anh coi như đã chết rồi”, bởi vì như thế là bạn đã giết người đó trong trái tim bạn. Không yêu là bước đầu tiên giết người; và không giết người là bước đầu tiên để yêu.

Nhưng chúng ta là người bảo vệ anh chị em mình

Từ đầu sách Thánh kinh, chúng ta đọc câu nói kinh khủng được tên giết người đầu tiên, Cain, nói ra, sau khi Thiên Chúa hỏi anh ta em của anh ta đâu. Cain trả lời: “Tôi không biết. Tôi có phải là người canh giữ em tôi đâu?(St 4,9). Những kẻ giết người cũng nói như thế: “nó không liên quan đến tôi, đó là việc của bạn”, và những điều tương tự. ĐTC đặt câu hỏi: Chúng ta có phải là người canh giữ anh em chúng ta? Và ngài trả lời: Đúng! Chúng ta là người bảo vệ anh em! Chúng ta là người bảo vệ nhau! Và đây là con đường của sự sống, là con đường không giết người

Tình yêu tha thứ và thương xót

Sự sống con người cần tình yêu. Và đâu là tình yêu đích thực? ĐTC giải thích: Đó là tình yêu mà Chúa Kitô đã tỏ cho chúng ta, đó là lòng thương xót. Tình yêu mà chúng ta không thể thiếu đó chính là tình yêu tha thứ, tình yêu đón nhận người đã làm điều không tốt cho chúng ta. Không có ai trong chúng ta có thể sống sót tồn tại mà không có lòng thương xót, tất cả chúng ta đều cần được tha thứ. Do đó, nếu giết người nghĩa là hủy diệt, đàn áp, loại bỏ ai đó, thì không giết người có nghĩa là chăm sóc, xem họ có giá trị, bao gồm chứ không loại bỏ, và cả tha thứ.

“Không làm điều xấu là một việc tốt, nhưng không làm điều tốt thì không phải là điều tốt”

ĐTC khẳng định rằng mỗi người được mời gọi làm điều tốt, điều thiện, hơn là chỉ bằng lòng với việc không làm điều xấu là đủ. Ngài nói: Không ai có thể tự lừa dối mình bằng cách nghĩ rằng: “Tôi ok bởi vì tôi không làm điều gì xấu cả”. Một khoáng chất hay một cái cây – những viên đá cuội ở đó, không làm điều gì xấu, chúng hiện hữu theo kiểu như thế, nhưng một con người thì không. Con người được đòi hỏi hơn thế nữa. Có những điều tốt để làm, được chuẩn bị cho mỗi người chúng ta, mỗi người có việc tốt của mình, nó làm cho chúng ta hoàn toàn là chính mình. “Không giết người” là một lời kêu gọi yêu thương và thương xót, là một lời kêu gọi sống theo Chúa Giêsu, Đấng đã ban sự sống cho chúng ta và đã sống lại vì chúng ta. Một khi chúng ta cùng nhau, trong quảng trường này, lập lại lời của một vị thánh về điều này: “Không làm điều xấu là một việc tốt, nhưng không làm điều tốt thì không phải là điều tốt. Chúng ta luôn phải làm điều tốt.”

Giới răn “Chớ giết người” là lời mời gọi yêu thương

ĐTC kết luận rằng giới răn thứ 5 chính là lời mời gọi yêu thương. Ngài nói: Chính Chúa Giêsu, khi nhập thể, Người đã thánh hóa sự sống của chúng ta; chính Người, bằng chính máu của mình, đã làm cho sự sống trở nên vô giá; chính Người, “Đấng khơi nguồn sự sống(Cv 3,15), nhờ đó mỗi người chúng ta là một món quà của Chúa Cha. Trong Người, trong tình yêu mạnh hơn sự chết của Người và bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần do Thiên Chúa ban cho chúng ta, chúng ta có thể đón nhận Lời “chớ giết người” như lời mời gọi quan trọng và thiết yếu nhất: lời mời gọi yêu thương.

(Hồng Thủy – Vatican)

TỚI NGUỒN SỰ SÁNG

TỚI NGUỒN SỰ SÁNG

Người mù ngồi ăn xin bên vệ đường.  Cảnh tượng này cho ta thấy đời anh bị bao phủ bởi nhiều thứ bóng tối.

Trước hết là bóng tối thể lý.  Không có đôi mắt, đời anh chìm trong tăm tối.  Không biết thế nào là ánh sáng.  Không biết thế nào là cảnh thiên nhiên.  Không nhìn được khuôn mặt của những người thân.  Không tự mình làm gì được.  Không tự mình sinh sống được.  Chẳng biết có ánh sáng ban ngày.  Đời anh chìm ngập một bóng đêm.  Bóng đêm dày đặc không một chút ánh sáng.  Bóng đêm triền miên không bao giờ chấm dứt.  Tất cả là một màu đen.  Thế giới màu đen.  Quần áo anh mặc màu đen.  Khuôn mặt mọi người đều màu đen.  Cơm anh ăn hằng ngày cũng màu đen.  Một màu đen muôn thưở.

Kế đến là bóng tối xã hội.  Vì tàn tật anh trở thành người dư thừa trong xã hội.  Anh bị loại trừ khỏi xã hội.  Chỉ còn ngồi bên vệ đường mà ăn xin.  Như cây cỏ mọc bên đường thôi.  Thậm chí khi Chúa đến, mọi người nô nức đón Chúa.  Còn anh chỉ kêu lên thôi cũng đã bị người ta cấm đoán, đe nẹt rồi.  Anh không có quyền gì hết.  Vì anh chỉ là thân phận sống nhờ ở đậu.

Sau cùng là bóng tối tâm lý.  Cuộc đời anh không có lối thoát.  Anh bị kết án suốt đời chịu giam cầm trong bóng tối.  Làm sao thoát ra được khi anh không thể tự mình làm gì.  Khi mọi người kể cả những người thân ruồng bỏ anh.  Khi xã hội gạt anh ra bên lề cuộc sống.

Nhưng Đức Kitô đem đến cho anh ánh sáng ngập tràn.

Người chiếu vào đời anh ánh sáng hy vọng.  Tuy chưa được gặp Chúa, nhưng chỉ nghe những lời Chúa giảng, những việc Chúa làm anh đã tràn trề hy vọng.  Chúa có thể giải thoát anh khỏi định mệnh tăm tối vây bọc cuộc đời anh.  Người có thể đưa anh tới miền ánh sáng.  Tương lai anh sẽ thay đổi.  Cuộc đời anh sẽ tươi sáng.  Anh tràn ngập niềm hy vọng.  Niềm hy vọng trở thành ánh sáng chiếu soi cuộc đời anh.

Người chiếu vào đời anh ánh sáng đức tin.  Tuy chưa gặp Chúa nhưng anh đã hoàn toàn tin tưởng vào Chúa.  Không tin sao được vì chỉ có Chúa là Đấng duy nhất có thể cứu anh khỏi bóng tối.  Vì thế thoạt nghe tiếng Chúa anh đã kêu van lớn tiếng xưng tụng Người là Con Vua Đavít nghĩa là Đấng Cứu Thế.  Có lẽ những người đi đón Chúa hôm ấy đều có đôi mắt sáng.  Nhưng không ai có ánh sáng đức tin.  Vì không ai tin Chúa là Đấng Cứu Thế.  Trừ anh mù.  Mắt anh mù nhưng đức tin của anh sáng.  Nên anh là người duy nhất lớn tiếng tuyên xưng Chúa là Đấng Cứu Thế.  Niềm tin của anh thật mãnh liệt.  Dù bị mọi người chung quanh ngăn cản, niềm tin ấy không những không bị suy yếu mà còn càng trở nên mạnh mẽ hơn.  Bị mọi người đe dọa, cấm cản, niềm tin của anh càng vững vàng không gì có thể lay chuyển được, nên anh càng kêu to hơn.

Người đã chiếu vào đời anh ánh sáng tình yêu.  Chúa là tình yêu.  Chúa không nghe bằng tai nhưng nghe bằng trái tim.  Vì thế giữa đám đông hỗn độn của thành Giêricô phồn hoa, Chúa vẫn nghe được tiếng kêu van của một người con bé nhỏ ngồi bên vệ đường.  Không những Chúa nghe thấy tiếng lòng khốn khổ của anh mà Chúa còn ưu ái gọi anh đến.  Thật là một cử chỉ ưu ái quá sức tưởng tượng.  Giữa đám đông trong một thành phố phồn hoa, Chúa chẳng gọi ai trừ ra người mù ngồi bên vệ đường.  Chúa chẳng chờ đợi ai trừ ra chờ đợi người con nhỏ bé tội nghiệp bị bỏ rơi nhất thành phố đến với Chúa.  Đời anh chưa được ai yêu thương như thế.  Đời anh chưa được ai quan tâm như thế.  Đời anh chưa được ai mời gọi như thế.  Đời anh chưa được ai chờ đợi như thế.  Và Chúa còn hỏi anh muốn gì.  Đời anh chưa được ai âu yếm như thế.  Tình yêu Chúa làm cho đời anh bừng sáng.  Anh tìm thấy tất cả ý nghĩa cuộc đời khi gặp được Chúa.

Chúa đem ánh sáng đến cho anh.  Chúa là tất cả đời anh.  Anh không cần gì khác nữa.  Anh vất bỏ cả áo choàng là tài sản duy nhất.  Vì anh đã khám phá ra kho tàng quý giá nhất đời.  Anh đứng phắt dậy mà đến với Chúa vì tuy mắt chưa nhìn thấy mà lòng anh sáng như sao băng.  Và nhất là anh đi theo Chúa cho đến cùng vì Chúa chính là ánh sáng cho đời anh.  Chúa sẽ dẫn đường anh đi.  Đi đến sự thật và đến sự sống.

Đời sống tôi có nhiều bóng tối vì tôi chưa tin vào Chúa.  Đời sống tôi bế tắc vì tôi chưa đặt niềm hy vọng vào Chúa.  Đời tôi mệt mỏi chán chường vì tôi chưa yêu mến Chúa.  Hãy tin tưởng vào Chúa.  Ánh sáng đức tin sẽ chiếu soi đường đời tôi đi.  Hãy hy vọng vào Chúa.  Niềm hy vọng là ánh sáng ấm áp cho cuộc đời.  Hãy yêu mến Chúa.  Tình yêu Chúa là ánh sáng hướng dẫn mọi tư tưởng, lời nói, việc làm của tôi.  Hãy noi gương anh mù thành Giêricô bỏ tất cả mà theo Chúa.  Sống bên Chúa đời tôi sẽ ngập tràn ánh sáng.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From Langthangchieutim

Chúa ở đâu…. mà gõ cửa cơ chứ ?

Chúa ở đâu…. mà gõ cửa cơ chứ ?

Lc 12,35-38

Nhớ lại những ngày trước đây, vào ban đêm thỉnh thoảng cũng có tiếng gõ cửa và mỗi lần nghe tiếng gõ cửa là tim thót vào, nổi hết cả da gà. Cái gọi là kiểm tra đột xuất ban đêm, tiếng đập cửa dồn dập, biết mình không có tội gì mà sao vẫn cứ sợ.

Đang tự do quen rồi muốn ăn đâu ở đâu chẳng ai bảo gì.

Nay “thời đại mới” tu chui, ngủ lậu hay vì đi học, đi công việc không về được phải ngủ lại nhà anh em, thế là xảy ra những chuyện nửa khóc nửa cười.

Có anh nghe gõ cửa đang ở trên giường lăn một phát xuống gầm giường, khi “nhân viên” kiểm soát thấy có giường chăn chiếu mùng mền đầy đủ mà lại không có người, họ rờ xuống chiếu vào chăn mùng vẫn còn hơi nóng… thế là cũng lại lôi một phát từ gầm giường lên xe về huyện.

Có anh nghe gõ cửa phóng một phát lên tới trần nhà, “nhân viên” vào rọi đèn pin lên trần nhà không thấy… mà sao lại có đôi dép ở dưới… cuối cùng cũng phải từ trần nhà tụt xuống lên xe về huyện.

Lại có anh khi nghe gõ cửa bèn mở cửa sau phóng một phát vào bụi rậm, nín thở… ngồi chờ thật lâu rôi khi nghe tiếng loẹt quyẹt bên ngoài bèn nói vọng ra: Ê tụi mày. Chúng nó đi hết chưa? Thế là chúng nó lôi cổ ra khỏi bụi rậm lên xe về huyện.

Rồi lại có anh khi nghe gõ cửa thì lao thẳng lên sân thượng nhảy vào bể nước… khi “nhân viên” đi rồi, người nhà một phen hú vía nên quên phéng chuyện báo cho người đang ngâm mình trong bể, đến gần sáng chui ra khỏi bể nước tím tái hết cả mình mẩy.

Có anh… có anh…Thôi nhiều anh quá rồi !

Chúa ơi ! cả đời sống chúng con mà Chúa cứ đến theo kiểu “kiểm tra đột xuất” thì chúng con làm sao sống được ?

Chúa đi đâu… mà về cơ chứ ?

Chúa ở đâu…. mà gõ cửa cơ chứ ?

Chúa hằng ngày ở với con thì hà cớ gì con lo sợ gõ cửa ?

Chuyện tỉnh thức là chuyện phía con người chúng con.

Tỉnh thức tức là sống với Chúa đang sống ngay bên, ngay trong cuộc sống hằng ngày.

Tỉnh thức là luôn nhớ đến… mau nhớ đến… sống tương quan thân mật chỉ vì quá hạnh phúc. “Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ”.

Vì quá hạnh phúc nên canh mấy cũng vẫn tỉnh thức chứ lị !

Đầy tớ được ngồi vào bàn ăn và được ông chủ phục vụ từng người, quá đã !

Nhưng cũng đừng vội ham ăn uống nhá ! Niềm vui và hạnh phúc sống tương quan ở trong ở với ở cùng ở bên, nhất là đồng hình đồng dạng… thì “bàn tiệc” đây không cần đến thức ăn và rượu uống thì đã ngây ngất quá chừng rồi và sẽ khám phá ra muôn điều kỳ diệu Ngài đã và đang thực hiện cho con cái loài người chúng ta.

“Trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay, trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần”.

Càng đọc càng thấm thía càng thấy mình đúng nhé !

“Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú,

nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh,

và là người nhà của Thiên Chúa,

bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ,

 còn đá tảng góc tường là chính Đức Ki-tô Giê-su”.

Người gắn bó với Chúa hằng ngày

thì không cần phải chờ gõ cửa…

mà nhìn thấy từ xa là đã mở cửa rồi (mỗi lần về trụ sở là gọi điện thoại cho bác gác cổng trước 5 phút, xe đến nơi là chui tọt ngay vào vì cổng đã mở sẵn).

Mỗi ngày vẫn thấy Chúa đang ở với mình

thì là tỉnh thức đấy thôi nhá.

OTC

 

Nguồn   https://tramtubensuoi.blogspot.com/2018/10/chua-o-au-ma-go-cua-co-chu.html

Vẫn còn là một anh mù

Vẫn còn là một anh mù

Một tác giả Ấn Độ có kể câu truyện ngụ ngôn được Thu Giang Nguyễn Duy Cần ghi lại trong tác Phẩm “Cái cười của thánh nhân” như sau :

Có một người kia sinh ra đã bị mù. Sống trong một căn phòng nhưng bởi không thấy gì cả, nên anh phủ nhận tất cả những cái gì mà mọi người chung quanh quả quyết là có. Anh nói: – “Tôi không tin vì tôi không thấy’

Một vị lương y đem lòng thương hại đi tìm một thứ linh dược trên dẫy Hy-mã-lạp-sơn về chữa anh và anh được lành bệnh. Anh ta sung sướng tự phụ bảo:

– Giờ đây tôi thấy được tất cả sự thật chung quanh tôi rồi.
Nhưng mọi người nói với nói với anh:

– Bạn ơi, bạn chỉ thấy được những vật chung quanh bạn trong căn phòng này. Như thế thì có là bao. Ngoài kia người ta còn thấy được mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, còn biết bao vẻ đẹp lộng lẫy và màu sắc mà bạn chưa thấy

Nhưng anh ta không tin: – Làm gì có những cái đó, tôi chưa thấy những cái đó, những gì có thể thấy được tôi đã thấy tất cả rồi, còn gì!

Một y sĩ khác liền leo lên tận núi cao, được Sơn Thần chỉ cho một thứ linh dược khác đem về giúp cho anh ta có được cặp mắt nhìn xa hơn những vật chung quanh căn phòng.

Bấy giờ thì anh ta thấy được mặt trời, mặt trăng, các tinh tú. Mừng quá! Rồi lòng tự phụ dâng lên, anh thốt lên: – Trước đây tôi không thấy, nhưng bây giờ tôi thấy, tôi tin. Như thế bây giờ chẳng còn cái gì mà tôi không thấy không biết, đâu còn ai hơn tôi được

Nhưng có một hiền giả có cặp mắt thần nói với anh ta:

– Này cậu ơi! Cậu vừa hết mù nhưng cậu vẫn còn chưa biết gì cả. Tại sao lại quá tự phụ như thế. Cũng như khi cậu ở trong căn phòng. Tầm mắt của cậu không vượt khỏi bốn bức tường, cậu không tin có vật gì ngoài căn phòng của cậu. Giờ đây tầm mắt cậu vượt khỏi bốn bức tường và thấy được nhiều vật xa hơn. Nhưng với chừng mực của tầm mắt và lỗ tai của cậu như thế này, cậu làm gì biết được những vật ngoài ngàn dặm mà tai mắt cậu không thấy không nghe được.

Cậu có thấy được những nguyên nhân cấu tạo ra cậu khi cậu còn nằm trong bào thai của mẹ cậu không?

Ngoài cái vũ trụ nhỏ bé mà cậu đang sống, còn biết bao nhiêu vũ trụ khác vô cùng to lớn và nhiều không thể kể như cát sông Hằng.

Tại sao cậu dám tự phụ rằng tôi đã thấy cả, tôi biết cả?

Cậu vẫn còn là một anh mù, cậu vẫn còn lấy tối làm sáng và lấy sáng làm tối.

 From: Ngoc Bich & KimBằngNguyễn 

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi niềm,

 Suy Tư Chúa nhật thứ 30 thường niên năm B 28/10/2018

(Mc 10: 46-52)

Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Giêrikhô. Khi Đức Giêsu cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giêrikhô, thì có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, tên anh ta là Batimê, con ông Timê. Vừa nghe nói đó là Đức Giêsu Nadarét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!” Đức Giêsu đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây!” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.

“Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi niềm,”

“Không u ám như cõi lòng ma quỷ.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Sáng láng, mù loà, hoặc u uẩn, vẫn là trạng huống tâm linh con người lâu nay còn gặp. Gặp, cả vào lúc Chúa đến thăm, như trình thuật hôm nay còn nói rõ.

Trình thuật thánh Mác-cô, nay nói về tình trạng mù loà và sáng láng, ở con dân. Tình trạng ấy, vẫn cứ thấy trong lịch sử, ở văn minh/văn hoá, ở nền chính trị và kinh tế của chúng ta, vào mọi thời.

Rất nhiều lần, ta vẫn có ý niệm về ý nghĩa và tính chất mà qua đó mọi người mới hiểu được chính mình. Hiểu, là hiểu về tình huống lịch sử và ảnh hưởng của nó lên cách sống của ta. Nhiều truyện kể lịch sử và văn minh con người từng chứng tỏ điều đó. Có một số sự kiện, do truyền thống trong Đạo, chí ít là thánh truyền ở Đạo mình lại đã làm nên.

Một số khác, đến từ các học thuyết triết lý của cuộc sống. Và, một số lại cũng do ánh sáng tư tưởng ở thời Trung Cổ và cả thời hôm nay từng khuynh loát/lũng đoạn khiến trở thành triết thuyết hiện đại. Sau trận chiến thế giới và thời kỳ khắc phục tiếp theo sau, con người đã lấy lại được sinh lực, từ nhiều phía. Phía của người trong Đạo. Của, Công Đồng Vatican II chợt đến rồi đi. Và, cả phía có thắc mắc/ han hỏi về cuộc đời ta đang sống.

Trong quá khứ, nhiều bạn trẻ đã bắt đầu chỉ trích/vấn nạn tính hiện đại của cuộc sống. Nhiều người còn đã cho nhiều thứ, hoặc cứ lẳng lặng tìm giải đáp cho câu hỏi thật chính xác, thiết thực. Có người lại không thấy câu giải đáp cho mọi luận thuyết đưa ra từ thời Trung Cổ. Một số khác gặp đổ vỡ lại chấp nhận tính hiện đại mà chẳng thắc mắc. Đổ vỡ, từ “1968”, một thời khắc có những sự việc thể hiện trong Hiến Chế “Humanae Vitae”. Có cả vụ ám sát nghị sĩ Mỹ Robert Kennedy và nhà hoạt động cho nhân quyền là mục sư Martin Luther King. Rồi, xảy đến trong chiến tranh Việt Nam cùng lúc xuất hiện xã hội công nghiệp. Và cuối cùng, hiện ra thế giới thứ ba nghèo đói, thiếu thốn, chậm lụt.     

Tiếp đó, lại thấy xảy ra cuộc nội loạn bắt đầu từ người Pháp ở Paris, lan sang tận Bắc Mỹ đòi chống đối thuyết lý-tưởng-hoá hết mọi sự. Từ thuyết hiện-đại tại các nơi, cho tới chủ thuyết này khác nhằm thay thế thuyết Mác xít, thuyết căn bản hoặc học thuyết nào khác nung nấu tâm can của nhiều người. Nổi dậy và nội loạn, tiếp diễn trên đường phố/chốn đông người, rất bạo động. Có khi chỉ mơ hồ. Đôi lúc, lại ảo tưởng về mọi sự. Thời hậu-hiện-đại lại chủ trương huỷ hoại mọi chuyện. Chối bỏ mọi sự. Chối, cả niềm tin vào bất cứ thứ gì. Và rồi, tính hiện-đại lại vẫn tồn tại với khoa học kỹ thuật. Với mạng truyền thông, vi tính. Với cả trường lớp, chốn doanh thương ở phố chợ. Thế nên, con người nay có thói quen ra như thế.

Thật khó nói và khó nhận định. Khó, là bởi nền kinh tế thế giới, đã vỡ đổ. Dân gian mọi người trên thế giới, rày bối rối. Thị trường thế giới lại lủng củng/rối bời, khiến người người ra sức tìm cách chỉnh sửa, để cứu chữa. Tuy là thế, nhiều vị vẫn không có được một triết thuyết căn bản để cho đời hầu giúp mình chỉnh đốn cuộc sống thực tế, để tiến bước.

Thách thức ở đời người, không chỉ mỗi chuyện chỉnh sửa hệ thống chủ trương đặt nặng lên lợi nhuận nhờ khai thác bóc lột người khác. Thách thức ở đây/hôm nay, là tạo dựng hệ thống trong đó tài sản của tất cả mọi người phải được sẻ san/phân phát cho người khác. Vì lợi ích của mọi người. Thách thức của thế giới hôm nay, là đảm bảo rằng người khốn khó/nghèo hèn phải được quan tâm, chăm sóc. Thị kiến này từng làm rúng động thế giới từ năm 1968 cho đến nay chưa phục hồi.

Đó là vấn đề. Vấn đề, là mọi thứ nay dường như đã vụt mất. Vụt mất đi, khả năng tin tưởng vào các ngân hàng trữ kim to lớn và tin vào các vị tài phiệt nắm giữ đầu tư của ta, cho đúng phép. Người người hôm nay, lại để mất tính chất đạo đức/chức năng cần có cho người nghèo. Nhưng làm thế nào để cảm thông với những người chuyên khai thác bóc lột tài sản của mình rồi sẽ mang cùng một ý tưởng tìm cách để thế giới từng phát triển giùm giúp thế giới thứ ba, là thế giới không được ai đoái hoài, giùm giúp?

Đã có lần, ta cứ tưởng rằng mình đã có câu giải đáp cho mọi sự. Cả sự cố, lẫn gẫy đổ. Cả những quyết tâm tạo mô hình để người khác bắt chước mà sống sót.

Nhưng, từ đó đến nay, lại đã có khủng hoảng về niềm cậy trông/tin tưởng vào mọi thứ. Lẽ sống hôm nay, chừng như rơi xuống vực sâu, ở dưới đất. Các vị cao niên đã ra đi, không còn minh chứng được gì. Còn ta, nay đang vào thời kỳ chuyển tiếp mà chẳng thấy được gì ở lại nơi ta, ra mới mẻ. Đã có thời, ta được mời đề xuất những mới lạ hầu giúp mình sống sót. Có thể, đó cũng là khoa sinh thái rất mới mẻ giúp ta sinh hoạt phát triển. Sinh thái đây, không như những gì hiện rõ quanh ta. Mà, là thái độ sống liên đới với nhau, nhờ cậy nhau trong mọi việc.

Liên đới và cậy nhờ, không theo cách cá nhân tìm lợi nhuận, cho bằng tìm về với vũ trụ vạn vật có ta ở trong đó. Trong “hệ thống” của sự sống, như vẫn thấy yêu cầu tạo sự sống mới. Sự sống có quan hệ hỗ tương, trợ lực nhiều hơn. Và, bớt dần bản ngã riêng tư bé nhỏ, để mở rộng với mỗi người và mọi người.

Thế giới với vạn vật, như thế sẽ giúp ta trở nên nhẹ nhàng, êm đềm nhiều nhân bản. Việc này chỉ xảy đến khi ta tìm được những gì mình để mất, cũng rất lâu. Mất, con tim chân chính những biết yêu thương, giùm giúp mọi người. Phải công nhận, là: ta từng phung phí thời gian kiếm tìm thêm “thu nhập/lợi nhuận” cho riêng mình. Trái lại, cần khám phá ra mức độ sự sống khả dĩ tạo cho ta thêm thời gian và nghị lực và tài nguyên cho “người khác”. Tức, những người kiếmn tìm mãi vẫn không có. Mỗi người và mọi người phải nói được: “Tôi hiện hữu là vì mọi người đã hiện hữu cùng với tôi.” Nói thế có nghĩa: hãy bớt tập trung vào mình. Mà, hiệp thông sâu sắc nhiều hơn nữa.

Đó là, sắc thái đặc trưng tư riêng của người cùng chung ý nghĩa. Đó là, tin tưởng và cởi mở với mọi người. Bởi, triết lý xưa cũng như quan niệm ngày nay đều nhấn mạnh chuyện này. Tất cả chúng ta đều sống chung trong vũ trụ vạn vật khiến ta có thể tin tưởng lẫn nhau, vì ta cùng xuất thân từ Chúa, có Chúa ở chung cùng trong đó. Là người, ta cũng thuộc cùng một vũ trụ của những người có thể tin cậy nhau. Tin, vào nhân loại rất “của chung”. Và, người-dưng-khác-họ lại không là mối đe doạ gửi đến với ta. Nhưng, họ chính là cơ hội để ta có thể minh chứng rằng: hiện thời, vẫn có nhiều bản thể, hơn là chỉ có “chúng ta” đang sống trong vũ trụ khá riêng rẽ.

Mọi truyền thống đều phải thực hiện chuyện như thế, kể cả truyền thống tôn giáo và triết lý sống. Tin Mừng lâu nay được coi là Truyền thống trong Đạo nói lên giá trị kinh điển của Đức Chúa. Điều này thật rất đúng, kể từ khi thánh Máccô viết Tin Mừng đầu cho Tân Ước. Nhưng, tự thân, Tin Mừng Chúa nói vẫn cần một diễn tả mới về ý nghĩa chủ lực để chuyên chở.

Tin Mừng ta đọc, nay kể về người mù ngồi đó xin ăn, bên vệ đường. Xin ăn hay mù loà ở trong truyện, có thể mang ý nghĩa của một diễn giải chính trị, vào thời đó. Người ăn xin/mù loà lại những muốn người nào đó, có thể là Chúa đang đi ngang, sẽ xót thương phận hèn “xin ăn” của anh ta. Nhưng, Chúa lại đã gọi anh đến gần. Và, anh lại đã nhảy mừng vì sung sướng, đã đến cùng Chúa.

Và, lời Chúa hỏi: ”Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Và, người “xin ăn” lại đã diễn giải sự việc nay thấy đúng. Sự việc rất đúng, đó là: “Lạy Chúa, xin cho tôi thấy được!” Anh không “thấy” được điều đó, nhưng qua yêu cầu Chúa tặng ban cho mình, anh đã “thấy”. Hành động “thấy” và tin đã cứu anh. Việc “thấy” lại đã về với anh. Và, anh bước theo con đường Chúa đi, mà chẳng cần đến con mắt dẫn đường của ai hết.

Phải chăng điều tuyệt vời, nếu hôm nay ta lại cũng “thấy” được như thế? Phải chăng, điều ấy rất tuyệt, nếu lãnh đạo mọi tổ chức cũng “thấy” được như thế? Cả ta nữa, ta cũng cần “thấy” được sự việc Chúa muốn mọi người cũng “thấy” và cũng làm, như Ngài?

Tìm hiểu điều Chúa muốn ta “thấy”, cũng nên ngâm nga lời ca còn đó trong đời, vẫn cứ bảo:

            “Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi niềm,

            Không u ám, như cõi lòng ma quỷ.

            Vì có Đấng Hằng Sống, hằng ngự trị.

            Nhạc thiêng liêng dồn trổi, khắp hư linh.” (Hàn Mặc Tử – Ngoài Vũ Trụ)

Trong hay ngoài vũ trụ, ai cũng đều “thấy” cõi lòng ma quỷ được Chúa ngó ngàng, hỏi han rất ân cần. Hỏi và nói những điều tương tự, ở trên: “Anh chị, muốn Tôi làm gì cho anh chị đây? Và hôm nay, câu trả lời còn đó vẫn dành cho mọi người. Ở mọi thời.

Lm Kevin OShea DCCT biên soạn

 Mai Tá lược dịch.

Đường nào lên Thiên Thai

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 30 Thường niên năm B 28-10-2018

“Đường nào lên Thiên Thai,”
“Đường nào lên Thiên Thai?
Nơi hoa xuân không hề tàn,
Nơi bướm xuân không hề nhạt,
Nơi tình xuân không úa màu bao giờ.”

(Hoàng Nguyên – Đường Nào Lên Thiên Thai)

(Công Vụ 27: 7)

Anh hỏi gì thì cứ hỏi, Em đây, nào có biết đâu mà trả lời. Chí ít, là trả những lời từ câu hỏi khó đoán và cũng khó hiểu. Hiểu sao được khi Em chẳng biết nhiều về chuyện Lưu Nguyễn khi xưa có những lời hát thêm sau đây:

“Ngày xưa sao Lưu Nguyễn,
gặp đường lên Thiên Thai,
Nhạc vàng ai mê say,
Rượu Đào ai ngây ngây
Suối Ngọc reo dưới bước chân đi,
Tiếng Nhạc tiên quyến luyến xiêm y,
ôi làm sao lạc vào được Thiên Thai
Anh nào biết đường lên Thiên Thai,
khi trời đất còn vương thương đau,
khi hồn anh chưa biết sẽ về đâu
Anh nào biết đường lên Thiên Thai,
khi lòng còn như băng buốt giá
Và tình còn e ấp, nói không thành lời.”

(Hoàng Nguyên – bđd)

E ấp hay không, anh cứ hát. Hát không nhiều, thì ít nhất cũng là những câu hát rất đẹp như sau: 

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên – bđd)

Vâng. Đúng thế. Đẹp và khó biết, tương tự như chuyện cổ tích rất đời kể bên dưới:

 “Có một ông lão đã 76 tuổi, ở cùng vợ trong một căn hộ cho thuê ở thành phố San Francisco nước Mỹ. Ông chưa từng mặc qua quần áo hàng hiệu, kính mắt rất cũ kỹ, đồng hồ đeo tay cũng không hợp thời. Ông không thích món ăn ngon, thích nhất là sữa hâm nóng và bánh sandwich cà chua giá rẻ. Ông cũng không có ô tô riêng, ra ngoài thường đều đi bằng xe buýt, túi xách mà ông từng dùng để đi làm là túi vải.

 Mặt khác, nếu bạn cùng ông đến một quán rượu nhỏ uống bia, ông nhất định sẽ cẩn thận kiểm tra đối chiếu hóa đơn; nếu bạn ở lại nhà ông ấy, trước khi ngủ ông ấy nhất định sẽ nhắc bạn tắt đèn.

Một ông già keo kiệt nghèo khó như vậy, bạn có biết trước 76 tuổi ông đã làm những việc gì chăng?

 Ông đã từng cống hiến cho đại học Cornell 588 triệu đô la Mỹ, cho đại học California 125 triệu đô la Mỹ, cho đại học Stanford 60 triệu đô la Mỹ. Ông từng bỏ vốn 1 tỷ đô la cải tạo và xây mới 7 trường đại học ở New Ireland và hai trường đại học ở Northern Ireland. Ông từng thành lập quỹ từ thiện để phẫu thuật sứt môi hở hàm ếch cho trẻ em ở các nước đang phát triển… Cho đến nay, ông đã quyên 4 tỷ đô la, còn 4 tỷ nữa đang chuẩn bị quyên góp.

 Ông là người sáng lập tập đoàn được miễn thuế toàn cầu DFS. Keo kiệt với chính mình, hào phóng với mọi người, thích kiếm tiền lại không thích được tiền – ông là Chuck Feeney.

 Trước mắt, Chuck Feeney còn ba nguyện vọng: Một là trước năm 2016 quyên hết 4 tỷ đô la còn lại, nếu không chết không nhắm mắt. Hiện tại, từ số tiền kia mỗi năm đều có hơn 400 triệu đô la chảy về các nơi cần trên thế giới.

 Ông đã dựng nên một tấm gương cho những người giàu có: “Trong khi hưởng thụ cuộc sống đồng thời quyên góp cho mọi người”. Bill Gates và Warren Buffett đều chịu ảnh hưởng nhiều từ ông mà đã thay đổi hành động của mình.

 Sau khi việc thiện của Chuck Feeney bị tiết lộ ra, rất nhiều phóng viên muốn tiếp xúc với ông. Trong tâm ai cũng đều có một nghi vấn: Làm sao Chuck Feeney có thể dửng dưng trước gia tài hàng tỷ đô la kia chứ?

Đối với nghi vấn của mọi người, Chuck Feeney mỉm cười kể cho mọi người một câu chuyện: “Một con hồ ly thấy bồ đào trong vườn kết trái đầy, muốn vào trong ăn một chầu no bụng, nhưng giờ nó mập quá, không chui vào được. Thế là ba ngày ba đêm nó không ăn không uống để thân thể gầy xuống, cuối cùng cũng chui vào được! Ăn no nê, cảm thấy thỏa mãn, nhưng khi nó muốn rời đi, lại không chui ra được. Bất đắc dĩ đành phải giở trò cũ, lại ba ngày ba đêm không ăn uống. Kết quả, lúc nó đi ra, bụng vẫn giống như lúc đi vào.”

 Kể xong câu chuyện, Chuck Feeney nói:

 “Chỗ Thượng Đế ở không có ngân hàng, mỗi người đều là trần trụi sinh ra, cuối cùng cũng đơn độc ra đi, không ai có thể mang theo tài phú và danh tiếng mà bản thân đã đau khổ tìm kiếm cả đời.”


Truyền thông hỏi Chuck Feeney, vì sao ông lại quyên góp hết gia tài của mình?

Câu trả lời của ông đơn giản và ngoài dự đoán của mọi người! Ông nói: “Bởi vì tấm vải che tử thi không có túi.”

 “Chỗ Thượng Đế ở, không có ngân hàng”. Và, cũng chẳng có nơi nào chuyên quyên góp tiền bạc hoặc quà cáp cho người dưng. Thế nhưng, ở nhà Đạo thì sao?  Nhà Đạo ư? Thật rất khó mà trả lời những câu tương tự. Thôi thì, mời bạn và mời tôi, ta đi vào giòng chảy Tin Vui, để tìm đến chốn yên vui được gọi là “Bến Lành” có bến và cũng rất lành thánh, như thiên thai.

Thiên-thai hay Bến Lành của nhà Đạo, là chốn/miền gồm chỉ mỗi niềm vui như hành-trình rao giảng của đấng thánh-hiền được kể ở sách Công vụ, mà bảo rằng:

“Trong vòng nhiều ngày, tàu đi chậm,

và vất vả lắm chúng tôi mới đến ngang Kniđô.

Vì không thuận gió,

chúng tôi đi vòng theo đảo Krêta,

hướng về phía mũi Salmônê.

Chúng tôi vất vả đi men theo mũi đó

đến một nơi gọi là Bến Lành,

gần đó có thành Lasêa.”

(Công Vụ 27: 7)

Thiên thai hay Bến Lành ngày hôm ấy, nay lại trở thành chốn miền ở đâu đây, rất gần gũi với quê ta, quê người đầy hung phấn.

Bến Lành hay Thiên thai hôm nay, lại cũng hiện diện ở tâm can của bạn, tâm hồn của tôi và của mọi người trong đất miền lành thánh, thân thương có câu truyện kể làm nền, để nhớ mãi, không buồn, như sau:

“Mới chiều hôm qua thôi. Mẹ cùng mấy bà trong xóm lên chùa trên núi quy y. Mẹ nghe sư thầy nói chuyện hay quá. Nhẽ ra mẹ nên chăm vào chùa và sống theo đạo lý nhà Phật từ lâu rồi mới phải.

 Mẹ từng nhiều lần nói với Thuần về mong muốn được thảnh thơi đi chùa lễ Phật. Điều đó có khó gì với người khác đâu nhưng lại vô cùng xa vời với mẹ. Vì mẹ còn nặng nợ với chồng con, với cơm áo gạo tiền. Mẹ còn gần mẫu ruộng, bốn con bò, đứa cháu nội ở với bà từ khi còn ẵm ngửa và khoản nợ ngân hàng mấy trăm triệu đồng hằng tháng sấp ngửa lo trả lãi.

 Mẹ thức khuya dậy sớm làm lụng quần quật suốt ngày. Buổi trưa mệt quá muốn đặt lưng xuống giường nghỉ vài phút cũng không yên vì còn phải trông đứa cháu nghịch như quỷ sứ. Mười hai giờ đêm còn có người gọi điện đến đòi nợ, dọa báo công an. Mà đâu phải mẹ nợ gì người ta. Đấy là món nợ chơi bời của thằng con cả đã bốn mươi tuổi đời, lớn mà vẫn dại. Mẹ bòn mót từng đồng tiền lẻ bán mớ rau khoai, gánh củi khô, mấy con gà, vài quả trứng. Vậy mà anh Thuần phá toàn tiền trăm bạc triệu. Mỗi lần người ta báo nợ về nhà là mẹ bủn rủn tay chân, khóc đứng khóc ngồi. Khoản tiền vài trăm triệu biết kiếm đâu ra? Không có trả thì người ta đánh đập bắt bớ con mình. Giận con thật đấy nhưng mẹ vẫn thương lắm chứ. Cá chuối đắm đuối vì con…

 Mẹ chạy vạy khắp nơi để lo đắp đậy nợ nần hết lần này đến lần khác cho đứa con nghịch tử. Vay sổ hộ nghèo, quỹ trồng rừng, quỹ hội phụ nữ, quỹ nước sạch. Trong nhà không gì nhiều bằng sổ nợ và bình rượu. Những bình rượu to vật vã cứ vơi lại đầy. Bố Thuần say ngất ngư từ ngày này qua ngày khác. Mà hễ cứ say là chửi. Giận con nhưng chửi vợ. Bố đay nghiến mẹ chuyện vay mượn trả nợ nần thay cho thằng con cờ bạc.

 Thỉnh thoảng bố ngồi ăn cơm nguội ở xó bếp rồi rưng rức khóc. “Đời bố phải đi phụ hồ vôi vữa ăn mòn mười đầu ngón chân để lấy tiền nuôi con ăn học. Vậy mà nó ra ngoài xã hội, cái hay không học lại đi học cái mất dạy”. Cũng có khi bố ngồi húp từng thìa cháo, tay bo cái răng đau mà than rằng: “Ngày xưa đói khổ, nhảy tàu đi mót sắn trên Yên Bái bị ném gãy răng. Một cái gãy là những cái xung quanh xô nhau gãy. Giờ chẳng còn mấy cái răng, ăn cái gì cũng phải hầm nhừ. Vậy mà con cái nó không thương mình. Nó phá cả nửa tỉ bạc mà vài triệu tiền trồng răng mình không có nổi”. Hết chửi bố lại quay sang đập. Đập gà, đập chó, đập con mèo đang chửa, con bò sắp đẻ và có khi đập… mẹ. Nhà lúc ấy loạn lên. Cháu khóc vì hoảng sợ. Mẹ khóc vì thấy đời mình sao khổ cực trăm đường.

 Bố vẫn rít lên từng hồi rằng:

-“tiền nhà này tao làm còng lưng gãy xương giờ đi đâu hết?”. Lần nào về thăm nhà Thuần cũng thấy nghẹt thở. Đó là nơi Thuần yêu thương nặng lòng nhất mà sao lại là nơi thiếu ôxy nhất?

 Mẹ từng nhiều lần có ý nghĩ ngủ một giấc và không bao giờ thức dậy để thoát khỏi những khổ ải đầy đọa này. Thuần hiểu cảm giác một buổi sáng mở mắt lòng bỗng nhiên nặng trĩu. Ngày mới mà nỗi lo toan cũ vẫn đè nặng lên vai. Gần hai mươi năm qua số phận dúi vào tay mẹ cả nghìn buổi sáng lo sợ và hoang mang như thế. Những cục nợ không biết đẩy đi đâu? Xoay xở thế nào? Sau cục nợ này sẽ còn bao nhiêu cục khác? Cứu nó lần này liệu có còn lần sau nữa hay không? Cả thiên hạ không còn ai tin nó, mình là mẹ lẽ nào mình cũng quay lưng?

 Thuần từng xót xa bảo:

-Mẹ không quay lưng lại thì làm sao anh ấy thấy được lưng mẹ đã còng rồi?”

Mẹ khóc. Thuần không chịu được cảm giác nghe thấy tiếng mẹ khóc hu hu trong điện thoại. Tim Thuần như vỡ vụn. Đau đớn và bất lực.

 Mẹ bắt đầu lẩn thẩn. Đã có lúc mẹ quên cả tên Thuần, quên chỗ vừa cất tiền, quên điều mình muốn nói. Đến bữa mẹ chỉ gắp vài cọng rau, nuốt cố lưng bát cơm rồi chống gối đứng dậy. Những ngày nhiều gió ngồi ngó dáng mẹ gầy liêu xiêu khắc khổ, Thuần thấy tim mình nhói lên từng nhịp thở. Mẹ nói khổ thân xác không bằng khổ tâm. Ban đêm nằm lo toan nợ nần đã đành.

 Ban ngày đi ra đường không dám ngẩng mặt nhìn bà con hàng xóm. Đi đâu thấy người ta chụm đầu xì xào cũng nghĩ chắc người ta đang nói đến con mình. Đám cưới quê ngoại, nhìn các mợ các dì mặc áo dài thướt tha, làm tóc trang điểm cầu kỳ. Chỉ mình mẹ nhàu nhĩ ngồi một xó. Mặt mẹ buồn xo, mắt lúc nào cũng như sắp khóc.

 Nhà người ta con cái ngoan ngoãn trưởng thành nên đi đâu cũng mở mày mở mặt. Mẹ vất vả nuôi con học hành đến nơi đến chốn mà u mê lầm lạc. Thử hỏi lòng người mẹ sao có thể cất lên những tiếng vui? Thuần từng nhiều lần tần ngần nâng lên đặt xuống mảnh vải áo dài thêu công thêu phượng. Rồi ước ao được ướm nó lên người mẹ, sẽ đẹp biết bao.

 Ngày trẻ mẹ đẹp lắm, vẻ đẹp mũm mĩm của da trắng, tóc xoăn. Đấy là Thuần nghe các dì kể vậy. Những người từng thầm yêu trộm nhớ mẹ khi xưa bây giờ thỉnh thoảng vẫn ghé thăm. Có lần mẹ chạy trốn sau nhà không ra gặp. Vì mẹ không muốn mình tiều tụy trong con mắt những kẻ si tình. Họ thường thốt lên xa xót: “Em khác quá em ơi…”. Mẹ đối thoại với họ bên tách trà nguội ngắt. Thuần đứng trong buồng nhìn ra thấy mẹ đang thu mình mỏng manh như lá…

 -Tối nay mẹ không xem “Góa phụ nhí” nữa ạ?

-Mẹ không. Dạo này tối nào mẹ cũng bận đọc sách. Mẹ mượn được mấy cuốn sách Phật hay lắm. Giá mà có đài “A di đà Phật” để nghe giảng Phật pháp thì thích biết mấy. Chỉ tiếc chùa trên mình không bán. Nghe nói chỉ những chùa lớn có nhiều phật tử thì mới bày bán thôi.

– Để con tìm mua rồi gửi về cho mẹ.

– Mẹ dặn thằng Út rồi nhưng chắc gì nó nhớ.

 Thuần có hơi bỡ ngỡ trước mẹ của hiện tại, khi đã quy y nhà Phật. Vẫn là người mẹ tảo tần, nhẫn nhịn, hy sinh của Thuần đấy thôi nhưng có gì đó hơi khang khác. Thuần phải tập làm quen với những bữa cơm mẹ chỉ gắp rau xanh. Những ngày cuối tháng mẹ ra chợ mua cặp chim bồ câu hoặc cua, cá phóng sinh. Chim bay lên trời, cá bơi dưới nước. Mẹ cũng phóng sinh dần từng chút nỗi buồn. Thuần gọi điện về thấy mẹ hay cười hơn. 

Những tiếng thở than đã bớt đi dù gánh nặng trên vai thì vẫn vậy. Khác hẳn với mẹ của ngày xưa hay nói về cái chết. Đời mẹ từng khất lần khất lữa hai thứ. Đó là khất nợ và khất chết. Nợ thì mẹ khất quanh năm. Chết thì mẹ khất theo mùa. Như lúc ngó những lộc non mùa xuân nảy nở, mẹ hẹn:

Chừng nào cả khu vườn được bao phủ bởi những tán cây thì khi đó mẹ sẽ chết. Các con thiêu mẹ rồi xây mộ trong vườn. Thỉnh thoảng con cháu tụ về tìm mùa quả chín.

 Mùa hạ, khi thấy người ta nghễu nghện chở xe bò phông bạt bàn ghế qua cổng, mẹ hẹn:

-Mẹ cố sống để được nhìn Thuần mặc váy cô dâu rồi nhắm mắt xuôi tay.

 Rồi thì Thuần cũng lấy chồng, cũng làm cô dâu trong ngày trọng đại. Mẹ khóc nhiều lắm. Mùa thu, thấy nhà người ta phơi tã lót trẻ con phấp phới trước sân, mẹ lại hẹn:

-Chừng nào Thuần được làm mẹ, Thuần sinh con, mẹ bế cháu ngoại trên tay là có thể thanh thản hóa thành cát bụi”. Mỗi một cái hẹn là một lần tim Thuần đau. Suốt bao nhiêu năm Thuần cứ đau đáu mãi câu hỏi phải làm sao để mẹ chỉ muốn hẹn với Thuần về sự sống?

 “Mẹ quy y rồi”. Câu nói ấy cứ vang mãi trong đầu Thuần. Có lúc Thuần nghe như một tiếng reo. Có lúc nhẹ nhõm như vừa trút một tiếng thở dài. Mẹ nương nhờ nhà Phật là từ nay tâm thức mẹ sẽ được an ổn thoát mọi khổ não trên đời. Là mẹ có đạo để tin, có nơi để vịn, có niềm vui để sống.

-Chắc kiếp trước mẹ nợ nhiều quá nên kiếp này còng lưng trả nợ. Chẳng nên oán trách ai. Con cũng nên chăm đi chùa, sống theo đạo nhà Phật để cho tâm thanh tịnh.

-Con bận quá mẹ ạ. Cứ quay cuồng từ sáng đến đêm vẫn chưa hết việc. Đến thời gian nghỉ ngơi con còn không có.

-Ừ thì… Phật tại tâm. Mỗi tuần ăn một vài bữa chay là thấy người nhẹ nhõm. Chăm nghĩ việc thiện, chăm làm điều hay để kiếp sau không phải gặp khổ đau ách nạn con ạ. Luật nhân quả chẳng chừa một ai. Đêm nào mẹ cũng nghĩ, anh con cứ sống như vậy mãi rồi cũng gặp những chuyện không hay. Cái khổ tâm lớn nhất của mẹ là đã không lôi nó ra khỏi những u mê tăm tối. Nên mẹ phải chăm ăn chay niệm Phật, thương người thương vật để cầu đức Phật gia hộ, soi đường chỉ lối cho các con.

 Thuần về thăm nhà, đêm thường nằm im nghe tiếng mẹ đọc kinh. Mẹ chỉ đọc kinh về đêm khi bố đã ngủ say. Đó là khoảng thời gian yên tĩnh hiếm hoi trong nhà. Mẹ không muốn giữa chừng bài kinh phải nghe thấy tiếng chửi bới nồng mùi rượu. Bố là người vô đạo, ông không tin vào bất cứ điều gì ngoài rượu. Không tin bất cứ ai ngoài bạn rượu. Nhưng Thuần biết bên trong cái vỏ bọc cục cằn ấy là đau đáu yêu thương và nhọc nhằn bất lực. Bố thường ngủ rất ít, thậm chí có những đêm thức trắng. Đêm là lúc bố tỉnh táo nhất, men rượu trong người bay hết. Bố nằm nghĩ về cuộc đời mình, về đứa con có lớn mà không có khôn. Một hôm nào đó ngồi cùng bạn rượu, bố nói như muốn khóc:

 -Sau này chết đi, tôi muốn bán nội tạng. Chết là hết, thân thể mình rồi cũng chỉ còn lại nắm xương. Mình bán nội tạng vợ con có thêm chút tiền trang trải nợ nần, mà những người bị bệnh cũng được cứu sống. Nhưng vợ con tôi chẳng đời nào đồng ý.

-Anh già rồi. Lại suốt ngày rượu. Lục phủ ngũ tạng hỏng hết. Ai thèm mua.

-Chú chẳng biết gì cả…

 Trong lời nói của bố vảng vất hơi men nên Thuần thấy mắt mình cay nhòe. Người say không biết nói lời hay nhưng lại là lời thật. Những câu nói của bố cứ vảng vất trong đầu Thuần lúc nằm nghe mẹ đọc kinh. Câu kinh bay lên thì tiếng bố lại ghì chặt xuống. Bố hay ngáy ngủ. Tiếng ngáy vang khắp mấy gian nhà. Nó nhắc Thuần nhớ những ngày xưa cũ.

 Bố đi phụ hồ về thường để cả quần áo lao động và hai bàn chân dính đầy vôi vữa leo lên giường ngủ. Ánh nắng xiên qua mái ngói thủng chiếu vào mặt bố cả mảng to. Máy bay quân sự tập dượt bay ầm ầm trên trời át cả tiếng ngáy của bố. Vừa tỉnh dậy bố lại vội vã gò lưng đạp xe giữa trời nắng như đổ lửa. Thuần đứng dưới gốc cây vú sữa nhìn theo mãi cho đến khi bóng bố chỉ còn là chấm nhỏ nhoi giữa cánh đồng khô hạn mênh mông. Tối muộn trở về nhà với tấm lưng ướt đẫm mồ hôi. Bố chìa cho anh em Thuần mỗi đứa một chiếc kẹo cao su làm quà. Bố nhấc bổng Thuần lên quay vòng tròn bằng đôi tay rắn chắc. Thuần ngửa cổ lên trời thấy những vì sao lấp lánh đang ở rất gần tưởng như có thể chìa tay là với tới…  

* * *

Sáng sớm Thuần nằm im trên giường nghe ngoài vườn tiếng chim líu lo bay tìm quả ngọt. Những chú gà con tìm mẹ kêu chiêm chiếp, thỉnh thoảng lại chạy tán loạn khi con mèo già õng ẹo đi qua. Một cơn gió ùa đến lay vài chiếc lá rụng xào xạc bên ngoài cửa sổ. Bố đang cuốc đất trồng rau sau khi tráng miệng buổi sáng bằng một chén rượu ngâm thuốc bắc. Mẹ rủ Thuần lên chùa sau khi đèo đứa cháu đi nhà trẻ. Mẹ ngồi sau lưng Thuần, nhỏ bé.

 Thuần bỗng nhớ đến những ngày thơ ấu ngồi sau xe mẹ. Mẹ chở Thuần đi chợ. Dốc chợ dựng đứng, Thuần ngồi trên xe để mẹ gò lưng dắt. Những ngày ốm mẹ chở Thuần đi bệnh viện. Bệnh viện cách xa nhà hơn chục cây số. Cột Thuần vào lưng mẹ bằng một chiếc áo, phía trên che nắng bằng chiếc lá cọ to. Mẹ cứ thế xuyên qua cánh đồng nắng đổ lửa mà đi.

 Giờ con đường đưa mẹ lên chùa rợp bóng cây xanh và tiếng chim ca. Mẹ ngày càng gầy đi còn Thuần thì ngày một béo lên. Nhìn ngấn mỡ trên bụng Thuần, mẹ lắc đầu than: “Béo thế nhiều bệnh tật lắm con ơi. Phải xem lại chế độ ăn uống đi thôi”.

 Thuần không sợ bệnh bằng sợ xấu. Có lúc soi gương Thuần thấy mình giống con gấu ngủ đông, giống một gã khổng lồ bụng phệ. Thuần tha thiết giảm cân nhưng lại không kiềm chế nổi nhu cầu ăn uống của mình. Những người ăn chay như mẹ khi nhìn cơ thể Thuần là thấy ngay mỡ động vật, thịt động vật, đồ ngọt dư thừa. Mẹ ngồi sau vòng tay ôm lấy eo Thuần khẽ bảo:

 -Con nên ăn nhiều rau xanh và chăm chỉ vận động. Đừng ngồi bàn máy suốt ngày. Từ khi ăn chay mẹ thấy khỏe ra, giấc ngủ sâu hơn, những cơn đau đầu cũng dần thuyên giảm.

-Rau ở dưới thành phố xanh mà không sạch. Ăn nhiều rau có khi còn nhanh chết sớm. Con đi chợ nhiều hôm không dám mua rau. Dù bữa cơm không rau, ăn toàn thịt cũng cồn cào ruột gan lắm.

-Thì tranh thủ thời gian trồng rau mà ăn. Nước gạo, nước rửa bát mình tiết kiệm mang tưới tắm.

-Đấy là mẹ không biết đấy thôi. Đất dưới phố đắt hơn vàng. Người ta xây nhà trọ cho thuê như xây phòng giam vậy. Có chỗ ở là tốt rồi, làm gì có đất trồng rau. Con xin được mấy hộp xốp trồng ít rau cải mầm nấu cháo cho cháu hằng ngày thôi mẹ ạ. Người lớn thì khuất mắt trông coi, cứ mua rau chợ đầy thuốc trừ sâu hoặc là nhịn thôi mẹ ạ.

-Hay là từ giờ mẹ trồng thêm mấy luống rau. Thỉnh thoảng cắt thành từng bó đón xe trên đường cao tốc gửi xuống cho con?

-Thôi mẹ ạ. Xe chạy xuống chỗ con chỉ có chuyến lúc chín giờ tối. Giờ đấy mẹ còn ru cháu ngủ mà.

 Xe trôi qua cánh đồng mùa lúa non thơm mùi sữa rồi rẽ vào con đường nhỏ chạy dọc hai bên đồi bạch đàn. Mẹ ngồi sau bé nhỏ nơm nớp lo từng chỗ xóc. Mẹ bảo:

-Nếu ông trời cho mẹ sống lâu thì sau khi các cháu lớn khôn mẹ sẽ lên chùa ở hẳn. Nương náu dưới gốc bồ đề, dưới chân đức Phật mà sống những tháng ngày cuối đời thanh thản.

-Lúc ấy con chắc cũng đã thảnh thơi hơn. Con sẽ thường xuyên về thăm mẹ.

 Mẹ lặng im nhìn những hàng cây lùi lại phía sau. Thuần bỗng nhiên cay mắt khi nghĩ đến ngày đưa mẹ lên chùa sống. Ừ, nếu có ngày ấy thật thì con đường này chắc sẽ dài hơn. Mẹ ngồi sau xe chắc sẽ nhẹ như một chiếc lá khô, một áng mây trời. Hẳn sẽ như khúc Tống biệt hành của Thâm Tâm: “Đưa người ta không đưa qua sông/Sao có tiếng sóng ở trong lòng”.

 Lúc ấy Thuần không biết sẽ chuẩn bị những gì cho mẹ mang theo. Mà người tu hành có khi chẳng cần mang theo gì. Thuần cũng chỉ mong khi ấy mẹ có thể bỏ lại mọi thứ mà đi. Để vào chùa thấy lá rơi không buồn, nghe mưa rơi không nhớ. Liệu có ngày đó thật hay không mà chưa gì Thuần đã thấy hình như mình mất mát. Đúng lúc Thuần đưa tay lau khóe mắt thì mẹ bảo:

 -Nói thế chứ dễ gì mà lên chùa sống yên. Còn bố con nữa, sao lỡ bỏ mà đi. Phật ở trong tâm. Mẹ ở đâu cũng đều có Phật. Phải không con?

 Đất miền thiên thai hôm nay và mai ngày lại sẽ hiển hiện mãi ở cạnh tôi, bên bạn và mỗi người cùng mọi người, chứ không xa. Và, đất miền ấy, nay hẹn sẽ trổ những bông hoa lành/đẹp, như lời ca ở bài hát rất bình thường, thế này đây:

“Anh nào biết đường lên Thiên Thai,
khi trời đất còn vương thương đau,
khi hồn anh chưa biết sẽ về đâu
Anh nào biết đường lên Thiên Thai,
khi lòng còn như băng buốt giá
Và tình còn e ấp, nói không thành lời.”

(Hoàng Nguyên – bđd)

Rồi cứ thế, anh và em, ta tiếp tục hát mãi những lời hát rất “Thiên thai” mãi không thôi:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên – bđd)

 Hát thế rồi, bạn và tôi ta cứ thế hân hoan tiến về phía trước mà cất lên lời ca mãi mãi đẹp, mà rằng:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai.
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên – bđd)

“Hồn anh lạc vào tận tim ai?” lại sẽ là câu hỏi được gửi đến bạn, đến tôi và mọi người ở đất trời lành thánh, cùng với truyện kể nhẹ buồn nhưng thanh-thản làm kết đoạn một Phiếm “loạn”, rất miên man, êm đềm ngày tháng dài, ở nơi đây.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những tháng ngày đẹp mãi

trong tương lai.

18 KHOẢNH KHẮC ĐẶC BIỆT TRONG NGÀY ĐỂ KHÁM PHÁ SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA

18 KHOẢNH KHẮC ĐẶC BIỆT TRONG NGÀY ĐỂ KHÁM PHÁ SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA

“Thiên Chúa hành động trong khiêm hạ và tĩnh mịch. Sự ‘phô diễn’ không phải là lối hành xử của Ngài!” (Giáo Hoàng Phan-xi-cô)

Tôi thấy chẳng hiếm họa gì để nghe những lời than vãn như “Thiên Chúa bỏ rơi tôi, Ngài chẳng nghe tiếng tôi van nài,” hay “Tôi chẳng biết Chúa ở đâu.” Con người ngày nay thường sống trong vội vã và để mình bị chôn vùi vào vòng xoáy của công việc và của muôn vàn hoạt động mà thế giới này đòi hỏi. Những hoạt động ấy có khi làm mất đi trong họ ý nghĩa cuộc đời, và rốt cuộc chúng biến họ thành những người mất phương hướng, rồi lại cảm thấy mình cô độc.

Ngay cả khi con người không cảm thấy có Thiên Chúa, Đấng tạo dựng muôn loài thì Ngài vẫn luôn hiện diện giữa họ. Nếu dành một chút lưu tâm, và tạm ngưng dòng suy nghĩ trong giây lát, ta sẽ nhận ra rằng quả thực trong từng bước ta đi, từng nơi ta ở, dù tốt, dù dở, Thiên Chúa vẫn ở đó với ta. Ngài hiện diện, Ngài ước mong con người lắng nghe và cảm thấy mừng rỡ hân hoan khi gặp được Ngài. Có lẽ nhiều người đã sai lầm khi tin rằng người ta chỉ có thể tìm thấy Thiên Chúa trong những khoảnh khắc phi thường; nơi những lúc cầu nguyện sâu lắng hay những phép lạ cả thể. Quả thực Thiên Chúa hiện diện trong những khoảnh khắc đó, tuy nhiên Ngài cũng ở bên ta trong từng bước ta đi. Ngài chờ đợi con người mở toang cánh cửa tâm hồn và lắng nghe Ngài thì thầm bên tai, cảm nghiệm từng chút sự chăm sóc, sự hướng dẫn, và kể cả sự hóm hỉnh nơi Ngài nữa.

Và đây, bạn sẽ thấy 10 tình huống cụ thể diễn ra hằng ngày, mà nơi đó, Thiên Chúa sẽ cho thấy chính Ngài đang hiện diện. 

“Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,20)

1. Khi ta thức dậy và dâng ý nghĩ đầu tiên cho Chúa

Tôi mở mắt ra và nhận thấy cuộc sống của tôi là một món quà khởi xuất từ một tình yêu thương vô bờ, cho dẫu đôi khi vẫn còn đó nơi cuộc đời tôi, những giây phút khó khăn đầy thách đố.

2. Khi tôi chia sẻ những món quà

Đôi lúc tôi chợt nhận ra những kỹ năng và tài khéo độc nhất vô nhị của tôi, chẳng hạn như khả năng trao ban những lời khuyên tốt lành, sửa chữa thứ gì đó, vẽ một bức tranh tặng cho các con tôi, hát một bài hát, và đôi khi nở một nụ cười tươi duyên dáng…, những tài khéo ấy biến tôi thành duy nhất và khác biệt, đúng như Thiên Chúa muốn tôi là.

3. Khi sự giận dữ xâm chiếm con người tôi, nhưng ngay sau đó, tôi có thể khống chế và điều khiển lối phản ứng của mình

Sự hiện diện của loại phản ứng cáu gắt như thế trong đời sống là một dấu chỉ cho thấy có thứ gì khác thúc đẩy tôi. Việc tôi không bị cuốn theo, nhưng tỉnh thức trước thôi thúc ấy cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong tôi.

4. Khi tôi cảm thấy cô đơn, nhưng ngay sau đó, một hình ảnh ủi an tôi (trước khi tôi rơi vào tuyệt vọng)

Rất nhiều lần trong những khoảnh khắc cô đơn tuyệt vọng, tôi trở về với Thập Giá Chúa Kitô và tìm thấy nơi đó ý nghĩa của những đớn đau, phiền muộn tôi gặp phải. Ngài đã mang vác chúng trước tôi.

5. Khi tôi có được những giây phút riêng tư và cầu nguyện

Ngày lại ngày trôi qua tôi hầu như chẳng có được chút thì giờ cầu nguyện. Nhưng có lẽ khi chọn chúng để kết thúc một ngày sống, những khoảnh khắc, những giây phút ấy lại là niềm an ủi cho tôi. Đó là những khoảnh khắc cho phép tôi nghỉ ngơi bên Ngài, để tạ ơn Ngài, và để tìm thấy một sự thanh thản diệu vời.

6. Khi nỗi đau của người khác biến thành nỗi đau của chính tôi 

Tôi cảm thấy nỗi đau của người khác. Có những người tôi chưa bao giờ gặp gỡ, hoặc họ ở những nơi tôi chẳng thể nào thăm viếng, nhưng tự nhiên tôi cảm thấy niềm đau xót của họ chính là nỗi đau của tôi. Đó là dấu chỉ Chúa nói trong tôi: “Hãy yêu người thân cận như chính mình.” (Mc 12,31)

7. Khi tôi chiêm ngắm những kỳ quan trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa

Khi chiêm ngắm những kỳ quan trong công trình sáng tạo, tôi trở nên một chứng nhân cho một trật tự đang vận hành vũ trụ. Tôi thấy mình được nhắc nhớ rằng thế giới này xoay vần nhịp nhàng theo một trật tự nhất định, không thể do một định mệnh ngẫu nhiên nào đó.

8. Khi tôi chứng kiến tình yêu mà đứa con yêu quí của tôi dành cho người khác

Một nụ hôn ngây thơ của đứa trẻ vén mở cho tôi dấu chỉ về Thiên Chúa. Dấu chỉ ấy dạy em bé bài học yêu thương ngay từ khi còn thơ ấu.

9. Khi tôi thấy niềm vui của những người đã dâng hiến cuộc đời mình cho Chúa

Niềm vui của những người bạn sống đời dâng hiến luôn gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi, đặc biệt khi tôi nói chuyện với họ và khi nhìn họ đón chào người khác. Đời sống họ tỏa lan một thứ niềm vui hẳn phải đến từ một điều gì đó lớn lao hơn nhiều, một sự đồng hành liên lỉ, một sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.

10. Những khuôn mặt bé thơ đầy hối hận

Khi các con tôi nghịch ngợm và đột nhiên hiểu rằng chúng đã làm một việc không tốt, chúng tỏ ra hối hận. Hối hận là điều vô cùng quan trọng để bắt đầu lại. Thiên Chúa hiện diện trong tình huống như vậy để dạy tôi cách làm mẹ và làm sao để hướng dẫn các con tôi biết hành động theo những điều tốt lành.

11. Khi tôi giúp đỡ người khác

Tình yêu gắn liền với việc trao hiến và phục vụ. Mỗi khi tôi giúp đỡ ai đó, cho dù là bạn bè hay một người xa lạ, trái tim tôi vẫn ngập tràn hoan lạc, và tôi cảm nghiệm được ý nghĩa của điều răn mới Chúa Giêsu để lại cho chúng ta, đó là yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương người thân cận như chính mình.

12. Khi tôi nhớ đến người thân yêu đã khuất

Khi tưởng nhớ đến những người thân yêu của tôi đã li trần, đó là ông bà, chú bác, và cả những người bạn của tôi, Thiên Chúa luôn đến trong tâm tư tôi với một niềm an ủi và lời hứa chúng tôi sẽ gặp lại nhau trong cuộc sống vĩnh cửu mai ngày.

13. Ngợi khen Chúa vì ân huệ có được những người bạn tốt

Tôi có thể chia sẻ với người bạn thiết thân kinh nghiệm, ký ức, những ngày rực sáng, và cả những ngày tăm tối trong cuộc đời tôi. Tình bạn là ân huệ cao vời mà Thiên Chúa ban tặng cho ta. “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13)

14. Khi sức mạnh sáng tạo của nhân loại làm tôi thấy ngỡ ngàng

Nhìn vào tất cả nhưng gì con người có thể tạo ra, nơi những đỉnh cao của trí tưởng tượng họ vươn tới, những điều ấy vén mở một thực tại rằng Đấng Tạo Hóa vẫn đang hoạt động trong chúng ta.

15. Khi những đám mây gợi cho tôi nhớ về Thiên Đàng… Bạn có nghĩ như tôi không?

Nhìn lên bầu trời và cảm thấy nỗi nhớ mong vô tận. Điều này nhắc tôi rằng tôi được mời gọi để sống một cuộc đời vĩnh cửu trên Trời.

16. Tôi cảm thấy dạt dào lòng biết ơn khi biết mình có khả năng cảm nghiệm được tình yêu tận nơi sâu thẳm của tâm hồn

Trái tim tôi được lấp đầy bằng một niềm vui khôn tả khi tôi dành tình yêu sâu sắc của mình cho một ai đó, và điều ấy cho phép tôi dám dâng hiến chính bản thân mình. Tôi muốn trao hiến tất cả cho tình yêu. Tôi muốn yêu như Chúa đã yêu thương tôi.

17. Trong những khoảnh khắc tôi nhận ra trái tim mình đau nhói trước sự thoáng qua của cuộc song.

Nhớ rằng đời sống này là thoáng qua, nhưng tôi vẫn khát khao một cuộc sống vĩnh cửu. Đây là cảm giác mà tất cả chúng ta đều có. Và đó là dấu chỉ của Thiên Chúa rằng Ngài đã chuẩn bị cho chúng ta một cuộc sống trường tồn.

18. Bất thình lình, một vài tư tưởng xuất hiện trong tôi, nhưng tôi không biết chúng đến từ đâu

Biết bao lần thấy mình có được những từ ngữ chính xác, những giải pháp tuyệt vời hay đôi khi, một sự gợi hứng nào đó tự nhiên đến trong tư tưởng, nhưng tôi không biết chúng đến từ đâu. Tuy nhiên, chúng đến thật đúng lúc. Và điều này tỏ cho tôi thấy có ai đó vẫn ở bên cạnh, thì thầm với tôi và luôn chăm sóc tôi.

Tác giả: Silvana Ramos

Chuyển ngữ: Đaminh Phan Quỳnh, SJ

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Con có gì cho Cha không?

Con có gì cho Cha không?

Cha ơi, câu hỏi này giống câu hỏi con vẫn hỏi đứa cháu nội 5 tuổi của con.

Thằng bé Nguyên chỉ cười thôi… đôi khi lắc lắc cái đầu… đôi khi nói không có gì hết.

Thế là con ôm cháu vào lòng và nói:

Sao lại không có gì hết, Nguyên cho bà tình thương nè, cho bà nụ cười nè, cho bà cái ôm và hôn của Nguyên nè.

Thế là thằng bé cười toét miệng ra và chạy mất.

Một hôm kỷ niệm sinh nhật của con, cháu đem cho con một bông hoa hồng vừa nở thật đẹp, hái ngoài vườn và nói “cho bà nội” kèm theo một cụ cười ngỏn nghẻn, rất đáng yêu, rồi ôm hôn bà nội.

Cha hỏi con câu này chắc chắn Cha cũng đang yêu thương con lắm lắm và đùa như vậy phải không cơ?

Con nghĩ Cha đã có tất cả, Cha giàu nhất thế gian và giàu cả trên Nước Trời, vậy Cha xin con cái gì???

Con chả có cái gì để dâng cho Cha. Ngoài cái tấm thân tội lỗi bất toàn này. Nó cũng của Cha luôn. Những gì con yêu quý nhất mà Cha ban cho con là một ông chồng, năm đứa con, bảy đứa cháu. Là một gia đình sống thương yêu với nhau, nhưng những người thân yêu đó của con đều là vật ngoại thân. Của con cũng là của Cha, Cha toàn quyền có kế hoạch cho từng người trên họ. Cha giao cho con để con biết chu toàn bổn phận và trách nhiệm với họ và với Cha.  Của cải con không có gì cả.

Tất cả những gì của con là của Cha. Con dâng gì cho Cha bây giờ nhỉ???

Ah, con biết rồi. Con sẽ dâng hết cho Cha và con sẽ dâng cho Cha những thứ mà Cha chẳng bao giờ có được.

Con biết là Cha chờ đợi con đã bao nhiêu năm để xin con đến với Chavà dâng cho Cha tất cả tội lỗi của con để Cha được tha thứ cho con.

Đúng không Cha yêu… Con thấy Cha mỉm cười kìa…

Các bạn ơi, Ngài xin mình, và Ngài kiên nhẫn chờ đợi mình. Ngài cho mình nhiều lắm ( cái gì của Cha là của con) và Ngài chỉ xin mình như vậy ( cái mà Ngài không có) để mưu cầu hạnh phúc cho mình. Ngài yêu thương mình đến như vậy đó. Ngài chỉ hạnh phúc như vậy đó. Có tình yêu nào sánh được không???

Tạ ơn Cha yêu dấu, con xin dâng cho Cha tất cả những tội lỗi mà từ khi sanh ra cho đến bây giờ, lúc già đầu (tội lỗi nhiều chất đống).

Cha đã vui mừng nhận, rồi hân hoan tha thứ cho con để con được giải thoát, được tự do và biết ơn Ngài.

Tạ ơn và vinh danh Cha mãi mãi.

Elisabeth Nguyễn

From Tamlinhvaodoi

Chết trong bóng tối và sợ hãi… như Chúa Giêsu

Chết trong bóng tối và sợ hãi… như Chúa Giêsu

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Một người lính thường chết mà không sợ hãi, còn Chúa Giêsu chết trong sợ hãi.  

Iris Murdoch đã viết những dòng này và sự thật này có thể khiến bạn thấy khó chịu.  

Tại sao lại thế?  

Nếu ai đó chết với đức tin sâu đậm, không phải người đó chết với một sự điềm tĩnh và tin tưởng nhất định nhờ đức tin hay sao?  

Chẳng phải ngược lại cũng hợp lý, chẳng phải một người chết mà không có đức tin thì sẽ chết với tâm hồn sợ hãi hơn sao?  

Và có lẽ bối rối nhất là:

Tại sao Chúa Giêsu, mẫu mực của đức tin, lại chết trong sợ hãi, kêu lên trong đau đớn như thể mất đức tin?

Vấn đề nằm ở trí hiểu của chúng ta.  Có lúc chúng ta có thể rất ngây thơ về đức tin và động lực của đức tin, nghĩ rằng tin vào Chúa là tấm vé cho sự bình an và hân hoan đời này.  

Nhưng đức tin không phải là con đường đến với sự êm đềm dễ dãi, cũng không bảo đảm rằng chúng ta sẽ ra khỏi cuộc đời này trong êm đềm.  

Và điều này có thể làm chúng ta bối rối lung lay.

Một ví dụ là:

Ngòi bút thiêng liêng trứ danh, Henri Nouwen, trong quyển sách “Trong Ký ức” đã chia sẻ một câu chuyện quay quanh cái chết của mẹ ngài.  

Cha Nouwen, một người gốc Hà Lan, đang dạy học ở Hoa Kỳ, thì được tin mẹ ngài đang hấp hối ở quê nhà.  Trên chuyến bay từ New York về Amsterdam , ngài suy ngẫm về đức tin và đức hạnh của mẹ mình, và kết luận bà là một phụ nữ Kitô nhất mà ngài từng biết.  Với suy nghĩ đầy khuây khỏa đó, ngài hình dung mẹ sẽ chết thế nào, những giờ cuối đời của bà sẽ đầy đức tin và êm đềm, và đức tin êm đềm đó sẽ là lời chứng cuối cùng của bà cho gia đình.

Nhưng, sự thật không phải vậy.  

Không những không êm đềm, không sợ hãi, những giờ cuối cùng của mẹ ngài dường như bị kìm kẹp trong một bóng tối không giải thích được, một sự bất an nội tâm sâu sắc, và một đều gì đó có vẻ như đối lập với đức tin.  

Điều này khiến cha Nouwen quá bối rối.  

Tại sao lại thế?  

Tại sao mẹ ngài lại bất an trong khi cả cuộc đời mẹ là người với đức tin quá mạnh mẽ?

Ban đầu điều này khiến ngài hoang mang sâu sắc, cho đến khi một nhận thức sâu sắc hơn về đức tin mở ra.  

Mẹ ngài là một phụ nữ đã cầu nguyện mỗi ngày, xin Chúa ban ơn để bà sống như Chúa đã sống, và chết như Chúa đã chết.  

Vâng, có vẻ như lời cầu nguyện của bà đã được lắng nghe.  Bà đã chết như Chúa Giêsu.

Dù có đức tin vững như đá, nhưng Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu khi nghĩ đến cái chết của mình, và trên thập giá, Ngài đã kêu lên thống thiết, cảm giác rằng Chúa Cha đã bỏ mình.  

Nói tóm lại, lời cầu nguyện của bà đã được nhậm lời.  Bà đã xin Chúa Giêsu cho bà chết như Ngài đã chết, và với sự mở lòng đón nhận của bà, lời nguyện xin của bà đã được nhậm lời, dù cho gia đình và bạn bè cảm thấy thật bối rối vì họ tưởng mọi chuyện sẽ khác thế kia.  

Đây cũng là cách mà Chúa Giêsu đã chết, và cũng là những gì mà gia đình và các môn đệ của Chúa cảm thấy.  

Đây không phải là những gì mà người ta tưởng tượng về cái chết của một con người đầy đức tin.

Nhưng một nhận thức thâm sâu hơn về đức tin lại đảo ngược cái lập luận ấy của con người.

Nhìn vào cái chết của mẹ cha Henri Nouwen, câu hỏi đặt ra không phải là, làm sao chuyện này lại xảy đến với bà như vậy?  

Vấn đề nằm ở chỗ khác kia.  

Tại sao điều này lại không xảy ra với bà chứ?  

Đây là những gì bà đã cầu nguyện xin, và là một đấu sĩ thiêng liêng xin Chúa gởi đến cho mình thử thách cuối cùng, vậy tại sao Chúa lại không ban cho bà cơ chứ?

Điều này cũng tương tự như những hoài nghi đau khổ của Mẹ Teresa.  

Khi nhật ký của mẹ được xuất bản và cho thấy đêm tối linh hồn của mẹ, nhiều người đã bị sốc mà hỏi nhau:

Làm sao chuyện này lại xảy ra với mẹ chứ?  

Tôi tin rằng, một nhận thức thâm sâu hơn về đức tin sẽ hỏi khác đi:

Tại sao điều này lại không xảy đến với mẹ chứ, bởi mẹ có đức tin và hoàn toàn mong mỏi được đi vào những cảm nghiệm của Chúa Giêsu một cách trọn vẹn?

Nhưng, vẫn có những phức tạp khác.  

Có lúc, một người có đức tin sâu sắc lại không chết như thế, mà ra đi trong êm đềm không sợ hãi, được đức tin nâng đỡ như chiếc phà che chở trong cơn bão.  

Tại sao điều này lại xảy đến với một số người, số khác thì không?

 Chúng ta không có câu trả lời.  

Đức tin không đặt tất cả chúng ta vào cùng một băng chuyền.  

Có lúc những người với đức tin sâu sắc, chết như Chúa Giêsu đã chết, trong bóng tối và sợ hãi,

và có lúc người có đức tin sâu sắc chết trong bình an và êm đềm.

Elizabeth Kubler-Ross cho rằng

mỗi một người chúng ta đi qua năm giai đoạn rõ ràng của hấp hối, cụ thể là:

chối bỏ, giận dữ, thương lượng, khủng hoảng, và chấp nhận.

 Kathleen Dowling Singh lại cho rằng những gì mà Kubler-Ross gọi là sự chấp nhận, cần có một sắc thái sâu hơn nữa.  

Theo Singh, phần gay go nhất của sự chấp nhận này, là một sự quy phục hoàn toàn, và trước sự quy phục đó, một số người sẽ trải qua bóng tối nội tâm thâm sâu mà người ngoài nhìn vào sẽ thấy như sự tuyệt vọng.  

Chỉ sau khi đó, họ mới cảm nghiệm niềm vui và hân hoan.

Tất cả chúng ta đều cần học bài học mà cha Nouwen đã học được bên giường hấp hối của mẹ mình.  

Cũng như đức mến, đức tin có nhiều thể thức,

và có lẽ không thể phán định đơn giản từ bên ngoài.

 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From Tamlinhvaodoi

KHÔNG NGỜ

KHÔNG NGỜ

 Sơn Tây, ngày 18-10-1990

           

Sáng nay mình đến Tuy Lộc dâng thánh lễ đồng tế với cha xứ nhân ngày bổn mạng họ đạo.  Nhà thờ nhỏ xíu, không có phòng thánh.  Áo lễ dọn ngay trên bàn thờ.  Mình đang mặc áo, thì cha xứ ghé tai nói nhỏ:

–          Piô giảng nhá.

–          … Dạ.

            Miệng thì dạ, mà lòng thì băn khoăn: có nên giảng ở đây không?  Điều gì nên nói, điều gì nên suy gẫm một mình?  Nội dung bài Tin Mừng hôm nay là “Lên đường truyền giáo.”  Mình không dám nói chuyện truyền giáo hôm nay, nên chỉ duyệt lại một khúc truyền giáo hôm qua: Vấn đề thờ cúng tổ tiên.

Dẹp bàn thờ ông bà là một sai lầm có tầm mức chiến lược, nhưng là một sai lầm gần như không thể tránh được.  Lý do:

            1- Lúc ấy hai nền văn hóa Đông Tây mới gặp nhau, không thể hiểu được nhau.  Bà Pearl Buck minh chứng điều đó bằng câu chuyện sau đây.

 Có một ông Tây vào một nhà hàng ở Thượng Hải để “ăn cơm Tàu” sau khi đã được “ở nhà Tây.”  Ông Tây đang ăn ngon miệng, thì bỗng khựng lại, lợm giọng…  Ở bàn kế bên, một thực khách Tàu lâu lâu lại nhổ nước bọt xuống sàn gạch hoa.  Cầm lòng không được, ông Tây bèn lên lớp:

–          Người Tàu dơ dáy quá!  Nhổ nước bọt xuống đất là bất lịch sự, là làm mất vệ sinh chung.

–          Nước bọt bẩn, nên người Tàu phải nhổ xuống đất.  Như thế là đúng.  Còn người da trắng các ông lại nhổ nước bọt vào trong khăn, gói lại, rồi cất trong túi quần!  Như thế mới mất vệ sinh…

Các vị thừa sai thời ấy không thể hiểu nổi danh từ ĐẠO và động từ THỜ trong tiếng Việt Nam.  ĐẠO đối với họ chỉ có một nghĩa là TÔN GIÁO.  Động từ THỜ họ chỉ dành cho Thiên Chúa mà thôi.  Còn trong tiếng Việt Nam thì ĐẠO vừa có nghĩa là TÔN GIÁO, vừa có nghĩa là cách đối xử: Đạo vua-tôi, đạo cha-con, đạo vợ-chồng, đạo bằng-hữu…  Động từ THỜ trong tiếng Việt Nam vừa có nghĩa là tôn kính Thượng Đế và Thần Thánh, vừa có nghĩa là trung thành, chung thủy, hiếu thảo… Dân trung thành với vua, vợ chung thủy với chồng, con hiếu thảo với cha mẹ, đều có thể dùng một động từ THỜ.         Ông Phan Văn Trị đã nhắc nhở Tôn Thọ Tường như sau:

“Anh hỡi, Tôn Quyền, anh có biết:

Tôi ngay THỜ chúa, gái THỜ chồng?”

            Đạo Công giáo là đạo độc thần, nên các vị thừa sai không thể cho thờ ông bà được.  “Chỉ thờ một mình Chúa mà thôi” (Lc 4,8; Đnl 6,13).  Các vị thừa sai lầm là thế, mà đúng cũng là thế.

2- Thời ấy người ta tin ông bà về ăn đồ cúng của con cái.  Niềm tin này được thể hiện rõ rệt trong ngày “xá tội vong nhân.”  Có những bà đạo đức nấu một nồi cháo lớn, cho hai đầy tớ khiêng.  Còn bà thì đi theo, múc từng muỗng cháo đổ vào lá mít để hai bên đường.  Đó là phần bố thí bà dành cho những linh hồn mồ côi.

            Niềm tin này không phù hợp với giáo lý Công giáo, nên người theo đạo Chúa không được cúng cơm cho người quá cố.

Từ đó sinh ra biết bao hiểu lầm giữa người đạo và người lương.  Người lương trách người đạo là bất hiếu.  Còn người đạo thì không những không bất hiếu mà còn nhờ cả Giáo hội báo hiếu hộ mình bằng cách xin họ đạo dâng lễ cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ…  Lúc ấy cấm cúng giỗ là đúng.

Ngày nay các Giám mục Việt Nam đã điều chỉnh lại toàn bộ việc thờ cúng ông bà.  Thờ cúng ông bà là văn hóa dân tộc và người tín hữu được tích cực tham gia mọi nghi lễ thờ cúng ông bà…

            Bài giảng của mình làm mọi người chưng hửng, ngơ ngác…  Mình ở lại ăn cơm với họ đạo.  Cha xứ không nói gì về bài giảng.

            Giáo dân cũng chẳng phát biểu gì.  Bài giảng rơi tõm xuống sông…

——————————————————————————–

 Sơn Tây, ngày 26-10-1990 .

Mình đang sửa soạn đi ăn cơm, thì bà phước ghé tai, nói nhỏ:

–          Cha có khách.

–          Ai thế?

–          Bốn ông… ở Tuy Lộc

–          Chết cha tôi rồi.  Chắc là có vấn đề.  Chị có đoán được là họ muốn gì không?

–          Con không biết.  Họ nói là họ muốn trao đổi với cha về bài giảng của cha đấy.

–          Bài giảng của tôi hiền khô à!  Chuyện một trăm năm về trước ấy mà.

–          Cha ra đi!  Con bưng nước ra sau.

            Mình đi thật chậm, và muốn có một không gian vô tận, để đi mãi mà không tới…

–          Chào linh mục.

–          Chào các ông.  Bài giảng của linh mục được thu băng, phổ biến khắp xã.  Chúng tôi không đi lễ, mà cũng được nghe.

–          Các ông thấy có vấn đề gì không?  Ai thu băng thì tôi không hề hay biết.  Nếu tôi biết thì tôi không cho thu băng.

–          Bài giảng của linh mục có rất nhiều vấn đề mà từ xưa đến nay chúng tôi chưa được biết.

–          Quý ông có thể cho tôi biết những vấn đề đó không?  Tôi chỉ chân thành nhắc lại những chuyện hiểu lầm giữa lương và giáo trong quá khứ mà nay thì không còn nữa.  Lương giáo đã hiểu nhau nhiều, mà cũng thương nhau nhiều rồi.

–          Chắc linh mục có băn khoăn về việc chúng tôi đến thăm linh mục hôm nay.  Tôi xin nói ngay để linh mục an tâm.  Nhờ bài giảng của linh mục, chúng tôi mới hiểu tại sao người Công giáo không thờ cúng tổ tiên.  Bây giờ hiểu rồi, chúng tôi đến đây để xin… học đạo.

–          Nghĩa là các ông muốn theo đạo Chúa?

–          Nếu đạo Công giáo cho thờ cúng ông bà, thì không có gì thắc mắc nữa.

–          Rất tiếc tôi sắp về rồi.  Nhưng không sao, tầm đạo với ai mà chả được…

Giã từ bốn ông, lòng thương mến vô vàn.

Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

 trích “Nhật ký Truyền Giáo”

From Langthangchieutim