HIỂU SÂU HƠN VỀ ÂN SỦNG 

HIỂU SÂU HƠN VỀ ÂN SỦNG 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Biểu hiện của lòng hối lỗi đích thực không phải là cảm giác tội lỗi, mà là cảm giác buồn phiền, hối hận vì đã làm sai.  Cũng vậy, biểu hiện của sống trong ân sủng không phải là cảm giác mình xứng đáng, mà là cảm giác mình được đón nhận và yêu thương dù cho mình không xứng đáng.  Chúng ta lành mạnh về tâm linh khi cuộc sống của chúng ta có sự thú tội thật tâm và tự hào thật tâm.

Jean-Luc Marion đã nhấn mạnh điểm này trong một bình luận về quyển Tự thú của thánh Augustino.  Ông xem tự thú của thánh Augustino là một tác phẩm về lương tâm đạo đức đích thực, bởi đó vừa là một thú nhận về lòng tự hào và thú nhận về tội lỗi.  Gil Bailie cho rằng lời bình luận này nêu bật một tiêu chuẩn quan trọng để phán định xem chúng ta có đang sống trong ân sủng hay không.  “Nếu thú nhận về lòng tự hào không đi kèm với thú nhận về tội lỗi thì nó là một hành động trống rỗng và khoa trương.  Nếu thú nhận về tội lỗi không đi kèm với thú nhận về lòng tự hào, thì nó trống rỗng và cằn cỗi như thế, là một đống tạp nham, là một lời hối hận kiểu con vẹt.”

Gil nói đúng, nhưng thú nhận cả hai cùng lúc thật không phải là chuyện dễ dàng.  Chúng ta thường rơi vào một trong hai kiểu, thú nhận về lòng tự hào và không thật sự thú nhận tội lỗi của mình, hoặc là hối hận kiểu con vẹt, một kiểu ngụy biện hơn là nỗi buồn phiền thật sự vì đã lầm đường lạc lối.

Trong cả hai trường hợp, đều không có một ý thức thật sự về ân sủng.  Piet Fransen, với quyển sách về ân sủng được dùng như sách giáo khoa trong các chủng viện và trường thần học, cho rằng cả những tín hữu tự tín (những người vẫn âm thầm ghen tị với lạc thú của những kẻ vô luân, những thứ mà họ đã bỏ lỡ) cũng như những người ương ngạnh dù đã hối cải nhưng vẫn cảm thấy trân trọng những lầm lỡ của mình, cả hai loại người này vẫn chưa hiểu được ân sủng.  Chúng ta chỉ hiểu được ân sủng khi thật sự nắm bắt được những lời của người cha trong dụ ngôn người con hoang đàng nói với người con cả.  “Con của cha, con luôn ở với cha, và mọi thứ cha có đều là của con.  Nhưng chúng ta phải vui mừng vì em của con đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm được.”

Người anh cả sẽ không cay đắng nếu hiểu được rằng mọi thứ cha của anh có đều là của anh, và anh cũng sẽ không ghen tỵ với những lạc thú của người em hoang đàng nếu hiểu rằng người em đó đã chết đi.  Nhưng cần có nhận thức sâu sắc hơn để trực cảm được rằng so với cuộc sống trong nhà Chúa, thì mọi lạc thú đều là ngọn nến so với mặt trời.  Và cũng đúng như thế với những người đã trở lại, từ bỏ lối sống lầm lạc nhưng vẫn âm thầm vui mừng vì những trải nghiệm mà nó mang lại cho mình, và nuôi dưỡng một sự thương hại cao ngạo cho những người ít được trải nghiệm hơn.  Người này cũng không thực sự hiểu được ân sủng.

Trong quyển sách Khái niệm về Linh thánh (The Idea of the Holy), Rudolf Otto cho rằng khi đối diện với sự thánh thiện, chúng ta luôn có một phản ứng kép: thấy e ngại và được lôi cuốn.  Như thánh Phêrô trong sự kiện Chúa Biến hình, chúng ta cũng muốn xây một lều và ở lại đó mãi mãi, nhưng như thánh Phêrô trong sự kiện phép lạ bắt được nhiều cá, chúng ta cũng sẽ muốn nói:“Xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi.”  Trước sự linh thánh, chúng ta vừa muốn hớn hở tự hào vừa muốn thú nhận tội lỗi của mình.

Và thấu suốt này có thể giúp chúng ta hiểu được ân sủng.  Trong quyển sách của mình về ân sủng, Đời sống Ân sủng Mới (The New Life of Grace), Piet Fransen mở đầu bằng cách mời chúng ta hình dung cảnh này: Hãy hình dung một người sống theo chủ nghĩa khoái lạc một cách vô tâm.  Ông ta hoàn toàn chìm trong những khoái lạc của thế gian mà không nghĩ gì đến Thiên Chúa, trách nhiệm hay luân lý cả.  Rồi sau một cuộc đời chìm trong những khoái lạc vô luân, ông ta hối cải thật sự trên giường hấp hối, thật tâm thú nhận tội lỗi của mình, nhận lãnh các bí tích của giáo hội, và chết lành.  Nếu phản ứng của chúng ta với câu chuyện này là: “Gã này may mắn thật!  Hắn đã chơi bời mà cuối cùng vẫn được phúc!” thì chúng ta chưa hiểu được ân sủng.  Nếu nghĩ như thế thì chúng ta chỉ là những người đạo đức trong cay đắng, đứng đó như người anh cả cần phải nói chuyện thêm với Chúa.

Và cũng như thế với những người đã hoán cải mà vẫn cảm thấy những trải nghiệm hoang đàng của mình là một niềm vui sâu sắc hơn những người chưa từng hoang đàng.  Trong trường hợp này, người đó trở về nhà cha mình không phải bởi cảm thấy một niềm vui sâu sắc hơn, nhưng là bởi nghĩ rằng việc trở về là một trách nhiệm không mong muốn, một chuyện ít thú vị và vui vẻ hơn cuộc sống tội lỗi, nhưng là một chiến lược thoát thân buộc phải làm.  Người này cũng chưa hiểu được ân sủng.

Chỉ khi chúng ta hiểu được ý của người cha nói với người anh cả trong dụ ngôn người con hoang đàng: “Mọi sự cha có đều là của con,” thì chúng ta mới có thể vừa thú nhận niềm tự hào của mình vừa thú nhận tội lỗi của mình được.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From Langthangchieutim

CON CÓ YÊU MẾN THẦY KHÔNG?

CON CÓ YÊU MẾN THẦY KHÔNG?

 Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Cuộc đời Phêrô có nhiều sôi nổi.  Có thể chia đời ngài ra làm hai.  Cuộc đời phần một, từ khi theo Thầy ở biển hồ Galilê đến lúc chối Thầy.  Phần hai, từ khi theo Thầy ở biển hồ Tibêria cho đến cuối đời chết ở Rôma.  Cuộc đời phần một: Phêrô đi từ lỗi lầm này sang lỗi lầm khác.  Cuối đời của Chúa, Chúa đã bị ông từ chối thê thảm (Mc 14, 66-72).  Gom nhặt những đoạn phúc âm nói về Phêrô, ta thấy mảnh đời của ông có nét chân dung thế này: Là tông đồ bị Chúa mắng nhiều nhất.  Mắng lần đầu tiên: Quân yếu tin (Mt 14, 31).  Lần thứ hai: Ngu tối (Mt 15, 16).  Lần thứ ba: Satan (Mc 8, 33).  Chúa chỉ khen có một lần khi Phêrô tuyên xưng: Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa “Này anh Simon, con ông Gioana, anh có phúc vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy nhưng là Cha của Thầy” (Mt 16,16-17).

Khi Chúa bị bắt, bị kết án, Phêrô đã chối Thầy ba lần.  Phêrô chối Chúa vì quá yếu đuối chứ không phải vì không yêu Thầy.  Trước cái chết, Phêrô rùng mình chối bỏ, tìm đường chạy trốn.  Thế nhưng trước yếu đuối ấy, Phêrô đã khóc lóc nhớ lại lời Chúa nói về thân phận mình, ông đã oà khóc nức nở như một đứa bé với dòng lệ sám hối.  Chúa đã nhìn ông bằng ánh mắt thứ tha trìu mến.  Đời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mãnh, giữa trọn vẹn và dang dở, giữa xa và gần, giữa trời và đất.  Trái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng.  Đời ông có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại.  Trong sự vấp ngã yếu đuối cuộc đời phần một của người môn đệ này vẫn luôn có một tâm hồn chân thành.

Phần hai cuộc đời Thánh Phêrô: là một thiên anh hùng ca.  Thiên anh hùng ca bắt đầu từ trang Tin mừng Chúa nhật hôm nay.  Câu chuyện kể về một đêm đen mờ mịt của biển hồ Tibêria.  Chúa Phục Sinh đã đưa đời ông từ đêm đen mờ mịt ấy đi về một cõi trời phiêu bạt mịt mù sương gió cho Nước Trời.  Sứ mạng theo Đức Kitô khởi đầu từ đây.  Bảy anh em ra đi đánh cá, vất vả cả đêm mà không được gì.  Đức Giêsu Phục sinh đến với họ và ban tặng mẻ cá lạ lùng.

Sau mẻ cá, Đấng Phục sinh đã hỏi Ông: Phêrô, con có yêu mến Thầy không?  Phêrô đáp: Thưa Thầy, Thầy biềt rõ mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy.  Chúa hỏi ba lần.  Phêrô xác định cả ba lần lòng yêu mến Thầy, càng về cuối càng cương quyết hơn.  Ba lần chối Chúa đi từ chối nhẹ đến nặng thì hôm nay Phêrô ba lần xác định tình yêu từ nông đến sâu.  Ba lời xác định ấy là bình minh rửa tội quá khứ.  Chúa trao đàn chiên cho Phêrô: con hãy chăm sóc đoàn chiên của Thầy.  Rồi Chúa nói với ông rằng: Thầy bảo cho anh biết, lúc còn trẻ anh tự thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý.  Nhưng về già, anh phải giang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn tới nơi anh chẳng muốn.  Phúc âm Gioan cắt nghĩa rõ con đường này là: Người nói như vậy có ý ám chỉ ông phải chết cách nào.  Thế rồi Chúa bảo ông: hãy theo Thầy.  Chỉ chờ đợi lời mời gọi này, Phêrô lập tức lên đường thực thi sứ mạng Thầy trao.  Từ đây “trên tảng đá này, Thầy xây Giáo hội của Thầy, cửa hỏa ngục sẽ không thắng được.”  Từ đây, những trang sử vẻ vang của giáo hội sơ khai được viết nên bởi vị Tông đồ có lòng yêu mến Chúa thiết tha.

Ba lần được hỏi và thưa về tình yêu của Phêrô đối với Thầy Giêsu cũng là ba lần Phêrô được giao phó việc chăm sóc đoàn chiên.  Đó là vai trò mục tử của Phêrô.  Bằng tất cả trải nghiệm về đức ái mục tử theo gương Mục Tử Tối Cao, Phêrô đã dạy cho các mục tử trong Giáo hội tinh thần: “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tụy.  Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.  Như thế khi Vị Mục Tử Tối Cao xuất hiện, anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát.” (1Pr 5, 2-4).

Phêrô trở thành một người lãnh đạo tốt.  Người lãnh đạo tốt là người biết tự cảnh giác về sự yếu đuối của mình.  Kinh nghiệm sa ngã đã giúp Phêrô thoát khỏi tính tự phụ và tin tưởng mù quáng vào khả năng của mình, đồng thời giúp ông thông cảm với yếu đuối của người khác.  Như thế Phêrô còn học biết một sự thật tuyệt vời về Chúa Giêsu.  Ông học được rằng, mặc dù ông đã chối Ngài nhưng Ngài vẫn yêu thương ông.  Chính tình thương của Ngài đã mang ông trở về cuộc sống.  Cái cảm nghiệm được yêu thương trong chính sự yếu đuối và tội lỗi của mình đúng là một cảm nghiệm sửng sốt.  Được yêu trong cái tốt của mình là chuyện bình thường.  Được yêu ngay trong cái xấu của mình, đó mới là sửng sốt.  Chính đó là ân sủng.  Cũng như tất cả là ân sủng đối với Thánh Phaolô.  Khi được tha thứ và yêu thương, ngài đã hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô, sung sướng vì đã mất tất cả và chịu đủ thứ khốn khổ vì Chúa Kitô.  Ân sủng của Chúa đối với Thánh Phêrô hay Thánh Phaolô đều là tình yêu cứu độ.

Cuộc đời Phêrô đầy lỗi lầm nhưng ông được Chúa yêu thương, được Chúa chọn lựa một cách đặc biệt.  Tại sao Chúa không trao Giáo hội cho một Tông đồ trí thức, có tài lãnh đạo, có tài hoạch định?  Chúa không đòi hỏi nơi Phêrô về tài năng, thông thái, khôn ngoan mà chỉ đòi hỏi lòng mến Chúa.  Sau ba lần hỏi “con có yêu mến Thầy không”, sau ba lần Phêrô xác định lòng yêu mến, Chúa trao Giáo hội cho ngài.

Yêu mến chính là điều kiện nền tảng để có thể chu toàn sứ mệnh mà Chúa trao phó.  Không có lòng yêu mến, công việc của người mục tử hay tín hữu dù thành công cũng chỉ là điểm tô, đánh bóng cho cá nhân mình.

Tại sao khi yêu, người ta thích tặng quà cho nhau?  Thích chở nhau đi chơi?  Thích lặn lội mưa nắng đến tìm nhau?  Nếu không yêu thì đem số tiền dành dụm để mua một món đồ đưa cho người khác thì quả là dại dột!  Nếu không yêu thì gò lưng đạp xe chở người ta đi chơi thì quả là ngốc nghếch!  Nếu không yêu mà lặn lội mưa nắng đi tìm người ta thì quả là khờ khạo!  Nhưng khi đã yêu thì tất cả đều đổi khác.  Tặng quà là một niềm vui, được chở người ta là một niềm hạnh phúc, lặn lội mưa nắng tìm đến nhau là bằng chứng của cả một tấm lòng thiết tha!  Cho nên thánh Augustinô đã nói rất đúng: “Ubi amatur, non laboratur”, khi đã yêu thì không còn biết cực nhọc.  Đối với Chúa cũng thế.  Nếu ta không yêu mến Chúa hay yêu mến quá ít thì cầu nguyện là việc chán ngán, đến nhà thờ là một gánh nặng, vác thánh giá là một cực hình.  Còn nếu ta yêu Chúa nhiều thì ta thích cầu nguyện, ta thấy hạnh phúc khi đến nhà thờ.  Cho nên muốn sống đạo tốt thì cần thiết phải có lòng yêu mến Chúa.  Yêu mến Chúa nhiều thì hăng say sống đạo tích cực.  Yêu mến Chúa ít thì ít hăng hái tích cực hơn, và nếu không yêu mến Chúa thì đạo trở thành gánh nặng, làm những bổn phận trong đạo không khác nào con trâu kéo cày.

Tình yêu Giêsu có sức mạnh cảm hoá con người và đối với bất cứ ai nếu họ biết đặt niềm tin nơi Ngài.  Tình yêu Giêsu sẽ mở ra tương lai cho tội nhân, khép lại quá khứ để họ trở thành thánh nhân.  Tình yêu Giêsu, một khi ta đã yêu Ngài thật sự, ta sẽ không còn hững hờ nữa mà dấn thân trọn vẹn cả cuộc đời cho tình yêu Giêsu.

Chúa hỏi Phêrô: con có yêu mến Thầy không?  Đó cũng là câu hỏi mỗi ngày Chúa hỏi tôi: con có yêu mến Thầy không?

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 From: Langthangchieutim

CHÚA BAN BÌNH AN

CHÚA BAN BÌNH AN

Phúc Âm tuần này kể chuyện Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các môn đệ và nói: “Bình an cho anh em” tới 3 lần. Để thực sự hưởng ơn bình an của Chúa cần thực hiện 3 điều: THẤY CHÚA, THA THỨ, và TIN TƯỞNG.

  1. Thấy Chúa. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Quan trọng là Chúa như thế nào? Nếu thấy 1 Thiên Chúa thẳng tay trừng phạt thì chỉ có sợ toát mồ hôi mà thôi. Nhưng khi thấy Chúa giàu lòng thương xót đến nỗi đã chịu mang đầy thương tích ở tay chân, và cạnh sườn mở ra để ta thấy tim Chúa chan chứa yêu thương, thì lúc ấy chúng ta dạt dào niềm vui và bình an.
  2. Tha thứ. Chúa sống lại đã không đi trả thù những kẻ đã giết Ngài cho hả lòng hả dạ; không hạch tội các môn đệ phản bội cho bõ tức! Chúa tha thứ; Chúa quên hết quá khứ lỗi lầm của nhân loại. Chúa thổi Thần khí sự sống mới cho các môn đệ. Để rồi, các môn đệ cũng có thể sống tinh thần tha thứ cho lòng thanh thản bình an. Nếu không tha thứ thì lòng người sẽ ứ đọng thù ghét, ứa lên men cay đắng bất an.
  3. Tin tưởng. Nếu cứ sống trong bóng tối nghi ngờ người khác và nghi ngờ cả Chúa thì liệu lòng mình có được bình an? Chỉ khi sống tin tưởng nhau, tin thật vào Chúa thì lòng mình mới bình an phó thác. Chính vì điều này mà đi liền với các tượng ảnh Lòng Chúa thương xót luôn là câu tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa Giêsu, con xin tín thác vào Ngài.”

Tạ ơn Chúa phục sinh đã giúp các môn đệ cùng chúng con thấy Chúa, tha thứ và tin tưởng để đời chúng con được bình an ngay giữa những gian nan trong đời. Xin cho trái tim mỗi chúng con cũng lúc lắc những nhịp đập thương xót và tin tưởng để trở thành khí cụ bình an cho gia đình, hội đoàn, giáo xứ, đất nước… được an vui hạnh phúc. Amen.

From: KittyThiênKim & Kim Bang Nguyen

THÁNH TÔMA VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

THÁNH TÔMA VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Chúa Nhật II phục sinh Giáo hội tuyên dương lòng thương xót Chúa.  Thánh Gioan Phaolô II đã thiết lập lễ này đáp lại ý Chúa muốn qua thánh nữ Maria Faustina: “Ta muốn ngày lễ kính lòng thương xót là một trợ giúp và là nơi trú ẩn cho mọi linh hồn và nhất là cho những người tội lỗi đáng thương.  Trong ngày ấy, lòng thương xót của Ta sẽ rộng mở, Ta sẽ tuôn đổ một đại duơng hồng ân xuống các linh hồn đến gần nguồn mạch lòng thương xót của Ta” (Tiểu nhật ký, số 699).  Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời vào đêm cuối tuần Phục Sinh đầu tiên (ngày 2 tháng 4 năm 2005).  Lòng thương xót Chúa đã chiếu một luồng ánh sáng vào cái chết của một vị thánh thời đại.

Lòng thương xót của Chúa được diễn tả qua cuộc thương khó và cái chết của Ngài trên thập giá.  Điều quan trọng được Thánh Kinh ghi nhận là thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn, vẫn còn lỗ đinh ở chân tay và vết giáo đâm ở cạnh sườn.  Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành nay thành những vết sẹo.  Lòng thương xót ghi đậm nét nơi các vết thương trên thân thể Chúa.  Vì thế, việc đầu tiên khi hiện ra với các môn đệ, sau khi trao sự bình an, là cho các ông xem các vết thương ở tay và cạnh sườn, các môn đệ vui mừng và bình an.

Lòng thương xót Chúa đối với con người trước và sau phục sinh không thay đổi, vì Chúa Giêsu vẫn là một để cho người ta nhận ra Ngài.  Vết thương diễn tả lòng thương yêu của Chúa với con người không thay đổi.  Ngài còn khoe và cho phép Tôma lấy tay kiểm tra vết thương.  Chúa không che dấu, không tiếc xót dù Tôma có cứng lòng, đòi thực tế phải thấy mới tin. 

1. Đức tin của Tôma

Chúa sống lại, các môn đệ không dễ dàng tin, thánh sử Luca kể: “Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này.  Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy.  Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẫn, nên chẳng tin” (Lc 24,11).  Thánh Matthêu thuật lại: khi mấy người phụ nữ báo tin cho các môn đệ: Chúa đã sống lại rồi, các ông cũng hoài nghi.  Rồi, “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28,17).  Riêng Tôma đã nói một câu quyết liệt: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.”  Đây là kiểu tin bằng lý luận kiểm chứng, chỉ tin khi thấy, khi đã có đủ bằng chứng rõ ràng hiển nhiên. 

Tôma đại diện cho những người lý luận, cái gì cũng muốn xem tận mắt, bắt tận tay.  Chỉ tin những gì thấy được.  Chỉ chấp nhận những gì sờ được.  Đòi kiểm nghiệm tất cả.  Đòi tự mình chứng nghiệm tất cả.  Không chỉ tin vào lời nói suông.  Tôma không vội tin một cách dễ dàng như bao người khác.  Ông là người có tính thực tế của khoa học phải qua kiểm chứng, kiểm nghiệm bằng mắt thấy, tai nghe, tay chân sờ mó đụng chạm hẳn hoi thì mới tin.  Đây phải chăng là thái độ khôn ngoan, cẩn thận trước một quyết định hết sức quan trọng của đức tin nơi Tôma?  Cám ơn thánh Tôma, vì nhờ ngài mà các môn đệ khác được chứng kiến tỏ tường Chúa sống lại, được nhìn thấy những vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người. 

Trước khi tin, Tôma phải hoài nghi đã.  Tôma chỉ tin những điều hợp lý, những gì “thấy được, sờ được.”  Đây không phải là thái độ cố chấp của Tôma mà ngược lại là thái độ không nhẹ dạ, không cả tin vội vàng bằng tai nghe.  Đó là lối phân tích theo nhận định tự nhiên của con người và cũng là kinh nghiệm sống đức tin của nhiều người chúng ta.  Dù sao, đây cũng là một khó khăn riêng tư của Tôma trong việc tin vào Chúa sống lại.  Chúa Giêsu hiểu ông, nên đã đích thân đến và giúp cho ông dễ dàng hơn để tin vào Chúa.  Ngài mời gọi ông hãy tin vững vàng.  Và ông đã nói lên lời tuyên xưng đức tin thật đẹp đẽ, thật trang trọng “lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi.”  Cuối cùng, Chúa Giêsu đã ban cho Toma sự bình an và đức tin mạnh mẽ qua sự hoài nghi, để ông tuyên xưng đức tin cá nhân của mình: “Lạy Thiên Chúa của con.”  Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Tôma đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi.  Theo lưu truyền, ông đi rao giảng đức tin và lòng thương xót của Chúa ở Ba tư, Xyri rồi chịu tử đạo ở Ấn Độ.

Thần học gia Hans Kung nói: “người tín hữu không bao giờ nghi ngờ sẽ khó lòng hoán cải một người hoài nghi.”  Nhà thần học Paul Tillich nói: “sự hoài nghi chín chắn là sự khẳng định của đức tin.  Nó chứng tỏ một sự quan tâm rất nghiêm chỉnh.”  Còn Thomas Merton bảo: “người có niềm tin mà chưa từng trải qua sự nghi ngờ thì không phải là người có niềm tin.”  Jean Guitton, một nhà triết học người Pháp, nói: “Chính vì nghi ngờ thường trực mà tôi lại có thể tin vững.”  Thực tế, trên đời có biết bao điều chúng ta không thấy mà vẫn tin, không kiểm tra được mà vẫn phải chấp nhận và sống điều ấy.  Sự hoài nghi giúp chúng ta trưởng thành trong đức tin, thúc đẩy ta thắc mắc, tìm hiểu, học hỏi, cầu nguyện, nghiên cứu sách vở (Lm. Pet. Bi Trọng Khẩn).

2. Lòng mến của Gioan

Có hai mức độ tin: mức độ thấp là tin vì thấy, tin dựa vào bằng chứng; mức độ cao là tin mà không cần thấy, tin không dựa trên bằng chứng mà dựa trên tình yêu.  Đây là mối phúc thứ 9 như lời Chúa Giêsu nói với tông đồ Tôma: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,28).  Không thấy mà tin không có nghĩa là tin một cách mù quáng, vu vơ, không có cơ sở, không có lập trường mà là bằng tình yêu nên đức tin vững mạnh hơn, truởng thành hơn.  Thánh Gioan, “người môn đệ Chúa yêu”, bằng tình yêu, Gioan “đã thấy và đã tin” và nhận ra điều mà mọi người khác không nhận ra.  Phúc âm kể: khi thấy một bóng người mờ mờ đi trên mặt biển, mọi người khác đều tưởng là ma, chỉ có Gioan tức khắc nhận ra đó là Thầy mình.  Khi Chúa Phục Sinh hiện ra bên bờ biển hồ Tibêria, “các môn đệ không nhận ra” nhưng “ môn đệ được Chúa Giêsu thương mến” đã nhận ra và nói với Phêrô “Chúa đó” (Ga 21, 4-7)…  Rõ ràng, con đường tình yêu đi đến niềm tin nhanh chóng hơn, nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn. 

Tin mừng Phục Sinh cho thấy: có hai con đường dẫn tới đức tin, một con đường bằng lý luận với những bằng chứng rõ ràng, và con đường thứ hai là dựa vào tình yêu, thoạt xem có vẻ tầm thường nhưng thực ra lại nhanh chóng, nhẹ nhàng và cũng không kém phần vững chắc.  Chúng ta hãy củng cố đức tin của mình bằng cả hai con đường đó.  Phải có những suy nghĩ lý luận thật vững chắc về Chúa, mặt khác chúng ta cũng hãy cố gắng yêu mến Chúa ngày càng nhiều hơn, bởi vì cũng như thánh Gioan, nếu có thêm sức mạnh của tình yêu, chúng ta sẽ được mở mắt để nhận biết những gì mà người không yêu Chúa không nhận biết.

3. Lòng Chúa Xót Thương

Nhân loại thời nay khát khao một “Thiên Chúa tình yêu giàu lòng thương xót” (1Ga 4,8; Ep 2.4) để họ tôn thờ, tựa nương và tìm được ý nghĩa cuộc đời.  Lòng thương xót là tình yêu thương, là lòng trắc ẩn với người đau khổ, với người nghèo đói, với người bệnh tật, với người tội lỗi.  Nhân loại thời nay cần tình yêu, đây là một dấu chỉ của thời đại.  Vì thế, mỗi người tùy vào khả năng của mình hãy đặc biệt quan tâm đến việc thực thi lòng thương xót.  Mỗi tín hữu được mời gọi trở thành nhân tố tích cực để sống và làm chứng cho lòng thương xót. 

Điều làm nên nét độc đáo của người tín hữu là nhân đức thương xót, thể hiện bằng đạo yêu thương, được bộc lộ nơi bản thân và cuộc đời mỗi cá nhân.  Mỗi người trong chúng ta, bằng cách thực thi bác ái, lòng thương xót và tha thứ, có thể trở nên dấu chỉ quyền năng tình yêu của Thiên Chúa có sức biến đổi tâm hồn, đem lại hòa giải và bình an.  Trong Tông sắc Misericordiae Vultus (Dung mạo Lòng Thương Xót), ĐTC Phanxicô nói: “Thời đại ngày nay, khi Hội Thánh đang thực thi công cuộc Tân Phúc Âm hóa, lòng thương xót quả là cần thiết để một lần nữa tạo nên nhiệt tình mới và đổi mới các hoạt động mục vụ.  Điều tối quan trọng đối với Hội Thánh, cũng như để làm cho lời rao giảng của Hội Thánh đáng tin, chính là sống và làm chứng cho lòng thương xót.  Ngôn ngữ và hành động của Hội Thánh cần phải thông truyền lòng thương xót, để đến với trái tim con người và giúp họ gặp thấy lối đường dẫn về Chúa Cha” (số 12).  Đáp lại lời kêu gọi của ĐTC Phanxicô, trong Thư gởi cộng đoàn dân Chúa (17.9.2015), HĐGMVN nhấn mạnh: “Mỗi người Công Giáo phải trở thành nhân tố tích cực trong việc xây đắp nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống.  Không có những chứng nhân của lòng thương xót, xã hội sẽ trở thành một sa mạc hoang vu, cằn cỗi, không sức sống.”

Chúa Phục Sinh cho các tông đồ xem những thương tích cuộc khổ nạn nay đã thành sẹo như mời gọi các ngài chiêm ngắm chính nguồn mạch của Lòng Thương Xót không bao giờ cạn vơi.

Thánh Tôma Aquinô đã cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, con không xin được xem thương tích Chúa như ông Tôma tông đồ, nhưng con tuyên xưng Chúa là Chúa của con.  Hãy làm cho con luôn tin vào Chúa, cậy trông vào Chúa và yêu mến Chúa nhiều hơn nữa.”  Người kitô hữu đôi khi không cần trí tuệ để tin vào những thực tại thiêng liêng; không cần giác quan để kiểm soát những dấu chỉ mầu nhiệm trong đạo, mà cần sống bằng lòng mến.  Càng yêu mến nhiều thì càng tin chắc.  Càng tin vững thì càng bình an.  Như vậy, con đường của lòng tin là con đường của lòng mến.  “Ai xót thương người, sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).  Những ai luôn tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu phục sinh đều luôn sống tích cực và khám phá ra điều kỳ diệu trong những cái tầm thường để có khả năng chứng mình về tình yêu và lòng thương xót của Chúa. 

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

HÃY NHÌN XEM 

HÃY NHÌN XEM 

Thân xác chúng ta thường mang những vết sẹo, hậu quả của những lần bị trầy trụa, té ngã.  Có những vết sẹo gợi lại cả một vùng kỷ niệm.  Dù vui hay buồn thì cũng là chuyện đã qua.  Vết sẹo làm ta kém đẹp, nhưng không làm đau như xưa.  Khi Ðức Giêsu phục sinh hiện ra thăm các môn đệ, Ngài giúp họ nhận ra Ngài nhờ những vết sẹo.  Ngài cho họ xem những vết sẹo ở tay và cạnh sườn.  Những vết sẹo nói lên một điều quan trọng:  Thầy chính là Ðấng đã bị đóng đinh và đâm thâu; Thầy đã chết nhưng Thầy đã thắng được cái chết.

Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Chúa phục sinh có sẹo, dù điều đó chẳng đẹp gì.  Ngài không ngượng mà cho các môn đệ xem.  Những cái sẹo sẽ ở mãi với Ngài trên thiên quốc.  Chúng gợi lên những kỷ niệm buồn phiền, thất bại, đớn đau.  Nhưng nếu không có chúng thì cũng chẳng có phục sinh.  Chẳng cần phải xóa đi khỏi ký ức cuộc khổ nạn kinh hoàng và cái chết nhục nhã.

Chúng ta cũng lên thiên đàng với các vết sẹo của mình.  Sống ở đời sao tránh khỏi những dập gẫy, thương tích.  Nếu chúng ta đón nhận mọi sự với tình yêu thì mọi sự sẽ trở nên nhịp cầu cứu độ.  Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành.  Có những vết thương tưởng chẳng thể nào thành sẹo.  Chúng ta có dám cho người khác thấy sẹo của mình không? 

Cuộc khổ nạn của Thầy đã làm các môn đệ bị thương.  Các vết sẹo của Thầy sẽ chữa lành những vết thương đó.  Hẳn Tôma đã nhìn thật lâu những dấu đinh.  Chính lúc đó ông khám phá thật sâu một Tình Yêu.  Tình yêu hy sinh mạng sống và đủ mạnh để lấy lại.  Tình yêu khiêm hạ cúi xuống để chinh phục ông.  Ông đâu dám mong Thầy sẽ đích thân hiện đến để thỏa mãn những đòi hỏi quá quắt của mình.  Lòng ông tràn ngập niềm cảm mến tri ân.  Ông ra khỏi được sự cứng cỏi, khép kín, tự cô lập, để bước vào thế giới của lòng tin.  Tôma đã tin vượt quá điều ông thấy.  Ông chỉ thấy và chạm đến các vết sẹo của Thầy, nhưng ông tin Thầy là Chúa, là Thiên Chúa của ông.

Tin bao giờ cũng đòi một bước nhảy vọt khỏi cái thấy.  Chúng ta không được phúc thấy Chúa theo kiểu Tôma,  nhưng chúng ta vẫn được thấy Chúa theo những kiểu khác.  Cần tập thấy Chúa để rồi tin.  Có khi phải tập nhìn lại những vết sẹo của mình, của Hội Thánh, của cả thế giới, để rồi tin rằng Chúa phục sinh vẫn đang có mặt giữa những trăn trở và vấp váp, thất bại và khổ đau.  “Phúc cho những ai không thấy mà tin”, và phúc cho những ai biết thấy nên tin.

***********************************

Lạy Chúa, xin cho con luôn vui tươi, dù có phải lo âu và thống khổ, xin cho con đừng bao giờ khép lại với chính mình; nhưng biết nghĩ đến những người quanh con, những người – cũng như con – đang cần một người bạn. 

 Nếu như con nên yếu đuối, thì xin cho con biết yêu thương và sáng suốt hơn, thông cảm và nhân từ hơn.  Nếu bàn tay con run rẩy, thì xin giúp con luôn biết mở ra và cho đi.  Khi lâm tử, xin cho con biết đón nhận khổ đau và bệnh tật như một lời kinh. 

 Ước chi con sẽ chết trong khiêm hạ và tín thác, như một lời xin vâng cuối cùng.  Và con sẽ về nhà Chúa, để dự tiệc yêu thương muôn đời.  Amen!

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J

NGÔI MỘ TRỐNG

NGÔI MỘ TRỐNG

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Những người tin và người không tin đã tranh luận về sự phục sinh ngay từ ngày Chúa Giêsu sống lại.  Thật sự, chuyện gì đã xảy ra?  Làm sao mà Ngài sống lại từ cõi chết?  Một thi thể thật sự đã chết có thể sống lại và bước ra khỏi mộ, hay phục sinh là một sự kiện biến đổi đời sống trong lương tâm của các môn đệ Chúa Giêsu?  Hay phục sinh là cả hai, một sự kiện vừa thể lý, vừa nội tại trong lương tâm các tín hữu?

Rõ ràng chẳng có ai chứng kiến chuyện thật sự xảy ra.  Những người tuyên xưng Chúa Giêsu đang sống không nhìn thấy Ngài đứng dậy và ra khỏi mộ, họ chỉ gặp Ngài sau khi Ngài đã sống lại, và ngay lập tức những người tin và những người hoài nghi liền chia thành hai phe, những người tuyên bố đã được chạm vào Ngài bằng xương bằng thịt và những người nghi ngờ lời chứng đó.

Có những người tin và những người hoài nghi, và còn có những người tin rằng sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện đức tin chứ không phải về thể lý, họ tin thi thể người chết không thể đứng dậy mà ra khỏi mộ.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện thể lý hay đức tin?  Là cả hai.  Với các Kitô hữu, đây là sự kiện vĩ đại, cả về đức tin lẫn lịch sử.  Không thể giải thích hai ngàn năm lịch sử của đức tin Kitô, bằng cách nào khác ngoài hiện thực phục sinh.  Hiểu sự phục sinh của Chúa Giêsu như một sự việc đơn thuần, rằng thân thể Ngài trỗi dậy từ hầm mộ, là cắt bỏ đi ý nghĩa của sự phục sinh.  Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, với các Kitô hữu, phục sinh cũng phải là một sự kiện mang tính thể lý đến tuyệt đối.  Tại sao lại thế?

Trước hết, là bởi Tin mừng nói khá rõ ràng khi nhấn mạnh ngôi mộ trống và Chúa Giêsu phục sinh không phải là một linh hồn hay hồn ma.  Ví dụ như, chúng ta thấy trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu đã mời Tôma kiểm tra thân thể Ngài.  “Hãy coi tay Ta, chân Ta; Chính là Ta đó!  Hãy rờ nắn mà xem, ma nào lại có thịt có xương như các ngươi thấy Ta có.”

Để trọn vẹn ý nghĩa sự phục sinh của Chúa Kitô, thì phải có sự sống lại của thân thể.  Cần phải có ngôi mộ trống và thi thể sống lại.  Tại sao lại thế?

Không phải như một kiểu bằng chứng cho phép lạ, nhưng là vì sự nhập thể.  Tin vào sự nhập thể mà không tin vào tính thể lý của sự phục sinh thì thật là mâu thuẫn.  Chúng ta tin rằng Ngôi Lời đã nhập thể làm người.  Và chính điều này đưa mầu nhiệm Chúa Kitô và hiện thực phục sinh ra khỏi giới hạn thuần tinh thần.  Nhập thể luôn luôn bao hàm một hiện hữu có tính thể lý, sờ mó được, như định nghĩa về vật chất là “một sự gì đó có chiếm hữu không gian và có trọng lượng.”

Tin vào sự nhập thể là tin rằng Thiên Chúa đã sinh ra trong thân xác thật, sống trong một thân xác thật, chết trong thân xác thật, và sống lại trong thân xác thật.  Tin rằng phục sinh chỉ là một sự kiện đức tin trong lương tâm các tông đồ, thì dù có phong phú và thật đến mấy, cũng vẫn tước bỏ ý nghĩa của sự nhập thể, và rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên xem trọng tinh thần và khinh thường thể xác.  Một thuyết nhị nguyên như thế hạ giá sự nhập thể và xói mòn ý nghĩa của phục sinh.  Nếu phục sinh chỉ là một sự kiện tinh thần, thì đó chỉ là một sự kiện nhân loại chứ không phải một sự kiện bao hàm cả vũ trụ.  Nói thế là xem đó chỉ là một sự kiện trong lương tâm con người chứ không phải sự biến đổi của vũ trụ.

Nhưng sự phục sinh của Chúa Giêsu không chỉ là một sự mới mẻ tuyệt đối trong lương tâm con người, mà còn là một sự mới mẻ tuyệt đối về bản chất vũ trụ, mới mẻ trong từng nguyên tử.  Phục sinh sắp xếp lại tâm hồn và tâm trí con người, nhưng nó cũng sắp xếp lại các nguyên tử.  Trước khi Chúa Giêsu phục sinh, xác người chết không sống lại, họ vẫn chết, nên khi Ngài sống lại, thì đó là một sự mới mẻ tuyệt đối cả về tinh thần lẫn vật chất.  Chính xác là bởi tính vật chất tuyệt đối đó, nên sự phục sinh của Chúa Giêsu đem lại hy vọng mới cho từng phân tử cũng như cho tất cả mọi người.

Tôi tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết, một cách vật chất, theo nghĩa đen.  Tôi cũng tin rằng sự kiện này thiêng liêng vô cùng, là một sự kiện đức tin, là sự biến đổi lương tâm, là hy vọng mới tăng sức cho lòng mến mới và sự tha thứ mới.  Nhưng phục sinh cũng là một sự kiện biến đổi vật chất đến từng phân tử và biến đổi xác người chết.  Đây là một sự kiện tuyệt đối mang tính thể lý, cũng hệt như mọi sự kiện khác trong công cuộc nhập thể khi Thiên Chúa mang lấy xác phàm thật sự.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: suyniemhangngay1 & ThuNNguyen

Cầu nguyện

Cầu nguyện:

 Lạy Thầy Giêsu,

khi Thầy rửa chân cho các môn đệ. chúng con hiểu rằng Thầy đã làm một cuộc cách mạng lớn.

 Thầy dạy chúng con một bài học rất ấn tượng khi Thầy bưng chậu nước, bất ngờ đến với các môn đệ trong bữa ăn,khi Thầy cúi xuống, dùng bàn tay của mình để rửa chân rồi lau chân cho họ.Chắc Thầy đã nhìn thật sâu vào mắt của từng môn đệ và gọi tên từng người.Giây phút được rửa chân là giây phút ngỡ ngàng và linh thánh.Lạy Thầy Giêsu, thế giới chúng con đang sống rất thấm bài học của Thầy.Chúng con vẫn xâu xé nhau chỉ vì chức tước và những đặc quyền, đặc lợi.

 Ai cũng sợ phải xóa mình, quên mình.

 Ai cũng muốn vun vén cho cái tôi bất chấp lương tri và lẽ phải.

 Khi nhìn Thầy rửa chân, chúng con hiểu mình phải thay đổi cách cư xử.

Không phải là ban bố như một ân nhân, nhưng khiêm hạ như một tôi tớ.

Từ khi Thầy cúi xuống rửa chân cho anh Giuđa, kẻ sắp nộp Thầy, chúng con thấy chẳng ai là không xứng đáng cho chúng con phục vụ.Lạy Thầy Giêsu,Thầy để lại cho chúng con một di chúc bằng hành động.Thầy đã nêu gương cho chúng con noi theo,Thầy đã nêu gương cho chúng con noi theo,để rửa chân chẳng còn là chuyện nhục nhã, nhưng là mối phúc.

 Xin cho chúng con thấy Thầy vẫn cúi xuống trên đời từng người chúng con,

để nhờ đó chúng con có thể cúi xuống trên đời những ai khổ đau bất hạnh.

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

PHẢN BỘI TẠI BỮA TIỆC LY

PHẢN BỘI TẠI BỮA TIỆC LY

Lễ Vượt Qua là lễ quan trọng nhất của người Do Thái.  Đó là việc kỷ niệm hằng năm về sự giải thoát dân Israel khỏi ách nô lệ người Ai Cập.  Lễ này cử hành vào ngày 13 tháng Nisan (khoảng tháng Tư theo công lịch), nhưng vì ngày của người Do Thái bắt đầu vào lúc mặt trời lặn nên lễ thực sự bắt đầu từ lúc mặt trời lặn ngày 14 tháng Nisan.  Đối với Chúa Giêsu và các môn đệ, chắc chắn nhiều người khác cũng vậy, bữa ăn vượt qua được ăn vào chiều thứ Năm của năm đó.

Chuẩn Bị

Các môn đệ biết Thầy Giêsu muốn ăn Lễ Vượt Qua tại Giêrusalem, nhưng chưa chắc Thầy có muốn ăn ở đó hay không.  Họ đến gần Ngài và hỏi: “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”  Chúa Giêsu sai Phêrô và Gioan đi chuẩn bị những gì cần thiết và dặn dò: “Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh.  Cứ đi theo người đó.  Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: “Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?”  Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng: và ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta.”  Hai môn đệ ra đi.  Vào đến thành, các ông thấy mọi sự y như Người đã nói.  Và các ông dọn tiệc Vượt Qua (Mc 14:12–16).

Trước giờ đã định, Phêrô và Gioan đã chuẩn bị xong cho bữa ăn mừng Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu và 10 môn đệ khác đến phòng tiệc.  Lúc đó khoảng 6 giờ chiều.  Tất cả chờ tiếng kèn đồng được các tư tế thổi tại Đền Thờ báo thời điểm mặt trời lặn để có thể bắt đầu dùng bữa.

Dạ Tiệc Bắt Đầu

Khi các môn đệ ngồi vào bàn ăn, cuộc tranh luận xảy ra về chuyện ưu tiên cao – thấp, trước – sau.  Chúa Giêsu quở trách họ và dạy bài học về đức khiêm nhường.  Ngài cởi áo, thắt lưng, đổ nước vào chậu, và rửa chân cho từng người.  Phêrô không chịu cho Thầy rửa chân mình, Chúa Giêsu nói với ẩn ý: “Anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13:10).  Thánh Gioan cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu ám chỉ môn đệ Giuđa.  Có thể Ngài nói lời đó khi di chuyển từ chỗ Phêrô tới chỗ Giuđa, và có ý cho Giuđa hiểu rằng Ngài đã biết rõ ý định đen tối của ông.

Khi mọi người yên vị, Chúa Giêsu nói thêm về bài học Ngài vừa dạy: “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành thì thật phúc cho anh em!”  Tiếp tục ám chỉ Giuđa, Chúa Giêsu nói: “Thầy không nói về tất cả anh em đâu.”  Có lẽ các môn đệ hiểu Chúa Giêsu đã sai lầm khi chọn một kẻ phản bội làm môn đệ, nên Ngài nói thêm: “Chính Thầy biết những người Thầy đã chọn, nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 13:17-18).  Câu này được Chúa Giêsu trích dẫn từ Cựu Ước (Tv 41:10), trực tiếp nói tới Đa-vít, và gián tiếp nói tới Đức Kitô, vì Đa-vít được mô tả trước về Đấng Mêsia – Đức Giêsu Kitô.  Chúa Giêsu cho các môn đệ biết trước để rồi họ sẽ nhận ra rằng lời tiên tri này nói về Ngài.

Tâm Thần Xao Xuyến

Thánh Gioan cho biết rằng Chúa Giêsu “cảm thấy tâm thần xao xuyến” (Ga 13:21).  Rõ ràng Chúa Giêsu phiền lòng vì sự hiện diện của Giuđa.  Ngài đã bật khóc vì thương Giêrusalem và nay lại buồn vì sự hiện diện của một con người được chọn mà chống lại Ngài, mê muội và cố chấp đi theo đường xấu.  Một lần nữa, Chúa Giêsu lại nói về sự phản trắc, lần này Ngài nói thẳng thắn hơn: “Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ nộp Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy” (Mc 14:18).  Chúa Giêsu cho biết lý do khiến Ngài xao xuyến.  Ngài bị phản bội bởi một người đồng bàn với Ngài, một người thân thiện thuộc Nhóm Mười Hai.

Cuối cùng, ý nghĩa trong lời nói của Chúa Giêsu cũng thấm sâu vào trí óc ngờ vực của các môn đệ.  Họ nhận ra rằng Ngài không dùng hình tượng trong lời nói mà Ngài xao xuyến.  Các môn đệ bắt đầu cảm thấy buồn và xao xuyến.  Họ nhìn nhau và thắc mắc, nhưng ánh mắt của họ buồn bã hơn là nghi ngờ.  Ai cũng sợ chính mình là người mà Thầy ám chỉ.

Chúa Giêsu đã xác định khi Giuđa hỏi có phải là mình hay không.  Chúa Giêsu vẫn tránh nói rõ kẻ phản bội và trả lời chung: “Chính là một trong Nhóm Mười Hai đây, mà là người chấm chung một đĩa với Thầy” (Mc 14:20).  Có thể cách diễn tả của Ngài chỉ là cách nói khác một chút: “Người cùng ăn với Thầy.”  Rồi Ngài nói tiếp: “Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người.  Nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!” (Mc 14:21).  Chúa Giêsu chịu khổ nạn không phải là Ngài bị lừa hoặc bị ép buộc, mà Ngài chấp nhận hoàn toàn tự nguyện.

Đó là những lời đáng sợ nhất mà Chúa Giêsu đã nói khi còn trên thế gian.  Sự đe dọa đó không thể tránh: đó là lời đe dọa trực tiếp về án phạt đời đời đối với Giuđa.  Hẳn là tốt hơn cho Giuđa được sinh ra nếu thời gian không đến khi ông thị kiến hạnh phúc Nước Trời, nhưng điều có thể này có vẻ bị loại trừ qua lời nói của Chúa Giêsu.

Có thể là lời nói của Chúa Giêsu đã làm gián đoạn nghi vấn của các môn đệ: “Thưa Thầy, chẳng lẽ con sao?” (Mt 26:25a).  Giuđa biết rất rõ rằng Chúa Giêsu ám chỉ ông, nhưng ông lảng tránh, nên cũng hỏi Thầy xem sao, và Chúa Giêsu liền xác định: “Chính anh nói đó!” (Mt 26:25b).  Đối với những người khác hỏi, Chúa Giêsu không nói gì.  Nhưng với Giuđa thì Chúa Giêsu xác định ngay.  Rõ ràng là Giuđa giả hình và có ý định đen tối.

Giuđa Bỏ Trốn

Phêrô ra dấu với Gioan và hỏi nhỏ: “Hỏi xem Thầy muốn nói về ai?”  Gioan ghé sát vào Chúa Giêsu và thì thầm: “Thưa Thầy, ai vậy?”  Chúa Giêsu trả lời: “Thầy chấm bánh đưa cho ai thì chính là kẻ ấy” (Ga 13:26).  Rồi Ngài chấm một miếng bánh, trao cho Giuđa, con ông Simôn Ítcariốt.  Gioan thấy Giuđa nhận miếng bánh thì cảm thấy ái ngại.  Phúc Âm không thấy nói Gioan có cho Phêrô biết kẻ phản bội hay không, rất có thể Phêrô không biết.

Lúc này, Thánh sử Gioan lại đề cập sự ảnh hưởng của Satan: “Y vừa ăn xong miếng bánh, Satan liền nhập vào y” (Ga 13:27a).  Khi xác định Giuđa là kẻ phản bội, có vẻ như Chúa Giêsu loại ông khỏi tông đồ đoàn.  Giuđa càng bị Thiên Chúa loại trừ thì Satan càng thoải mái chiếm hữu ông.  Càng khước từ ơn Chúa thì càng yếu đuối, không đủ sức chống lại ma quỷ.

Hy vọng cuối cùng đối với Giuđa trở nên mong manh.  Chúa Giêsu không còn hy vọng gì ở Giuđa nữa.  Lực bất tòng tâm, Ngài nói với Giuđa: “Anh làm gì thì làm mau đi!” (Ga 13:27b).  Chúa Giêsu muốn không bận tâm tới sự có mặt của kẻ phản bội để có thể dành chút thời gian còn lại cho các môn đệ trung tín.  Các môn đệ khác nghe Chúa Giêsu nói và tưởng là Ngài bảo Giuđa mua đồ chuẩn bị lễ và bố thí cho người nghèo.

Có thể tưởng tượng rằng Thánh Gioan như chết lặng khi Giuđa bỏ ra ngoài sau khi nhận miếng bánh từ tay Chúa Giêsu.  Khi Giuđa đi ra cửa, Gioan thấy bóng tối bao phủ Giuđa như chiếc áo khoác.  Bóng tối bên ngoài tương phản với ánh sáng trong phòng.  Gioan nhận thấy sự tương phản đó nên đã viết: “Lúc đó, trời đã tối” (Ga 13:30).

Câu nói ngắn gọn của Thánh Gioan tạo ấn tượng mạnh mẽ.  Có vẻ như Thánh Gioan nhìn vào chính bóng tối khác với một hiện tượng vật lý; bóng tối mà Giuđa đi vào là một biểu tượng.  Đó là giờ của bóng tối, “người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Ga 3:19); đó là thời của quyền lực tối tăm (Lc 22:53), quyền lực này đã chiếm hữu linh hồn Giuđa; chính vì bóng tối này mà ánh sáng chiếu soi, và “bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:5).

Phêrô Vấp Ngã

Sau Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu tha thiết nói với 11 môn đệ để cảnh báo họ về những gì sắp xảy ra.  Ngài nói: “Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy.  Vì có lời đã chép: Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đàn chiên sẽ tan tác” (Mt 26:31).  Ngài không ngoại trừ ai: Tất cả sẽ vấp ngã vì Ngài.

Chúa Giêsu trích dẫn lời Kinh Thánh trong sách Dacaria nói về Ngài: “Hãy đánh mục tử, đàn chiên sẽ tan tác” (Dcr 13:7).  Các sự kiện trong đêm hôm đó và ngày hôm sau thực sự ứng nghiệm mọi lời Chúa Giêsu đã nói về cuộc khổ nạn của Ngài.  Mặc dù các môn đệ đã được cảnh báo trước, chuẩn bị trước, họ vẫn không dám đối diện với sự thật, và thực tế tang thương của Đức Kitô đã khiến họ quá bất ngờ.

Một lần nữa, Phêrô lại làm ngơ những gì Thầy Giêsu đã nói và chuyển sang chủ đề khác mà ông đang nghĩ.  Ông hoàn toàn trái ngược với Thầy Giêsu.  Chúa Giêsu nói: “Anh sẽ vấp ngã, anh sẽ chối Thầy.”  Nhưng Phêrô nói mạnh: “Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa thì con cũng nhất định là không” (Mc 14:29).  Ông rất tự tin, hoàn toàn xác nhận rằng tất cả các đồng môn vấp ngã, ngoại trừ ông – nghĩa là ông sẽ không bao giờ vấp ngã.

Lời xác quyết của Phêrô vô hiệu.  Câu trả lời của Thầy Giêsu quả quyết và xác định.  Lời nói trước rất rõ ràng và mạnh mẽ: “Thầy bảo thật anh: hôm nay, nội đêm nay, gà chưa kịp gáy hai lần, thì chính anh, anh đã chối Thầy đến ba lần” (Mc 14:30).  Các sự kiện đêm hôm đó chứng tỏ lời nói tiên tri của Chúa Giêsu về Phêrô và các môn đệ đều ứng nghiệm.

Đêm Định Mệnh

Trước khi rời Phòng Tiệc Ly, Chúa Giêsu và các môn đệ đã hát Thánh Vịnh – gọi là Hallel.  Đây là một phần trong nghi thức Lễ Vượt Qua.  Sau đó mọi người đi tới Vườn Dầu ở phía Đông.  Có lẽ lúc đó trong khoảng 10 giờ tới 11 giờ đêm.  Trăng rằm dịp Lễ Vượt Qua đã lên cao trên Núi Mô-áp ở phía Đông và tỏa ánh sáng nhạt trên thành phố tĩnh lặng.  Nếu truyền thống này đúng, nhóm lính tráng hẳn là không phải đi xa để tới dinh Cai-pha, nơi họ chuẩn bị bắt Chúa Giêsu ngay đêm hôm đó.

Chúa Giêsu và các môn đệ rời thành phố để tới thung lũng và ngang qua Fountain Gate.  Khi ra ngoài thành phố, họ đi về phía Bắc trên con đường dọc theo con suối Cedron, suối này khô cạn vào thời điểm đó.  Lúc này, nhìn suối Cedron sâu và tối, phân cách thành phố ở phía Tây với Núi Ô-liu ở phía Đông.  Họ đi dọc theo con đường ở dưới khe núi tối tăm, nhưng bên trên có ánh trăng chiếu sáng trên thành phố ở hai bên nên thấy ánh sáng mở trên các cây ô-liu ở triền núi.  Ngay đối diện Đền Thờ, không xa chiếc cầu hiện nay, hướng về phía Đông và tới Vườn Dầu trên sườn đồi.  Hành trình từ Phòng Tiệc Ly phải đi qua vùng địa thế khó khăn và có thể phải mất khoảng 30 phút.

Lm Ralph Gorman

Trầm Thiên Thu

 (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)