Chúc tụng Đức Vua (14.4.2019 – Chúa nhật Lễ Lá – năm C)

Chúc tụng Đức Vua (14.4.2019 – Chúa nhật Lễ Lá – năm C)

Lời Chúa: (Lc 19,28-40)

28 Khi ấy, Ðức Giêsu đi đầu, tiến lên Giêrusalem. 29 Khi đến gần làng Bếtphaghê, bên triền núi gọi là Ôliu. Người sai hai môn đệ và bảo: 30 “Các anh đi vào làng trước mặt kia. Khi vào sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh tháo dây ra và dắt nó đi. 31 Và nếu có ai hỏi: “Tại sao các anh tháo lừa người ta ra, thì cứ nói: “Chúa cần đến nó!” 32 Hai người được sai ấy ra đi và thấy y như Người đã nói. 33 Các ông đang tháo dây lừa, thì những người chủ con lừa nói với các ông: “Tại sao các anh lại tháo con lừa ra?” 34 Hai ông đáp: “Chúa cần đến nó”.

35 Các ông dắt lừa về cho Ðức Giêsu, rồi lấy áo choàng của mình phủ trên lưng lừa, và đặt Ðức Giêsu lên. 36 Người tới đâu, người ta cũng lấy áo mình trải xuống đường. 37Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ôliu, tất cả đoàn môn đệ vui mừng bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa, vì các phép lạ họ đã được thấy. 38 Họ hô lên:

Chúc tụng Ðức Vua,
Ðấng ngự đến nhân danh Chúa!
Bình an trên cõi trời cao,
vinh quang trên các tầng trời!

39 Trong đám đông, có vài người thuộc nhóm Pharisêu nói với Ðức Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy quở trách môn đệ Thầy đi chứ!” 40 Người đáp: “Tôi bảo các ông: họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên!

Suy Niệm

Con Thiên Chúa chẳng những đã chia sẻ phận người,
Ngài còn chia sẻ thân phận của những người yếu thế.
Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Ðức Giêsu,
chúng ta không thấy đó là chuyện xa xôi.
Trên thế giới mỗi ngày, có bao Giêsu vô tội
bị kết án bất công, bị làm nhục, bị khinh khi,
bị hành hạ và đối xử tàn tệ cho đến chết.
Ðức Giêsu đứng về phía những người cùng khổ.
Ngài vác thánh giá của họ, như họ và với họ.
Chính vì thế khi vác thánh giá theo chân Ðức Giêsu,
chúng ta cũng muốn chia sẻ thánh giá của cả nhân loại.
Ðức Giêsu còn bị đóng đinh cho đến tận thế,
ngày nào còn một người anh chị em của Ngài khốn khổ.

Ði đàng thánh giá với Chúa trong mùa Chay
giúp ta nhậy cảm hơn với thánh giá của tha nhân,
và nhận ra mình có trách nhiệm
trước mọi cuộc khổ nạn đang diễn ra trên toàn cầu.
Ðức Giêsu đã xuống tận cùng vực thẳm của phận người.
Ngài muốn gieo hy vọng cho những ai thất vọng.
Ngài đem lại ý nghĩa cho những khổ đau vô lý.
Ngài đã đón nhận tất cả với tình yêu thứ tha,
nhờ đó thánh giá nở hoa, vực thẳm tràn trề sức sống.

Khi chiêm ngắm cuộc khổ nạn của Chúa,
ta thấy mình chẳng phải là kẻ đứng ngoài cuộc.
Tôi thấy mình có nét của Giuđa,
một người được chọn, được yêu, được theo Thầy rất gần.
Bao phép lạ đã chứng kiến, bao lời vàng ngọc đã được nghe.
Tất cả vỡ tan khi Giuđa bán Thầy bằng nụ hôn giả dối.
Tôi thấy mình có nét giống Phêrô.
Ông tự hào về tình yêu của mình đối với Thầy
để rồi dễ dàng chối Thầy trước một cô đầy tớ.
Tiếng gà nào khiến Phêrô chợt tỉnh.
Ánh mắt thứ tha nào của Thầy khiến Phêrô oà khóc.
Vẫn có những tiếng gà và ánh mắt Chúa trong đời tôi…

Tôi thấy mình có nét giống Philatô.
Ông bị trói chặt bởi nỗi sợ: sợ dân nổi loạn, sợ mất chức.
Ông bị mất tự do vì áp lực của đám đông thét gào.
Ông không đủ bản lãnh để tha một người vô tội.
Tôi cũng thấy mình có nét giống Hêrôđê,
tò mò, háo hức, trông chờ Ðức Giêsu làm phép lạ.
Nhưng ông mau chóng thất vọng khi thấy Ngài lặng thinh.
Ông buồn vì không gặp một Giêsu như ông mong ước.

Nhưng cuộc khổ nạn cũng có những điểm sáng.
Simon vác đỡ thập giá Ðức Giêsu, các bà theo sau than khóc.
Khuôn mặt rực rỡ hơn cả lại là người trộm lành.
Một người bị đóng đinh tin vào một người bị đóng đinh khác.
Anh tin Ðức Giêsu vô tội và anh xin Ngài nhớ đến anh.
Lòng tin khiến anh trở nên người được hưởng ơn cứu độ.
“Hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên thiên đàng”:
Câu này cũng phản ánh niềm tin và hy vọng của Ðức Giêsu.

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,
vì Chúa đã bẻ tấm bánh trao cho chúng con,
xin cho những người nghèo khổ được no đủ.

Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Dầu,
xin cho các bạn trẻ đủ sức đối diện
với những khó khăn gay gắt của cuộc sống.

Vì Chúa bị kết án bất công,
xin cho chúng con can đảm bênh vực sự thật.

Vì Chúa bị làm nhục và nhạo báng,
xin cho phụ nữ và trẻ em được tôn trọng.

Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề,
xin cho những người bệnh tật được đỡ nâng.

Vì Chúa bị lột áo và đóng đinh,
xin cho sự hiền hoà thắng được bạo lực.

Vì Chúa dang tay chết trên thập giá,
xin cho đất nối lại với trời,
con người nối lại mối dây liên đới với nhau.

Vì Chúa đã phục sinh trong niềm vui oà vỡ,
xin cho chúng con biết đón lấy đời thường
với tâm hồn thanh thản bình an. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

CÁI CHẾT GIÚP SỰ THẬT HIỂN LỘ 

CÁI CHẾT GIÚP SỰ THẬT HIỂN LỘ 

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm SJ

Sau ba năm Đức Giêsu rao giảng, không ít người đã tin vào Ngài; tuy nhiên niềm tin vào Đức Giêsu của những người này tối đa cũng tương tự như niềm tin của các tông đồ khi Đức Giêsu còn sống đời dương thế.  Họ cho rằng Đức Giêsu là một vị thầy, hơn nữa có thể là một tiên tri, và cao nhất có thể là Đấng Kitô Vua (Ga.6, 15; Mc.8, 29; 11, 9-10).  Vào thời điểm đó, người ta không thể biết khác hơn được.  Còn đối với những người không tin Đức Giêsu, những kẻ khó chịu hoặc bực tức vì Ngài trổi trang hơn họ, Đức Giêsu đơn thuần chỉ là một con người bình thường như bao người.  Những người này không chỉ bất đồng ý kiến với Đức Giêsu, không chỉ khó chịu và bực tức mà còn muốn giết Đức Giêsu nữa (Mc.3, 6).

Vào thời cuối của ba năm rao giảng, Đức Giêsu đã nhiều lần nói những điều có thể làm cho Ngài phải bị ném đá.  Chẳng hạn Ngài nói Ngài có quyền tha tội (Mc.2, 5.7), Ngài có trước Abraham (Ga.8, 57-58), Ngài và Thiên Chúa là một (Ga.10, 30).  Vào cuối đời, Ngài có những câu nói “gây mất lòng” nhiều người.  Càng vào cuối đời, càng có ít người theo Ngài, vì những lời khó có thể hiểu và chấp nhận được, chẳng hạn: “chính tôi là bánh hằng sống.  Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga.6. 35).  Những lời nói tương tự không chỉ làm Đức Giêsu “mất người” mà còn gây thêm có nhiều người thù địch với Ngài, thậm chí còn làm cho những người muốn giết Ngài có đủ bằng cớ và hậu thuẫn.  Chẳng hạn, Ngài nhận mình là Thiên Chúa: “chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp nhưng vì một lời phạm thượng: ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa” (Ga.10, 33).

Gần lễ Vượt Qua, âm mưu giết Đức Giêsu trở nên rõ ràng nên Ngài lui về Galilê.  Vì thế, thời điểm Lazarô chết không có mặt Đức Giêsu tại đó.  Sau đó khi Ngài muốn lên Giêrusalem thì các tông đồ đã ngăn cản.  Tông đồ Thomas đã động viên các bạn: “nào chúng ta cùng lên Yerusalem để cùng chết với thầy” (Ga.11, 16).  Đức Giêsu cũng biết Ngài sẽ bị giết nếu Ngài lên Giêrusalem vào thời điểm này, tuy nhiên Ngài vẫn cứ lên.  Ngài không muốn trốn chạy cái chết.  Ngài đã phải chọn lựa giữa sống và chết một cách cụ thể qua việc có lên Giêrusalem dịp lễ Vượt Qua này hay không.  Cuối cùng Ngài đã chọn lên Giêrusalem cho dù cái chết đang chờ đón Ngài.

Ở Giêrusalem, Ngài vẫn làm điều Ngài vẫn thường làm: “ban ngày Ngài giảng dạy trong đền thờ, còn ban đêm Ngài và các tông đồ ra vườn dầu để ngủ” (Lc.21, 37).  Hôm nay Ngài vào Giêrusalem và được dân chúng đón rước như vị Thiên Sai.  Ngài chấp nhận biến cố này vì biết thời điểm đặc biệt của Ngài đã đến: thời điểm Ngài được tôn vinh cũng là thời điểm Ngài chết trên thập giá.  Cái chết của Ngài có thể được thấy trước vì nó cũng theo quy luật của xã hội: người ta ghét Ngài đến độ muốn giết Ngài (Mc.14, 1).

Lúc khởi đầu người ta muốn giết Ngài vì Ngài đã dám suy nghĩ và nói ngược lại những người có thế lực (Mc.3, 6; 14, 1; 14, 53-59); nhưng khi vị thượng tế hỏi Đức Giêsu và Đức Giêsu trả lời: “rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và đến trên mây trời” thì họ không cần phải sắp đặt chứng cớ để giết Đức Giêsu như trước nữa, vì Đức Giêsu đã phạm một tội vô cùng lớn mà mọi người Do Thái một khi biết đều phải xử tử Đức Giêsu, vì là người mà dám cho mình ngang hàng với Thiên Chúa (Mc.14, 62-64).  Đức Giêsu đầu tiên bị người ta ghen ghét mà muốn giết, rồi khi đã bị bắt và xét xử với chứng cớ được xếp đặt trước, Ngài lại nói Ngài ngang hàng với Thiên Chúa; như vậy trước công nghị Do Thái, Đức Giêsu bị kết án tử hình vì tội tôn giáo: lộng ngôn xúc phạm đến Thiên Chúa.  Trên thập giá Đức Giêsu nói: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết” (Lc.23, 34); thật vậy, không biết nguồn gốc thần linh của Đức Giêsu, thì kết án Ngài là chuyện tất nhiên.

Để giết được Đức Giêsu một cách hợp pháp, người Do Thái phải đem Đức Giêsu sang tòa Roma.  Vào thời người Do Thái bị đô hộ, quyền xử tử thuộc về thẩm quyền người Roma.  Đức Giêsu đã bị gán cho tội chính trị “xưng vương”.  Nếu không gán cho Đức Giêsu tội chính trị thì Philatô đã không kết án tử hình Đức Giêsu.  Philatô biết Đức Giêsu bị oan, nhưng vì sợ mất chức nên đã kết án Ngài.  Nếu không kết án Đức Giêsu, Philatô có thể bị người Do Thái tố cáo với hoàng đế Roma vì đã buông tha người xưng vua phất cờ khởi nghĩa.  Nếu vậy, Philatô phải giải thích, phải biện luận, và sẽ gặp nhiều phiền phức, và hậu quả sẽ là không được hoàng đế tin tưởng nữa, vì vậy Philatô đã kết án tử hình Đức Giêsu thuận theo ý của người Do Thái.

Nếu Đức Giêsu chỉ là một con người, Đức Giêsu xứng đáng lãnh án tử.  Thực vậy, khi Đức Giêsu còn sống, nào ai biết Đức Giêsu là người có nguồn gốc thần linh, vì đâu là chứng cớ để người ta có thể tin như vậy!  Chỉ khi Đức Giêsu chết và sống lại, người ta mới nhận ra những gì Đức Giêsu nói và cho mình là, là chân thực.  Như vậy, chỉ sau biến cố Đức Giêsu Phục Sinh, các tông đồ mới biết chân tướng của Đức Giêsu.  Nếu Đức Giêsu là kẻ lộng ngôn phạm thượng, thì Thiên Chúa đã chẳng phục sinh Ngài, còn nếu Ngài đã sống lại, nghĩa là những điều Ngài đã nói là đúng, là chân lý.  Nghĩa là, Ngài và Thiên Chúa là một, Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài có trước Abraham.

Khi còn sống đời dương thế, Đức Giêsu khó có thể thoát chết, vì chân tướng của Ngài chỉ có thể được thấy rõ sau khi Ngài sống lại.  Đức Giêsu bị hiểu lầm mà bị kết án tử hình, vì không ai biết Thiên Chúa là Ba Ngôi Vị, vì không ai có thể tưởng rằng Thiên Chúa có thể nhập thể làm người.  Sau khi Ngài sống lại, với ơn của Thánh Thần, các tông đồ nhận ra ý nghĩa của những lời Ngài đã nói mà khi Ngài còn đang sống các ông chẳng hiểu gì.  Ngài là Đấng có nguồn gốc thần linh, Ngài ngự bên hữu Thiên Chúa, Ngài và Cha là một, Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, Ngài là Thiên Chúa nhập thể. 

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm SJ

From: Langthangchieutim

Mùa Chay và Lễ Lá

Mùa Chay và Lễ Lá

Nguyễn Ngọc Duy Hân

Ngày còn bé ở Tây Ninh, những ngày lễ Lá là những ngày vui và ghi lại nhiều ký ức sâu đậm trong tôi. Nhà ba má tôi ở gần nhà thờ tỉnh lỵ Tây Ninh, tôi hay theo má đi nhà thờ hằng ngày chỉ vì muốn được má cưng, không bị má chê “cứng cổ” như má đã có lần trách các chị lớn trong nhà. 

Dịp lễ Lá, tôi bắt chước các bạn dùng lá dừa do nhà thờ phát ra thắt thành nhiều kiểu. Mới đầu thì làm hình Thánh giá cho có vẻ đạo đức, rồi chuyển qua bông hoa, con cào cào, con cá… để khoe nhau. Chị tôi khéo lắm, thắt được những con cá, con bướm bé tí rất đẹp. 

Cha xứ hôm ấy mặc áo lễ màu đỏ, tay cầm gậy với lá dừa kết thành hình Thánh giá mỹ thuật, dẫn đầu đoàn đi kiệu chung quanh nhà thờ. Tôi và lũ bạn được cầm lá dừa trên tay, theo đội thiếu nhi đi sau lưng linh mục. Khi thấy ông trùm hoặc dì phước (ma-sơ) không để ý thì lấy lá dừa cào quẹt làm người bạn kế bên giật mình, ngứa ngáy, dùng lá dừa làm khí giới đánh “chưởng” với nhau. Thứ Sáu Tuần Thánh nhóm chúng tôi liên tục sắp hàng hôn chân tượng Chúa Giêsu, nhưng mục đích chính là được bốc một nắm bắp rang thật lớn.

Lớn hơn, tôi học giáo lý và hiểu thêm về mùa Chay, mùa ăn năn hãm mình và thấy thương Chúa nhiều hơn, không hồn nhiên nghịch chơi với lá, với bắp rang như xưa nữa. Tuy nhiên việc thực hành hy sinh, sống tốt hơn trong mùa Chay Thánh thì cũng chỉ tàm tạm. Nhiều cám dỗ quá!

Cám dỗ ham ăn, ham nói, ham chơi, ham mua sắm… Vấn nạn ngày nay lại là việc đắm mình trong thế giới ảo, mê mẩn Facebook, phim tập, bia rượu quên đi bổn phận hằng ngày. Ngoài ra còn các cám dỗ ham tiền tài danh vọng, cám dỗ hay ghen ghét giận hờn, nói lời cay độc. Một họa sĩ, ông Rambrandt đã nổi tiếng với bức tranh vẽ Chúa Giêsu chịu nạn, chịu chết trên cây Thập Giá, mà một trong những người “quân dữ” đóng đinh Chúa chính là khuôn mặt của ông. Tôi không muốn cái “bản mặt” của mình có trong bức tranh này chút nào, nhưng thật sự chính tôi đã từng sai lầm, từng làm Chúa đau khổ và chịu thêm những vết roi, vết đinh vì lỗi phạm của mình. Có khi tôi đã hiểu lầm người khác, có khi chỉ vì tinh thần yếu đuối, ngại đụng chạm tôi đã không dám lên tiếng cho sự thật. Có khi tôi đã tiếc tiền ích kỷ không dám rộng tay giúp đỡ người khác…

Ngày Lễ Lá cũng làm tôi suy nghĩ về tình người. Mới hôm trước dân Do Thái dùng cành lá tung hô vạn tuế Chúa Giêsu, rồi hôm sau lại reo hò kết án Chúa, đóng đinh ngài trên cây Thánh Giá. Sự thay đổi của họ bắt đầu vì nhu cầu không được thỏa mãn, vì thấy Vua Giêsu không giàu có, quyền lực như vua trần gian. Các môn đệ (học trò) theo Chúa mà cũng yếu lòng chối bỏ không dám nhận mình biết Chúa là ai, thân xác nặng nề không thức được với thầy vài tiếng đồng hồ, để ngài một mình âu lo đau khổ trong vườn Cây Dầu. 

Có câu chuyện kể về một bà rất ghét ông hàng xóm kế bên. Bà này được ông Thần Đèn cho điều ước là nếu bà được cái gì, người kế bên sẽ được gấp đôi. Bà bèn xin Thần Đèn ngay để ông hàng xóm này bị mù hai mắt, dù ước như vậy thì chính bà cũng bị chột một bên! Nghe ra thì ai cũng thấy bà này nóng nảy ngu khờ quá, nhưng chưa chắc chúng ta tỉnh táo hơn khi hận thù người khác. Chưa chắc chúng ta biết suy nghĩ chín chắn trước khi ra tay. Bên Mỹ người ta tranh cãi hằng ngày về hành vi, cách làm việc của Tổng Thống Trump. Có người ghét ông Trump tới nỗi ước gì kinh tế Mỹ xuống thấp, mọi việc lụn bại để chứng tỏ Trump thất bại nặng nề trong việc trị nước. Chèn ơi, khi đó thì chính mình, chính người dân Hoa Kỳ chịu nghèo khổ, thua thiệt chứ ai!

Càng lớn tuổi tôi càng nghiệm ra được nhiều phức tạp, phân vân trong cuộc sống. Cuộc đời và cách hành xử đâu có dễ phân biệt như trắng và đen, tối và sáng tỏ tường tách bạch để mình chọn lựa. Nhiều vùng “xôi đậu” lẫn lộn, nhiều “gray area” không dễ để phán quyết, kết luận. Mà nếu biết bên nào phần đúng nhiều hơn, liệu có dám mạnh mẽ để thực hành, để bảo vệ điều phải đó?

Nguyện xin Thiên Chúa ban ơn cho con như một trong những chiếc lá dừa tươi đẹp bé nhỏ trong ngày Lễ Lá để tung hô, ca tụng Chúa. Xin giúp con mạnh mẽ tránh đường sai trái làm nô lệ tội lỗi, không vô tâm trước bao cảnh khốn khó trong cuộc đời.

Nguyễn Ngọc Duy Hân

NHÌN VÀO NỘI TÂM ĐỂ NHẬN BIẾT TỘI MÌNH

NHÌN VÀO NỘI TÂM ĐỂ NHẬN BIẾT TỘI MÌNH

Người ta thường nhìn ra ngoại giới nhưng rất ít khi nhìn vào nội giới, nhìn vào nội tâm mình.  Con người có mắt nhìn ra mà không có mắt nhìn vào.  Khuôn mặt duy nhất trên đời chúng ta không bao giờ có thể nhìn thấy trực diện, đó là khuôn mặt của chính chúng ta.  Thế nên một nốt ruồi nhỏ trên mặt người khác, ta thấy rõ ràng; còn vết sẹo lớn trên trán mình, ta không thấy được.  Lỗi lầm nho nhỏ của người khác thì mình thấy rõ ràng, còn lỗi lầm to lớn nặng nề của mình thì lại không hay.  Thế rồi, chúng ta dành nhiều thì giờ để phê phán người khác mà chẳng bao giờ biết phê phán bản thân.

Các kinh sư và người Pha-ri-sêu trong bài Tin Mừng hôm nay cũng thế.  Họ nhìn thấy rõ ràng tội lỗi của người phụ nữ phạm tội ngoại tình, nhưng không nhìn thấy tội lỗi của mình.  Họ bận tâm đến việc kết án người khác, nhưng không quan tâm đến việc sửa chữa lầm lỗi của mình.  Chính vì thế, Chúa Giêsu muốn nhân cơ hội để dạy cho họ một bài học tâm linh cần thiết là hãy nhận ra tội lỗi của mình trước, hãy trách phạt mình trước rồi lo trách phạt người khác sau.  Cổ nhân cũng thường dạy ta như vậy: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân.”

Khi các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn người phụ nữ phạm tội ngoại tình đến với Chúa Giêsu, họ hối thúc Chúa Giêsu ra ngay một phán quyết định đoạt số phận của người đàn bà tội lỗi.  Thế nhưng Chúa Giêsu không vội phán xét ai.  Trước hết, Ngài muốn cho những người tưởng mình vô tội hãy xét lại chính mình.

Thế nên, đứng trước những con người đang lăm le kết án người phụ nữ và mưu toan ám hại mình, Chúa Giêsu lặng thinh không nói một lời.  Ngài thinh lặng và tạo nên bầu khí vắng lặng để cho mọi người tự vấn lương tâm.  Ngài muốn kéo dài sự thinh lặng bằng cách ngồi xuống viết, viết trên đất.

Khi người ta cứ hỏi mãi, phá tan sự im lặng cần thiết cho sự rà soát tâm hồn, Chúa Giêsu lên tiếng kêu mời họ hãy xét lại mình: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi!”  Rồi Ngài ngồi xuống trong thinh lặng.  Ngài cứ viết, viết trên đất để tạo bầu khí thinh lặng cho mọi người hồi tâm.

Nhìn lại nội tâm mình trong thinh lặng, những con người hăm hở kết tội người khác giờ đây dần dần nhận ra tội lỗi mình, có khi còn nhiều hơn, còn nghiêm trọng hơn cả tội lỗi của người phụ nữ.  Thế là các viên đá trên tay lần lượt rơi xuống, họ xấu hổ lặng lẽ rút lui, để lại một mình Chúa Giêsu và người thiếu phụ.  Hoá ra rốt cuộc ai cũng nhận ra mình là người có tội, mà đã là người có tội thì sao không kết án mình trước?  Sao lại đang tâm kết án người khác cũng tội lỗi như mình!

Nhìn lại mình để thấy được tội lỗi của mình là điều hết sức quan trọng để cải thiện bản thân.  Nếu tôi biết được là mình hôi hám, tôi sẽ đi tắm ngay.  Còn nếu tôi không nhận ra mùi hôi của cơ thể mình, thì mãi mãi tôi vẫn là người hôi hám.  Nếu tôi thấy được mặt mình dơ bẩn, tôi sẽ lau rửa tức khắc không chần chừ.  Còn nếu không thì chẳng có gì thay đổi.  Nếu tôi thấy được sự xấu xa của nội tâm mình, sự bê bối của đời sống mình, tôi sẽ cải thiện ngay không trì hoãn.

Sự chuyển hóa bản thân, cải thiện cuộc sống chỉ thực sự bắt đầu lúc ta tự nhận biết tội lỗi mình.  Nhìn lại mình, nhìn vào mình để thấy được những tội lỗi của mình là khởi điểm, là bước đầu cho việc cải thiện đời sống.  Không có bước nầy, chẳng thể có bước thứ hai, chẳng có gì được cải thiện.

Lạy Chúa Giêsu, nhìn lại mình để rà soát chính mình, để thấy được tội mình là điều rất khó mà cũng là việc không mấy ai muốn làm.  Xin Chúa thương giúp đỡ chúng con.  Xin cho Lời Chúa trở nên gương soi cho chúng con, giúp chúng con nhận ra những vết nhơ trong tâm hồn chúng con, những nết xấu trong cuộc đời chúng con.  Lạy Chúa Giêsu, xưa kia, Chúa Giêsu đã giúp đám người Do Thái nhận ra tội lỗi của họ thì nay xin Ngài cũng giúp chúng con nhận ra lầm lỗi của mình để sửa đổi ăn năn. 

Lm Ignatiô Trần Ngà

 Trích trong “Cùng Đọc Tin Mừng”

Nguồn gốc lịch sử về bức ảnh Lòng Chúa Thương Xót

Nguồn gốc lịch sử về bức ảnh Lòng Chúa Thương Xót

Năm 1931, một nữ tu người Ba Lan, Faustina Kowalska, đã được đón nhận một cuộc hiện ra của Chúa Giêsu. Người yêu cầu bà vẽ một hình ảnh theo mẫu mà bạn đã thấy, với dòng chữ, “Lạy chúa Giêsu, con tín thác nơi Người.” Faustina đã ngoan ngoãn thực hiện yêu cầu này và kết quả là hình ảnh Lòng Chúa Thương Xót ngày hôm nay. Đó là một trong những bức ảnh được tôn kính nhất trên thế giới.

Tuy nhiên, không dễ để giữ hình ảnh ở nơi an toàn. Trong quá khứ nó đã bị đánh cắp, mua bán và thậm chí là chôn vùi.

Đây là theo nhà báo David Murgia trong cuốn “Thánh Faustina và dung mạo của Chúa Giêsu Lòng Thương xót.”

David Murgia, Tác giả “Thánh Faustina và dung mạo của Chúa Giêsu Lòng Thương xót”:

“Cuốn sách kể lại câu chuyện có thật về hình ảnh của Lòng Thương Xót này. Thông thường mọi người luôn nghĩ về phiên bản ở Krakow. Tuy nhiên, hình ảnh nguyên thủy của Lòng Thương xót Chúa là hình ảnh đã được tạo ra dưới sự hướng dẫn và giám sát của Thánh Faustina Kowalska. Đây là một hình ảnh thực sự và duy nhất về Lòng Thương Xót của Chúa.”

Đức Thánh Cha Phanxicô đã cầu nguyện trước hình ảnh ở Krakow. Tuy nhiên, đó không phải là hình ảnh gốc. Phiên bản này được thực hiện vào năm 1944 bởi Adolf Hyla.

Phiên bản gốc đã được Marcin Kazimirowski thực hiện 10 năm trước đó, dưới sự giám sát của Thánh Faustina. Đó là trong một khu bảo tồn ở Vilnius mà Đức Thánh Cha cũng đã đến thăm. Có một sự khác biệt lớn giữa hai hình ảnh.

David Murgia, Tác giả “Thánh Saint Faustina và dung mặt của Chúa Giêsu Lòng Thương xót”:

“Đôi mắt của hình ảnh Lòng Thương Xót Chúa thật sự này vô cùng trân quý vì Chúa Giêsu không nhìn vào con người, mà Người nhìn xuống. Điều này là do Thiên Chúa không tự áp đặt, mà là mời gọi. Người không nhìn thẳng vào mắt bạn vì Người không muốn đe dọa bạn. Vì lý do này, Người hướng ánh mắt xuống dưới.”

Bức ảnh này đã ở Ba Lan, Litva và Bêlarut. Nó đã sống sót sau cuộc xâm lược của Đức Quốc xã và Liên Xô. Nếu nó không được các nữ tu và những người cất giấu và tìm thấy nó, thì ngay nay, ít người biết đến sự tồn tại của nó.

Jos. Tú Nạc, Nguyễn Minh Sơn

  From: Do Tan Hung & Nguyen Kim Bang

ĐỨC TIN

ĐỨC TIN

Có một người kia, sinh ra đã bị mù, anh sống trong một gian phòng, bởi vì không nhìn thấy gì nên anh phủ nhận tất cả những gì những người chung quanh quả quyết là có: “Tôi không tin, vì tôi có thấy đâu nào.”  Một vị lương y thấy vậy thì thương hại anh, ông đi tìm một thứ linh dược chữa cho anh được sáng mắt, anh sung sướng quá, tự phụ nói: “Giờ đây tôi đã thấy được tất cả sự thật chung quanh tôi rồi.”  Nhưng có người nói với anh: “Bạn ơi, bạn mới chỉ thấy được những vật chung quanh bạn trong căn phòng này thôi.  Như thế có là bao, ngoài kia người ta còn thấy được mặt trời, mặt trăng và các tinh tú hằng hà sa số, còn biết bao vật khác mà bạn chưa thấy, bạn đừng tự phụ như vậy.”  Anh tỏ vẻ không tin, lại còn nói mạnh hơn: “Làm gì có được những cái đó, những gì có thể thấy được, tôi đã thấy tất cả rồi.”

Một vị y sĩ khác lên tận núi cao, gặp được Sơn Thần chỉ cho một thứ linh dược khác, đem về giúp cho anh được cặp mắt sáng hơn và thấy xa hơn.  Bây giờ anh thấy được mặt trời, mặt trăng và các tinh tú trên không trung.  Mừng quá và lòng tự phụ tự đắc lại tăng thêm, anh nói với mọi người: “Trước đây tôi không tin, nhưng bây giờ tôi thấy, tôi tin.  Như thế giờ đây không còn có gì mà tôi chẳng thấy, chẳng biết, đâu còn ai hơn tôi được nữa.”

Thấy anh ta tự phụ như vậy, một hiền nhân nói với anh: “Cậu ơi, cậu vừa hết mù, nhưng cậu cũng vẫn chưa biết gì cả.  Tại sao cậu lại quá tự phụ như thế?  Với chừng mực và giới hạn của tầm mắt, cậu làm gì biết có những vật ngoài ngàn dặm mà mắt cậu không làm sao thấy được.  Cậu có thấy được những nguyên nhân nào đã cấu tạo ra cậu khi cậu còn nằm trong bào thai của mẹ cậu chăng?  Ngoài cái vũ trụ nhỏ bé mà cậu đang sống đây, còn không biết bao nhiêu vũ trụ khác vô cùng to lớn và nhiều không kể hết như cát ở bãi biển, cậu có thấy không?  Tại sao cậu dám tự phụ bảo rằng: “Tôi thấy cả, tôi biết cả rồi.”  Cậu vẫn còn là một anh mù, cậu vẫn còn lấy tối làm sáng, lấy sáng làm tối.”

 Đó là câu chuyện của một anh mù bẩm sinh ở Ấn Độ.  Còn câu chuyện của anh mù, cũng mù từ bẩm sinh, kể lại trong bài Tin Mừng, thì lại khác hẳn: trong khi mù và sau khi được sáng mắt, anh luôn khiêm nhường, luôn nhìn nhận thân phận hẩm hiu buồn tủi của mình.  Ngược lại, những người sáng mắt thì lại mù tối, kiêu ngạo trong sự mù tối của mình, đó là những người Pharisêu.  Chúng ta thấy sự khác biệt tàn nhẫn giữa đôi mắt của người mù và đôi mắt của những người Pharisêu.  Đôi mắt thân xác của người này mù nhưng mắt tâm hồn anh lại sáng.  Những người Pharisêu có đôi mắt thân xác không mù lòa, nhưng đôi mắt tâm hồn đã chết.  Sự khác biệt đó là niềm tin và đức tin: anh mù được phép lạ đã tin Chúa Giêsu.  Còn những người Pharisêu thấy phép lạ nhưng không tin Chúa.

Đây là một phép lạ đặc biệt chưa từng có trong nhân loại.  Cho đến ngày nay, mặc dầu y khoa rất tiến bộ nhưng vẫn còn bó tay trước những người mù bẩm sinh.  Còn đối với những người vì một lý do nào đó bị mù lòa thì y khoa có thể dùng một loại ra đa hay dùng con mắt của người khác thay vào thì có thể thấy được.  Trường hợp anh mù trong Tin Mừng, Chúa Giêsu không làm thế, Ngài không thay mắt cho anh, Ngài dùng quyền năng Thiên Chúa để làm một phép lạ phi thường cho anh được sáng mắt.  Nhưng trên hết con mắt đức tin của anh được bừng sáng, anh nhận ra Đức Kitô mà nhiều người sáng mắt không nhận ra.

Theo ý nghĩa tượng trưng, trong phạm vi thiêng liêng, bệnh mù về tinh thần là tình trạng mê muội của những người sống trong tội lỗi và tình trạng mù quáng của những kẻ cố chấp.  Vậy hình thức thứ nhất của bệnh mù về tinh thần là tội lỗi, nó che lấp mắt linh hồn làm cho linh hồn không nhận ra Chúa và cũng chẳng nhận ra thánh ý Chúa.  Vì thế, Kinh Thánh gọi những người sống trong tội lỗi như ngồi trong chỗ tối tăm, ngồi trong bóng đêm, ngồi trong bóng sự chết.  Một hình thức khác của bệnh mù tinh thần là sự cố chấp, tức là bảo thủ trong sự lập luận sai lầm hay gàn dở của mình và nhất định không chịu phục thiện.  Chính vì thế mà nhiều lần Chúa Giêsu đã gọi những người Pharisêu là những kẻ mù quáng, bài Tin Mừng hôm nay là một điển hình.  Chúa đã nói: “Tôi đến thế gian này chính là để những kẻ không xem thấy thì được xem thấy, còn những kẻ xem thấy sẽ trở nên đui mù.”  Chúng ta thường nói về những người cố chấp: “Không ai điếc nặng cho bằng kẻ không muốn nghe”, thì chúng ta cũng có thể nói về những người mù tinh thần: “Không ai mù quáng nặng cho bằng kẻ mở mắt mà không muốn xem.”

Chúng ta có đang sống trong tình trạng mù lòa về tinh thần không?  Chúng ta tội lỗi và cố chấp ư?  Và hiện giờ chúng ta vẫn còn cố chấp trong tình trạng đó ư?  Không được đâu.  Chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu để Ngài thắp sáng cuộc đời chúng ta như Ngài đã thắp sáng cuộc đời người mù xưa kia.  Nói khác đi, trên đời này không ai có thể giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, vì lý do ai cũng có tội, chỉ có một Đấng không có tội gì, tuyệt đối chí thánh, mới có quyền cứu giúp chúng ta mà thôi, đó là Chúa Giêsu.  Vấn đề là chúng ta có bằng lòng đến với Chúa không?

Người mù sung sướng biết bao khi đôi mắt anh mở ra và nhìn thấy Chúa Giêsu, vị ân nhân vĩ đại của mình.  Chúa đã thắp sáng đời anh.  Trong Mùa Chay, chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu, vị đại ân nhân của chúng ta, để Chúa mở mắt tinh thần cho chúng ta, để Chúa thắp sáng đời chúng ta.

Sưu tầm

From: Langthangchieutim

BIẾT DỨT KHOÁT ĐỨNG DẬY VÀ TRỞ VỀ

BIẾT DỨT KHOÁT ĐỨNG DẬY VÀ TRỞ VỀ

Chúa nhật IV Mùa Chay mời gọi chúng ta cảm nhận được và nhất là sống được trong niềm vui, niềm hạnh phúc của một người vừa thoát một hoạn nạn, một đau buồn, một cơn ác mộng và đang sống trong một thực tế an toàn và thanh thản.  Có bao giờ chúng ta cảm được kinh nghiệm đó chưa?  Đó là kinh nghiệm của một người tưởng mình mắc bệnh nan y đang chờ chết, nhưng sau khi đi khám bác sĩ bảo không có gì đáng ngại, sẽ khỏi.  Đó là kinh nghiệm của hai vợ chồng cắn đắng nhau, gây gỗ nhau tưởng đã đi đến chỗ đổ vỡ, nhưng sau đó tìm lại được sự tha thứ, sự giải hòa và ôm nhau trong nước mắt.  Đó là kinh nghiệm của người vừa an toàn thoát khỏi một tai nạn kinh hoàng, trong những trường hợp đó, chúng ta sẽ thấy thấm thía khi hát lên thánh vịnh 124: “Hồn tôi như cánh chim đã vượt thoát bẫy của người đánh chim, bẫy đã tan tành muôn mảnh, còn chúng tôi, chúng tôi đã thoát.”

Bài đọc thứ nhất trích từ sách Giosuê kể lại sự vui mừng hạnh phúc của dân Do Thái sau khi thoát khỏi nô lệ Ai Cập và nhất là sau khi đặt chân đến miền Đất Hứa.  Không còn nữa những ngày lang thang sa mạc gian lao, nguy hiểm.  Dân Chúa đã về đến quê hương Chúa đã hứa ban cho Abraham làm gia nghiệp, nơi đó tổ tiên của họ là Abraham, Isaác, Giacóp đã sống.  Họ đã xây dựng lại, đã khai khẩn đất đai làm mùa và nhất là đã bắt đầu tiêu dùng những thổ sản quê hương, từ ruộng đất và lao công của họ.  Vui hưởng ân lành của Chúa cảm thấy hạnh phúc tràn trề.  Trong tình yêu thương săn sóc của Chúa, họ đã hát lên thánh vịnh 33 dùng làm đáp ca “Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt.  Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn.”

Nơi bài đọc thứ hai thánh Phaolô đã nhắc cho tín hữu thành Côrintô một hạnh phúc to lớn, không hạnh phúc, không niềm vui nào có thể so sánh được.  Đó là hạnh phúc của con người trở thành tạo vật mới, trở thành con Chúa trong Chúa Giêsu Kitô.  Công cuộc trở thành tạo vật mới đó được thực hiện nhờ sự giao hòa lại cùng Thiên Chúa.  Tội lỗi làm cho con người sống xa Chúa, cắt đứt mọi liên lạc cùng Chúa, cuộc đời bị mất hướng, đời sống trở thành vô nghĩa, nhất là nguy hiểm diệt vong đang chờ đón.  Nhưng may mắn cho nhân loại, cho chúng ta, thánh Phaolô bảo: “Vì Chúa Kitô, chúng tôi van nài anh chị em hãy giao hòa lại với Thiên Chúa, Đấng không hề biết tội thì Thiên Chúa làm cho nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên công chính trước Thiên Chúa.”

Không còn niềm vui nào bằng, từ tội lỗi trở thành công chính, từ nô lệ sự dữ trở thành con Thiên Chúa, từ đứng bên bờ diệt vong trở thành sống đời đời, trong ân sủng và tình thương.  Niềm vui được cứu thoát nô lệ Ai Cập về Đất Hứa của dân Do Thái trong sách Giôsuê, nơi bài đọc thứ nhất không thể nào so sánh được với niềm vui to lớn của con người từ nô lệ tội lỗi trở về làm con cái Thiên Chúa.

Đến bài Phúc Âm, Chúa Giêsu đưa ra một thí dụ tuyệt vời, rõ ràng dễ hiểu và nổi tiếng, ai cũng biết cả.  Để an ủi để khích lệ người tội lỗi hãy biết suy nghĩ, hãy biết dứt khoát đứng dậy và mạnh dạn tuyên bố: “Tôi muốn ra đi trở về với Cha tôi,” Chúa Giêsu đưa ra hai người con tiêu biểu cho hai cuộc trở về.  Người con phung phá trở về trong tình yêu của cha mình, của mái ấm gia đình.  Người con cả cần phải trở về trong tình anh em, phải biết tha thứ cho em mình, phải biết hòa nhập vào niềm vui của gia đình.  Sự trở về trong tình anh em này cũng có một tầm quan trọng giống như sự trở về cùng tình cha con.  Người con cả dầu tự hào là luôn sống trung thành với Cha, nhưng nếu khước từ tình anh em, thì anh vẫn là người ngoại cuộc không vào nhà và không cùng chung hưởng hạnh phúc niềm vui của gia đình.  Nếu anh không vào chính là tự ý anh không vào.  Người cha vẫn luôn mở rộng cửa nhà, mở rộng vòng tay, mở rộng cõi lòng năn nỉ anh.

Vậy niềm vui thật của cuộc trở về trong tình yêu thương của Chúa phải có hai chiều kích, trở về cùng Thiên Chúa là Cha, và trở về cùng anh chị em của mình, chính là tha thứ, làm hòa lại với nhau, giải tỏa những hận thù và sống trong tình yêu thương.  Đó là niềm vui thật, niềm vui mà ca nhập lễ kêu mời “Mừng vui lên hỡi Giêrusalem, tề tựu cả về đây hỡi những ai hằng mến yêu chân thành.  Các bạn đang sầu khổ, nào hớn hở vui mừng hân hoan tận hưởng niềm an ủi chứa chan.”

Để có việc làm cụ thể trong tuần này, tôi noi gương người em trong gia đình nơi bài dụ ngôn của Chúa Giêsu.  Tôi phải làm một hành động chứng tỏ tôi nhất định đứng dậy lên đường trở về nhà cha tôi, để sống lại trong hạnh phúc của tình yêu thương nồng thắm của Người.  Hành động đó có thể là một sự dốc lòng từ bỏ một tật xấu đã từng làm tôi đau buồn, đã kéo ghì tôi trong tội lỗi hay đã làm cho những người thân yêu trong gia đình tôi phải khổ.  Và kế đó học lấy bài học của người anh: Tôi không đứng để cho Cha tôi phải năn nỉ.  Tôi hãy biết tha thứ cho người khác, hãy hòa mình vào niềm vui của gia đình, nhất là chia sẻ niềm vui của Thiên Chúa là Cha tôi khi một người anh chị em tôi trở về nhà Cha.

Radio Veritas Asia – Trích trong “Suy Niệm Lời Chúa”

From: suyniemhangngay1 & NguyenNThu

VỀ NHÂN ĐỨC VÀ TỘI LỖI

VỀ NHÂN ĐỨC VÀ TỘI LỖI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có một câu châm ngôn nói rằng: Không gì cho ta cảm giác tốt đẹp hơn nhân đức.  Đây là chân lý sâu sắc, nhưng còn một khía cạnh ẩn giấu nữa.  Khi làm việc tốt, chúng ta thấy bản thân mình tốt đẹp.  Nhân đức thực sự là phần thưởng cho chính nó rồi, và như thế là tốt.  Nhưng cảm giác mình công chính có thể sớm biến thành cảm giác tự đại.  Không gì cho ta cảm giác tốt đẹp hơn nhân đức, nhưng sự tự đại có vẻ cũng cho ta cảm giác tốt đẹp nữa.

Chúng ta thấy điều này được biểu lộ rõ trong dụ ngôn của Chúa Giêsu về người thu thuế và người Pharisiêu.  Người Pharisiêu thực hành nhân đức, ông hành động đúng theo những điều được dạy, nhưng ông không có lòng khiêm nhượng, cũng không thấy mình cần Thiên Chúa và lòng thương xót, mà chỉ có thái độ tự đại và xét đoán người khác.  Tất cả chúng ta cũng thế, cũng dễ trở thành người Pharisiêu này.  Mỗi khi thấy người khác đang phải đấu tranh để sống đẹp, chúng ta nói: Nhờ ơn Chúa tôi mới được thế này.  Thái độ có vẻ khiêm nhượng đó có thể mang hai ý nghĩa rất khác nhau. Nó có thể là một lời tạ ơn chân thành vì đã được những ơn mình không xứng đáng, hoặc có thể dễ dàng là một thái độ tự đại về sự vượt trội của mình so với người khác.

Những ngòi bút thiêng liêng kinh điển như Gioan Thánh Giá, khi nói về những thử thách chúng ta gặp phải trên con đường môn đệ, đã nói về một thứ gọi là: Lỗi của những người nằm ngoài hoán cải ban đầu.  Ý nghĩa của câu này là: Chúng ta không bao giờ thoát được cuộc đấu tranh với tội lỗi.  Khi chúng ta trưởng thành, thì tội lỗi càng tinh vi hơn.  Ví dụ như, trước khi trưởng thành, chúng ta xác định được bảy mối tội đầu, và chúng thể hiện nơi chúng ta một cách nguyên sơ và rõ ràng.  Chúng ta thấy điều này nơi trẻ con, thanh thiếu niên.  Với họ, kiêu ngạo rõ ràng là kiêu ngạo, ghen tỵ rõ ràng là ghen tỵ, ích kỷ rõ ràng là ích kỷ, tham lam rõ ràng là tham lam, và nóng giận rõ ràng là nóng giận.  Chẳng có gì tinh vi hay ẩn giấu cả, cái lỗi nằm rành rành ra đó.

Nhưng khi chúng ta vượt qua được dạng nguyên sơ của những tội này, thì chúng lại đội những lốt khác tinh vi hơn trong cuộc đời mình.  Vì thế, chẳng hạn như, khi chúng ta khiêm nhượng, thì chúng ta lại trở nên kiêu ngạo và tự đại vì sự khiêm nhượng của mình.  Và tôi thấy từ chính kinh nghiệm của mình rằng: Không một ai thiển cận và xét đoán hơn một người mới trở lại đạo hay một người mang ngọn lửa nhiệt thành ban đầu.

Tội có những phức tạp của nó.  Một số khái niệm ngây thơ của chúng ta về tội và sự khiêm nhượng cũng cần được xem xét lại.  Ví dụ như, chúng ta thường nuôi một khái niệm lãng mạn hóa rằng, người có tội thì khiêm nhượng, nhận thức mình cần được tha thứ, và mở lòng ra với Chúa.  Và chúng ta có thể thấy điều này trong Phúc âm.  Khi Chúa Giêsu rao giảng, những người Pharisiêu đương cự với Chúa và thông điệp của Chúa, còn những người thu thuế và gái điếm lại mở lòng hơn với Ngài.  Vậy từ đó chúng ta có thể đặt một câu hỏi: Có phải tội lỗi còn khiến chúng ta nhận ra mình cần Chúa hơn cả nhân đức nữa?

Đúng, khi tội đó thành thật, khiêm nhượng, biết thú nhận và sám hối, hoặc là khi hành động sai trái của chúng ta bắt nguồn từ việc bị tổn thương, bị lợi dụng.  Không phải mọi tội lỗi đều như nhau.  Có tội ngay thẳng và tội bất lương.

Là con người, chúng ta yếu đuối và thiếu sức mạnh để luôn làm theo những gì tốt đẹp nhất trong con người mình.  Đôi khi chúng ta chịu thua cám dỗ và yếu đuối.  Để giải thích về việc chúng ta phạm tội, chỉ cần nói điều này thôi.  Chúng ta là con người!  Và đôi khi, người ta rơi vào tình trạng tội lỗi vốn không thật sự do tay họ gây ra.  Họ bị lợi dụng, bị bắt sống trong hoàn cảnh tội lỗi không do họ chọn lựa, họ là nạn nhân của nạn buôn người, là nạn nhân của hoàn cảnh bất công trong xã hội hay gia đình, hoặc họ bị tổn thương quá nặng.  Trong những hoàn cảnh đó, một hành động sai lầm, là vấn đề sống còn chứ không phải vấn đề chọn lựa tự do.  Một bà đã giải thích cho tôi rằng: “Tôi đơn giản là một con chó, cắn để khỏi bị cắn thôi.”  Trong những trường hợp này, thường thì dưới lớp vỏ chai đá có một tâm hồn vẫn ngây thơ vô tội biết mình cần lòng thương xót Chúa.  Có tội ngay thẳng.

Và có tội không ngay thẳng, là thứ tội biện luận, luôn chìm trong kiêu ngạo nên không thể thú nhận mình tội lỗi.  Kết quả là, nó trở thành một tâm hồn đầy xét đoán, cay đắng, và chai đá.  Khi tội biện luận, thì sự cay đắng tiếp vào, kéo theo sự ghét bỏ với nhân đức mà nó đã không giữ được.  Khi chúng ta biện luận, thì bản năng luân lý của chúng ta không bị lừa phỉnh đâu.  Nó phản ứng lại và trừng phạt bằng cách khiến chúng ta ghét bỏ mình.  Và khi ai đó ghét bỏ mình, thì sự căm ghét đó sẽ lớn lên và trở thành ghét bỏ người khác, và nhất là ghét bỏ nhân đức mà mình đã không giữ được.  Ví dụ như, không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều người ngoại tình thường cay độc vô cùng khi nói đến đức khiết tịnh.

Thấy mình yếu đuối và tội lỗi, có thể khiến chúng ta cúi mình khiêm nhượng, và mở lòng chúng ta đón nhận lòng thương xót Chúa.  Nhưng nó cũng có thể biến tâm hồn chúng ta chai đá, cay đắng và xét đoán.  Không phải mọi người có tội đều cầu nguyện như người thu thuế trong Phúc âm.

Nhân đức khiến chúng ta biết ơn.  Tội lỗi khiến chúng ta khiêm nhượng.

Đúng là thế.  Nhưng không phải lúc nào cũng thế.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From Langthangchieutim

BÀI HỌC NƠI HOANG ĐỊA 

BÀI HỌC NƠI HOANG ĐỊA 

“Để đón nhận Hồng Ân của Chúa, bạn phải vào hoang địa và ở đó một lúc.”

Chân phước Charles de Foucauld

Mọi Kitô hữu đều phải vào hoang địa một lúc nào đó.  Hoang địa là sa mạc, là khoảng đất trống, khô khan, và “hoang địa” cũng là khi chúng ta cảm thấy sự mất mát, lầm lẫn, đau lòng, cô đơn.

Tôi đã vào hoang địa nhiều lần – có khi là một ngày, có khi là một tháng.  Nhức nhối lắm.  Khó chịu lắm.  Cần phải biết từ bỏ chính mình và các ước muốn.  Nhưng qua nhiều năm, tôi thấy rằng những lúc đó có sức biến đổi nhiều nhất.  Khi tôi thực sự nghĩ về điều đó, những lần mà tôi cảm thấy gần gũi với Thiên Chúa nhiều nhất.

Trong Mùa Chay này, thời gian mà Giáo hội tiến vào sa mạc của sự từ bỏ mình và sám hối.  Chúng ta có thể ghi nhớ 5 bài học quan trọng này để củng cố đời sống và tiến bước trên đường lữ hành trần gian:

  1. Chúng ta luôn cần ơn Chúa.  Không có gì khiêm nhường hơn là thu mình vào nơi tĩnh lặng.  Hầu như tôi luôn vào sa mạc ngay khi tôi nghĩ mình có những điều cần giải quyết.  Ngẫu nhiêu chăng?  Có thể là không.  Chỉ khi Thiên Chúa tước lột hết thì chúng ta mới hiểu được chúng ta yếu đuối thế nào khi không có Ngài.  Chúng ta nhận ra ý chí mình quá nhu nhược, nên cần được an ủi về thể lý, tình cảm, hoặc tâm linh.  Chúng ta chịu đau khổ một thời gian vì không được an ủi, nhưng khi Thiên Chúa phục hồi những điều đó, chúng ta biết là phải yêu mến Ngài và nhận biết lòng nhân lành của Ngài.     
  2. Trưởng thành từ đau khổ.Lửa thử vàng, gian nan thử sức.  Khi ở trong sa mạc, tôi phải thực hành các nhân đức mà tôi muốn phát triển nhưng tôi quá yếu đuối hoặc cố chấp.  Chỉ khi Thiên Chúa thúc ép tôi bằng cách nhẹ nhàng của Ngài thì tôi mới thực sự khả dĩ phát triển trong Ngài.  Bất kỳ nỗ lực nào Ngài muốn chúng ta làm cũng đều là cơ hội để chúng ta trưởng thành hơn.                                   3. Thiên Chúa dùng sự gian khổ để kêu gọi chúng ta kết hiệp mật thiết với Ngài. Thi thoảng Thiên Chúa kéo chúng ta vào hoang địa để chúng ta gặp gỡ và trò chuyện thân mật với Ngài: “Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình” (Hs 2:14).  Khi nào chúng ta thoát ly mọi thứ chia trí trần thế hoặc đau khổ, chúng ta mới có thể liên kết với Ngài đúng mức.  Một số an ủi tâm linh có được từ những lúc đau khổ và cô đơn.  Có vẻ như đó là cách duy nhất mà Thiên Chúa có thể bước vào tâm hồn chai cứng của chúng ta. 
  3. 4. Chúng ta không một mình, dù có vẻ như chúng ta bơ vơ.  Ở trong hoang địa tâm linh hoặc tình thần có vẻ là nơi cô đơn nhất thế gian.  Nhưng ngay trong khoảng trống vắng đó, chúng ta lại khả dĩ nhớ rằng chúng ta thực sự không bao giờ một mình, vì Thiên Chúa luôn hiện diện để hướng dẫn, an ủi, và nâng đỡ chúng ta.                                                                                                                     5.  Mọi sự sẽ ổn. Sau cơn mưa, trời lại sáng.  Thiên Chúa biết rõ giới hạn của chúng ta.  Ngài biết thập giá của chúng ta nặng nề, chúng ta cần trợ giúp.  Đó là lý do Ngài ân xá cho chúng ta, chúng ta được đổi mới về sức mạnh, và chúng ta lại dễ dàng tín thác vào Ngài.  Hãy nhớ rằng cuối cùng dân Do Thái cũng vào Đất Hứa sau 40 năm dài đằng đẵng nơi hoang đại.  Và chúng ta cũng vậy.

Trong Mùa Chay này, và những lúc khác trong cuộc sống, khi chúng ta cảm thấy trống vắng hoặc khô khan, đừng tìm cách chạy trốn, mà hãy tự hỏi mình: “Thiên Chúa muốn dạy tôi điều gì trong lúc khó khăn?  Ngài muốn tôi trau dồi nhân đức nào: Tín thác, từ bỏ mình, khiêm nhường?  Ngài đang lột bỏ cái gì nơi tôi để tôi có thể bước theo Ngài sát hơn: Kiêu ngạo, ý định, ước muốn?”

Chúng ta hãy ấp ủ sự biến đổi yêu thương mà Đức Kitô muốn nơi chúng ta trong thời gian này, khi chúng ta nghĩ rằng không có gì xảy ra hoặc khi chúng ta đi về phía hư vô, vì đó là lúc chúng ta trở nên hoàn thiện nhất trên hành trình nên thánh.  Hoang địa có thể lạnh lẽo và trống vắng.  Nhưng nếu chúng ta bước đi trên cát bên Đức Kitô, nắm lấy tay Ngài, chúng ta sẽ mạnh mẽ hơn và xinh đẹp hơn trước.

Amy Atkinson

Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)

  Mời đọc cuốn sách nổi tiếng “Nhà trừ quỷ kể truyện” của Lm. Grabiele Amorth

  Mời đọc cuốn sách nổi tiếng “Nhà trừ quỷ kể truyện” của Lm. Grabiele Amorth

Thân chào các bạn trong Chúa Kitô,

Tôi tìm được bản dịch tiếng Việt của cuốn sách “An Exorcist Tells His Story” do Lm. Grabiele Amorth (Chief Exorcist of Rome) viết và được thôi thúc chia sẻ với các bạn trong Mùa Chay 2019:

https://suyniemhangngay.net/2016/09/17/nha-tru-quy-ke-truyen/

Phần Giới Thiệu:

Bạn biết gì về vấn đề lên đồng, cầu cơ, nghề phù thủy, bùa ngải, ma thuật đen… Những cách người ta bỏ bùa, với những ảnh hưởng cùng những vật lạ liên quan đến vấn đề này. Nguyên nhân vấn đề tự tử. Những hiện tượng bàn ghế tự nhảy múa hay những vật gì đó trong nhà tự chuyển động. Những bóng ma, những ngôi nhà bị quỷ ám. Cách phân biệt giữa người bị tâm thần với người bị quỷ nhập. Mục đích chính yếu của các con quỷ. Các con quỷ hù dọa người trừ

quỷ… Những vấn đề trên sẽ được giải đáp thỏa đáng với nhà trừ quỷ lừng danh người Ý – , ông đã có rất nhiều kinh nghiệm và đã cho xuất bản nhiều sách về ma quỷ. Cho đến năm 2010, ông đã xử lý hơn 70.000 trường hợp liên quan đến vấn đề này. Mời đọc cuốn sách nổi tiếng “Nhà trừ quỷ kể truyện” của ngài Gabriele Amorth. Qua đó bạn sẽ biết được những bí ẩn, sau những hiện tượng như vậy. 

Gần đây đã rộ lên những hiện tượng mà Lm. Amorth gọi là “ma thuật trắng” của thuyết  “thông linh”, “tâm linh”…  quảng cáo việc trừ tà, giải trừ thư ếm, bùa ngải và việc triệu hồn, soi căn, etc. mà không ít các Kitô hữu, đặc biệt là thanh thiếu niên tò mò tìm hiểu và tham gia. Thế giới bùa ngải, phù thủy và ma thuật là có thật và trận chiến thiêng liêng đang diễn ra ở mức độ quyết liệt do nạn phá thai tràn lan, văn hóa sự chết đang hủy hoại mọi tầng lớp trong xã hội và gia đình! Xin phổ biến cuốn sách đáng đọc này đến người thân bạn bè, đặc biệt là giới trẻ. Bản tiếng Anh có thể mua trên Amazon, Barnes & Noble, etc.

Thân chúc các bạn một Mùa Chay thánh thiện và gặt hái nhiều hoa trái của Chúa Thánh Thần!

Trong Hai Thánh Tâm,

Giuse Trần Thái Hoàng

From: Hoang Tran & Lucie1937