CẦN CẢM NHẬN ĐỂ CẢM TẠ THIÊN CHÚA MUÔN ƠN LÀNH CHÚA BAN CHO TA

CẦN CẢM NHẬN ĐỂ CẢM TẠ THIÊN CHÚA

MUÔN ƠN LÀNH CHÚA BAN CHO TA

 Tuyết Mai

Tình Yêu của Thiên Chúa thì thật cả vũ trụ, mọi tạo vật và con người đều hiểu vì đó là sự hiển nhiên hiện hữu trước mắt chúng ta. Nhưng bởi vì con người có tánh vô cảm và bội ơn; không bao giờ muốn nhớ ơn của ai đã làm cho mình mà luôn kiêu ngạo nghĩ rằng tất cả mọi thứ chúng ta có và sở hữu là do tài năng của chúng ta đã tạo ra chúng.

**

Nên điều mà chúng ta hay làm nhất là muốn chứng minh cái Tôi của mình bằng cách đối xử tệ bạc với người trong gia đình nhất là luôn coi mình là nhân vật quan trọng, đem tiền về nhà và chu chấp đầy đủ cho tất cả mọi người. Và hẳn nhiên là chúng ta cảm thấy nếu thiếu mình thì chắc mọi người chết đói hết; do cách nghĩ như thế nên gia đình luôn là nơi để cho chúng ta xả stress cách rất bình thường. Bạo hành người trong gia đình từ lời nói cho tới hành động làm tổn thương mọi người (cả đời). Luôn gây xào xáo, bất bình trong những chuyện rất nhỏ; luôn tỏ ra bất mãn và sau cùng là đưa đến chuyện bỏ nhau.

**

Nhưng trên hết mọi sự thì chúng ta cần để Thiên Chúa làm chủ cuộc đời và căn nhà tâm hồn của chúng ta. Chúng ta cần nên minh bạch và cần cẩn trọng tới những căn phòng chứa những thứ đồ gian dối, lấy của người làm của mình thì chẳng khác nào chúng ta nuôi quỷ trong nhà và để chúng điều khiển; thì lâu dần chúng ta khó đuổi chúng ra khỏi nhà được lắm!? Sự cẩn trọng là cần thiết như Chúa Giêsu luôn khuyên con cái Chúa là hãy luôn “Tỉnh thức” kẻo khi để trộm vào nhà thì chúng ta cũng sẽ phải chết thôi.

**

Có khổ không khi chúng ta hy sinh quá nhiều thời giờ và long óc để mang cho được những thứ vô bổ, vô ích chất chứa vào nhà. Để cho mọi con mắt của người xấu luôn dòm ngó, rình rập và tính toán cái ngày chúng sẽ tìm cách đột nhập vào trong; có lẽ chúng cũng cần thời gian dài để xem xét giờ đi, giờ về của mọi người trong nhà … Rồi đến một ngày không ngờ nhất thì cả gia đình cũng sẽ phải đối đầu với chúng và hậu quả thì có thể nhiều người bị mất mạng!?

**

Đối với cuộc sống nơi trần gian này thì chúng ta hằng ngày phải đối đầu với sự dữ, với những đam mê, nghiện ngập khó tránh khỏi… Duy chỉ có Thiên Chúa, có Mẹ Maria mới có thể giúp chúng ta tai qua nạn khỏi mà thôi và dần nhờ ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần chúng ta có thể cảm nhận được Ơn của Chúa xuống từng ngày sống mà không cần đòi hỏi phải có nhiều tiền đâu. Cũng giống như chúng ta cảm nhận được tình bằng hữu biết trân quý nó, trân trọng giá trị của nhau thì cũng gần giống vậy.

**

Chỉ có khác là một người thì phải luôn có trước mặt chúng ta để nhìn thấy, nghe và chia sẻ buồn vui với. Còn Thiên Chúa của chúng ta thì Người luôn Có Đó ngay sát bên chỉ cần trong sự thinh lặng ta cũng có thể nghe được Người. Hơi thở nhẹ nhàng của Người như cơn gió nhè nhẹ thổi qua mái tóc hoặc nụ hôn phớt trên má cho ta cảm thấy ấm lòng.

**

Hạnh Phúc thay cho hết thảy chúng ta vì có Người để yêu thương và là Thiên Chúa rất quyền năng. Người là Khiên Thuẫn và là Thành Trì Kiên Cố để chúng ta ẩn náu. Có Người, ta không sợ một ai hiếp đáp. Người chẳng bao giờ xa ta nửa bước. Khi ta buồn thì Người ngồi đó để cùng cảm và cùng khóc với ta. Người cũng biết khi con người quá đau khổ thì chỉ biết trách móc Người thôi; nhưng người chẳng những không giận mà luôn tha thứ cho ta.

**

Khi ta đứng trước bờ vực thẳm thì cũng chính Người lôi kéo ta trở về cùng Người để Người an ủi và Lắng Nghe. Còn giá trị tinh thần nào cho bằng là Thiên Chúa vô cùng Yêu Thương chúng ta. Còn an toàn nào cho bằng khi ta sống luôn bội bạc với Người mà Người vẫn không mảy may ngoảnh mặt mà chối bỏ chúng ta. Đường đời thì ai cũng giỏi cũng dầy dạn những kinh nghiệm vì ngay cả một đứa con nít khôn ranh chúng cũng hiểu đời là bội bạc ở tuổi rất sớm cơ mà. Nhưng Tình Yêu Thiên Chúa thì mãi muôn đời vẫn không đổi thay.

**

Thế thì do đâu mà trần gian thiếu những tấm gương sáng sống chung quanh mà chỉ thấy những Pharisêu, những thành phần đạo đức giả của mọi thời đại – luôn sống ngược lại với những gì Thiên Chúa răn dạy? Do đó mà Lời Chúa thì luôn là kim chỉ nam; là đường, là sự thật và là sự sống. Nên con cái Chúa sẽ được chỉ dạy cho thấy ngay đâu là điều lành cần làm và đâu là điều dữ cần phải tránh xa (thành phần xấu xa).

**

Hy vọng tất cả chúng ta hằng ngày dành chút thời giờ cho Chúa như khi chúng ta thường xuyên đi bộ hàng giờ để tập thể dục vậy. Không gì hạnh phúc cho bằng chúng ta đem mọi thứ, mọi điều và mọi chuyện để than thở, tâm sự và giải bày cùng Chúa và nhờ Người giúp cho. Rồi thì phó mặc tất cả gánh nặng ngoài khả năng cho Chúa. Bảo đảm dần chúng ta sẽ cảm nhận được Bình An và Tình Yêu của Chúa trong tâm hồn và trong trái tim ta là Hồng Ân không thể thiếu. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

19 tháng 9, 2020

KỶ NIỆM 18 NĂM NGÀY ĐỨC CỐ HỒNG Y PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN THUẬN VỀ NHÀ CHA

KỶ NIỆM 18 NĂM NGÀY ĐỨC CỐ HỒNG Y PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN THUẬN VỀ NHÀ CHA

Thứ Tư (16/9/2020), tại giáo xứ Giang Xá, Đức Tổng Giám Mục (TGM) Giuse Vũ Văn Thiên đã chủ sự Thánh lễ kỷ niệm 18 năm ngày về quê trời của Đức Hồng Y (ĐHY) Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Hiệp dâng trong Thánh lễ có Đức cha Lôrensô Chu Văn Minh, Cha Tổng đại diện Antôn Nguyễn Văn Thắng, quý Cha đồng tế, quý Tu sĩ nam nữ và đông đảo tín hữu – những người yêu mến Đấng Đáng Kính.

Lúc 9h30, cộng đoàn hành hương có dịp gặp gỡ các nhân chứng đã từng sống gần gũi với Đức cố Hồng Y. Mọi người có mặt đều rất cảm kích về gương sống chứng tá sáng ngời.

Giang Xá là Giáo xứ được Chúa thương cách đặc biệt khi được ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận hiện diện trong thời gian 4 năm 5 tháng 12 ngày. Ngỏ lời trước Thánh lễ, Đức Tổng Giuse nhấn mạnh đây là hồng ân trọng đại Thiên Chúa ban mà mỗi giáo dân nơi đây, chúng ta phải không ngừng tạ ơn.

Trong phần chia sẻ Lời Chúa, Đức TGM Giuse mời gọi các giáo hữu noi theo các nhân đức của Đấng Đáng Kính. Ngài đã sống hy vọng cách trọn hảo qua 13 năm ngục tù. Niềm hy vọng ấy được gìn giữ bằng đời sống cầu nguyện, kết hiệp mật thiết với Hy tế Thánh Thể và với Mẹ Maria trong niềm xác tín “Sống trọn vẹn từng giây phút và làm cho nó đầy tình thương”.

Sau Thánh lễ, cộng đoàn cùng hành hương trở về cầu nguyện nơi ngôi nhà Đức cố Hồng Y đã ở năm xưa, nơi lưu lại biết bao kỷ vật của ngài. Dấu ấn tình yêu và phục vụ của ngài còn ghi đậm trong mỗi người.

“Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp.

Sống mỗi phút cho tốt đời sẽ thánh.

Đường hy vọng do mỗi chấm hy vọng.

Đời hy vọng do mỗi phút hy vọng.”

18 năm qua, hương thơm nhân đức và đời sống thánh thiện của ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận không ngừng được tỏa lan. Ước mong sao khi đến với ngài, mỗi người biết để cho niềm Hy Vọng ấy trở nên xương nên thịt của mình, để hết những ai chúng ta gặp gỡ cũng được gieo vào lòng niềm Hy Vọng đời đời.

https://tonggiaophanhanoi.org/tin-tuc/tin-giao-phan/18532-ky-niem-18-nam-ngay-duc-co-hong-y-phanxico-xavie-nguyen-van-thuan-ve-nha-cha.html

BTT Giáo xứ Giang Xá.

MỘT NỖI BUỒN THÁNH, MỘT NỖI BUỒN THIÊN ĐÀNG

MỘT NỖI BUỒN THÁNH, MỘT NỖI BUỒN THIÊN ĐÀNG

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Về phần Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà, để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ.”

Kính thưa Anh Chị em,

Ngay sau lễ Suy Tôn Thánh Giá, Giáo Hội cử hành lễ Mẹ Sầu Bi, một lễ sâu sắc với nhiều ý nghĩa và rất thực.  Cùng với Đức Mẹ, hôm nay, chúng ta đi vào nỗi buồn sâu xa của trái tim ngài, để hiểu ngài, để yêu ngài; từ đó, cũng để cho tâm tư của tâm hồn mình được biểu lộ.

Với các mầu nhiệm Vui, Thương, Mừng, Sáng, của chuỗi Mân Côi, đã bao lần, chúng ta ngắm nhìn Đức Mẹ qua những tâm tình của ngài; thế nhưng, chưa bao giờ chúng ta nghe nói đến việc Đức Mẹ buồn.  Thế mà những gì cụ già trong đền thờ tiên báo về Chúa Giêsu, “mục tiêu cho người ta chống đối” là một thực tế rất buồn.  Thực tế này được Đức Mẹ ghi đậm trong lòng một cách sâu sắc; và hẳn trên bước đường rao giảng của Con, Mẹ đã chứng kiến sự chống đối người ta dành cho Ngài thế nào và đỉnh điểm là cái chết của Con trên thập giá.  Vì thế, đã yêu con, Đức Mẹ càng yêu Con nhiều hơn; Mẹ yêu Chúa Giêsu bằng tình yêu trọn vẹn của một người mẹ, và thật thú vị, chính tình yêu trọn vẹn này lại trở nên nguồn gốc của một nỗi đau tâm hồn, và một nỗi buồn linh thánh sâu thẳm.  Tình yêu của Mẹ đã kéo Mẹ hiện diện can trường với Con trong những khổ đau cùng tột dưới chân thập giá và vì lý do đó, như Con đã chịu đựng bao nhiêu, Mẹ cũng phải chịu đựng bấy nhiêu.

Thư Do Thái hôm nay viết, “Dẫu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu.”  Chúa Giêsu đã vâng phục để làm con của Mẹ; Mẹ vâng phục để làm Mẹ của Giêsu.  Vì thế, nỗi đau của Chúa là nỗi đau của Mẹ, lưỡi gươm đâm thấu tim Chúa cũng là lưỡi gươm đâm thâu tim Mẹ; Mẹ đã học vâng phục đến cùng khi được hiệp thông với sự vâng phục của Con.

Vậy mà nỗi đau của Mẹ Maria không phải là nỗi đau của tuyệt vọng, nhưng là nỗi đau của tình yêu, nỗi đau của hiệp thông cứu độ; nỗi buồn của Mẹ Maria không phải là một nỗi buồn nhân thế, nhưng là một nỗi buồn thánh, nỗi buồn của thiên đàng.  Không như bao nỗi buồn khác, nỗi buồn của Mẹ, đúng hơn, là một sự chia sẻ sâu sắc về tất cả những gì Con mình phải chịu.  Trái tim Mẹ đã hoàn toàn hiệp nhất với trái tim của Con, do đó, Mẹ đã chịu đựng tất cả những gì Con chịu đựng và điều Chúa Con chịu đựng lớn lao nhất chính là tội lỗi của nhân loại, đây là sự chịu đựng của một tình yêu đích thực ở một mức độ sâu sắc nhất, đẹp đẽ nhất.

Hôm nay, khi kính nhớ Mẹ Sầu Bi, chúng ta được mời gọi sống hiệp nhất với nỗi buồn của Mẹ và của Chúa Giêsu, nỗi buồn do tội lỗi thế giới gây ra.  Những tội lỗi đó bao hàm tội lỗi của chúng ta, là những gì đã đóng đinh Con chí ái của Mẹ vào thập giá.  Chúng ta đau buồn vì tội lỗi; trước hết, tội lỗi của chính mình; sau đó, tội lỗi của người khác.  Nhưng một điều quan trọng cần biết là, nỗi buồn chúng ta trải qua vì tội lỗi cũng là nỗi buồn của tình yêu; một nỗi buồn thánh, mà cuối cùng, thúc đẩy và nhem lên nơi chúng ta một sự cảm thương, một lòng trắc ẩn cũng như một ước muốn hiệp nhất sâu sắc hơn với những anh chị em chung quanh mình, đặc biệt với những người đang thương tổn, những người đang vướng vào tội lỗi.  Nỗi buồn đó cũng thúc đẩy chúng ta từ bỏ tội lỗi của chính mình và đó là sự biểu lộ tâm tư đẹp đẽ nhất, đúng đắn nhất và đáng ước mong nhất.

Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Thuận nói, “Con trào trào nước mắt, đến với Mẹ, ‘Đức Bà an ủi kẻ âu lo’; con đau khổ ê chề, đến với Mẹ, ‘Đức Bà phù hộ các giáo hữu”; con tội lỗi ngã sa, đến với Mẹ, ‘Đức Bà bầu chữa kẻ có tội’ và chính con, sẽ trở thành một Maria khác, để đón tiếp mọi người đến trú ẩn và cũng như Mẹ, con sẽ là ‘nguồn sức sống, nguồn an vui, nguồn hy vọng’ của anh em con”.

Anh Chị em,

Chiêm ngắm nỗi buồn thánh nơi Đức Mẹ, chúng ta ước ao một nỗi buồn thánh trong lòng mình; nỗi buồn do tội của mình, tội của anh em.  Đó là điều Chúa muốn tâm tư mỗi người được tỏ lộ.  Hiệp thông với nỗi buồn thánh của Mẹ, chúng ta được mời gọi dâng hy tế đời mình mỗi ngày cùng với Đức Kitô trong thánh lễ; nhờ Ngài, dâng lên Thiên Chúa Cha hiến lễ tạ ơn thay cho nhân loại.

 Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con cảm nhận được một nỗi buồn thánh như nỗi buồn của Đức Mẹ; nhờ đó, con biết run sợ cho linh hồn con trước tội lỗi và từ đó, lòng trắc ẩn và thương cảm của con đối với anh chị em con ngày càng trở nên sâu sắc hơn”, Amen.

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

20 - Mary of Sorrows 3.jpg

Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha. (Hc 28:7)

Chúc bạn và gia đình ngày Chúa Nhật bình an và hạnh phúc nhé. Hãy cầu nguyện cho nhau.

Cha Vương

CN: 13/09/20

TIN MỪNG: Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha. (Hc 28:7)

SUY NIỆM: Thánh Augustinô đã từng nói, “Hãy tha thứ thì bạn sẽ được thứ tha. Hãy cho đi thì bạn sẽ lãnh nhận. Đây là đôi cánh của việc cầu nguyện nó sẽ giúp bạn bay đến Chúa.” Đã là con người thì dù có thánh thiện đến đâu cũng không tránh khỏi những khuyết điểm, dù có ác đến đâu cũng có những điểm tốt, nếu bạn nhìn thật kỹ. Cuộc sống là một đồng tiền có hai mặt, thiện và ác, tốt và xấu, bạn không thể nào tránh khỏi những xích mích là tổn thương đến nhau. Bạn phải là gì khi bạn bị tổn thương? Ôm ấp oán thù là con người, tha thứ là một sự lựa chọn—bạn ôm ấp oán thù hay chọn tha thứ? Là một người Ki-tô hữu Công Giáo, sống theo các giới răn của Chúa không phải là một điều dễ, nhưng nếu bạn bày tỏ lòng thương xót và tha thứ cho người khác trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, thì bạn cũng được Thiên Chúa đảm bảo cho bạn những điều đó. “Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em.” (Mt 7:2) Khi bạn chủ động chọn tha thứ là bạn đã thực sự cho đi, cho đi để được tự do, được bình an. Nếu như bạn nhường chỗ cho những oán hờn thì bạn sẽ bị nô lệ của sự oán hờn đó. Chúa không muốn bạn làm như vậy đâu. Thánh Phao-lô nói, “Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do. Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí. (2 Cr 3:17-18)

LẮNG NGHE: Thầy không bảo là [phải tha thứ] đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy. (Mt 18:22)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin ban cho con đôi cánh biết bay để con bay đến Chúa, cái cánh của “tha thứ”, cái cánh của “cho đi” và xin cho con niềm tin vững mạnh vào lòng khoan dung của Chúa, để con dám đến với Chúa mỗi khi yếu đuối lỗi lầm.

THỰC HÀNH: Ai là người mà bạn đang giận hờn và thù oán? Xin bạn hãy tìm ra một điểm tốt nơi họ và dâng lên Chúa lời nguyện xin ơn tha thứ.

httpv://www.youtube.com/watch?v=Yvm-NjQd3s8&feature=youtu.be&fbclid=IwAR2nv8dhPVxQPA61vZTc-V2sz1pWDtjZK-h_4J5-urnse5XiB77nS0P9aw4

Thánh Ca Hiền Thục | Hãy Thứ Tha

ĐỨC TIN CẦN CÓ VIỆC LÀM ĐỂ ĐỨC TIN ẤY LUÔN ĐƯỢC SỐNG MÃI

 ĐỨC TIN CẦN CÓ VIỆC LÀM ĐỂ ĐỨC TIN ẤY LUÔN ĐƯỢC SỐNG MÃI

Tuyết Mai

** Anh em thân mến, nếu ai nói mình có đức tin, mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích gì? Đức tin như thế có thể cứu được nó ư? Nếu có anh chị em nào không cơm ăn áo mặc, mà có kẻ trong anh em lại bảo họ rằng: “Chúc anh chị em đi bình an, và ăn no mặc ấm”, mà anh em lại không cho họ những gì cần dùng cho thân xác, thì nào có ích gì?. Về đức tin cũng vậy, nếu không có việc làm, là đức tin chết tận gốc rễ. Nhưng có người sẽ nói: “Anh, anh có đức tin; còn tôi, tôi có việc làm”. Anh hãy tỏ cho tôi thấy đức tin không việc làm của anh, và tôi sẽ lấy việc làm mà chỉ cho anh thấy đức tin của tôi. (Gc 2, 14-18).

** Chúng ta không dễ để hiểu được Đức Tin Sống hay Đức Tin Chết là như thế nào nếu trong chúng ta không hề có Ơn Chúa. Mà muốn có được Ơn Chúa thì bước đầu tiên của chúng ta là luôn có lòng sốt mến; yêu kính Chúa hết lòng, hết trí khôn và hết cả tâm trí của chúng ta. Khi nói đến Đức Tin có phải chúng ta cần sống sao cho trọn đạo với Chúa và với tha nhân?

** Chứ nói là sống cho Chúa mà chúng ta lại quá thiết tha, quá bận rộn với những sự việc nơi trần gian này để trở thành một con người sống vô cảm, vô tâm, vô ơn; đối xử thờ ơ, lạnh nhạt với người thân thiết trong gia đình đã từng ngày hy sinh vì chúng ta. Riêng đối với Thiên Chúa thì chúng ta càng tệ bạc hơn nữa là hằng ngày chúng ta liên tục tiếp nhận dưỡng khí là hơi thở thiết yếu cho sự sống của chính mình, do Chúa ban cho rất nhưng không nhưng không có đến một lời cảm tạ hay biết ơn Người gì cả.

** Sống có Đức Tin có phải chúng ta cần làm mọi sự việc như người đang thật sự sống là kết hiệp, quan tâm đến tất cả những người chung quanh; trước nhất là người trong gia đình rồi kế đến là những người bất hạnh sống gần bên. Có thế thì Đức Tin mới nhận dồi dào, triển nở như tất cả mọi tế bào trong thân xác đang và sẽ được thay đổi mới rất đều đặn từng phút, từng giờ trong ta bởi nhờ Ơn Thiên Chúa.

** Có nghĩa chúng ta sống sao cho trọn vẹn theo Thánh Ý Chúa, sống hữu ích và thương yêu nhau. Có người sống chạy theo những của thế gian mà cảm thấy một ngày 24 giờ là không đủ, nhưng bên cạnh đó cũng có rất nhiều người sống xả Thân cho Chúa, cho anh chị em từng ngày cũng cảm thấy 24 giờ một ngày là không đủ. Do đó Thiên Chúa của chúng ta đã phân chia ngày và đêm để chúng ta có giờ làm việc và giờ nghỉ ngơi. Quả thật Thiên Chúa Người thiện hảo đến nhường bao!

 ** Nói về cuộc sống Đức Tin chúng ta cũng cần biết tỏ lòng cảm ơn ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì … Đã sống làm gương tốt lành thánh thiện cho con cháu là những thế hệ tương lai sau này. Chúng ta cũng không quên cảm ơn tất cả các Linh Mục, các Sơ cùng các tu sĩ nam nữ luôn là những tấm gương sáng ngời cho tất cả giáo dân và lương dân noi theo.

** Nói chung là cảm ơn tất cả các Tông Đồ thánh thiện và rất khiêm nhường của Chúa vì chính cuộc sống của các ngài luôn sống quên mình xả thân vì Danh Đức Chúa và vì tha nhân. Còn ai sống như đức tin Chết thì như lời của Thánh Giacobe nói trên: “Đức Tin không có việc làm là Đức Tin Chết”. Chết có nghĩa tuy dù chúng ta đang thở mà không khác nào như đã chết vậy. Giống như chúng ta đang sống tàng hình vậy. Chúng ta tưởng tượng sự sống như chết ấy có tầm ảnh hưởng như thế nào trong một gia đình hay ngoài xã hội? Nhất là những người đóng vai trò rất lớn, rất quan trọng trên sự dạy dỗ cho chúng thế hệ trẻ đặc biệt trong ngành Giáo Dục.

** Lạy Thiên Chúa nhân lành của chúng con! Xin giúp chúng con biết sống như một con người có sức sống mãnh liệt và đúng đắn. Biết dùng khả năng cá biệt Chúa ban cho để đem lại lợi ích chung cho linh hồn của chính mình và của anh chị em. Là ngày nào còn sống là cần tạo công đức càng nhiều càng tốt như cây đèn dầu luôn đổ đầy để mang Ánh Sáng Đức Tin tỏa lan đến cho mọi người.

** Trong thời buổi càng văn minh hiện đại thì chúng thế hệ trẻ càng cần học rất nhiều những gương tốt lành và thánh thiện ngay từ trong gia đình và tại học đường nhưng đại họa thay là chúng lại học những điều ích kỷ, mọi thứ phải vơ vét về cho mình như lấy của người làm của mình. Trong gia đình thì chúng không học biết thế nào là công bằng, là chia sẻ; là quan tâm và là yêu thương mà chỉ có đồng tiền và vật chất là quan trọng trên hết. Bởi chúng nhìn thấy cha mẹ bận rộn ngày đêm để có thêm của cải, vật chất, danh lợi cùng quyền hành mà bỏ bê chúng cho người lạ trông coi.

** Lời Chúa thì một chữ chúng cũng không học biết. Trong gia đình thì sống đạo rất khô khan, rất thiếu hình ảnh Thiên Chúa và tiếng kinh đọc. Cha mẹ không làm gương tốt cho các con mà chỉ biết sống ích kỷ cho riêng mình. Do đó cha mẹ làm sao thì chúng con cái học theo làm vậy. Chúng sống hoàn toàn vô nghĩa và vô dụng nên mới có tình trạng con cái chúng bị trầm cảm và tự tử ngày càng nhiều. Gia đình ngày càng có người chết vì con cái đánh cha mẹ già và cha mẹ hành hung con trẻ, v.v…

** Xin Thiên Chúa mở rộng tấm lòng cho các bậc cha mẹ và thày cô giáo, biết dạy cho các con và học trò nhỏ của mình điều tốt đẹp để làm gương cho chúng. Thì tương Lai mới có thể trong sáng hơn, có hy vọng hơn. Để hết thảy Linh Hồn con người mới có cơ hội để được Nhập Tiệc Nước Trời. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

 12 tháng 9, 2020

———–

Xin bấm vào mã số dưới đây để cùng hát:

(Xin Chúa Thay Đổi Tim Con)

MỪNG SINH NHẬT MẸ MARIA

MỪNG SINH NHẬT MẸ MARIA

Tuy các tài liệu lịch sử về Đức Maria rất hiếm, nhưng bên cạnh đó lại có nhiều truyền thuyết chung quanh cuộc đời Đức Mẹ, cũng tương tự như đối với Chúa Giê-su.  Các sách Tin Mừng hầu hết đều chú trọng đến hoạt động công khai của Đức Ki-tô, đặc biệt là cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người.  Cũng nhằm đáp ứng óc hiếu kỳ của độc giả nói chung – các tín hữu nói riêng – nhiều truyền kỳ đã được soạn với những chi tiết liên quan đến gia thế và thời thơ ấu cũng như hành trình Thương Khó và Phục Sinh vinh hiển của Người.  Đó là nguồn gốc các sách được gọi là “ngụy Phúc Âm” soạn theo thể văn của Tin Mừng chính hiệu.  Các sách này xuất hiện từ thế kỷ thứ II trở đi.

Mỗi lần đi tìm gia thế của Đức Giê-su, thì lại bắt gặp những truyền kỳ về Đức Maria, nổi tiếng nhất là tác phẩm được đặt tên là “Proto-Evangeliun Jacobi – Tiền Phúc Âm của Gia-cô-bê” (1).  Tác phẩm này được soạn từ một người tự xưng là Gia-cô-bê, người anh cùng cha khác mẹ với Đức Giê-su (tức là con riêng của Thánh Giu-se với người vợ trước).  Tác phẩm “Proto-Evangeliun Jacobi” cũng được gọi là “De Nativitate Mariæ” (việc sinh hạ Đức Maria).  Dựa theo tác phẩm này, người đọc được biết quý danh song thân Đức Maria là ông Gioakim và bà Anna.  Sách gồm 24 chương chia làm ba phần:

* Phần I (16 chương đầu) kể lai lịch, thời thơ ấu của Đức Maria.

* Phần II (5 chương từ 17 tới 21) thuật lại các phép lạ xung quanh việc sinh hạ Đức Giê-su.

* Phần III (3 chương cuối: 22-24) kể chuyện vua Hê-rô-đê tàn sát các thiếu nhi ở Bê-lem.

Trước hết, xin tìm hiểu ý nghĩa cụm từ “ngụy Phúc Âm” trong những bản dịch tiếng Việt của HĐGMVN.  Mới nghe tiếng “ngụy” thì giật mình, vì nó mang một ý nghĩa xấu (Ngụy thư: ngụy là sai trái, giả tạo; thư là sách báo, văn thư).  Từ điển Hán Nôm của Nguyễn Quốc Hùng định nghĩa Ngụy thư là “Loại sách sai lầm, vô giá trị – Loại sách giả mạo, không phải thật do đời xưa truyền lại.”  Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu thì định nghĩa Ngụy thư (偽 書) là: 1- Sách mạo danh người xưa viết ra, không phải thật của tiền nhân truyền lại.  2- Ngụy tạo văn thư.  Nếu khách quan nhận xét thì có thể coi Ngụy Phúc Âm “Proto-Evangeliun Jacobi” theo nghĩa 1 của Từ điển Thiều Chửu (vì chính tác giả đã mạo danh Thánh Gia-cô-bê Tông đồ, người anh em cùng cha khác mẹ của Đức Giê-su).

Tuy nhiên, nếu tìm về nguyên bản La-tinh thì có thể hiểu rõ hơn: Danh từ “Apocrypha” (Việt Nam dịch là Ngụy thư) phát xuất từ tiếng Hy Lạp “apokryhos” nghĩa là “ẩn giấu” hay “bí mật.”  Danh từ này được dùng để chỉ các tác phẩm được viết “bên lề” và thường có liên hệ ít nhiều với các sách Thánh Kinh.  Theo nghĩa thứ hai, đây là các sách không có nguồn gốc rõ ràng, không chính thống, nội dung chứa đựng những điểm kỳ bí, mặc dù ban đầu “Apocrypha” là một danh từ mang nghĩa tốt, đáng tôn trọng.  Theo ý kiến của ông Rhodes Montague (người Pháp), các Ngụy Thư là loại sách “linh thánh và bí ẩn nên không thể truyền bá đến tay mọi người, vì thế phải được dùng riêng trong số các tín hữu đứng đầu, bộ phận vòng trong của các tín hữu.” (ý muốn nói sách này được dùng riêng cho các giáo phụ)

Wikipedia tiếng Việt giải thích khá chi tiết và rõ ràng: “Ngụy thư Gia-cô-bê” hay “Tin Mừng của Gia-cô-bê” còn được gọi là “Tin Mừng Thời thơ ấu của Gia-cô-bê” hoặc “Tiền Phúc Âm của Gia-cô-bê” (Protoevangelium Jacobi), là một Tin Mừng có lẽ được viết vào khoảng năm 145, trình bày một câu chuyện liên quan đến sự ra đời và sự dạy dỗ của Đức Mẹ Maria.  Nó là nguồn gốc lâu đời nhất để khẳng định sự đồng trinh của Đức Maria không chỉ có trước, nhưng cả trong và sau sự ra đời của Chúa Giê-su.  Các bản thảo cổ xưa còn lưu lại về cuốn sách có tiêu đề khác nhau, bao gồm “Sự ra đời của Đức Maria”, “Các câu chuyện về sự sinh ra Rất Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa” và “Các khải huyền của Gio-an.”

Ngụy thư này xứng đáng được gọi là “Phúc Âm Đức Maria” vì là “văn phẩm Ki-tô giáo đầu tiên quan tâm đặc biệt về cuộc đời Đức Maria.”  Nhiều chi tiết của tác phẩm này còn là tiền đề được khai triển trong các nghệ phẩm và văn chương Thánh Mẫu qua nhiều thế kỷ như: “Đức Maria thuộc dòng dõi vua Đa-vít”, “Việc ra đời kỳ lạ của Mẹ Maria” và “biến cố Truyền Tin cho Đức Maria” xảy ra tại Giê-ru-sa-lem; kể cả cuốn sách “Các anh em của Chúa” (là con của Thánh Giu-se với người vợ trước).  Tác phẩm “Proto-Evangelium Jacobi” cũng đã mở đường cho việc thiết lập ba lễ: Đức Maria Đầu Thai, Sinh Nhật Đức Maria, và Lễ Đức Maria dâng mình vào đền thờ.

Căn cứ vào “Proto-Evangeliun Jacobi”, thì không thấy nói đến ngày sinh của Đức Maria.  Theo dự đoán của các Giáo phụ, có lẽ lễ mừng kính sinh nhật Đức Mẹ bắt nguồn từ Giê-ru-sa-lem: Vào thế kỷ V, một nhà thờ được xây cất tại khu đất theo tục truyền là nơi bà Anna đã sinh con, mà người ta suy đoán ngôi thánh đường này được cung hiến vào ngày 8/9, nên lấy ngày đó là ngày sinh của Đức Mẹ.  Dưới khía cạnh thần học, có thể tìm được 2 khía cạnh chủ yếu:

1- Liên quan đến bản thân Đức Maria: Từ lễ sinh nhật Đức Mẹ, Giáo hội đã mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội – tức là lễ bà Anna thụ thai, chín tháng trước đó – vào ngày 8/12.

2- Liên quan đến lịch sử cứu độ: Lời nguyện Phụng vụ lễ Sinh nhật Đức Mẹ (“Lạy Chúa, ngày sinh nhật của Đức Giê-su Con Một Chúa, Chúa đã mở đầu kỷ nguyên cứu độ, thì hôm nay, ngày sinh nhật của Thánh Mẫu Người, xin Chúa cũng rộng ban muôn phúc lộc, và cho chúng con hưởng bình an.  Chúng con cầu xin,  nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.”) đã chúc tụng Thiên Chúa vì công trình cứu chuộc nhân loại.  Kế hoạch này được tiền định từ trước vô cùng, nhưng được thực hiện tiệm tiến qua dòng lịch sử: Ngày sinh của Đức Mẹ kết thúc giai đoạn chuẩn bị cho biến cố Nhập Thể của Đức Ki-tô, bây giờ chỉ còn chờ đón ngày ra đời của Đấng Cứu Tinh.

Hội Thánh chỉ mừng kính 3 lễ “sinh nhật”: Ngày sinh của chính Đức Giê-su, của Đức Trinh nữ Maria và của Thánh Gio-an Tẩy Giả.  Ngoài ra, Giáo hội không mừng ngày sinh của các thánh, vì ngày sinh của con cháu A-đam là một ngày u buồn tràn đầy nước mắt do cái di sản tội lỗi mà con người mang theo khi vào đời (vì tội Nguyên tổ, con người chỉ chào đời bằng tiếng khóc chớ chưa thấy ai cười khi được sinh ra).

1- Sinh nhật Thánh Gio-an Tẩy Giả: Vì được thánh hóa từ trong lòng mẹ, nên việc chào đời của Thánh Gio-an Tiền Hô là một biến cố vui mừng đặc biệt.

2- Riêng với lễ sinh nhật của Đức Mẹ: Giáo hội hân hoan ca tụng vì nhờ có Mẹ làm cầu nối đem hồng ân cứu rỗi đến cho trần gian.

 3- Người đem hồng ân đó chính là Đức Giê-su Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ: Ngày sinh của Người tràn đầy niềm vui trong tiếng hoan ca của các thiên thần (“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm”).

Vì thế, ngay từ thế kỷ VI, cả Giáo hội Đông phương và Tây phương đều đã cử hành lễ mừng kính sinh nhật Đức Mẹ.  Đến thế kỷ X, lễ mừng được phổ biến khắp nơi và trở thành một trong các lễ trọng mừng kính Đức Mẹ.  Vào thế kỷ XII, lễ này còn kéo dài thành tuần bát nhật, theo lời hứa của các Đức Hồng Y họp mật nghị bầu Giáo hoàng.  Các Nghị phụ hứa sẽ thiết lập tuần bát nhật để tạ ơn Đức Mẹ, nếu có thể vượt qua được các chia rẽ vì cuộc vận động của vua Frédéric và sự bất mãn của dân chúng.  Đức Giáo Hoàng Cê-les-ti-nô IV đắc cử chỉ trị vì được có 17 ngày (25/10/1241 – 10/11/1241) nên chưa thực hiện được lời hứa.  Mãi đến giữa thế kỷ XIII, Đức Giáo Hoàng In-nô-cen-tê IV (1243-1254) đã hoàn thành lời hứa này.

Mừng kính sinh nhật Mẹ, người Ki-tô hữu hãy tuyên tín rằng Đức Maria là Người Mẹ đích thực của chúng ta, còn hơn gấp bội phần người mẹ sinh ra phần xác của chúng ta nữa.  Mẹ chính là Mẹ của những người mẹ trên thế gian.  Đức Ki-tô Thiên Chúa đã ban Mẹ cho chúng ta qua đại diện là môn đệ yêu dấu Gio-an trong hy tế thập giá.  Vì là hiền mẫu, Mẹ Maria yêu thương chúng ta một cách trìu mến nhất: Mẹ bảo bọc và gìn giữ, lo liệu và giúp đỡ chúng ta trong mọi tình huống, cả tinh thần lẫn vật chất.  Hãy thử nghĩ xem Thiên Chúa muốn con cái Người phải yêu một người mẹ như vậy với một tình yêu thế nào?

Trong 10 điều răn Thiên Chúa đã truyền dạy, thì có 3 điều “mến Chúa” và 7 điều “yêu người”, và trong 7 giới răn “yêu người” thì điều răn đứng hàng đầu là “Hãy thảo kính cha mẹ.”  Điều đó cho thấy Thiên Chúa muốn chúng ta phải yêu mến, kính trọng, hiếu thảo với cha mẹ như thế nào.  Với cha mẹ phần xác còn như vậy, huống hồ là đối với Người Mẹ trên hết các người mẹ ở thế gian này.  Vì thế, hãy xác tín rằng Thánh ý Thiên Chúa muốn chúng ta hãy phụng sự, tôn vinh, và yêu mến Mẹ Maria bằng tất cả tâm hồn, sức lực và trí khôn, đồng thời hãy học theo Mẹ sống đức tin bằng hai tiếng “xin vâng” đối với Thiên Chúa và bằng cả tấm lòng thương yêu với tất cả mọi người.  Càng yêu mến Mẹ, chúng ta càng làm đẹp lòng Thiên Chúa, đó là điều tất yếu.

Ôi!  Mẹ tuyệt mỹ, Mẹ tuyệt vời, Mẹ là kỳ công của sự cao sang, của sự vĩ đại, chúng con vui mừng xiết bao vì Thiên Chúa đã cất nhắc Mẹ lên phẩm tước cao trọng nhường ấy!  Mẹ thật xứng đáng được mọi thế hệ ca ngợi là người diễm phúc, mọi miệng lưỡi hoan ca chúc tụng, mọi thân thể phủ phục tung hô, và mọi dân nước mến yêu, kính trọng.  Từ ngai tòa Nữ Vương cao sang Mẹ đang ngự trị, xin Mẹ ghé mắt nhân từ đoái thương cứu giúp đàn con nơi cõi trần chất ngất đau thương.  Cúi xin Mẹ hãy bảo bọc, chở che, cứu giúp, đỡ nâng, và cầu bầu cùng Trưởng Tử Giê-su Ki-tô cho chúng con được hưởng nhờ những hồng ân Thiên Chúa đã ban cho Mẹ, để chúng con đời sau cũng được vui hưởng ánh sáng huy hoàng của vinh quang Mẹ cho đến muôn muôn đời.

Ôi! “Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Hội Thánh tìm được sức mạnh trong thánh lễ chúng con đang cử hành.  Xin cho chúng con cũng tìm được niềm vui trong ngày mừng sinh nhật Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a. Chính Người đã đem đến cho nhân loại niềm hy vọng và ơn cứu độ là Ðức Giê-su Ki-tô, Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.”  (Lời nguyện nhập lễ lễ “Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria”).  Xin tất cả hãy cùng “xin vâng” như Mẹ:

XIN VÂNG

Ôi! Hôm nay là ngày sinh của Mẹ,

Thần học tìm được hai sự liên quan:

Là hai khía cạnh mang tính liên hoàn,

“Bản thân Mẹ” và “Hồng ân Cứu Độ”.

Mẹ hoàn toàn không nhiễm tội Nguyên tổ,

Hồng ân đổ tràn cung lòng Anna.

Một thai nhi tên là Maria.

Thánh danh bao hàm lịch trình cứu thế.

Lời nguyện Phụng vụ lễ sinh nhật Mẹ,

Chúc tụng Thiên Chúa cứu chuộc muôn dân,

Đức Giê-su xuống thế làm người trần,

Chịu đòn, chịu chết trong tay quân dữ.

Ôi!  Lạy Mẹ!  Khi nghe lời Thiên sứ,

Mẹ “xin vâng như lời sứ thần truyền”,

Đã tượng thai trong lòng Mẹ trinh nguyên,

Chính bào thai là Ngôi Lời Nhập Thể.

Toàn nhân loại Nhờ Mẹ và Với Mẹ,

“Đem Vầng Đông rực rỡ xuống gian trần” (2),

Con Chúa Trời giáng thế cứu phàm nhân,

Chính là Mẹ sẽ đạp đầu rắn dữ (St 3, 14-15).

Chính là Mẹ hạ sinh một Trưởng Tử (Rm 8, 29),

Là Con Một Thiên Chúa xuống cõi trần,

Đấng Thiên Sai – Đấng Cứu Độ muôn dân,

Khỏi tội lỗi từ muôn đời muôn thủa.

Chính là Mẹ hiệp công cùng Thiên Chúa,

Trong chương trình giải thoát cả loài người,

Để giờ đây hưởng hạnh phúc tuyệt vời,

Cả Hồn Xác được vinh thăng Thiên Quốc.

Chính là Mẹ được muôn vàn ơn phước,

Từ nguyên sơ không mắc tội tông truyền,

Hạ sinh Con Trời, Mẹ vẫn trinh nguyên,

Để hiệp cùng Con đồng công cứu chuộc.

Ôi!  Lạy Mẹ!  Dưới cõi trần nhơ nhuốc,

Ngước nhìn lên ngai toà Mẹ Từ Nhân,

Con khấn xin khi rũ sạch bụi trần,

Được cùng Mẹ hưởng Thánh nhan Thiên Chúa.

Lam Thy ĐVD

—————————————

Chú thích:

1) Các sách Thánh Kinh nói về Đức Maria rất sơ lược, trong khi đó cuốn “Proto-Evangeliun Jacobi” (Tiền Phúc Âm của Gia-cô-bê) cũng được gọi là “De Nativitate Mariæ” (việc sinh hạ Đức Maria) lại nói khá chi tiết về tiểu sử Đức Mẹ.  Vì thế các giáo phụ đã sử dụng sách này mỗi khi nói đến Đức Maria, thậm chí còn dùng tác phẩm này mở đường cho việc thiết lập ba lễ: “Đức Maria Đầu Thai”, “Sinh Nhật Đức Maria” và Lễ “Đức Maria dâng mình vào đền thờ.”  Duy chỉ có điều tác giả sách này không công khai xuất hiện, mà núp dưới danh hiệu “Gia-cô-bê” – người anh cùng cha khác mẹ với Đức Giê-su (tức là con riêng của Thánh Giu-se với người vợ trước) – nên sách này bị coi là “ngụy thư”.

Theo Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia thì nhân vật tên Gia-cô-bê trong Thánh Kinh có tới 4 người: Gia-cô-bê hay Gia-cơ (tiếng Anh: James, tiếng Pháp: Jacques, tiếng Tây Ban Nha: San Tiago) có thể đề cập tới:

a- Gia-cô-bê Công chính, anh em của Đức Giê-su, được cho là tác giả “Thư của Gia-cô-bê” thuộc Tân Ước, giám mục tiên khởi Giê-ru-sa-lem.

b- Gia-cô-bê, con của Dê-bê-đê, Tông đồ, cũng gọi là Gia-cô-bê Tiền, anh trai của Tông đồ Thánh sử Gio-an.

c- Gia-cô-bê, con của An-phê, Tông đồ, đôi khi được xác định là Gia-cô-bê Công chính.

d- Gia-cô-bê Hậu, con của bà Maria Clô-pát và ông An-phê; thường được xác định là Gia-cô-bê con của An-phê (trong trường hợp này, An-phê có tên khác là Clô-pát, hoặc ít nhất là chồng của Maria Clô-pát), hoặc được xác định là Gia-cô-bê Công chính.

(2) “Đem Vầng Đông rực rỡ xuống gian trần: Hymne Ave Regina Cælorum” (Đây là lời Giáo hội hát mừng Đức Maria, sau khi Mẹ “xin vâng như lời sứ thần truyền” hoàn tất mầu nhiệm Nhập Thể).

Birthday Mary.jpg

QUÀ MỌN DÂNG MẸ MARIA TRONG NGÀY SINH NHẬT CỦA MẸ

QUÀ MỌN DÂNG MẸ MARIA TRONG NGÀY SINH NHẬT CỦA MẸ

Tuyết Mai

— Lạy Mẹ Maria, Mẹ Nhân ái luôn yêu thương con cái Mẹ dưới gầm trời này – Dù chúng con có hư đốn, có đủ thứ tội lỗi nhưng rồi đâu đó trong quãng đời Mẹ lại có cách mang chúng con trở về bên Mẹ, bên Chúa Đấng vô cùng quyền năng nhưng rất yêu thương, rất trông chờ chúng con.

— Hôm nay là ngày Sinh Nhật của Mẹ Maria mà toàn thế giới dâng tiến lên Mẹ mọi thứ quà rất đẹp đẽ, rất sang trọng và rất có ý nghĩa … như mang quà đến chia sẻ ít nhiều cho anh chị em khốn cùng ở vùng xa, vùng sâu. Hay có người chỉ có thể dâng lên Mẹ những hy sinh bé nhỏ nhất, việc làm hèn mọn nhất có thể vì sức khỏe yếu kém.

— Ai có gì thì dâng nấy phải không thưa Mẹ yêu?. Như chúng con đây ngày ngày chẳng đi đến đâu (nhất là trong thời bệnh dịch Covid-19 này) ngoài 4 bức tường yên lặng nhưng đối với chúng con là một khoảng trời hạnh phúc như được viết tâm thư dâng lên Mẹ với tất cả tấm chân tình, hết cả trái tim & và hết cả khả năng mà chúng con có.

— Chúng con là những người con từ nhỏ đã sống thiếu tình yêu thương của mẹ đẻ nhưng có phải Mẹ đã từng hiện ra qua người này, người nọ để nuôi chúng con khôn lớn hay không?. Cho chúng con có trái tim được bình thường và học cách để biết tha thứ.

— Chúng con tiếp tục được Mẹ an ủi cũng như đem lại cho gia đình mọi điều bình an, tốt lành mà có nhiều khi tưởng chừng chiếc thuyền của gia đình nó không qua khỏi những lần bão tố đánh cho tan tành. Nhưng rồi nhờ Mẹ cũng đã hàn gắn lại mọi sự hiểu lầm, mọi xung khắc trong gia đình và mọi sự dữ xâm chiếm tâm hồn của chúng con.

— Ngay cả trong thời điểm này đây thì hình như gia đình nào cũng rất cố gắng sống trong hy sinh, thay đổi ít nhiều gì chăng nữa nhưng cũng luôn bị cám dỗ Mẹ Maria ơi!. Nhất là tuổi trẻ, tuổi của con cái và cháu chắt của chúng con. Nhưng thưa Mẹ chúng con vẫn cố gắng một lòng bám vào Mẹ luôn mãi vì hiểu rằng cuộc đời mà không có Mẹ ở cạnh bên thì chắc rằng không ai mà giỏi để thoát được sự cám dỗ vô cùng nguy hiểm của chúng quỷ được đâu.

— Chúng nó biết được lòng dạ con người thì luôn mê đắm. Đàn ông thì thường bị dính vào tứ đổ tường (Rượu chè, cờ bạc, hút sách và trai gái). Còn đàn bà thì mê mua sắm, mê kiếm tiền mà bỏ mặc con cái cho người lạ trông nom. Chúng con đã học được bài học từ kinh nghiệm sống của chính đời mình nên tự hứa với lòng là cố gắng sống gần với con cái, luôn cho chúng tình yêu thương của cha mẹ và dạy cho chúng những điều rất căn bản trong cuộc sống.

— Là yêu thương gia đình vì “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”; là quan tâm cho nhau chớ không thể nào lấy người ngoài mà thay thế cho người trong gia đình được cả. Chúng con không biết lấy lời gì hơn để chúc cho Mẹ Maria, Mẹ của chúng con trong ngày Sinh Nhật của Mẹ cho xứng với tình yêu thương dạt dào Mẹ luôn dành ban cho chúng con từ trước tới nay.

— Vì cả triều thần Thiên Quốc từ Thiên Chúa Cha đến Chúa Con và Chúa Thánh Thần tất cả làm yến tiệc thết đãi Mẹ mà không nơi nào trên trần gian này có thể có được. Chúng con mong Mẹ nhận lấy lời thành kính cùng những công việc hằng ngày rất nhỏ nhặt, rất khiêm nhường như dần từ bỏ thói hư tật xấu.

— Chúng con thể hiện quà dâng lên Mẹ Maria bằng những lời kinh Mân Côi mà Mẹ yêu thích nhất. Sau cùng thì hết thảy chúng con chúc Mẹ Maria ngày sinh nhật vui vẻ và tràn đầy hạnh phúc trên Thiên Đàng và cùng chung vui với chúng con dưới trần – Mẹ Maria hiền mẫu của chúng con nhé!. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

8 tháng 9, 2020

THIÊN CHÚA CHỌN NGƯỜI NGHÈO KHỔ THƯỞNG CHO VÀO HƯỞNG NƯỚC TRỜI

THIÊN CHÚA CHỌN NGƯỜI NGHÈO KHỔ

THƯỞNG CHO VÀO HƯỞNG NƯỚC TRỜI

 Tuyết Mai

Anh em là những người tin vào Đức Giêsu Kitô vinh hiển, anh em đừng thiên vị. Giả sử trong lúc anh em hội họp, có người đi vào, tay đeo nhẫn vàng, mình mặc áo sang trọng; lại cũng có người nghèo khó đi vào, áo xống dơ bẩn, nếu anh em chăm chú nhìn người mặc áo rực rỡ mà nói: “Xin mời ông ngồi chỗ danh dự này”. Còn với người nghèo khó thì anh em lại nói rằng: “Còn anh, anh đứng đó”, hoặc: “Anh hãy ngồi dưới bệ chân tôi”. Đó không phải là anh em xét xử thiên vị ở giữa anh em và trở nên những quan xét đầy tà tâm đó sao? Xin hãy nghe: Không phải Thiên Chúa chọn người nghèo trước mắt thế gian, để nhờ đức tin, họ trở nên giàu có và được hưởng nước Người đã hứa cho những kẻ yêu mến Người đó sao? (Gc 2, 1-5).

——————————————

— Đây là thực tế thật phũ phàng, là tệ trạng của mọi thời đại. Ai nghèo khổ lại được người kính nể và tôn trọng bao giờ? Từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội tất tất đều cư xử với nhau qua cái hình thức rất bề ngoài. Cho nên từ thời xa xưa chúng ta đã thấy có những buổi tiệc quan trọng trong làng, xã hay trong chi tộc; người muốn được người ta tiếp đón thì ít nhất cũng phải biết đi mượn quần áo chỉnh tề để đi dự tiệc.

— Còn người nghèo quá thì phải cố nặn óc để nghĩ ra cách từ chối đi dự tiệc. Trong mọi thời đại thì cái nghèo và cái bệnh tật nó ám ảnh người ta suốt cả một đời. Mà tội nghiệp nhất là cho những người nghèo nhưng không chấp nhận mình nghèo thì đây là cái nỗi khổ tâm, chua chát của họ từng ngày.

— Không nhìn đâu cho xa là ngay trong gia đình họ hàng của chúng ta thấy rất rõ ai làm ra tiền nhiều, đóng góp, gánh vác gia đình nhiều thì anh chị em đó tức khắc sẽ được tất cả mọi người nể trọng. Trước nhất là cha mẹ sau sẽ là cái cớ để cho sự bất hòa bắt đầu nhen nhúm giữa anh chị em ganh ghét nhau.

— Có phải vô tình là do từ cha mẹ luôn cầu mong có được con cái cho thỏa mãn, cho hưởng thụ cá nhân riêng mà đi đến bất cứ đâu cũng đều khen đứa con thành công của mình để cho giữa con cái chúng tỵ nạnh và rồi hiềm ghét nhau? … Thì quả là điều đau buồn cho một gia đình mà bậc làm cha mẹ đã nhắm mắt làm ngơ để cho tình anh chị em giữa chúng phải trở thành thù ghét nhau và hố sâu ngăn cách ngày càng không thể lấp lại được.

— Chúng ta thường chứng kiến sự chênh lệch này ở rất nhiều gia đình. Dù trong gia đình thứ bậc có rõ ràng là em út hay thân phận làm em nhưng nếu em có cơ may ăn ra làm nên; có nhiều tiền để giúp cha mẹ xây nhà cửa, sắm mua đủ mọi thứ xa xỉ trong nhà thì người con này hẳn nhiên luôn được cha mẹ nể nang, nhắc đến luôn và là đứa con rất ngoan, rất có hiếu đễ!?.

— Quả tiền bạc và danh vọng đã làm cho con người trở thành dị nhân, thưa có phải?

Chẳng phải vì chúng ta không biết nhưng là vì danh vọng, đồng tiền, quyền lực và những người sống bám vào chúng ta đã làm cho quen nghe những lời nịnh hót, tâng bốc, thổi phồng quá đáng nên cảm thấy đó là chuyện thường tình mà không còn cảm thấy dị người nữa.

— Riết rồi quen sống ăn trên ngồi trốc, tự tôn mà không biết rằng sau lưng mình có biết bao nhiêu người nguyền rủa, chửi mắng thậm tệ vì những gì mình đối xử không tốt với người thấp cổ bé miệng, làm dưới quyền của mình.

— Sự thật thì ở đâu chúng ta cũng gặp tình trạng này cho nên sự sống khiêm nhường và thương yêu mà Thiên Chúa dạy cho những anh chị em càng làm chức quyền cao bao nhiêu thì càng tội lỗi bấy nhiêu vì con người phàm tục luôn thích sống trong sung sướng và ghét chịu cực khổ.

— Vì ai cũng thích được ngồi trong nhà mát có máy lạnh; có người che dù cho mình khỏi bị nắng, khỏi bị mưa ướt lấm giầy mắc tiền … Mặc nhiên không thấy ai từ chối cả. Ai cũng thích đến nơi đâu thì có người đã chu đáo dọn sẵn cho phòng tốt để ở, có sẵn người phục dịch và có sẵn người lo lắng xe cộ. Để đi đâu cũng thoải mái dễ chịu có cơm ngon, giường ấm nệm êm, chung quanh có người phục dịch 24/24.

— Cho nên thật là khó vì càng cao chức trọng thì càng chóng mất linh hồn. Trong gia đình hay ngoài xã hội cũng thế. Trong giáo xứ hay trong giáo hội cũng thế. Có nghĩa sống tốt như Chúa Giêsu dạy để trở nên Thánh, quả có được mấy ai trong thế gian này?

— Vả ai cũng hiểu cuộc đời này có sống là bao? Ra đi cũng hai bàn tay trắng. Nhất là hành trang mang theo để đến một phương trời xa lạ, sẽ không có ngày trở lại mà chưa có chuẩn bị được một thứ gì cho xứng đáng để được Thiên Chúa chấp nhận cho cả.

— Giả sử Chúa đến gọi chúng ta đi ngay liền bây giờ thì có ai biết trước được chúng ta sẽ đi về đâu không? Có phải mới chợt nghĩ ra là Linh Hồn sống đời của mình mới là quý trọng hơn hết thảy? Chớ cuộc sống trần gian này nhiều lắm cũng cho ta sống đến 100 năm là cùng. Nên khuyên rằng ai đang sống mải lo thân xác mà ngoảnh mặt làm ngơ với người nghèo khổ thì sẽ mất Linh Hồn và Nước Trời … Thì quả là tiếc lắm thay!. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

6 tháng 9, 2020

THÁNH TERESA CALCUTTA, NGƯỜI MẸ LÒNG THƯƠNG XÓT

THÁNH TERESA CALCUTTA, NGƯỜI MẸ LÒNG THƯƠNG XÓT

Vị nữ tu Teresa thành Calcutta qua đời ngày 05.09.1997 đã được Hội Thánh tôn phong lên hàng Chân Phước ngày 19.10.2003, và ngày Chúa Nhật 04.09.2016 được tôn kính trên bàn thờ trong Hội Thánh Công Giáo là đấng Hiển Thánh.

Cuộc đời 87 năm trên trần gian của mẹ Thánh Teresa gắn bó với số phận của những người nghèo vừa về miếng ăn lương thực, quần áo, thuốc men chữ bệnh, nhà cửa, và vừa về gía trị nhân phẩm con người cùng đau khổ tinh thần của họ nữa.

  1. Gia đình, nôi nuôi dưỡng lòng thương xót

 Mẹ Thánh Teresa mở mắt chào đời bên nước Albania, vùng phía Đông Âu châu, nằm trong liên bang Nam Tư Cộng sản cũ thời Thống Chế Tito.  Albania là một nước nhỏ đại đa số dân cư theo Hồi giáo, đạo Công Giáo chỉ là một thiểu số trong xã hội này.  Gia đình Mẹ Teresa là một gia đình khá giả nếp sống bậc trung lưu có cuộc sống hạnh phúc, theo đức tin Công Giáo truyền thống đạo đức.

Buổi sáng nào người mẹ gia đình Drana của Teresa cũng đều đưa ba người con của bà đi nhà thờ đọc kinh cầu nguyện dâng Thánh lễ.  Buổi chiều tối gia đình tụ tập lại lần chuỗi mân côi, dù bận rộn hay có khách.  Vì với gia đình đó là điều quan trọng hơn cả.

Ngay từ khi con còn nhỏ, người mẹ gia đình Drana đã dậy các con mình sống bác ái lòng thương xót theo phương hướng Phúc âm của Chúa: “Những gì các con làm cho một người bé nhỏ hèn mọn nhất trong các con, chính là các con làm cho Thầy” (Mt 25,40).

5,972 Mother Teresa Photos and Premium High Res Pictures - Getty Images

Rồi hằng tuần, người mẹ Drana của Teresa có thói quen thăm hỏi những người bệnh nạn trong khu phố, và mang cho những người nghèo quần áo cũng như thực phẩm cần thiết.  Bà muốn con mình ngay từ nhỏ đã biết cùng đồng hành với những người như thế.  Bà thường nói với các con mình: “Các con có phúc lắm, có nhà ở đẹp, có đầy đủ lương thực và quần áo.  Các không con thiếu gì.  Nhưng các con không được quên có nhiều người phải sống trong hoàn cảnh thiếu ăn, có những trẻ em không có quần áo, khi đau bệnh, chúng không có thuốc trị bệnh cần thiết để chữa bệnh.”

Đời sống gương sáng của người mẹ Drana đã ghi khắc dấu vết sâu đậm trong tâm khảm đời sống của Teresa ngay từ nhỏ.  Có lần Teresa lúc nhìn lại thời nhỏ còn ở nhà với mẹ mình đã tâm sự: “Tôi không biết phải nói gì hơn nữa, gương sống của mẹ tôi, hay nếp sống đạo đức chăm chỉ đi nhà thờ cầu nguyện của mẹ tôi đóng vai trò ảnh hưởng rất quan trọng cho ơn kêu gọi của tôi trưởng thành chín mùi.”  Chính trong bầu khí chan chứa lòng thương xót đó của gia đình với những người chung quanh Teresa đã lớn lên và trở thành vị Thánh, người mẹ lòng thương xót sau này giữa lòng xã hội con người.

  1. Con đường lòng thương xót

 Lúc Teresa lên 12 tuổi đã cảm nghiệm thấy mình có ơn kêu gọi vào sống tu trì trong nhà Dòng, và còn hơn thế nữa cảm nghiệm ra ơn kêu gọi trở thành một nhà truyền giáo sang Ấn Độ, bên Á Châu.

Năm 18 tuổi Teresa đã nói với mẹ mình và cha sở ý muốn đi truyền giáo sang Bengale bên Ấn Độ để cùng làm việc với các Cha Dòng Tên Chúa Giêsu đang sinh sống nơi đó.  Nhưng để thực hiện được ý muốn đó, Teresa phải nhập Dòng Đức mẹ Loreto ở bên Dublin nước Ái nhĩ Lan.  Các nữ tu dòng Đức mẹ Loreto thời đó cũng đang hoạt động truyền giáo bên Bengale.

Teresa nghe theo tiếng gọi con đường đó và trở thành nữ tu của Dòng Loreto, rồi năm 1928 được sai sang Ấn Độ đến vùng Himalaja sống thời gian nhà tập tu luyện, sau đó đến Calcutta học thêm và trở thành cô giáo môn lịch sử, địa lý trường trung học St. Mary’s High School của nhà Dòng.

Nữ tu Teresa làm công việc trí thức dạy học ở trường học nội trú với nhiệt tâm đầy đủ trách nhiệm, nhưng tâm hồn luôn nghĩ đến việc truyền giáo cho những người nghèo nhất nơi những người nghèo bên Ấn độ, mà vị nữ tu ngày đêm ấp ủ hoài bão lúc nào cũng mơ tưởng mong muốn được sống được làm.  Vị Nữ tu Teresa tâm sự: “Tôi là cô giáo, đây là một nếp sống mới với tôi.  Ngôi nhà trường nội trú này rất đẹp cùng thuận lợi cho các học sinh.  Tôi yêu thích việc dậy học.  Tôi chịu trách nhiệm trông coi cả nhà trường, các nữ học sinh yêu mến tôi…”

Nhưng trong khu nhà trường nội trú đó, vị nữ tu Teresa không gặp được một ai là người nghèo đói bị bệnh hoạn, bị bị bỏ rơi ngoài đường phố.

Ngày 10 tháng Chín 1946 nữ tu Teresa đáp xe lửa đi Darjeeling vùng phía Tây Bengale, nơi xưa kia Teresa đã sống thời gian nhà tập, đi tĩnh tâm.  Khi xe lửa đến nhà ga thành phố Calcutta, vị nữ tu cô giáo trường nội trú nhìn thấy tận mắt cảnh từng đám đông người nghèo, người đau khổ thiếu thốn nghèo khổ, bệnh tật đui què sống chen chúc vất vưởng ngoài đường, những bà mẹ trẻ bồng bế cõng con không quần áo trên lưng, trên vai ăn xin ngoài phố xá… thật là một cảnh hãi hùng thương tâm với vị nữ tu trẻ tuổi Teresa.  Tâm hồn vị nữ tu Teresa bồi hồi dao động vì cảnh tượng quá thương tâm như thế

Tâm hồn con mắt vị nữ tu Teresa càng mở ra to lớn hơn, và nữ tu Teresa đã có quyết định quay ngược lại với ơn kêu gọi mà chị đã cảm nghiệm được từ lúc còn ở quê nhà bên Albania: muốn trở thành nhà truyền giáo sống cho người nghèo khổ cùng cực bên Ấn Độ!

Chính mẹ Thánh Teresa sau này đã tâm sự nói về quyết định quay ngược lại tận căn rễ của mình: “Trong đêm hôm đó mắt tôi đã mở ra nhìn thấy cảnh thương tâm cùng cực của con người nghèo khổ xấu số, và tôi cảm thấy tận sâu thẳm sự gì là căn bản ơn kêu gọi của tôi.  Đó là tiếng gọi mới của Chúa nói với tôi, một ơn kêu gọi trong lòng ơn kêu gọi.  Chúa kêu gọi tôi không được từ bỏ đời sống là nữ tu, nhưng hãy thay đổi nếp sống.  Có thế mới phù hợp nhiều hơn với tinh thần phúc âm, với tinh thần truyền giáo, mà Chúa ký thác ban gửi cho tôi…  Tôi cảm nghiệm ra rằng Chúa muốn tôi bỏ nếp sống thanh bình yên lặng tiện nghi nhà Dòng của tôi, mà đi ra ngoài đường sống phục vụ những người nghèo khổ.  Với tôi sứ mạng đã rõ ràng: Tôi phải đi ra khỏi nhà Dòng và sống với những người nghèo khổ cùng cực.  Chúa đã gọi tôi đến sống với những người không có sự gì ở thành phố Calcutta này…. Cuộc tĩnh tâm của tôi ở Darjeeling là những ngày suy nghĩ về sứ mạng ơn kêu gọi mới của tôi, mà tôi đã tiếp nhận trên đường tới đây.  Sau đó về lại Calcutta, tôi quyết định thay đổi nếp sống đời tu.”  Con đường dấn thân cho lòng thương xót với con người cùng khổ, cùng đinh trong xã hội Calcutta bên Ấn Độ bắt đầu từ quyết định thay đổi ra đi đến với họ của mẹ Thánh Teresa.

  1. Nhà Dòng lòng thương xót: Dòng thừa sai bác ái.

Con đường thay đổi nếp sống của nữ tu Teresa để ra đi sống với và cho người nghèo cùng khổ không đơn giản dễ dàng.  Vì phải vượt qua những chặng thử thách có phép chấp thuận của nhà Dòng Loreto cho nữ tu Teresa ra đi, phép của Đức Giám Mục Calcutta, phép của Thánh bộ giáo sỹ tu sỹ bên Roma, và sau cùng phép phê chuẩn của Đức Thánh Cha cho mẹ Teresa lập Dòng mới như mẹ thỉnh nguyện xin.

Sau những năm tháng khảo sát điều tra, ngày 7.10.1950 Tòa Thánh đã phê chuẩn chấp thuận cho mẹ Teresa thành lập Dòng Thừa sai bác ái bên Calcutta Ấn Độ để giúp phục vụ người nghèo khổ cùng cực trong xã hội.

Thế là ơn kêu gọi phục vụ truyền giáo cho người nghèo của mẹ Teresa về phương diện pháp lý theo luật đạo thành sự.

Ơn kêu gọi hoài bão lòng mong ước đến sống truyền gíáo lòng thương xót giữa những người nghèo khổ, mà mẹ Teresa đã đón nhận ơn soi sáng từ Thiên Chúa nguồn tình yêu thương, giờ đây thành hiện thực cho đời mẹ.

Như các Dòng truyền thống trong Hội Thánh Công Giáo, Dòng của Mẹ Teresa cũng có ba lời khấn: khó nghèo, vâng lời và khiết tịnh, ngoài ra Dòng còn buộc các chị em nữ tu lời khấn thứ tư nữa: sống vị tha bác ái thương người.

Mẹ Teresa, vị sáng lập Dòng Thừa sai bác ái tâm sự: “Chúng tôi có trách nhiệm bổn phận với lời khấn phục vụ cho hết mọi người không đòi hỏi thù lao được trả công.  Lời khấn này có nội dung là chúng tôi không làm việc phục vụ cho người giầu có, không làm việc vì thù lao tiền bạc, chúng tôi không được nhận tiền bạc thù lao.”

Dòng Thừa sai bác ái của Mẹ Teresa chọn áo Sari dài phủ kín thân thể của phụ nữ Ấn Độ vẫn thường mặc hằng ngày.  Áo Sari mầu trắng bằng vải thô, bên vành áo có ba vạch mầu xanh da trời nói lên ý nghĩa mầu của bầu trời.  Phía bên trái áo Dòng Sari có gắn cây Thánh Giá Chúa Giêsu, để nhắc nhở người nữ tu nhớ đến Chúa Giêsu.

Mẹ Teresa cắt nghĩa về áo dòng Sari: “Chiếc áo Dòng Sari giúp người nữ tu cảm nhận mình là người nghèo giữa những người nghèo, nhận ra mình cũng là người bệnh tật đau khổ, là trẻ em, là những người già yếu bị bỏ rơi.  Và với chiếc áo Dòng Sari cùng chia sẻ đời sống không có gì thừa tự để lại cho thế giới.”

Chiếc áo Dòng áo Sari hèn mọn theo kiểu của người phụ nữ bình dân trong xã hội Ấn Độ nói lên sâu đậm căn tính lòng thương xót cùng đồng cảm với con người của Dòng Thừa sai bác ái do mẹ ThánhTeresa sáng lập.

  1. Dụng cụ lòng thương xót

 Mẹ Thánh Teresa lúc còn sinh thời đã thuật kể lại về nhà Dòng Thừa sai bác ái phục vụ cho người nghèo, trẻ con, người bệnh tật bị bỏ rơi trên toàn thế giới: Dòng chúng tôi có 3.500 chị em nữ tu nơi 95 quốc gia với 445 nhà, chúng tôi càng cần thêm nhiều ơn kêu gọi nữa do Chúa gửi đến…

Chúng tôi là dụng cụ của Thiên Chúa.  Những công việc phục vụ cho bác ái tình yêu là những công việc phục vụ cho hòa bình.  Chúng tôi không bao giờ có ý nghĩ về chính trị.  Chúng tôi chỉ muốn phục vụ giúp đỡ người nghèo khổ, vì họ cần đến tình yêu của chúng tôi…

Công việc dấn thân phục vụ người nghèo, người cùng khổ là chứng từ cụ thể cho đức tin.  Nó cắt nghĩa cho người người nghèo, người đau khổ về tình yêu Thiên Chúa trao tặng cho họ.  Ở Ấn Độ, một phóng viên người Hoa Kỳ quan sát tôi săn sóc người bệnh bị bệnh da lở loét rất nguy hiểm, anh ta nói với tôi: “Dạ, việc như vậy dù có cho tôi một triệu Mỹ kim, tôi cũng không làm!”  Tôi nói lại ngay: Đúng thế, tôi cũng chẳng làm dù có được một triệu Mỹ kim!  Nhưng tôi làm vì tình yêu Chúa.  Người nghèo khổ bệnh tật này với tôi là thân thể Chúa Giêsu Kitô…  Anh phóng viên nghe thế đứng yên lặng rất mủi lòng cảm động, và hiểu nhận ra sức mạnh nào đã kêu gọi cùng thêm sức nâng đỡ việc làm của chúng tôi…

Chúng tôi luôn nỗ lực cố gắng tìm đến nơi có những người lâm vào hoàn cảnh đau khổ mà không có ánh sáng niềm hy vọng.  Đó là nơi những người nghèo khổ, đói khát và bị bệnh tật, nhất là những người bị bỏ rơi sinh sống vất vưởng.  Chúng tôi đến những nơi đó do Chúa sai đến và chỉ cho chúng tôi việc phải làm…

Với Mẹ Thánh Teresa và Dòng của Mẹ, cầu nguyện với Chúa là suối nguồn kín múc sức mạnh cho việc làm bác ái lòng thương xót con người mà Chúa gửi sai đến: “Ngày sống làm việc của chúng tôi đặt trên căn bản cầu nguyện.  Dòng chúng tôi là Dòng chiêm niệm ở giữa lòng trần gian.  Vì thế cầu nguyện là căn bản đời sống nhà Dòng.  Chúng tôi luôn luôn cầu nguyện khắp mọi nơi đang khi làm việc cũng như lúc đi dọc đường.  Nếu chúng tôi không liên lỉ sống kết hợp với Chúa, chúng tôi đâu có thể có sức lực để sống dấn thân hy sinh phục vụ được.”

Khi người ta xin Mẹ tấm thẻ địa chỉ của Dòng, Mẹ Thánh Teresa rút trong túi áo Dòng Sari ra một mảnh giấy nhỏ rẻ tiền mầu xanh, trên có in dòng chữ bằng tiếng Anh:

“Chúa Giêsu vui mừng hạnh phúc đến với chúng ta,
khi sự chân thật muốn được loan truyền,
khi sự sống muốn được cho bừng lên chỗi dậy,

khi ánh sáng muốn được bật chiếu tỏa lan ra,
khi tình yêu muốn được yêu mến,
khi niềm vui muốn được tiếp tục cho đi,
khi hòa bình muốn được xây dựng lan tỏa gieo rắc.”  (Mẹ Teresa)

Xin Mẹ Thánh Teresa cầu cho chúng con!

Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

CHẤT CHỨA CỦA CẢI TRẦN GIAN CÓ CHẮC ĐƯỢC VÀO THIÊN ĐÀNG KHÔNG?

CHẤT CHỨA CỦA CẢI TRẦN GIAN CÓ CHẮC ĐƯỢC VÀO THIÊN ĐÀNG KHÔNG?

Tuyết Mai

— Của cải vật chất chỉ cho chúng ta hạnh phúc tạm thời, thỏa mãn được thân xác nhưng hầu hết chúng ta không ai dại gì mà từ chối nếu có cơ hội để làm giàu còn những lời lý lẽ biện minh, lời nghe ra vẻ đạo đức thì thực tế chỉ vì chúng ta chỉ đủ ăn và không có dư.

— Mà rất thường tình nếu ai vô tình tìm được ngọc quý trên thửa ruộng của người thì cũng im lặng giấu đi để rồi tìm cách đi vay mượn tiền để mua cho được thửa ruộng ấy vì đó là cái khôn ngoan của người trần gian là vậy. Nhưng hậu quả của sự làm giàu từ của người khác mà không do tự mình đổ mồ hôi làm ra thì rồi cũng sẽ cho chúng ta nhiều phiền phức.

— Vì chúng ta đã chọn bỏ mọi thứ quý trọng hơn là của cải đó là nhân cách con người, trái tim biết rung động trên người bất hạnh và Linh Hồn sống đời của chúng ta chỉ để cho có được những cái vật chất rất bề ngoài như ráng mua xe mắc tiền; quần áo, giầy ví, đồng hồ, nữ trang, v.v… tất cả đều phải là tên hiệu nghe rất kêu thì mới thỏa lòng.

— Nhưng thực tế phũ phàng cho thấy người càng giàu bao nhiêu, sống trong lâu đài lộng lẫy như một vị vua (dù là vua trong vùng nhỏ như các ông lớn ở VN ngày nay) thì những người này chắc chắn họ không thể có hạnh phúc được đâu vì thiếu sự ấm áp, thiếu tình thương gia đình nếu có thì mọi người cũng chẳng ai quan tâm đến ai đâu.

— Tâm hồn của họ thì luôn cảm thấy trống rỗng, vô vị và vô nghĩa vì của cải vật chất chúng không thể mang lại cho chúng ta một trái tim biết yêu thương hay muốn chia sẻ cho ai. Như trong các phim bộ tình cảm xã hội cho chúng ta thấy những nhân vật chính giàu có thì thường họ phải mượn rượu uống cho say để giải sâu; thêm chích choác để cảm được những ảo tưởng lâng lâng sung sướng mà đời thường không cho được.

— Có phải của cải vật chất đã biến con người chúng ta tự nguyện muốn trở thành nô lệ muôn đời cho những thứ mà chúng ta ao ước để có như được làm minh tinh, ca sĩ hay những nhân vật nổi tiếng mà ngày ngày bị stress, chạy quần quật đừ người để làm show y như con chuột chạy vòng quanh trong chiếc lồng mà thỉnh thoảng chúng ta nghe tin là họ tự tử chết.

— Nhưng có phải dòng đời là những mời gọi, là những đam mê của thế gian mà chúng quỷ thôi miên hay bỏ bùa ngải trong đồ ăn thức uống nên có mấy ai nhận ra là mình đang dần trở thành nô lệ cho chúng đâu; nên rất vui vẻ để ký giấy hợp đồng tự nạp mình để chúng sẽ hứa cấp cho thuốc nghiện để dùng suốt cả đời.

— Do đó mà chẳng ai thấy được rằng của cải vật chất là vô nghĩa, bạc bẽo và giết chết người bất cứ lúc nào. Nguy hiểm nhất là chúng quỷ đã nắm lỏng linh hồn sống đời của chúng ta và dần đưa chúng ta đến gần tới miệng của Hỏa Lò mà nào có thấy biết.

— Của cải vật chất đã làm cho chồng vợ nhanh chóng bỏ nhau; gia đình tan nát. Vợ chồng đã thế thì thử hỏi các con chúng sẽ sống ra sao?. Đã thế mà hằng ngày chúng con cái học bắt chước theo những gương mù gương xấu của cha mẹ để rồi chúng cũng sẽ đi theo y con đường xấu xa tương tự ấy … là tự dẫn thân mình đi tìm đến chỗ chết muôn đời.

— Thử hỏi từ một gia đình như thế thì cả một xã hội sẽ đi về đâu? Còn đâu là sự sống cho đúng nghĩa với những gì Thiên Chúa mong mỏi trông đợi ở nơi tất cả con cái của Người?. Còn đâu là hạnh phúc đích thực?. Là Con Đường dẫn đến Nước Trời, Nơi có sự sống hạnh phúc muôn đời?.

— Lạy Mẹ Maria, Mẹ hiền mẫu của chúng con – Xin thương giúp chúng con có được con mắt Đức Tin để thấy được những sự ác độc thâm hiểm của bóng tối nhất là khi màn đêm buông xuống. Giúp chúng con siêng năng lần Chuỗi Mân Côi và đọc Lời Chúa … Là hai bửu bối quan trọng luôn gìn giữ thân xác và linh hồn sống đời của chúng con, cách an toàn nhất.

— Nhờ có Mẹ mà chúng con hết thảy sẽ có được cuộc sống yên hàn hơn, kiên nhẫn hơn trong sự chờ đợi ngày Chúa đến đón chúng con ra khỏi cuộc đời này và thưởng ban cho được lên Trời với Chúa. Xin Mẹ Maria tiếp tục giúp chúng con cố gắng từng ngày để sống trong yêu thương, hy sinh và tha thứ cho nhau cùng vác Thánh Giá đời mình. Để mỗi bước đi của chúng con sẽ luôn có Ánh Sáng Chúa chỉ ra con đường về Nhà Chúa ngày càng rõ nét hơn. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

2 tháng 9, 2020

————————————————

Xin bấm vào mã số dưới đây để hát theo:

Đường Về Thiên Đàng

ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA VỚI MƯỜI HAI VỊ TÔNG ĐỒ?

ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA VỚI MƯỜI HAI VỊ TÔNG ĐỒ?

Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp.  Giacôbê trở thành giám mục đầu tiên của Giêrusalem . Giuđa Tađêô được tôn kính là “Tông đồ của người Armênia”.

Ở phần cuối của Phúc âm Mátthêu, trước khi mô tả việc Chúa Giêsu lên trời, thánh sử trình bày lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Vậy các người hãy đi làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ …” (Mátthêu 28, 19-20).  Như đã thấy trong sách Công vụ và trong nhiều tác phẩm truyền thống khác của Kitô giáo (ngụy thư hay không), khi nhận được lệnh truyền của Chúa là đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng, các tông đồ đã không lãng phí thời gian của mình.  Tất cả các tài liệu các tông đồ ban đầu trình bày họ ngay lập tức đặt tay vào cày, dấn thân vào công việc khó khăn là gieo hạt giống đức tin ở mọi nơi họ đi qua.  Vậy rốt cuộc các ngài đã đi đâu?  Các ngài có thực sự “làm cho muôn dân nước trở thành môn đệ” không?

Phêrô
Theo truyền thống, người ta tin rằng thánh Phêrô lần đầu tiên đến Antiôkia và thành lập một cộng đoàn ở đó.  Ngài đã không ở lại đó lâu lắm, nhưng ngài thường được biết đến với tư cách là giám mục đầu tiên của Antiôkia.  Sau đó, ngài có thể đã đến thăm Côrintô trước khi đến Rôma.  Tại đây, ngài đã giúp thành lập cộng đoàn Kitô giáo và cuối cùng đã tử vì đạo tại Hí trường (Colosseum) Nero vào khoảng năm 64 sau Công nguyên ở Rôma.  Nhà thờ Thánh Phêrô ở Vatican được xây dựng trên phần mộ của Thánh Phêrô.

Anrê
Sau Lễ Ngũ Tuần, nhiều truyền thống cổ xưa cho thấy thánh Anrê, anh trai của thánh Phêrô, là Tông đồ cho người Hy Lạp.  Người ta tin rằng ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn Hy Lạp và đã tử vì đạo tại Patras trên một cây thánh giá hình chữ X.  Các thánh tích của ngài cuối cùng được chuyển đến Nhà thờ Duomo ở Amalfi, Ý.

Giacôbê Lớn (Tiền)
Người ta cho rằng thánh Giacôbê là tông đồ đầu tiên tử vì đạo.  Trong Công Vụ Tông Đồ có đoạn viết, “Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh.  Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gio-an.” (Cv 12: 1-2).  Ngài qua đời vào năm 44 sau Công nguyên tại Giêrusalem, nhưng phần mộ của ngài không ở gần vị trí này.  Sau khi qua đời, thi hài của ngài được chuyển đến Tây Ban Nha và hiện đang được đặt tại Santiago de Compostela.  Phần mộ của ngài là điểm đến của các cuộc hành hương diễn ra trong hàng thế kỷ, gọi là El Camino, và vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay.

Gioan
Tác giả của Phúc âm Gioan và Sách Khải huyền, thánh Gioan là tông đồ duy nhất không bị tử vì đạo.  Trong sách Khải Huyền, ngài viết từ đảo Pátmô, Hy Lạp, “Tôi là Gio-an, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giê-su.  Lúc ấy, tôi đang ở đảo gọi là Pátmô, vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giê-su.” (Khải Huyền 1: 9).  Ngài qua đời vào khoảng năm 100 sau Công nguyên và được chôn cất gần Êphêsô.

Philípphê
Trong những năm sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, thánh Philípphê phục vụ các cộng đoàn nói tiếng Hy Lạp.  Người ta biết rất ít về những chuyến đi của ngài, ngoại trừ việc ngài đã tử vì đạo vào khoảng năm 80 sau Công Nguyên.  Thánh tích của ngài được đặt tại Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.

Bathôlômêô
Người ta biết rất ít về những nỗ lực truyền giáo của thánh Bathôlômêô.  Nhiều truyền thống khác nhau nói ngài đã rao giảng ở nhiều khu vực khác nhau.  Người ta tin rằng ngài đã tử vì đạo và hài cốt của ngài hiện đang được đặt tại nhà thờ Thánh Bathôlômêô trên hòn đảo duy nhất của dòng sông Tiber, ở Rôma.

Tôma
Tông đồ “đa nghi”, thánh Tôma được biết đến rộng rãi nhờ những nỗ lực truyền giáo ở Ấn Độ.  Có một câu chuyện phổ biến về một trong những chuyến đi của ngài tập trung vào việc trở lại đạo của một vị vua địa phương “đa nghi.”  Thánh Tôma mất khoảng năm 72 sau Công nguyên và phần mộ của ngài được đặt tại Mylapore, Ấn Độ.

Mátthêu (1)
Một trong bốn nhà viết sách Tin Mừng, thánh Mátthêu được biết đến nhiều nhất qua Phúc âm của ngài.  Ngài đã rao giảng cho các cộng đoàn khác nhau ở Địa Trung Hải  trước khi tử đạo ở Êthiopia.  Phần mộ của ngài nằm trong nhà thờ lớn ở Salerno, Ý.

Giacôbê Nhỏ (Hậu) (2)
Các học giả tin rằng thánh Giacôbê Nhỏ là tác giả của “Thư Thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước.  Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Thánh Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh.  Ngài ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62.  Một số di tích của ngài có thể được tìm thấy ở Vương Cung Thánh Đường Các Thánh Tông Đồ (Santi Apostoli), ở Roma.  Người ta cũng tin rằng phần mộ của ngài được đặt tại Nhà thờ Thánh Giacôbê ở Giêrusalem.

Giuđa Tađêô
Là sứ đồ “bị lãng quên” do tên của ngài giống với Giuđa Ítcariốt, thánh Giuđa đã rao giảng phúc âm ở nhiều nơi.  Ngài được Giáo Hội Armenia tôn kính là “Tông đồ của người Armenia.”  Ngài chịu tử đạo vào khoảng năm 65 sau Công nguyên tại Beirut, Lybăng.  Hài cốt của ngài hiện đang ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Simon Nhiệt thành
Simon thường được miêu tả cùng với Giuđa Tađêô và một số người tin rằng hai người cùng nhau giảng đạo như một cặp.  Điều này một phần là do truyền thống cho biết cả hai ngài đều tử đạo ở Beirut trong cùng một năm.  Một số di tích của thánh Simon Nhiệt thành được cho là nằm trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Roma.

Mátthia
Sau khi được chọn làm “tông đồ thay thế”, một truyền thống nói rằng thánh Mátthia đã thành lập một giáo hội ở Cappadocia và phục vụ cho các Kitô hữu trên bờ biển Caspi.  Người ta tin rằng ngài đã chết một cái chết vì đạo, bị chặt đầu bằng rìu ở Colchis dưới tay nhiều người ngoại giáo ở đó.  Một số di vật của ngài được cho là đã được Thánh Hêlêna mang đến Roma.
________
Chú thích:
(1) Tại sao Thánh Matthêu có hai tên trong Kinh thánh?

Người thu thuế nổi tiếng trở thành tông đồ có thể đã đổi tên riêng sau khi gặp Chúa Giêsu Kitô.

Việc thay đổi tên có ý nghĩa quan trọng trong Kinh thánh, vì chúng thường báo hiệu một sứ mệnh mới từ Thiên Chúa.  Ví dụ, Ápram trở thành Ápraham và Simon được đổi tên thành Phêrô.

Một nhân vật khác trong Kinh thánh mà nhiều học giả tin rằng đã được đổi tên là tông đồ Mátthêu.  Trong Phúc âm Mátthêu, người thu thuế được Chúa Giêsu Kitô kêu gọi trở thành tông đồ được đặt tên là “Mátthêu” (Mátthêu 9: 9).

Tuy nhiên, trong Phúc âm của Máccô, người thu thuế đó được đặt tên là “Lêvi” (Máccô 2:14).

Một số học giả tin rằng người thu thuế đơn giản có hai tên, một bằng tiếng Hy Lạp (Mátthêu) và một bằng tiếng Do Thái (Lêvi).  Điều này rất có thể xảy ra, vì các học giả chỉ ra Simon (Phêrô) và Saulô (Phaolô) là những ví dụ tương tự không biểu thị sự thay đổi tên, mà là sự tồn tại của hai tên ở hai ngôn ngữ khác nhau.

Đồng thời, các học giả khác tin rằng điều này có thể cho thấy một sự thay đổi tên.  Trong Bách khoa toàn thư Công giáo, có giải thích, “Có thể là Mattija, ‘món quà của Iaveh,’ là cái tên được Chúa Giêsu  đặt cho người thu thuế khi Ngài gọi ông làm Tông đồ, và từ đó ông được biết đến trong các anh em Kitô hữu, Lêvi là tên ban đầu của ông”.

Trong thực tế, cả hai lý thuyết đều có thể xảy ra.  Điều chắc chắn là sau khi bỏ công việc thu thuế, cộng đoàn Kitô giáo sơ khai đã mãi mãi gọi ông là “Mátthêu”.  Dù là trường hợp nào, cả hai tên đều có khả năng truyền cảm hứng cho những suy niệm hình tượng, như có thể thấy trong đoạn văn sau đây từ Truyền thuyết Vàng (Golden Legend), một văn bản phổ biến thời Trung cổ cung cấp những ý nghĩa đầy tính sáng tạo cho tên các vị thánh.

Mátthêu có hai tên, Mátthêu và Levi.  Mátthêu (Matthaeus) được hiểu là món quà hấp dẫn, hoặc là người đưa ra lời khuyên.  Hoặc tên đến từ magnus, vĩ đại và theos, Chúa, do đó có nghĩa là vĩ đại đối với Thiên Chúa, hoặc từ mamis, bàn tay, và theos, do đó có nghĩa là bàn tay của Chúa.  Thánh Mátthêu là một món quà hấp dẫn bởi sự hoán cải nhanh chóng của ông, là người ban phát các lời khuyên răn khi rao giảng, là người tuyệt vời đối với Thiên Chúa nhờ sự hoàn hảo của cuộc sống của mình, và là bàn tay của Thiên Chúa nhờ việc viết phúc âm của mình.  Levi được hiểu là đưa lên, hoặc đính kèm, hoặc thêm vào, hoặc đặt cùng.  Vị thánh được cất lên từ công việc thuế má, gắn bó với tông đồ đoàn, được thêm vào nhóm các nhà truyền giáo, và được xếp vào danh mục các vị tử đạo.

Trước đây ông có thể được gọi là “Levi”, nhưng kể từ khi ông gặp gỡ Chúa Giêsu, thế giới đã biết ông là “Mátthêu”.

(2) Tại sao Thánh Giacôbê được gọi là “nhỏ hơn”?

Có vẻ lạ khi gọi một vị thánh nào đó không phải là thánh lớn.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi ít người biết về tông đồ “Giacôbê nhỏ hơn”, là người được mừng lễ, cùng với Thánh Philípphê, vào ngày 3 tháng 5.  Có nhiều người đàn ông trong Tân Ước có tên là Giacôbê, và có hai vị được xác định ở trong nhóm 12 tông đồ ban đầu.

Có Giacôbê và em trai là Gioan, các con trai của Dêbêđê, đều là tông đồ, và sau đó là Giacôbê nhỏ hơn, thường được coi là “con trai của Alphê” cũng như “anh em của Chúa”.  Danh tính này khiến một số học giả cho rằng Giacôbê là anh em họ gần gũi với Chúa Giêsu, nhưng ngoài mối quan hệ đó, hầu như không có điều gì được đề cập về ông hoặc về quá khứ của ông.

Theo Butler, “tên gọi [‘nhỏ hơn’] được cho là bắt nguồn, hoặc từ việc ông được gọi làm tông đồ muộn hơn so với những người trước, hoặc do tầm vóc thấp bé, hoặc bắt nguồn từ thời trẻ.”

Về cơ bản tên gọi đó được dùng để phân biệt hai tông đồ có cùng tên.  Do sự khác biệt ban đầu này, Thánh Giacôbê  Nhỏ thậm chí còn được xếp vào một vị trí “kém hơn” trong Danh Sách Các Thánh (Roman Canon), xếp thứ tự thấp hơn Thánh Giacôbê Tiền trong danh sách các tông đồ.

Tuy nhiên, vai trò của Giacôbê trong Giáo hội sơ khai còn lâu mới “kém hơn” và các hoạt động của ông khá quan trọng.

Một số học giả tin rằng Thánh Giacôbê  Nhỏ là tác giả của “Thư thánh Giacôbê” được tìm thấy trong Tân Ước.  Đó là một bức thư ngắn tập trung vào sự kiên nhẫn trong lúc đau khổ và được biết đến rộng rãi nhất với những câu nói về đức tin và việc làm, “Nhưng có kẻ sẽ nói: Anh, anh có đức tin; tôi, tôi có việc làm!  Hãy cho tôi thấy đức tin không việc làm của anh, và tôi, tôi sẽ lấy việc làm mà cho anh thấy đức tin của tôi.” (Giacôbê 2:18)

Sau khi các tông đồ phân tán và rời khỏi Giêrusalem, Giacôbê vẫn ở lại và trở thành giám mục đầu tiên trong thành phố thánh.  Ông ở đó trong vài thập kỷ cho đến khi bị chính quyền Do Thái ném đá đến chết vào năm 62.  Công việc và máu của ông là tại các cơ sở của Giáo Hội ở Giêrusalem; đó là một trong những Ngai Tòa vĩ đại nhất trong Giáo hội Công giáo trong nhiều thế kỷ sau đó.

Cuối cùng, trong khi Thánh Giacôbê nhận được một danh hiệu nhỏ nhoi sau khi qua đời, điều đó nên nhắc nhở chúng ta rằng danh hiệu thực sự không quan trọng trong cuộc sống này hay đời sau.  Tất cả những gì quan trọng là làm theo ý muốn của Thiên Chúa và bước đi theo bước chân của Ngài.  Giống như Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Giacôbê dạy chúng ta rằng chúng ta nên cố gắng nhỏ đi để Thiên Chúa có thể lớn lên trong cuộc sống của chúng ta.

Tác giả: Philip Kosloski
Nguồn: aleteia.org

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

12 Tong Do 2.jpg