TỪNG CHÚT MỘT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

TỪNG CHÚT MỘT

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nước Thiên Chúa giống như chuyện nắm men bà kia vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men!”

Calvin Miller nói, “Niềm tin muộn màng là điều không thể tránh khỏi!  Việc chấp nhận con tàu là điều rất khó khi trời chỉ mới đổ mưa.  Cái chết là một cơn bão tức thì ập xuống, đến nỗi khi bạn với tay cầm lấy chiếc ô, thì biết rằng, mình cần một đôi cánh có thể bay trong nước!  Vì thế, từng bước một, ‘từng chút một’, bạn hãy biến đổi tâm hồn để có thể đến gần con tàu và yêu lấy nó!”

Kính thưa Anh Chị em,

“‘Từng chút một’, bạn hãy biến đổi tâm hồn để có thể đến gần con tàu và yêu lấy nó!”  Ý tưởng của Calvin Miller được gặp lại trong Tin Mừng hôm nay.  Chúa Giêsu không nói đến một điều gì to tát, nhưng nói đến cái nhỏ bé đến nỗi gần như không trông thấy; đó là một chút men.  Ấy thế, như men trong bột, men ân sủng của Thánh Thần cũng biến đổi một linh hồn ‘từng chút một!’

Men là một thứ luôn hấp dẫn; nó thật nhỏ bé nhưng lại tác dụng mạnh mẽ đối với bột.  Men hoạt động chậm nhưng hiệu quả; với men, bột sẽ dậy lên ‘từng chút một’ và biến đổi.  Đây luôn là điều hấp dẫn đối với trẻ em; bạn sẽ chứng kiến những đôi mắt tròn xoe khi các trẻ có mặt tại lò bánh mì.  Và đây cũng là cách thức Tin Mừng hoạt động.  Việc biến đổi một trái tim hiếm khi diễn ra hiệu quả trong một ngày hay trong một khoảnh khắc; đành rằng, mỗi ngày, mỗi khoảnh khắc đều quan trọng, nhưng hẳn có những khoảnh khắc chuyển đổi mạnh mẽ mà mỗi người có thể chỉ ra.  Như chút men âm thầm làm cho thúng bột dậy lên, việc biến đổi trái tim cũng là một điều gì đó thường diễn ra ‘từng chút một!’  Nhưng nếu bạn và tôi cho phép Chúa Thánh Thần điều khiển cuộc sống mình một cách liên tục và bền bỉ, chúng ta sẽ trưởng thành sâu sắc hơn trong sự thánh thiện như bột trồi lên một cách chậm rãi nhưng chắc chắn nhờ sự nồng nàn của men.

Đôi khi, sự chán nản của thế giới, cùng với bao hoạt động trong cuộc sống ngăn cản chúng ta dừng lại để xem cách Thiên Chúa đang vận hành lịch sử.  Tuy nhiên, Tin Mừng bảo đảm rằng, Ngài đang hoạt động như men âm ỉ đang âm thầm hoạt động; và, ‘từng chút một’, ‘thúng bột thế giới’ dậy lên.   Chút men của những việc lành nơi chúng ta tuy nhỏ bé, nhưng nó phát xuất từ Thiên Chúa cho dẫu tất cả xảy ra trong khiêm nhu, tiềm ẩn, và thường là vô hình.

Trong thư Êphêsô hôm nay, khi suy gẫm đời sống hôn nhân Kitô giáo, Phaolô nói, “Mầu nhiệm này thật lớn lao, tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh.”  Phaolô hẳn đã nghĩ đến Thánh Thần vốn là men tác động giữa người nam và người nữ ‘từng chút một.’  Chính Thánh Thần kết hợp hai người trong Chúa, làm cho họ nên vợ, nên chồng.  Cũng trong Thánh Thần, Chúa Kitô và Hội Thánh làm nên gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi giữa lòng ‘thúng bột thế giới.’  Đó là một gia đình kính sợ Chúa như Thánh Vịnh đáp ca lưu ý, “Hạnh phúc thay những người kính sợ Chúa!”

Anh Chị em,

“Cho đến khi tất cả bột dậy men.”  Viên men đầu tiên Thiên Chúa vùi vào ‘thúng bột nhân loại’ là Giêsu; không chỉ vùi vào lòng nhân loại, men Giêsu còn vùi vào đất.  Thế nhưng, ‘từng chút một’, ‘từng con người một’, ‘từng mảnh đất một’, đã thấm nhuần men yêu thương của Ngài.  Cũng thế, như bao người khác, chúng ta mang lấy xác thể; nhưng trong xác thể quá đỗi bình thường này, Thiên Chúa đã đặt trong đó một chút men thần linh ngày chúng ta lãnh nhận phép Thánh Tẩy.  Vì thế, bạn và tôi không còn là “bột” thường, nhưng là “bột men.”  Quả thế, Chúa đang vùi chúng ta vào lòng công sở, trường học, đồng áng… mọi ngõ ngách của thế giới.  Ngài ước men Tin Mừng trong chúng ta ‘từng chút một’, ‘từng bước một’, với khả năng và hoàn cảnh rất riêng của mình, đem những con người chúng ta gặp gỡ trên đường đời ‘đến gần con tàu và yêu lấy nó’; “Con Tàu Giêsu”,“Con Tàu Giáo Hội’, để cả họ, cũng được Thánh Thần biến đổi!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Thánh Thần, xin biến đổi con ‘từng chút một’ để con có thể ‘yêu lấy con tàu Giêsu’ ngày một hơn; cho con luôn là men nồng nàn nâng dậy môi trường Chúa đã đặt con!” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim

Tại sao chúng ta đọc “Amen” vào cuối kinh Tin kính – Cha Vương

Tại sao chúng ta đọc “Amen” vào cuối kinh Tin kính

Tạ ơn Chúa một ngày mới, ước mong bạn tận dụng những thời gian trong ngày để đến gần với Chúa và những người thân yêu hơn hôm qua nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 27/10/2022

GIÁO LÝ: Tại sao chúng ta đọc “Amen” vào cuối kinh Tin kính [hoặc các kinh đọc hằng ngày]? Chúng ta kết thúc kinh Tin Kính bằng từ Amen. Từ này theo tiếng Do Thái có nghĩa là “thưa vâng”, bởi vì Thiên Chúa mời gọi chúng ta trở thành nhân chứng đức tin. Ai nói Amen là vui sướng và tự do tán thành công việc tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa, Amen cũng là tin tưởng chắc chắn, trông cậy và trung thành. (YouCat, số 165)

SUY NIỆM: Theo tiếng Hibá, từ Amen có ý nghĩa vừa là “tin” vừa là “tin chắc, tin cậy và trung thành”. “Ai nói Amen là ký tên xác nhận” (Thánh Augustinô). Ta chỉ có thể công bố Amen không chút nghi ngại chỉ vì Chúa Giêsu đã chứng tỏ cho ta biết bằng cái chết và sự sống lại của Người rằng: Người là đấng trung thành, và đáng tin cậy. Người là “Amen” của loài người đối với tất cả những lời Thiên Chúa hứa, Người cũng là “Amen” dứt khoát của Thiên Chúa với mọi người chúng ta. 

❦ Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là “có” nơi Người. Vì thế, cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên “Amen” để tôn vinh Thiên Chúa. (2 Cr 1:20)

❦Amen được dùng trong Cựu Ước với ý nghĩa chính là “mong được như vậy”, để làm cho mong ước hoạt động của Thiên Chúa mạnh mẽ hơn, hoặc để liên kết với lời ca tụng Thiên Chúa. Trong Tân Ước, Amen được dùng để tăng cường cho kết luận của lời cầu nguyện. Thường Chúa Giêsu dùng Amen cách đặc biệt để dẫn vào một lời nói quan trọng. Amen ở đây làm nổi uy thế của lời nói. (YouCat, số 165 t.t.)

LẮNG NGHE: Amen, Amen, Thầy nói cho anh em hay, anh em sẽ thấy Trời mở ra, và các Thiên Thần của Thiên Chúa lên xuống trên Con Người. (Ga 1:51)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, là một người Ki-tô hữu tiếng “Amen” không còn gì xa lạ nhưng rất nhiều lần con chỉ đọc cho qua loa vô ý thức, xin cho con biết tin tưởng chắc chắn, trông cậy và trung thành vào lời con tuyên xưng như là một mệnh lệnh sống của đức tin trong ngày.

THỰC HÀNH: Đọc chữ “amen” với niềm xác tín.

From: Đỗ Dzũng

Thế giới sẽ tận cùng thế nào?-Cha Vương

Thế giới sẽ tận cùng thế nào?

Houston hôm nay trời lạnh, ước mong bạn cảm nhận được hơi ấm của bình an, của tình thương trong lòng hôm nay nhé. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và cho nền hoà bình trên thế giới.

Cha Vương

Thứ 4: 26/10/2022

GIÁO LÝ: Thế giới sẽ tận cùng thế nào? Khi tận thế, Thiên Chúa sẽ tạo dựng một trời mới đất mới. Sự dữ sẽ không còn quyền lực hay quyến rũ nữa. Những ai được cứu rỗi sẽ chiêm ngưỡng Thiên Chúa mặt đối mặt như bạn hữu của Người. Niềm ước mong hòa bình và công lý của họ sẽ được thỏa mãn. Hạnh phúc của họ là được chiêm ngắm Chúa. Thiên Chúa Ba Ngôi sẽ ở giữa họ, sẽ lau khô mọi giọt lệ trên mắt họ: sự chết sẽ không còn nữa, và cũng không còn tang chế, khóc lóc, và đau khổ nữa. (YouCat, số 164)

SUY NIỆM: Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất. Đấng ngự trên ngai phán: Này đây Ta đổi mới mọi sự. Rồi Người phán: Ngươi hãy viết: Đây là những lời đáng tin cậy và chân thật. (Kh 21.4-5) (YouCat, số 164 t.t.)

LẮNG NGHE: Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời. (Mc 13:27)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin thương ban cho con niềm hy vọng vào Lời Hứa và lời Chúa căn dặn để con biết sống từng giây phút hiện tại với lòng trông cậy, tin yêu và phó thác tuyệt đối vào Chúa để một ngày nào đó được tận hưởng niềm hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa.

THỰC HÀNH: Nếu bạn có một ngày nữa để sống, bạn cần phải là gì? Tập kết hiệp với Chúa qua lời kinh tiếng hát thay vì lướt mạng.

From: Đỗ Dzũng

Sự xét xử cuối cùng (phán xét chung) là gì?-Cha Vương

Sự xét xử cuối cùng (phán xét chung) là gì?

Xin Chúa chúc lành và đổ tràn muôn ơn lành xuống trên bạn và gia đình hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 25/10/2022

GIÁO LÝ: Sự xét xử cuối cùng (phán xét chung) là gì? Phán xét cuối cùng sẽ diễn ra vào lúc tận thế, lúc Chúa Kitô đến lần thứ hai. “Mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng Người và bước ra. Những kẻ đã làm việc lành, sẽ sống lại để hưởng Sự Sống đời đời. Những kẻ đã làm ác, sẽ sống lại để chịu phán xét”—Ga 5:29. (YouCat, số 163)

SUY NIỆM: – Khi Chúa Kitô trở lại trong vinh quang, Người sẽ tỏa sáng trên ta; chân lý sẽ xuất hiện sáng trưng: Tư tưởng, hành động, mối quan hệ giữa ta với Thiên Chúa, với người khác, sẽ được phơi bày ra ánh sáng. Lúc đó ta sẽ biết rõ ý nghĩa cuối cùng của cuộc sáng tạo trời đất muôn vật, và hiểu rõ những phương thế tuyệt vời Thiên Chúa đã dùng để cứu ta. Sau hết lúc đó ta sẽ trả lời được câu hỏi hằng được lập đi lập lại rằng: quả thực Thiên Chúa là toàn năng thế mà sao sự dữ lại có sức mạnh quá lẽ như vậy? Phán xét chung thực sự là phán xét cuối cùng đối với ta. Chính lúc này sẽ định đoạt cho ta hoặc sẽ sống lại để sống vĩnh hằng hoặc phải lìa xa Chúa muôn đời. Đối với những ai đã chọn sự sống, Thiên Chúa sẽ lại dẫn đưa họ như Đấng tạo hóa: trong “một thân xác mới” (2 Cr 5,1), họ sẽ sống muôn đời trong vinh quang của Chúa và ca tụng Người với cả xác hồn. (YouCat, số 163 t.t.)

LẮNG NGHE: Khi con người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập họp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê… Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời. Mt 25:31-32,46

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, sống trước một thế giới sa đọa và tội lỗi ngày nay, xin cho con biết lo lắng cho số phận đời đời của con và của những người sống chung quanh con nữa bằng cách khuyến khích và giúp đỡ nhau sống trong tình yêu và ân sủng của Chúa để chuẩn bị cho ngày ra trước tòa Thiên Chúa.

THỰC HÀNH: Tự trả lời cầu hỏi sau đây: Bạn đã và đang chuẩn bị gì cho sự sống đời đời của mình vậy?

From:Do Dzung

HÃY THẢ LƯỚI BÊN PHẢI THUYỀN (Lc 5,1-11)

HÃY THẢ LƯỚI BÊN PHẢI THUYỀN (Lc 5,1-11)

 TGM. Ngô Quang Kiệt

Các Tông đồ đã đánh cá vất vả suốt đêm mà không được con cá nào.  Nay Chúa Giêsu bảo các ngài phải ra khơi một lần nữa.  Chắc các ngài phải ngần ngại lắm.  Ngần ngại vì vừa qua một đêm vất vả, thân thể mỏi nhừ vì suốt đêm phải vật lộn với biển cả, với sóng gió, với chài lưới.  Ngần ngại vì đang buồn ngủ.  Mắt chĩu nặng vì suốt đêm không ngủ, đang cần một giấc ngủ để hồi phục sinh lực.  Ngần ngại vì vừa bị thất bại ê chề, đã mất hết ý chí phấn đấu.  Thế nhưng các ngài vẫn vâng lời Chúa, ra khơi, thả lưới.  Và kết quả thật là bất ngờ.  Lưới đầy cá chất đầy hai thuyền đến gần chìm.

Qua bài Tin Mừng này Chúa muốn dạy tôi những bài học về việc truyền giáo.

Bài học thứ nhất: Truyền giáo là một công việc đòi hỏi vất vả.  Phải lao động đêm ngày.  Như các Tông đồ đã chài lưới suốt đêm thâu trong sương đêm giá lạnh, trong sóng gió biển khơi, trong vất vả cực nhọc.  Suốt đêm đã lênh đênh trên biển cả, sáng sớm vừa mới về tới đất liền, tưởng được nghỉ ngơi, không ngờ lại phải ra khơi ngay tức khắc.  Ra khơi cả lúc đang mệt mỏi cần nghỉ ngơi.  Người muốn truyền giáo cũng phải noi gương các tông đồ.  Làm việc không nghỉ.  Phải đầu tư sức lực và trí tuệ.  Phải phấn đấu không ngừng.  Làm cho hết việc chứ không làm cho hết giờ.  Và phải chấp nhận tất cả những mỏi mệt, những thử thách.

Bài học thứ hai: Truyền giáo là một công việc đòi hỏi kiên trì.  Vì việc truyền giáo có nhiều thất bại hơn thành công, có nhiều mệt nhọc hơn vui thích, nên việc truyền giáo đòi hỏi rất nhiều kiên trì.  Kiên trì khi đã gặp thất bại.  Kiên trì khi đã chán nản, mệt mỏi rã rời.  Kiên trì khi gặp những trắc trở.  Như lời thánh Phaolô khuyên dạy: “Hãy rao giảng Lời Chúa.  Hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2Tim 4,2).  Các Tông đồ thật kiên trì, mặc dù đã thất bại sau suốt một đêm vất vả, các ngài vẫn tiếp tục ra khơi theo lệnh Chúa truyền.  Trong quá khứ, ta đã gặp nhiều thất bại trong việc truyền giáo.  Hôm nay Chúa lại mời gọi ta hãy ra khơi, hãy lên đường truyền giáo.  Ta hãy mau mắn đáp lời Chúa mời gọi, kiên nhẫn làm việc trên cánh đồng truyền giáo, bất chấp mọi thất bại, bất chấp mọi chán nản. 

Bài học thứ ba: Truyền giáo là một công việc đòi hỏi thanh luyện bản thân.  Truyền giáo là công việc thánh thiện nên người truyền giáo phải thánh thiện.  Sự thánh thiện khởi đi từ nhận thức thân phận yếu hèn tội lỗi.  Và từ đó nảy sinh nhu cầu được thanh luyện.  Như Phêrô cảm thấy mình tội lỗi không xứng đáng ở gần Chúa.  Như Phaolô ngã ngựa cảm thấy mình lầm lạc.  Như Isaia cảm thấy môi miệng mình ô uế.  Sau khi được thanh luyện các ngài đã trở thành những nhà truyền giáo gương mẫu.  Thánh hoá bản thân là một điều kiện quan trọng để truyền giáo thành công. 

Bài học thứ tư: Truyền giáo là một công việc đòi hỏi lắng nghe Lời Chúa.  Vì truyền giáo là một công việc thiêng liêng.  Nên ta không thể cậy dựa vào sức lực phàm nhân, phương tiện phàm trần.  Các tông đồ là những ngư phủ chuyên nghiệp.  Các ngài biết rõ biển hồ Galilê như lòng bàn tay.  Thế mà các ngài đánh cá suốt đêm chẳng được con nào.  Đó là bài học dạy ta biết rằng, nếu cậy dựa vào tài sức riêng, việc truyền giáo sẽ không có kết quả.  Việc các tông đồ vâng lời Chúa ra khơi và vâng lời Chúa thả lưới bên phải mạn thuyền cho ta thấy một thái độ khiêm nhường lắng nghe.  Dù Chúa Giêsu không phải là ngư phủ chính gốc.  Dù Chúa Giêsu không hiểu biết biển hồ, nhưng các ngài vẫn vâng lời Chúa.  Chính nhờ thế, các ngài đã thành công.  Người làm việc truyền giáo phải noi gương các tông đồ biết khiêm nhường nhận biết sự bé nhỏ nghèo hèn của bản thân để thao thức lắng nghe Lời Chúa.  Chỉ làm theo Lời Chúa, làm theo ý Chúa, làm vì Chúa việc truyền giáo mới có kết quả tốt đẹp. 

Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta một nghị lực mạnh mẽ để sẵn sàng chấp nhận những vất vả khổ cực trong việc truyền giáo.  Xin cho chúng ta biết chấp nhận cả những thất bại mà vẫn kiên trì lên đường truyền giáo.  Và nhất là xin cho mọi người chúng ta được Chúa dạy bảo, để biết làm theo ý Chúa.  Chỉ có như thế, việc truyền giáo mới có kết quả tốt đẹp.

Lạy Chúa Giêsu, xin kêu gọi chúng con lên đường truyền giáo.  Lạy Chúa Giêsu, xin thanh luyện chúng con để xứng đáng làm việc truyền giáo.  Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết cách làm việc truyền giáo.  Amen! 

TGM. Ngô Quang Kiệt

From: Langthangchieutim

Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên. (Lc 18:14b) – Cha Vương

Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên. (Lc 18:14b) – Cha Vương

Ngày Chúa Nhật an vui và hạnh phúc bên Chúa và bên nhau nhé.

Cha Vương

CN: 23/10/2022

TIN MỪNG: Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên. (Lc 18:14b)

SUY NIỆM: Giáo sư tâm lý học tại Đại học Georgia có viết: “Những người có lòng tự cao mong manh thường bù đắp cho sự nghi ngờ bản thân bằng các xu hướng phóng đại để bảo vệ và nâng cao giá trị của bản thân.” Nhìn vào thái độ của người Pha-ri-sêu khi họ cầu nguyện bạn cũng thấy sự ẩn hiện của lòng tự cao mong manh này. Họ nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.” (Lc 18:11-12) Có bao giờ bạn tự phóng đại để bảo vệ nâng cao giá trị của bản thân mình không? Thường tình, con cá bị mất bao giờ cũng là con cá to nhất. Phải không bạn? Hôm nay Chúa dạy cho bạn một bài học khiêm tốn và tự trọng. Người khiêm tốt là người có thì nói có, không thì nói không, khi phạm lỗi thì biết xin lỗi. Họ không tìm cách biện hộ cho chính mình một cách quá đáng hoặc làm cho người khác hài lòng qua hành động và lời nói của họ. Còn người tự trọng là người có cách nhìn nhận sự việc và sự hiện tượng chính xác, rất khách quan, từ đó đưa ra lối ứng xử phù hợp giúp giữ gìn nhân phẩm và danh dự cho bản thân và cho người khác. Họ không thêm mắm thêm muối hoặc thổi phồng để bảo vệ họ hoặc hạ bệ người khác. Đừng trèo cao quá nhé bạn, kẻo bị té đau đó…

LẮNG NGHE: Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. (Cl 3:12)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, phận người con hay thích khoe khoang, không thèm học hỏi người khác và cũng không muốn bị người khác phê bình, góp ý, từ đó dẫn đến chủ quan và thất bại trong cuộc sống, xin cho con lòng tự trọng và khiêm tốn ĐỦ để bước theo chân Chúa và phục vụ anh em một cách tốt đẹp hơn.

THỰC HÀNH: Có bao giờ xem thường và đánh giá thấp người khác không? Tập tìm kiếm những điều tích cực nơi môi trường sống của bạn. Bạn tìm cái gì thì sẽ thấy cái đó… đừng tìm khuyết điểm của nhau hãy tìm những đức tính tốt để sống tốt đẹp hơn.                               

From: Đỗ Dzũng

KHIÊM TỐN TRONG CẦU NGUYỆN

KHIÊM TỐN TRONG CẦU NGUYỆN

 Lm. GB. Trần Văn Hào

Ông Alexin Carnel, người lãnh giải Nobel về Y khoa năm 1978, đã chia sẻ kinh nghiệm về đức tin khi ông phát biểu: “Cầu nguyện là một hoạt động không thể thiếu để phát triển con người toàn diện.  Càng cầu nguyện, chúng ta càng trở nên con người hơn.”  Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu một lần nữa dạy chúng ta cầu nguyện với sự khiêm hạ chân thành.  Càng khiêm tốn, chúng ta càng trở nên vĩ đại, vì được thông dự vào sự cao cả và quyền năng của Thiên Chúa.  Điều đó cũng tương hợp với tư tưởng của Pascal khi ông nói: “Con người rất nhỏ bé và tầm thường, nhưng chúng ta sẽ trở nên vĩ đại và phi thường nếu biết cầu nguyện.”

 Cầu nguyện: Từ thái độ kiên trì đến tâm tình khiêm tốn

 Tuần trước, lời Chúa khuyên mời chúng ta kiên trì trong việc cầu nguyện qua hình ảnh của Moise đứng giang tay trên núi cầu khẩn khi đoàn quân của ông giao chiến với đội quân Amalếch, hoặc qua thái độ kiên nhẫn của một bà góa đứng kiện cáo nơi cửa công.  Tuần này, Chúa cũng vay mượn hình ảnh khiêm hạ của một người thu thuế, đối nghịch với thái độ cao ngạo của ông Pharisiêu khi lên đền thờ cầu nguyện, để dạy chúng ta phải có thái độ khiêm tốn mỗi lần đến với Chúa.  Chúng ta đã nghe khá nhiều về việc cầu nguyện.  Nhưng sự khiêm hạ Chúa nói hôm nay đòi hỏi nơi chúng ta điều gì và chúng ta đã thực hành như thế nào?

Trước hết, chúng ta nghe lại bài đọc 1 trong sách Huấn ca được đọc lên trong phụng vụ hôm nay.  Tác giả viết: “Đức Chúa là Đấng xét xử, người chẳng thiên vị ai.  Người không vị nể mà hại kẻ nghèo hèn, nhưng nghe lời kêu xin của người bị áp bức, lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của người góa bụa.”  Ba hạn từ nêu trên, nói về những người nghèo khổ, cô thế cô thân trong xã hội Do thái thời xưa.  Kẻ mồ côi, kẻ bị áp bức, người góa bụa, là những người thấp kém và bị mọi người coi khinh.  Họ là đại biểu của giai tầng thấp nhất trong xã hội, nhưng lời cầu nguyện của họ luôn được Thiên Chúa lắng nghe.  Trong bài giảng trên núi, Chúa công bố bản Hiến chương Nước Trời với 8 mối phúc dành cho những ai ‘nghèo khó, hiền lành, khóc lóc, bị áp bức…’, tức là những con người luôn biết sống khiêm hạ, không vênh váo và tự mãn về cái tôi của mình như những người quyền quý hay cao sang.  Sự khiêm hạ đó một lần nữa được Chúa nói tới qua hình ảnh người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện, đối kháng với sự kiêu căng tự mãn của người Pharisiêu.  Vào thời Chúa Giêsu, dân chúng luôn dị ứng và tẩy chay những người hành nghề thu thuế.  Họ được xếp ngang với bọn đĩ điếm và phường tội lỗi.  Dân chúng ghét họ vì 3 lý do.  Thứ nhất, họ làm tay sai cho đế quốc Rôma.  Thứ hai, họ phản bội tổ quốc và đồng bào ruột thịt.  Thứ ba, khi đụng đến tiền bạc, chắc chắn họ dễ rơi vào tham nhũng hay hối lộ.  Những người thu thuế thường hay thu quén tiền bạc cách bất chính trên xương máu và mồ hôi nước mắt của người khác.  Đế quốc Rôma ra chỉ tiêu về tiền thuế phải nộp, còn họ sẽ bày ra phương cách để có thật nhiều tiền.  Vì vậy, dân Do Thái luôn khinh ghét họ và xếp họ chung với phường tội lỗi.

Người thu thuế ra về được nên công chính, còn người kia thì không (c.14)

 Sự công chính nơi người thu thuế khởi đầu từ việc ông nhận ra lỗi lầm của mình và thực tình sám hối.  Sám hối, theo nguyên ngữ Hy Lạp ‘Metanoia’, có nghĩa là ‘trở về.’  Sám hối không phải chỉ là đấm ngực mình cách máy móc như nhiều khi chúng ta vẫn hay làm khi đọc kinh ‘tôi thú nhận.’  Hành vi đấm ngực, cúi gầm mặt xuống vì xấu hổ nơi người thu thuế là bước khởi đầu của cuộc hành trình trở về.  Thánh Luca trong chương 15 kể dụ ngôn đứa con đi hoang để nói về cách sám hối chúng ta cần biểu tỏ.  Chàng thanh niên can đảm đứng lên, giã từ quá khứ để trở về nhà trong vòng tay yêu thương của Cha.  Sự công chính chúng ta có được không phải do nỗ lực cá nhân, nhưng trước hết là do ơn sủng nhưng không, đến từ Thiên Chúa.  Trong thơ Rôma, Thánh Phaolô đã cắt nghĩa rất rõ: “Ân sủng Đức Kitô làm cho chúng ta nên công chính, vì ở đâu tội lỗi càng nhiều, ơn sủng càng chan chứa gấp bội (Rm 5, 20-21).  Đức Giêsu đã khiêm nhường, tự hạ chấp nhận cái chết và máu của Ngài làm cho chúng ta được công chính hóa.  Vì vậy điều kiện tiên quyết để được tha thứ và chữa lành, chính là thái độ khiêm tốn nội tâm.

Muốn sống khiêm tốn phải biết mình

 Người thu thuế biết rõ về chính mình, về những bất xứng và tội lỗi anh ta đã gây ra.  Từ chỗ biết mình, anh đã can đảm đi ra khỏi cái tôi để quy hướng về Thiên Chúa.  Ngược lại, người biệt phái quá kiêu ngạo, tưởng rằng biết rõ về bản thân, nhưng thực sự thì không.  Ông chỉ biết quy về mình.  Ông trưng ra những thành tích đạo đức để khoe mẽ mà không biết rằng những việc tốt mà ông có thể làm, tất cả là do ơn của Chúa chứ không phải do công lao của ông.  Ông đến đền thờ cầu nguyện tựa như đi tham dự một hội nghị biểu dương ‘Người tốt việc tốt’, giống như xã hội hôm nay vẫn hay tổ chức.  Một người đứng lên giữa đám đông kể ra những ‘thành tích xuất sắc’ của mình để nhận bằng khen hay giấy khen, nhiều khi rất lố bịch và giả tạo.  Nhiều người đi tham dự hội nghị còn đeo đầy huy chương để khoe cho mọi người biết tôi là người có công với đất nước.  Người Pharisiêu trong dụ ngôn hôm nay cũng thế.   Ông ta trưng ra những thành tích đạo đức để mong Chúa ban cho ông một tấm bằng khen.  Chúa biết rõ tâm hồn mỗi người, từ những gì sâu kín nhất tận bên trong.  Điều Chúa mong muốn nhất, chính là sự khiêm hạ và thành tâm sám hối.  Khi chúng ta đến trình diện trước mặt Chúa, Chúa không thích ngắm những bộ huy chương chúng ta đeo trên ngực hay nhìn những bằng khen chúng ta trưng ra để khoe khoang.  Ngài chỉ thích mân mê sờ nắn những vết sẹo nơi tâm hồn chúng ta, là dấu chứng tội lỗi chúng ta phạm nhưng đã được Thiên Chúa yêu thương và chữa lành.  Câu chuyện dụ ngôn trong bài Tin mừng hôm nay khẳng quyết điều ấy.

Kết luận

 Bắt chước người thu thuế trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta hãy đến với Chúa với tâm tình sám hối và khiêm hạ, đặc biệt khi chúng ta giơ tay đấm ngực mỗi lần dâng Thánh lễ.  Nhiều khi chúng ta đấm ngực mình một cách rất máy móc để rồi khi về đến nhà, lại giơ tay đấm nhầm qua ngực người khác, bằng cách kết án hết người này đến người nọ.  Chúng ta mượn lại tâm tình của Thánh Charles de Faucauld để thưa lên với Chúa: “Lạy Chúa, dù còn xấu xa hay tội lỗi đến mấy, Chúa cũng không bao giờ kết án và luận phạt.  Chúa cho con tự do để làm mọi sự, nhưng Chúa luôn cấm con không được thất vọng trước sự khốn nạn do tội lỗi con gây ra.  Lạy Chúa, xin xót thương con.”

Lm. GB. Trần Văn Hào

From: Langthangchieutim

Nếu Thiên Chúa là Tình yêu thì sao lại có Hỏa ngục?-Cha Vương

Nếu Thiên Chúa là Tình yêu thì sao lại có Hỏa ngục?

Thứ Sáu rồi bạn ơi! Tạ ơn Chúa! Một cuối tuần hạnh phúc và ấm áp bên Chúa và những người thân yêu nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 21/10/2022

GIÁO LÝ: Nếu Thiên Chúa là Tình yêu thì sao lại có Hỏa ngục? Không phải Thiên Chúa kết án con người vào hỏa ngục mà chính con người là kẻ tự kết án mình khi gạt bỏ tình yêu thương xót của Thiên Chúa. Họ tự tước mất cuộc sống vĩnh cửu khi chính họ tự ý loại mình ra khỏi sự thông hiệp với Thiên Chúa. (YouCat, số 162)

SUY NIỆM: Thiên Chúa ước ao sống hiệp thông ngay cả với tội nhân cuối cùng. Người muốn mọi người ăn năn trở lại và được cứu rỗi. Nhưng Thiên Chúa đã dựng nên con người được tự do, và Người tôn trọng quyết định của họ. Chính Thiên Chúa không thể ép buộc ai yêu mến. Thiên Chúa không kết án con người. Thiên Chúa là tình yêu phải chịu đầu hàng “những ai chọn hỏa ngục hơn là Thiên đàng”. 

(YouCat, số 162 t.t.)

❦ Thiên Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải. (2 Pr 3:9)

❦ Thiên Chúa nhân lành vô cùng sẽ không bao giờ loại bỏ những ai không muốn loại bỏ Người. (Thánh Phanxicô Salêdiô)

LẮNG NGHE: Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. (1 Tm 2:4)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa là Tình Yêu mà lòng con luôn khát khao, xin giúp con biết tránh xa những dịp tội hôm nay để khỏi bị xa lìa Chúa bao giờ.

THỰC HÀNH: Tập đưa câu này vào sau mỗi chục Kinh Mân Côi: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con, xin cứu chúng con cho khỏi Hỏa Ngục, xin đem các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là những linh hồn cần đến Lòng Chúa Thương Xót hơn”.

From: Đỗ Dzũng

Thánh Phao-lô Thánh giá (1694-1775)-Cha Vương

Thánh Phao-lô Thánh giá (1694-1775)

Mến Chúc bạn và gia đình ngày Thứ 5 an lành và cảm nghiệm được tình yêu sâu đậm của Con Thiên Chúa đã chết trên Thập giá để cứu chuộc bạn. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Phao-lô Thánh giá (1694–1775), đấng sáng lập Dòng Thương Khó Chúa Giê-su, vị Thánh ít người biết đến trong giáo dân Việt Nam. Chúc mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 20/10/2022

Thánh Phao-lô Thánh giá sinh tại Ô-vi-đa nước Ý, năm 1694, trong một gia đình thương gia giàu có đạo đức. Ngay từ nhỏ, thánh nhân đã được mẹ dạy dỗ đầy đủ về đạo hạnh, đặc biệt về lòng tôn kính cuộc Thương khó Chúa. Vì thế khi lớn lên, ngài hết lòng kính mến Chúa Giê-su chịu đóng đinh, chịu chết trên khổ giá, hằng ngày thánh nhân thực hành việc hãm mình phạt xác và ăn chay, quỳ gối cầu nguyện lâu giờ trước ảnh chuộc tội.

    Năm lên 20 tuổi, thánh nhân gia nhập Đạo Binh Thánh giá, tham gia công cuộc bảo vệ Hội thánh, chống lại đạo quân Hồi giáo đang xâm chiếm Thánh Địa.

    Năm 1720, thánh nhân được Chúa soi sáng. Ngài thấy cần lập một hội dòng tôn sùng sự Thương Khó Chúa Giê-su. Ngài thảo bộ luật Dòng và gởi xin Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô thứ 14 phê chuẩn.

    Bảy năm sau, thánh nhân chịu chức Linh mục và được phép thâu nhận tập sinh vào dòng. Đó là Dòng Thương Khó, đặc biệt tôn sùng Chúa Giê-su chịu khổ hình chịu chết vì tội loài người. Ngài thường nói với các tập sinh: “Thật là việc tốt lành và thánh thiện khi suy tưởng và suy ngắm các khổ nạn của Chúa, vì nhờ con đường nầy mà người ta đạt tới sự kết hiệp thánh thiện với Thiên Chúa. Chính trong ngôi trường rất thánh nầy, mà người ta học được sự khôn ngoan chân thật, vì chưng, tất cả các thánh đều học khôn ở đó. Khi nào Thập Giá của Đức Giê-su dịu hiền đã đâm rễ trong tâm trí anh em, lúc ấy anh em hãy ca lên: “Chịu khổ chớ không chịu chết”, hay là “hoặc chịu khổ hoặc chịu chết”, hay hơn nữa “chẳng chịu khổ cũng chẳng chịu chết, nhưng chỉ trọn vẹn tuân theo thánh ý Thiên Chúa”.

    “Tình yêu là một năng lực hiệp nhất; nó biến những khổ hình của Đấng thiện hảo đáng yêu mến của mình. Ngọn lửa tình yêu lan tới tận tâm can, biến người yêu thành kẻ được yêu thương, và một cách sâu hơn, tình yêu nhập vào trong khổ đau và đau khổ nhập vào tình yêu; cả hai hòa nhập keo sơn đến nỗi không thể phân biệt tình yêu với đau khổ. Bởi vậy tâm hồn yêu mến reo vui trong chính nỗi khổ sầu, và nhảy mừng hoan lạc trong chính tình yêu bi thương của mình”.

    “Vậy anh em hãy kiên trì thực hành mọi nhân đức, nhất là hãy noi gương bắt chước đức nhẫn nhục chịu đựng trong Đức Giê-su dịu hiền, vì đó chính là tuyệt đỉnh của tình yêu thuần khiết. Anh em hãy làm sao để mọi người thấy anh em không những mang lấy hình ảnh Đức Ki-tô chịu đóng đinh là gương mẫu cho mọi dịu ngọt và hiền lành tự đáy lòng, mà còn cả ở bên ngoài nữa…”

    Ngoài ra việc đào luyện các tu sĩ, thánh nhân còn đi khắp nước Ý, rao giảng kêu gọi mọi người tôn sùng sự Thương Khó Chúa. Đi tới đâu, dân chúng cũng tiếp đón ngài nồng hậu kính cẩn, vì họ nhìn nhận ngài là một Đấng Thánh.

    Thánh nhân qua đời ngày 18 tháng 10 năm 1775 và năm 1865 được tôn phong Hiển thánh.

* Quyết tâm: Hết lòng tôn kính Chúa Giê-su chịu khổ hình chịu chết trên Thánh giá, và hằng ngày sẵn lòng vác khổ giá theo Chúa, để được hưởng nhờ ơn cứu rỗi, theo gương thánh Phao-lô Thánh Giá. (Nguồn: Hạnh Các Thánh, Gx-Xuân Việt)

    Cùng với thánh nhân, mời bạn hôm nay đứng trước Thập Giá Đức Kitô đọc và suy niệm lời kinh sau đây nhé: Lạy cha Thánh Phaolô, là cha và là người anh em của chúng con, giờ đây, chúng con đang cùng ngài đứng trước Thập Giá Đức Kitô. Xin tình yêu được thể hiện cho chúng con nơi thập giá của Đức Kitô chiếm lấy khối óc, con tim và đời sống chúng con. Ngài đã noi gương Chúa Giêsu chịu đóng đinh, thì xin cho chúng con cũng gạt bỏ mọi sự, mà khao khát mỗi thánh ý của Thiên Chúa và làm cho sự tưởng niệm về cuộc Thương Khó và sự Chết của Chúa Giêsu Kitô, Đấng là hy vọng duy nhất của chúng con, luôn sống mãi. Amen.

From: Đỗ Dzũng

Hỏa ngục là gì? – Cha Vương

Hỏa ngục là gì? – Cha Vương

Nguyện xin Thiên Chúa ở bên cạnh bạn và gia đình hôm nay và mãi mãi nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 19/10/2022

GIÁO LÝ: Hỏa ngục là gì? Hỏa ngục là tình trạng xa lìa đời đời với Thiên Chúa, thiếu vắng tình yêu cách tuyệt đối. (YouCat, số 161)

SUY NIỆM: Ai chết trong tình trạng đã phạm tội nặng do biết rõ và cố tình mà không ăn năn hối cải, ai từ bỏ đến muôn đời tình yêu hay thương xót và tha thứ của Thiên Chúa, người đó tự loại bỏ mình ra khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và các Thánh. Có thể có ai lúc chết được nhìn ngắm tình yêu tuyệt đối ở trước mặt mà cứ nhất định bỏ không? Ta không biết. Nhưng vì ta có tự do, nên có thể có. Chúa Giêsu luôn ngăn ngừa chúng ta đừng có dứt khoát chia ly với Chúa bằng cách không quan tâm gì đến những khốn khổ của anh chị em chúng ta. Chúa nói với mọi người ở bên trái rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời… vì xưa Ta đói các ngươi đã không cho ăn… Ta bảo thật mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé mọn nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (Mt 25, 41.45). (YouCat, số 161 t.t.)

❦ Kẻ không yêu thương thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình thì là kẻ sát nhân. Và anh em biết không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong mình nó. (Ga 3,14-15)

❦ Tôi tự hỏi: “Hỏa ngục là gì?”. Tôi quả quyết rằng: là không thể yêu thương được. (Fedor Dostoievski, 1821– 1881, văn sĩ Nga)

LẮNG NGHE: Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. (Mc 9,43)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi ngày Chúa ban cho con là một cơ hội để chọn lựa Thiên đàng hay hoả ngục. Chúa muốn tất cả mọi người được hưởng hạnh phút Thiên đàng nhưng Chúa lại ban cho con tự do để chọn lựa, xin cho con biết luôn dứt khoát chọn Chúa và Thiên đàng bằng cuộc sống thánh thiện, bác ái yêu thương trong xã hội hôm nay. 

THỰC HÀNH:  Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo số 1035 có viết: “linh hồn của những người chết trong tình trạng đang có tội trọng, sẽ lập tức xuống hỏa ngục, lửa vĩnh viễn.” Bạn nghĩ gì về lời dạy này? Hãy tìm một giải pháp cho mình để khỏi bị vào hoả ngục nhé.

From: Đỗ Dzũng

NHÀN RỖI NỘI TÂM

NHÀN RỖI NỘI TÂM

Thứ Tư Tuần XXIX – Mùa Thường Niên

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chủ sẽ về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết!”.

Đức Cha Fulton Sheen thường trích dẫn, “Trong đời sống tâm linh, không có bình nguyên hay cao nguyên; đơn giản, ở đó, chỉ toàn dốc! Bạn đang lên dốc hoặc xuống dốc; ở đó, không có thời gian cho sự ‘nhàn rỗi nội tâm!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Sẽ rất thú vị khi chúng ta gặp lại ý trưởng của Đức Cha Fulton Sheen qua Lời Chúa hôm nay. Chúa Giêsu không chỉ nói đến mối ‘bận tâm’ của một người quản lý là trung thành và cẩn trọng, nghĩa là không chỉ tránh một lối sống ‘văn hoá nhàn rỗi’, nhưng còn nói đến một tình trạng tác hại nghiêm trọng hơn mà người quản lý phải tuyệt đối tránh, một sự ‘nhàn rỗi nội tâm!’.

“Chủ sẽ về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết!”. Thiên Chúa, Đấng còn có một cái tên khác, ‘Thường Xuyên Vắng Mặt’, cũng là Đấng thường đến vào những lúc con người ít mong đợi nhất. Vì thế, để có thể gặp Ngài, sống với Ngài, chúng ta phải tập sống nhiệm hiệp hay cầu nguyện. Cầu nguyện là sự chờ đợi của linh hồn. Thánh Augustinô từng nói, “Tôi sợ Chúa đi qua và tôi không nhận ra”. Như thế, ngủ hay thức không quan trọng; quan trọng là sống với Chúa thường xuyên; nói cách khác, không bao giờ sống trong trạng thái ‘nhàn rỗi nội tâm’. Một người ‘nhàn rỗi nội tâm’ sẽ không nhận ra Chúa đang đi qua; người ấy sống như thể không có Chúa vốn là Chủ; hoặc họ nghĩ, mình là chủ. Đang khi kế hoạch của Chúa thì khá đơn giản; Ngài chỉ cần các chúng ta trung thành và cẩn trọng! Trung thành, bạn và tôi ý thức mình là tôi tớ, không tìm cách áp đặt tầm nhìn hay ước muốn của mình lên ý muốn của Chủ; và nhất là làm sao ý chí của chúng ta đạt đến mức đồng hoá với ý muốn của Chủ. Cẩn trọng, chúng ta biết cách điều chỉnh lối nhìn và thích ứng nó với vô số hoàn cảnh. Tắt một lời, tìm cách áp dụng cho mình phương châm, “Chúa Giêsu sẽ làm gì” trong hoàn cảnh của tôi?

Trong thư Êphêsô hôm nay, Phaolô ví mình như một tôi tớ, “Tôi đã được nên người phục vụ Tin Mừng, do ân huệ Thiên Chúa đã ban”. Gọi việc “phục vụ Tin Mừng” là “ân huệ Thiên Chúa ban”, Phaolô ý thức hồng ân được gọi. Vì thế, sẽ thật ngơ khờ khi chối từ bất cứ một trách nhiệm nào mà Chủ đã tin tưởng trao ban. Thiếu trách nhiệm, một tôi tớ sẽ nảy sinh ham muốn và lạm quyền; sự “trì hoãn” của Chủ, bấy giờ, mang lại cho anh ta một cảm giác an toàn giả tạo. Nếu không có sự quan sát của Chủ, niềm kiêu hãnh của anh sẽ mất kiểm soát. Tuy nhiên, Chủ nhất định phải trở lại, và cuối cùng, người ấy phải nếm trải quả đắng từ sự kiêu ngạo của mình. Thiên Chúa mời gọi chúng ta nhận thức rõ hơn về sự hiện diện thường xuyên của Ngài. Sự vắng mặt và chậm trễ của Chúa là điều đương nhiên, nhưng Ngài vẫn hiện diện đầy tràn cho những ai sống trung thực và có trách nhiệm. Ân sủng Ngài luôn dẫy đầy cho những ai sống nhiệm hiệp; bấy giờ, “Các bạn sẽ vui mừng múc nước tận nguồn ơn cứu độ”, Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm! Bởi lẽ, không bao giờ họ có cho mình những khoảnh khắc ‘nhàn rỗi nội tâm’.

Anh Chị em,

“Chủ sẽ về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết!”. Chúa Giêsu là kiểu mẫu tỉnh thức tuyệt vời; Ngài từng nói, “Của ăn của Tôi là làm theo ý Đấng đã sai Tôi”. Tìm và làm theo ý Cha là một tình trạng thường xuyên nơi Chúa Giêsu; nơi Ngài, không bao giờ có sự ‘nhàn rỗi nội tâm’, mặc dầu điều đó không loại trừ Ngài có những giây phút nghỉ ngơi, vui đùa với các trẻ nhỏ hay với các môn đệ. Hy vọng rằng, chúng ta sẽ không là những quản lý tồi, “say sưa, đánh đập tôi trai tớ gái”; nhưng là những quản lý chăm sóc tốt những ai được giao cho mình. Tuy nhiên, đôi khi trách nhiệm có vẻ nặng hơn là những gì chúng ta mong đợi. Đang khi người quản lý tồi tận hưởng những đam mê, thì người quản lý tốt có nguy cơ mệt mỏi và thiếu kiên nhẫn. Đừng sợ! “Hãy đến với Tôi, tất cả những ai mang gánh nặng nề, Tôi sẽ bổ sức cho!”. Hãy để Ngài bổ sức; từ đó, học cách gạt bỏ những phiền toái nhỏ nhặt sang một bên; thay vào đó, trung thành chăm sóc những ai Chúa trao trong sức mạnh và ân sủng mà Ngài sẵn sàng đổ xuống.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xuống dốc thì dễ chịu hơn lên dốc; xin đỡ nâng con. Cho con xác tín rằng, ‘nhàn rỗi nội tâm’ của con chắc chắn có và chỉ có, vào một ngày kia, khi con ở với Chúa trên trời!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Kim Bang Nguyen

THÁNH SỬ LUCA, TÁC GIẢ TIN MỪNG

THÁNH SỬ LUCA, TÁC GIẢ TIN MỪNG

 Lm. Giuse Đinh Tất Quý

Theo các nhà Kinh Thánh học, thánh Luca đã hiến cho chúng ta hai tác phẩm: một là cuốn Tin Mừng thứ ba và hai là sách Tông Đồ Công Vụ. 

Qua các tông đồ, nhất là Mẹ Maria và thánh Phaolô, thánh Luca đã ghi lại tiểu sử của Chúa Giêsu bằng những nét đặc sắc.  Ngài đã hết lòng ca tụng ơn cứu độ và lòng từ bi của Thiên Chúa.  Qua những truyện như: Người con phung phá, người Samaritanô nhân hậu, ông Giakêu, người trộm lành… chúng ta thấy được phần nào chủ ý của thánh nhân khi ngài muốn trình bày cho chúng ta thấy một cách cụ thể về lòng từ bi của Thiên Chúa. 

Tin Mừng thánh Luca cũng là Tin Mừng về đời sống cầu nguyện.  Ngài đặt trước mắt chúng ta gương cầu nguyện của Chúa Giêsu trước khi Chúa chịu phép rửa, trước khi khi chọn môn đệ, trước khi biến hình sáng láng, lúc hấp hối trong vườn Giệtsimani và cả trên thánh giá. 

Tin Mừng của ngài là Tin Mừng cho những người bị áp bức.  Không Tin Mừng nào làm cho chúng ta có thể thấy được một sự lưu tâm đáng yêu mà Chúa dành cho những người thu thuế và tội lỗi như trong Tin Mừng thánh Luca: Chúa đến để tìm kiếm những gì đã mất.. một người nữ ngoại tình, một người thu thuế thống hối, một tên trộm ăn năn…  Không một Tin Mừng nào diễn tả được tấm lòng tha thiết của Chúa dành cho những người bơ vơ nghèo đói cho bằng dưới ngòi bút điêu luyện của Luca.

Tin mừng của thánh Luca là Tin Mừng của niềm vui vì ngay từ đầu, và bàng bạc trong Tin Mừng của ngài, có rất nhiều chỗ nói về niềm vui như loan báo tin vui cho Zacharia, truyền tin cho Maria.  Những niềm vui liên tục khi Thánh Gioan chào đời, lúc Chúa giáng sinh…  Những niềm vui trong chương 15 khi tìm thấy con chiên lạc, tìm được đồng tiền mất, gặp lại người con hoang và niềm vui hân hoan của các tông đồ khi trở lại Giêrusalem.  Ðúng như Harnack đã nói: “Có những nét vui tươi, can trường và chiến thắng âm vang trong toàn bộ cuốn Tin Mừng của Thánh Luca từ trang đầu cho tới trang chót.” 

Tin Mừng của thánh Luca còn được gọi là Tin Mừng của những người phụ nữ bởi vì không Tin Mừng nào vai trò của người phụ nữ được nhắc tới với một lòng kính trọng như Tin Mừng của thánh Luca.  Những câu chuyện về những người phụ nữ đặc biệt như những chị em phụ nữ đi theo phục vụ Chúa Giêsu và tông đồ đoàn chỉ có thể tìm thấy trong Tin Mừng của thánh Luca. 

Sau hết, khi trình bày, thánh Luca như cố ý cho chúng ta thấy những điều kiện cần thiết để tin theo Chúa cũng như để được gia nhập Nước Trời.  Những điều kiện đó là đức tin, lòng khiêm nhường, thống hối, dám chấp nhận những khó khăn, biết sống bác ái và kiên trung trong đau khổ. 

Cũng như Tin Mừng, cuốn Tông Đồ Công Vụ của thánh Luca là một bằng chứng sống động về việc Chúa Thánh Thần hoạt động trong đời sống truyền giáo của các tông đồ và đời sống của Giáo Hội lúc sơ khai.  Đây cũng là cuốn lịch sử đầu tiên của Giáo hội.  Đọc sách Công vụ chúng ta không thể không cảm thấy một nguồn vui thanh cao và sống động được bùng phát lên từ sự nhận biết Thiên Chúa của các tín hữu đầu tiên, và rồi kết quả sau đó là một cuộc sống được định hướng bằng tình bác ái chân thực, bằng tinh thần hy sinh xả kỷ, cũng như bằng bầu khí cầu nguyện, bằng sự hiệp nhất cao độ, lòng hợp lòng, với một đức tin, và một tình yêu duy nhất để hình thành nên những cộng đoàn thánh thiện giữa các tông đồ và những người tin Chúa của Giáo hội sơ khai.

Mặc dầu lịch sử không cho chúng ta những tài liệu chính xác về gia thế và đời sống của thánh Luca, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng: thánh Luca thuộc gia đình nề nếp và giàu sang tại Antiokia.  Khi còn bé, Ngài được giáo dục chu đáo về cả đức tính, văn hóa và nghề nghiệp.  Ngài theo học các khoa cổ điển của nền văn minh Hy lạp và chuyên nghề lương y.  Từ buổi đầu, thánh Luca vẫn chưa biết Chúa.  Cho đến một ngày kia thánh Phaolô đến Troa giảng đạo Chúa Giêsu.  Luca vào nghe và sau khi suy nghĩ, cân nhắc cẩn thận và nhận thấy giáo thuyết thánh Phaolô giảng rất thâm trầm hợp lý, Ngài liền tin theo.  Ngài chịu phép rửa tội và theo làm môn đệ thánh Phaolô, ngày đêm học hỏi Kinh Thánh và làm thư ký cho thánh Tông đồ.  Quãng năm 49, nghĩa là khi khởi sự truyền giáo lần thứ hai, thánh Phaolô cùng mang thánh Luca đi theo.  Nhưng rồi hai thầy trò lại chia lìa nhau một thời gian.  Có lẽ kỳ này thánh Luca trở về sinh quán làm nghề lương y.  Đến sau hai thầy trò lại gặp nhau tại Philipphê.  Từ đây thánh Luca cùng đi giảng đạo với thánh Phaolô.  Nhưng đến khi thánh Phaolô bị người La Mã bắt cầm tù, thì thánh Luca cũng từ giã đế đô, và chúng ta không biết gì về quãng cuối đời của Ngài nữa. 

Đọc Tin Mừng thứ ba và Công vụ tông đồ, chúng ta thấy thánh Luca rất lỗi lạc về văn chương Hy lạp.  Ngài quả là một nhà văn học kỳ tài, luôn thay đổi từ ngữ và dùng những danh từ thích hợp với đặc tính văn chương của người Hy lạp thời bấy giờ.  Thánh nhân tỏ ra rất nghệ thuật trong việc bố cục câu chuyện thế nào cho rõ ràng, hấp dẫn, gợi nhiều ý tưởng và tâm tình, chẳng hạn dụ ngôn người con phung phá, và câu chuyện hai người du khách trên đường Emmau phải là hai kiệt tác văn chương, có nhiều giá trị nghệ thuật không kém gì những áng văn hay nhất của người Hy lạp thời ấy. 

Hơn thế, thánh Luca còn là một người rất sành tâm lý.  Thánh nhân đã mặc cho mỗi nhân vật trong Tin Mừng cũng như trong các dụ ngôn những tâm tình, cử điệu và lời lẽ phù hợp với địa vị riêng của họ.  Phải chăng nhờ tài nghệ này, thánh Luca đã đề cao đến chữ trọn hảo địa vị Cứu thế của Chúa Giêsu: Chúa nhân lành tự trời đến với loài người lầm than tội lỗi.  Chúa tự hiến mình trên thập giá để tẩy xóa mọi tội trần và thông ban ơn sủng đời sống mới cho các tâm hồn. 

Với một sự hiểu biết sâu xa về sứ mệnh Cứu thế của Chúa như vậy, hẳn thánh Luca đã nhiệt thành với nhiệm vụ phổ biến Tin Mừng cứu thế không kém gì thánh Phaolô.  Nhưng Ngài giảng đạo tại đâu và chết như thế nào thì theo một tài liệu tìm thấy ở Constantinople, thánh Luca đã giảng đạo tại Achaie và Beotie.  Và sau cùng làm giám mục thành Thèbes.  Trong bài thực hành cuốn chú giải Tin Mừng thánh Matthêô, Thánh Hiêrônimô nói rõ thánh Luca đã viết Tin Mừng thứ ba tại Achaie và Beotie, sau cùng thánh Gaudence de Brescia quả quyết thánh Luca cùng chịu tử đạo với thánh Andrê tại Patras một tỉnh nhỏ thuộc vùng Achaie. 

Ngày nay thánh Luca là quan thầy của các lương y và bác sĩ.  Ngài cũng là bổn mạng các nhà họa sĩ, vì theo một truyền thuyết thì thánh nhân đã họa bức ảnh chân dung Đức Mẹ đầu tiên mà nay chúng ta quen gọi là ảnh “Đức Mẹ hằng cứu giúp.” 

Ngay từ đầu, Giáo hội vẫn kính lễ thánh Luca vào ngày 18.10 mỗi năm.

 Kính xin thánh Luca thánh sử phù trợ cho chúng ta được lòng tin mạnh mẽ và hăng hái như người để chúng ta đem tin lành cứu độ đến cho những người còn chưa nhận biết Chúa.

 Lm. Giuse Đinh Tất Quý

From: Langthangchieutim