HƯỚNG VỀ QUÊ TRỜI – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Rừng ở Nigeria đang biến mất nhanh chóng khi lâm tặc phải vật lộn để ...

Người Kitô hữu “sống ở thế gian mà không thuộc về thế gian.”  Họ có bổn phận  gắn kết và cộng tác xây dựng cuộc sống trần gian, nhưng họ lại không thuộc về thế gian, cũng như Chúa Giêsu không thuộc về thế gian (x. Ga 17,14).  Cuộc sống trần gian chỉ là cõi tạm, vì quê hương đích thực của người tín hữu là Quê Trời.  Dù được mời gọi gắn bó với cuộc sống trần thế, cùng nhau xây dựng trần gian như “phác thảo đời sau,” nhưng người tín hữu không được quên bổn phận quan trọng là phải luôn hướng về Quê Trời.  Lễ Thăng Thiên là dịp để chúng ta suy tư điều ấy.

Chúa Giêsu về trời, vì Người từ trời mà đến.  Người là Đấng Thiên sai, được Chúa Cha sai đến trần gian để thiết lập vương quốc hòa bình và yêu thương.  Trong ba năm loan báo Tin Mừng, Chúa Giêsu luôn cố gắng thực hành Thánh ý Chúa Cha, dù gặp nhiều chống đối và gian nan thử thách.  Cuộc khổ hình thập giá và nhất là sự phục sinh vinh hiển, chính là chiến thắng của yêu thương trên hận thù, của Thiên Chúa trên thế gian và của ánh sáng trên bóng tối.  Hôm nay, chúng ta mừng Chúa về trời, trong tiếng reo hò của các thiên thần.  Chúa về trời như một cuộc khải hoàn vinh thắng, như một vị vua hồi loan sau trận chiến huy hoàng.  Thánh Phaolô đã trình bày sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu như sự biểu dương mà Chúa Cha dành cho người Con Chí Ái.  Quả thực, Chúa Cha đã tôn vinh Đức Giêsu và đặt người bên hữu.  Đây là cách diễn tả sự ngang hàng giữa Chúa Cha và Chúa Con, và vinh dự mà Chúa Cha ban cho Chúa Con (Bài đọc II).

Ascension Of Jesus / The Ascension in Art / How do we know for sure ...

Nếu Chúa Giêsu đã về trời, thì Người lại không lìa xa chúng ta.  Người đã hứa: “Này đây Thày ở cùng các con cho đến tận thế” (Mt 28,20).  Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh lời hứa của Chúa Giêsu.  Nhờ có Chúa Giêsu hiện diện trong Giáo Hội mà cộng đoàn Kitô hữu ban đầu từ một nhóm nhỏ những người dân chài chất phác đơn sơ đã trở thành một cộng đoàn đông đảo hiện diện trên toàn thế giới.  Chúa Thánh Thần được Chúa Cha sai đến trần gian để tiếp nối công việc của Chúa Giêsu, nhất là liên kết mọi nền văn hóa, mọi chủng tộc và mọi ngôn ngữ thành cộng đoàn duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.  Chúa Giêsu hiện diện trong Giáo Hội để củng cố Đức tin và niềm hy vọng của chúng ta vào đời sau.  Chính trong niềm xác tín ấy mà Giáo Hội hôm nay tuyên xưng và cầu nguyện với Chúa Cha: “Người lên trời, không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Ðầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước” (Kinh Tiền tụng lễ Thăng Thiên).

Pin on Obrazy z przypowieści

Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, mà là một dân đang lữ hành, tức là đang tiến bước.  Đích điểm mà Giáo Hội đang tiến tới, đó chính là Quê Trời, nơi Chúa Giêsu đã về để hưởng vinh quang với Chúa Cha.  Người tín hữu là thành phần của Giáo Hội, đang tiến bước cùng với anh chị em mình.  Trong cuộc lữ hành này, còn nhiều thử thách gian nan.  Có những người gục ngã vì thất vọng hoặc vì chông gai trên đường.  Cũng như bất kỳ người lữ hành nào, người Kitô hữu phải kiên trì, cố gắng trung tín để đến đích mình mong đợi.  Trong cuộc lữ hành về Quê Trời, chúng ta không đơn lẻ, nhưng có Chúa đồng hành với chúng ta.  “Thầy không bỏ các con mồ côi.  Thầy sẽ đến với các con và lòng các con sẽ vui mừng” (Ga 14,13).  Cùng với Chúa Giêsu, chúng ta còn có Chúa Thánh Thần đồng hành trên mỗi bước đường của cuộc sống.  Chúa Thánh Thần soi sáng để chúng ta làm chứng cho Đức Giêsu: “Khi nào Thần Khí Sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn.

Vì luôn hướng về Quê Trời như đích điểm và lý tưởng của mình, người Kitô cần có cái nhìn siêu nhiên trong đời sống hằng ngày, nhất là trong những thực hành Đức tin.  Tác giả Luca làm chúng ta ngỡ ngàng, khi ghi lại câu hỏi của một vài môn đệ: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israen không?”  Chúng ta ngỡ ngàng, vì những môn đệ này là những người đã chứng kiến cuộc khổ nạn của Chúa, và đã được gặp Người từ cõi chết sống lại.  Vậy mà lúc này, đầu óc các ông còn đầy những tư tưởng trần gian và những tham vọng thế tục.  Họ vẫn mang hình ảnh một Đấng Thiên sai trần gian, với hy vọng lúc đó họ cũng được hưởng lợi lộc do việc Thầy mình khôi phục một quyền bính trần tục.  Trong thực tế hôm nay, đây đó vẫn còn những tín hữu mang một quan niệm thuần túy trần gian về giáo huấn của Chúa và về ân sủng của Người.  Đó là một đức tin vụ lợi, thích chạy theo những điều ngoạn mục và giật gân.  Đến một lúc nào đó, khi không đạt được những điều họ kỳ vọng, cái mà họ gọi là “đức tin” nơi họ sẽ sụp đổ và thay vào đó là sự bất mãn tiêu cực.

Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời.  Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.”  Lời của vị sứ thần muốn nhắn nhủ các môn đệ và nhắn nhủ chúng ta: hãy cố gắng thực thi những gì Chúa đã dạy, trong khi chờ đợi Người đến trong vinh quang.  Hãy trở về với cuộc sống trần thế, với tâm trạng đổi mới, với niềm hân hoan phấn khởi, vì Chúa đang hiện diện giữa chúng ta.  Hơn nữa, hãy thực hiện điều Chúa đã truyền trước khi về trời: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”  Đây chính là bổn phận của chúng ta.  Khi thực hiện những điều này, chúng ta chứng tỏ chúng ta đang hướng về Quê Trời.

Witness | New Identity Magazine

Lễ Chúa Giêsu lên trời không phải là kết thúc, nhưng là khởi đầu một chặng đường mới, chặng đường của chứng nhân.  Mỗi chúng ta hãy lên đường, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, mạnh mẽ can đảm làm chứng cho Chúa, như Người đang mời gọi chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

MÙ MỜ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đấng quý vị thờ mà không biết, thì tôi xin loan báo Người cho quý vị!”.

Socrates, ông tổ triết Tây, không viết ra bất cứ điều gì; triết học của ông được lưu truyền qua đồ đệ Platô. Không nhận mình là thầy, Socrates chỉ nhận là bà đỡ ‘giúp đứa trẻ tự chào đời’, “Không dạy ai điều gì; tôi chỉ khiến họ suy nghĩ!”; “Mẹ tôi đỡ đẻ cho các bà, tôi đỡ đẻ cho các bộ óc!”. Cuối đời, Socrates bị cáo buộc đã làm hư hỏng giới trẻ, bất kính Athêna; và ông đã bị buộc phải uống thuốc độc. Socrates để lại một câu nói bất hủ, “Tôi chỉ biết một điều, tôi không biết gì cả, tôi mù mờ về mọi sự!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Free Visuals: Athens: Altar to the 'unknown god' 3D reconstruction ...

Lời Chúa hôm nay nói đến việc ‘biết và không biết’, nói đến sự ‘mù mờ!’. Một trùng hợp thú vị, là chính dân thành Athêna thời Phaolô, nơi 400 năm trước đã giết Socrates, biết có thần minh; nhưng họ ‘mù mờ’, không biết vị thần đó là ai. Cũng thế, bạn và tôi biết Thiên Chúa, nhưng chúng ta cũng ‘mù mờ’ về Ngài; không bao giờ chúng ta biết Ngài trọn vẹn.

Acts 17:23 "Therefore what you worship in ignorance, this I proclaim to ...

Bài đọc Công Vụ Tông Đồ tường thuật chuyến dừng chân của Phaolô ở Athêna, nơi ông thấy một bàn thờ “Kính Thần Vô Danh”. Lập tức, Phaolô lên tiếng, “Đấng quý vị thờ mà không biết, thì tôi xin loan báo Người”. Ngài là Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải trong cuộc đời, cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu; Ngài là “Thiên Chúa, Đấng tạo dựng trời đất”. Thánh Vịnh đáp ca gợi lên ‘sự hiểu biết’ này, “Trời đất rạng ngời vinh quang Chúa”.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nói với các môn đệ về những điều họ ‘biết và không biết’, “Thầy còn nhiều điều phải nói với các con”. Là Kitô hữu, chúng ta biết Thiên Chúa, biết Chúa Giêsu; tuy nhiên, chúng ta vẫn ‘mù mờ’ và sẽ không bao giờ biết Ngài hoàn toàn. Bao lâu còn trên dương thế, chúng ta chỉ đang trên hành trình hướng tới sự hiểu biết Ngài mà thôi! Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu nói về một Đấng Chúa Cha sẽ sai đến, “Khi Thần Chân lý đến, Ngài sẽ dạy các con biết tất cả sự thật”. Nói cách khác, cần có sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần. Chính Thánh Thần là Đấng làm cho tình yêu Thiên Chúa trở nên hữu hình đối với chúng ta, và chính Ngài lại hướng chúng ta đến sự hiểu biết Chúa Giêsu một cách trọn vẹn.

Anh Chị em,

“Tôi chỉ biết một điều, tôi không biết gì cả!”. Chúa Giêsu là Đấng mà chúng ta vừa ‘biết và không biết’, vì nếu biết Ngài, chúng ta đã nên thánh từ lâu. Biết Chúa Giêsu, nhưng chúng ta không biết Ngài yêu chúng ta đến mức nào, đến mức chết trên thập giá! Biết Chúa Giêsu, nhưng chúng ta không biết Ngài khao khát chúng ta đến chừng nào, Ngài ẩn mình trong Thánh Thể, chờ đợi chúng ta mỗi ngày! Biết Chúa Giêsu, nhưng chúng ta không nhận ra Ngài trong anh chị em mình, nhất là nơi những người nghèo khổ. Như thế, sự hiểu biết Thiên Chúa, hiểu biết Chúa Giêsu nơi chúng ta vẫn rất ‘mù mờ’; và sự hiểu biết này sẽ chỉ tiến triển nếu mỗi người biết ngoan nguỳ dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chính sự hiểu biết được soi sáng bởi Thánh Thần này mới có thể biến đổi bạn và tôi tự bên trong!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Thánh Thần, con ‘mù mờ’ về Chúa, ‘mù mờ’ về cả bản thân con. Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con! May ra nhờ đó, con sẽ sớm nên thánh!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Nguồn: KimBang Nguyen

Có một liên kết hữu cơ giữa các bí tích không?-Cha Vương

Một ngày bình yên trong Chúa nhé bạn. Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Chúa trong anh em hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 16/05/2023

GIÁO LÝ: Có một liên kết hữu cơ giữa các bí tích không? Các bí tích đều là cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, Đấng chính là nguồn gốc các bí tích. Người ta phân biệt: có những bí tích khai tâm dẫn đưa vào đức tin, đó là bí tích Rửa tội, Thêm sức, Thánh thể; có những bí tích chữa lành, đó là bí tích Giải tội, Xức dầu bệnh nhân; có những bí tích phục vụ cho sự hiệp thông và sứ vụ, đó là bí tích Hôn phối và Truyền chức thánh. (YouCat, số 193)

Chùm thơ: Bảy bí tích huyền diệu

SUY NIỆM: Bí tích Rửa tội liên kết ta với Chúa Kitô. Bí tích Thêm sức ban cho ta Thánh Thần của Người. Bí tích Thánh thể hiệp nhất ta với Người. Bí tích Giao hòa giúp ta làm hòa với Chúa Kitô. Bí tích Xức dầu bệnh nhân Chúa Kitô dùng để chữa lành, ban sức mạnh, an ủi. Nhờ bí tích Hôn phối Chúa Kitô ban tình yêu Người cho tình yêu ta, và ban sự trung tín của Người cho ta. Nhờ bí tích Truyền chức thánh, các linh mục nhận lấy trách nhiệm hướng dẫn các Kitô hữu, nhận lấy quyền tha tội và cử hành Thánh lễ. (YouCat, số 193 t.t.)

Kinh Bảy Bí Tích | ĐA MINH ROSA LIMA

❦ Khai tâm có nghĩa là dẫn vào, là cho một người gia nhập vào một cộng đoàn nhờ Thánh Thần của Chúa Kitô.

LẮNG NGHE: Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:19-20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, bí tích là sự sống thần linh của những người theo Chúa, xin giúp con biết siêng năng lãnh nhận ân sủng bí tích để được tham dự vào sự sống đời đời ngay từ bây giờ.

VUI HỌC THÁNH KINH: Gđpv : Những ai được lãnh nhận Bí tích Xức dầu?

THỰC HÀNH: Chính anh em là muối cho đời … Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. (Mt 5: 13,14) Khi lãnh nhận bí tích bạn được mời gọi trở thành muối và ánh sáng cho trần gian. Bạn có sống đúng với lời mời gọi này không? Sửa đổi lại lối sống của mình một tí nhé để cho xứng đáng với những gì bạn lãnh nhận.

Nguồn: Đỗ Dzũng


 

ĐỐI DIỆN VỚI THĂNG THIÊN – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Một người bạn của tôi, khá yếm thế về Giáo hội, gần đây đã nói: “Thể chế Giáo hội ngày nay đang cố đưa ra bộ mặt tốt nhất trước sự thật nó đang chết dần.  Về căn bản, Giáo hội đang cố gắng đối diện với cái chết.”

Điều ông muốn nói, Giáo hội thời nay, như người đang cố đấu tranh để chấp nhận căn bệnh nan y, đang cố tái định hình một hình ảnh của mình để cuối cùng có thể thích nghi với chuyện không thể nghĩ đến nỗi, đó là cái chết của chính mình.

Ông nói đúng khi cho rằng Giáo hội thời nay đang cố tái định hình một hình ảnh của mình, nhưng ông đã sai về chuyện mà Giáo hội đang cố đối diện.  Cái mà giáo hội đang cố đối diện thời này, không phải là cái chết, mà là sự thăng thiên.  Cái cần tái định hình trong hình dung của chúng ta thời nay cũng giống như điều cần định hình trong hình dung của các tông đồ trong bốn mươi ngày giữa biến cố phục sinh và thăng thiên.  Một lần nữa, chúng ta cần hiểu cách để buông bỏ một thân thể của Chúa Kitô để thân thể đó thăng thiên rồi chúng ta có thể cảm nhận sự Hiện xuống.  Đâu là điểm quan trọng cấp bách trong chuyện này?

Trong mầu nhiệm vượt qua, thăng thiên là chuyện chúng ta ít hiểu nhất.  Rõ ràng chúng ta thấy được ý nghĩa của cái chết và phục sinh của Đức Kitô, cũng như sự hiện xuống của Chúa Thánh Thần trong lễ Hiện Xuống.  Nhưng chúng ta ít hiểu hơn về thăng thiên.

Bốn mươi ngày giữa Phục Sinh và Hiện Xuống, không phải là thời gian thuần vui mừng đối với các tông đồ.  Đó là thời gian của vui mừng, đúng, nhưng cũng là thời gian của mơ hồ, nản lòng và mất đức tin.  Trong những ngày trước sự thăng thiên, các tông đồ quá đỗi vui mừng mỗi khi họ được gặp Chúa phục sinh của mình, nhưng hầu hết thời gian, họ hoang mang, nản lòng và đầy hoài nghi, vì họ không được thấy sự hiện diện mới của Đức Kitô trong những chuyện xảy ra quanh họ.  Có lúc, họ hoàn toàn từ bỏ, như thánh Gioan đã kể lại, họ trở lại với cuộc sống trước đây, đi đánh cá ngoài khơi.

Tuy nhiên, trong thời gian đó, Chúa Giêsu dần dần tái định hình hình dung của họ.  Cuối cùng, họ hiểu được sự thật, rằng có một sự đã chết đi, nhưng có một sự khác còn phong phú hơn nhiều đã sinh ra, và giờ họ cần từ bỏ cách thức mà trước đây Chúa Giêsu đã hiện diện với họ ngỏ hầu Ngài có thể hiện diện với họ theo một cách mới.  Thần học và linh đạo về thăng thiên, căn bản gói gọn trong những lời này: Từ chối bám chặt vào những gì từng có, buông bỏ nó để có thể nhận ra sự sống mới chúng ta đang sống, và đón nhận sinh khí của sự sống ấy.  Các phúc âm nhất lãm dạy cho chúng ta điều đó khi mô tả cảnh thăng thiên, khi Chúa Giêsu trong thân xác chúc lành mọi người rồi bay về trời.  Thánh Gioan cũng cho chúng ta một thần học như thế, nhưng theo hình ảnh khác.  Ngài nêu lên chuyện này khi mô tả cảnh Chúa Giêsu gặp Maria Magdalena vào buổi sáng Phục Sinh, khi Ngài bảo: “Maria, đừng giữ ta!”

Hôm nay, giáo hội đang cố đối diện sự thăng thiên, chứ không phải cái chết.  Tôi có thể dễ dàng thấy bạn tôi mơ hồ chuyện gì, bởi vì mọi sự thăng thiên đều bao hàm cái chết và sự sinh ra, mà chuyện đó có thể gây nhiều mơ hồ.  Vậy thì, thật sự, hội thánh thời nay là thế nào?

Edward Schillebeeckx từng cho rằng chúng ta đang sống trong cùng sự nản lòng của các tông đồ tiên khởi trong thời gian giữa cái chết của Chúa và lúc họ nhận ra Ngài đã phục sinh.  Chúng ta có cùng cảm nhận, hoài nghi và mơ hồ của họ trên đường Enmau.  Đức Kitô mà chúng ta từng biết đã bị đóng đinh và chúng ta không thể nhận ra Chúa Kitô đang đi giữa chúng ta, đang sống hơn bao giờ hết, dù theo một cách khác.  Do đó, cũng như các môn đệ trên đường Enmau, chúng ta cũng thường bước đi cúi gầm mặt, mang một đức tin hoang mang, chúng ta cần Đức Kitô xuất hiện trong một hình hài mới để tái định hình những hình dung của chúng ta để chúng ta có thể nhận ra Ngài đang hiện ra với chúng ta.

Tôi nghĩ Schillebeeckx đúng về chuyện này, nhưng tôi lại có cách nói khác.  Giáo hội ngày nay đang trong khoảng thời gian giữa phục sinh và thăng thiên, cảm nhận sự nản lòng đáng kể, với những hình dung hợp với một nhận thức cũ về Đức Kitô, không thể nhận ra Đức Kitô rõ ràng trong giây phút hiện tại.  Với những ai lớn lên trong một nhận thức đức tin nào đó, thì nhận thức cũ của chúng ta về Đức Kitô đã bị đóng đinh.  Nhưng Đức Kitô không chết.  Giáo hội không chết.  Cả Chúa Giêsu và giáo hội đang rất sống động, bước đi với chúng ta, dần dần tái định hình hình dung của chúng ta, tái diễn giải Kinh thánh cho chúng ta, một lần nữa nói với chúng ta rằng: Không phải Đức Kitô (và Giáo hội) cần chịu nhiều đau khổ sao…

Ngày nay, với nhiều người trong chúng ta, sống trong đức tin chính là ở trong thời gian giữa cái chết của Đức Kitô và sự thăng thiên, dao động giữa niềm vui và nản lòng, cố gắng đối diện chuyện thăng thiên.

Trên con đường đức tin, luôn có tin vui và tin buồn.  Tin buồn là nhận thức của chúng ta về Đức Kitô luôn mãi bị đóng đinh.  Tin vui là Đức Kitô luôn mãi sống động, vẫn ở với chúng ta theo một cách thâm sâu hơn.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Nguồn: Langthangchieutim

Làm thế nào đối phó với sự lo lắng?

Làm thế nào đối phó với sự lo lắng?

Kinh Thánh chứa đầy sự khôn ngoan và hướng dẫn cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta, và đối phó với sự lo lắng cũng không phải là chuyện ngoại lệ. Chúng ta có thể tìm thấy sự an ủi và sức mạnh trong những lời hứa của Thiên Chúa và trong sự hiểu biết rằng Ngài luôn ở với chúng ta.

KHÔNG SỐNG TRÊN MÂY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ngài là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận”.

Aiden Wilson Tozer nói, “Một sự thật không được sử dụng sẽ trở nên vô dụng như một cơ bắp không vận động. Một gram ứng dụng có giá trị hơn một kilogram trừu tượng! Trong cuộc sống, nhiều người chưa sẵn sàng để chấp nhận sự thật về mình, sự thật về Thiên Chúa và sự thật về tha nhân. Kết quả, họ sống trên mây!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay không hướng chúng ta về một cuộc sống trên mây, nhưng hướng đến một thực thể không thể thiếu trong đời sống Kitô hữu; đó là Chúa Thánh Thần!

Điều thú vị là Chúa Giêsu dùng danh hiệu “Thần Khí Sự Thật” để chỉ về Chúa Thánh Thần. Và Ngài cũng chỉ ra rằng, thế gian không thể chấp nhận Chúa Thánh Thần. “Thế gian” ở đây đại diện cho tất cả những ai chỉ sống cho bản thân, những người coi tha nhân và mọi thứ khác là bàn đạp cho sự thăng tiến của chính họ, những người điếc đặc trước Chúa Thánh Thần.

The Spirit Of Truth - YouTube

Phần chúng ta, Kitô hữu, chúng ta không điếc đặc trước Thánh Thần; ‘không sống trên mây’, bạn và tôi sẵn sàng chấp nhận “một sự thật về mình”. Sự thật về mình là gì? Nói cách khác, tôi là ai? Tôi là một tội nhân! Một tội nhân nghèo nàn và trần trụi. Hơn ai hết, tôi cần đến lòng lân tuất của Thiên Chúa. Vậy mà, xem ra, cuộc sống của tôi còn rất thế gian, mặc dầu tôi xưng mình là con cái Thiên Chúa, thuộc về Thiên Chúa; đang khi thực tế, dường như tôi thuộc về thế gian nhiều hơn. Và nếu thuộc về thế gian, tôi ôm lấy những lý tưởng và giá trị thế gian; và như thế, vô tình, tôi không chấp nhận Thánh Thần. Tuy nhiên, nếu tôi có thể nhìn thấy những sai phạm của thế gian và nhiều điều lầm lạc bên trong nó, tôi sẽ dễ dàng từ chối chúng và sẵn sàng đón nhận Chúa Thánh Thần cũng như nhiều lẽ thật mà Ngài mặc khải.

Tiếp đến, là Kitô hữu, bạn và tôi ‘không sống trên mây’, chúng ta chấp nhận sự thật về Thiên Chúa. Ngài là Đấng tạo thành muôn loài, là Thiên Chúa xót thương, cũng là Đấng đã ban Chúa Cứu Thế và ban Thánh Thần để dạy dỗ chăm sóc chúng ta mỗi ngày. Chúa Thánh Thần, về căn bản, là “người bảo vệ”, Đấng bào chữa; Ngài sát cánh để hỗ trợ, khuyên nhủ, an ủi bạn và tôi trong những lúc khó khăn đang khi chúng ta cất bước trên con đường Giêsu.

Và sau cùng, ‘không sống trên mây’, chúng ta chấp nhận sự thật về tha nhân, nhất là những anh chị em kề cận mình. Trước hết, họ là hình ảnh của Thiên Chúa, là con trai con gái của Ngài mà chúng ta phải yêu thương, phục vụ và trân trọng; nhất là những anh chị em nghèo khổ. Chúa Giêsu nói, họ là chính Ngài, “Điều mà các con đã làm cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các con đã làm cho chính Ta vậy!”.

Anh Chị em,

“Ngài là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận”. Đức Thánh Cha Phanxicô nói, “Chúa Thánh Thần là Thần Khí sự thật. Chúng ta chỉ có thể viết nên cuộc đời mình trong “bàn tay viết lách và luôn làm trổ sinh” của Ngài. Vậy, hãy dành chỗ cho Ngài. Chính Thánh Thần giúp chúng ta chỗi dậy và sống lại từ những gì chết chóc, những giới hạn của mình… vì có quá nhiều thứ hoại tử trong đời sống và nơi linh hồn. Một cuộc đời tự nhận là Kitô hữu nhưng lại không có chỗ cho Chúa Thánh Thần, không để Chúa Thánh Thần làm cho tiến bước, là một cuộc sống ngoại bang, tách biệt khỏi Kitô giáo; đó là một cuộc sống trên mây!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con sống trên mây; cho con biết con, cho con biết Chúa, biết Chúa đang yêu thương con, con không phải là con mồ côi!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

BÌNH TÂM – Thái độ cần có trong cuộc sống nhiều khổ đau

Nguồn: Dongten.net

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.

Bình tâm là một thái độ rất căn bản và nền tảng cho đời sống tâm linh, và thái độ này giúp ích rất nhiều cho những ai gặp khổ đau và thử thách. Thái độ bình tâm này cũng là cung cách hành xử đúng đắn của người có niềm tin đối với Thiên Chúa, và đối với tha nhân.[i]

Bình thường con người luôn có khuynh hướng cột chặt vào mình tất cả những gì quý báu. Thật vậy, “chúng ta luôn luôn yêu thích nhiều thứ, và tin tưởng vào chúng trong liên hệ đến cuộc sống thân xác, và chúng ta cũng đã nếm thử chúng với cả thích thú lẫn đắng cay. Những thứ đó đã được chôn kỹ trong tình yêu và trong sự sợ hãi của chúng ta đối với chúng. Chúng ta cần có can đảm cho một cuộc xuất hành nội tâm mới, để hoá giải sức mạnh lôi cuốn của nhiều thứ, và giải thoải chúng ta khỏi những nguy hiểm đến từ sự lệ thuộc hay tình trạng nô lệ”.[ii]

Không chỉ cột chặt mình vào những gì quý báu, trong vô thức hay ý thức con người cũng có khuynh hướng giữ mãi những khổ đau, đặc biệt những hận thù trong lòng. Người ta vẫn nói đến thái độ nuôi hận thù. Nuôi hay giữ lại và cột chặt những điều tiêu cực ấy vào mình, thì con người tự mình đánh mất sự tự do nội tâm. Khi con người không có tự do thật sự trong lòng, thì khả năng đón nhận những gì cao quý sẽ bị giảm đi, và đôi khi khả năng đó bị tê liệt. Thay vào đó, con người sống trong lệ thuộc, trong thụ động, trong sợ hãi đến nỗi luôn luôn ôm chặt những gì mình đang có, và nói khác đi họ tự nhốt mình trong ốc đảo riêng với nhiều điều tiêu cực.

Chỉ khi nào con người gặp gỡ Thiên Chúa, và can đảm trao cho Ngài tất cả, thì con người mới gìn giữ được tự do nội tâm. Với một hình ảnh khác, chỉ khi nào con người thực sự muốn và được rơi vào bàn tay của Thiên Chúa, thì con người sẽ tìm lại được sự tự do nội tâm, và với sự tự do này họ có thể gặp gỡ Thiên Chúa và mọi người cách đích thật. Thái độ bình tâm cũng được đề cập trong Thánh Kinh, như trong lời Thánh Vịnh sau:

“Hồn con, con vẫn trước sau
giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình.
Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ,
trong con, hồn lặng lẽ an vui.

Cậy vào Chúa, Ít-ra-en ơi,
từ nay đến mãi muôn đời muôn năm”
 (Tv 131,2-3).

Psalm 131 - King James Version - YouTube

Lời Thánh Vịnh này là lời cầu nguyện đơn sơ của tâm hồn có lòng trông cậy và có thái độ bình tâm sâu thẳm. Sự bình tâm trong sự thinh lặng và thanh bình của người có niềm tin đang khiêm tốn đứng trước tôn nhan Thiên Chúa. Thật vậy, trước sau như một, không có bất cứ thế lực và sự dữ nào có thể lấy mất sự thanh bình và thinh lặng của người bình tâm, của người khiêm tốn và tin tưởng phó thác hoàn toàn vào Chúa.

Lời cầu nguyện của Thánh Vịnh cũng diễn tả một thái độ khiêm tốn, một sự tinh ròng của niềm tin tưởng mạnh mẽ. Với sự khiêm tốn, người cầu nguyện ý thức mình không có thể hiểu thấu được Thiên Chúa và đường lối của Ngài, nên niềm tin và Lời của Chúa là đủ cho họ. Sự tin tưởng được diễn tả qua hình ảnh của đứa con thơ trong vòng tay của mẹ. Bỏ tất cả mọi sự, không màng đến những an ủi trần gian, tháo cởi tất cả mọi thứ thuộc về trần gian với vui buồn, yếu khoẻ, giàu nghèo, giỏi dốt, và chỉ cần được ấp ủ trong vòng tay Thiên Chúa, người có niềm tin tìm thấy sự thanh bình, yên tĩnh, hạnh phúc, và đặc biệt được kết hiệp với Thiên Chúa.

Ngoài ra, Thánh Phao-lô nhắc nhớ:“Thưa anh em, tôi xin nói với anh em điều này: thời gian chẳng còn bao lâu. Vậy từ nay những người có vợ hãy sống như không có; ai khóc lóc, hãy làm như không khóc; ai vui mừng, như chẳng mừng vui; ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả; kẻ hưởng dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng. Vì bộ mặt thế gian này đang biến đi” (1Cr 7,29-32).

British Columbia, Canada, Calm, Forest, Lake, Landscape, Reflection ...

Thánh Phao-lô nhắc nhớ các tín hữu ở Cô-tin-tô về ngày Quang Lâm của Chúa Giê-su đã rút ngắn thời gian, nói theo nghĩa bóng: chúng ta không còn có thể sống an nhàn trong thế giới hiện tại như trước kia, khi chúng ta không thấy xa hơn. Giờ đây, chúng ta hoàn toàn hướng về cái đang đến. Tín hữu sống trong hiện tại với mọi thực tế của nó, cả niềm vui lẫn nỗi buồn, cả hạnh phúc lẫn khổ đau, cả giàu sang lẫn nghèo nàn, và cả mạnh khoẻ lẫn yếu đau. Tất cả mọi thứ đó không phải là đích đến, không được là những điều tín hữu tha thiết và cột chặt vào mình, mà điều tha thiết nhất đối với tín hữu là cái đến sau khi bộ mặt thế giới này qua đi. Một hình ảnh của bộ mặt thế giới này qua đi được nhận ra rõ ràng qua sự chết của con người. Khi đối diện với sự chết, tất cả mọi sự trên trần gian đều chẳng còn có giá trị gì, lúc đó tín hữu chỉ còn xin được phó thác mọi sự trong bàn tay Thiên Chúa. “Cuối cùng, trong cái chết mọi sự đều tan biến. Lúc đó, chúng ta không còn có gì cả. Chúng ta chỉ biết kiên nhẫn để đứng vững và nói với Chúa rằng: Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con”.

Phó thác trong tay Chúa là chú ý tới cái đến sau sự chết. Đó là cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa, Đấng là Đường là Sự Thật và là Sự Sống, Đấng là khởi nguyên và là cùng đích. Vì thế, tín hữu không cột chặt đời mình vào những điều thuộc về thế gian, mà một lòng hướng về Thiên Chúa, hướng về Đức Kitô. Tín hữu cần là người tự do, không bị bất cứ điều gì của trần gian chiếm đoạt, mà họ cần được chiếm hữu bởi Chúa Kitô, như chính Thánh Phao-lô, ngài đã được Chúa Kitô chiếm hữu.

Thái độ bình tâm này cũng được một số nhà thần bí người Đức đề cập tới, như Meister Eckhart, Johannes Tauler và Heinrich Seuse. Thánh Gioan Thánh Giá và Thánh I-nhã Thành Loyola cũng đề cập tới.

Thánh I-nhã viết trong sách Linh Thao số 23: “Do đó, cần phải giữ cho mình được bình tâm đối với mọi thọ tạo trong tất cả những gì nằm trong sự tự do của ta và không bị cấm, đến nỗi chúng ta không ước muốn sức khỏe hơn bệnh tật, giàu sang hơn nghèo khổ, danh vọng hơn nhục nhã, sống lâu hơn chết yểu và tương tự thế đối với mọi sự khác, nhưng chỉ ước muốn và lựa chọn cái gì dẫn đưa chúng ta tới cứu cánh của mình hơn cả”.

Bình tâm với mọi tạo vật và sống trong ý thức không ước muốn bất cứ điều gì cho bản thân mình. Đó là thái độ thoát ra khỏi con người mình, khỏi cái tôi ích kỷ của mình, để sống với tự do nội tâm đích thật. “Ai thật sự tự do trong ý nghĩa này, thì sẽ không đặt những dấu chân đi tìm mình, và không bị giam hãm vào trong ngục tù của cái tôi. Chỉ có ai tự do thật, mới có thể hỏi xem, điều gì trong những khả năng của tôi sẽ thực hiện điều tốt hơn. Chỉ có người tự do mới có nhiều khoảng cách với chính bản thân, đến nỗi người đó không quyết định theo cảm giác nhất thời hay những tư tưởng nhất thời, mà quyết định theo những giá trị và chuẩn mực quan trọng”.

Ngoài ra, với thái độ bình tâm người ta không chỉ được tự do hoàn toàn, mà họ còn tin tưởng cậy trông vào Chúa, và một lòng một dạ tuân theo thánh ý của Ngài mà thôi. Chính Ngài là nền tảng và nguyên lý của đời sống chúng ta. Tin tưởng như vậy, thì sự sầu khổ sẽ được thánh hóa và có thể trở thành lời chúc phúc cho chúng ta, chứ không trở thành sức mạnh tiêu diệt chúng ta.

Ở đây, chúng ta đọc một chút tâm tình chia sẻ của Karl Rahner: Cuối cùng, tất cả những gì chúng ta gặp phải đều có thể trở nên phúc lành hay là tai họa. Như vậy, điều lúc đầu tưởng như rất khó khăn, tối tăm và cay đắng, đều có thể trở thành phúc lành lớn cho chúng ta, nếu chúng ta vượt qua nó một cách tốt đẹp. Nghĩa là trong niềm tin tưởng hoàn toàn vào Chúa và trong sự bình tâm cùng kiên nhẫn, chúng ta đón nhận điều đó. Cuối cùng, bóng đêm và mọi sự khó hiểu đều có thể trở nên phúc lành. Nếu như vậy, thì chúng ta có thể nói rằng, tất cả mọi điều chúng ta gặp phải đều là phúc lành, dù cho đó là sức khỏe hay bệnh tật, giàu sang hay nghèo khổ, danh vọng hay nhục nhã, sống lâu hay chết yểu. Tất cả đều có thể trở thành phúc lành. Tuy nhiên, trong lời cầu xin của mình, chúng ta vẫn được phép cầu nguyện theo ý của mình: ‘Xin hãy làm cho con được mạnh khỏe và chúc lành cho con được như vậy…’

Landscape Nature Peaceful River Coast With Tall Trees, Sky With ...

Dù vậy, lời cầu nguyện sẽ chân thật, nếu chúng ta dù ở trong sự khác biệt của đời sống thực tế này, nhưng vẫn ý thức, vẫn tin tưởng và vẫn sẵn sàng đón nhận một tâm tình sống, là tất cả mọi sự, điều này hay điều nọ đều có thể trao ban cho chúng ta lời chúc phúc. Sự thanh thản cũng như nặng nề, tất cả đều có thể là lời chúc phúc hay đều có thể trở nên phúc lành. Và ở bất cứ nơi đâu mà chúng ta cầu xin ơn chúc phúc của Thiên Chúa, ngay cả trong lời cầu xin về một điều nhất định nào đó, thì chúng ta đang kêu cầu Chúa ban cho chúng ta ánh sáng và sức mạnh, để đón nhận tất cả mọi sự đến với chúng ta như là sự chúc phúc của Thiên Chúa, và để chúng ta có thể thánh hóa chúng trở thành phúc lành, dù điều đó có bất ngờ xảy đến, hay điều đó có nặng nề đến mấy”.

Để kết, chúng ta cùng để lời Thánh Vịnh dưới đây vang vọng trong tâm hồn, như là lời cầu nguyện với Chúa, lời tự nhắc nhở bản thân đi tìm Chúa và luôn ý thức ở trong Chúa, Đấng là nguồn mạch của bình tâm, tự do và hạnh phúc.

“Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,
này hồn tôi hãy nghỉ ngơi yên hàn.
Vì hy vọng của tôi bởi Người mà đến,
duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,
là thành luỹ chở che: tôi chẳng hề nao núng”
 (Tv 62,6-7).

(Trích từ Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ. PHÚC THAY. Suy niệm Tám Mối Phúc Thật. Phần “Phúc thay ai sầu khổ, thì sẽ được Thiên Chúa ủi an”. NXB. Tôn Giáo 2015).

PHẦN CÒN LẠI, NGÀI LO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu thế gian ghét các con, hãy biết, nó đã ghét Thầy trước!”.

E. Stanley Jones nói, “Rắn đuôi chuông, một khi bị dồn vào đường cùng, sẽ tức giận tới mức tự cắn vào mình! Đó cũng là những gì xảy ra nơi một người tích chứa sự căm ghét. Ôm chặt hận thù, người ấy nghĩ, họ đang làm đau kẻ khác; nhưng tai hại lớn hơn là họ đang huỷ hoại bản thân. Tốt nhất, bạn hãy đón nhận sự thù ghét, tìm dịp để yêu thương, và phó thác cho Chúa, ‘phần còn lại, Ngài lo!’”.

1001 thắc mắc: Loài rắn sát thủ nào biết rung chuông? - Lạ vui - Việt ...

Kính thưa Anh Chị em,

“Tìm dịp để yêu thương, phó thác cho Chúa, ‘phần còn lại, Ngài lo!’”. Trước một nền văn hoá chống lại Thiên Chúa, Chúa Giêsu vẫn “tìm dịp để yêu thương và phó mình cho Cha”. Trong Tin Mừng hôm nay, Ngài nói, “Nếu thế gian ghét các con, hãy biết, nó đã ghét Thầy trước!”.

Sứ vụ của Chúa Giêsu càng mở ra, các thế lực chống đối Ngài càng trở nên tồi tệ. Nhưng Ngài sẵn lòng ôm lấy thực tế nghiệt ngã đó, và vẫn yêu thương giới biệt phái; yêu Giuđa; yêu những kẻ đóng đinh Ngài đến cùng. Ngài đã vượt qua tất cả với sức mạnh có được từ việc phó mình cho Chúa Cha. Ai trong chúng ta, vào một giai đoạn nào đó, cũng cảm thấy gánh nặng này khi phải trải qua những sự từ chối tương tự, cả khi bạn và tôi chỉ muốn làm điều tốt cho người khác. Đây là thời điểm chúng ta nên giống Chúa Giêsu nhất. Dĩ nhiên, điều đó không dễ, nhưng nếu được vậy, bình an và niềm vui sẽ lấp đầy trái tim bạn; với một điều kiện, như Chúa Giêsu, chúng ta phó thác tất cả cho Chúa; ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Jesus: His Life | Sky HISTORY TV Channel

Và tình yêu luôn tìm kiếm giải pháp! Bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay cho biết, như Chúa Giêsu, các tông đồ đã làm điều tương tự. Chỗ nào đón tiếp, các ngài lưu lại; chỗ nào không đón tiếp, các ngài ra đi. Tại Đerbê, Lystra, được đón tiếp, Phaolô tiếp nhận Timôthê; các ngài đi qua Phygia, Galat, Trôa và xuống Macêđônia. Nhờ đó, Tin Mừng được rao giảng; Thánh Vịnh đáp ca thật ý nghĩa, “Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu!”.

Đức Thánh Cha Phanxicô nói, “Con đường của Kitô hữu là con đường của Chúa Kitô, không có con đường nào khác ngoài con đường Ngài đã chỉ ra với những hệ luỵ là bị thế gian căm ghét. Đó là lý do củ
a những hận thù và khủng bố liên tục từ những ngày đầu tiên của Giáo Hội, thậm chí cho đến ngày nay, nhiều cộng đoàn Kitô trên thế giới đang bị bách hại!”.

Anh Chị em,

“Nếu thế gian ghét các con, hãy biết rằng, nó đã ghét Thầy trước!”. Họ ghét Ngài hơn ghét một tên gian phi. Tại sao? Vì Ngài nói cho họ sự thật về Thiên Chúa, về chính Ngài và về con người. Ngài chấp nhận tất cả và cứ tìm dịp để yêu thương, yêu cho đến chết. Cuối cùng, tình yêu mạnh hơn sự thù ghét, và mạnh hơn sự chết của Ngài đã chiến thắng. Ngài trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho nhân loại, một nhân loại thù hiềm Ngài. Với chúng ta, giữa một thế giới thù ghét Thiên Chúa; bạn cứ luôn tìm kiếm các giải pháp để tiếp tục tha thứ, tiếp tục yêu thương. Và với sự trợ lực của chính Chúa Giêsu, sẽ không trở ngại nào là quá lớn đối với bạn; chính Ngài sẽ giúp chúng ta vượt qua tất cả. Điều quan trọng là chúng ta cứ tập trung vào việc mở mang Nước Chúa, tìm dịp để yêu thương; ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để thế gian ghét con vì con dễ ghét; cứ để họ ghét con vì con dễ thương! Giúp con ôm lấy thập giá đời mình; để mỗi ngày, như thập giá Chúa, nó cũng nở hoa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Nguồn: KimBang Nguyen

KHO TÀNG ÂN ĐỨC CỦA TRỜI CAO

Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long

 Trong dân gian lòng hiếu thảo với cha mẹ, người sinh thành, nuôi dưỡng cùng giáo dục đào tạo con cháu nên người, là nghĩa vụ luân lý nền tảng của con người.

Mỗi người tùy theo khả năng sức lực, hầu như ai cũng cố gắng sống giữ lòng hiếu thảo với cha mẹ mình.  Vì đó là bổn phận lòng yêu mến biết ơn với các ngài.  Những tấm gương sống lòng hiếu thảo tận tình xưa nay có rất nhiều.

Trong 10 Giới răn của Thiên Chúa, điều răn thứ bốn dậy: “Con phải thảo kính cha mẹ con.”  Đây là nếp sống lòng đạo đức.

Cha mẹ là người sinh thành, nuôi dưỡng, đào tạo giáo dục chúng ta nên người.  Nhưng sự sống, hình hài thân xác, tính tình cùng khả năng cơ hội phát triển đường đời sống lại không do cha mẹ ta định đoạt vẽ ra.

Cha mẹ nào, nhất là người mẹ, hằng luôn hướng về con mình, cùng mong muốn cầu xin cho con mình có tương lai đời sống tốt đẹp.  Nhưng sự sống tinh thần cũng thân xác cùng con đường đời sống của mỗi người không do người cha, người mẹ tác tạo làm ra như mong muốn, mà do Đấng Tạo Hóa thảo định phác họa ra.

1. Trong cung lòng mẹ.

Tiên Tri Giêrêmia đã viết thuật lại về chương trình của Thiên Chúa cho đời Ông: “Thiên Chúa phán: Trước khi cho con thành hình trong cung lòng mẹ, Ta đã biết con; trước khi con lọt cung lòng mẹ, Ta đã thánh hóa con.  Ta kêu gọi đặt con làm Tiên Tri cho muôn dân” ( Gr.1,5).

Jeremiah 1:5 Inspirational Image

Như đời sống của Tiên Tri Giêrêmia, đời sống mỗi người đã được Thiên Chúa, Đấng tạo Hóa ngay từ lúc khởi đầu sự sống trong cung lòng mẹ, tuyển chọn hoạch định ra rồi.

Với sự thụ thai thành hình sự sống, rồi mở mắt chào đời lọt cung lòng mẹ, đời sống mỗi người khởi đầu một chuỗi dài trong thời gian tiến đi vào những giới hạn không gian cũng như thời gian.  Nhưng con đường đời sống trong thời gian vĩnh cửu nằm trong bàn tay định liệu của Thiên Chúa đã phác họa dự phòng, đã sửa soạn sẵn cho.

Vua Thánh Đavít đã có tâm tình cầu nguyện cùng Thiên Chúa về đường đời sống từ khởi đầu cho đến ngày hoàn thành với lòng thành kính ca ngợi biết ơn:

Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.
Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!
Hồn con đây biết rõ mười mươi.
Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn,
được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu.
Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con
đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự.”
(Thánh Vịnh 139 ( 138) 13-16)

Mỗi người do cha mẹ sinh thành ra ở đời.  Nhưng lại là hình ảnh của Thiên Chúa.  Người mẹ cưu mang (người con) hình ảnh của Thiên Chúa trong trái tim cung lòng bà.

Do vậy, trong dân gian có niềm tin tưởng: Cha mẹ sinh con, Trời sinh tính.

Và khi cưu mang mầm sự sống người con trong cung lòng mình, niềm hy vọng về sự tốt lành thánh thiện đã luôn bừng lên trong tâm hồn người mẹ.

2.  Người mẹ niềm hy vọng

Khi hay tin người mẹ nào đang cưu mang, chờ đợi thai nhi trong cung lòng, dân gian có suy tư: người mẹ đó đang mang chất chứa tràn đầy niềm hy vọng tốt đẹp!

Sự suy nghĩ tin tưởng như thế đặt trên căn bản kinh nghiệm thực tế trong đời sống.  Vì người mẹ nào cũng đều mong muốn cầu xin khấn nguyện cho con mình còn đang thành hình phát triển trong cung lòng mình, một tương lai khỏe mạnh tốt đẹp, một đời sống sáng sủa tốt đẹp thành công.

Và khi người con mở mắt chào đời ra khỏi cung lòng mẹ, người mẹ nào cũng vui mừng hạnh phúc.  Nhưng họ cũng có cảm nhận: Em bé bơi lội trong bóng tối cung lòng mình, bây giờ mở mắt chào đời bước vào vùng trời ánh sáng.  Theo kinh nghiệm từng trải cùng linh tính báo cho biết cảm nhận ra, trong suốt dọc đời sống sau này, con mình sẽ còn vướng gặp không ít bóng tối che phủ đường đời sống nữa!

Trong giây phút vui mừng hạnh phúc cùng cảm nghiệm tư lự đó, người mẹ thầm thĩ đọc lời kinh vừa tạ ơn, cùng vừa cầu xin cùng Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa chúc phúc lành gìn giữ che chở đời con mình trước những bóng tối đe dọa trên đường đời sống.  Người mẹ sống niềm hy vọng cho con mình.

Và người con cũng là niềm hy vọng cho cha mẹ, cho con người.  Vì mỗi sự sống mới nơi một em bé là cánh thư từ trời cao nhắn gửi cho trần gian: Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, không quên, không bỏ rơi thế giới, Ngài hằng luôn hỗ trợ tạo dựng sự sống mới cho con người được nối tiếp như một khởi đầu mới.

3. Cánh thư từ trời cao

Cha mẹ nào cũng dạt dào vui mừng khi nhận được tin: sự sống một em bé đang thành hình trong cung lòng mẹ.  Họ chờ đợi tin mừng của cánh thư trong niềm hân hoan cùng trong phập phồng lo âu.

Cha mẹ nào cũng hân hoan khi em bé con mình mở mắt chào đời khoẻ mạnh.  Dòng nước mắt vui mừng hạnh phúc lăn chảy dài trên khoé mắt, trên đôi gò má, lúc cha mẹ tận mắt nhìn thấy em bé con mình, tác phẩm của máu mủ lòng mình, là ngôn ngữ, là hình ảnh sống động của niềm vui mừng hân hoan đó.

Cánh thư từ trời cao trao tặng gửi cho cha mẹ viết bằng hình hài thân xác sống động của em bé, như một bông hoa tươi xinh luôn tươi nở.  Cánh thư sống động tình yêu đó đã trào lên trong tâm hồn, nơi làn da thớ thịt, tận sâu ở tầng thần kinh cảm giác của người mẹ, người cha niềm vui mừng hạnh phúc thần thánh thiên đàng.

Nhưng niềm vui mừng hân hoan đó, nhất là nơi các cha mẹ trẻ, cũng pha lẫn sự suy nghĩ tư lự không ít.  Vì họ không biết phải nuôi dạy con mình như thế nào cho đúng, mới xứng hợp đầy đủ, làm sao có thể chu toàn được bổn phận nuôi con như cha mẹ họ ngày xưa đã làm cho họ…

Trời cao đã gửi cánh thư niềm vui tình yêu cho cha mẹ.  Trời cao cũng trao tặng cha mẹ lời đoan hứa an ủi mong làm dịu nỗi lo âu căng thẳng lo âu của họ.

“Thiên Chúa phán: Ðừng sợ, vì Ta đã cứu chuộc con, đã gọi con bằng chính tên con: con là con của Ta!  Chính Ta là Thiên Chúa con thờ, là Ðức Thánh của Ít-ra-en, Ðấng cứu độ con ( Isaia 43, 1.3).

Một người mẹ tâm sự như sau: “Tôi biết, tôi bệnh hoạn đau yếu, cùng không có khả năng sức lực gì nhiều.  Nhưng tôi cố gắng lo cho các con của con tôi, sao cho chúng có được đời sống tốt đẹp sau này không bị thiệt thòi, không bị thua kém với đời!  Và tôi cũng không hiểu tại sao Chúa lại trao cho tôi khả năng cùng bổn phận sinh con, nuôi dạy con.”

Vâng, lời tâm sự chân thành này nói lên ơn gọi, vai trò cùng bổn phận cao cả trong đời sống của các người mẹ.  Trong dân gian, khi suy nghĩ về ơn gọi vai trò của người mẹ, đã có câu truyền khẩu, lẽ dĩ nhiên phần nào mang tính cách hơi đưa đẩy lên cao: Vì Thiên Chúa không thể hiện diện khắp mọi nơi, nên Ngài đã tạo thành các người mẹ!

Không, các người mẹ không tự cao tự đại như thế đâu.  Trong tận thâm tâm, họ hiểu chính bản thân mình cũng chỉ là tạo vật do Thiên Chúa dựng nên.  Người con trong cung lòng mình, trong đời sống mình là qùa tặng của Trời cao ban cho.

Và Thiên Chúa muốn thực hiện chương trình ý định của Ngài trong trần gian qua trung gian thứ hai. Thiên Chúa không chỉ muốn trực tiếp trao tặng tình yêu của Ngài cho em bé.  Ngài muốn tình yêu đó được trao tặng qua trung gian người mẹ, người cha em bé.

Em bé, con của người mẹ, là cánh thư tình yêu sống động từ Trời cao gửi trao tặng người mẹ.

Với em bé, mẹ em là chúc lành cho đời em.  Những gì mẹ em làm, nuôi nấng, dạy dỗ, xây dựng cho em là nền tảng cho căn nhà đời sống của em trong mọi giai đoạn đường đời sống hôm nay, và ngày mai.

Trao cho người phụ nữ khả năng cùng bổn phận làm mẹ, nhưng Thiên Chúa không để các người mẹ một mình.  Trái lại, Người hằng chiếu dọi chúc phúc lành xuống trên các người mẹ, như Thiên Chúa phán:  “Trước mặt Ta, con thật quý giá, vốn được Ta trân trọng mến thương.” (Isaia 43,4).

Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long

Nguồn: Langthangchieutim


 

LỜI DẶN DÒ CỦA CHÚA – Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Khi xa nhau, người ta thường quyến luyến, bịn rịn.  Con cái phải xa nhà đi học đi làm, vợ chồng xa nhau vì công việc.  Lời nhắn nhủ của cha mẹ thường là: con hãy ngoan ngoãn, giữ lời cha mẹ chỉ bảo, cố gắng học hành, nỗ lực làm việc để có một tương lai tốt đẹp, đừng làm mất mặt, chớ phụ lòng hy vọng của cha mẹ nghe con.  Vợ chồng sẽ có những lời dặn dò tâm huyết: hãy trung thành và nhớ tới nhau luôn…

Chúa Giêsu cũng vậy, trước khi đi thật xa về cùng Chúa Cha, Ngài đã chuẩn bị tinh thần cho các môn đệ.  Ngài đã dặn dò, khuyên nhủ các môn đệ nhiều lần.  Ngài đã nói với các môn đệ với hết tâm tình, hết con tim của mình: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12); “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy“ (Ga 14, 15); “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy.  Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến.  Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14, 21).

“Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”

Người Kitô hữu là người có Đức Kitô nhờ theo Ngài và yêu mến Ngài.  Ai không yêu mến Ngài, không theo Ngài, thì không có Ngài, nên họ không phải là Kitô hữu đích thực.  Khi yêu mến Ngài, ta sống trong Ngài: “Anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.”  Người ta chỉ sống trong nhau vì nhau cho nhau khi người ta yêu thương nhau thật sự.  Vì thế, chúng ta chỉ sống trong Đức Kitô và được Đức Kitô sống trong ta khi ta yêu mến Ngài.  Yêu mến là giữ lời Ngài ” Nếu các con giữ lệnh truyền của Ta thì các con sẽ lưu lại trong lòng mến của Ta” (Ga 15,10).

Nhưng làm sao yêu mến Ngài được khi mà ta không hề thấy Ngài cách hữu hình, không nghe Ngài nói trực tiếp, không động chạm đến Ngài?  Chúa cho chúng ta một tiêu chuẩn để dựa vào đó mà biết mình có yêu Ngài hay không: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy.”  Điều răn của Chúa là gì?  Chúa xác định rõ ràng điều răn cốt yếu: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 12,34).  Chúa cũng xác định luôn cả mức độ yêu: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”  Như vậy, câu nói “nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” có nghĩa là “nếu anh em yêu mến Thầy, thì anh em phải yêu thương nhau.”  Ai yêu thương những người lân cận hay những người chung quanh mình mới là người thật sự yêu mến Thiên Chúa.  Nói cách khác, ai không yêu những người gần gũi mình, những người mình gặp gỡ hằng ngày, người ấy không thật sự yêu mến Thiên Chúa.  Thánh Gioan đã diễn giải điều này: “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (Ga 4,20).

“Anh em có lòng yêu thương nhau”

 Chúa Giêsu còn đưa ra một tiêu chuẩn để nhận ra ai là môn đệ đích thật của Ngài: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 12,35).  Tiêu chuẩn này dựa trên tình yêu của người ấy đối với đồng loại, cụ thể là những người gần gũi sống chung quanh họ.  Tình yêu cụ thể đối với đồng loại là tính chất đặc trưng nhất của những người theo Chúa Giêsu.  Hễ thấy ai có đặc trưng ấy, ta biết người ấy là môn đệ Chúa Giêsu.  Ai không có đặc trưng ấy, thì dù có mang danh là môn đệ Ngài, họ cũng chỉ là thứ môn đệ “hữu danh vô thực,” giả hiệu mà thôi.

Thánh Gioan sau khi nghiền ngẫm tất cả cuộc đời và những lời giảng dạy của Thầy Chí Thánh đã nghiệm ra cái cốt lõi của cuộc sống người môn đệ là tình yêu Chúa Giêsu Kitô, là kết hiệp với Ngài, là sống sự sống của Ngài.  Tình yêu đó là một tình yêu sáng suốt của lý trí.  Tình yêu đó là một tình yêu với những việc làm cụ thể.  Việc làm cụ thể đó là tuân giữ những điều Chúa Giêsu truyền dạy, là yêu thương nhau.

Từ nay để gặp gỡ Chúa, để yêu mến Chúa, để sống với Chúa, cần phải có đức tin và tình yêu.  Tin và Yêu là hai cánh cửa mở vào sự sống thần linh.  Tin và Yêu không chỉ cho ta nhìn thấy Chúa, gặp gỡ Chúa mà còn cho ta được tham dự vào sự sống của Chúa.  Sự sống đó là hiệp thông, như Chúa Cha ở trong Chúa Con và như Chúa Con ở trong Chúa Cha, ta sẽ được ở trong sự sống mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi và thật kỳ diệu, Ba Ngôi đến ở trong ta như lời Chúa Giêsu nói: “Ngày đó, anh em sẽ biết Thầy ở trong Cha Thầy, Thầy ở trong anh em và anh em ở trong Thầy.  Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy.  Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến.  Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ cho người ấy biết Thầy.”

Những người yêu mến Chúa là những người biết lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành.  Trong truyện thánh Tử đạo Martinô Thọ có chép: “Ông Thọ là người rất đạo đức.  Vì được tín nhiệm, ông làm việc thu thuế trong một thời gian rồi xin nghỉ vì thấy có nhiều cheo leo khó công minh luôn mãi được.  Ông khuyên các con cứ đúng luật Chúa mà làm chứ đừng phạm tội vì muốn đẹp lòng người khác….  Ông làm việc rất siêng năng và cũng rất rộng rãi với người nghèo khó: không bao giờ ông để họ ra về mà không cho của gì ăn.  Nếu con cái đi vắng, ông mời người ăn xin cùng ngồi ăn cơm chung, nếu con cái ở nhà, ông bắt chúng xẻ cơm cho họ.”  Thánh Martinô Thọ đã tuân giữ giới răn Chúa dạy là mến Chúa yêu người, sống công bằng bác ái.  Thánh nhân là người yêu mến Chúa thật và xứng đáng được Chúa trọng thưởng hạnh phúc đời đời.  Chỉ tình yêu biết trao đi mới đem lại niềm vui chân thật và lâu bền.  Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy!  Hãy tuân giữ các lệnh truyền của Thầy!  Lệnh truyền lớn nhất là yêu thương như Thầy đã yêu.  Chúng ta sẽ nếm được thứ niềm vui khôn tả của thiên quốc ngay trong cuộc sống ở đời này.

Lạy Chúa, con nhận ra một cách rất hữu hiệu để được Chúa yêu mến là con tuân giữ giới răn yêu thương của Chúa.  Xin cho con xác tín rằng tình yêu của con đối với Chúa phải được thể hiện ra bằng việc yêu thương tha nhân, cụ thể là yêu những người trong gia đình con, những người cùng làm việc với con trong xí nghiệp công ty, những người hàng xóm, những bạn bè con gặp gỡ hằng ngày.  Xin giúp con yêu họ cụ thể bằng sự quan tâm đến những niềm vui hay nỗi đau khổ của họ, đồng thời sẵn sàng hy sinh để giúp họ hạnh phúc hơn.  Amen.

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Nguồn: Langthangchieutim

HÃY THEO THẦY LẦN NỮA – Pr. Lê Hoàng Nam, S.J.

Pr. Lê Hoàng Nam, S.J.

Lần đầu tiên Phêrô được nghe giới thiệu về thầy Giêsu là thông qua người anh em của mình là Anrê.  Sau một ngày ở với Giêsu, Anrê về nhà thuật lại với Phêrô là mình đã thấy Đấng Cứu Thế.  Phêrô cũng nghe thế thôi, chứ nào biết Đấng Cứu Thế ấy là ai.  Thế rồi, chuyện xảy ra với ông hệt như một giấc mơ.  Vào một ngày đẹp trời, khi ông cùng gia đình đang giặt lưới sau một đêm đánh cá thất bại thì Giêsu bước đến, xin được ngồi trên thuyền của ông và nhờ ông chèo ra xa một chút để có thể giảng dạy cho dân chúng cả ngàn vạn đang đứng trên bờ.  Phêrô lòng mừng như mở hội, liền làm theo.  Nghe danh tiếng vị Thầy này đã lâu, nay chính Phêrô được ngồi dưới chân Thầy để nghe giảng dạy.  Vị Thầy danh giá kia không chọn cho mình một tòa giảng uy nghiêm để giáo huấn, nhưng lại chọn con thuyền nhỏ bé ọp ẹp của mình.  Giảng xong, Giêsu còn thực hiện ngay trước mắt Phêrô một phép lạ nhãn tiền về mẻ cá, khiến ông vô cùng kinh ngạc.  Trong khi Phêrô còn chưa hoàn hồn vì lời nói và quyền năng của Người, Giêsu đã lên tiếng mời gọi ông hãy theo Người; đồng thời hứa hẹn một tương lai khác sẽ đến với ông.

Bỏ hết mọi sự lại đàng sau, Phêrô cất bước lên đường theo Chúa.  Khoảng thời gian không quá dài nhưng cũng đủ để Phêrô hiểu hơn về con người Giêsu.  Đi đâu, làm gì, bí mật gì, Giêsu cũng tỏ  bày cho Phêrô.  Giêsu đã dành cho Phêrô nhiều ưu ái.  Đặc biệt, một lần nọ, nhờ mặc khải của Chúa Cha, Phêrô đã nhận ra và tuyên xưng căn tính Mêsia của Đức Giêsu.  Giêsu đã không ngần ngại đặt ông đứng đầu nhóm Mười Hai, đồng thời trao cho ông chìa khóa Nước Trời, hứa là sẽ xây dựng trên ông tòa nhà Giáo Hội, tòa nhà này sẽ vững chắc đến độ ngay cả quyền lực của tử thần cũng không thể nào làm chuyển lay.  Phêrô hạnh phúc khi trở thành người thân cận của Thầy và được Thầy mặc khải cho nhiều điều.

Cứ ngỡ là với những đặc ân ấy, hành trình theo Giêsu của ông thêm phần vững chắc.  Ông tưởng rằng với chút tình cảm ông dành cho Chúa và những lời khen Chúa dành cho ông có thể khiến ông xông pha với Giêsu trên đường thương khó.  Nào ngờ, vì một chút yếu mềm, ông thẳng thừng chối bỏ tương quan giữa mình với Chúa.  Tòa nhà ảo tưởng mà ông tự xây nên cho mình sụp đổ ngay trước mắt ông, làm tan vỡ trong ông bao cao ngạo về mình.  Chúa muốn được sát cánh bên ông để ban cho ông biết bao ân sủng.  Còn ông, sau một thời gian dài cất bước theo Chúa, ông vẫn chỉ theo Chúa từ đàng xa, thậm chí có khi quay lưng, không còn muốn theo nữa.

Nhưng trên bãi biển, khi xác tín lại lần nữa tình yêu của mình dành cho Giêsu, Phêrô như được Thầy bổ sung thêm sinh lực.  Lời mời gọi theo Thầy lần đầu tiên cũng đến từ bờ biển, sau mẻ cá lạ.  Giờ đây, cũng trong một khung cảnh tương tự như thế, một lời mời gọi bước theo Thầy lại tiếp tục được cất lên.  Cả hai lần đều là theo Thầy, nhưng lần này là một cuộc bước theo quyết liệt hơn, vì đã trải qua bao vấp ngã.  Bước theo Thầy lần này đồng nghĩa với sứ vụ chăn dắt các con chiên của Thầy, để rồi khi về già, ông sẽ được dẫn đến nơi mà ông chẳng muốn.  Cuộc đời của Phêrô cứ mãi là một sự lặp lại giữa theo Thầy rồi vấp ngã, rồi lại tiếp tục theo Thầy.  Mỗi lần theo Thầy lần nữa là mỗi lần tiếng gọi trong ông thêm mãnh liệt và sự dấn thân có phần thúc bách hơn.

Tiếng gọi của Giêsu mời ta bước theo Ngài luôn vang vọng trong tâm trí ta.  Lúc nào ta cũng được thôi thúc để bước đi trên đường lành, làm điều tốt.  Lúc nào ta cũng được mời gọi để dấn thân phục vụ, để hy sinh và sẻ chia.  Cảm nghiệm được tình yêu Ngài dành cho ta, có khi ta rất hăng hái, cho đi mà không biết mệt mỏi, dấn thân, quên mình.  Nhưng cũng có khi bước chân ta trở nên mỏi mệt và nặng nề.  Ta buông trôi đời sống mình trong những lạc thú.  Hành trình theo Chúa của ta bị khựng lại ở những tật xấu hay những tội lỗi truyền kiếp của ta.  Mỗi lần như thế, ta thường thấy chán nản và không muốn tiếp tục dấn thân.  Ta thu mình về trong góc phòng tăm tối với những cảm xúc u buồn và tiêu cực của ta.

Ngày hôm nay, Giêsu như một lần nữa tiếp tục mời gọi ta lên đường theo Chúa.  Tội lỗi ta có cao như núi, miễn là ta vẫn còn yêu Chúa và muốn dấn thân, Chúa chẳng bao giờ từ chối.  Đừng để tội  lỗi làm ta chùn lòng, nhưng hãy để tình yêu Đức Kitô cuốn hút ta.  Hãy biết đứng lên sau những lần vấp ngã.  Hãy biết chỗi dậy sau những lần ngủ mê.  Hãy để cho tiếng gọi của Giêsu thôi thúc cõi lòng ta.  Giêsu luôn trao ban cho chúng ta những cơ hội mới.  Ngài không đòi hòi điều gì nơi ta, ngoại trừ một tình yêu xuất phát tự trái tim dành cho Người.  Tín thác vào tình yêu của Người, chúng ta hãy  vượt qua những cảm giác chán chường thất vọng, để tiếp tục thưa tiếng xin vâng với Người khi Người cất tiếng mời gọi ta lần nữa.

Pr. Lê Hoàng Nam, S.J.

From: Langthangchieutim

ĐỪNG XAO XUYẾN!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Lòng các con đừng xao xuyến!”.

Napoleon nói, “Tôi không bao giờ lo lắng về việc mình sẽ làm gì nếu thắng một trận chiến; nhưng tôi luôn biết chính xác mình sẽ làm gì nếu thua một trận!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Thật thú vị, Phêrô đã từng thua một trận, nhưng ông biết chính xác ông sẽ làm gì! Phêrô đã chối Thầy, nhưng đã khóc lóc thảm thiết và thật lòng ăn năn. Nhờ đâu? Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tiết lộ cho chúng ta bí quyết của ông. Phêrô đã nhớ lại những gì Chúa Giêsu đã nói, “Lòng các con đừng xao xuyến!”.

Bối cảnh Tin Mừng là bữa Tiệc Ly, khi Giuđa vừa bỏ đi và Phêrô được báo trước sẽ chối Thầy. Bầu khí phòng tiệc trở nên ảm đạm, các môn đệ thì ủ dột. Cảm nhận được điều đó, Chúa Giêsu trấn an họ bằng những lời yêu thương và khích lệ, “Lòng các con đừng xao xuyến!”.

Bị cám dỗ phạm tội có thể gây nản lòng; nhưng điều đó cũng có thể trở thành một điều tốt! Nếu không bị tác động bởi những cám dỗ phạm tội, xem ra chúng ta mất công nghiệp, và không đủ tình yêu đối với Chúa. Và nếu sa vào cám dỗ nhưng không cảm thấy buồn phiền thì điều này thậm chí còn tồi tệ hơn! Tuy nhiên, sự đau buồn vì tội lỗi sẽ không thể tiếp tục; nó phải biến thành một điều gì đó tích cực hơn, và đó là hy vọng. Nhưng hy vọng chỉ có được từ tội lỗi khi chúng ta nghe và hiểu được lời hứa của Chúa Giêsu, “Đừng xao xuyến!”.

Không chỉ bảo các môn đệ “Đừng xao xuyến!”, Chúa Giêsu còn hứa với họ rằng, Ngài sẽ chuẩn bị một chỗ trên trời và sẽ trở lại để đưa họ đến nơi đó, ‘Nhà của Cha’, bất chấp những thất bại của họ. Bằng niềm tin, Phêrô và các môn đệ khác có thể xua tan sự nản lòng ban đầu mà họ cảm thấy về những thất bại của mình để quay trở lại với Thầy cùng sự trông đợi ngày đoàn tụ trong ‘Nhà của Cha’.

Hôm nay, hãy suy gẫm về bất kỳ tội lỗi nào mà bạn thường xuyên vật lộn! Khi làm vậy, hãy cân nhắc xem sự nản lòng của bạn d
ẫn đến tuyệt vọng hay hy vọng. Hy vọng không đến từ khả năng tự mình vượt qua tội lỗi; nó phát xuất từ lòng trắc ẩn của Thiên Chúa và lời hứa của Ngài. Nếu bạn có một trái tim xao xuyến, điều đó là tốt; bởi đó là khởi điểm cho niềm hy vọng. Hãy để Chúa Giêsu nâng đỡ trái tim đau khổ của bạn và hướng mắt bạn lên ‘Nhà của Cha!’.

Anh Chị em,

“Lòng các con đừng xao xuyến!”. Bạn có quá xao xuyến và nản lòng vì tội lỗi của mình không? Hãy bắt đầu bằng việc nhớ lại bất kỳ tội lỗi nào mà bạn đêm ngày chiến đấu! Đặc biệt, nhớ lại những lần bạn đau buồn, ăn năn và hy vọng; hoặc dẫn đến ngã lòng, từ bỏ nhân đức và tuyệt vọng. Như Phêrô, bạn phải thật lòng đau buồn cay đắng vì tội lỗi mình; nhưng phải để cho tội lỗi và cám dỗ tuyệt vọng trở thành động lực để lấy lại niềm cậy trông, can đảm và quyết tâm. Điều này chỉ có thể thực hiện nếu chúng ta luôn nghe Chúa Giêsu nói với linh hồn mình, “Đừng xao xuyến!”. Phải cảm nhận cho được lòng thương xót và sự dịu dàng của Chúa và để cho tình yêu Ngài lấp đầy với niềm tin tưởng rằng, một ngày nào đó, chúng ta sẽ chiến thắng mọi tội lỗi; và cũng một ngày nào đó, bạn và tôi là những con trai con gái được đón vào Nhà Cha.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thường xuyên thua trận, giúp con biết chính xác, con phải làm gì! Cho con luôn nhớ lời đầy an ủi của Chúa, “Đừng xao xuyến!”, hầu can đảm chỗi dậy, đứng lên và đi tới!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế