Hội thánh có lập trường thế nào với những người li dị rồi tái hôn-Cha Vương 

Tháng 2 rồi bạn ơi! Chuẩn bị đón Xuân chưa? Chúc một ngày an lành nhé. Đừng quên cầu nguyện cho nhau.

Cha Vương 

Thứ 5: 01/012/2024

GIÁO LÝ:  Hội thánh có lập trường thế nào với những người li dị rồi tái hôn? Theo lời dạy của Chúa Giêsu, Hội thánh vì tình yêu đón nhận họ cách yêu thương. Bất cứ ai thành hôn trong Hội thánh, sau đó li dị, rồi tái hôn, thì làm nghịch lại đòi hỏi rõ ràng của Chúa Giêsu là “hôn nhân bất khả phân ly”. Hội thánh không thể xóa bỏ đòi hỏi này. Đã rút lại sự trung tín khi ly dị, rồi lại tái hôn, đó là phản lại với bí tích Thánh Thể, là bí tích nói lên đặc tính Tình yêu Thiên Chúa không thể đảo ngược, không thể đổi thay. Do đó, những người tái hôn này đã sống trong tình trạng mâu thuẫn như thế, họ không được rước lễ. (YouCat, số 270)

*Lưu ý: Nếu một giao ước hôn nhân đã tháo gỡ (annulled) thì hai “vợ chồng” không còn bị ràng buộc gì với nhau nữa, hoàn toàn tự do, họ có thể lập gia đình với bất cứ ai hay với nhau. Tuy nhiên, phải lưu ý về những ngăn trở “cũ”, nếu chúng còn hiện diện, chúng sẽ là nguyên cớ khiến giao ước hôn phối vô hiệu một lần nữa.

**Nếu ai ly thân hoặc ly dị mà quyết định sống đời sống độc thân—không đi một bước nữa, thì họ vẫn được rước lễ.

 SUY NIỆM: Đức Bênêđictô XVI nói rằng không phải giải quyết mọi trường hợp như nhau, Đó là một “tình trạng đau khổ” và ngài mời gọi các mục tử cần phân biệt những tình trạng khác nhau, để giúp đỡ về phần thiêng liêng, và bằng cách thích hợp nhất các tín hữu đó. (Bí tích tình yêu, 29)

Những người ly dị tái kết hôn, mặc dầu trong tình trạng như vậy họ vẫn thuộc về Hội thánh, Hội thánh vẫn chăm chú theo họ cách đặc biệt, và ước mong họ cố gắng phát triển một lối sống Kitô hữu bằng cách vẫn tham dự Thánh lễ, nhưng không rước lễ ; bằng cách nghe Lời Chúa, thờ lạy Chúa trong bí tích Thánh Thể và cầu nguyện; bằng việc tham gia vào đời sống cộng đoàn; bằng việc đối thoại không ngần ngại với một linh mục hay một người hướng dẫn thiêng liêng, bằng việc tận tụy bác ái cụ thể và làm việc đền tội, bằng việc dấn thân để giáo dục con cái họ.

(Đức Bênêđictô XVI, Bí tích tình yêu) (YouCat, số  270 t.t.)

LẮNG NGHE: Thưa anh em, khi được kêu gọi ở địa vị nào, mỗi người cứ ở địa vị đó trước mặt Thiên Chúa. (1 Cr 7:24)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, bao nhiêu gia đình đang đau khổ về mặt thể xác lẫn tinh thần, xin Chúa hàn gắn và chữa lành những rạn nứt do tội lỗi và tính ích kỷ gây ra để cho gia đình họ được vui vẻ và hạnh phúc.

THỰC HÀNH: Làm một hy sinh để cầu nguyện cho những gia đình mà bạn biết đang gặp khó khăn nhé.

From: Do Dzung

TỰ TÌNH – Nguyễn Hồng Ân 


 CON NGƯỜI TRỞ NÊN VĨ ĐẠI NHỜ CẦU NGUYỆN

 Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

Pascal là một nhà bác học nổi tiếng và cũng là một nhà triết gia lỗi lạc, ông đã có một câu nói thời danh để đời như sau: “Con người chỉ vĩ đại khi họ cầu nguyện.”

Thật vậy, con người là loài thụ tạo cao quý nhất mà Thiên Chúa dựng nên.  Con người có giá trị trổi vượt trên các loài thụ tạo khác.  Tuy nhiên, con người chỉ có thể trở nên vĩ đại nhờ có một mối tương quan mật thiết với Đấng là chủ tể của mình ngang qua đời sống cầu nguyện.  Bởi vì cầu nguyện là chiếc cầu nối liền giữa Thiên Chúa và con người.  Cầu nguyện làm cho con người tìm ra được nguồn cội, cùng đích của cuộc đời.  Cầu nguyện cũng giúp cho con người biết mình phải làm gì và khước từ điều gì.

Hôm nay, Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu ngay từ sáng sớm, người lánh sang một nơi thanh vắng để cầu nguyện sau một ngày làm việc mệt nhọc với sứ vụ và tiếp tục với hành trình rao giảng Tin Mừng mới.  Điều này cho thấy: cầu nguyện là việc vô cùng cao quý và quan trọng trong hành trình loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu cũng như người môn đệ.

Cầu nguyện không ngừng

Đã có lần, Đức Giêsu nghe các môn đệ của mình kể về thành tích mà các ông đạt được sau những ngày vất vả vì sứ vụ.  Các ông trở về trong hân hoan và khoe với Ngài về thành tích đạt được: thành công trong việc chữa lành bệnh tật, nhiều người nghe lời các ông giảng và ngay cả ma quỷ cũng phải khuất phục (x. Mc 6, 30-31).

Tuy nhiên, Đức Giêsu đã không khen ngợi các ông, Ngài cũng chẳng đề nghị các ông tiếp tục thi hành.  Và hoàn toàn không mở tiệc linh đình để tuyên dương kết quả!  Nhưng Ngài nói với các ông: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6, 31).  Nghỉ ngơi ở đây có nghĩa là trở về với Thiên Chúa và với bản thân trong sự thinh lặng nội tâm sâu xa.

Còn khi dạy các Tông đồ cầu nguyện, Ngài nói: “Phải cầu nguyện luôn mãi không ngừng nghỉ” (Lc 18,1); chỗ khác Ngài truyền lệnh: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện” (Mc 14,38).  Hơn nữa, khi nói về giới hạn của con người và tầm quan trọng của cầu nguyện, Ngài mặc khải: “Không có Thầy, chúng con không thể làm được gì” (Ga 15,5).  Hay để khơi lên niềm tín thác vào Thiên Chúa là Đấng xót thương, Đức Giêsu khẳng định: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho” (Mt 7,7).

Như vậy, đời sống cầu nguyện là nền tảng để xây dựng đời sống Tông đồ nơi người môn đệ.  Cầu nguyện chính là hồn sống, là thước đo để biết được người Tông đồ thi hành sứ vụ vì ai, cho ai và mục đích gì!  Cầu nguyện còn để xác định rõ: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên.”  Nói cách khác, đời sống cầu nguyện được ví cá cần nước, cây cần ánh sáng, con người cần hơi thở.

  1. Mẫu gương cầu nguyện nơi Đức Giêsu

Khi thấy được tầm quan trọng không thể thiếu của đời sống cầu nguyện, nên Đức Giêsu không chỉ dạy các môn đệ cầu nguyện, nhưng chính Ngài đã làm gương về đời sống cầu nguyện.

Thật vậy, Ngài luôn luôn cầu nguyện trước, trong và sau khi làm bất cứ việc gì.  Ngài cầu nguyện trong sa mạc; nơi hội đường; trên triền núi; ngoài bãi biển….

Hôm nay, thánh Máccô một lần nữa cho ta thấy Đức Giêsu coi trọng và ưu tiên hàng đầu trong việc cầu nguyện, tác giả viết: “Sáng sớm lúc trời còn tối, Người đã dậy đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó” (Mc l,35).

Khung cảnh “sáng sớm” cho chúng ta thấy một đêm dài đã kết thúc và một ngày mới khởi đầu.  Thái độ cầu nguyện ngay từ khi trời còn tối báo cho chúng ta biết, Đức Giêsu chắc chắn tạ ơn, chúc tụng quyền năng của Thiên Chúa qua những việc Ngài đã làm trong ngày hôm trước như: thăm viếng, chữa bệnh, trừ quỷ….  Mặt khác, trải qua một đêm có lẽ nhiều thao thức, trăn trở và lựa chọn để làm trong ngày mới, nên ngay từ sáng sớm, Ngài đã xin ý của Thiên Chúa qua việc cầu nguyện, để mọi việc được diễn ra trong thánh ý của Người.  Chính vì điều này mà mọi hoạt động của Đức Giêsu đều quy hướng về Thiên Chúa và mang lại vinh quang cho Người.

Như vậy, giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa có một sự gắn kết mật thiết đến độ không thể tách rời đến nỗi đã có lần Đức Giêsu tuyên bố: “Ta và Cha ta là một”; hay “lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34 ).

  1. Cầu nguyện là nền tảng cho mọi hoạt động

Ngày nay, chúng ta thấy có rất nhiều sự rạn nứt qua các mối tương quan như: rất nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, thiếu sự chung thủy.  Nạn phá thai diễn ra như cơm bữa.  Lương tâm, chân lý không còn được lưu tâm hay bị lệch lạc.  Con cái vô cảm, bất hiếu và hỗn xược với đấng sinh thành.  Anh chị em trong gia đình loại trừ nhau.  Hàng xóm láng giềng không còn chuyện “tối lửa tắt đèn có nhau!”  Thầy cô giáo và học trò ít quan tâm đến chuyện: “Tiên học lễ, Hậu Học văn”; vì thầy chẳng ra thầy, trò chẳng ra trò!  Bạn bè với nhau không còn tính trung thực, mà thay vào đó là lợi dụng nhau, thanh toán nhau bằng nắm đấm, song sắt, lưỡi lê….

Nguyên nhân lớn nhất đó là thiếu hay coi thường hoặc không có đời sống cầu nguyện.  Bởi vì, không cầu nguyện, con người sẽ không nhận ra Thiên Chúa là ai cũng như không biết coi trọng nhân phẩm của mình và của nhau.  Không có đời sống cầu nguyện, người ta cũng không tìm ra lý tưởng và không thể trả lời được về mục đích của sự hiện hữu nơi mình trên trần gian.  Đàng khác, khi đời sống cầu nguyện bị sao nhãng, người ta cũng chẳng cần quan tâm đến sự thật và lòng trung thành, từ đó, họ có thể làm bất cứ điều gì mà không sợ áy náy!  Họ sẵn sàng “dùng phương tiện xấu để biện minh cho mục đích tốt”; hay cả phương tiện và mục đích đều xấu, nhưng lương tâm đã bị trai lỳ, vô cảm nên họ vẫn sẵn sàng làm cho kỳ được để thỏa mãn điều mong muốn một cách bất nhân.

Hơn nữa, nhiều người có cầu nguyện, nhưng sự hời hợt, qua lần chiếu lệ đã làm cho họ chẳng khác gì như hạt giống gieo nơi vệ đường, trên bụi gai và nơi đá sỏi.  Hãy nhớ lại câu chuyện Tổ Tông sa ngã chỉ vì hiểu có một nửa sự thật!

Chính vì thiếu đời sống cầu nguyện sâu xa như thế, nên việc sống đạo của chúng ta bị nhàm chán, hờ hững và hình thức bên ngoài, khiến cho những công việc chúng ta làm bị phản tác dụng khi nó quy chiếu về bản thân mình chứ không hướng về Chúa.

Muốn khắc phục tình trạng trên, chúng ta cần chuẩn bị tinh thần thật minh mẫn, sốt sắng, vui tươi như thể mình đang chuẩn bị đi gặp “người yêu.”  Phải thực sự có kinh nghiệm cá vị về Thiên Chúa.  Mặt khác, chúng ta phải tin tưởng chắc chắn rằng, chúng ta đang ở bên Chúa, Chúa đang ở bên ta, vì thế, cần có thái độ của đức tin để phó thác, thái độ khiêm tốn để lắng nghe.  Bởi vì: “Cầu nguyện là hô hấp của tâm hồn.”

Chỉ có thế, chúng ta mới có thể xóa đi cái “tôi” ích kỷ, hư ảo, kiêu ngạo, để thay vào đó là sự khiêm tốn, hiền lành và khiêm nhường như Chúa .  Như vậy, nhờ đời sống cầu nguyện, chúng ta mới nhận ra: “Con người vĩ đại nhờ cầu nguyện.”

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết đặt mình bên cạnh Chúa, được sống với Chúa, được nhìn ngắm Chúa, được lắng nghe tiếng Chúa, được gặp gỡ Chúa, và được chìm sâu trong Chúa, Đấng cứu độ chúng con ngang qua đời sống cầu nguyện.  Amen.

Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.

From: Langthangchieutim


 

Thánh Gio-an Bốt-cô (1815 – 1888), linh mục   

Hôm nay 31/01 Giáo Hội mừng kính Thánh Gio-an Bốt-cô (1815 – 1888), linh mục. Mừng quan thầy đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Ước mong bạn một ngày thật tốt lành để chuẩn bị đón Chúa Xuân, hãy bỏ qua những chuyện bất an nhỏ nhặt của chú Mèo để đón lấy sự vẻ vang, thành đạt, tốt lành phú quý của con Rồng mà sống một Năm Mới thánh thiện hơn năm cũ nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 31/01/2024

Thánh Gio-an Bốt-cô (John Bosco) chào đời năm 1815 tại Cát-ten-nô-vô, giáo phận Tô-ri-nô, Gio-an đã trải qua thời thơ ấu trong hoàn cảnh khó khăn, vì thế khi làm linh mục, người dấn thân lo việc giáo dục thanh thiếu niên. Người lập dòng các tu sĩ Sa-lê-diêng và dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu để huấn luyện thanh thiếu niên về nghề nghiệp và đời sống đạo. Người qua đời năm 1888. Ngài qua đi nhưng hình ảnh của người cha hiền còn sống mãi trong lòng nhân thế. Lòng nhiệt thành và từ tâm của Ngài đối với bầy trẻ côi cút phải là bài học sáng ngời soi dẫn tâm hồn con người trong muôn thế hệ. Sau đây là những bài học quý giá mà ngài để lại cho Giáo Hội.

  1. Bài học đầu tiên đó là việc quan tâm đến việc giáo dục các trẻ em mồ côi và những trẻ “bụi đời”. Đây là lời khuyên cho những ai làm công tác giáo dục: “Hãy coi những trẻ em dưới quyền ta như con cái. Hãy đặt mình xuống phục vụ chúng, như Đức Giêsu đã đến không phải để chỉ huy, nhưng để phục vụ; hãy sợ cái gì có vẻ muốn điều khiển, và hãy điều khiển chỉ vì muốn phục vụ đắc lực hơn mà thôi. Đức Giêsu đã xử như thế với các tông đồ. Người chịu đựng sự dốt nát, tính cứng cỏi và cả đến lòng kém tin của họ. Người tiếp đón tội nhân cách tử tế và thân mật đến nỗi lắm kẻ ngạc nhiên, lắm kẻ khó chịu, nhưng lại khiến nhiều người hy vọng được ơn tha thứ. Chính vì vậy, Người đã bảo ta học cùng Người mà ở hiền lành và khiêm nhượng trong lòng . Lòng ta đừng rối lên, đừng khinh bỉ nhìn ai và đừng nói lời nguyền rủa bao giờ. Hãy có lòng nhân từ đối với hiện tại, hy vọng đối với tương lai: như vậy, các con sẽ thực sự là những người cha của tuổi trẻ và thực sự chu toàn được phận sự giáo dục”.
  2. Bài học 2 là lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể: Thánh Don Bosco có lòng yêu mến phép Thánh Thể nồng nàn. Hằng ngày ngài dành nhiều thời giờ để viếng Chúa, cả khi tuổi đã già, sức đã yếu ngài vẫn giữ nguyên thói quen ấy. Chân ngài bị đau nên ngài phải cố gắng lắm mới qùy được. Ngài rất sốt sắng cầu nguyện. Mặt ngài lúc bấy giờ sáng láng như một thiên thần. Mỗi lần đi qua nhà thờ, ngài đều giở mũ ra chào. Ngài khuyên các linh mục nên đọc kinh thần tụng trước Thánh Thể. Ngài luôn cổ vũ các thanh thiếu niên mến mộ Mình Thánh Chúa. Ngài nói:

❦  Nếu bạn muốn Chúa ban cho bạn nhiều ân sủng, hãy năng đến viếng Thánh Thể.

❦  Nếu muốn ma quỉ xa lánh, bạn hãy siêng viếng Chúa.

❦  Nếu muốn chiến thắng ma quỷ, hãy trú ngụ dưới chân Chúa Giêsu.

❦  Không yêu mến việc viếng Chúa, ấy là dấu chỉ sẽ thua ma qủy.

❦  Bạn thân mến, siêng năng viếng Thánh Thể là một phương thế hữu hiệu để chiến thắng ma quỷ.

❦  Hãy cố gắng siêng năng viếng Chúa Thánh Thể và ma qủy không thể chiến thắng bạn được.

  1. Bài học cuối cùng là lòng sùng kính Đức Mẹ: Năm 1862, Chúa cho Don Bosco thấy một thị kiến. Ngài trông thấy chiếc thuyền của Thánh Phêrô bị nhiều tàu bè của địch đe dọa trên biển cả. Khi trận chiến đến hồi ác liệt Ngài thấy có hai trụ cột hiện ra. Một trụ thứ nhất có hình phép Thánh Thể và dòng chữ “Salus Credentium” (sự cứu rỗi các kẻ tin). Còn trụ kia thì có hình Đức Mẹ Maria và dòng chữ “Auxilium Christianorum” (Đấng phù hộ người công giáo). Ánh sáng tỏa ra từ hai trụ cột ấy làm cho binh lính Đức Giáo Hoàng thêm sức mạnh, niềm tin và làm cho quân thù phải kiếp sợ. Tàu thuyền quân địch chạy nhốn nháo, hỗn độn, bị chìm hoặc phải chạy đi nơi khác. Có hai thứ tình yêu- yêu Chúa trong phép Thánh Thể và yêu mến Đức Bà- là bảo chứng của mọi vị thánh. Đó là những Đấng phù hộ chính của Giáo Hội công giáo, là ánh sáng trong đại dương cuộc đời, là ngọn đèn soi chiếu con đường đi của người tín hữu, và làm mù mắt những kẻ chống đối Giáo hội.                                                                                                                                                                     (Nguồn: Lm. Giuse Đinh Tất Quý, TGPSG)

Để kính nhớ Ngài, mời bạn hãy đưa áp dụng 3 bài học được nêu trên vào cuộc sống hằng ngày của mình để sống đúng với ơn gọi làm con Chúa của mình nhé.

From: Do Dzung

Tự tình cùng Don Bosco | nhạc Thánh ca hay

Trần Tuấn Anh, con trai Trần Đức Lương, ‘tự nguyện’ rời ghế, được cho ‘hạ cánh an toàn’

Ba’o Nguoi-Viet

January 31, 2024

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Không ngoài dự đoán, nhờ là con trai ông Trần Đức Lương, cựu chủ tịch nước Việt Nam, mà ông Trần Tuấn Anh, trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương, được đảng cho “hạ cánh an toàn” ngay trước Tết Giáp Thìn 2024.

Ông Tuấn Anh được ghi nhận là một trong vài “thái tử đảng” còn sót lại sau các cuộc thanh trừng phe phái, leo được vào ghế ủy viên Bộ Chính Trị, ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng và từng được đánh giá là ứng cử viên cho ghế “tứ trụ.”

Ông Trần Tuấn Anh là con trai ông Trần Đức Lương, cựu chủ tịch nước Việt Nam. (Hình: Tuổi Trẻ)

Theo báo Tuổi Trẻ hôm 31 Tháng Giêng, sau một phiên họp bất thường diễn ra cùng ngày, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng đồng ý ông Tuấn Anh thôi chức ủy viên hai cơ quan nêu trên.

Đồng thời, ông Tuấn Anh cũng được cho thôi chức trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương, để nghỉ hưu trước vài tháng theo tuổi nghỉ hưu là 60 tuổi.

Bản tin cho biết, ông Tuấn Anh “chịu trách nhiệm chính trị của người đứng đầu” khi để xảy ra nhiều vi phạm tại Bộ Công Thương, thời ông này còn làm bộ trưởng.

“Nhận thức rõ trách nhiệm trước đảng và nhân dân, ông đã có đơn xin thôi giữ các chức vụ được phân công, nghỉ công tác và nghỉ hưu,” báo Tuổi Trẻ viết.

Lý do mất ghế của ông Tuấn Anh tương tự trường hợp ông Nguyễn Xuân Phúc, chủ tịch nước Việt Nam, cách đây một năm.

Việc ông Tuấn Anh “tự nguyện” rời ghế được hiểu là đảng cho ông “hạ cánh an toàn” mà không bị bắt, khởi tố như hai thuộc cấp ở Bộ Công Thương là Thứ Trưởng Đỗ Thắng Hải và cựu Thứ Trưởng Hoàng Quốc Vượng.

Hồi trung tuần Tháng Mười Hai năm ngoái, ông Tuấn Anh bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương “hài tội” vì “có vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng” và để xảy ra các sai phạm liên quan điện gió và cung ứng xăng dầu, khi còn làm bộ trưởng Công Thương.

Bản tin VNExpress thời điểm đó cho hay, các sai phạm nêu trên cũng dính đến một số dự án mà công ty Tiến Bộ Quốc Tế (AIC) của bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn trúng thầu.

Ông Trần Tuấn Anh (trái) khi được ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư CSVN, cho ghế trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương, hồi năm 2021. (Hình: Bộ Công Thương)

Những vi phạm của ông Tuấn Anh và các thuộc cấp tại Bộ Công Thương bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương kết luận là “gây hậu quả rất nghiêm trọng, khó khắc phục; nguy cơ thiệt hại rất lớn tiền, tài sản của nhà nước…”

Tuy nhiên, một số nguồn thạo tin ở Hà Nội sau đó rò rỉ trên mạng xã hội rằng sai phạm của ông Tuấn Anh sau đó bỗng nhiên được “biên tập” bỏ từ “rất” và chỉ còn “nghiêm trọng.”

Chi tiết này được cho là giúp ông Tuấn Anh thoát “cửa hiểm,” không dính vòng lao lý. (N.H.K)


 

 Thiên đàng là gì?

*Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa và đã hoàn toàn được thanh tẩy sẽ sống muôn đời với Chúa Kitô. Họ sẽ mãi mãi giống như Thiên Chúa vì họ thấy “Ngài đúng như ngài là” (1 Ga 3,2), “mặt giáp mặt”. (câu 1023)

*Sống trên thiên đàng là “ở với Chúa Kitô” (câu 1025)

*Thánh Kinh nói về thiên đàng qua những hình ảnh sự sống, ánh sáng, bình an, bữa tiệc cưới, rượu của Nước Trời, nhà Cha, thành Giêrusalem trên trời, thiên đàng: “mắt chưa từng xem thấy, tai chưa từng nghe thấy, lòng trí con người chưa từng nghĩ tới, đó là tất cả những gì Thiên Chúa đã dành sẵn cho những ai yêu mến Ngài (1 Cr 2,9) (câu 1027)

Trích sách “Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo”


 

VÀI NÉT TIỂU SỬ CỦA THÁNH GIOAN BOSCO

Carlo Ambrosio, SDB

Gioan Bosco sinh ngày 16 tháng 8 năm 1815, tại xóm Becchi, làng Castelnuovo d’Asti (nay là Castelnuovo Don Bosco), tỉnh Tôrinô; thuộc gia đình nghèo và mồ côi cha khi mới lên hai.  Mẹ Gioan là Bà Magarita.  Bà đã sớm dạy con biết lao động ngoài đồng áng và nhất là biết nhìn thấy Thiên Chúa qua những hiện tượng thiên nhiên.

Khi lên 9 tuổi, Gioan Bosco đã có một giấc mơ đầy tính tiên tri: nhờ sự hướng dẫn và trợ giúp của Mẹ Maria, ngài sẽ giáo dục thanh thiếu niên hư hỏng thành người tốt, có ích cho xã hội và Giáo hội.  Mẹ Magarita đã phải rất khổ cực và vất vả để Gioan Bosco có thể đi học và theo đuổi ơn gọi linh mục.

Gioan Bosco chịu chức linh mục ngày 5 tháng 6 năm 1841.  Cha linh hướng của ngài là cha Giuse Cafasso đã căn dặn: “Cha hãy rảo khắp thành phố và để ý nhìn chung quanh.”  Nhờ đó vị linh mục trẻ đã nhận ra sự cùng khổ của người nghèo, nhất là của thanh thiếu niên.

Hình ảnh về nhà tù đã gây cho Don Bosco một ấn tượng sâu xa và khiến ngài phải suy nghĩ.  Bởi thế, sau khi đi thăm nhà tù, ngài đã quyết định: “Tôi cần làm một việc gì đó để thanh thiếu niên khỏi phải vào tù.”

Thời bấy giờ, một số linh mục thường chờ đợi thanh thiếu niên tới nhà thờ hay phòng thánh để dạy giáo lý.  Cần phải có những hình thức tông đồ mới: việc tông đồ lưu động, nơi các nhà hàng, nơi cửa tiệm, nơi xưởng thợ, nơi công viên… Nhiều linh mục đã thử nghiệm.

Vào ngày 8 tháng 12 năm 1841, đứa trẻ đầu tiên đến với Don Bosco là cậu Bartôlômêô Garelli d’Asti.  Ba ngày sau, 9 em khác cùng đến với cậu.  Ba tháng sau, 25 em.  Rồi vào mùa hè 1842, con số là 80 em.  Thế là Nguyện xá đã bắt đầu.

Nhưng một số em không biết tìm đâu ra chỗ ngủ, ngoại trừ những nơi công cộng.  Don Bosco đã nhận ra công việc cấp bách và quan trọng là lo chỗ ngủ cho những em đó.

Vị ân nhân đầu tiên của Don Bosco không phải là bà Bá tước, nhưng chính là bà mẹ của ngài, một người nhà quê 59 tuổi, nghèo và mù chữ, nhưng đạo đức, đã lên Tôrinô với ngài để lo việc bếp núc và giặt giũ.

Giữa những em sống với Don Bosco, có một số đã bày tỏ nguyện vọng “được trở nên như ngài.”  Tu hội Salêdiêng được thành hình, với tên gọi là Tu hội Thánh Phanxicô Salê.

Mùa Thu năm 1853, xưởng thợ đầu tiên được thành lập.  Chính Don Bosco đứng ra dạy nghề cho các em.

Ngày 26 tháng 01 năm 1854, Tu hội Salêdiêng chính thức được thành lập.

Ngày 30 tháng 11 năm 1860, “đứa trẻ đầu tiên của Don Bosco,” Micae Rua trở thành linh mục.  Vào cuối đời, Don Bosco có thể nói rằng: gần ba ngàn linh mục đã xuất thân từ những con cái của mình.

Tháng 3 năm 1864, Don Bosco đặt viên đá đầu tiên cho Đền Thờ Đức Mẹ Phù Hộ tại Valdocco.  Tám năm sau, ngài khởi sự một “Đền Thờ” khác kính Đức Mẹ: Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ.

Tháng 11 tháng 1875, những vị truyền giáo Salêdiêng tiên khởi lên đường đi Nam Mỹ.  Cùng năm ấy, các “Cộng Tác Viên”, Dòng Ba Salêdiêng, ra đời.

Trước khi qua đời, Don Bosco đã nói với các Cộng tác viên: “Không có lòng bác ái của các con, cha không làm được việc gì cả; nhờ lòng bác ái của các con, chúng tôi đã lau khô biết bao nước mắt và đã cứu được biết bao linh hồn.”

Nhưng công trình vĩ đại mà Don Bosco để lại cho Giáo Hội là “HỆ THỐNG GIÁO DỤC DỰ PHÒNG.”  Bí quyết của Hệ thống này là “Sống với thanh thiếu niên,” nhờ đó nhà trường được biến thành “gia đình.”  Toàn thể Hệ thống này có thể được tóm lại trong ba chữ: lý trí, tôn giáo và lòng thương mến.  Khi người ta không dọa nạt, nhưng trò chuyện; khi Thiên Chúa là “Chủ Nhà;” khi người ta không sợ hãi, nhưng muốn điều tốt, gia đình sẽ nảy sinh.

Don Bosco qua đời sáng sớm ngày 31 tháng 1 năm 1888.  Với các tu sĩ Salêdiêng đang đứng chung quanh, ngài đã nói những lời sau đây: “Các con hãy muốn điều tốt cho nhau như là anh em.  Hãy làm điều tốt cho mọi người, nhưng không làm điều xấu cho ai cả…  Hãy nói với các thanh thiếu niên điều này: Cha chờ đợi tất cả trên Thiên Đàng.”

Carlo Ambrosio, SDB

Nguồn: https://thegioisaledieng.net  

From: langthangchieutim & & NguyenNThu


 

CÓ THỂ BAY LÊN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng, và xuất khỏi anh ta”.

Một đêm yên tĩnh, có tiếng ngỗng trời bay trong đêm, R. Meredith vội vào nhà, viết xuống những cảm xúc. “Đàn ngỗng trời hoang dã bay về phía mặt trăng và mất hút vào chị Hằng; tuyệt vời! Tội nghiệp các chú ngỗng trời của tôi đang ‘hạnh phúc’ bì bõm trong ao! Chúng nghe tiếng gọi hoang dã của đồng loại như những mũi tên bắn vào tim. Cánh chúng yếu ớt rung lên; bản năng bay thôi thúc chúng, ‘Bay lên đi!’. Tiếng gọi thì thầm vang lên trong bộ ngực lông vũ; nhưng chúng không thể bay lên. Vấn đề đã rõ. Ruộng ngô và đồng cỏ quá hấp dẫn! Giờ đây, ước muốn bay của chúng chỉ làm chúng khó chịu. Những gì chúng an hưởng đang quyến rũ chúng với cái giá khá đắt: mất khả năng bay!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Thiên Chúa muốn giải thoát con người khỏi mọi ác thần bất cứ giá nào để nó ‘có thể bay lên’. Đó là những gì câu chuyện Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật. Những chi tiết Marcô kể lại khác nào cảnh trong phim kinh dị. Vậy mà, đó là một hành động yêu thương của Thiên Chúa; qua Chúa Giêsu, quyền năng và tình yêu Ngài thể hiện.

Biến cố Chúa Giêsu trừ quỷ cho thấy một sự thật hiển nhiên là ma quỷ đang hoạt động trong thế giới. Chúng có khả năng điều khiển, thao túng; hoặc ít nhất, cám dỗ con người. Chúng là những thiên thần sa ngã chống lại Thiên Chúa; giờ đây, căm thù loài người, và đang tìm cách tiêu diệt nó. Đây là một sự thật bạn và tôi phải nhận thức sâu sắc; dẫu thế, không lý do gì để chúng ta đánh mất hy vọng, nhượng bộ hoặc sợ hãi. Bởi lẽ, ma quỷ, cuối cùng sẽ phải khuất phục Thiên Chúa; chúng không thể làm gì được nếu Chúa không cho phép. Với sức mạnh của Ngài, bạn và tôi vẫn ‘có thể bay lên’. Tuy nhiên, cần nhận ra rằng, tà lực và ảnh hưởng của ma quỷ không hề nhỏ; và không ai có thể coi thường!

Với người lành thánh, ma quỷ có những chiến lược tinh quái hơn. Một trong những cám dỗ dành cho các ‘Kitô hữu trưởng thành’ là nó khiến họ quen nhờn với các ân huệ của Chúa. Bằng mọi cách, ma quỷ khiến các phúc lành của Chúa như là những gì hiển nhiên khiến chúng ta không còn nhận ra quyền năng và tình yêu quan phòng của Ngài. “Nếu các ngôi sao chỉ xuất hiện mỗi năm một lần, mọi người sẽ thức suốt đêm để ngắm nhìn chúng. Đằng này, chúng thường xuyên xuất hiện hằng đêm nên không ai buồn ngước mắt nhìn chúng nữa. Tương tự như thế với những phúc lành của Chúa!” – Emerson.

Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng!”. Nghĩa là anh em đừng bưng tai bịt mắt trước những gì Thiên Chúa đã làm cho anh em! Bởi “Chính Người là Thiên Chúa ta thờ, còn ta là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt!”.

Anh Chị em,

‘Bay lên đi!’. Như những chú ngỗng trời, chúng ta muốn bay lên. Việc bạn và tôi chiến đấu mỗi ngày chống lại cám dỗ của ‘những hạt ngô, cọng cỏ’ là cần thiết; và nhất là, một chỉ luôn hạ mình trước mặt Chúa, liên lỉ tạ ơn Ngài và tuyệt đối tin cậy. Khiêm tốn là chìa khoá cho cuộc chiến này, chìa khoá để vượt qua các cuộc tấn công và cám dỗ của ác thần cách này cách khác. Đặt niềm tin vào Chúa, bạn và tôi sẽ không bao giờ thất vọng. Quyền năng và tình yêu Ngài sẽ làm tất cả. Và chắc chắn, chúng ta vẫn ‘có thể bay lên!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đùa với lửa khi con thoả hiệp, nhượng bộ cám dỗ; xin hoán cải con, cho con biết luôn cảm tạ và sợ tội. Nhờ đó con ‘có thể bay lên’ trở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

 KHI CHÚA GIÊSU NGỦ TRONG CƠN BÃO CUỘC ĐỜI CỦA CHÚNG TA

 Stephen Beale – Bro. Giuse Trung Tran, ‎C.Ss.R 

Trong đêm tối của đức tin, Thánh Têrêsa thành Lisieux xác tín Chúa Giêsu vẫn luôn ở với mình, nhưng cũng đau khổ khi Ngài dường như ngủ say và ẩn kín.

Thánh nhân đã miêu tả cảm giác này:

“Linh hồn của tôi giống như một chiếc thuyền mong manh bập bềnh mà không có người lái trong một vùng biển bão tố.  Tôi biết rằng Chúa Giêsu ở đó, ngủ trong thuyền của tôi, nhưng trời quá tối để tôi thấy Ngài.  Tất cả là bóng tối.  Giống như Chúa Giêsu trong cơn đau đớn của Ngài trong Vườn, tôi cảm thấy mình bị bỏ rơi và không có sự giúp đỡ nào cho tôi trên trái đất hay trên thiên đàng.  Chúa đã bỏ rơi tôi” (Câu chuyện về linh hồn, 61).

Kinh nghiệm của Thánh Têrêsa giống với kinh nghiệm của các môn đệ trong Tin mừng Máccô chương 4 và Matthêu chương 8.

Đây là bản văn kinh thánh trong Macco chương 4:

“Hôm ấy, khi chiều đến, Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Chúng ta sang bờ bên kia đi !”  Bỏ đám đông ở lại, các ông chở Người đi, vì Người đang ở sẵn trên thuyền ; có những thuyền khác cùng theo Người.  Và một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước.  Trong khi đó, Đức Giêsu đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ.  Các môn đệ đánh thức Người dậy và nói: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”  Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!”  Gió liền tắt, và biển lặng như tờ.  Rồi Người bảo các ông: “Sao nhát thế?  Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin ư?”  Các ông hoảng sợ và nói với nhau: “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”

“Thưa Thầy, Thầy không quan tâm rằng chúng ta đang chết đến nơi rồi?”  Bao lâu trong những cơn bão của cuộc đời chúng ta có cảm giác như Chúa Giêsu đang ngủ như vậy?  Nếu ngay cả một vị thánh vĩ đại như Thánh Têrêsa cũng có thể cảm thấy loại bỏ rơi này, chúng ta không nên mặc cảm tội lỗi nếu chúng ta trải nghiệm điều gì đó tương tự.

Trong câu chuyện phúc âm, mọi thứ trở nên rất thảm khốc trước sự can thiệp của Chúa Giêsu.  Sóng đang đâm vào thuyền và lấp đầy nước, có nguy cơ bị chìm sớm.  Mặc dù vậy, Chúa Giêsu vẫn ngủ.  Các môn đệ trước tiên phải kêu lên với Ngài để được giúp đỡ.  Như Thánh vịnh 18:7 “Trong lúc đau khổ, tôi kêu lên: Lạy Chúa!  Tôi kêu lên với Thiên Chúa của tôi.”  Chúa nghe thấy sự đau khổ của họ.  Tiếng kêu khóc của họ, chứ không phải cơn bão, đã đánh thức Chúa Giêsu dậy.

Có ba điều cần lưu ý về cách Chúa Giêsu trả lời.

Đầu tiên, Ngài có quyền chỉ huy hoàn cảnh.  Chúa không làm cho con thuyền vững chắc hơn, hoặc giảm bớt cơn bão.  Chúa loại bỏ hoàn toàn vấn đề, mang đến một sự bình yên tuyệt vời.

Thứ hai, Ngài biến đổi tình hình qua lời nói của Ngài.  Sức mạnh của Ngôi Lời nhập thể nằm trong lời nói.  Chúa không cần phải cố gắng.  Chẳng hạn, Chúa không nhảy vào vùng sóng đánh dữ dội và kéo thuyền vào bờ.

Thứ ba, tác động biến đổi mà Ngài tạo ra mang tính toàn bộ – từ hoàn cảnh bên ngoài cho đến trái tim của các môn đệ.  Chúa Giêsu muốn các môn đệ có niềm tin rằng sự hiện diện của Ngài là đủ.  Ngài muốn họ có niềm tin rằng Ngài đã nhận thức được tình hình, ngay cả khi Ngài dường như đang ngủ.

Giấc ngủ của Chúa có thể được coi là một bài kiểm tra đức tin của họ.  Nó cũng là một lời xác nhận răng: chỉ sự hiện diện của Chúa là đã đủ an toàn rồi.

Giấc ngủ vĩ đại nhất mà Chúa Giêsu trải qua là giấc ngủ của tử thần.  Cuối cùng, trong trình thuật của phúc âm về giấc ngủ này, chúng ta rút ra sự an ủi lớn nhất.  Như bài giảng cổ xưa rất hay của Thứ Bảy Tuần Thánh:

Chuyện gì đang xảy ra vậy?  Hôm nay có một sự im lặng tuyệt vời trên trái đất, một sự im lặng vĩ đại, một sự im lặng tuyệt vời vì Đức vua đang ngủ; Trái đất vẫn còn bị trong sự kinh hãi, bởi vì Chúa đã ngủ trong xác thịt và nâng dậy những người đang ngủ từ thời xa xưa.  Chúa đã chết trong xác thịt, và âm phủ đã run rẩy.

Bài giảng gợi ý một lời giải thích cho giấc ngủ này: Chúa Giêsu bước vào giấc ngủ của sự chết để Ngài có thể ở cùng với những người đang ngủ say, những người cha thánh của Cựu Ước đang chờ đợi Ngài trong tình trạng lấp lửng.  Giống như Chúa đã lấy xác phàm để ở giữa những người sống, nên Ngài cũng mặc lấy giấc của sự chết mà Ngài cũng có thể ở cùng sự chết như vậy.

Chúa Giêsu không đánh thức chúng ta ra khỏi giấc ngủ tinh thần bằng cách lay chuyển chúng ta từ bên ngoài.  Ngài đi vào chính Ngài để đánh thức chúng ta từ bên trong.  Như bài giảng có nói:

Ta ra lệnh cho ngươi: Thức tỉnh đi hỡi kẻ còn đang ngủ, Ta đã không tạo ra ngươi để bị giam giữ như một tù nhân trong âm ngục.  Trỗi dậy từ cõi chết; Ta là sự sống của kẻ chết.  Trỗi dậy, hỡi con người, công trình của tay Ta làm nên, Trỗi dậy, vì người mang hình ảnh của Ta.  Hãy trỗi dậy, nào chúng ta hãy đi, vì Ta ở trong ngươi và ngươi ở trong Ta, cùng nhau chúng ta nên một mà không thể bị chia cắt.

Bóng tối của Thứ Bảy Tuần Thánh dẫn đến sự tươi sáng của Chúa nhật Phục Sinh.  Sự phục sinh thực sự có khởi đầu không phải trong ngôi mộ, nhưng trong khoảnh khắc linh hồn Chúa Giêsu bắt đầu bay lên từ sâu thẳm địa ngục.  Ngay cả khi Chúa Giêsu ngủ say, lúc đó, Ngài thực sự rất chủ động, trong địa ngục Ngài tuyên bố chiến thắng của thập tự giá, chà đạp ma quỷ và giải cứu những người cha thánh trong tình trạng Limbo.

Nếu Chúa Giêsu đôi khi dường như ngủ trong cuộc đời chúng ta, thì Ngài có thể sống động theo những cách mà chúng ta không thể nhìn thấy.  Chúa đang làm việc trong nhiều trường hợp.  Những kiểu trợ giúp mà chúng ta thường cần có công việc phải được thực hiện ở những nơi mà chúng ta không thể nhìn thấy như trái tim của những người thân bị ghẻ lạnh, tinh thần của một đứa trẻ bị giam cầm trong cơn nghiện, tâm trí và trái tim của các ông chủ, chủ nợ hoặc người thu tiền hóa đơn của chúng ta và trong tất cả những người có sức ảnh hưởng đến an toàn kinh tế của chúng ta.

Nếu sự giúp đỡ mà chúng ta cần nhất là trong việc chữa lành một căn bệnh về thể xác hoặc bệnh tâm thần thì chúng ta chắc chắn sẽ không thể nhìn thấy Chúa Giêsu đang làm việc.

Điều này tạo ra khả năng để chúng ta được ngạc nhiên.  Bởi vì mỗi Thứ Bảy Tuần Thánh, chúng ta có thể mong đợi được ‘niềm vui ngạc nhiên” của sự Phục Sinh.

Stephen Beale – Bro. Giuse Trung Tran, ‎C.Ss.R – chuyển ngữ
Nguồn: https://catholicexchange.com/when-jesus-sleeps-through-our-storms

 From: Langthangchieutim


 

GIỮA LÒNG THUYỀN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các con vẫn chưa có lòng tin sao?”.

“The Storm on the Sea of Galilee”, “Bão Trên Biển Galilê”, là một kiệt tác sơn dầu vẽ về “biển” duy nhất gần 400 tuổi của Rembrandt! Tiếc thay, từ 1990, nó bị đánh cắp; đến nay, vẫn biệt vô âm tín. Danh hoạ mô tả khoảnh khắc nhóm Mười Hai cầu cứu Chúa Giêsu khi thuyền của họ sắp chìm. Một số cật lực chống chọi; số khác co rúm vì sợ hãi hoặc lùi về mạn thuyền; và thật thú vị, Rembrandt, môn đệ 13, xuất hiện giữa bức tranh. Tác giả như muốn nói, “Từ giữa lòng thuyền, Ngài nhận ra tôi!”; và bạn, “Bạn sẽ ở đâu trong bão?”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Bạn sẽ ở đâu trong bão?”. Lời Chúa hôm nay gợi lên những cơn bão cuộc đời. Nó có thể là cơn bão đang hất tung con thuyền Giáo Hội, đang vùi dập con tàu thế giới, hoặc đang muốn nhấn chìm con thuyền nan đời bạn. Trong cơn hỗn mang, bạn ở đâu? Ngài thấy bạn? Bạn có lắng đọng đủ để nghe Ngài trách yêu, “Các con vẫn chưa có lòng tin sao?”.

Con thuyền là một hình ảnh thiết thực của Giáo Hội, nó phải vượt bão và đôi khi, dường như sắp chìm. Điều cứu lấy Giáo Hội không phải là kỹ năng và lòng dũng cảm của thuỷ thủ đoàn, mà là niềm tin! Niềm tin cho phép Giáo Hội rẽ sóng, tiến lên, cả trong bóng tối. Nó cho thấy sự chắc chắn về sự hiện diện của Đấng ở ‘giữa lòng thuyền’; tay Ngài sẽ nắm lấy để kéo mỗi người chúng ta khỏi mọi nguy biến; và chúng ta cảm thấy an tâm khi có Ngài kề bên bất chấp những hạn chế và yếu nhược của chính mình. Chúng ta được an toàn khi mỗi người biết hướng về Giêsu, kêu cầu Ngài, vì Ngài là Đấng Cứu Độ.

Trong câu chuyện này, các môn đệ chỉ tập trung vào một điều, họ sắp chết! Nhưng Giêsu có đó, Ngài chờ được đánh thức. Để một khi chỗi dậy, Ngài sẽ trả lại sự yên tĩnh hoàn hảo! Điều quan trọng là chúng ta hướng mắt về Giêsu, Đấng đem lại yên tĩnh tuyệt đối cho linh hồn. Để được vậy, bạn phải tin rằng, “Từ ‘giữa lòng thuyền’ Ngài nhận ra tôi!”.

Trong cuộc sống, chúng ta rất dễ chán nản, dễ chỉ tập trung vào sự hỗn loạn. Một bất ổn dân sự, một vấn đề gia đình… và ngay cả một tội lỗi nghiêm trọng. Rất nhiều lý do để chúng ta rơi vào chiếc bẫy của sợ hãi, thất vọng và trầm cảm. Nhưng có khi nào bạn tự hỏi, “Lúc nào tôi gần Chúa nhất?”; câu trả lời, “Khi khổ đau”. Như vậy, từ trải nghiệm bão tố của các môn đệ, Chúa Giêsu mang đến một thông điệp rõ ràng và thuyết phục rằng: Ngài, hiện thân của bình an, đang ở ‘giữa lòng thuyền’. Chỉ cần tin! Đavít là một ví dụ. Sau khi Nathan nói cho biết tội của Đavít, ông đau buồn khóc lóc – bài đọc một. “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng!”. Chúa đã thứ tha! Đó cũng là tâm tình của Thánh Vịnh đáp ca, một kiệt tác của Đavít, một người biết tìm về ‘một Ai đó’ ‘giữa lòng thuyền’.

Anh Chị em,

“Bạn sẽ ở đâu trong bão?”. Trong con thuyền Giáo Hội và thuyền nan của cuộc đời mỗi người, Giêsu luôn có đó. Không bao giờ Ngài rời chúng ta, Ngài là Emmanuel; căn tính của Ngài là Cứu Độ, tên Ngài là Cứu Chúa. Đừng sợ đánh thức Ngài! Cần ghi nhớ, Ngài có sự chiến thắng cuối cùng; Ngài cho phép bão tố xảy đến để chúng ta biết nương tựa Ngài hơn. Khi cuộc sống không còn đáng sống, bế tắc, tuyệt vọng… bạn cần đào sâu đức tin vào Đấng ở ‘giữa lòng thuyền’, Đấng sẽ viết chương cuối cùng cuộc đời của mỗi người.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘văng khỏi thuyền’ khi bão ập xuống đời con; vì con tin rằng, ‘một Ai đó’ luôn có mặt ‘giữa lòng thuyền’ đời con, Ngài nhận ra con!”, Amen.

 

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

KHÔNG PHẢI NGẪU NHIÊN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tất cả do ý muốn của Thiên Chúa!”.

Trong “Comme Des Cœurs Brûlants”, “Như Những Con Tim Cháy Bỏng”, A. Vidot tiết lộ lý do cải đạo của cô. “20 tuổi, tôi, sinh viên cần tĩnh lặng. Mua lại “phiếu đi nghỉ” tại một tu viện trên núi. Tôi điện thoại báo trước, tôi không đến để cầu nguyện; tôi chưa rửa tội. Họ nói, “Chúng tôi chờ cô!”. Ngay tối đầu tiên, sự quan tâm lắng nghe nhân ái của một nữ tu làm tôi bồi hồi. Nhưng động cơ thực sự là tôi nhận ra tình yêu của Chúa, một tình yêu duy nhất, đặc biệt. Bênêđictô 16 nói, “Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta hiện hữu như một sản phẩm vô nghĩa của một quá trình tiến hoá. Mỗi chúng ta được mong đợi, được yêu thương, mỗi chúng ta là cần thiết!”. Tôi cảm nhận điều này đến tận xương tuỷ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Cũng thế, ‘không phải ngẫu nhiên’ mà Giáo Hội mừng kính Timôthê và Titô ngay sau ngày kính thánh Phaolô; ‘không phải ngẫu nhiên’ mà hai người được chọn làm cộng sự viên của ngài; và càng ‘không phải ngẫu nhiên’ khi người đi gieo lại gieo được hạt vào đất tốt như Tin Mừng hôm nay đề cập. Vì lẽ, “Tất cả do ý muốn của Thiên Chúa” như khẳng định của Phaolô – khởi đầu bài đọc một.

Timôthê và Titô được gọi là “sứ đồ của Sứ Đồ”. Quả vậy, trong buổi đầu ân sủng, các tông đồ đã xới được những rãnh sâu đầu tiên tại các vùng đất dân ngoại, gieo vào đó những hạt mầm mà những người đi sau sẽ tưới tẩm, vun xới và thu hoạch. Đó là những Kitô hữu có một nền giáo dục tốt, “Cha hồi tưởng lại lòng tin không giả hình của con, lòng tin đã có nơi Lôít, bà ngoại con; nơi Êunikê, mẹ con, cũng như nơi con”.

Như vậy, ‘không phải ngẫu nhiên’ mà Phaolô chọn Timôthê và Titô; cũng ‘không phải ngẫu nhiên’ Lôít và Êunikê được chúng ta, những người đọc thư này, tưởng nhớ. Hãy mơ về những gì Phaolô sẽ kể nếu ngài viết thư cho con cháu chúng ta và những ai Chúa trao vào tay chúng ta! Hãy là những người ‘tốt lành’ sẽ được “Kể cho muôn dân”, cho các thế hệ như Thánh Vịnh đáp ca nói đến. Với bài Tin Mừng, ‘không phải ngẫu nhiên’ Chúa Giêsu chọn 72 môn đệ và sai từng hai người đi trước Ngài vào các thành. Cũng ‘không phải ngẫu nhiên’ mà những người này được gọi, những người khác thì không!

Anh Chị em,

“Tất cả do ý muốn của Thiên Chúa!”. Vidot còn nhắc lại lời của Bênêđictô 16, “Gốc ngọn của sự kiện chúng ta là Kitô hữu không phải là một quyết định đạo đức hay một ý tưởng vĩ đại, nhưng là sự gặp gỡ các vị với Đấng mang cho cuộc sống bạn một chân trời mới! Và đó là một định hướng quyết định cho cuộc sống!”. Đích thực đây là điều Vidot đã sống! Cũng thế, Timôthê, Titô có mặt trên đời, làm Giám mục, không phải chỉ do Phaolô đặt tay hoặc do bà ngoại, người mẹ, hay một ai sắp đặt; nhưng “do ý muốn của Thiên Chúa”. Cũng thế, nhờ Chúa Kitô, chúng ta được yêu thương, được chọn gọi bởi Thiên Chúa, dẫu Ngài luôn ẩn mình. Vấn đề là bạn và tôi biết giữ cho mình một tâm hồn lặng đủ để nghe Ngài. Chỉ khi mối tương quan với Ngài trở nên sâu sắc, chúng ta mới đủ sức tin tưởng, phó thác và mềm mỏng thực hiện ý muốn yêu thương ngàn đời của Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, ‘không phải ngẫu nhiên’ mà giờ này con đang ở đây với những gì con có, những gì con là. Đừng để con làm Chúa thất vọng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

CUỐN THEO THẦN KHÍ-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng!”.

“Thập giá, cột thu lôi của ân sủng, làm tắt cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, để chỉ còn lại ánh sáng của tình yêu Ngài! Trên đường Đamas, một Saolô hung hãn đã bị cột thu lôi của ân sủng quật ngã, và người này đã ‘cuốn theo Thần Khí’ của Đấng Phục Sinh!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Hôm nay, Giáo Hội kính nhớ một con người đã bị “cột thu lôi của ân sủng quật ngã”; đúng hơn, một vị thánh mà sự cải đạo của ngài, có thể nói, là một trong những sự kiện quan trọng nhất sau biến cố chết và sống lại của Chúa Giêsu vào những năm đầu Kitô giáo. Bởi lẽ, ân sủng của Ngài đã biến đổi Phaolô, một con người đã để mình ‘cuốn theo Thần Khí’.

Phaolô cho biết, trước khi được Chúa tỏ mình, ông “đã nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa”; tuy nhiên, theo cách rất phá hoại! Phaolô đàn áp những người tin “Đạo mới”; và rồi, cuộc hiện ra của Ngài trên đường Đamas với câu hỏi, “Saun, Saun, sao ngươi bắt bớ ta?”, kèm theo câu trả lời lạnh lùng, “Ta là Giêsu Nazareth mà ngươi đang bắt bớ” đã khiến Phaolô dừng bước – bài đọc một. Từ đó, Đấng Phục Sinh đã biến “Saun”, có nghĩa là ‘tìm kiếm, đòi hỏi và khát vọng’, thành một “Phaolô”, có nghĩa là ‘hèn mọn, nhỏ bé và khiêm tốn’. Phaolô đã chỗi dậy, tiến về phía trước, ‘cuốn theo Thần Khí’, phục vụ Chúa theo một cách rất khác. Thay vì bắt bớ những người tin, Phaolô loan báo tình yêu của Ngài như lệnh truyền, “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng!” – Thánh Vịnh đáp ca.

“Tôi ngã xuống đất”; “Ánh sáng chói loà kia làm cho tôi không còn trông thấy”. Một nghịch lý mang nhiều ý nghĩa! Không chỉ trong bóng tối, con người không nhìn thấy; nhưng ngay cả trong ánh sáng, nó cũng mù loà! Lúc Phaolô tưởng mình sáng, đó là lúc tối tăm nhất đời ông. Phaolô buộc phải nhắm mắt để thấy rằng, sự bốc đồng theo kế hoạch riêng mình là mù tối, và tình yêu trong trái tim Đấng Phục Sinh thật ngời sáng. Ngài quật Phaolô xuống tận đất; để sau đó, nâng ông lên đến mức vị “Tông Đồ Dân Ngoại”. Thế nhưng, hình ảnh đẹp nhất vẫn là khúc phim người ta cầm tay dắt Phaolô vào thành, một ‘Phaolô chập chững’ trong hành trình của ‘một con người mới’ ‘cuốn theo Thần Khí’ trong Chúa Kitô!

Anh Chị em,

“Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng!”. Mệnh lệnh của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay – theo Đức Phanxicô – “Là một mệnh lệnh mang chiều kích truyền giáo của đức tin! Hoặc đức tin có chiều kích truyền giáo, hoặc không phải là đức tin. Đức tin không phải là điều gì đó chỉ dành cho riêng tôi, để tôi có thể lớn lên với nó: đây là một tà giáo ngộ đạo! Đức tin luôn dẫn bạn thoát ra khỏi chính mình, đi ra ngoài và truyền tải nó! Đức tin được truyền đạt, được cống hiến, trên hết bằng chứng tá, “Hãy đi, để mọi người thấy anh sống thế nào!”. Trong việc truyền bá đức tin, hành động vì đức tin, có Chúa luôn đồng hành với tôi. Tôi không bao giờ đơn độc. Chính Chúa, Đấng truyền đạt đức tin, ở cùng tôi; miễn sao tôi để mình được tự do ‘cuốn theo Thần Khí’ của Ngài!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, chớ gì cột thu lôi ân sủng Chúa quật ngã con mỗi khi con mải mê chạy theo những phù phiếm của thế gian. Cho con mềm mại ‘cuốn theo Thần Khí’ mỗi ngày!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen