Lễ lòng Chúa Thương Xót-Cha Vương
MỘT ĐIỀU GÌ ĐÓ VĨ ĐẠI HƠN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin!”.
Kính thưa Anh Chị em,
Tin Mừng hôm nay cho thấy Tôma thật bướng bỉnh! Nhưng lạ thay, Chúa Phục Sinh muốn dùng con người này để giúp chúng ta hiểu được ‘một điều gì đó vĩ đại hơn!’.
Tôma được mời thọc tay vào lỗ đinh, xỏ tay vào cạnh sườn Thầy và Tôma đã không nói, “Đúng, Chúa đã sống lại!”. Không! Vượt xa hơn, vượt quá sự hiểu biết cần thiết, Tôma tuyên xưng, “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”. Không thể thiết thân hơn! Chúa Phục Sinh tự đặt mình trong một khoảng cách rộng vừa một bàn tay để Tôma dễ dàng chạm đến Ngài. Ngài mời người môn đệ đầy nghi nan này áp sát Ngài để có thể chạm vào trái tim đầy xót thương của Ngài; hầu không chỉ hết nghi ngờ về thân xác phục sinh của Thầy, nhưng còn không nghi ngờ về một Thiên Chúa giàu lòng xót thương. Cùng Tôma, bạn và tôi hãy đến bên Chúa Giêsu, chiêm ngắm cạnh sườn rộng mở để thấy cho được ‘một điều gì đó vĩ đại hơn’, một trái tim héo hắt vì quá yêu các linh hồn.
Không chỉ muốn chạm đến trái tim Chúa Giêsu, chúng ta mời Ngài chạm trái tim mình. Như những người cùi đã phơi trần thân thể biến dạng cho Chúa Giêsu, bạn và tôi cũng chỉ cho Ngài linh hồn biến dạng dị hợm của mình, xin Ngài chạm đến và chữa lành. Hãy cho phép “ngón tay thánh” của Ngài sờ vào những gì cần được cải hoá bởi ân sủng qua Bí tích Hoà Giải; ấy cũng là ‘một điều gì đó vĩ đại hơn’ Ngài luôn mong mỏi. Và các linh hồn nữa! Phải, các linh hồn cũng là ‘một điều gì đó vĩ đại hơn’ mà Ngài hằng đói khát.
Từ lúc Faustina qua đời, 1938, những mặc khải tư của chị bắt đầu được chia sẻ, nhưng đã bị Văn Phòng Toà Thánh đưa vào danh sách “cấm”. Tuy nhiên, năm 1965, với sự cho phép của Văn Phòng này, Tổng Giám mục Karol Wojtyła bắt đầu cung cấp các tư liệu của Faustina và các bài viết của chị bắt đầu toả sáng. Ngày 15/4/1978, Bộ Giáo Lý Đức Tin cho phép phổ biến tài liệu của Faustina về việc sùng kính Lòng Chúa Thương Xót. Sau đó, bởi sự quan phòng kỳ diệu, ‘một điều gì đó vĩ đại hơn’ đã xảy ra. Chỉ 6 tháng sau, Karol Wojtyła được bầu làm giáo hoàng. Hai thập kỷ sau, ngày 30/4/2000, Faustina được chính Gioan Phaolô II phong hiển thánh; nhân dịp này, ngài thiết lập lễ Lòng Thương Xót vào ngày thứ tám Bát Nhật Phục Sinh hàng năm, tức là ngày hôm nay.
Anh Chị em,
“Chớ cứng lòng, nhưng hãy tin!”. Thật đáng kinh ngạc, tự tay Chúa Giêsu Phục Sinh chọn ra một trong những giáo hoàng vĩ đại nhất để giới thiệu những mặc khải về lòng thương xót của Ngài cho thế giới. Phần chúng ta, hãy đến với Ngài là suối nguồn xót thương bất kể chúng ta là ai, tình trạng linh hồn thế nào: tội lỗi, sốt mến, lơ là hay đạo đức… Đừng để mình chết khát bên mạch suối sự sống. Cuộc đời luôn có gì đó ít hơn, hoặc nhiều hơn, nhưng sự Phục Sinh của Chúa Kitô và lòng thương xót của Ngài thì không thể có ‘một điều gì đó vĩ đại hơn’. Hãy chọn lựa và sống cho cái tuyệt đối đó – lòng thương xót của Thiên Chúa nơi Chúa Kitô. Ước gì lòng thương xót của Ngài chạm đến bạn và tôi, biến chúng ta thành những khí cụ xót thương của Ngài; và rồi ra đi chạm đến anh chị em mình để họ cũng cảm nhận được lòng thương xót Chúa.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, đừng để con khát khao một điều gì ngoài Chúa; cho con khát cả những linh hồn cho Chúa; đó cũng là một điều vĩ đại rất đáng ao ước!”, Amen.
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
From: KimBang Nguyen
Chúa đã sống lại thật rồi và đang ở giữa chúng ta-Cha Vương
TIN VÀ KHÔNG TIN-TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
Trong thời đại 4.0 này, việc tin một người đã chết rồi ba ngày sau sống lại được coi là điều nhảm nhí và điên rồ. Điều đó chẳng có chi lạ. Bởi lẽ, vào thời các tông đồ, các quan chức Rô-ma và những người lãnh đạo Do Thái Giáo cũng đã cho việc các ông khẳng định Đức Giê-su đã chết và đã sống lại là điều tào lao. Các tông đồ không vì thế mà nhụt chí, vì các ông không thể không nói ra những điều mình được mắt thấy tai nghe (x. Cv 4,21). Hơn thế nữa, các ông còn lấy mạng sống mình đề đảm bảo những gì các ông nói.
Hai mươi thế kỷ đã qua, có rất nhiều người tin vào Đức Giê-su Phục sinh, nhưng cũng có rất nhiều người phủ nhận Người. Thống kê mới nhất của Tòa Thánh cho thấy, Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2021, dân số thế giới là 7.785.769.000 (Bảy tỷ, bảy trăm tám mươi lăm triệu bảy trăm sáu mươi chín ngàn người) trong đó số tín hữu Công giáo là 1.375.852.000 (Một tỷ ba trăm bảy mươi lăm triệu tám trăm năm mươi hai ngàn người). Như vậy, tỷ lệ người Công giáo trên toàn thế giới ở mức 17,67%. Đó là chưa tính những tín hữu Ki-tô thuộc các giáo phái khác.
Một người đã chết nay sống lại là điều khó tin, ngay cả với ông Tô-ma, một trong mười hai tông đồ. Ông đặt ra những điều kiện cho niềm tin của mình, mặc dù trước đó, ông đã tận mắt chứng kiến những phép lạ ngoạn mục Chúa Giê-su đã làm. Ông đại diện cho trường phái hồ nghi, ở thời nào cũng có, nhất là trong thời đại của chúng ta hôm nay. Trường phái này chỉ tin vào những gì cảm nhận bằng giác quan.
Tuy vậy, khi đặt ra những điều kiện để tin như ông Tô-ma, là chúng ta đặt Thiên Chúa ngang hàng với người phàm. Nói cách khác, khi đòi phải có điều kiện, thì không còn là đức tin nữa, vì tin là chấp nhận những thực tại vô hình hay những thực tại mình không cảm nhận bằng giác quan. Hơn nữa, nếu đặt để niềm tin của mình nơi quyền năng của Thiên Chúa, thì cần xác tín: “không có gì mà Chúa không làm được.”
Mặc dù ông Tô-ma chẳng có lý do gì để thách thức Thiên Chúa, nhưng Chúa Giê-su Phục sinh vẫn chấp nhận lời thách thức đó. Vào ngày thứ tám sau sự kiện phục sinh, Chúa Giê-su đã hiện ra với các tông đồ, có cả Tô-ma. Cuộc gặp gỡ này đã chứng minh những lời các tông đồ nói trước đó là xác thực. Đức Giê-su nhắc lại những thách thức của ông Tô-ma trước đó. Trước những lời này của Chúa, ông Tô-ma chẳng còn nói được điều gì. Ông chỉ có thể thưa với Chúa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đây là lời tuyên xưng đức tin. Đây cũng lời sám hối, đồng thời diễn tả niềm xác tín vào Đấng Phục sinh. Chúng ta lưu ý: ông Tô-ma không còn gọi Chúa Giê-su là Thày như trước đó, mà ông tuyên xưng Người là Chúa và là Thiên Chúa. Những danh xưng này cho thấy ông đã thực sự tin vào Đức Giê-su. Đây cũng là lời tuyên xưng đức tin của cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi.
Trong cả ba năm A,B,C, của Chúa nhật thứ hai Phục sinh, Phụng vụ đều cho chúng ta nghe cùng một bản văn, đó là trình thuật về sự cứng lòng của ông Tô-ma trong Tin Mừng theo thánh Gio-an. Mặc dù Chúa Giê-su Phục sinh là nhân vật quan trọng nhất, nhưng xem ra ông Tô-ma lại dành một vị trí đặc biệt trong trình thuật này. Phải chăng Phụng vụ muốn lưu ý chúng ta: vẫn còn đó những Tô-ma, trải qua mọi thời đại. Rất nhiều người giống như Tô-ma, chủ trương học thuyết thực nghiệm. Họ chỉ tin vào những gì mắt thấy tai nghe. Các tông đồ, là những chứng nhân mắt thấy tai nghe và kể lại cho chúng ta sự kiện Chúa sống lại với niềm xác tín. Trước Công nghị Do Thái, các ông tuyên bố: Đức Giê-su, vị ngôn sứ thành Na-gia-rét, là người có quyền năng trong lời nói và hành động, đã chết và đã sống lại. Các ông sẵn sàng lấy mạng sống để làm chứng cho điều các ông nói. Một điều kỳ diệu, là các tông đồ vốn là những người dân chài chất phác ít học, nhưng lại uyên bác và trích dẫn Thánh Kinh để minh chứng rằng các lời ngôn sứ xưa kia đã thành hiện thực.
Chúa Giê-su Phục sinh đang hiện diện giữa chúng ta. Tác giả sách Tông đồ Công vụ diễn tả sức sống kỳ diệu của cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi: cộng đoàn đông đảo “chỉ có một lòng một ý. Không ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung.” Điều gì đã làm nên sự kỳ diệu ấy? Thưa, Đấng Phục Sinh.
Thời nào cũng thế, vẫn còn đó những người tin và những người không tin vào Đức Giê-su. Tuy vậy, khi tin Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, là Đấng đã chết và sống lại, các Ki-tô hữu được trở nên con Thiên Chúa. Thánh Gio-an tông đồ viết: “Phàm ai tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra.” Đó là cuộc sinh hạ trong đức tin và ân sủng. Họ cũng sẽ chiến thắng thế gian như Đức Giê-su đã chiến thắng. Các Ki-tô hữu cần thường xuyên ý thức về sức sống mới trong tâm hồn và cuộc sống của mình, để củng cố đức tin và thực sự nên giống Đức Giê-su Phục sinh. Chúng ta thấy đó là lý do tại sao Phụng vụ nhấn mạnh và cầu nguyện cho những người tân tòng, trong mùa Phục sinh.
Chúa nhật II Phục sinh cũng là Chúa nhật kính Lòng Chúa thương xót. Xin cho chúng ta cảm nhận lòng thương xót của Thiên Chúa, thể hiện qua cuộc đời và sứ mạng của Đức Giê-su nơi trần thế, nhất là qua cuộc khổ nạn và phục sinh vinh quang của Người. Xã hội hôm nay rất thiếu vắng lòng thương xót. Đó là nguyên nhân dẫn tới bạo lực, hận thù và xung đột chia rẽ. Khi cảm nhận lờng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta sẽ sống khiêm tốn hơn và dễ dàng thực thi lòng thương xót đối với tha nhân.
TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
From: Langthangchieutim
SAO CON LẠI KHÓC- Lm Nguyễn Tầm Thường, sj
Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.
Trong đời, ai cũng có lúc khóc. Khóc thầm lặng. Khóc cho vơi niềm đau. Kinh cầu tuyệt vọng là kinh cầu trong nước mắt. Kinh cầu mong hy vọng cũng là lời kinh khao khát đẫm lệ.
Vũ trụ dường như đã có dan díu với tiếng khóc trước khi hình thành hay sao mà bây giờ ở đâu cũng thấy có nước mắt. Có tiếng thở dài trên đường, có tiếng thở muộn phiền lúc nghỉ ngơi. Tiếng than bên đời là buồn nhiều hơn vui.
Những trang Kinh Thánh thưở xưa cũng đong dài nhiều dòng nước mắt. Nhưng câu chuyện nước mắt của Mađalena thật đặc biệt. Bà khóc hai lần, hai lần khác nhau.
Ngày đó, Mađalena khóc bên chân Chúa, nước mắt và hương thơm. Trong buổi chiều ấy, Chúa không nói gì. Chúa cứ để Mađalena khóc. Chúa nhận nước mắt như nhận quà tặng ân tình. Còn Mađalena muốn đem nước mắt hòa vào hạnh phúc dầu quý cho bay đi những cơn mưa phùn của linh hồn rêu phong năm xưa. Chiều đó, người đàn bà ấy không nói gì. Thinh lặng và nước mắt thôi.
Thế rồi, cũng người đàn bà ấy, một sáng nọ bà khóc, buổi sáng đến mộ đá tìm xác Chúa. Nhưng tiếng khóc lần này không như tiếng khóc thuở xưa.
“Bà Maria đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc, vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt xác của Đức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc?” Bà thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu!” Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu. Đức Giêsu nói với bà: “Này bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” Bà Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về” (Yn 20:11-15).
Một Mađalena, mà hai khung trời, hai dòng nước mắt khác nhau. Một con tim mà hai nhịp đập, hai thổn thức khác biệt.
– Ở nhà Biệt phái: Ngày ở nhà ông Simon Biệt Phái, nước mắt bà Mađalena rơi xuống chân Chúa, nhưng chảy ngược vào tâm hồn. Mađalena khóc thầm lặng không tiếng nói. Bên mộ đá: Hôm nay, bên mộ đá Mađalena oà vỡ khóc thành lời nói. Bà thổn thức báo tin cho Phêrô và Yoan. Bà vội vã hỏi “Người làm vườn.” Bà quả quyết với thiên thần: “Người ta lấy mất Chúa tôi rồi” (Yn 20:13).
– Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Simon, Mađalena kín đáo tìm cách vào tận phòng tiệc cho nước mắt rơi trên sàn nhà. Bên mộ đá: Hôm nay, Mađalena đứng ở ngoài mộ mà thôi, tiếng khóc vang bên phía ngoài.
– Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, nước mắt Mađalena rơi trước mọi người, rơi trên chân Chúa. Bên mộ đá: Hôm nay, nước mắt rơi trong cát bụi.
– Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, Chúa để Mađalena ngồi cạnh mình lấy tóc cùng nước mắt mà lau chân. Bên mộ đá: Hôm nay, Chúa không cho nước mắt kia chạm tới Ngài.
– Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, trong tiếng khóc, Mađalena bị người ta kết án. Bên mộ đá: Hôm nay, Mađalena kết án người khác trong tiếng khóc của mình. Không bằng chứng mà Mađalena dám báo tin cho Phêrô bằng cách đổ tội cho người khác rằng: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ” (Yn 20:2).
– Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, trong dòng nước mắt, Mađalena nhìn rõ Chúa. Bên mộ đá: Hôm nay, cũng là nước mắt, Mađalena nhìn Chúa nhưng ngỡ là ông làm vườn. “Thưa ông, nếu ông đem Người đi thì cho tôi biết ông để Người ở đâu?” (Yn 20:15).
– Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, Chúa thương dòng nước mắt ấy thiết tha. Bên mộ đá: Hôm nay, Chúa chất vấn: “Bà kia, sao lại khóc?”
*******************************
Lạy Chúa, cũng một con người được Chúa yêu, mà sao một lần khóc thì Chúa như bùi ngùi, một lần khóc thì Chúa nhìn dòng nước mắt mà hỏi: “Bà kia, sao bà lại khóc?” Câu trả lời của Chúa như ngạc nhiên về dòng nước mắt ấy. Câu hỏi như từ chối, như nói rằng dòng nước mắt ấy không cần thiết. Tại sao vậy Chúa?
Tiếng khóc nào cũng có ý nghĩa. Nước mắt nào mà không chứa đựng nghẹn ngào. Càng nguyện vọng, nước mắt càng mặn cay, nước mắt ấy phải quý lắm chứ. Vậy tại sao Chúa lại hỏi: “Bà kia, sao bà khóc?”
Chỉ có một lần Chúa khóc, đó là trước cái chết của Lazarô. Cái chết nào mà không mất mát, nghẹn ngào, chính Chúa mà còn khóc. Vậy tại sao hôm nay Chúa lại bảo Mađalena đừng khóc nữa. Nhờ Chúa khóc trước cái chết của Lazarô, nên hôm nay, con phải suy nghĩ về nước mắt, tiếng khóc, nỗi đau của Mađalena trước mộ đá.
Khi Chúa khóc trước cái chết của Lazarô thì người chung quanh nói với nhau rằng: “Kìa, nhìn xem Ngài thương Lazarô dường bao” (Yn 11:36). Như vậy, nước mắt của Chúa hôm Lazarô chết không phải là nước mắt tiêu điều. Cái khóc của Chúa không là tuyệt vọng mà là tình thương.
Còn nước mắt của Mađalena bên mộ Chúa, có thương đó mà cũng có xót xa. Chúa sống lại, nhưng Mađalena phao tin rằng người ta lấy xác Chúa. Bà không nhìn thấy, nhưng bà nghi ngờ và đổ lỗi cho việc Chúa không còn trong mộ đá là xác Chúa đã bị đánh cắp! Nước mắt chúng con trước cái chết của người thân yêu có lẽ cũng mang dáng dấp cả hai. Có thương nhưng lại thương trong xót xa, và nỗi xót xa ấy nhuốm màu đau tuyệt vọng như của Mađalena. Vì chưa hiểu niềm tin Phục Sinh, nên không thấy xác Chúa thì Mađalena cảm thấy ngày một mất mát lớn lao. Nỗi mất mát ấy là của Mađalena, cho nên thương Chúa mà xót xa cho mình. Xót xa và tuyệt vọng làm Mađalena nghi ngờ và đổ lỗi cho nhiều người.
Vì xót thương trước cái chết của người thương yêu, nhiều khi chúng con cũng không tránh khỏi những phàn nàn, trách nhiều nguyên nhân, có khi trách cả Chúa. Xin Chúa cho chúng con hiểu hơn về mầu nhiệm Phục Sinh trong sự chết.
Nước mắt bên mộ đá đã đưa Mađalena vào những vùng mây mờ không chứng cớ. Đấy là nước mắt thiếu ánh sáng Phục Sinh. Trong nước mắt xúc cảm nhạt nhoà, bà không nhìn rõ Chúa đứng ngay bên cạnh. Chính Chúa đó mà bà lại hỏi ông để xác Chúa tôi ở đâu.
Chúng con cũng thế thôi, vào những giờ đau đớn quá, chúng con không bình tâm nhìn thấy Chúa bên cạnh mình nữa. Nước mắt đau đớn làm nhoà cái nhìn về sự sống đời sau. Mađalena đã bừng tỉnh khi Chúa gọi tên bà. Vậy con xin Chúa cũng gọi tên con trong những giờ chán nản tuyệt vọng để hồn con được an ủi.
Chúa khóc trước cái chết của Lazarô chỉ vì thương. Xin cho nước mắt chúng con trước nỗi biệt ly cũng chỉ có một tình cảm ấy mà thôi, là chúng con hãy thương mến nhau. Người chung quanh nhìn trước mắt Chúa mà nói: “kìa Ngài thương Lazarô biết bao.” Chớ gì nước mắt chúng con hôm nay cũng như vậy, để một người ra đi là đem yêu thương về đầy giữa chúng con, những kẻ ở lại.
Tình thương thì đem chúng con gần lại, còn nỗi tuyệt vọng sẽ làm đời sống chúng con rã rời. Con hiểu, cũng trước cái chết, Chúa đã khóc. Mà cũng trước cái chết, Chúa không muốn Mađalena khóc. Chúa muốn tiếng khóc của tình thương thôi chứ không muốn tiếng khóc tuyệt vọng. Vì Chúa là Phục Sinh.
“Vì sao con lại khóc?” Con mong lời Chúa hỏi Mađalena thưở xưa cũng là lời Chúa hỏi con hôm nay trong nỗi buồn này. Con hiểu lời ấy như một an ủi nhắc con về niềm tin Phục Sinh đằng sau nỗi chia ly vĩnh biệt. Con hiểu vì sao Chúa đặt câu hỏi ấy, vì trước giờ từ biệt Chúa đã căn dặn con: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Yn 14:3). Chúa mong chúng con ở bên Chúa như vậy thì khi người thân yêu của chúng con ra đi là giây phút Chúa chờ đón.
Mađalena chỉ nhìn vào mộ đá, vì thế nước mắt chỉ là trời sương buồn nản phủ xuống hồn. Chúa đã không muốn nước mắt ấy. Xin cho nước mắt của chúng con hôm nay không bám víu vào nỗi mất mát cho vơi niềm đau. Nhưng qua nước mắt, chúng con cho rơi đi những gì thiếu sót chúng con đã đối xử với nhau những ngày còn sống, để nước mắt hôm nay rửa tâm hồn chúng con cho đẹp hơn.
Xin Chúa cho nước mắt của chúng con hôm nay không kéo về những chiều hoàng hôn tuyệt vọng, mà rửa niềm tin chúng con sáng hơn để chúng con thấy người thân yêu đang ở bên Chúa và đang cầu bầu cho chính chúng con. Amen.
Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.
From: NguyenNThu
Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người,…(Luca 23:13)- Cha Vương
Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em (Gioan 20: 17)-Cha Vương
MUỐN NHIỀU HƠN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
“Đừng giữ Thầy lại!”.
“Bạn có thể có được Thiên Chúa bao nhiêu tuỳ thích! Chúa Kitô trao chìa khoá kho tàng vào tay bạn. Nếu một người được phép vào kho vàng thỏi của ngân hàng, lấy bao nhiêu tuỳ thích; nhưng anh ấy chỉ lấy mấy cắc, thì lỗi tại ai mà anh ta nghèo? Hãy muốn thật nhiều! Và đừng quên, Chúa Kitô luôn ‘muốn nhiều hơn’ cho bạn!” – Alexander MacLaren.
Kính thưa Anh Chị em,
“Chúa Kitô luôn ‘muốn nhiều hơn’ cho bạn!”. Đó cũng là những gì Ngài muốn cho Maria trong Tin Mừng hôm nay. Sau khi sống lại, Ngài hiện ra cho cô với dáng vẻ một người làm vườn. Cô muốn ôm chân Ngài; Ngài nói, “Đừng giữ Thầy lại!”. Tại sao? Ngài muốn cô thay đổi cách nhìn, lối xử với Ngài một cách hoàn toàn khác! Ngài ‘muốn nhiều hơn’ cho cô!
Maria hết lòng vì Thầy, bằng chứng là cô có mặt dưới chân thập giá; hoặc do lòng thương xót, Ngài đã trục xuất bảy quỷ cho cô! Mặc dù sự gắn bó và lòng sùng kính dành cho Chúa Giêsu đẹp đẽ và rất thanh khiết – tuy chưa hoàn thiện – Maria chỉ muốn Thầy Chí Thánh được trả lại cho cô theo cách cô muốn. Vì lý do đó, Ngài bảo, “Đừng giữ Thầy lại!”.
Khi nói thế, Chúa Giêsu muốn nói với Maria rằng, “Mối quan hệ của con với Ta sẽ sớm thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, thiêng liêng hơn, thiên đàng hơn. Nó không còn ở cấp độ con người! Ta sẽ không chỉ là bạn của con; Ta ‘muốn nhiều hơn’ cho con. Ta muốn con yêu Ta “hết linh hồn, hết trí khôn, và hết sức lực”; Ta sẽ sớm ở trong con và con ở trong Ta; Ta sẽ ở trong tim con, nên một với con, và trở thành Lang Quân của con cho đến đời đời!”. Đây là ‘một cuộc hôn nhân thiêng liêng giữa trời với đất’, ‘một hiệp thông mầu nhiệm giữa người với Chúa’, ‘một tương quan mới giữa Đấng Cứu Chuộc với tội nhân’. Họ sẽ cùng Ngài ‘xe duyên’; và điều này chỉ có thể xảy ra một khi Chúa Giêsu đã lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha sau khi hoàn tất sứ mệnh trên dương thế!
Sẽ rất bất ngờ khi bạn và tôi đọc lại những lời này – “Đừng giữ Thầy lại!” – với ý thức rằng, Chúa Giêsu ‘muốn được giữ lại’ hơn bao giờ hết! Ngài muốn ‘được ôm chặt’ với sự hiểu biết rằng, Ngài đã thực sự lên cùng Cha! Ngài muốn chúng ta ‘ôm chặt’ Ngài trong Thánh Thể, trong Lời, trong tha nhân. Ngài muốn chúng ta bám lấy Ngài với từng thớ thịt, từng hơi thở của mình; Ngài muốn ở cùng, trở nên mỗi người để biến đổi từng người theo cách thức riêng của Ngài. Maria đang tận hưởng hạnh phúc này; và quà tặng đó cũng đang được trao cho bạn và tôi ngay hôm nay chứ không đợi đến mai ngày trên thiên đàng.
Anh Chị em,
“Đừng giữ Thầy lại!”. Chúa Phục Sinh ‘muốn nhiều hơn’ cho bạn và tôi! Ngài muốn chúng ta gói lấy “những vàng thỏi”, chứ không chỉ nhặt “mấy cắc”. Ngài muốn chúng ta yêu Ngài tha thiết hơn từng ngày, từng giờ; từ đó, sống cho Ngài từng phút, từng giây. Ngài không chỉ ‘muốn nhiều hơn’ trái tim yêu thương của chúng ta; nhưng thật bất ngờ, cả những tội lỗi cùng những gì ‘hơi hướng thế tục’ nơi mỗi người. Đó là tất cả những gì Ngài đang chờ, và đang muốn nhất. Hãy dâng Ngài thời giờ, sức khoẻ, niềm vui và cả thập giá. Phải, cả thập giá! Thú vị thay, thập giá đó là sự ươn hèn, các tính hư nết xấu và cả tội lỗi!
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, dạy con khôn ngoan ôm lấy ‘vàng thỏi’, đừng nhặt ‘tiền cắc!’. Để con yêu Chúa hơn từng ngày, sống thánh hơn từng giờ cho Đấng hằng yêu con từng giây!”, Amen.
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
Từ cõi chết, Đức Ki-tô đã phục sinh – Cha Vương
NỖI SỢ CỦA ÂN SỦNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
“Các người phụ nữ vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng”.
Cha William thăm một cô gái sắp mổ mắt. Nỗi sợ phải mù ám ảnh cô! Cô nói với cha, “Ôi, Chúa đang lấy đi thị giác của con!”. Cha xứ nghiêng mình thì thầm, “Đừng để Ngài lấy nó! Hãy dâng nó cho Ngài!”. Khuôn mặt cô gái rạng rỡ, “Con ước ao được như vậy!”.
Kính thưa Anh Chị em,
Nỗi sợ hãi xen chút vui mừng – dẫu ít ỏi – nơi cô gái trẻ đưa chúng ta về câu chuyện Tin Mừng hôm nay. Các phụ nữ rời mộ Thầy, vừa “sợ hãi” vừa “vui mừng”. Thật thú vị, hai trạng thái đan xen! Làm sao một người vừa “sợ” lại vừa “vui?”. Chẳng phải sợ hãi luôn xói mòn niềm vui? Chẳng phải niềm vui không triệt tiêu được sợ hãi? Đặt mình vào tâm trạng của các cô, chúng ta sẽ hiểu được thế nào là trải nghiệm một ‘nỗi sợ của ân sủng!’.
Làm sao có thể không sợ khi thi hài của một người chết nay hiện ra sừng sững trước mặt họ? Làm sao một ‘thây ma’ nay lên tiếng chào họ? Ấy thế, nỗi sợ tự nhiên được thế chỗ bởi niềm vui của ân sủng! “Chào chị em!” tiếng Latin là “Exsultet!”, có nghĩa là “Mừng vui lên!”. Đây cũng là lời Gabriel chào Đức Mẹ trong ngày truyền tin, “Mừng vui lên, đấng đầy ân sủng!”. Giờ đây, không phải là lời của sứ thần nhưng là lời của ‘Chúa các sứ thần’ – lời Đấng Phục Sinh – nói cho cả nhân loại biết rằng, nó đang được đầy ân sủng!
Đây không phải là một nỗi sợ thông thường; đúng hơn, một ‘nỗi sợ của ân sủng’ đầy tôn kính, kinh ngạc và choáng ngợp, gây sốc thánh thiện; và cùng lúc, ngập tràn niềm vui. Bỗng nhiên, một sự hiểu biết chợt đến khiến các cô đầy ắp hy vọng rằng, Thầy đã ra khỏi mồ! Trải nghiệm này cho phép họ tin chắc một điều gì đó rất phi thường vừa mới xảy ra.
Đây còn là một trải nghiệm đáng ao ước nơi bạn và tôi! Ngày Phục Sinh, ‘ngày Chúa biến đổi tôi’, ‘ngày Chúa đã làm ra’, ngày mà tôi hoan hỷ mừng kính trong tám ngày liên tiếp và cao điểm là Chúa Nhật Lòng Thương Xót. Vì thế, trong những ngày này, chúng ta sẽ cố gắng ‘cùng trải nghiệm một kinh nghiệm’ mà các phụ nữ thánh thiện ấy đã trải qua. Rằng, Chúa Giêsu không còn trong mộ và tôi cũng đã ‘ra khỏi mồ’ với Ngài. Hãy chìm sâu vào mầu nhiệm Phục Sinh; học biết nó đúng như ý nghĩa tràn đầy của nó! Ngài đã tiêu diệt tội lỗi, huỷ diệt cái chết, sự ác; đồng thời, đang huỷ diệt tội lỗi của tôi, ban cho tôi sự sống mới trong sức mạnh Phục Sinh của Ngài. Không thể tuyệt vời hơn!
Anh Chị em,
“Tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng”. Chúa Phục Sinh ước ao bạn và tôi có được trải nghiệm ấy mỗi ngày trong Lời Chúa, trong Thánh Thể, trong những con người, trong các biến cố. Ngài ‘đón đường’ từng người chúng ta, nói với mỗi người rằng, “Mừng vui lên!” vì cả vũ trụ này đang được đổi mới; và nhất là, ‘Con đang được đổi mới!’. Như các phụ nữ, bạn hãy cam kết một điều, chúng ta phải ‘ra khỏi nhà’, ‘ra khỏi mồ’, ra khỏi những gì thuộc tầm thấp, ra khỏi những ước muốn thế tục; nhờ đó, có thể nhận ra ‘Đấng đón đường’ đầy yêu thương, quyền năng. Được như thế, chúng ta mới thật sự trải nghiệm ‘nỗi sợ của ân sủng’ đáng ao ước mà Đấng Phục Sinh mang lại, cũng là Đấng sai đi.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, dạy con biết ‘chìm sâu vào trong’ mầu nhiệm Phục Sinh; nhờ đó, con có thể ‘ra khỏi nhà’, ‘ra khỏi mồ’, được biến đổi và được sai đi!”, Amen.
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
From: KimBang Nguyen

