Nhà văn Nhất Linh tái xuất hiện ở Việt Nam qua ‘Xóm Cầu Mới’

Nhà văn Nhất Linh tái xuất hiện ở Việt Nam qua ‘Xóm Cầu Mới’

March 23, 2022

Trần Doãn Nho/Người Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Nhà văn Nhất Linh tái xuất hiện ở Việt Nam vào cuối năm 2021 vừa qua, bằng “Xóm Cầu Mới,” tác phẩm cuối cùng của ông, do nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam, Hà Nội, xuất bản.

Bìa tiểu thuyết “Xóm Cầu Mới” của Nhất Linh (2021). (Hình: Trần Doãn Nho/Người Việt)

Theo ông Nguyễn Tường Thiết, con trai út của Nhất Linh, thì “Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết ‘Xóm Cầu Mới’ vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để diễn tả cuộc đời muôn vẻ, muôn mặt.”

Nhưng, cũng theo Nguyễn Tường Thiết: “Thực tế ông chưa viết được một phần mười của ‘gần vạn trang’ như ông mong muốn. Cuốn ‘Xóm Cầu Mới’ do Phượng Giang xuất bản lần đầu năm 1973 ở Việt Nam và Văn Mới tái bản lần thứ nhất ở Hoa Kỳ năm 2002 cũng chỉ dày khoảng hơn 600 trang. Tuy đây là truyện dài nhất trong số những truyện dài của Nhất Linh nhưng chưa đủ để có thể gọi nó là một trường thiên tiểu thuyết. Tuy thế tôi vẫn cho rằng ‘Xóm Cầu Mới’ là tác phẩm vĩ đại nhất của Nhất Linh.” (1)

Đây là tác phẩm thứ ba của Nhất Linh được tái bản ở Việt Nam. Hai tác phẩm trước là “Gánh Hàng Hoa” (viết chung với Khái Hưng) và “Lạnh Lùng.” Sau khi “Xóm Cầu Mới” được phát hành, tôi ghi nhận có hai bài điểm sách ngắn trên báo Việt Nam ở trong nước.

Bài thứ nhất xuất hiện trên tờ Văn Nghệ Quân Đội ngày 17 Tháng Giêng, 2022. Một trích đoạn:

“Hình tượng văn nhân của Siêu cũng như nổi buồn thoáng qua của Triết đại diện cho khả năng nghiên cứu, quan sát và mổ xẻ vô cùng cầu toàn của Nhất Linh. Những dòng mô tả sự khép mình của Siêu dễ gợi nhớ đến ‘Cỏ Ven Đường’ của Natsume Soseki với những dòng tâm sự dài; trong khi ở Triết có một nỗi buồn nào đó rất… Freud, của những suy ngẫm, của những thân phận giữa cảnh đời không biết sẽ đi về đâu. Tuy phổ quát, nhưng ở mỗi cá tính khác nhau, Nhất Linh vẫn đi rất sâu và để lại được một điểm đặc biệt, và có thể nói là thành công nhất của ông trong tác phẩm này.”

“Trong ‘Xóm Cầu Mới,’ tình nghĩa làng xóm được Nhất Linh đặt ra vô cùng rõ ràng, về những mối quan hệ muôn màu muôn vẻ. (…) Nhất Linh và những suy nghĩ có phần tiến bộ trước xã hội phần nhiều truyền thống đã được thể hiện xuyên suốt các tác phẩm trước đó như ‘Đoạn Tuyệt,’ ‘Đôi Bạn’… và ‘Xóm Cầu Mới’ cũng không nằm ngoài ngoại lệ. Ở đây, chi tiết về mối tình thâm giữa Siêu với Mùi vượt qua biên giới níu chặt của tính họ hàng, hay điểm nhấn trong câu chuyện của cô Hòa bán cơm, tuy rất nhỏ và chỉ là điểm xuyết… thế nhưng vị trí và vai trò của người phụ nữ mới đã được Nhất Linh bày ra trước mắt. Những người phụ nữ kiểu cũ như bác Lê gái, hay mới hơn, như Duyên, như Mùi, như Bé, như Hòa… đều cho thấy được sức mạnh của mình, trong cách lựa chọn những ngã cuộc đời. Tuy hiển hiện ở nhiều mặt khác nhau nhưng có thể thấy được họ luôn tự do và sống vì mình.” (2)

Bài thứ hai xuất hiện trên tờ Thể Thao Văn Hóa ngày 24 Tháng Hai, 2022. Một trích đoạn:

“Có thể thấy, từ một ý tưởng, ‘Xóm Cầu Mới’ dưới mắt Nhất Linh sống động như thể ông đã từng sống ở một nơi tên là ‘Xóm Cầu Mới,’ đã buồn vui, giao tiếp, nói cười cùng những Mùi, Siêu, Nhỡ, Bé, Đỗi… Một đời sống bình dị không có bóng dáng của những cuộc tranh đoạt (khác bộ ‘Đông Chu’) với những con người dù thuộc tầng lớp xã hội nào vẫn có cá tính chứ không lờ nhờ tồn tại. Cuộc tranh đấu mới cũ trong các tiểu thuyết luận đề ngày trước đã “đoạn tuyệt” xong, cá nhân giờ đây phải đấu tranh với cảm xúc của chính mình. Những con người ở ‘Xóm Cầu Mới,’ trẻ có, già có, mỗi người mỗi tính, mỗi người một đặc điểm không lẫn, chỉ cần xuất hiện trên trang văn cũng đủ làm độc giả có cảm giác đã gặp họ đâu đó với những câu chuyện vụn vặt, không đầu không cuối.” (3)

Võ Phiến, khi đọc những trang bản thảo của Nhất Linh, nhận xét: “‘Xóm Cầu Mới’ sẽ không có ý chính gì cả: trong hàng vạn trang sách sẽ chỉ có cuộc đời với nhân vật được mô tả cặn kẽ, thật đúng, thật sống động. (…) Viết hay là tả đúng các trạng thái phức tạp của cuộc đời, đi thật sâu vào sự sống, tìm cho nhiều chi tiết về người và việc để tạo được những nhân vật sống động.” (4)

Thụy Khuê gọi “Xóm Cầu Mới” là “một tác phẩm hiện thực xã hội.” Theo bà: “Nhất Linh đã bỏ hẳn những câu văn hay, đọc lên như thơ, như tranh; bỏ hẳn những tư tưởng đấu tranh, dìu dắt xã hội; bỏ hẳn lối xoáy sâu vào nội tâm nhân vật mà ông sở trường; ở đây, ông chỉ nhìn con người qua những cử chỉ tầm thường nhất của họ và viết lại: ông ghi chép con người đang sống, bình thường như thế, vậy thôi.” (…) “Ông đã làm cho độc giả ‘rùng rợn hết cả người’ bằng những động tác ‘không có gì cả.’” (5)

Hầu như những nhận xét về “Xóm Cầu Mới” của những cây bút, cả trong lẫn ngoài nước, vừa trích dẫn trên, gặp nhau ở một chỗ: không có (ý chính) gì cả! Điều này khá ăn khớp với ý kiến của Nhất Linh về chính tác phẩm của mình khi cho đăng “Xóm Cầu Mới” trên báo lần đầu tiên vào năm 1958: “Cứ đọc những truyện dài trên kia, các bạn cũng đã lĩnh hội được phần nào cái ý chính của toàn bộ, nghĩa là không có ý chính gì cả ngoài cái ý tả cuộc đời về đủ mọi mặt.” (6)

Quả thật là như thế!

Trong “Xóm Cầu Mới,” Nhất Linh sử dụng một bút pháp hoàn toàn mới mẻ, dung dị, khác hẳn với những tác phẩm trước. Ông nhẩn nha kể chuyện, toàn là những chuyện linh tinh lỉnh kỉnh, chuyện mà chẳng có chuyện. Chỉ là những sinh hoạt bình thường, quá bình thường trong đời sống hằng ngày, từ những ý nghĩ nho nhỏ cho đến những cử chỉ cũng nho nhỏ, tự nhiên, từ những đối thoại vu vơ và vẩn vơ cho đến những phản ứng tâm lý bình thường, có thể tìm thấy ở bất cứ một người bình thường nào. Nhất Linh biến những chuyện vụn vặt đời sống thành “đề tài,” tập trung mô tả chúng một cách khá chi li và chi tiết. Chuyện cô Mùi đi cân gạo mất hết bảy trang; chuyện cậu Ấm Hải dối vợ, làm bộ đi săn vịt trời để  hút thuốc phiện kéo dài đến mười mấy trang; chuyện thằng Tý đi học hay đi câu cũng hết vài trang; chuyện cái thắt lưng quần trở thành một cách tỏ tình đơn sơ và thành thật của cô gái Bé vừa dậy thì, hết cả chương.

Thế giới “Xóm Cầu Mới” là một thế giới mà ý nghĩa chỉ dính dáng đến những gì đang diễn ra hơn là những gì đã và sẽ diễn ra. Những hành vi, cử chỉ và lời nói của nhân vật tự đủ với chính chúng, không ám chỉ một cái gì sâu xa bóng bẩy mà cũng chẳng gợi lên một xúc động sâu xa nào. Độc giả khó tìm thấy những suy nghĩ đầy hơi hướm triết lý dạy đời hay những độc thoại lòng vòng về tình người, tình đời. Quan hệ giữa người và người không có tính áp đặt, không có tính luận đề, không tập trung vào một chủ điểm. Các nhân vật đi, đứng, ăn nói tự nhiên như nhiên chẳng dính dáng gì đến một cái sườn định trước. Tất cả đều được biểu lộ rõ ràng qua những ngắm nhìn, nghe ngóng, đôi khi có vẻ săm soi, rình mò lẫn nhau, từ đó tạo ra những trạng thái tâm lý đặc thù bên trong mỗi một nhân vật, nhưng không đi quá đà đến chỗ mang tính cách “phân tâm” kiểu Freud. Những trạng thái này có khi được giấu kỹ, nhưng cũng có khi nổ bùng thành nhưng câu nói, những cử chỉ bất ngờ, thoát khỏi vòng kiểm soát của cá nhân. Chẳng hạn khi Mùi giận Siêu vì Siêu tỏ ra chẳng chú ý đến mình lúc từ giã, khiến “Mùi giơ cao bàn tay lên, nhắm mắt lại, mím môi rồi như điên như dại nàng lấy hết sức quật mạnh tay vào cành găng đầy gai sắc. Nàng không rõ đã quật mấy cái như thế; nàng cũng không thấy đau gì ở bàn tay hình như đã tê dại hẳn.” Phản ứng này không xảy ra lập tức mà rất lâu sau khi Mùi đã về nhà.

Chân dung nhà văn Nhất Linh và cuốn sách của con trai Nguyễn Tường Thiết “Nhất Linh, Cha Tôi” được nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam tái bản vào Tháng Bảy, 2020. (Hình: Một Thế Giới)

Một trong những đặc điểm của nghệ thuật Nhất Linh trong “Xóm Cầu Mới” là các nhân vật lắm khi “nói” (đối thoại) bằng cử chỉ và chỉ cử chỉ mà thôi. Cậu ấm Hải và bà Hiên lén lút cùng hút thuốc phiện trong căn nhà vắng vẻ chỉ có hai người. Tuy “tình trong” và “mặt ngoài” của cả hai người đều “như đã,” tuy nhiên họ “nói” với nhau, dò dẫm nhau bằng cái nắm tay, cái liếc mắt, cáì nóng ran rồi… chẳng đến đâu cả.

“Nét mặt bác Hiên biến đổi hẳn: hai con mắt sáng long lanh, đôi gò má ửng hồng và đôi môi đỏ thắm lại trông như mới nở mọng ra một ít và hơi khô khô; cả mặt như bừng bừng nóng, lông mi và đôi môi rung rung vì sung sướng. (…) Hải đặt dọc tẩu vào bàn tay nàng; Hiên đẩy ra, và trong lúc giằng co tay Hải nhiều lần chạm vào tay nàng. Sau cùng Hải nắm hẳn lấy bàn tay Hiên, kéo nàng nằm xuống và bắt hút; Hải cũng giơ tay đỡ dọc tẩu và như vô tình bàn tay chàng đặt lên bàn tay Hiên. (…) Hải nhắm mắt lại (…) Hiền ‘cũng thấy nóng ran cả người vì thèm muốn chứ không phải vì say thuốc.’ (…) ‘Biết đâu không có đứa con’ nàng nghĩ thế để che đậy sự rạo rực về nhục dục. Chính nàng đã giả vờ đau bụng để Hải mời hút thuốc và như thế nàng sẽ bạo dạn hơn. Nhưng rồi: ‘Hiên với dọc tẩu, bắt đầu tiêm. Nhìn Hải, nàng biết thế là hết. Nàng thất vọng nhưng cũng thấy nhẹ người vì đã giữ được trong sạch với chồng.’”

Cặp tình nhân Bé và Đợi cũng “nói” với nhau bằng cử chỉ của đôi bàn chân. Có khi không phải là cử chỉ nữa, mà tập trung vào một chỗ hiếm khi là nơi để diễn tả tình cảm: cái lưng. Đó là cảm giác thú vị của chàng trai Nhỡ nghèo hèn yêu thầm cô chủ Mùi, có lần sung sướng được đụng chạm được vào xác thịt người mình yêu khi tình cỡ được “cõng” cô: “Chỉ còn một cách là cõng Mùi qua. Mùi thì buồn vì cha ốm và lo mời cho được ông Lang nên cứ bá lấy cổ Nhỡ nhắm mắt để Nhỡ cõng sang; không nghĩ gì đến việc ấy. Nhỡ thì khác nào như anh thuyền chài trong truyện cổ tích được ôm lấy cô công chúa. Và đến lúc về, lại được cõng Mùi lần nữa. Nhỡ tưởng mình được lên tiên khi hai tay Mùi ôm vòng lấy cổ, đè nặng lên vai và hai cái đùi chắc nịch, rất êm sau làn lĩnh trơn đè nặng lên hai bàn tay; hai bắp mà chàng thấy rất cao quý ấy ngờ đâu có ngày chàng lại được đặt tay vào… và thích nhất là chàng nhận thấy hơi nóng của bụng Mùi truyền sang làm ấm cả lưng chàng.”

***

Hình ảnh chính xác nhất tượng trưng cho nghệ thuật dựng truyện và cấu tạo nhân vật của Nhất Linh trong “Xóm Cầu Mới” là những cánh bèo mà ông tóm gọn trong lời tựa vô cùng ngắn ngủi ngay ở đầu sách: “Những đời ‘bèo giạt’ đến tụ hội ở xóm nhỏ cũng như những bèo giạt đến, trong ít lâu, vương bám vào chân cầu, rồi lại trôi đi theo dòng nước, không biết về đâu?”

“Bèo,” “giạt,” “vương,” “bám,” “trôi đi,” “không biết về đâu.” Mỏng mảnh, mong manh, ngẫu nhiên, bình thường và tầm thương! Ở đây, không anh hùng hay phản bội, không triết gia, trí thức, không người khôn kẻ hèn, cũng không bi kịch, không bể dâu, tóm lại, chẳng có gì “lớn lao” cả. Các nhà phê bình văn học hoàn toàn bất lực, không thể tìm đâu trong “Xóm Cầu Mới” một hình tượng cao cả hay một triết lý sâu xa để săm soi bàn tán hay trích dẫn dạy đời. Tất cả đều bé mọn, tầm thường như cái bé mọn tầm thường mà tất cả chúng ta đều trải qua trong cuộc nhân sinh. Chỉ là bèo mà thôi.

Huỳnh Phan Anh nhận xét về Nhất Linh khi ông viết “Bướm Trắng: “Viết chống lại những gì mình đã viết,” “là một lời nói không của chính tác giả trước những lối mòn của quá khứ. Nó thể hiện và đồng thời thực hiện một cuộc đoạn tuyệt với chính vũ trụ tiểu thuyết quen thuộc của tác giả.” (7)

“Xóm Cầu Mới” là một phủ nhận “Đoạn Tuyệt,” “Lạnh Lùng,” “Đôi Bạn”… và phủ nhận luôn cả chính “Bướm Trắng.” [qd]

Chú thích:

(1) Nguyễn Tường Thiết, lời bạt trong “Xóm Cầu Mới,” trang 511.

(2) Ngô Thuận Phát, “Xã hội đương thời trong tác phẩm tâm huyết nhất của Nhất Linh,” http://vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-nghe/xa-hoi-duong-thoi-trong-tac-pham-tam-huyet-nhat-cua-nhat-linh_12925.html

(3) Huỳnh Trọng Khang, “Thăm lại ‘Xóm Cầu Mới’ của Nhất Linh,” https://thethaovanhoa.vn/van-hoa/tham-lai-xom-cau-moi-cua-nhat-linh-n20220224051742169.htm

(4) Võ Phiến, “Đọc bản thảo của Nhất Linh” trong “Nhất Linh hậu chiến,” https://damau.org/16115/vo-phien-doc-doc-lai-nhat-linh

(5) Thụy Khuê, “Nhất Linh, từ Cẩm Giàng tới ‘Xóm Cầu Mới,’” https://damau.org/69137/nhat-linh-tu-cam-ging-toi-xm-cau-moi

(6) “Mấy lời nói đầu,” dẫn theo Võ Phiến, “Đọc bản thảo của Nhất Linh.”

(7) Huỳnh Phan Anh, “Nhất Linh và Bướm Trắng,” www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13391&rb=08

Ngoại trưởng Hoa Kỳ vinh danh nhà báo Phạm Đoan Trang, lên án Việt Nam bỏ tù bất công

Đài Á Châu Tự Do 

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lên án việc cầm tù bất công đối với nhà báo bất đồng chính kiến Phạm Đoan Trang và kêu gọi Chính phủ Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức cho bà.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken phát biểu như vậy trong trong buổi lễ trao giải Phụ nữ Quốc tế Can đảm lần thứ 16, năm 2022, diễn ra hôm sáng 14/3, tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, có sự tham gia của Đệ nhất phu nhân Jill Biden.

Nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền Phạm Đoan Trang vừa bị toà sơ thẩm Hà Nội kết án chín năm tù giam hồi tháng 12/2021 vì tội “tuyên truyền chống nhà nước”.

Giải thưởng Phụ nữ Can đảm hàng năm của Bộ Ngoại giao Mỹ nhằm vinh danh những người phụ nữ dũng cảm trên khắp Thế giới. Năm nay có 12 phụ nữ trên toàn thế giới được Bộ Ngoại giao Mỹ vinh danh, trong đó có bà Phạm Đoan Trang.

Họ được vinh danh vì sự dũng cảm, sức mạnh và khả năng lãnh đạo đặc biệt trong việc vận động cho hòa bình, công lý, nhân quyền, công bằng và bình đẳng giới cũng như trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái…

#RFAVietnamese #MarcKnapper #PhamdoanTrang #USembassyinHanoi #Vietnam #VietnamHumanrights #IWOC2022

Ngoại trưởng Hoa Kỳ vinh danh nhà báo Phạm Đoan Trang, lên án Việt Nam bỏ tù bất công

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lên án việc cầm tù bất công đối với nhà báo bất đồng chính kiến Phạm Đoan Trang và kêu gọi Chính phủ Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức cho bà.

32 năm Hương Lan gia nhập đạo Công giáo.

Nhật Duy is with Phong Tran 

Ca sĩ Hương Lan là một trong số ít ca sĩ thành công ở cả hai lãnh vực Tân Nhạc và Cải Lương (cổ nhạc). Người khác là cố ca sĩ Hùng Cường cũng thành công 2 lãnh vực Tân Nhạc và Cải Lương.

Ảnh: Ca sĩ Hương Lan cùng chồng , kỹ sư Toản đã nghĩ hưu tại Mỹ, tham dự thánh lễ thánh gia thất của đạo Công Giáo để mừng 32 năm thâm niên hôn nhân của họ và 32 năm Hương Lan gia nhập đạo Công giáo.

Trước khi lấy ông Toản, Hương Lan là vợ của nghệ sĩ cải lương Chí Tâm và 2 người ly dị. Hương Lan và ông Toản cưới nhau đã 32 năm, và HL đã vào đạo Công giáo từ khi đó. Hương Lan là con gái của cố nghệ sĩ cải lương Hữu Phước, gia đình theo Phật giáo. Khi Cộng Sản VN xâm chiếm miền Nam vài năm, CSVN áp dụng chính sách kinh tế chính trị hà khắc, VN lúc đó nghèo đói, không có tự do dân chủ nhân quyền, ca hát bị CSVN kèm kẹp làm khó đủ điều nên gia đình cố nghệ sĩ cải lương Hữu Phước (ba của Hương Lan) đã được chánh phủ Pháp cho đi sang sống tại Pháp vì gia đình ổng có quốc tịch Pháp.

Các nghệ sĩ khác vì gia đình có quốc tịch Pháp nên được rời khỏi VN sang pháp sinh sống sau những năm đầu tiên VC xâm lăng miền Nam là ca sĩ cải lương Dũng Thanh Lâm, ca sĩ tân nhạc Thanh Mai và Julie Quang.

Nhắc lại chuyện xưa những năm đầu Việt Cộng xâm lăng miền Nam và người có quốc tịch Pháp đều rời khỏi VN lúc đó để bạn biết VC vào Nam áp dụng chính sách Cộng Sản ngu xuẩn, hà khắc gây nghèo đói mất tự do dân chủ nhân quyền, nên người ta phải bỏ nước ra đi.

Trước 30/4/1975 VNCH trù phú, ấm no, có tự do dân chủ, nên các gia đình có quốc tịch Pháp như gia đình ca sĩ Hương Lan đã ở lại VNCH sinh sống, họ KHÔNG cần sang Pháp để sống dù họ có quốc tịch Pháp.

Nhật Duy

Cuộc gặp gỡ của yêu thương và tha thứ…

 Hơn một tháng sau cái chết bi thảm của cha Giuse Trần Ngọc Thanh, gia đình của cha đã có cuộc gặp mặt với gia đình của người đã sát hại cha hiện đang bị bắt giữ.

Cuộc gặp gỡ giữa một gia đình khá giả, đầy đủ của ăn của để nơi thành phố SG hoa lệ có đứa con trai tình nguyện rời chốn phồn hoa ấy để lên vùng rừng núi heo hút và chết một cách tức tưởi với một gia đình nghèo, ít học và khắc khổ có đứa con trai cờ bạc, rượu chè, hung hãn đã giết chết người con trai hiền lành của gia đình kia.

Nhìn vào bức ảnh dường như không thấy sự hận thù hay những lời chì chiết… từ gia đình người bị hại, nhưng là sự cảm thông, cảm thông tuyệt đối và tha thứ tuyệt đối. Một điều khá khó hiểu và gần như không tưởng trong xã hội ngày nay. Nhưng sẽ dễ hình dung hơn, nếu bạn là người Công giáo.

Mọi người vẫn chưa lãng quên cái chết của cha Thanh. Kẻ thủ ác cũng như mục đích thật sự của anh ta vẫn đang được làm rõ, nấm mộ cha nơi nhà Dòng vẫn phủ đầy hoa tươi từ bà con giáo dân lẫn anh em ngoại đạo gửi tới, những chương trình từ thiện mang tên cha vẫn được xúc tiến và nhận được sự quan tâm của các Mạnh Thường Quân khắp nơi thậm chí ở nước ngoài gửi tiền về hỗ trợ… Thì Cuộc Gặp Gỡ Này, cuộc gặp gỡ của yêu thương và tha thứ, cũng dường như thắp lên một niềm hy vọng mới nơi vùng đất cằn cỗi mà cha đã sống và đã chết. Từ niềm hy vọng ấy, những điều tốt đẹp sẽ nảy sinh…

(Ảnh từ Fb cha Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, DCCT)

 Nữ diễn viên người Hàn Quốc Lee Young Ae đã quyên góp 100 triệu won (khoảng 83.000 USD) để ủng hộ Ukraine.

 Nữ diễn viên người Hàn Quốc Lee Young Ae đã quyên góp 100 triệu won (khoảng 83.000 USD) để ủng hộ Ukraine.

Cùng với một tấm séc, Lee Young Ae cũng gửi kèm một bức thư:

“Kính gửi các công dân yêu quý của Ukraine, tôi là một nữ diễn viên tên là Lee Young Ae, sống ở Hàn Quốc. Là một thành viên trong gia đình của một cựu chiến binh, tôi cảm nhận được sự tàn khốc của chiến tranh sâu sắc hơn bất kỳ ai khác.

Tôi tha thiết mong chiến tranh chấm dứt ở Ukraine và để hòa bình được lập lại.

Tôi cầu nguyện cho tất cả các công dân Ukraine an toàn và hạnh phúc.

Gửi tới những công dân Ukraine yêu tự do và hòa bình, tôi cầu xin các bạn đừng đánh mất hy vọng và can đảm! Là một trong số rất nhiều công dân yêu chuộng hòa bình ở nước Hàn Quốc tự do, tôi muốn gửi trái tim nhỏ bé nhưng quý giá của mình đến tất cả người dân Ukraine. Cầu mong thượng đế luôn ở bên các bạn.”

Cô ấy không những xinh đẹp mà còn biết chia sẻ, đứng về lẽ phải thật đáng trân trọng!

Le Van Quy

MỘT LUẬT SƯ QUẬN CAM TRỞ THÀNH LINH MỤC

 

 

 

 

 

 

 

 

Thánh An Tôn Hay Làm Phép Lạ

MỘT LUẬT SƯ QUẬN CAM TRỞ THÀNH LINH MỤC

Linh mục Trần Đình Văn Quân – Linh mục Công giáo thuộc Giáo phận Orange, California

Tôi làm Luật sư gần 12 năm và 10 năm trong số đó tôi làm Phó Biện lý Quận Cam ở California. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ trở thành một linh mục! Nhưng Chúa đã biết cả trước khi tôi chào đời và đã cho tôi được làm linh mục. Tôi đã phải trải nghiệm cuộc sống, hẹn hò, và làm việc trước khi sẵn sàng để nghe và đáp trả lời mời gọi của Người.

Sự quan phòng của Chúa đã làm việc trong ơn gọi của tôi trước khi tôi sinh ra. Khi ông nội tôi được mười hai tuổi, có một chuyện xảy ra đã làm thay đổi tất cả. Bà cố nội của tôi bệnh rất nặng và các bác sĩ đã không có hy vọng. Một ngày kia, khi ông cố nội của tôi đang đi bộ về nhà sau khi thăm bà trong bệnh viện, ông đi ngang qua Nhà thờ Công giáo Thánh Giuse. Mặc dù không phải là người Công giáo, nhưng vì tuyệt vọng, ông bước tới trước tượng của Thánh Giuse, ông quỳ xuống và bắt đầu cầu nguyện. Ông đã xin Thánh Giuse giúp vợ ông được bình phục. Ông hứa rằng nếu bà hồi phục, cả gia đình sẽ chuyển sang đạo Công giáo.

Đêm đó, ông bà cố nội tôi đã có cùng một giấc mơ. Họ đã mơ thấy một người đàn ông trông giống như Thánh Giuse đi vào phòng bệnh viện của bà, lấy đi ở phần bụng bà – bộ phận bị đau – và thay thế vào một cái mới. Buổi sáng hôm sau, bà đã được chữa khỏi hoàn toàn và các bác sĩ đã không thể tin được. Ông bà cố nội tôi chia sẻ giấc mơ họ đã có tối hôm trước và biết rằng qua Thánh Giuse bà cố nội tôi đã được chữa khỏi một cách kỳ diệu. Một thời gian ngắn sau đó, ông bà cố nội và ông nội của tôi đã chịu phép rửa tội theo đức tin Công giáo. Nếu không có phép lạ này, bây giờ gia đình tôi và tôi có thể không phải là người Công giáo!

Lớn lên, bà nội tôi là người sùng đạo nhất trong gia đình. Mặc dù bà chỉ theo đạo Công giáo khi bà kết hôn với ông nội tôi, nhưng chính bà lại là người duy trì việc thực hành đức tin sống động trong gia đình. Tôi đã gần bà khi lớn lên và bà đã dạy tôi làm Dấu Thánh Giá và những kinh cầu nguyện căn bản của Giáo hội như kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng, kinh Sáng Danh và kinh Ăn năn tội. Bà đã dạy tôi cách xưng tội và lãnh nhận Bí tích Thánh Thể. Bà nội tôi đã góp phần trong sự hình thành đức tin của tôi.

Mẹ tôi cũng đã theo đạo khi kết hôn với cha tôi. Lớn lên, chúng tôi là những người Công giáo “lãnh đạm”. Chúng tôi đã đến dự Thánh lễ Chúa nhật và nhận tất cả các bí tích căn bản – chủ yếu bởi vì sự khăng khăng của bà nội tôi. Trong gia đình tôi, tôi chưa bao giờ nghe có ai nói về một ơn gọi có thể có như chức linh mục hay đời sống tu sĩ. Thay vào đó lại nhấn mạnh về trình độ học vấn cao, có việc làm tốt với mức lương cao và có địa vị nữa.

Trong khi học Đại học, tôi không còn đi dự Lễ nữa. Những điều thế gian như vui chơi và đạt điểm tốt đã trở thành sự quan tâm của tôi; đức tin không phải là một ưu tiên. Điều này tiếp tục tiếp diễn khi tôi đang ở trường luật và cả khi tôi làm luật sư. Trong quá trình lược lại, tôi quyết định đi học tại trường luật. Tôi đã tốt nghiệp Cử nhân Quản trị Kinh doanh về Tài chính nhưng không hứng thú làm việc trong lĩnh vực này. Vì vậy bước tiếp theo hợp lý là để có được một MBA hoặc là đi học luật. Thế rồi tôi quyết định học về luật pháp vì tôi nghĩ rằng nó sẽ cho tôi nhiều lựa chọn hơn.

Công việc đầu tiên của tôi khi ra trường luật là luật sư biện lý công chúng ở Bakersfield. Đó là một kinh nghiệm tốt nhưng tôi biết tôi không muốn sống ở Bakersfield trong suốt quãng đời còn lại. Vì vậy, tôi đã nộp đơn lên Văn phòng Luật sư Công cộng và Văn phòng Luật sư Quận tại Quận Cam, nơi tôi đã lớn lên. Văn phòng của D.A. đã cho tôi một cuộc phỏng vấn và sau đó là một đề nghị tuyển dụng, và tôi đã chấp nhận. Năm 1997, chuyển về Quận Cam và bắt đầu sự nghiệp của tôi với tư cách là công tố viên; Tôi vẫn chưa thực hành đức tin của mình. Tôi mua một căn nhà, một chiếc xe BMW và đã hẹn hò. Tôi đang tìm kiếm một người ưng ý để kết hôn và bắt đầu một gia đình. Nhưng Chúa đã có những kế hoạch khác.

Mãi cho đến khoảng năm 2001 tôi mới bắt đầu trở lại đi dự Thánh lễ thường xuyên. Lý do là vì tôi đang hẹn hò với một phụ nữ Công giáo tốt bụng, cô ta muốn tôi đi lễ với cô vào Chúa nhật và tôi đã làm như vậy. Đây là khởi đầu của cuộc hành trình trở về với Chúa. Tôi đã biết rất ít là cuối cùng nó sẽ dẫn tôi đến đâu.

Chúng tôi đã hẹn hò trong vài tháng nhưng mọi thứ đã không kết quả và chúng tôi chia tay. Nhưng tôi vẫn tiếp tục đi dự Thánh lễ mỗi Chủ nhật. Tôi tiếp tục hẹn hò với hy vọng gặp được “người duy nhất.” Trong khi đó, Chúa đã sử dụng những người xung quanh tôi để hướng tôi đến với chính Người và cho ơn gọi đích thực của tôi. Chỉ sau đó tôi mới hiểu được ai thực sự là “người duy nhất” đối với tôi. Vào đầu năm 2005, tôi gặp một người phụ nữ ở trong giáo xứ và chúng tôi bắt đầu hò hẹn. Cô cũng là một người Công giáo tốt và cô giới thiệu tôi với chuỗi Mân côi, tham dự Thánh lễ hàng ngày và Chầu Thánh Thể. Cô khuyến khích tôi trở thành một Thừa tác viên Thánh Thể và sau đó là đọc sách Thánh. Tôi đã phát triển trong đức tin và thật sự thực hành nó.

Đồng thời, lúc đó tôi cũng đang trải qua một số khó khăn trong công việc. Điều này khiến tôi bắt đầu suy nghĩ về sự lựa chọn khác. Tôi nghĩ về việc tìm một việc làm khác hoặc thậm chí thay đổi nghề nghiệp, và tôi bắt đầu tìm kiếm… Tôi nhận ra rằng thực sự tôi không thích làm công tố viên hoặc luật sư vì bất cứ lý do nào. Tôi bắt đầu suy nghĩ để tìm ra những gì tôi thực sự muốn làm với cuộc đời của mình. Tôi muốn làm điều gì đó mà tôi thích và đam mê, nhưng không có gì là đúng cả.

Trong tuyệt vọng tôi quay sang cầu nguyện (như ông cố nội tôi). Với đức tin mới tìm thấy, tôi đã đến gần Chúa và hỏi Chúa cho tôi biết điều tôi phải làm là gì? Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi không có lựa chọn dự phòng nào; quá trình lược lại đã dẫn tôi đến ngõ cụt.

Ngay sau khi cầu nguyện, mọi thứ bắt đầu thay đổi. Người phụ nữ Công giáo mà tôi hẹn hò đã bất ngờ hỏi tôi một cách bâng quơ là có khi nào tôi nghĩ đến việc trở thành một phó tế vĩnh viễn không? Tôi nói với cô ấy rằng tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ tới việc trở thành một phó tế. Thậm chí tôi không biết phải làm gì để trở thành một phó tế, nhưng có lẽ nó đòi hỏi phải trở lại trường để học thêm, và tại thời điểm đó trong cuộc đời, tôi không hề muốn trở lại trường học. Nhưng hạt giống đã được gieo!

Không bao lâu sau, ba người khác hỏi tôi có khi nào tôi nghĩ đến việc trở thành một linh mục hay thầy phó tế không? Cho đến thời điểm này trong cuộc đời của tôi, không một ai đã từng hỏi tôi những câu hỏi như vậy. Tôi thấy rất tò mò vì trong vòng một tháng, sau khi tôi cầu nguyện, xin Chúa tiết lộ kế hoạch của Người cho tôi, bốn người khác nhau đã hỏi tôi xem tôi đã từng xem xét về chức linh mục hay thầy phó tế vĩnh viễn không? Tôi chưa bao giờ nghĩ đến ơn gọi và không biết phải làm gì để trở thành một phó tế hay một linh mục. Vì vậy, tôi bắt đầu kiếm trên mạng lưới để tìm hiểu thêm thông tin và tôi thấy mình như bị lôi cuốn về chức linh mục. Tôi thực sự không thể giải thích tại sao. Cảm giác này về chức linh mục là điều tôi đang tìm kiếm và đó là điều tôi muốn làm. Tôi càng suy nghĩ nhiều hơn về chức linh mục, thì nó càng cho tôi cảm giác bình an, niềm vui và có ý nghĩa. Tôi có cảm giác rằng đây chính là câu trả lời cho lời cầu nguyện của tôi.

Tôi đã rất phấn khởi và sợ hãi cùng một lúc. Có một cái gì đó mới lạ, một điều mà tôi chưa bao giờ nghĩ đến trước đó. Nhưng sự cam kết và thay đổi trong đời sống thì rất lớn. Từ bỏ nghề luật là một chuyện, còn một điều khác nữa để từ bỏ, đó là khả năng không bao giờ có vợ và gia đình. Tôi luôn nghĩ rằng mình sẽ tìm được đúng người, kết hôn và có gia đình. Độc thân không phải là điều dự tính của phương trình! Nhưng còn về chức phó tế thì sao? Nó cho phép tôi được kết hôn, có gia đình và trở thành phó tế cùng một lúc. Nhưng chức phó tế vĩnh viễn thì không bao giờ nghĩ tới. Tôi sẽ dâng cuộc sống của tôi cho Chúa hoàn toàn như là một linh mục hoặc lập gia đình; không có lựa chọn nào khác!

Tôi tiếp tục cầu nguyện và nhận ra ý Chúa cho tôi. Một ngày kia đang quỳ sau khi rước lễ và nhìn lên thánh giá, tôi có thể nghe thấy Chúa Giêsu đang nói trong tâm trí và trái tim tôi, Người kêu tôi bỏ tất cả mọi thứ và theo Người. Một phần của tôi muốn nói “Vâng, Chúa Giêsu, con sẽ từ bỏ tất cả mọi thứ để theo Chúa. Nhưng một phần khác vẫn chưa sẵn sàng, vì vậy tôi cầu nguyện: “Chúa Giêsu ơi, nếu Chúa muốn con theo Chúa, thì Chúa phải giúp con bỏ mọi thứ vì con không thể làm điều đó một mình được. Nếu Chúa muốn, Chúa phải làm cho nó xảy ra.”

Sáng hôm sau tôi thức dậy với bài hát này trong đầu: Everything I Own by Bread. Tôi đã lên trang mạng, in lời bài hát và đọc chúng. Bài hát này nói về một người mất cha và mong muốn cha mình vẫn còn sống. Nhưng đối với tôi, lời bài hát là cách Chúa nói với tôi rằng tôi có thể từ bỏ tất cả mọi thứ cho Người, nếu tôi không làm bây giờ thì cơ hội sẽ không còn và có thể tôi sẽ hối tiếc về điều đó:

Cha đã che chở con khỏi mọi điều tổn hại

Giữ cho con ấm, giữ cho con ấm

Cha đã cho con cuộc sống của con

Cho con tự do, cho con tự do

Những năm đẹp nhất mà con có

Là những năm con đã có với cha

Và con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có

Bỏ cuộc sống, trái tim, nhà cửa của con

Con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có

Chỉ để có Cha một lần nữa

Cha đã dạy con biết yêu

Nó là gì, nó là gì

Cha không bao giờ nói quá nhiều

Nhưng cha vẫn chỉ ra cách

Và con đã biết khi con quan sát cha

Không ai khác có thể biết được

Một phần của con không thể buông thả

Và con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có

Bỏ cuộc sống, trái tim, nhà cửa của con

Con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có

Chỉ để có Cha một lần nữa

Có ai đó mà bạn biết

Và bạn đang thương họ

Nhưng bạn cũng đã đang coi thường họ

Bạn có thể mất họ một ngày

Một ai đó sẽ mang họ đi

Và họ sẽ không nghe được những lời bạn muốn nói

Và con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có

Bỏ cuộc sống, trái tim, nhà cửa của con

Con sẽ bỏ hết tất cả những gì con có

Chỉ để có Cha một lần nữa

Chỉ để chạm vào Cha một lần nữa

Đây chỉ là một trong nhiều sự kiện mà Chúa đã tỏ cho tôi biết ơn gọi của mình.

Vào mùa thu năm 2005, tôi dự khoá tĩnh tâm Cursillo tại Trung tâm Mục vụ Marywood ở Orange và nó rất mạnh mẽ! Suốt cuối tuần đó, tôi cảm nhận tình yêu và ân sủng đầy quyền năng, đặc biệt là tình yêu của Mẹ Maria. Tôi đã bị cuốn hút đến Mẹ Maria hơn bao giờ hết. Tôi không thể ngừng nhìn vào ảnh của Mẹ. Lời xin vâng của Mẹ Maria cứ lẩn quẩn trong tôi: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa. Xin làm cho tôi theo lời của Ngài.” Không nghi ngờ gì, Mẹ Maria đã đóng một vai trò rất lớn trong khi tôi biện phân ơn gọi của mình.

Trong khóa tĩnh tâm, có ai đó đã nói với tôi về một giáo xứ được điều hành bởi dòng ‘the Oblate of the Virgin Mary.’ Tôi bắt đầu tham gia giáo xứ đó và rất có ấn tượng với vị linh mục này. Lời giảng của Ngài rõ ràng và đầy quyền năng, theo tôi chưa bao giờ cảm nghiệm trước đây. Vị linh mục đó đã trở thành người hướng dẫn tâm linh của tôi.

Trong thời gian biện phân, tôi đã gặp một người phụ nữ khác. Tôi đã nói với cô ấy ngay lập tức rằng tôi đang có ý định làm linh mục, để cho cô ấy biết trước. Cô là người Công giáo, đầy tài năng và hấp dẫn. Trên thực tế, tôi nghĩ cô ấy có tất cả những phẩm chất mà tôi mong muốn ở một người vợ. Cô ấy cũng phát triển tình cảm với tôi. Tôi không hiểu tại sao cô ấy đã bước vào cuộc đời tôi vào thời điểm này. Nếu tôi gặp cô ấy sáu tháng trước, tôi có thể đã nhìn thấy phần đời còn lại của tôi với cô ấy. Nhưng bây giờ không phải là thời điểm tốt. Qua cầu nguyện, tuy nhiên, tôi cảm nhận được Chúa cho tôi một sự lựa chọn có ý thức. Đây là người phụ nữ mà tôi có thể lập gia đình, hoặc tôi có thể chọn Người. Nếu tôi chọn cô ấy, Chúa cũng sẽ chúc phúc cho cuộc hôn nhân của tôi, nhưng Người đã gọi tôi chọn Người. Với ân sủng của Thiên Chúa, tôi đã có thể chọn Người. Chúa cho tôi cơ hội này để tôi đưa ra một quyết định có ý thức bởi vì Người không muốn sau này tôi suy nghĩ: “Chuyện gì xảy ra nếu tôi gặp đúng người?” Chúa muốn tôi chắc chắn về ơn gọi của mình.

Vào mùa hè năm 2006, tôi đã yêu cầu và nhận được một năm nghỉ việc để thử ơn gọi mới của tôi bằng cách vào chủng viện. Các đồng nghiệp của tôi rất ngạc nhiên. Nhiều người nghĩ rằng tôi đã đang trải qua một “giai đoạn” và rằng tôi sẽ trở lại trong vòng chưa đầy một năm.

Gia đình tôi cũng rất ngạc nhiên. Bố tôi, đang sống ở Denver, đã bay tới Quận Cam vào ngày hôm sau để nói chuyện với tôi và xem tôi có đang gặp phải bất kỳ vấn đề gì không. Ông cùng với nhiều người khác trong gia đình, nghĩ rằng tôi đã mắc phải sai lầm lớn; họ không thể hiểu được tại sao tôi lại biện phân về chức linh mục và nghĩ rằng tôi đã vứt đi cuộc đời của mình.

Việc chuyển đổi từ một luật sư sang chủng sinh không phải là dễ dàng. Tôi đã bán nhà, bán xe và bỏ hầu hết tài sản của mình. Từ bỏ những điều này không phải là khó khăn. Điều khó nhất là bỏ mấy con chó của tôi. Tôi có bốn con chó và tôi phải tìm nhà cho nó. Thật là đau lòng, nhưng Chúa đã ban cho tôi ân sủng để cho nó đến những gia đình tốt. Những người chủ mới đã rất tốt, họ email và cập nhật hình ảnh cho tôi và tôi có thể đến thăm bất cứ lúc nào.

Vào năm 2006, tôi tham gia vào dòng ‘the Oblates of the Virgin Mary’ như là một dự sĩ tại chủng viện của họ ở Boston và bắt đầu học triết học. Đó là một trải nghiệm mới và đầy thách thức đối với tôi. Tôi đã là một luật sư với nhà riêng và xe của mình, tôi có thể đến và đi lúc nào tôi muốn. Bây giờ tôi phải sống với một cộng đoàn tôn giáo nhỏ và phải làm hầu hết mọi thứ cùng với năm chủng sinh khác: ăn, cầu nguyện, học tập, dọn dẹp, giải trí, vv… Thật khó! Nhưng với sự trợ giúp của Chúa, tôi đã ở được một năm. Vào cuối năm tôi đã nhận ra rằng cuộc sống tôn giáo hoặc ít nhất là dòng ‘the Oblates of the Virgin Mary’ có lẽ không phải cho tôi. Tôi trở lại Quận Cam không biết mình sẽ làm gì tiếp theo. Nhưng có một điều chắc chắn – tôi không muốn là một D.A. nữa. Tôi nộp đơn từ chức, trả lại huy hiệu và I.D. Tôi thấy bình an với quyết định này.

Nhưng bây giờ làm gì? Tôi tìm kiếm lời khuyên của một người hướng dẫn tâm linh mới, một Norbertine. Ông đề nghị tôi thử Giáo phận Orange trước khi từ bỏ ý định làm linh mục và trở lại “thế giới thực tại.” Vì vậy tôi đã gia nhập Giáo phận Orange và được cử đi học thần học tại Chủng viện Thánh Patrick ở Menlo Park, California . Ngay lập tức tôi nhận thấy một sự khác biệt lớn từ cuộc sống tôn giáo ở Boston. Có nhiều chủng sinh hơn và tôi có nhiều quyền tự do hơn để lựa và chọn, làm thế nào và với ai khi dùng thời gian rảnh của mình. Càng ngày tôi càng cảm thấy tôi đã tìm được ơn gọi của mình. Vào cuối năm đầu tiên của thần học, Đức Giám Mục Orange đã cho tôi một sự lựa chọn: ở lại St. Patrick học hoặc đi đến Trường cao đẳng Bắc Mỹ ở Rome. Tôi đã chọn Rome.

Rome cũng là một thách thức vì là một quốc gia khác, với một nền văn hoá và ngôn ngữ khác biệt, xa với sự quen thuộc và thoải mái ở nhà. Nhưng đó cũng là một kinh nghiệm tuyệt vời cho phép tôi hoà đồng với nhiều chủng sinh và linh mục có năng khiếu từ khắp nơi trên nước Mỹ (và thế giới nói chung). Tôi cũng có cơ hội trải nghiệm những kỳ quan của Rome và các vùng khác nhau của Châu Âu. Điều quan trọng nhất là khi tôi tiếp tục học tập và đào tạo, nó trở nên rõ ràng và rõ ràng hơn rằng linh mục là ơn gọi của tôi.

Vào ngày 10 tháng 7 năm 2010, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, tôi được làm thầy phó tế chuyển tiếp của Giáo phận Orange. Nhiều gia đình, bạn bè đã có mặt và tôi đã thuyết giảng Thánh lễ đầu tiên của tôi như một Thầy phó tế vào Chúa nhật Lễ Hiện Xuống. Cuối tuần đó thật đầy ân sủng! Thật khó để tin rằng bốn năm trước đó, tôi đã là một luật sư cố gắng bỏ mọi thứ và theo Chúa Kitô. Gia đình, bạn bè của tôi đã hãnh diện về tôi. Mùa hè tiếp theo, vào ngày 11 tháng 6 năm 2011, tôi được Thụ phong Linh mục. Tôi đã trở lại Rome để hoàn tất chương trình Licentiate in Sacred Theology trước khi trở về nhà trong năm 2012. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là tại nhà thờ Our Lady of Mount Carmel ở Newport Beach, và năm đầu tiên làm linh mục phó xứ là một phần thưởng và kinh nghiệm cho tôi.

Tôi không chắc chính xác kế hoạch của Chúa dành cho tôi như thế nào. Nhưng dù sao, tôi biết rằng nó tốt hơn bất cứ kế hoạch nào tôi có thể làm cho bản thân mình. Tôi đã giao phó ơn gọi của mình cho Mẹ Maria, tin tưởng vào sự chăm sóc của Mẹ và cố gắng để nên giống Mẹ. Biết rằng sẽ có những thử thách phía trước và tôi cố gắng chấp nhận làm theo ý Chúa mỗi ngày. Tôi giữ những lời sau đây của Mẹ Têrêxa gần với tôi để nhắc nhở tôi tin tưởng Chúa mọi lúc:

“Hoàn toàn đầu phục cho Chúa phải đi từ những chi tiết nhỏ đến những chi tiết lớn, chẳng có gì ngoài một từ duy nhất: ‘Vâng! Con chấp nhận những gì Chúa cho, và con cho những gì Chúa muốn.’ Và đây chính là cách đơn giản để chúng ta nên thánh. Không nên tạo ra khó khăn trong tâm trí mình. Để thánh thiện không có nghĩa là làm những điều phi thường, hiểu những điều lớn lao, nhưng đơn giản là chấp nhận, bởi vì tôi đã dâng mình cho Chúa, tôi thuộc về Người – tôi phó thác tất cả!”

Nguồn: Thanh Linh

Linh mục Quân hiện là Cha phó – Giáo xứ Chánh toà Chúa Kitô ở Garden Grove. Ngài cũng đang là Vị Đại diện Giám mục của Hiệp nhất Kitô giáo và Đối thoại Liên tôn thuộc Giáo phận Orange.

Nhà văn Huy Phương, tác giả ‘Ga Cuối Đường Tàu,’ đã ra đi

Nhà văn Huy Phương, tác giả ‘Ga Cuối Đường Tàu,’ đã ra đi

February 25, 2022

Đằng-Giao/Người Việt

ANAHEIM, California (NV) – Nhà văn Huy Phương, tên thật là Lê Nghiêm Kính, sinh năm 1937, tại Huế, vừa qua đời lúc 4 giờ chiều Thứ Sáu, 25 Tháng Hai, tại nhà riêng ở thành phố Anaheim. Bà Phan Thị Điệp, hiền thê của nhà văn Huy Phương, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Nhà văn Huy Phương trong ngày ra mắt hai tạp ghi mới năm 2017. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Nhà văn Huy Phương, pháp danh Thiện Bảo, hưởng thọ 86 tuổi.

Trong những ngày cuối đời, phóng viên nhật báo Người Việt đã có cuộc trò chuyện với nhà văn Huy Phương. Ông vói tay lấy tập thơ “Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già” của chính mình, lật ra bài “Chúc Thư,” chỉ vào đoạn: “Khi tôi chết ván hòm xin đậy nắp/ Có vui chi nhìn người lính chết già/ Hổ thẹn đã không tròn ơn nước/ Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa/ Hãy quên tôi, người lính già lưu lạc…”

Chỉ thẳng vào câu “Đừng phủ lá cờ tổ quốc cho tôi…” ông nói bằng giọng cứng cỏi: “Tôi kịch liệt đả phá chuyện phủ quốc kỳ vì tôi không chết ở sa trường mà chết trong vòng tay thương yêu của vợ con. Chỉ những người hy sinh trên chiến trận mới xứng đáng được phủ cờ mà thôi.”

“Tôi đã căn dặn gia đình rất rõ ràng là tôi chỉ là người lính chết già, tôi không muốn được phủ cờ,” ông dứt khoát. “Bao nhiêu người lính xứng đáng hơn tôi mà một đám tang, thậm chí một nén nhang còn không có thì tại sao tôi lại được phủ cờ?”

Vẫn với mái tóc rậm rì rì, bạc phau phau, nhà văn Huy Phương lộ nét mệt mỏi sau gần hai năm ròng rã chống chọi căn bệnh ung thư thực quản quái ác. Mệt mỏi, nhưng ở ông vẫn toát ra một thái độ an nhiên tự tại, sẵn sàng đón nhận tất cả.

Nói về chuyến đi đến “ga cuối đường tàu” của đời mình, ông rất bình thản: “Hồi Tháng Tám, 2020, một hôm đang ăn, tôi bị nghẹn cổ và khó chịu trong người rồi bỗng dưng ói mửa thốc tháo. Đi soi bao tử, không thấy gì. Sau đó thì người ta phát giác là tôi bị ung thư thực quản thời kỳ cuối.”

Nhà văn Huy Phương bên tác phẩm của chính mình. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Từ cuối Tháng Ba, 2021, ông được chuyển sang quy chế “hospice tại gia” và được rời bệnh viện để về tĩnh dưỡng cuối đời tại nhà người con gái út ở Anaheim.

Ông thở nhẹ: “Chừ tôi chỉ uống sữa bằng đường bao tử, mỗi ngày ba, bốn lần thôi.”
Nhìn mông lung vào khoảng không tĩnh lặng vài giây, ông tiếp: “Có muốn ăn miếng bún bò cũng không được nữa rồi.”

Ông nói về thời gian cuối mình bằng giọng ôn tồn và điềm tĩnh, như đang nói về người xa lạ nào đó. Đôi mắt ông có mệt mỏi nhưng vẫn lấp lánh nét tinh anh của một người quen làm việc đầu óc.

Với một nụ cười không tròn trịa, ông nói: “Tôi không có bất cứ điều gì để hối tiếc cả. Những gì làm được, tôi đã làm. Và làm nhiều lần rồi.”

“Tôi sang Mỹ với hai niềm hãnh diện, một là cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và hai là cựu tù nhân chính trị,” ông nói. “Niềm vui của tôi ở Mỹ là được viết báo và làm chương trình truyền hình để kết nối cộng đồng lại với nhau.”

Ông nhấn mạnh: “Tôi xin cám ơn nhật báo Người Việt và đài truyền hình SBTN là hai cơ quan truyền thông có chính nghĩa nhất và giữ lập trường chống Cộng ở đây. Hai cơ quan này đã đăng tải bài tôi viết từ năm 1990, và phát hình chương trình ‘Huynh Đệ Chi Binh’ của tôi trong hơn 10 năm qua.”

Ngoài ra, ông còn làm việc với những cơ sở khác. Ông nói: “Tôi cũng từng cộng tác với báo Saigon Nhỏ, báo Trẻ, Thời Báo (Canada) và đài phát thanh Việt Nam (Oklahoma).”
“Về đóng góp xã hội, tôi cũng rất vui đã có thời gian dài được làm việc với chị Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, sáng lập viên Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ Việt Nam Cộng Hòa,” ông thêm.

Hai cuốn sách nhà văn Huy Phương để bên giường bệnh. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Ôn lại những nỗi vui lớn trong đời, ông nói: “Trong lúc làm chương trình ‘Huynh Đệ Chi Binh,’ tình cờ tôi liên lạc được những người có thông tin về hai ngôi mộ tập thể có nhiều cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Việt Nam; một ở Bình Dương, một ở Sài Gòn và một ở Thuận An, Huế. Nhờ đó, tôi giúp được nhiều gia đình, để vợ tìm được chồng, để mẹ tìm được con. Đó là một hạnh phúc đối với tôi.”

Ông lưu vong tại Mỹ từ năm 1990.

Ông cũng vẫn có những trăn trở cho thế hệ tương lai.

Điều ông muốn dặn dò là thế hệ trẻ gốc Việt là phải cố giữ gìn ngôn ngữ Việt. “Phải bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Đây là nhiệm vụ của chúng ta, những người Việt hải ngoại, vì tiếng Việt trong nước đã trở thành một ‘cái gì’ rất dị hợm rồi,” ông nói. “Mất tiếng Việt là mất văn hóa Việt.”

Cuốn sách mới nhất của ông tựa đề “Tuyển Tập Huy Phương,” xuất bản năm 2020 là một bộ tổng hợp gồm 12 tuyển tập tạp ghi của ông, viết từ ngày ông sang Mỹ năm 1990 đến năm 2020.

Sau cuốn tạp ghi đầu tay “Nước Mỹ Lạnh Lùng” (1991-2003), ông viết không mệt mỏi với “Đi Lấy Chồng Xa,” “Ấm Lạnh Quê Người,” “Hạnh Phúc Xót Xa,” “Quê Nhà-Quê Người,” “Những Người Thua Trận,” “Nhìn Xuống Cuộc Đời,” “Ngậm Ngùi Tháng Tư,” “Quê Hương Khuất Bóng,” “Nước Non Ngàn Dặm,” “Ga Cuối Đường Tàu” và “Sóng Vỗ Bèo Trôi.”

Nhà văn Huy Phương nguyên là giáo sư trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị.

Tốt nghiệp Khóa 16 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và Khóa Sĩ Quan Thông Tin Báo Chí tại Hoa Kỳ.
Biên tập viên báo chí đài Phát Thanh Quân Đội.

Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến và Chỉnh Huấn, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.

Định cư tại Mỹ sau bảy năm tù “cải tạo” dưới chế độ Cộng Sản.

Từng cộng tác với đài truyền hình SBTN và Việt Nam Radio.

Bài “Chúc Thư” của Huy Phương: “… Hãy quên tôi người lính già lưu lạc/ Đừng phủ lá cờ tổ quốc cho tôi…” (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Ông viết thường trực cho nhật báo Người Việt ở Nam California và Thời Báo ở Canada.
Ông cũng là biên tập blog cho đài phát thanh VOA.

Ông ra đi, để lại hiền thê là Phan Thị Điệp cùng ba con, Lê Nguyên Phương, trưởng nam; Lê Quý Phương, thứ nữ; và Lê Đông Phương, thứ nữ. Ông cũng để lại ba cháu ngoại. [qd]

—–
Liên lạc tác giả: ngo.giao@nguoi-viet.com

SỰ KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG…

SỰ KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG…

Giống như bất kỳ người mẹ nào, khi Karen biết mình mang thai, cô làm tất cả những gì có thể để giúp đứa con trai 3 tuổi, Michael, chuẩn bị tâm lý chào đón một thành viên mới trong gia đình.

Thành viên mới này là một bé gái. Ngày ngày, Michael hát cho đứa em gái còn trong bụng mẹ nghe. Cậu bé đã xây dựng tình yêu thương đối với em gái mình ngay cả trước khi cô bé ra đời.

Thai kì tiến triển bình thường. Theo thời gian, những cơn đau chuyển dạ đến. Mỗi năm phút, ba phút rồi một phút một lần. Tuy nhiên, biến chứng nghiêm trọng phát sinh, Karen chuyển dạ hàng giờ. Cuối cùng, em gái của Michael chào đời. Nhưng cô bé lại trong tình trạng rất nguy kịch. Tiếng còi hú trong đêm, xe cứu thương vội vàng chở đứa trẻ sơ sinh đến khu chăm sóc trẻ sơ sinh tại bệnh viện St. Mary, Knoxville.

Thời gian trôi dần… Tình trạng của bé trở nên tồi tệ hơn. Các bác sĩ nhi khoa nói với cha mẹ Michael rằng có rất ít hy vọng, hãy chuẩn bị tinh thần cho tình huống xấu nhất…!

Karen và chồng liên lạc với một nghĩa trang địa phương để chuẩn bị cho việc chôn cất. Họ đã chuẩn bị một căn phòng đặc biệt trong nhà cho em bé mới, nhưng giờ phải lên kế hoạch cho một đám tang…!

Tuy nhiên, Michael đã van nài cha mẹ cho cậu vào gặp em gái mình. Cậu bé nói: “Con muốn hát cho em ấy nghe…!”.

Tuần thứ hai trong phòng chăm sóc đặc biệt. Michael tiếp tục nài nỉ để được hát cho em gái mình, nhưng trẻ con không được phép vào phòng chăm sóc đặc biệt.

Karen quyết định đưa Michael vào thăm em mình cho dù bệnh viện có đồng ý hay không. Nếu giờ cậu bé không được nhìn thấy em gái mình, thì có thể sẽ không bao giờ còn cơ hội nữa. Michael mặc bộ quần áo quá khổ và được dẫn đến phòng chăm sóc đặc biệt. Trông cậu bé giống như một giỏ đựng quần áo di động.

Người y tá trưởng nhận ra cậu bé và hét lên: “Đưa nó ra khỏi đây ngay. Trẻ con không được phép vào!”

Bản năng làm mẹ trong Karen trổi dậy và người phụ nữ bình thường hòa nhã nhìn trừng trừng vào mắt người y tá trưởng, với một giọng đanh thép, cô nói: “Cậu bé sẽ không rời khỏi cho đến khi nó hát cho em gái mình nghe…!”

Sau đó, Karen kéo Michael đến bên giường cô bé. Cậu bé nhìn chằm chằm vào đứa em đang yếu dần trong cuộc chiến giành lấy sự sống…! Sau một lúc, cậu bắt đầu cất giọng. Bằng giọng trong veo của một đứa trẻ 3 tuổi, Michael hát:

“You are my sunshine, my only sunshine, you make me happy when skies are gray.” (Bé là ánh nắng, ánh nắng mặt trời duy nhất của anh, bé làm anh hạnh phúc dẫu bầu trời xám xịt.)

Ngay lập tức, cô bé dường như có phản ứng. Mạch bắt đầu trở nên ổn định.

“Tiếp tục đi Michael”, Karen động viên, mắt ngấn lệ.

“You never know, dear, how much I love you, please don’t take my sunshine away.” (Bé con à, em không biết anh thương em thế nào đâu, xin đừng lấy đi ánh nắng mặt trời đi.)

Khi Michael hát, hơi thở rời rạc, yếu ớt của em bé trở nên nhịp nhàng. “Tiếp tục đi, con yêu…!”

“The other night, dear, as I lay sleeping, I dreamed I held you in my arms”. (Bé con ơi, một đêm nọ, khi anh nằm ngủ, anh mơ được ôm em trong vòng tay.)

Em gái của Michael bắt đầu thư giãn như đang ngủ. “Tiếp tục đi, Michael.” Lúc này, nước mắt đầm đìa trên gương mặt của người y tá trưởng hống hách. Karen thì cảm thấy ấm lòng.

“You are my sunshine, my only sunshine. Please don’t take my sunshine away…” (Bé là ánh nắng, ánh nắng mặt trời duy nhất của anh. Xin đừng lấy ánh nắng ấy đi …)

Ngày hôm sau, ngay ngày hôm sau…, một thời gian ngắn tiếp theo…, cô bé đã đủ khỏe để trở về nhà…!

*Thế mới hiểu: “Nơi nào có tình yêu thương chân thành thì nơi đó, luôn có điều kỳ diệu đáp đền…!”*

Trần Hồng Điệp

*Dịch từ truyện ngắn The miracle of love, true story.

From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

Cách đây đúng 64 năm, năm 1957, một vị Bác sĩ đã quyết định không cần cấp bằng sáng chế cho vắc-xin của mình, để tất cả các công ty dược phẩm được quyền sản xuất và cung cấp nó cho trẻ em toàn thế giới.

Đó là vị Bác sĩ Mỹ gốc Do Thái/Ba Lan, sinh ra ở Bialystok – ông Albert Bruce Sabin (1906 – 1993); nhà vi-rút học nổi tiếng với phát minh vắc-xin bại liệt (Polio Vaccine). Ông không cần tiền thưởng cho bằng sáng chế, để vắc-xin được tiếp cận tất cả mọi người bất kể giàu nghèo.

Từ năm 1959-1961, hàng triệu trẻ em khắp thế giới đã được chủng ngừa vắc-xin bại liệt của Sabin, dập tắt dịch bệnh này. Trong khi trước đó, gần như cả 1 thế hệ bị xóa sổ vì bệnh bại liệt.

Ông Sabin nói: “Nhiều người khuyên tôi nhất định phải lấy bằng sáng chế cho vắc-xin nhưng tôi không muốn. Đây là món quà tôi dành cho tất cả trẻ em trên thế giới”.

Được biết vì là người Do Thái, 2 cháu gái của ông đã bị phát-xít Đức giết hại. Được hỏi liệu ông có muốn trả thù, ông đáp: “Họ đã giết 2 đứa cháu gái tuyệt vời của tôi, nhưng tôi đã cứu hàng triệu đứa trẻ khắp thế giới. Bạn không nghĩ đây là một sự ‘trả thù’ lớn hơn sao?”

Trong thời Chiến tranh lạnh, Sabin đã tặng miễn phí các chủng vi-rút của mình cho nhà khoa học Liên Xô Mikhail Chumakov, cho phép phát triển vắc-xin của ông ở đất nước này.

Ông Sabin tiếp tục sống với mức lương bình thường, nhưng trái tim ông tràn ngập niềm vui vì đã làm được điều tốt đẹp nhất cho nhân loại.

SƯU TẦM

From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

‘Se Sẻ Nguyễn,’ cô sinh viên gốc Việt được học bổng tiến sĩ khi mới 18 tuổi

‘Se Sẻ Nguyễn,’ cô sinh viên gốc Việt được học bổng tiến sĩ khi mới 18 tuổi

February 13, 2022

Trà Nhiên/Người Việt

AVON, Connecticut (NV) – Học nhảy lớp năm bậc tiểu học, học trung học năm 12 tuổi, học đại học lúc vừa tròn 16, và mới nhận học bổng chương trình tiến sĩ khi mới 18 tuổi…đó là câu chuyện của “Se Sẻ Nguyễn,” cô sinh viên gốc Việt đam mê toán số.

Do học “nhảy” lớp nên “Se Sẻ Nguyễn” luôn là học sinh nhỏ tuổi nhất ở các trường em học. (Hình: Se Sẻ Nguyễn cung cấp)

“Se Sẻ Nguyễn” tên thật là Nguyễn Nam Huyên, sinh ra ở Việt Nam, theo cha mẹ qua Nhật năm 2 tuổi khi hai người hoàn thành chương trình cao học.

Sau đó, cô bé nhỏ, lúc đó 4 tuổi, theo cha mình qua Mỹ khi ông nhận được học bổng tiến sĩ tài chánh.

Em kể rằng từng sống ở tiểu bang Rhode Island và New Jersey, trước khi chuyển về Connecticut, nơi em tốt nghiệp thủ khoa trường trung học Avon High School, và được học bổng toàn phần bốn năm tại đại học University of Connecticut.

“Se Sẻ Nguyễn” đang chuẩn bị hoàn tất chương trình đại học chỉ trong ba năm với hai ngành chính là Kinh Tế và Xác Suất Thống Kê, với ngành phụ là Toán. Em cũng giữ điểm học GPA xuất sắc 4.0.

Khi hỏi về cái tên vừa độc, vừa lạ của mình, cô gái trẻ nhanh nhảu: “Em nghe kể rằng ông ngoại chơi với em lúc còn nhỏ và ông chỉ em con chim se sẻ, lúc nghe tên là em cứ cười suốt thôi.”

Và từ đó, “Se Sẻ Nguyễn” chính thức là tên tiếng Anh của cô bé đa tài này.

Cô nữ sinh 18 tuổi vừa được thông báo nhận học bổng toàn phần chương trình Tiến Sĩ Tài Chánh của đại học Rochester University. (Hình: Se Sẻ Nguyễn cung cấp)

“Luôn cố gắng hết mình”

Mới đây, cô nữ sinh cũng vừa nhận được thư mời nhập học chương trình Tiến Sĩ Tài Chánh của đại học Rochester University, New York, ngôi trường nổi tiếng về nghiên cứu, đứng hạng 34 trong danh mục trường đại học tốt nhất toàn quốc.

“Em rất vui khi nhận được thư mời của Rochester University. Đây như một món quà cho kỳ sinh nhật sắp tới,” Se Sẻ hào hứng cho hay.

“Sau cuộc phỏng vấn với trường, em có nói chuyện với giáo sư tài chính của chương trình tiến sĩ và rất thích cách giảng dạy và môi trường học ở Rochester University. Em chắc 99% là sẽ học ở đây nhưng em cũng còn phải hoàn thành vài cuộc phỏng vấn của các trường khác nữa,” Se Sẻ cho biết.

Được biết, em cũng hoàn tất phỏng vấn của các đại học danh giá khác như Massachusetts Institute of Technology (MIT), đại học Boston College, và đang trong danh sách chờ của đại học UC Berkeley.

Thêm vào đó, em cũng tham gia nghiên cứu ở Cơ Quan Bảo Hiểm Giao Dịch Ngân Hàng (FDIC), và cũng giành được học bổng tham dự khóa học của Hiệp Hội Kinh Tế Mỹ (AEA) cho khoá học sau đại học chuẩn bị cho chương trình tiến sĩ sau này.

Không chỉ chăm chỉ việc học ở trường, cô sinh viên còn làm gia sư để kiếm thêm thu nhập. Theo chia sẻ của gia đình, cô con gái kiếm được $20,000 qua công việc giảng dạy và các chương trình học bổng trong hai năm qua.

Se Sẻ chia sẻ là cũng từng chịu áp lực khi luôn là người nhỏ nhất ở trường.

“Có lúc em hơi tự ti, không biết là mình có đủ giỏi để học chung với mấy anh chị hay không,” Se Sẻ nhớ lại.

Nở một nụ cười tươi, Se Sẻ tiếp: “Đúng là thời gian đó có những lúc khó khăn và nhiều thử thách, nhưng em luôn quan niệm chỉ cần ‘cố gắng hết mình’ thì mọi chuyện sẽ tốt hơn.”

Tuy tất bật với chuyện học nhưng Se Sẻ vẫn luôn dành thời gian cho niềm đam mê trượt tuyết. (Hình: Se Sẻ Nguyễn cung cấp)

Chỉ cần có đam mê thì mọi chuyện đều có thể

Tất bật với việc học và làm thêm là thế, nhưng Se Sẻ cũng tích cực tham gia các hoạt động ngoại khoá như thổi kèn oboe và chơi quần vợt.

“Lúc ở  trung học thì em là đội trưởng đội tuyển quần vợt của trường và hay đi thi đấu. Từ khi học đại học, em tham gia câu lạc bộ quần vợt và thi với các trường đại học khác,” nữ sinh viên nói.

Se Sẻ cho hay có nhiều lúc cảm thấy rất “stress,” nhưng em luôn tập trung làm xong việc quan trọng trước, từng bước từng bước một.

Se Sẻ tiếp: “Điều quan trọng là sắp xếp thời gian một cách hợp lý và cân bằng mọi thứ để tránh bị quá sức.”

Là sinh viên nhỏ tuổi nhất ở trường đại học, và còn bận rộn dạy thêm, nhưng không có nghĩa cuộc sống học đường của cô bé này kém thú vị.

Những lúc rảnh rỗi, Se Sẻ sẽ vui thú với đam mê trượt tuyết.

“Em thích trượt tuyết lắm, và hầu như là trượt mỗi tuần những tháng mùa Đông,” Se Sẻ phấn khởi kể.

Ngoài ra, Se Sẻ cũng xem nhiều chương trình thể thao, và còn thích đan và móc áo.

Cô gái trẻ cũng chia sẻ chính gia đình là niềm khích lệ to lớn trong việc học và đam mê của mình.

“Em thường nói chuyện và đi chơi với gia đình. Họ luôn ở bên em và hỗ trợ em rất nhiều. Đặc biệt em trai là người bạn thân nhất của em,” Se Sẻ vui vẻ nói.

Cha em hiện là giáo sư Tài Chính, trưởng khoa Tài Chính Kế Toán của đại học Westfield University, Massachusetts. Còn mẹ là giáo viên trung học Avon High School.

Nối tiếp truyền thống gia đình, tương lai Se Sẻ cũng muốn trở thành giáo sư đại học để hỗ trợ các sinh viên trong lĩnh vực tài chính và để nghiên cứu những câu hỏi chưa được giải đáp.

Em cũng khuyên các bạn học sinh, sinh viên đang hoang mang với nghành học rằng điều quan trọng là học và làm việc mình đam mê.

“Chúng ta phải biết điều mình muốn là gì, khi đó chúng ta mới không mông lung mà tự tin theo đuổi nó,” em bộc bạch.

“Se Sẻ Nguyễn” (thứ ba từ trái) cùng những người bạn cùng đi chơi và trượt tuyệt để giải tỏa căng thẳng. (Hình: Se Sẻ Nguyễn cung cấp)

Em cũng cho biết thêm rằng mới đầu muốn trở thành bác sĩ nên học Y Khoa năm đầu đại học. Dần dần nhận thấy mình có đam mê và thích hợp với tài chính hơn nên em mạnh dạn thay đổi.

Theo Se Sẻ, nếu muốn hạnh phúc thì nên theo đuổi đam mê, làm điều mà mình thích và thoải mái chứ đừng nghe theo sự áp đặt của người khác vì hạnh phúc bản thân là trên hết.

“Nếu chúng ta có ý chí và đam mê thì chuyện gì cũng có thể làm được,” Se Sẻ Nguyễn chia sẻ. [đ.d.]

Liên lạc tác giả: nguyen.nhien@nguoi-viet.com

Phát giác thi thể 1 phụ nữ Ý ngồi chết trên ghế từ hơn 2 năm

Phát giác thi thể 1 phụ nữ Ý ngồi chết trên ghế từ hơn 2 năm

February 10, 2022

COMO, Ý (NV) – Nhà chức trách xác nhận đội cứu hỏa thành phố Como, Ý, tuần qua tìm thấy thi thể một người phụ nữ 70 tuổi, trong tư thế đang ngồi trên ghế tại nhà riêng gần Lake Como, phía Bắc nước Ý.

Theo bản tin của đài truyền hình SkyTg24, trong hệ thống CNN, hôm Thứ Hai, 7 Tháng Hai, thì kết quả giảo nghiệm cho thấy bà có thể đã chết vào năm 2019. Người phụ nữ này tên Marinella Beretta, bà sống một mình trong nhà.

Nhà dọc theo bờ hồ Lake Como, Ý. (Hình minh họa: Brigitte Hagemann/AFP via Getty Images)

Đội cứu hỏa phát hiện thi thể của bà sau khi nhiều người phàn nàn rằng một cái cây trong vườn nhà bà Beretta bị đổ và cây cối mọc um tùm.

Sau khi thông báo cho gia đình, vẫn chưa có người thân nào đến nhận thi thể. Cảnh sát đang tìm kiếm xem bà Beretta còn bất kỳ người thân nào hay không.

Hiện tại thi thể của bà vẫn giữ tại nhà xác và chưa công bố ngày tổ chức đám tang.

Ông Mario Landriscina, thị trưởng Como, thông báo chính quyền địa phương sẽ lo liệu đám tang bà Beretta và mời dân cư trong khu vực đến tham dự. Ông cho biết bà Beretta không nằm trong danh sách nhận hỗ trợ từ các dịch vụ xã hội ở địa phương.

Trên Facebook, bà Elena Bonetti, bộ trưởng Gia Đình Và Bình Đẳng của Ý, bày tỏ sự tiếc thương về cái chết cô đơn của bà Beretta.

“Tưởng nhớ cuộc đời bà Beretta là trách nhiệm của cộng đồng với mong muốn duy trì sự đoàn kết. Chăm sóc lẫn nhau là việc làm của gia đình, của các tổ chức và của mỗi công dân. Để không một ai phải chịu cảnh cô đơn,” bà chia sẻ. (V.Giang)

Cộng đồng gốc Việt tại Mỹ: Tổn thương và sa sút trí nhớ sau chiến tranh VN (BBC)

Cộng đồng gốc Việt tại Mỹ: Tổn thương và sa sút trí nhớ sau chiến tranh VN

  • Huyền Trân
  • BBC News Tiếng Việt

8 tháng 2 2022

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Thuyền nhân Việt Nam chờ được giải cứu vào năm 1978

Lần đầu tiên có một nghiên cứu về mối liên hệ giữa chấn thương từ chiến tranh Việt Nam với sa sút trí tuệ (dementia) trong cộng đồng người Việt đến Mỹ sau 1975. Đây là cộng đồng gốc Á đông thứ 4 tại Mỹ hiện nay với hơn 2 triệu người.

Phó Giáo sư Oanh Meyer, chuyên ngành Thần kinh học từ Đại học California-Davis, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, từng trực tiếp chứng kiến căn bệnh sa sút trí tuệ (dementia) và triệu chứng bị ảo tưởng (paranoia) này xảy ra với mẹ – bà Anh Lê, hơn 70 tuổi – một người tới Mỹ vào năm 1975.

“Mẹ tôi nói rằng bà rất lo lắng khi thấy những người lính Việt Cộng đứng bên ngoài cửa sổ, luôn cảm thấy sợ hãi khi cho rằng những người lính này đang muốn làm hại gia đình mình.” Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC.

Đôi khi bà Anh Lê nói con phải nghỉ học vì trường học bị ném bom và mọi người phải trốn dưới gầm bàn.

NGUỒN HÌNH ẢNH,OANH MEYER

Chụp lại hình ảnh,

Phó Giáo sư Oanh Meyer (trái) và mẹ mình, bà Anh Lê

Từ trải nghiệm của bản thân và được biết đến nhiều trường hợp khác cũng mắc chứng bệnh giống bà Anh Lê, từ năm 2013, Phó Giáo sư Oanh Meyer bắt đầu phỏng vấn những người chăm sóc các bệnh nhân người Mỹ gốc Việt bị sa sút trí tuệ để có chương trình giúp họ hồi phục.

Cô đã luôn nghe được những câu chuyện về tổn thương sau chiến tranh Việt Nam trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

‘Quá khứ ám ảnh’

Một trong những người mà Phó Giáo sư Oanh Meyer phỏng vấn là bà Quyên Vương, 57 tuổi, Giám đốc Điều hành International Children Assistance Network (ICAN) hiện đang sinh sống tại San Jose, Mỹ.

Bà Quyên Vương rời Việt Nam đến Mỹ vào năm 1981 bằng con đường vượt biên. Khi đó, bà chỉ mới 16 tuổi, ra đi cùng em nhỏ mới 11 tuổi.

Cho đến tận hôm nay, bà Quyên cho biết khoảng thời gian sống 4 tháng ở một trại tị nạn trên đảo Pulau Bidong (Malaysia) vẫn in sâu trong tâm trí.

“Dù ở trong trại tị nạn có 4 tháng nhưng tôi thật sự hiểu cảm giác của một đứa trẻ mồ côi. Mỗi ngày Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc phát một bịch thực phẩm có chút gạo, khô, muối đủ ăn. Ở trại tị nạn, ai có tiền thì mua cá hay rau cải của người dân địa phương trên đảo. Đói thì không đói nhưng buồn thì rất buồn”, bà Quyên nói với BBC News Tiếng Việt.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Trẻ em tị nạn Việt Nam trên đảo Pulau Bidong (Malaysia)

Bà Quyên cho biết khi mới qua Mỹ, bà từng có ý định nghỉ học để đi làm giúp gia đình có tiền trả tiền nhà.

“Sau khi qua Mỹ thì gia đình tôi rất nghèo, bị thiếu tiền trả tiền nhà, cả một sự khủng hoảng, khác với trước năm 1975 khi gia đình cũng đủ ăn.”

Bà cho biết stress, nặng nề, căng thẳng vào thời điểm mới đến Mỹ “đến từ mọi hướng” và “vô cùng mệt mỏi” như đi làm 30 giờ một tuần lúc học trung học.

“Cũng may lúc đó mình còn trẻ, sức chịu đựng còn dai thì mình dễ quên. Như mỗi tuần đến nhà bạn ăn phở, bún bò rồi mình cũng quên. Thế nhưng trong độ tuổi ngũ tuần, tôi thấy bắt đầu thấm mệt và có dấu hiệu quên.”

“Khi qua Mỹ thì nhu cầu phải sống còn quá mạnh cho nên mình gạt qua mọi sự bầm dập. Cho đến bây giờ khi mình lớn tuổi rồi thì mới thấm mệt và những stress, mental health [sức khỏe tâm thần] mới xuất hiện”, bà Quyên nói.

‘Tổn thương phổ biến’

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Những người tị nạn Việt Nam ra đi vào cuối những năm 1970 trên các con tàu gỗ

Theo Phó Giáo sư Oanh Meyer, nhiều người, giống như bà Quyên Vương, đã kể lại việc các thành viên trong gia đình mình bị những tổn thương tâm lý nặng nề từ chiến tranh Việt Nam do chứng kiến người thân hay bạn bè bị mất tích, tàu chở người tị nạn bị hải tặc tấn công hay hãm hiếp.

“Một người đang chăm sóc vợ ở tuổi 80 tại Mỹ kể lại với tôi rằng ông đã bị đi học tập cải tạo và khi đó vợ ông phải ở nhà một mình chăm sóc gia đình. Ông cho rằng vợ mình đã bị sa sút trí tuệ từ những tổn thương khi đó”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC News Tiếng Việt.

“Qua việc nói chuyện với gia đình những người Việt Nam và cả câu chuyện của gia đình mình, thì tôi thấy có sự liên quan giữa rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và tổn thương (trauma) và bệnh sa sút trí tuệ (dementia). Và cho đến nay không có nghiên cứu nào được thực hiện đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC

“Cụ thể là chưa có nghiên cứu nào chỉ ra mối liên hệ những áp lực (stress), những tổn thương tâm lý thời trẻ có liên quan đến bệnh sa sút trí tuệ (dementia) ở tuổi già hay không? Cách căn bệnh này xuất hiện ở cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Tôi muốn nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng đó.”

NGUỒN HÌNH ẢNH,OANH MEYER

Chụp lại hình ảnh,

Nghiên cứu của Phó Giáo sư Oanh Meyer được thực hiện trên những người Mỹ gốc Việt từ 65 tuổi trở lên

Bắt đầu từ năm 2021, nghiên cứu của Phó Giáo sư Oanh Meyer đã nhận được khoản tiền tài trợ trị giá 7,2 triệu đôla Mỹ cho thời hạn 5 năm từ Viện Quốc gia về Lão hóa Hoa Kỳ (National Institute on Aging) để nghiên cứu nhóm người lớn tuổi ở San Jose, Sacramento và Santa Clara, thông qua phỏng vấn.

Đối tượng nghiên cứu là những người từ 65 tuổi trở lên là người Việt hoặc người Mỹ gốc Việt, sống tại Bắc California, nói tiếng Việt hoặc tiếng Anh, nhập cư từ Việt Nam.

“Hy vọng trong tương lai chúng ta có thể nhìn vào những thay đổi và dịch chuyển trong mô hình dân cư và thấy bệnh sa sút trí tuệ cũng thay đổi theo thời gian”, theo Phó Giáo sư Oanh Meyer.

Một số yếu tố khiến người Mỹ gốc Việt có nguy cơ mắc suy giảm nhận thức (cognitive impairment) cao được cho bao gồm chiến tranh và di cư, khủng hoảng tâm lý, khó khăn thời niên thiếu, trầm cảm, huyết áp cao, và bệnh tiểu đường.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Người tị nạn Việt Nam trên đường từ Nhật Bản sang Mỹ vào năm 1975

“Cộng đồng người Mỹ gốc Việt có những điểm khác biệt so với các cộng đồng người tị nạn khác tại Mỹ. Nếu chúng ta hiểu được các nhân tố ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần thì sẽ có những chương trình can thiệp sớm giúp giảm nguy cơ bệnh sa sút trí tuệ (dementia) hay mất trí nhớ (memory loss) đặc biệt đối với cộng đồng người tị nạn hay nhập cư” Phó Giáo sư Oanh Meyer cho biết.

Hiện nay nhóm nghiên cứu vẫn đang trong quá trình thu thập dữ liệu và số người cần được phỏng vấn là hơn 500 người Mỹ gốc Việt trong vòng 2 năm tới.

Phó Giáo sư Oanh Meyer cho biết vào năm 2018 đã có một nghiên cứu về mối liên hệ giữa rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và bệnh sa sút trí tuệ của Giáo sư Rachel Whitmer từ Đại học California-Davis thực hiện đối với các thành viên hệ thống chăm sóc y tế. Và một kết quả quan trọng thu được đó là người lớn tuổi bị PTSD có nguy cơ bị sa sút trí tuệ cao hơn 70% với người không bị PTSD.

Nhiều người Việt Nam cho rằng sa sút trí tuệ (dementia) là một phần bình thường của quá trình lão hóa, nhưng đây là suy nghĩ sai.

“Sa sút trí tuệ (dementia) không phải là một phần bình thường của quá trình lão hóa (ageing). Ví dụ bạn có thể quên để quên chìa khóa nhưng nếu không biết chìa khóa dùng để làm gì là dấu hiệu bất thường”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói thêm.

Sau khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vào năm 1975, khoảng 800.000 người Việt Nam vượt biên bằng đường biển trên những con tàu đủ mọi kích cỡ, trong đó thậm chí có tàu gỗ thô sơ, và sống hàng tháng hay hàng năm tại những trại tị nạn ở Philippines, Malaysia…trước khi sang Mỹ hay nước khác. Họ được gọi là ‘thuyền nhân Việt Nam’.

Trong một bài viết của BBC News năm 2019, Hanh Trần, một thuyền nhân kể lại đã chen chúc cùng 86 người khác trên một con tàu dài 11 mét vào năm 1979 và gặp những tên hải tặc Thái Lan, bị tàu quân sự của Malaysia bắn và hải quân Singapore xua đuổi, gặp bão trước khi may mắn đến được một hòn đảo trên một con tàu rách nát.

“Chúng tôi rất sợ Cộng sản. Nếu nói gì sai thì sẽ bị mời lên đồn công an và không bao giờ trở về”, Hanh Trần hiện đang sống tại Anh nói với BBC năm 2019.