Những việc đang ‘hot’ mà không cần tốt nghiệp đại học 4 năm

Những việc đang ‘hot’ mà không cần tốt nghiệp đại học 4 năm

Nguoi-viet.com

TEXAS (Houston Chronicle) – Một cuộc khảo sát vào năm 2011 của trường đại học Georgetown University cho hay, số học sinh sau khi tốt nghiệp trung học thì có khoảng 84% tiếp tục học lên và tốt nghiệp đại học 4 năm.

Dental hygienist là một trong những nghề hot nhất mà không yêu cầu
bằng đại học 4 năm. (Ảnh: John Moore/ Getty Images)

Tuy nhiên, có những công việc cũng được trả lương khá cao mà không cần phải có bằng cấp đại học 4 năm.

Dựa vào số liệu từ Ủy Ban Lao Động Hoa Kỳ, trang mạng “CareerCast” đã đưa ra danh sách những công việc không đòi hỏi bằng đại học.

Có những công việc chỉ yêu cầu tốt nghiệp trung học; một số khác yêu cầu tham gia các khóa huấn luyện cụ thể, hay tốt nghiệp từ những trường đại học cộng đồng.

Các công việc này bao gồm các nghề:

1. Dental Hygienist (Nha tá): $70,210/năm.
2. Registered Nurse (Y tá): $65,470/năm.
3. Web Developer (Phát triển website): $62,500/năm.
4. Multimedia Artist (Mỹ thuật truyền thông): $61,370/năm.
5. Respiratory Therapist (Chuyên viên hô hấp): $55,870/năm.
6. Electrician (Thợ điện): $49,840/năm.
7. Computer Service Technician (Kỹ thuật viên máy tính): $48,900/năm.
8. Paralegal Assistant (Phụ tá tư vấn pháp lý): $46,900/năm.
9. Appliance Repairer (Nhân viên sửa chữa thiết bị): $ 43,460/năm.
10. Carpenter (Thợ mộc): $ 39,940/năm.
11. Administrative Assistant (phụ tá hành chính): $35,330/năm.
12. Bookeeper (Nhân viên giữ sổ sách): $35,170/năm.
13. Medical Records Technician (Nhân viên lưu giữ hồ sơ y tế): $34,160/năm.
14. Personal Trainer (Huấn luyện viên): $31,720/năm.
15. Skincare Specialist (Chuyên viên chăm sóc da): $28,640/năm. (N.A)

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi bị cấm xuất cảnh, tịch thu hộ chiếu

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi bị cấm xuất cảnh, tịch thu hộ chiếu

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) .- Giáo sư Nguyễn Huệ Chi cùng vợ và con gái chuẩn bị đáp máy bay đi Hoa Kỳ thì bị giữ lại tại phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn, hộ chiếu bị an ninh tịch thu.

Các ông Nguyễn Huệ Chi (trái), Nguyễn Văn Khải (giữa) và Nguyên Ngọc (phải) cùng hàng trăm người biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội ngày 14/8/2011. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Nhà văn, nhà giáo, nhà biên khảo văn học Nguyễn Huệ Chi và bà vợ cùng con gái chuẩn bị sang Hoa Kỳ thăm thân nhân từ phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn đêm Thứ Hai 18/5/2015. Tuy nhiên ông đã bị nhân viên an ninh phi cảng giữ lại, thu giữ hộ chiếu trong khi bà vợ và con gái ông vẫn tiếp tục lên đường.

“Nhân dịp con gái về Việt Nam dự hội thảo 100 năm ngày sinh của ông nội (Nguyễn Đổng Chi) tổ chức ở Sài Gòn, cháu mua vé máy bay cho vợ chồng tôi qua chơi với gia đình cháu ở Boston ba tháng. Tuy nhiên, an ninh phi trường đã thu giữ hộ chiếu của tôi không cho đi”. Ông Nguyễn Huệ Chi nói với báo Người Việt qua điện thoại.

Ông cho hay tiếp rằng “Tôi nói với vợ con là ai đi được bình thường thì cứ đi, còn tôi người ta không cho đi thì đành ở lại.”

Ông Nguyễn Huệ Chi từng thăm gia đình con gái hiện sống ở thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, cũng như ra nước ngoài nhiều lần trước đây dù ông từng biểu tình chống Trung Quốc, ký tên chống khai thác bauxite hay kêu gọi bỏ điều 4 hiến pháp dành độc quyền cai trị cho đảng CSVN.

Khi ông hỏi lý do tại sao ông bị chận lại và hộ chiếu bị tước đoạt thì được an ninh Tân Sơn Nhất trả lời là “Lệnh cấm xuất cảnh từ Hà Nội. Ông có thắc mắc khiếu nại gì thì ra Hà Nội. An ninh sân bay Tân Sơn Nhất chỉ thi hành lệnh.”

Ông nói ông “không hiểu rõ lý do tại sao lần này lại bị cấm nhưng có cảm tưởng là mới đây tôi có cùng một số người khác rút tên ra khỏi Hội nhà văn Việt Nam”.

Bình luận về vụ việc, ông Nguyễn Huệ Chi nói “Tôi có cảm tưởng bất thường về một đất nước là thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ mà nhân quyền lại không tôn trọng”.

Ông Nguyễn Huệ Chi, 77 tuổi, là là một chuyên viên hán nôm nổi tiếng tại Việt Nam. Trước khi nghỉ hưu, ông nguyên là trưởng phòng Văn học Việt Nam cổ cận đại của Viện Văn học, nguyên chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện Văn học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Ông đã công bố nhiều công trình nghiên cứu về văn học và lịch sử Việt Nam được ca ngợi về giá trị.

Mới tuần trước, ông đã cùng với gần hai chục nhà văn ra bản tuyên bố “từ bỏ Hội nhà văn Việt Nam”, một tổ chức ngoại vi của đảng CSVN. Một trong những nguyên nhân được nêu ra là “tình trạng suy thoái của Hội đã trở nên không thể cứu vãn nếu không có sự thay đổi nhiều điều căn bản trong điều lệ và tổ chức của Hội để Hội thực sự là một tổ chức nghề nghiệp tập hợp những người viết muốn xây dựng một nền văn học Việt Nam đích thực, tự do, nhân bản”.

Năm 2009, cùng với nhà văn Phạm Toàn và Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, ông khởi xướng trang thông tin điện tử Bô xít Việt Nam, “tiếng nói phản biện nhiều mặt của người trí thức” về vấn đề khai thác quặng bauxite và những vấn đề xã hội có liên quan ở Việt Nam. Một bản kiến nghị kêu gọi nhà cầm quyền CSVN dừng kế hoạch khai thác bauxite vì lợi bất cập hại được hàng chục ngàn người tham gia ký tên. Trang mạng Bauxite Việt Nam lôi cuốn hàng triệu người đọc cả trong và ngoài Việt Nam.

Theo trang diện tử Bauxite Vietnam loan báo ngày 5/9/2013, ông Nguyễn Huệ Chi đã rút khỏi vị trí quản trị trực tiếp trang này sau 4 năm làm chủ biên tập, nhóm sáng lập đã mời GS Phạm Xuân Yêm đứng ra đảm nhiệm trang này.

Ông từng tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc bá quyền bành trướng tại Hà Nội nhiều lần trước đây. Ông cũng cùng nhiều người khác tham gia ký tên kêu gọi bỏ điều 4 hiến pháp dành độc quyền cai trị cho đảng CSVN.

Nhà cầm quyền thường có thói quen cấm xuất cảnh tất cả những công dân nào tham gia vận động dân chủ hóa đất nước, đòi hỏi tự do ngôn luận cũng như bầy tỏ lòng yêu nước qua các cuộc biểu tình chống Trung Quốc.

Nhà báo Phạm Chí Dũng, luật sư Nguyễn Văn Đài, blogger Nguyễn Hoàng Vi, blogger Mẹ Nấm cùng rất nhiều người khác đã bị cấm xuất cảnh khi chuẩn bị lên máy bay. Những ai may mắn “lọt lưới” kiểm soát của công an, khi về đến phi trường đều bị giữ lại thẩm vấn về chuyến đi.

Theo Blogger Nguyễn Tường Thụy viết trên facebook hôm Thứ Hai, blogger “Mai Xuân Dũng từ Singapore về đến sân bay Nội Bài lúc 16 giờ ngày 18/5/2015 thì bị bắt giữ tại công an cửa khẩu. Nhiều anh em từ Hà Nội lên hỗ trợ tinh thần cho anh Dũng và đòi người. Tuy nhiên, một số anh chị em đã bị côn đồ đánh. Bọn này hành hung anh chị em rất ngang nhiên, ngay trước mặt công an, đủ để hiểu rằng, bọn này do công an huy động.” (TN)

Xem thêm:

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi bị cấm xuất cảnh (RFA)

Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

ĐÁNH TRỘM – ĐÒN TRẢ THÙ HÈN HẠ, BẨN THỈU CỦA KẺ KHÔNG CÓ CHÍNH NGHĨA.

ĐÁNH TRỘM – ĐÒN TRẢ THÙ HÈN HẠ, BẨN THỈU CỦA KẺ KHÔNG CÓ CHÍNH NGHĨA.

NGUYỄN TƯỜNG THỤY

clip_image001

Vụ Nguyễn Chí Tuyến bị đánh trọng thương hôm 11/5/2015 đã dấy lên làn sóng phẫn nộ trong dư luận. Sau khi anh bị đánh, thông tin lập tức được chia sẻ lên mạng Internet. Nhiều bài viết, nhiều bài phỏng vấn của những tờ báo có uy tín cho đến hôm nay vẫn liên tục đưa tin và bày tỏ thái độ về vụ việc này.

Sự kiện chấn động tới mức ngay hôm sau, ông Felix Tham tán ĐSQ Đức đã sang tận nhà Tuyến bên Ngọc Thụy quận Long Biên để thăm, còn trước cả nhiều bạn bè anh ở Hà Nội. Ngày 14/5, bà Janet Nguyễn, Thượng nghị sĩ tiểu bang California viết thư yêu cầu Tòa Đại sứ Mỹ và Human Rights Watch điều tra làm rõ vụ việc này. Ngày 15/5, bà Jennifer đại diện Đại sứ quán Mỹ và bà Rose McConnell đại diện Đại sứ quán Úc đã đến thăm Nguyễn Chí Tuyến.

Sự việc Nguyễn Chí Tuyến bị đánh đã làm cho sự phẫn nộ bấy lâu nay bật lên thành cao trào phản đối khủng bố những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, những người yêu cây xanh Hà Nội, yêu biển đảo của Tổ quốc, yêu công bằng, lẽ phải.

Trước Nguyễn Chí Tuyến, ngày 22/4/2015, Trịnh Anh Tuấn cũng bị 3 tên đón đường đánh lần thứ 2 (lần thứ nhất vào ngày 20/3/2014 sau khi anh tham gia buổi thảo luận của Mạng lưới blogger VN về).

Có thể kể thêm rất nhiều nhà hoạt động bị đánh trộm trong thời gian 2 năm gần đây:

Ngày 22/3/2014, anh Trương Văn Dũng bị đánh tại gần cây xăng Nam Đồng, Hà Nội. Anh còn bị đánh ngày 26/8/2014 tại Cao Lãnh khi đang đón xe về Sài Gòn.

Ngày 24/2/2014, anh Nguyễn Bắc Truyền bị đánh trên đường tới Đại sứ quán Úc.

Ngày 25/5/2014, cô Trần Thị Nga bị đánh tại thị trấn Văn Điển khi vừa ở nhà blogger Nguyễn Tường Thụy ra về.

Ngày 8/9/2014, anh Trương Minh Đức bị đánh tại Khâm Thiên Hà Nội khi anh đang trên đường tới phố Nguyễn Đình Chiểu

Ngày 29/10/2014, anh Phạm Bá Hải bị đánh tại Đức Trọng, Lâm Đồng khi đến thăm anh Dương Âu.

Ngày 9/12/2014, Nguyễn Hoàng Vi bị đánh khi vừa ra khỏi nhà. Đây là lần thứ 3 Nguyễn Hoàng Vi bị đánh. và còn nhiều vụ đánh trộm khác.

clip_image003

Trần Thị Nga bị đánh ngày 25/5/2014

Những ví dụ trên đây chỉ nêu các trường hợp bị mai phục đón đánh ngoài đường, chưa tính đến các vụ bị đánh trong đồn công an. Chẳng hạn anh Trương Văn Dũng bị đánh tất cả 7 lần, trong đó 5 lần bị đánh trong đồn công an, còn 2 lần bị đánh ngoài đường như đã kê ở trên.

Việc những thành phần bất hảo được huy động đến để đánh các nhà hoạt động ngay trước mặt công an nhưng không bao giờ bắt được hoặc tìm ra danh tính vì có công an đứng cạnh bảo kê cũng coi như đánh trộm. Ví dụ trường hợp Lê Quốc Quyết, Mai Phương Thảo bị đánh tại ngã ba Pháp Vân (Hà Nội) ngày 22/4/2014, hay vụ Nguyễn Tường Thụy bị 6, 7 tên xông vào đánh ngay bên kia đường, trước mặt cả công an huyện Thanh Trì và công an xã Vĩnh Quỳnh, đối diện nhà ở vào ngày 10/5/2010.

Theo Tổ chức Bảo vệ Nhân quyền Human Rights Watch, chỉ riêng trong năm 2014, ít nhất 22 blogger và nhà hoạt động nhân quyền bị những người mặc thường phục tấn công.

Ai là thủ phạm? Thủ phạm nói ở đây là trước hết là những kẻ tổ chức, sau đó là những kẻ thực hiện. Nhiều người bị đánh nhận được mặt kẻ đánh trộm là những kẻ thường xuyên rình rập, canh nhà họ từ lâu nay. Có những trường hợp kẻ đánh vừa đánh vừa xưng “Tao là công an đây” như trong vụ đánh Trần Thị Nga, Phạm Bá Hải. Ngày 10/5/2010, chúng cũng vừa đánh tôi vừa xưng: “Tao là công an đây”. Có những trường hợp người bị đánh chụp được ảnh kẻ hành hung, như cô Trần Thị Nga chụp được ảnh kẻ đánh cô, hoặc trong vụ 10/5/2010, tôi cũng chụp được ảnh bọn chúng cung cấp cho công an, chỉ rõ chúng là người nhà của kẻ đang thuê nhà số 44.

Phải nói, việc điều tra ra thủ phạm hoàn toàn không khó. Thế nhưng nạn nhân đi trình báo, tố cáo, tất cả đều không được giải quyết. Đây là sự bao che, đồng lõa với thủ phạm. Thường là khi làm việc với công an, nạn nhân hay được hỏi câu: “Anh có thù oán với ai không?”, kể cả với những người từ SG ra Hà Nội, làm như thể họ bị đánh chỉ vì mâu thuẫn cá nhân.

Xét đối tượng bị đánh có thể khẳng định được thế lực nào tổ chức các vụ hành hung nói trên. Họ là những người hoạt động dân chủ, nhân quyền, các hoạt động xã hội khác như bảo vệ biển đảo, bảo vệ cây xanh. Những người này là đối tượng thường xuyên bị theo dõi, gây khó khăn trong cuộc sống.

Phân tích như thế để xác định kẻ nào tổ chức các vụ đánh trộm nói trên. Ví dụ, việc Nguyễn Chí Tuyến và Trịnh Anh Tuấn bị đánh cách nhau 20 ngày là hai vụ gần đây nhất nên có thể hiểu kẻ chỉ đạo đánh hai anh là những kẻ có lợi ích từ vụ chặt hạ bừa bãi cây xanh ở Hà Nội. Trước đó, trong các hoạt động bảo vệ cây xanh, Nguyễn Chí Tuyến là người hưởng ứng, cổ vũ hăng hái nhất cho hoạt động này. Còn Trịnh Anh Tuấn với nick facebook Gió Lang Thang là admin của nhóm “Vì một Hà Nội xanh”. Việc đi bộ tuần hành bảo vệ cây xanh Hà Nội diễn ra được 5 buổi thì bị công an Hà Nội đàn áp thẳng tay.

Mỗi khi những nhà hoạt động bị đón đường đánh, tất cả các ý kiến đều cho là công an hoặc chính quyền tổ chức và điều này hầu như không có ai nghi ngờ. Ngay sau khi bị đánh, Nguyễn Chí Tuyến đã khẳng định: “Trách nhiệm này hoàn toàn thuộc về ông Đại tá Hùng – Trưởng công an Long Biên”.

Tại sao lại gọi là đánh trộm? Đánh trộm là đánh giấu mặt, rình khi người ta sơ hở không phòng bị, lao vào đánh rồi bỏ chạy. Chúng thường dùng số đông hơn, huy động từ 3 đến 6, 7 để đánh một người.

Xét về bản chất, đánh trộm khác hẳn với những cuộc so sức, so tài. Những cuộc so sức so tài đều diễn ra công khai sòng phẳng, một đấu một và có luật chơi rõ ràng, có trọng tài. Chẳng hạn môn quyền Anh, các võ sĩ cùng hạng cân đấu với nhau chứ hạng nặng không được đấu với hạng nhẹ. Võ sĩ phải dùng găng và không được đánh dưới thắt lưng để đảm bảo tính mạng cho đối thủ. Khi đã phân biệt thắng thua, họ có thể là những người bạn và đều phấn đấu rèn luyện để đạt được thành tích cao hơn. Đấy là sự cao thượng của tinh thần thể thao.

So sánh như thế để thấy rõ sự hèn hạ của việc đánh trộm.

Tại sao lại đánh trộm những người hoạt động phản biện?

Tôi dùng cụm từ “hoạt động phản biện” để chỉ những người có hoạt động phản đối những sai trái của chính quyền để phân biệt với những người hoạt động xã hội nói chung.

Những kẻ đánh trộm tự biết không thể so sức, so tài, so chính nghĩa một cách công khai nên phải đánh lén và dùng số đông để chắc thắng và dễ bề tẩu thoát. Những người hoạt động phản biện hoạt động công khai trong khuôn khổ của pháp luật. Tuy vậy, việc làm của họ đã gây nên sự khó chịu, làm ảnh hưởng đến quyền lợi bất chính của một nhóm lợi ích nào đó. Vì họ hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật nên không thể hơi tí vu cho họ tội danh khác để bắt bỏ tù vì số này rất đông không thể bỏ tù hết được. Vì vậy, các nhóm lợi ích thường dùng thủ đoạn như đánh dằn mặt, vừa đe nạn nhân, vừa cảnh báo những kẻ khác. Khi không có chính nghĩa, chúng đành phải dùng cách thức của xã hội đen để bảo vệ quyền lợi của chúng.

Nhưng chúng đã nhầm.

Đánh trộm nhằm vào những người hoạt động phản biện không bao giờ làm cho chúng đạt được mục đích. Vụ đánh Nguyễn Chí Tuyến đã tạo nên làn sóng phẫn nộ của công luận, của báo giới và chính giới các quốc gia dân chủ. Những người hoạt động phản biện đồng loạt lên tiếng ủng hộ, bảo vệ anh, tiếp tục sát cánh cùng anh trên con đường đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền. Rất nhiều người dùng hình ảnh anh để làm avatar để bày tỏ sự ủng hộ. Blogger Điếu Cày và nhiều facebooker khác mang dòng chữ “Tôi là Nguyễn Chí Tuyến” để nhắc nhở những người vô cảm rằng, hôm nay là Nguyễn Chí Tuyến, ngày mai có thể sẽ là bạn. Chỉ có báo chí Nhà nước thì không bao giờ đưa tin những vụ việc này, mặc dù báo của họ nhan nhản những tin cướp, hiếp, giết, đánh ghen, những tin về đời tư của ca sĩ, người mẫu, hoa hậu…

clip_image004

Hôm nay là Nguyễn Chí Tuyến, ngày mai có thể sẽ là bạn

Sau khi Nguyễn Chí Tuyến bị đánh, Nhóm “Vì một Hà Nội xanh” ra tuyên bố, khẳng định: “Chúng tôi không sợ hãi và sẽ không lùi bước trong cuộc đấu tranh vì lợi ích chung – bảo vệ môi trường, bảo vệ cây xanh Hà Nội, thúc đẩy chính quyền minh bạch và có trách nhiệm giải trình”.

Việc khủng bố, đánh trộm những nhà hoạt động có thể làm cho họ đau đớn về thể xác, làm tổn hại đến sức khỏe của họ, có thể làm cho kẻ khủng bố hả hê phần nào sự căm tức nhưng sự thiệt hại vô hình của chúng là vô cùng lớn. Đó là tự bôi thêm sự nhơ nhuốc, xấu xa, bất lực, phi nghĩa, của mình. Đó là làm đông thêm số người chống lại chúng. Tiếc thay, với đầu óc dốt nát, vô học, mù quáng bởi những lợi ích nhỏ nhen, chúng không dễ dàng nhận ra.

Tàn ác, hèn hạ, bỉ ổi, đê tiện… , ngôn từ Việt Nam không bao giờ đủ để diễn đạt về chúng – quân đánh trộm.

16/5/2015

N.T.T.

Người Việt tiêu thụ hàng tỷ lít bia mỗi năm

Người Việt tiêu thụ hàng tỷ lít bia mỗi năm

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-05-17

05172015-up-to-1bili-lter-in-5y.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Các bích chương quảng cáo bia tại Hà Nội

Các bích chương quảng cáo bia tại Hà Nội

AFP

Sản lượng bia của Việt Nam sẽ tăng trên 1 tỷ 300 triệu lít nữa trong vòng 5 năm tới, chưa kể khoảng 350 triệu lít rượu cuốc lủi  sản xuất hàng năm.

Số liệu từ buổi tọa đàm của Hiệp Hội Bia Rượu về qui hoạch và công tác quản lý ngành bia Việt Nam, diễn ra hôm thứ Năm, cho thấy Việt Nam có trên 120 cơ sở sản xuất và trên 1.700 cơ sở sản xuất nước giải khát.

Ngoài ra, mỗi năm Việt Nam sản xuất trên 350 triệu lít rượu cuốc lủi.

Ông Dương Đình Giám, viện trưởng Viện Chiến Lược Chính Sách Công Nghiệp, Bộ Công Thương, giải thích là rượu do các doanh nghiệp sản xuất chỉ chừng g 100 triệu lít mỗi năm, nhưng nếu tính thêm lượng rượu do dân tự sản xuất không qua đăng ký thì trên thực tế lên tới 350 triệu lít mỗi năm.

Do mức sống tăng lên, gây ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất và tiêu dùng, ông nói, khuynh hướng tiêu thụ bia cũng thay đổi, thí dụ bia hơi giảm trong lúc bia chai tăng cao và bia lon thì tăng mạnh nhất.

Từ năm 2014, báo chí trong nước từng đưa tin Việt Nam xếp hạng 8 về thu nhập trong số 11 quốc gia Đông Nam Á nhưng lại đứng đấu bảng về tiêu thụ bia.

Mặt khác, trên bảng xếp hạng toàn cầu, Việt Nam nằm trong danh sách 25 quốc gia uống bia nhiều nhất thế giới, đứng thứ 3 toàn Châu Á chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản. Tính trung bình một người Việt Nam uống 32 lít bia mỗi năm.

Ông Nam, một nhà kinh doanh có cửa hàng phân phối bia ở ngoài Trung:

Bia Việt Nam so với những bia khác thì không thể ngon hơn được, rồi là có nhiều doanh nghiệp cá nhân làm giả chen vào nữa. Còn người Việt Nam cứ sa vào uống bia , khi đá bóng rồi Tết nhất rồi các cơ quan đoàn thể liên hoan hàng chục người. Rồi thanh niên bây giờ lam lũ khắp nơi mọi chốn đi làm thuê vậy, nhưng đến Chủ Nhật hoặc đến khi lãnh lương cũng kéo nhau uống bia, bữa này một người mời thì bữa kia người khác mời, một người có thể uống một thùng chứ không phải ít.

” Coi như họ lường trước sự việc số dân uống bia nhiều lên, tuổi trẻ uống bia nhiều lên, họ đoán trước và họ nhìn ra góc độ là bia có khả năng sẽ được tiêu thụ rất lớn ở Việt Nam như thế

Ông Nam”

Năm 2020: tăng trên 1 tỷ 300 triệu lít nữa

Chính vì thế, ông Nam nói tiếp, có nhiều khả năng sản lượng bia sẽ tăng thêm 1 tỷ 300 triệu lít trong vòng năm năm tới như dự kiến:

Coi như họ lường trước sự việc số dân uống bia nhiều lên, tuổi trẻ uống bia nhiều lên, họ đoán trước và họ nhìn ra góc độ là bia có khả năng sẽ được tiêu thụ rất lớn ở Việt Nam như thế.

Tuy nhiên, theo ông Thắng, chủ nhân một của hàng ăn uống và giải khát ở Hà Nội, sản lượng rươu bia trong vòng 5 năm tới có thể cao hơn mức tăng dự kiến 1 tỷ 300 triệu lít:

Số lượng rượu mà người ta thống kê được phần lớn là có thể tính được qua các đơn vị đo đếm chính xác, chẳng hạn như qua hải quan đối với rượu nhập khẩu, qua lượng bia rượu do nhà nước sản xuất. Tức là cái số lượng 1 tỷ 300 triệu lít bia là tính theo sản lượng bia sản xuất ra từ các nhà máy có thể đong đếm được, chẳng hạn nhà máy ở các trung tâm như bia Sài Gòn hay bia Hà Nội này, và các công ty bia của các tỉnh, cộng với lại các công ty bia được sản xuất có đóng mác, có đăng ký ở địa phương.

Có một phần rất lớn nữa là rượu do người dân nấu và tự sản tự tiêu, cái rượu này thì không được tính trong cái đong đếm đo lường của nhà nước.. Ngoài ra còn có một loạt những quán bia như ở Hà Nội hay Sài Gòn người ta tự nấu gọi là bia tươi cấp cho khách tại chỗ thì lương bia này cũng ít khi được tính, trong khi thực khách uống rất nhiều.

Không những thế, cung cách uống rượi uống bia giữa người ngoài Bắc với người trong Nam cũng khác nhau, thành thử số lượng bia tiêu thụ mỗi nơi cũng khác nhau:

Ở Hà Nội người ta ít sử dụng bia, người ta sử dụng rượu nhiều hơn, số lần tụ tập người nó cũng ít hơn.Quán bia ở Hà Nội mặc dù có nhiều nhưng qui mô không lớn, số lượng người uống bia, số lượng bia được uống cũng ít hơn.

Còn nếu có dịp vào miền Tây Nam Bộ hay vào Sài Gòn thì có những vùng mặc dù rất nghèo khổ thế nhưng quán bia quán rượu thì rất hoành tráng và số lượng người uống hàng ngày cực lớn. Thường khi mà hai ba người đến thì người ta mang ra một két tức là 24 chai. Khi uống thế này người ta thách nhau, có thể uống từ trưa đến chiều, từ chiều đến đêm.

” Cái hữu ích của một công ty bia rất là lớn cho cái ngân sách của một địa phương nhỏ. Thành ra người ta chú trọng phát triển ngành bia rượu và các loại nước giải khát

Ông Thắng”

Cũng tại buổi tọa đàm của Hiệp Hội Bia Rượu về qui hoạch và công tác quản lý ngành bia Việt Nam, viện trưởng Viện Chiến Lược và Chính Sách Công Nghiệp, Bộ Công Thương, ông Dương Đình Giám, cho biết theo qui hoạch đến năm 2025 và tầm nhìn 2030 mà ông được giao biên soạn, mục tiêu của Việt Nam là trong 5 năm tới (đến 2020), tổng sản lượng sản xuất và tiêu thụ bia của Việt Nam sẽ đạt 4 tỷ 500 triệu lít, tăng 1 tỷ 300 triệu lít so với hiện giờ, rượu sẽ đạt khoảng 350 triệu lít, nước giải khát đạt 8 tỷ 800 triệu lít. .

Với câu hỏi là có vẻ như Việt Nam chú trọng khá nhiều đến ngành sản xuất bia rượu bất chấp sự tác hại của nó lên sức khỏe con người, ông Thắng cho rằng đó là phấn đấu của ngành rượu bia và nước giải khát.

Nhà nước Việt Nam đánh thuế cao đối với ngành sản xuất bia rượu, mang về một khoản thu rất lớn. Đơn cử trường hợp nhà máy Kim Bài sản xuất bia ở Thanh Oai, Hà Tây, mà nay đã sát nhập vào Hà Nội, ông Thắng giải thích:

Lúc đóng thuế công nghiệp thì một mình nhà máy bia này đóng thuế bằng hơn môt nửa đối với toàn bộ thuế nông nghiệp của huyện mang lại. Có nghĩa là cái hữu ích của một công ty bia rất là lớn cho cái ngân sách của một địa phương nhỏ. Thành ra người ta chú trọng phát triển ngành bia rượu và các loại nước giải khát.

Tưởng cần biết năm 2014 Chính phủ Việt Nam bắt đầu áp dụng Chính sách Quốc gia về phòng chống tác hại bia, rượu. Thế nhưng tổng kết cuối năm 2014 cho thấy mức tiêu thụ chỉ riêng về bia là 3,14 tỷ lít tức đã tăng 8,1% so với 2013.

Như vậy việc tăng các sắc thuế liên quan đến sản xuất và tiêu thụ bia, cũng như chính sách phòng chống tác hại bia rượu liệu có thay đổi được chút nào về điều gọi là văn hóa bia rượu của Việt Nam thì câu trả lời vẫn còn ở phía trước.

Đức Giáo Hoàng phong hiển thánh cho 4 nữ chân phước

Đức Giáo Hoàng phong hiển thánh cho 4 nữ chân phước

Ðức giáo hoàng Phanxicô vừa làm lễ phong thánh cho các nữ chân phước tại Vatican, ngày 17/5/2015.

Ðức giáo hoàng Phanxicô vừa làm lễ phong thánh cho các nữ chân phước tại Vatican, ngày 17/5/2015.

17.05.2015

Bốn nữ chân phước, trong đó có hai người Palestine, vừa được tôn phong hiển thánh của Giáo hội Công giáo La mã.

Ðức giáo hoàng Phanxicô vừa làm lễ tôn phong hiển thánh cho các nữ chân phước này hôm nay, Chủ nhật, ở Vatican.

Hai nữ chân phước Mariam Bawardy và Marie Alphonsine Ghattas ở nơi mà hồi thế kỷ thứ 19 là nước Palestine.

Lễ tôn phong hiển thánh  cho hai nữ tu này được xem như là một sự kích lệ cho người Công giáo trên khắp Trung Ðông đang đối diện với làn sóng bức hại của các phần tử cực đoan Hồi giáo. Đây là những vị thánh đầu tiên trên Đất Thánh kể từ những năm đầu đời của Kitô giáo.

Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas tham dự thánh lễ tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Một nữ chân phước người Pháp và một nữ chân phước Italia cũng được tôn phong hiển thánh hôm Chủ nhật. Cả hai nữ thánh này là người sáng lập ra các tổ chức giáo dục cho người nghèo.

Khánh thành tượng đài Hồ Chí Minh mới

Khánh thành tượng đài Hồ Chí Minh mới

Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được chính quyền dựng nhiều nơi ở Việt Nam

Một bức tượng của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa được khánh thành tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hôm Chủ nhật ngày 17/5 nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh của ông.

Bức tượng theo dáng đứng, khắc họa ông Hồ Chí Minh đang đứng vẫy tay, được đặt tại vị trí trước Ủy ban Nhân dân Thành phố – tức đoạn đầu đường Nguyễn Huệ vừa được cải tạo thành phố đi bộ Nguyễn Huệ.

‘Giáo dục giới trẻ tin Đảng’

Bức tượng này có chiều cao 7,2 mét tính từ bệ tượng và thay vào chỗ bức tượng ngồi trước đó cũng khắc họa Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu nhi, theo truyền thông trong nước. Riêng bức tượng có chiều cao 4,5 mét và được làm bằng hợp kim đồng.

Báo chí trong nước không hề cho biết chi phí để làm bức tượng mới này là bao nhiêu. Trong khi đó, bức tượng cũ đã được chuyển vào khuôn viên Nhà Văn hóa Thiếu nhi.

Tượng đài này được thực hiện sau khi đã trải qua sự thẩm định kỹ lưỡng của Bộ Chính trị và Ban bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam.

” Thật ra việc dựng tượng danh nhân là điều nên làm, nhưng đối với một nhân vật gây tranh cãi với các thông tin đều bị bóp méo (như ông Hồ Chí Minh) thì không nên.

Nguyễn Tiến Trung, nhà hoạt động dân chủ”

“Tượng Bác phải thật sự đẹp, sinh động, tự nhiên, tư thế vững chắc, khỏe khoắn… phản ánh được thần thái ung dung, phúc hậu, nhân từ và tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam,” – đây là yêu cầu của Ban bí thư đối với bức tượng này được Thông tấn xã Việt Nam dẫn lại.

“Đối với miền Nam, đối với Sài Gòn, Bác Hồ luôn có tình cảm yêu thương đặc biệt sâu nặng,” Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được dẫn lời phát biểu tại buổi lễ khánh thành bức tượng.

Ông Trọng mong rằng bức tượng này sẽ ‘góp phần giáo dục truyền thống đối với các thế hệ trẻ, qua đó hun đúc lòng yêu nước, thương dân, tin Đảng’.

‘Nhân vật gây tranh cãi’

Nhà thơ Đỗ Trung Quân, một người dân ở Thành phố Hồ Chí Minh và là người mới tuyên bố ra khỏi Hội Nhà văn Việt Nam do chính quyền kiểm soát, nói với BBC rằng trong buổi sáng khánh thành tượng đài ông thấy ‘an ninh xuất hiện trước cửa’ nhà ông.

Bình luận về việc dựng tượng này, anh Nguyễn Tiến Trung, một cựu tù chính trị, nói với BBC: “Thật ra việc dựng tượng danh nhân là điều nên làm, nhưng đối với một nhân vật gây tranh cãi với các thông tin đều bị bóp méo (như ông Hồ Chí Minh) thì không nên.”

“Sau này nếu các thông tin được bạch hóa thì có thể sẽ xảy ra chuyện không hay với bức tượng đó,” anh nói.

Theo anh Trung thì dựng tượng ông Hồ Chí Minh hay phát động phong trào học tập và làm theo tấm gương của ông ‘không giải quyết các vấn nạn của xã hội hiện nay’ vì ‘tham nhũng vẫn tràn lan và đạo đức xã hội vẫn suy đồi’.

“Vấn đề là các lãnh đạo hiện nay có làm tấm gương hay không,” anh nói.

Năm 2014, cảnh sát Nhật bắt 2.488 vụ người Việt ăn trộm

Năm 2014, cảnh sát Nhật bắt 2.488 vụ người Việt ăn trộm

Một Thế Giới –

nguoi Viet Nam an trom o Nhat

Một biển cảnh báo ăn trộm tại siêu thị Nhật có ghi tiếng Việt

Tháng trước, Cơ quan cảnh sát Nhật Bản đã công bố tình hình bắt giữ tội phạm nước ngoài trong năm 2014. Tổng cộng có 15.215 trường hợp và trong đó các vụ liên quan đến người Việt Nam là 2.488 vụ, tăng  61,6% so với năm 2013, tính ra trung bình mỗi ngày xảy ra 8 vụ ăn trộm dính đến người VN.

Tổng số người nước ngoài tại Nhật bị bắt là 10.689 người tăng 8,1% so với năm ngoái. Đặc biệt, trong đó có 1.548 người Việt Nam tăng 38,5% so với năm ngoái, chỉ sau Trung Quốc về số người phạm tội tại Nhật.

Các vụ bắt giữ có liên quan đến Việt Nam, chiếm 16,4% tổng số các trường hợp các vụ do người nước ngoài vi phạm luật pháp tại Nhật, và chiếm 14,5% tổng số người bị cơ quan an ninh Nhật bắt giữ.

Trong số các vụ án hình sự, thì người Việt đứng đầu về cả số vụ lẫn số người các tội cướp giật, ăn cắp. Đặc biệt tăng là các vụ ăn cắp. Số người Việt ăn cắp bị bắt giữ là 1.745 trong tổng số 6.716 người nước ngoài bị bắt.

Trong các trường hợp ăn cắp do người Việt Nam thực hiện thì số vụ ăn cắp ở cửa hàng, siêu thị đặc biệt cao với 1.437 vụ. Trang Viet-jo ghi nhận trong 10 năm qua, các vụ người Việt ăn cắp trong cửa hàng chiếm tỉ lệ lớn.

Trong số người Việt Nam phạm tội, tỷ lệ người đi du học chiếm 54.2%, người sang Nhật học nghề chiếm 12.9%.  Đặc biệt tội phạm có visa du học tăng 1,8 lần.

Phần nhiều các vụ ăn cắp tại các của hàng siêu thị lớn đều được thực hiện có tổ chức. Tính tổ chức thể hiện ở chỗ có phân công rõ ràng kẻ canh chừng, kẻ ăn cắp, kẻ chuyển đồ. Sau đó có đường dây chuyên mua đồ ăn cắp, rồi tuồn về Việt Nam.

Anh Tú (theo Viet-jo.com)

ĐTC: Xin phép, cám ơn và xin lỗi là ba từ giúp chúng ta duy trì cuộc sống hạnh phúc gia đình

ĐTC: Xin phép, cám ơn và xin lỗi là ba từ giúp chúng ta duy trì cuộc sống hạnh phúc gia đình

Linh Tiến Khải

Xin phép, cám ơn và xin lỗi là ba từ giúp chúng ta bước vào trong tình yêu của gia đình, duy trì cuộc sống hạnh phúc và bình an trong gia đình và trong xã hội, vì chúng giúp tránh các rạn nứt có thể trở thành các hố sâu ngăn cách. Vì thế đừng bao giờ kết thúc ngày sống trong gia đình mà không làm hòa với nhau.

ĐTC Phanxicô đã nói như trên với hơn 50.000 tín hữu và du khách hành hương trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư hàng tuần hôm 13-5-2015.

Trong bài huấn dụ ĐTC đã khai triển đề tài Gia đình và ba lời nói viết trên cửa: Xin phép, cám ơn và xin lỗi. ĐTC nói:

Bài giáo lý hôm nay giống như cửa vào của một loạt các suy tư về cuộc sống gia đình, cuộc sống thực tế của nó với các thời điểm và các biến cố. Trên cánh cửa này có viết ba từ: “Có đuợc phép không?”, “cám ơn”, “xin lỗi”. Thật thế các từ này mở ra con đường giúp sống hạnh phúc trong gia đình. …

Chúng là các từ đơn sơ, nhưng thực thi chúng thì lại không đơn sơ như thế! Chúng gói ghém một sức mạnh lớn: sức mạnh gìn giữ gia đình cả qua hàng ngàn khó khăn và thử thách; trái lại việc thiếu chúng, từ từ mở ra các nứt rạn có thể làm cho nó sụp đổ.

Chúng ta thưòng coi các từ đó như các từ của “nền giáo dục tốt”. Đúng nền giáo dục tốt quan trọng. Một Giám Mục lớn là thánh Phanxicô de Sales, thường nói: “nền giáo dục tốt là một nửa sự thánh thiện”. Tuy nhiên hãy chú ý trong lịch sử chúng ta cũng nhận ra một khuynh hướng hình thức của các cung cách hành xử có thể trở thành mặt nạ che dấu sự khô cằn của tâm hồn và sự thờ ơ đối với tha nhân. Người ta thường nói: ”Đàng sau các cung cách tốt ẩn dấu các thói quen xấu”. Cả tôn giáo cũng không thoát khỏi nguy cơ này, khiến cho việc tuân giữ hình thức rơi vào tinh thần thế tục. Ma qủy cám dỗ Chúa Giêsu đưa ra các cung cách tốt và trích dẫn cả Thánh Kinh nữa. Xem ra nó là một thần học gia. Kiểu của nó bề ngoài đúng đắn, nhưng ý hưóng của nó là nhằm làm sai lệch sự thật của tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta trái lại hiểu nền giáo dục tốt trong các phạm trù đích thực, nơi kiểu của các tương quan tốt đâm rễ sâu trong tình yêu sự thiện và trong sự tôn trọng tha nhân. Gia đình sống nhờ sự tinh tế ấy của tình yêu thương nhau.

Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC khai triển từng từ một. Trước hết là “xin phép” hay hỏi “Có được phép không?” Khi chúng ta lo lắng xin một cách lễ phép, cả khi chúng ta nghĩ rẳng có thể yêu sách, là chúng ta đặt một sự bảo vệ đích thật cho tinh thần sống chung trong hôn nhân và gia đình. Bước vào trong cuộc sống của người khác, cả khi nó là một phần cuộc sống của chúng ta, đòi hỏi sự tế nhị của một thái độ không xâm lăng, canh tân lòng tin tưởng và sự kính trọng. Chuyện riêng không cho phép coi mọi sự là tự nhiên. Và tình yêu càng thân tình và sâu xa bao nhiêu lại càng đòi hỏi việc tôn trọng sự tự do và khả năng chờ đợi người khác mở cửa tâm lòng họ bấy nhiêu. Liên quan tới điểm này chúng ta hãy nhớ lời Chúa Giêsu nói trong sách Khải Huyền: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3, 20). Cả Chúa cũng xin phép để vào! Chúng ta đừng quên điều đó.

Từ thứ hai là “cám ơn”. Vài lần người ta nghĩ rằng chúng ta đang trở thành một nền văn minh của các cung cách hành xử xấu và các lời nói xấu, làm như thể chúng là dấu chỉ của sự thoát ly. Nhiều lần chúng ta cũng nghe nói công khai như thế. Sự tử tế và khả năng cám ơn được xem như một dấu chỉ của sự yếu đuối, có khi lại dấy lên ngờ vực. Phải chống lại khuynh hướng này ngay rong gia đình. Chúng ta phải đòi hỏi đối với việc giáo dục sống biết ơn, nhớ ơn: phẩm giá con người và công bằng xã hội đều đi qua đó. Nếu cuộc sống gia đình lơ là lối sống này, cả cuộc sống xã hội cũng sẽ mất nó. Thế rồi, đối với một tín hữu lòng biết ơn là trung tâm của đức tin: một kitô hữu không biết cám ơn là một người đã quên đi tiếng nói của Thiên Chúa. Chúng ta hãy nhớ câu Chúa Giêsu hỏi khi chữa mười người phong cùi và thấy chỉ có một người trong bọn họ trở lại cám ơn (x. Lc 17,18).

Lời thứ ba là « xin lỗi ». Đây là lời khó nói, chắn chắn rồi nhưng cần thiết. Khi thiếu nó, các nứt rạn nhỏ trở thành lớn hơn – cả khi không muốn – cho tới khi trở thành các hố sâu. Không phải vô tình trong lời kinh Lậy Cha Chúa Giêsu dậy chúng ta tìm thấy kiểu nói này: « Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con » (Mt 6,12). Thừa nhận dã thiếu sót và ước ao trả lại những gì đã bị lấy mất – tôn trọng, chân thành, yêu thương – khiến đáng được tha thứ. Và như thế là chúng ta ngăn chặn nhiễm trùng. …

Nếu chúng ta không có khả năng xin lỗi, thì có nghĩa là chúng ta cũng không có khả năng tha thứ. Trong gia đình nơi người ta không xin lỗi thì bắt đầu thiếu dưỡng khí, nước tù đọng. Biết bao nhiêu vết thương đối với lòng yêu mến, biết bao nhiêu xâu xé trong các gia đình bắt đầu với sự mất đi lời nói qúy báu này « Xin lỗi ». Trong cuộc sống hôn nhân người ta cãi nhau biết bao nhiêu lần… có khi điã chén bay nữa, nhưng tôi xin cho anh chị em một lời khuyên: đừng bao giờ kết thúc ngày sống mà không làm hòa với nhau. Và để làm điều đó thì chỉ cần một cử chỉ bé nhỏ, một cái vuốt ve…

Ba lời chìa khóa này của gia đình là những lời đơn sơ và có lẽ ban đầu chúng khiên cho chúng ta cười. Nhưng khi chúng ta quên chúng, thì không có gì để mà cười, có đúng thế không ? Có lẽ nên giáo dục của chúng ta bỏ bê chúng quá. Xin Chúa giúp chúng ta đặt để chúng trở lại vào đúng chỗ, trong con tim chúng ta, trong nhà chúng ta và trong cả cuộc sống chung xã hội nữa.

ĐTC dã chào các đoàn hành hương đến từ các nưóc Bắc Mỹ và Âu châu, cũng như các đoàn hành hương đến từ Đài Loan, Camerun, Mêhicô, Honduras, Argentina, Brasil. Ngài đặc biệt chào các thành viên Hội Tương trợ truyền giáo quốc tế Pháp hoạt động trong lãnh vực y tế và cổ võ truyên giáo trong các giáo phận và dòng tu.

Chào các đoàn hành hượng nói tiếng Bồ Đào Nha ĐTC nói 13 tháng 5 là lễ Đức Mẹ Fatima. Ngài xin tín hữu gia tăng các cử chỉ hằng ngày tôn sùng Mẹ và noi gương Mẹ và hãy tín thác cho Mẹ mọi sự để trở thành dụng cụ lòng thương xót và hiền dịu của Thiên Chúa đối với các thành phần khác trong gia đình cũng như bạn bè thân hữu. ĐTC mời đức ông người Bồ Đào Nha đọc một kinh Kính Mừng bằng tiếng Bồ kính Đức Mẹ.

Ngài cũng chào các trẻ em Ba Lan mới rước lễ lần đầu và chúc các em càng ngày càng yêu Chúa Giêsu hơn, tín thác nơi Chúa và sống thân tình với Chúa.

Trong các nhóm tiếng Ý ĐTC đặc biệt chào các linh mục sinh viên trường Thánh Phaolô của Bộ Truyền giáo đã xong chương trình học và chuẩn bị về nước làm việc. Ngài khích lệ các vị đừng bao giờ đánh mất đi lòng hăng say truyền giáo.

Chào giới trẻ người đau yếu và các đôi tân hôn ĐTC khuyên mọi người vun trồng lòng tôn sùng Mẹ Maria, siêng năng lần hạt mỗi ngày và cảm thấy Mẹ luôn gần gũi đặc biệt trong những lúc khó khăn.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lậy Cha và phép lành tòa thánh ĐTC ban cho mọi nguời.

Chủ tịch nước VN phê phán cán bộ ‘đất, đôla’

Chủ tịch nước VN phê phán cán bộ ‘đất, đôla’

Đảng Cộng sản nói chỉ bầu vào Trung ương những người trong sạch

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang kêu gọi loại bỏ những đảng viên chỉ biết “đất và đôla”.

Tiếp xúc với cử tri quận 1 (TP. HCM) sáng 16/5, ông Sang trả lời câu hỏi của một người dân về những cán bộ “Hai Đê (đất và đôla)”.

Ông Sang nói: “Các cô bác anh chị có nêu một bộ phận cán bộ hư hỏng, cán bộ ‘Hai Đê’, tức là đất và đôla. Câu chuyện này là có thật.”

“Đây là một điều hết sức day dứt, ai cũng bức xúc cả.”

Trước thềm Đại hội Đảng, dự kiến diễn ra đầu năm 2016, ông Sang kêu gọi không bầu cho những người này.

“Anh em hàng ngày có thể đi uống cà phê chung nhưng chuyện quốc sự là quốc sự, chuyện Tổ quốc là Tổ quốc, chuyện của nhân dân là nhân dân, dứt khoát không suy chuyển, đừng vì tình riêng mà lẫn lộn đến nghĩa vụ của Tổ quốc.”

“Nếu làm được như vậy chắc chắn rằng những ông bà ‘Hai Đê’ này phải đưa ra ngoài.”

“Chúng ta phải sàng lọc để Đảng mạnh lên,” ông Sang nhấn mạnh.

Mới đây tại Hội nghị Trung ương 11 của Đảng Cộng sản, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói không cho vào Trung ương khóa sau những người có sai phạm như “kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất”.

CPJ kêu gọi VN ngưng truy tố cựu tổng biên tập báo Người Cao Tuổi

CPJ kêu gọi VN ngưng truy tố cựu tổng biên tập báo Người Cao Tuổi

RFA

CPJ hôm qua ra thông cáo báo chí kêu gọi Việt Nam bỏ các cáo trạng chống lại ông Kim Quốc Hoa

CPJ hôm qua ra thông cáo báo chí kêu gọi Việt Nam bỏ các cáo trạng chống lại ông Kim Quốc Hoa

Screen shot

Uỷ ban Bảo vệ các nhà báo CPJ hôm qua ra thông cáo báo chí kêu gọi Việt Nam bỏ các cáo trạng chống lại ông Kim Quốc Hoa, cựu tổng biên tập báo Người Cao Tuổi. CPJ cũng đề nghị chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho báo chí thể hiện vai trò của họ mà không lo sợ bị trả đũa.

Đại diện cao cấp của CPJ ở Đông Nam Á, ông  Shawn Crispin, cũng cho rằng Việt Nam cần phải sáng suốt hơn trong việc giải quyết tình trạng tham nhũng đã được báo chí ghi nhận rõ ràng, thay vì khởi tố các nhà báo phanh phui những vụ quan chức lạm dụng quyền lực.

Kêu gọi của như vừa nêu của CPJ được đưa ra sau khi Bộ Công An Việt Nam quyết định khởi tố ông Kim Quốc Hoa, cựu tổng biên tập tờ Người Cao Tuổi theo điều 258 Bộ Luật Hinh sự Việt Nam về việc lợi dụng quyền tự do dân chủ nhằm xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Cơ quan an ninh Việt Nam cho rằng ông Kim Quốc Hoa đã duyệt hoặc cho đăng tải 11 bài báo có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Xin nhắc lại là vào ngày 9 tháng 2 năm nay, Báo Người Cao tuổi đã bị điều tra và cùng ngày đó ông Kim Quốc Hoa bị ngưng chức Tổng biên tập để điều tra.

Xây Dựng Xã Hội Từng Mảnh Một (Piecemeal Social Engineering)

Xây Dựng Xã Hội Từng Mảnh Một (Piecemeal Social Engineering)

Tác Giả: Đoàn Thanh Liêm |

Câu chuyện của sư phụ Karl Popper và môn đệ George Soros

Năm 1996, tôi đến định cư tại California, thì được anh bạn Đỗ Quý Toàn tức là nhà báo Ngô Nhân Dụng mách bảo cho biết là : “Anh cần tìm đọc về tư tưởng của Karl Popper là một vị đại sư vốn từng dậy học tại trường Kinh tế Luân Đôn, mà ở Việt nam trước năm 1975 ít người được biết đến, kể cả các giáo sư về môn triết học tại các đại học ở Saigon”. Nghe theo lời khuyên của anh bạn, tôi đã đi tìm cuốn sách nổi danh “ The Open Society and its enemies” xuất bản lần đầu tiên tại Anh quốc năm 1945 của tác giả này. Và sau đó tìm đọc thêm nhiều tài liệu khác liên hệ đến đề tài do giáo sư Popper nêu ra, nhất là về nhà tài chánh khét tiếng George Soros là một môn sinh của sư phụ K Popper. Các tài liệu này đã soi sáng rất nhiều cho tôi trong quá trình nghiên cứu về Xã hội Dân sự trong nhiều năm gần đây. Sau trên 10 năm theo dõi và nghiền ngẫm, tôi xin trình bày một số điều tôi đã học hỏi được từ nơi hai nhân vật nổi danh này.

Để cho bài viết được sáng sủa gọn gàng, tôi xin giới thiêu về thân thế và sự nghiệp của mỗi vị trước (bài 1). Và tiếp theo sẽ thảo luận về chủ trương đường lối của hai nhân vật này (bài 2- 3).

Bài 1 – Karl Popper & George Soros

Thân thế và Sự nghiệp

A / Karl Raimund Popper (1902- 1994)

Karl Popper sinh trưởng tại Vienna thủ đô của Áo quốc. Vào tuổi 30, ông thường sinh hoạt với các nhà tư tưởng theo trường phái Vienna về triết học và xã hội học. Nhưng vào năm 1937, vì bất đồng với chế độ độc tài Đức quốc xã, ông đã phải rời quê hương để sang dậy về môn triết học tại trường Đại học Tân Tây Lan. Và sau đó, khi chiến tranh chấm dứt ông lại qua Anh quốc dậy học tại trường đại học nổi danh thế giới “ London School of Economics “ (LSE) trong một thời gian khá dài trước khi về nghỉ hưu.

Giáo sư là người đương thời với nhiều nhân vật nổi danh trong giới học thuật và tư tưởng của thế giới như Andre Malraux, Jean Paul Sartre, Raymond Aron ở Pháp, Gunnar Myrdal ở Thụy Điển, Friedrick Hayek ở Áo quốc. Và đặc biệt ông sống rất thọ, tới tuổi 92. Các sách của ông viết về triết học, đặc biệt là cuốn “ The Open Society and its enemies” đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi trong học giới. Năm 1982, vào lúc ông bước vào tuổi bát tuần, các học giả đã hợp với nhau để cùng viết chung một cuốn sách nhan đề là : “In pursuit of Truth” do Paul Levinson biên tập gồm những bài tiểu luận về “Triết học của K. Popper (Essays on the Philosophy of K. Popper on the occasion of his 80th Birthday).

Vào năm 1965, vị giáo sư còn được Nữ hoàng Anh quốc phong tước hiệu “Hiệp sĩ nước Anh” (Knight of England), nên người ta thường xưng tụng gọi ông là Sir Karl Raimund Popper. Ông còn được một môn sinh cũng rất nổi danh là nhà tài chánh George Soros vinh danh là sư phụ của mình bằng cách đặt tên cho cơ sở hoạt động xã hội của ông là “Open Society Institute” có trụ sở chính tại New York. Từ ngữ “Open Society” này nhằm ứng dụng chủ trương của K Popper như được trình bày trong cuốn sách thời danh nói trên. Ta sẽ bàn về nội dung cuốn sách này trong một bài tiếp theo.

Nhân tiện, xin liệt kê một số đầu sách quan trọng của giáo sư Karl Popper như dưới đây theo thứ tự thời gian xuất bản :

The Logic of Scientific Discovery (1934), bản dịch tiếng Anh 1959

The Open Society and its enemies (1945)

Utopia and Violence (1947)

On Freedom (1958)

Conjectures and Refutations : The Growth of Scientific Knowledge (1963)

Unended Quest : An Intellectual Autobiography (1976)

In Search of a Better World (1994)

Hình như chưa có mấy cuốn trong số sách trên đây mà đã được dịch sang tiếng Việt.

B/ George Soros (1930)

George Soros sinh trưởng trong một gia đình Do thái tại Budapest thủ phủ của nước Hungary, vào năm 1930. Trong thời kỳ Đức quốc xã xâm chiếm nước Đông Âu này và tiến hành cuộc tàn sát người Do Thái từ năm 1943, thì George thoát nạn vì nhờ được một gia đình người Hung chính hiệu nhận làm con nuôi. Sau chiến tranh, ông tìm cách đào thoát khỏi khu vực do Hồng quân Liên Xô chiếm đóng để sang phương Tây và đến được nước Anh vào năm 1947. Tại đây, George theo học và tốt nghiệp vào năm 1952 ở trường London School of Economics. George rất tâm đắc với chủ trương về “Xã hội Mở” (Open Society) của giáo sư Karl Popper. Và sau này khi đã rất thành công về tài chánh rồi, thì G Soros đã công khai tôn vinh giáo sư Karl Popper là vị sư phụ đáng kính của mình, bằng cách đặt tên cho Quỹ Từ Thiện cũng như cơ sở hoạt động xã hội của mình là “Open Society Foundation” và “Open Society Institute” (OSI).

Theo sự xếp hạng của tạp chí tài chánh Forbes, thì G Soros được coi là người giàu có thứ 80 trên thế giới với tài sản vào khoảng 8.5 tỷ mỹ kim (8,500 triệu). Ông chuyên môn kinh doanh trên thị trường tài chánh và chứng khoán và bằng những thủ thuật mạnh dạn khôn khéo đến độ phiêu lưu liều lĩnh nên có năm ông kiếm được một số lời khổng lồ hàng ngàn triệu dollar. Tính ra ông đã kiếm được đến 11 tỷ dollar (11,000 triệu) trong thời gian có mười mấy năm hoạt động sôi nổi trên thị trường tài chánh. Báo chí đặt cho ông cái danh hiệu “người bẻ gẫy Ngân hàng Anh quốc” (the man who broke the Bank of England) trong Ngày thứ Tư đen tối năm 1992 (Black Wednesday, September 16, 1992). Và riêng trong mỗi một vụ mạo hiểm này thôi, thì Soros đã kiếm được một số lời lên đến 1.1 tỷ dollar!

Hồi năm 1997, nhân cuộc khủng hoảng tài chánh ở Á châu, G Soros bị Thủ tướng Mahathir của Mã lai tố cáo đích danh là một thủ phạm đã gây ra sự việc tồi tệ đó thông qua những vụ “sử dụng tài sản của mình để trừng phạt khối ASEAN vì đã nhận nước Myanmar vào làm thành viên”. Ông Thủ tướng này còn gọi Soros là một người đần độn(moron). Người Thái lan còn gọi Soros là “ tên tội phạm trong cuộc chiến tranh kinh tế, chuyên hút máu người dân (an economic war criminal who sucks the blood from the people).

Nhưng Soros lại rất nổi danh khắp thế giới, đặc biệt là tại nước Nga và cả khu vực Đông Âu, vì đã góp một phần rất quan trọng vào sự phục hồi chế độ dân chủ ở các nước “cựu cộng sản “ này. Cụ thể như ngay từ đầu thập niên 1980, ông đã yểm trợ rất mạnh cho phong trào “Đoàn kết” ở Ba lan, cho Nhóm “Hiến chương 77” ở Tiệp khắc, cho nhà bác học đối lập thời danh ở Liên Xô là Andrei Sakharov v.v…Chi tiết về các hoạt động này rất nhiều, sẽ được trình bày đày đủ hơn trong một bài sau. Mỗi năm quỹ của Soros đã chi ra đến 500 triệu dollar cho các dự án trên khắp thế giới, đặc biệt tại Đông Âu

G Soros lại còn gây sôi nổi trong dư luận vào năm 2004, khi ông bỏ ra một số tiền khá lớn đến trên 15,000,000 dollar để nhằm hạ bệ Tổng Thống George W Bush trong cuộc bàu cử năm đó.

Ngoài ra ông còn viết nhiều bài báo và cả mấy cuốn sách về kinh tế tài chánh trên quy mô toàn cầu. Thật là con người đa tài, đa dạng, nhiều tiền lắm bạc mà cũng thật là đa đoan nữa.

Trong bài tiếp theo, người viết sẽ trình bày chi tiết hơn về chủ trương “Xây dựng xã hội từng mảnh một” về cả hai phương diện lý thuyết và thực hành của cặp sư phụ Karl Popper và môn sinh G eorge Soros này. Xin độc giả đón đọc nhé.

Bài 2 – Luận điểm của Karl Popper

Công trình nghiên cứu về triết học của giáo sư Karl Popper trong suốt cuộc đời lâu dài vừa miệt mài nghiên cứu giảng dậy, vừa bền bỉ biên soạn sáng tác của ông thật là phong phú vĩ đại. Chuyên môn của ông là lãnh vực triết lý của khoa học (philosophy of science). Và ông đã dậy học tại trường Kinh tế Luân Đôn (LSE) suốt 23 năm với chức danh chính thức là vị Giáo sư về môn Luận lý và Phương pháp Khoa học (Professor of Logic and Scientific Method). Việc giới thiệu cho đày đủ công trình triết học đồ sộ đó rõ ràng là vượt ra ngoài khả năng rất hạn hẹp của người viết bài này. Do đó, như trong nhan đề của bài viết, tôi chỉ xin giới hạn việc giới thiệu về cái chủ trương “Xây dựng xã hội từng mảnh một”, mà vị đại sư đã trình bày rất khúc chiết tại nhiều trang rải rác trong cuốn sách thời danh “The Open Society and its enemies” (Xã hội Mở và những kẻ thù của nó) được xuất bản lần đầu tiên năm 1945 tại Anh quốc, rồi sau đó lại được tái bản nhiều lần và phổ biến rộng rãi tại Hoa kỳ, cũng như tại khắp nơi trên thế giới qua các bản dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nữa.

Và trong một bài tiếp theo (bài 3), người viết sẽ trình bày chi tiết hơn về sự ứng dụng chủ trương này, thông qua chương trình hoạt động văn hóa xã hội và từ thiện nhân đạo có tầm vóc toàn cầu của George Soros là một môn đệ kiệt xuất của giáo sư.

1 – Giới thiệu sơ lược về cuốn sách “ Xã hội Mở và những kẻ thù của nó”

Cuốn sách này được nhiều học giả đánh giá là một công trình quan trọng nhất nghiên cứu về môn xã hội học đương đại, một thứ tác phẩm “kinh điển” (a classic). Vị đại sư Bertrand Russell thì ca ngợi tác phẩm như là một bênh đỡ vững mạnh và sâu sắc cho nền Dân chủ (a vigorous and profound defence of Democracy). Quả thật, Popper đã vận dụng triệt để cái vốn kiến thức uyên bác, vững vàng trong lãnh vực triết lý khoa học cuả mình để tìm cho ra được một lối thoát về chính trị xã hội cho thế giới lúc đó đang bị kềm kẹp khốn khổ dưới chế độ độc tài tàn bạo Đức quốc xã. Và rồi qua cuốn sách thời danh này, Popper đã được đánh giá cao là một triết gia về chính trị và xã hội nưã (political and social philosopher).

Sách dài tổng cộng trên 700 trang được phân bố trong 2 tập, với tổng cộng 25 chương, mà 10 chương đầu được dành để phân tích và bác bỏ các luận điểm của đại triết gia Plato là một thứ ‘núi Thái sơn” của nền triết học Tây phương và cả của kho tàng triết học của nhân loại nữa. Còn các chương tiếp theo, thì tác giả dành để phê phán Marx và Hegel. Mặc dầu rất kính phục vị đại sư Plato, Karl Popper vẫn thẳng thừng phê phán quan điểm của triết gia này đến nơi đến chốn, đặc biệt về quan điểm có tính chất “ không tưởng” (utopian social engineering) của Plato trong việc điều hành và lãnh đạo xã hội. Popper rất kiên quyết, triệt để chống lại cái lý luận của Plato khi chủ trương rằng “ quyền lợi cuả nhà nước được đặt trên quyền lợi cuả cá nhân “ và “cần phải dành quyền cai trị cho nhà độc tài sáng suốt, một thứ “vua kiêm triết gia” (philosopher-king).

Dĩ nhiên là Popper cũng nặng nề phê phán chê trách quan điểm của Hegel đặc biệt là thuyết “định mệnh lịch sử” (historical determinism). Nói vắn tắt là : Popper hoàn toàn bác bỏ cái chủ trương “kế hoạch hóa toàn diện” (Total Planning) của Plato và Hegel, Marx, mà thay vào đó bằng chủ trương “Xây dựng Xã hội từng mảnh một” (Piecemeal Social Engineering). Chủ trương này sẽ được bàn thảo phân tích chi tiết rành rọt hơn trong phần sau của bài viết này.

Ta nên chú ý đến thời gian và bối cảnh lúc tác giả viết cuốn sách này. Đó là từ năm 1938 đến 1943, lúc chế độ phát xít Hitler đang chiến thắng ròn rã ở khắp Âu châu, kể cả tại nước Nga. Tình hình bi thảm này trên khắp Âu châu đã khiến cho Popper phải ngày đêm lăn xả vào việc truy tìm tận gốc rễ đã phát sinh ra chế độ độc tài chuyên chế toàn trị. Vì thế mà ông đã “rất nặng lời trong việc phê phán Plato, Hegel” là những bậc thức giả được tác giả coi như chủ xướng cổ võ cho hệ thống “xã hội khép kín” (closed society) do chế độ độc tài gây dựng và duy trì. Vào thời đó, chưa có cuộc chiến tranh lạnh như trong giai đoạn sau này, kể từ khi thế chiến thứ hai chấm dứt. Nên trong cuốn sách này, Popper đã” rất nhẹ tay ” đối với Karl Marx, và cũng lại không hề đả động gì đến chế độ độc tài cộng sản sắt máu cuả Stalin.

Ngày nay vào đầu thế kỷ XXI, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở nước Nga và Đông Âu để nhường chỗ cho một thể chế dân chủ thông thoáng cởi mở hơn, cùng với sự thăng tiến về nhân phẩm và nhân quyền thông qua sự phục hồi và phát triển cuả xã hội dân sự, thì lời kêu gọi “xây dựng một xã hội cởi mở”, mà Popper đã mạnh dạn gióng lên từ 60-70 năm trước, lại càng có tính cách thực tiễn thời sự và được sự hưởng ứng cuả số đông quần chúng cũng như tầng lớp trí thức khắp nơi trên thế giới.

Tóm tắt lại, cuốn sách “The Open Society” cuả Karl Popper đã góp phần gây ra được một nguồn cảm hứng nồng nhiệt, phấn khởi cho công cuộc tìm kiếm một thể chế chính trị xã hội nhân bản, văn minh tiến bộ xứng hợp với điạ vị cao quý cuả con người trong một thế giới đang mỗi ngày càng phát triển mạnh mẽ theo chiều hướng toàn diện và toàn cầu hiện nay vậy.

2 – Thảo luận về vấn đề “ Xây dựng xã hội từng mảnh một”.

Luận điểm cốt lõi của Popper có thể tóm gọn lại như sau : Công việc chính yếu của bất kỳ một xã hội con người nào thì cũng chỉ là phải “giải quyết vấn đề” xảy đến cho xã hội đó (problem solving). Mà phương pháp khoa học có hiệu quả nhất là sử dụng “ giải pháp thử nghiệm” (trial solution). Giải pháp thử nghiệm như vậy đòi hỏi một sự “phê phán, kiểm tra thường xuyên” và tìm cách” loại bỏ những sai lầm” (error elimination). Nhờ quá trình hoạt động nghiêm túc như vậy, mà lần hồi con người tìm ra được giải pháp tối ưu cho các vấn đề nhân sinh (optima solution).

Popper xác định : “Trong thực tế chưa hề có một mô hình mẫu mực nào cho việc “xây dựng xã hội đại quy mô” (large-scale engineering). Đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của những nghệ sĩ, của loại người “không tưởng” (utopian). Mà cũng không hề có một thứ “ lý thuyết định mệnh lịch sử “ nào đã được chứng minh có giá trị chính xác tuyệt đối, như mấy nhà “tiên tri” thường rêu rao…” Lời phát biểu chắc nịch của ông được nhiều người nhắc đến, đó là : “ Thay vì đứng ra như là vị tiên tri, chúng ta phải là người tạo ra số phận cho chính mình” (Instead of posing as prophets, we must become makers of our fate).

Popper đi đến một kết luận dứt khoát là : “Chỉ có một xã hội dân chủ, cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận những phê phán, chỉ trích những sai lầm và có tinh thần phục thiện để mà điều chỉnh sửa chữa những bất cập đó, thì xã hội mới có cơ được lần hồi cải thiện. Ông nêu rõ là không thể có một “mẫu thiết kế” (blueprint) có sẵn cho bất kỳ một quốc gia nào, như các nhà độc tài thường hay áp đặt bắt buộc thần dân trong nước phải răm rắp tuân theo, mà không hề được nêu lên ý kiến phê phán thế này, thế nọ. Ông còn nói rõ hơn : Vì chúng ta không có cách nào đem lại hạnh phúc tối đa cho người dân được ( maximize happiness), nên chúng ta chỉ còn có mỗi một cách là “giảm đến mức tối thiểu sự đau khổ của quần chúng” (minimize suffering). Phương thức “ Xây dựng Xã hội từng mảnh một” chính là giải pháp tối ưu mà chúng ta có thể thực hiện được, hầu giải quyết thỏa đáng cho những vấn đề mỗi ngày một thêm phức tạp khó khăn của xã hội ngày nay vậy.

Chủ trương “Piecemeal Social Engineering “ này làm chúng ta nhớ đến quan điểm của kinh tế gia E F Schumacher trong cuốn sách nổi danh “Small is Beautiful” xuất bản hồi thập niên 1970, cũng bắt đầu tại nước Anh. Người viết đã có dịp giới thiệu tư tưởng của Schumacher từ hồi đầu năm 2009 vừa qua. Rõ ràng là quan điểm của triết gia Karl Popper có nhiều điểm tương đồng với chủ trương của kinh tế gia Fritz Schumacher, dù hai người theo đuổi hai lãnh vực hoàn toàn khác nhau, với phương pháp lý luận cũng khác nhau.

Ta hãy nghe thêm lời biện giải chi tiết hơn của Popper : “ Phương pháp “từng mảnh một cho phép ta thực hiện liên tiếp nhiều thực nghiệm và những điều chỉnh liên tục (repeated experiments and continuous adjustments). Điều này có nghĩa là ta đem phương pháp khoa học vào trong lãnh vực chính trị, bởi vì toàn thể bí quyết của phương pháp khoa học thì chính là sự sẵn sàng học hỏi được từ những sai lầm” (a readiness to learn from mistakes).Thí dụ cụ thể như mô hình của từng định chế như bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp hay tòa án hòa giải, cải cách giáo dục, cải tổ thuế khóa… thì cũng đơn giản thôi. Nếu những cái đó có sai sót, thì sự thiệt hại gây ra cũng chẳng có gì trầm trọng lắm, mà việc điều chỉnh sửa sai lại cũng sẽ chẳng quá khó khăn. Bởi lẽ những thử nghiệm “từng mảnh một” như vậy, thì không làm đảo lộn tòan thể trật tự của tất cả xã hội, như trong một thứ “cách mạng đai quy mô và triệt để” mà nhà lãnh đạo độc tài chuyên chế thường gây ra.

Có thể nói lập trường” công kích chống lại độc tài chuyên chế toàn trị” (anti-totalitarian thrust) như thế của Popper rất ăn khớp với tư tưởng của các tác giả nổi danh đương thời sau thế chiến thứ hai, điển hình như Friedrick Hayek với tác phẩm “The Road to Serfdom” (Con đường dẫn tới Nô lệ), như Ludwig von Mises với tác phẩm “ Omnipotent Government “ (Chính quyền Vạn năng). Trào lưu tư tưởng này đã ngăn cản, kềm bớt chủ trương của trường phái phát sinh từ vị đại sư John Maynard Keynes cũng của nước Anh, vốn cổ võ sự can thiệp mạnh mẽ quá trớn của chánh quyền trong việc điều hành nền kinh tế tại các quốc gia vốn đã có truyền thống dân chủ vững chắc lâu năm như ở Âu Mỹ.

Trước tình trạng sôi động, cuồng tín quá khích về tôn giáo ngày nay tại nhiều nơi trên thế giới, cũng như chủ trương hạn chế quyền tự do và tiếng nói của các cá nhân do chính quyền Tổng thống George W Bush theo đuổi gần đây ngay tại chính nước Mỹ, thì chủ trương kêu gọi “liên tục cải thiện xã hội từng mảnh một”, do Karl Popper khởi xướng từ trên 60 năm nay, càng có tác dụng thúc đảy mọi công dân trong khu vực xã hội dân sự phải tích cực năng động và sáng tạo hơn nữa, để tự cứu lấy mình và cứu vãn toàn thể xã hội đang có nguy cơ khủng hoảng suy thoái rất ư là trầm trọng hiện nay vậy./

Bài 3 – George Soros và công cuộc Xây dựng Xã hội Mở Toàn cầu

(The Global Open Society)

Năm 2010 này George Soros đã bước vào tuổi 80. Ông quả là một con người ngoại hạng, đa tài, đa năng, lại nhiều tiền lắm bạc, mà lại cũng rất ư là đa đoan năng nổ. Đã có rất nhiều sách báo viết về ông, khen ngợi ca tụng cũng có, mà chê bai chỉ trích cũng nhiều. Ngay cái chuyện làm ăn kinh doanh kiếm tiền của ông trên thị trường tài chánh và chứng khoán với món tiền kếch xù thu nhập được đến cả hàng chục ngàn triệu dollar qua mấy chục năm kinh doanh của ông, thì đã là đề tài cho báo chí và công luận khắp thế giới bàn tán từ bao nhiêu năm tháng nay rồi. Ông lại còn xông xáo tham gia vào bao nhiêu chuyện chính trị, ngoại giao này nọ, mặc dầu không hề giữ một chức vụ gì trong chính quyền nước Mỹ. Ông còn hay viết báo, viết sách bàn luận về chuyện kinh tế tài chánh có tầm quan trọng toàn cầu. Cũng như ưa thích nghiên cứu đàm đạo về chuyện triết lý cao siêu nữa.

Nhưng bài viết này lại không bàn về những chuyện rất hấp dẫn đó, mà chủ tâm của người viết là muốn giới thiệu với bạn đọc các hoạt động của George Soros để nhằm xây dựng một Xã hội Mở trên phạm vi toàn cầu, theo đường hướng của vị sư phụ nổi danh Karl Popper, mà ông có dịp được thụ giáo với trong thời gian theo học tại trường Kinh tế Luân đôn hồi cuối thâp niên 1940 qua đầu thập niên 1950, lúc vào tuổi 20.

Soros khởi sự tham gia công tác thúc đảy sự phát triển “các xã hội mở” ngay từ cuối thập niên 1970. Điển hình là từ năm 1979, ông đã cấp ngân khỏan để giúp các sinh viên da đen theo học tại đại học Cape Town ở Nam Phi, vì hồi đó người dân ở nước này vẫn còn bị nạn kỳ thị chủng tộc (Apartheid) hoành hành.Tiếp theo ông lập một sáng hội (foundation) tại Hungary nhằm yểm trợ về văn hóa, giáo dục và thúc đảy tiến trình chuyển biến dân chủ cho quốc gia là quê hương bản quán của mình. Tại đây, một trong những dự án độc đáo nhất là ông đã nhập cảng vào trong nước rất nhiều máy photocopy, để giúp giới tranh đấu dân chủ phổ biến tin tức và in ấn những tài liệu bị chánh quyền cộng sản cấm đoán. Soros cũng tìm cách khôn khéo gửi khá nhiều tiền giúp phong trào Đòan kết đang hoạt động bí mật ở Balan, cũng như cho Nhóm Hiến chương 77 ở Tiệp khắc. Và đặc biệt là yểm trợ nhà bác học – đối kháng hàng đầu ở Liên Xô là Andrei Sakharov.

Năm 1982, nhân dịp mừng sinh nhật thứ 80 của giáo sư Karl Popper, Soros đã đặt tên cho tổ chức từ thiện của mình là “Open Society Foundation” để vinh danh vị sư phụ quý mến của ông. Và ông bắt đầu cấp học bổng cho các sinh viên du học từ Đông Âu. Phấn khởi trước sự thành công của các dự án này, Soros thành lập thêm nhiều dự án khác nhằm giúp đỡ việc tự do phổ biến thông tin tại những quốc gia trong khối cộng sản. Ông còn yểm trợ những chương trình giáo dục qua radio tại Mông cổ. Và sau này đóng góp đến cả 100 triệu dollar để cung cấp dịch vụ internet cho các đại học cấp miền ở nước Nga.

Nói chung những hoạt động nhân đạo từ thiện của Soros thì đều kết hợp với nguyên tắc cốt lõi của sự cổ võ xây dựng cho xã hội mở. Như vậy, nên ông đã không chịu để cho các loại hoạt động này lại bị ràng buộc hay bị hạn chế bởi một chánh quyền nào, hoặc một định chế quốc tế nào. Trong thập niên 1980,Soros tài trợ cho các nhà kinh tế trẻ tuổi tại một “think tank” ở Trung quốc qua trao đổi với một đại học chuyên về môn kinh doanh tại Budapest. Soros còn giúp thiết lập quỹ trợ cấp việc cổ võ cho xã hội dân sự và tính minh bạch tại Trung quốc. Năm 1991, Soros góp phần thành lập Đại học Trung Âu tại Budapest (Central European University), chuyên dậy bậc cao học trong lãnh vực phát triển xã hội và chính trị. Tính ra ông đã dành riêng cho đại học này đến số tiền tổng cộng lên đến trên 500 triệu dollar. Ông cũng đã bỏ ra 50 triệu dollar để cứu trợ các nạn nhân trong cuộc chiến ở Bosnia. Và cũng chi ra 50 triệu dollar khác để yểm trợ dự án Millenium Villages cho các làng nghèo túng hẻo lánh ở Phi châu nữa. Thật không thể nào kê khai cho hết được những ngân khoản do G Soros cấp phát cho các dự án xã hội- văn hoá- giáo dục rải rác khắp nơi trên thế giới được, nhất là tại các quốc gia cưụ cộng sản ở Đông Âu và cả nước Nga.Tính gộp lại, trong mấy chục năm liên tục tham gia công việc từ thiện nhân đạo và xây dựng “Xã hội Mở”, George Soros đã chi ra đến 6 tỷ dollar cho các dự án khắp thế giới.

Sau này, kể từ ngày thiết lập OSI tức là Viện Xã hội Mở vào năm 1993 (Open Society Institute), thì Soros đã lần hồi hệ thống hoá các chương trình hoạt động cho có quy củ lớp lang nhịp nhàng ăn khớp với nhau. Dưới đây, ta sẽ tìm hiểu chi tiết về sinh hoạt cuả tổ chức OSI này.

Viện Xã hội Mở (The Open Society Institute = OSI)

Là con người thực dụng, Soros không bao giờ chấp nhận cái lối điều hành theo kiểu hành chánh quan liêu thư lại nơi các cơ quan nhà nước, mà người Âu Mỹ gọi là “bureaucracy” (guồng máy thư lại). Vì thế ban đầu văn phòng do ông điều khiển để phụ trách công việc từ thiện nhân đạo, thì gần như rất “tuỳ hứng, không hề có sự kỷ cương gò bó” gì cả. Nhưng sau này, lúc công việc quá nhiều với sự cộng tác cuả những nhân vật kiệt xuất từ khắp các nơi trên thế giới, thì bó buộc Soros phải thay đổi cái lề lối quản lý và điều hành “tuỳ hứng, lỏng lẻo” này. Đó là vào đầu thập niên 1990, khi ông đã thiết lập được nhiều cơ sở gọi là “sáng hội tại từng quốc gia” (national foundation) với nhân viên phụ trách điều hành hoàn toàn là người điạ phương với thẩm quyền và sáng kiến riêng cuả họ, kể cả với danh xưng khác với tổ chức “Open Society” cuả ông, thì tại cơ quan trung ương đầu não cuả OSI đặt tại New York đã bắt đầu phát triển thành một bộ phận “ phối hợp các hoạt động cuả các national foundation” này. Hoạt động của OSI mỗi ngày một mở rộng, mà hiện nay đã gồm các “đối tác” (partner) ở trên 30 quốc gia, phần lớn là trong các nước Đông Âu và các nước tách ra từ Liên Xô kể từ đầu thập niên 1990, khi hệ thống cộng sản sụp đổ tan rã.

Hoạt động của OSI rất là đa dạng, phong phú vì được phát xuất từ sáng kiến rất cụ thể và độc đáo của bao nhiêu nhân vật xuất chúng của các quốc gia sở tại, mà lại rất ư là khác biệt nhau về truyền thống văn hóa lịch sử, cũng như tôn giáo. Tất cả chỉ có chung một mẫu số, đó là : Cùng nhắm vào công cuộc xây dựng và phát triển “Xã hội mở” dựa trên cơ sở dân chủ, khai phóng và nhân bản theo tinh thần tiến bộ, bất bạo động đã được giáo sư Karl Popper khai mở cổ võ mạnh mẽ từ 70 năm trước như được ghi trong tác phẩm “The Open Society and its enemies”, cuốn sách này vừa mới được giới thiệu trong bài 2 trước bài viết này. Vì thế, ta có thể nói : George Soros là một nhân vật tiên phong của phong trào kiến tạo “một Xã hội Mở trên quy mô toàn cầu” (the pioneer of the Global Open Society). Hay nói khác đi, Soros là tiêu biểu của một thứ “kiến trúc sư của Xã hội Dân sự Toàn cầu” (an architect of the Global Civil Society), mà đang nỗ lực cổ võ phát động cho “Phong trào Xã hội mới” của thế kỷ XXI hiện nay vậy (The New Social Movement).

Quý bạn đọc có thể mở website của “Open Society Institute”, thì sẽ tìm được vô vàn thông tin chi tiết và cập nhật hóa thường ngày về sinh hoạt của cả một hệ thống các foundation tại tất cả các quốc gia liên hệ. Điển hình như vừa đây, sau trận động đất kinh hoàng ở Haiti vào đầu năm 2010 này, thì OSI đã khẩn cấp chi ra ngay 4 triệu US dollar, phân phối cho 4 tổ chức nhân đạo như Medecins Sans Frontieres, Save The Children, Catholic Relief Services, CARE đẻ tham gia cứu trợ giúp đỡ các nạn nhân. Và trước đây Soros cũng đã chi ra 50 triệu để giúp riêng cho dân chúng tại thành phố thủ đô Port-au Prince của Haiti nữa.

Người viết bài này đã có dịp đến viếng thăm trụ sở cuả OSI tại trung tâm khu Manhattan ở New York vào muà hè năm 2008. Nhờ sự giới thiệu cuả chị luật sư Dinah Pokempner thuộc tổ chức Human Rights Watch, nên tôi đã được hai chuyên viên cuả OSI phụ trách về Đông Âu và Nga tiếp đón rất thân tình chu đáo. Đó là vì tôi cần tham khảo kinh nghiệm thực tiễn cuả OSI hoạt động tại Đông Âu, để bổ túc cho sự nghiên cứu cuả tôi về “Sự phục hồi Xã hội Dân sự tại Đông Âu sau khi chế độ cộng sản sụp đổ vào năm 1989”. Tôi cần kinh nghiệm chuyên môn cuả OSI (technical expertise), chứ không phải đến trụ sở này để xin ngân khoản trợ cấp cuả họ (grant) cho việc nghiên cưú dài ngày này nói trên. Và họ tỏ ra thật hoan hỉ, phấn khởi khi nghe tôi trình bày rằng : Người Việt nam cũng như người Trung hoa, người Triều tiên chúng tôi ở Á châu hiện còn đang phải sống dưới ách độc tài chuyên chế cộng sản, thì rất mong rút được bài học hưũ ich cuả các quốc gia cựu cộng sản như ở Nga và Đông Âu, để còn chuẩn bị cho giai đoản “hậu cộng sản” (post-communist) sắp tới trong tương lai không bao xa cho đất nước chúng tôi nưã đấy.

Niềm say mê khác nữa của George Soros.

Như đã trình bày trước đây, Soros là người đa tài, đa dạng đa đoan, nên ông tham gia vào nhiều loại công việc trong những lãnh vực rất khác biệt nhau. Là người có trí thông minh vượt trội, lại trải qua nhiều nỗi truân chuyên của gia đình gốc Do thái dưới thời tàn bạo của phát xit Đức quốc xã, và sau này của chế độ cộng sản, nên Soros có được cái tầm nhìn và suy nghĩ toàn cầu (global vision /thinking). Nhưng Soros lại có cả tham vọng về thứ “ hoạt động tòan cầu “ (global action) nữa, chứ không như người ta thường tình chỉ có thể hành động hạn chế tại địa phương nhỏ bé “trong tầm tay” của mỗi cá nhân mà thôi (Act locally). Cái chí lớn “muốn xẻ núi lấp song” như thế đã thôi thúc ông lăn xả vào trong nhiều loại hoạt động, mà vì nhờ có phương tiện tài chánh dồi dào Soros dễ tạo được môi trường, để cùng chung với các bạn hữu thân thiết đưa ra thực hiện các sáng kiến độc đáo và mạnh dạn của mình. Có lần ông tâm sự với bạn : “Tôi không hề muốn thiên hạ chỉ coi tôi như là một nhà tỷ phú nhiều tiền lắm bạc, mà rộng tay ban phát ân huệ cho người này người khác như là một vị ân nhân theo cái ‘lối cha chú” (paternalism). Vì thế, tôi miệt mài tìm kiếm học hỏi thêm về triết học, về kinh tế tài chánh, về xã hội học v.v…” Chính cái tinh thần “cầu tiến” này đã khiến cho Soros thâu lượm được một số vốn kiến thức rất vững chắc, để theo kịp được với nhịp độ văn minh tiến bộ của thời đại.

Các ký giả quen biết theo dõi đường đi nước bước của Soros trong nhiều năm, thì đều nhận ra cái sự biến chuyển trong nhận thức mỗi ngày một thêm phong phú, sung mãn và vững chãi hơn. Trước đây, giới chính trị ngoại giao cấp cao các nước văn minh thường đánh giá thấp mấy nhà tài phiệt, mà họ coi như là loại “trọc phú” với trình độ văn hóa thấp kém. Nhưng từ ngày Soros được gán cho cái danh hiệu “ con người đã bẻ gãy Ngân hàng Anh quốc” vào ngày Thứ tư Đen 16 September 1992, thì người ta không thể xem thường con người này được nữa. Do vậy mà lần hồi Soros đã có thể tiếp cận được với các nhân vật quan trọng cuả thế giới trong mọi lãnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, xã hội, văn hoá, tôn giáo để trao đổi kinh nghiệm và bàn thảo về đường lối hoạt động có tầm vóc toàn cầu. Cứ như vậy, cái vòng quen biết thân tình cuả George Soros mỗi ngày càng mở rộng, bành trướng mãi ra, và tầm vóc hoạt động mỗi ngày một phát triển rất ư là hiệu quả và bao quát.

Nhân tiện, tôi cũng xin ghi ra đây một số sách có tính cách tiêu biểu do chính Soros biên soạn và phổ biến cho công chúng trong thời gian gần đây :

*The Crisis of Global Capitalism : Open Society Endangered (1998)

*Open Society : Reforming Global Capitalism (2000)

*The Buble of American Supremacy : Correcting the Misuse of American Power (2003)

*The Age of Fallibility : Consequences of the War on Terror (2006)

*The New Paradigm for Financial Markets : The Credit Crisis of 2008 and What It Means (2008).

Ngoài ra Soros còn thường xuyên viết rất nhiều bài báo phổ biến trên diễn đàn các tờ báo lớn ở Mỹ và cả ở Âu châu nưã. Điển hình như 2 bài báo này :

*Europe as a Prototype for a Global Open Society (Nov. 20, 2006),

*Op-Ed : A New Bargain for UN Reform (May 4, 2006).

George Soros còn nhận được nhiều cấp bằng danh dự từ các đại học danh tiếng trên thế giới, cụ thể như Oxford, Yale, Budapest University. Đặc biệt vào năm 1995, đại học Bologna ở Ý Đại Lợi đã cấp cho Soros bằng danh dự cao nhất “the Laurea Honoris Causa” vinh danh những nỗ lục cuả G Soros nhằm cổ võ các “Xã hội Mở” trên toàn thế giới.

Về cuộc sống gia đình riêng tư, thì báo chí ghi nhận : Soros có hai đời vợ và có tất cả 5 người con nay đều đã trưởng thành. Cả hai bà vợ đều đã ly dị, và hiện nay không còn người đàn bà nào mà còn sống chung với ông nưã./

California, Tháng Giêng 2010

Đoàn Thanh Liêm

Giới thiệu sách mới : Hành trình của người trí thức dấn thân nhập cuộc

Giới  thiệu  sách  mới : Hành  trình  của  người  trí  thức  dấn  thân  nhập  cuộc

Bài của Đoàn Thanh Liêm

Nguyên tác bản tiếng Anh   :  Thinking the Twentieth Century.

by :   Tony Judt with  Timothy   Snyder

Nhà xuất bản The Penguin Press, New York ấn hành năm 2012

Sách dày trên 400 trang với bìa cừng.

www. Penguin.com

*     *     *

Tony Judt (1948 – 2010) sinh trưởng tại London Anh quốc, là một giáo sư về môn lịch sử và chính trị tại nhiều Đại học danh tiếng ở Âu châu và ở Mỹ. Ông cũng là tác giả hay biên tập của 14 cuốn sách, trong đó có cuốn “Postwar : A History of Europe Since 1945” xuất bản năm 2005 là được giới thức giả quốc tế chú ý và đánh giá cao. Ông còn đóng góp nhiều bài vở cho các tạp chí nổi tiếng như The New York Review of Books, The Times Literary Supplement, The New Republic… Do bị bệnh liệt não, ông đã sớm từ giã cõi đời tại New York vào năm 2010 lúc mới ở vào tuổi 62.

Nhận thấy bậc đàn anh lâm bệnh ngặt nghèo, nên Timothy Snyder – cũng là một giáo sư trẻ tuổi người Mỹ về môn lịch sử – trong các năm 2009 – 2010 đã đến tư gia của Tony Judt tại New York để trao đổi thảo luận trong nhiều buổi nói chuyện thân mật tay đôi với ông. Và qua việc khai thác các băng ghi âm từ những cuộc đối thọai đó, Timothy đã hòan thành được cuốn sách có nhan đề thật bao quát là : “Thinking the Twentieth Century” –  sách này vừa mới cho ra mắt công chúng trong năm 2012. Có thể nói đây vừa là cuốn sách tự truyện của Tony Judt, vừa là một nhận định tổng hợp về sự dấn thân nhập cuộc của giới trí thức tại Âu châu suốt trong thế kỷ XX.

Để thuận tiện cho độc giả theo dõi câu chuyện đối đáp giữa hai vị chuyên gia về sử học tại Âu châu trong thế kỷ XX, người viết xin lần lượt trình bày về tiểu sử các tác giả trước khi đề cập đến những mục đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

I – Tiểu sử các tác giả.

1 – Tony Judt (1948 – 2010)

Xuất thân từ một gia đình có cả cha mẹ đều là di dân người Do Thái gốc gác từ Đông Âu, nên Tony Judt dễ có điều kiện tìm hiểu về những biến chuyển lớn lao tại miền đất xưa kia là quê hương của dòng họ bên nội cũng như bên ngọai của mình. Tony được học ở trường Đại học nổi danh bậc nhất của Anh quốc, đó là trường Cambridge – rồi lại còn được học thêm ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm ở Paris (École Normale Supérieure) là cái nôi sản sinh ra những tinh hoa của nước Pháp. Ông thông thạo nhiều ngọai ngữ như tiếng Pháp, Đức,Tiệp khắc… và được coi là một chuyên gia có thẩm quyền về Lịch sử Giới Trí thức của Pháp thời hiện đại.

Luận văn để thi bằng Tiến sĩ của ông tại Cambridge được xuất bản thành cuốn sách trước tiên bằng tiếng Pháp vào năm 1976  – với nhan đề là “La Reconstruction du Parti Socialiste 1921 – 1926” (Sự Tái Xây dựng Đảng Xã hội (Pháp) 1921 – 1926).

Ông đã giảng dậy nhiều năm về Lịch sử và Chính trị tại các Đại học danh tiếng như Cambridge, Oxford và Berkeley và làm Giám đốc Sáng lập của Viện Erich Maria Remarque tại Đại học New York, Viện này chuyên chú vào công cuộc Trao đổi và Đối thọai giữa Âu châu và Mỹ châu.

Tony Judt cũng là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng, điển hình như :” Past Imperfect : French Intellectuals, 1944 – 1956” (xuất bản năm 1992), “Marxism and the French Left : Studies on Labor and Politics in France 1930 – 1982” (xb 1990), “The Burden of Responsibility : Blum, Camus, Aron and the French Twentieth Century (xb 1998)”, “A Grand Illusion? : An Essay on Europe” (xb 1996). Và đặc biệt cuốn “Postwar : A History of Europe Since 1945” (xb 2005), thì được tạp chí New York Times Book Review xếp lọai là “một trong 10 cuốn sách hay nhất trong năm 2005”.

Ở vào tuổi 16 – 20, Tony đã nhiều lần về Do Thái để tham gia xây dựng kibbutz ở nông thôn và làm cả việc phiên dịch cho các đòan thiện nguyện viên trong cuộc chiến tranh 7 ngày năm 1967. Nhưng sau đó, Tony đã có lập trường khác biệt với chính quyền Do Thái và trở về đi học lại để hòan tất học trình thi Tiến sĩ và bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu và giảng dậy chuyên môn về lịch sử và chính trị cho đến khi lìa đời vào tháng 8 năm 2010 tại New York.

Năm 2003, Tony Judt đưa ra chủ trương “Một quốc gia – hai dân tộc” (A bi-national State) như là giải pháp cho cuộc tranh chấp Do Thái & Palestine – thì gặp phải sự phản ứng gay gắt trong công luận – khiến cho một vài tạp chí phải từ chối sự cộng tác của ông.

Về đời tư của gia đình, thì Tony Judt có hai người vợ trước đều đã ly dị. Sau cùng, ông sống đến cuối đời với bà vợ thứ ba tên là Jennifer Homans và có hai người con trai với bà này được đặt tên là Daniel và Nicolas.

2 – Timothy Snyder (sinh năm 1969)

Sinh trưởng tại Mỹ, Timothy Snyder theo học tại Đại học Brown ở Mỹ và tốt nghiệp văn bằng Tiến sĩ từ Đại học Oxford Anh quốc. Ông còn tham gia nghiên cứu tại Paris, Warsaw, Vienna và Đại học Harvard. Ông chuyên giảng dậy tại Đại học Yale về môn Lịch sử chính trị của Đông Âu hiện đại.

Ông cũng là tác giả của 5 cuốn sách đều được giải thưởng – trong đó cuốn sách nhan đề “Bloodlands : Europe between Hitler and Stalin” (Miền Đất Đẫm Máu) đã trở thành sách bán chạy nhất tại 4 quốc gia và được 10 nhà xuất bản xếp vào lọai sách hay nhất trong năm.

Timothy Snyder là người thông thạo rất nhiều ngôn ngữ Đông Âu, cụ thể như tiếng Nga, Ba Lan, Ukraine, Belorussian, Tiệp khắc và cả tiếng Yiddish của người Do Thái ở Đức và Trung Âu – đó là chưa kể tiếng Pháp và Đức. Sách của ông đã được dịch ra đến 20 ngôn ngữ khác. Chính Tony Judt đã xác nhận trong Lời cuối sách rằng :  Với sự thông suốt về lịch sử và văn hóa Đông Âu, thì Timothy Snyder là phần bổ túc thật quý báu cho mình, mặc dầu Timothy trẻ hơn 21 tuổi so với Tony.

Tuy vậy, do sự khiêm tốn, trong cuốn sách này Timothy Snyder đã lọai bỏ bớt đi phần nói về tiểu sử của bản thân mình – cốt ý để cho Tony Judt đóng vai trò chính yếu trong việc hòan thành cuốn sách. Độc giả có thể nhận ra chi tiết đó ngay trên trang bìa sách, thì chữ Tony Judt cũng lớn hơn hẳn chữ Timothy Snyder – ông này tự coi như mình chỉ là ‘một tác giả phụ” của cuốn sách mà thôi.

II – Mấy nét chính yếu của tác phẩm.

1 – Có thể xếp lọai cuốn sách này là Lịch sử Tư tưởng Chính trị và giới Trí thức trong sinh họat chính trị của thế kỷ XX ở Âu châu – đó là một lãnh vực mà cả hai tác giả đều đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm. Vì thế mà có ấn bản lại ghi thêm một nhan đề phụ nữa là : “ Giới Trí thức và Chính trị” (Intellectuals and Politics) để bạn đọc chú ý hơn đến nội dung của sách. Phần Tự thuật của riêng Tony Judt có tác dụng minh họa cho những nghiên cứu cũng như về sự gặp gỡ trao đổi của ông với nhiều vị thức giả có tên tuổi trong giới học thuật đặc biệt xuất thân từ Đông Âu.

Cuốn sách được thành hình qua nhiều cuộc trao đổi đối thọai giữa hai vị giáo sư chuyên về môn lịch sử ở Âu châu thời cận đại – nên có tính chất linh họat của lối văn nói hơn là văn viết.

2 – Về mặt bố cục, sách được chia thành 9 chương với Lời Nói đầu của Timothy Snyder và Lời Nói cuối của Tony Judt do ông này viết tại New York vào ngày 5 tháng Bảy năm 2010 – chỉ mấy tuần trước ngày ông từ giã cõi đời vào tháng 8 năm 2010. Mỗi chương đều có nhan đề riêng biệt, điển hình như sau :

ñ  Chương 3 : Familial Socialism : Political Marxist

ñ  Chương 5 : Paris, California : French Intellectual.

ñ  Chương 6 : Generation of Understanding : East European Liberal

ñ  Chương 7 : Unities and Fragments : European Historian

ñ  Chương 9 : The Banality of Good : Social Democrat.

Phần cuối sách còn có 6 trang kê khai rất nhiều tác phẩm được hai tác giả đề cập thảo luận tới trong các cuộc đối thọai. Cuốn sách thật hấp dẫn lôi cuốn đối với người đọc – vì trong nội dung mỗi đề tài thảo luận giữa hai tác giả, thì đều ghi xen lẫn cả nhiều chi tiết về quá trình sinh sống, gặp gỡ quen biết với các chuyên gia đày tài năng khác và cả sự miệt mài say sưa trong công việc nghiên cứu không biết mệt mỏi – đó là tính chất đặc trưng của Tony Judt.

3 – Vì chủ đề của những cuộc trao đổi thảo luận quá rộng rãi – bao quát nhiều khía cạnh của lịch sử tư tưởng và sinh họat chính trị tại Âu châu suốt trong thế kỷ XX, nên việc tóm lược cho thỏa đáng về những điểm cốt lõi của cuốn sách là một công việc hết sức khó khăn – nhất là lại phải gói gọn trong một bài giới thiệu không thể kéo dài quá 3,000 chữ như thường lệ. Do vậy, tôi chỉ xin nêu ra vài ba khía cạnh đặc trưng đáng chú ý nhất trong tác phẩm – đặc biệt đối với số người Việt vốn từng quen theo dõi tình hình sinh họat chính trị tại nước Pháp. Đó là nội dung được trình bày trong phần III sau đây.

III – Những khía cạnh đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

1 – Cách tiếp cận của người vừa ở trong cuộc, vừa ở ngòai cuộc.  (Insiders/Outsiders Approach)

Như tác giả Timothy Snyder đã ghi trong Lời nói đầu, Tony Judt vừa là người trong cuộc, vì ông dấn thân họat động cụ thể trong một số lãnh vực như một người trí thức nhập cuộc (intellectuel engagé) – mà ông cũng còn là người ngọai cuộc, vì ông chủ trương theo đuổi cái viễn kiến rộng rãi hơn, thông thóang hơn của một nhà nghiên cứu lịch sử vốn đòi hỏi một tinh thần bao quát khách quan hơn. Điều này khác biệt với phong cách của một nhà viết tiểu luận (essayist) vì ông này cần bày tỏ lập trường nhận định của mình với sự xác tín và nhiệt huyết của cá nhân mình trong bài viết – mà không bó buộc phải cân nhắc đắn đo với những đối chiếu thận trong của một nhà viết sử.

Cụ thể là Tony lúc ở tuổi 16 – 20, thì đã từng về bên nước Do Thái để tham gia xây dựng tại các kibbutz. Nhưng sau này Tony lại có ý kiến khác hẳn với chủ trương của nhà đương quyền ở xứ này. Cũng vậy, Tony theo truyền thống Marxist trong gia đình, nhưng khi trưởng thành chín chắn, thì lại theo đường hướng Xã hội Dân chủ mà ông coi là nhân bản tốt đẹp hơn hẳn chế độ tàn bạo sắt máu trong hệ thống cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Và nhờ tiếp cận thân thiết với giới trí thức lưu vong từ Đông Âu sau năm 1968, mà Tony có cơ hội thấu hiểu cặn kẽ hơn về cái bối cảnh tòan diện chính trị xã hội và văn hóa của cả hai phía Đông Âu và Tây Âu – điều mà ít có người thức giả thực hiện được.

2 – Nhận định phê phán về Giới Trí thức của nước Pháp.

Là một nhà nghiên cứu lâu năm về tình hình chính trị cận đại của nước Pháp, Tony Judt đã trình bày những nhận xét hết sức rõ rệt sắc nét về giới Trí thức của Pháp trong thế kỷ XX. Tony thẳng thừng phê phán những trí thức thiên tả hàng đầu của Pháp như Jean Paul Sartre, Maurice Merleau-Ponty, Simone de Beauvoir … là những người cố chấp, thiên vị đến độ mù lòa (blindfully) đồng lõa với chủ trương tàn ác của Staline. Họ coi cách mạng ở Nga năm 1917 là sự tiếp nối của cách mạng Pháp năm 1789. Tony coi họ có tinh thần điạ phương cục bộ, khư khư bám víu vào cái hư danh của truyền thống cũ kỹ cổ xưa của mình (parochial). (Xin đọc chi tiết nơi cuốn “Past Imperfect : French Intellectuals, 1944 – 1956 – xuất bản năm 1992)

Trái lại, Tony Judt lại đề cao những trí thức như Léon Blum, Albert Camus và Raymond Aron là những người đã có sự dũng cảm đi ngược lại cái khuynh hướng thiên tả cố chấp của đa số trí thức đương thời – để nói lên sự cảnh báo trước nguy cơ bành trướng của khối cộng sản Liên Xô kể từ sau năm 1945. Ông đã viết cả một cuốn sách nhỏ xuất bản năm 1998 dưới nhan đề là “The Burden of Responsibility…” đề cập chi tiết hơn về ba nhân vật này.

Trong cuộc đàm đạo với Timothy, thì Tony còn thuật lại vào tháng 2 năm 1948, cựu lãnh đạo Mặt trận Bình Dân ở Pháp năm 1936 (Front Populaire) là chính Léon Blum đã phải viết trong bài xã luận của tờ báo Le Populaire của Đảng Xã hội rằng : Ông nhận sự sai lầm của mình khi tin rằng phe Xã hội có thể hợp tác với phe Cộng sản” (trang 214) .

3 –  Về chính sách kinh tế, Tony Judt bênh vực John Maynard Keynes.

Giữa hai quan điểm đối nghịch của John Maynard Keynes là kinh tế gia người Anh giữa thế kỷ XX và của Friedrick Hayek người gốc Áo quốc gần đây, thì Tony Judt có vẻ thiên về tác giả Keynes là người cổ võ cho chính sáchTòan dụng trong nền Kinh tế Vĩ mô (Full Employment in Macro-economics) – mà ông coi là bổ túc cho khuynh hướng của chủ trương kế họach hóa do Sir William Beveridge đề xuất ở nước Anh. Tony biện minh rằng chủ trương của Keynes có tính cách mềm dẻo linh động, chứ không có sự khe khắt khắc nghiệt làm tê liệt sáng kiến của giới doanh nhân –  như Hayek đã nặng nề phê phán, đặc biệt trong tác phẩm nổi danh “The Road to Serfdom” của ông (Con Đường dẫn đến Sự Nô dịch).

Tony coi trọng thành quả của Tây Âu là đã xây dựng vững chắc được các định chế dân chủ và đặt nền móng sâu rộng cho một số quốc gia có nền phúc lợi xã hội khả quan (The Social Welfare State). Đặc biệt là sự thành công của chế độ Dân chủ Xã hội tại các quốc gia ở Bắc Âu châu (Social Democracy).

IV – Để tóm lược lại.

1 – Tuy chủ đề của cuốn sách quá rộng lớn bao quát, nhưng vì nội dung của các buổi thảo luận được trình bày xen kẽ với nhiều chi tiết sinh động về tiểu sử có tính cách tự thuật của Tony Judt, nên người đọc dễ theo dõi câu chuyện với sự thích thú kỳ diệu mà lại nhẹ nhàng. Cả hai tác giả đều là những nhà giáo – nhà nghiên cứu uyên bác và đã từng có những tác phẩm được đánh giá cao trong học giới cũng như trong công chúng độc giả. Vì thế, sự trình bày của họ trong cuốn sách thì rất là phong phú khúc chiết – nó giúp chúng ta có được một cái nhìn tổng hợp về tư tưởng và hành động của giới trì thức tiêu biểu tại Âu châu trong thế kỷ XX. Có thể nói các tác giả đã cung cấp cho người đọc một thứ lộ đồ (a road map) để khám phá cái không gian tư tưởng cực kỳ bao la đa dạng và phức tạp của thế kỷ XX.

2 – Đúng như nhan đề của bài viết, cuốn sách này là một thứ tự thuật của Tony Judt về quá trình nhập cuộc của bản thân mình trong sự tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng cho xã hội đương thời. Mà đồng thời các tác giả cũng trình bày những nét chính yếu về vai trò của tòan thể giới trí thức ở Âu châu trong sinh họat chính trị văn hóa suốt thế kỷ XX. Các tác giả cũng bày tỏ sự lạc quan và xác tín của mình trước viễn tượng của một nền Dân chủ Xã hội mà các thế hệ trẻ của thế kỷ XXI có thể xây dựng được – sau khi rút kinh nghiệm từ những thất bại của các thế hệ đàn anh của thế kỷ XX.

Người viết xin hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn sách rất hấp dẫn lôi cuốn và cũng thật có giá trị vững chắc này vậy./

Costa Mesa California, Tháng 12 năm 2012

Đoàn Thanh Liêm