Bill Gates thừa nhận phạm ‘sai lầm khổng lồ’ vì kết bạn với Epstein

Ba’o Nguoi-Viet

February 26, 2026

SEATTLE, Washington (NV) – Tỷ phú Bill Gates thừa nhận ông phạm “sai lầm khổng lồ” vì kết bạn với ông Jeffrey Epstein, tội phạm tình dục đã qua đời, theo AFP hôm Thứ Tư, 25 Tháng Hai.

Trong buổi gặp gỡ nhân viên hội từ thiện của ông – Gates Foundation – hôm Thứ Ba, ông Gates thú nhận từng ngoại tình với hai phụ nữ Nga, nhưng khẳng định ông không dính líu tới tội ác của ông Epstein.

Tỷ phú Bill Gates phát biểu trong chương trình của Gates Foundation ở Stockholm, Thụy Điển, hôm 22 Tháng Giêng. (Hình minh họa: Stefan Jerrevang/TT News Agency/AFP via Getty Images)

Tỷ phú Gates, 70 tuổi, người đồng sáng lập Microsoft, là một trong những cái tên nổi bật trong hồ sơ Epstein được Bộ Tư Pháp (DOJ) công bố. Số hồ sơ này tiết lộ ông Gates có mối quan hệ bạn bè thân thiết, làm ăn bất hợp pháp và chụp hình riêng tư với ông Epstein.

Trong buổi gặp gỡ nhân viên Gates Foundation tại trụ sở hội từ thiện này ở Seattle, Washington, ông Gates nói ông hối hận vì mối quan hệ của ông với ông Epstein ảnh hưởng tới tới công việc của hội từ thiện này. Báo Wall Street Journal có được bản thu âm buổi gặp gỡ này.

“Kết thân với ông Epstein là sai lầm khổng lồ,” cũng như đưa giới chức điều hành Gates Foundation tới những cuộc họp với ông Epstein, ông Gates cho hay.

“Tôi xin lỗi những người bị lôi vào chuyện này do sai lầm của tôi,” ông cho biết.

Trong hồ sơ mà DOJ công bố, có email được ông Epstein viết nhưng chưa gửi, trong đó, ông khẳng định ông Gates ngoại tình. Ông Epstein viết mối quan hệ của ông với ông Gates bao gồm từ “giúp ông Gates mua ma túy, để giải quyết hậu quả quan hệ tình dục với gái Nga, tới sắp xếp cho ông hẹn hò bất hợp pháp với phụ nữ đã có chồng.”

Hôm Thứ Ba, ông Gates thừa nhận ngoại tình với hai phụ nữ Nga.

“Tôi có ngoại tình thật, một lần với tay chơi bài ‘bridge’ người Nga đã gặp tôi trong những lần chơi bài, và một lần với nhà vật lý nguyên tử Nga tôi gặp thông qua việc làm ăn,” ông thú nhận.

Nhưng ông Gates khẳng định không liên hệ gì với nạn nhân của ông Epstein. Năm 2019, ông Epstein qua đời trong tù ở New York khi đang chờ bị xét xử tội buôn bán người vị thành niên làm mại dâm.

“Tôi không làm điều gì bất hợp pháp. Tôi không thấy điều gì bất hợp pháp,” ông Gates tuyên bố.

Ông Gates bắt đầu kết thân với ông Epstein năm 2011, sau ba năm ông Epstein nhận tội dụ dỗ người vị thành niên bán dâm.

Ông Gates nói ông biết ông Epstein từng bị hạn chế đi lại “18 tháng gì đó” nhưng không kiểm tra thông tin cá nhân của ông này. (Ông Epstein bị kết án 18 tháng tù ở Florida vì tội dụ dỗ người vị thành niên bán dâm.)

Ông Gates cho hay bà Melinda Gates, vợ ông lúc đó, bày tỏ lo lắng về ông Epstein năm 2013, nhưng ông tiếp tục quan hệ với ông Epstein thêm ít nhất một năm.

Trong tuyên bố gửi AFP, Gates Foundation xác nhận ông Gates nói về vụ Epstein và một số vấn đề khác trong buổi gặp gỡ hôm Thứ Ba.

“Ông Gates nói thẳng thắn, trả lời cặn kẽ một số câu hỏi một, và nhận trách nhiệm cho những gì ông làm,” tổ chức này cho biết. (Th.Long)


 

CÂN BẰNG CUỘC SỐNG CÁCH NÀO? – BS Đỗ Hồng Ngọc

BS Đỗ Hồng Ngọc

”Cuộc sống” bây giờ rất lạ. Hồi xưa còn có ngày và đêm, còn có làm việc 8 tiếng ở cơ quan, sở làm, còn lại là thì giờ “của mình” để “tùy nghi”.

Bây giờ thì hết. Không thể vậy nữa. Điện thoại thông minh sẵn sàng réo gọi bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Không có sáng trưa chiều tối gì cả. Không có ở nhà ở sở gì cả. Không có nghỉ hè nghỉ lễ gì cả. Thế giới trong lòng tay. Tin thiệt tin giả hằm bà lằng. Đó là thời kỳ “Siêu hiện đại” (Metamodernism) khi đã có cái smatphone, cái laptop bên cạnh. Đêm là ngày. Quán càphê, quán nhậu là chỗ làm việc. Bãi biển là văn phòng… Thế là đầu tắt mặt tối. Thế là đỏ mặt tía tai. Thế là bầm gan tím ruột… (…)

Bây giờ không còn là thời của “Buồn nôn” (La Nausée, Jean Paul Sartre) sáng vác ô đi tối vác về nữa, mà quay cuồng, mà chóng mặt, là thời của hậu-hậu hiện đại, siêu hiện đại rồi. Đó là thời của chuyển động không ngừng, của xáo trộn, của nháo nhào (oscillation), giữa giễu nhại và trân trọng, giữa ngây thơ và uyên bác, giữa lạc quan và hoài nghi, giữa mẫu mực và phá cách…, có thể gọi là thời của “đảo điên mộng tưởng”, đưa đến những bệnh thời đại như SAD (stress căng thẳng, anxiety lo âu sợ hãi và depression trầm cảm). Cho nên ta không lạ khi ngày càng có nhiều người rời phố thị tìm về những vùng hoang vắng, sống nơi không wifi, không điện, không máy tính.

Gần đây những từ mới như workaholic, nghiện, say mê công việc, workmaniac, điên vì công việc, một dạng tâm thần ngày càng nhiều. Những người mắc chứng này dễ dẫn đến tự tử. Họ có rất nhiều tiền nhưng sẵn sàng tìm cái chết để giải thoát. Từ karoshi ở Nhật – chết khi đang làm việc – đã trở nên phổ biến. Hằng năm có cả chục ngàn ca như vậy.

Tôi vẫn thường nhận được những câu hỏi nhờ tư vấn, nói chỗ làm lương thì cao mà căng thẳng quá, chắc là phải đi tìm chỗ khác, không thể sống như vậy được nữa vì không tìm thấy niềm vui trong cuộc sống, không có thời gian cho bản thân, cho bạn bè, gia đình; áp lực công việc, áp lực deadline, đối tác… Có người nói thấy đầu óc như đang ở trên mây, không nhớ điều gì cả, trí óc quên đủ thứ và cuộc sống của họ bây giờ nó lôi thôi lắm, như Alzheimer dù tuổi hãy còn rất trẻ!

Lâu nay ta cứ nghĩ mình không có bệnh là mình khỏe nhưng điều đó là sai. Sức khỏe là tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well-being) về cả ba mặt thể chất, tâm thần và xã hội chớ không chỉ là không có bệnh hay tật. Nhiều khi ta trông thấy một người có thể chất rất chuẩn, đẹp trai, cao ráo nhưng anh ta có thể đang mắc bệnh tâm thần. Sức khỏe về mặt xã hội càng quan trọng: kẹt xe, ngập nước sao khỏe được. Các mối quan hệ xã hội, môi trường sống không an toàn, không an ninh, sao khỏe được.

Khi nghĩ rằng sức khỏe là chuyện của y tế là sai. Y tế chỉ có nghĩa “cứu tế về y khoa”, giúp đỡ những lúc ta ốm đau, bệnh hoạn còn sức khỏe là chuyện khác, sức khỏe là chuyện của mình. Có người nói rất đúng: “bác sĩ tốt nhất là chính mình”.

Một công ty quan tâm đến sức khỏe nhân viên không chỉ mở một phòng y tế, chờ khi nhân viên đau ốm thì vào cấp cứu, thuốc men. Trường học cũng vậy. Nhiều trường học hãnh diện có một phòng y tế trang bị thuốc men đầy đủ, có bác sĩ cho học sinh mỗi khi đau ốm hay tai nạn, nhưng rất thiếu sót. Bởi sức khỏe của học sinh chủ yếu là tâm sinh lý tuổi mới lớn, tuổi dậy thì, nên vấn đề của y tế học đường là tham vấn sức khỏe, giải quyết xung đột… Ngày nay nhiều trường đã tổ chức các lớp thiền, yoga cho học sinh. Anh quốc còn có chương trình đưa Thiền chánh niệm vào trường học: Mindfulness in School Project (MiSP) có hiệu quả tốt.

Phương pháp đơn giản để “Cân bằng cuộc sống” (Work-Life Balance) là vẽ một biểu đồ phân tích tình trạng sinh hoạt của mình để thấy chỗ nào đang bị lệch lạc như về công việc, tài chánh, học tập, giải trí, gia đình, bạn bè… Theo dõi biểu đồ đó từng thời gian, có thể thấy mình đang bị lệch về hướng nào, cần điều chỉnh ra sao.

Có một vài phương pháp cụ thể hơn để giải stress, ví dụ như yoga, thiền quán, thở bụng… Phương pháp thở bụng (Diaphragmatic breathing hay Abdominal breathing) đơn giản mà hiệu quả. Các bác sĩ nổi tiếng hiện nay như Dean Ornish hay Deepak Chopra (Mỹ) đang phát triển phương pháp này để chữa bệnh. Họ nghiên cứu trên hai nhóm bệnh nhân tim mạch, một nhóm uống thuốc bình thường, nhóm còn lại kết hợp thêm thở bụng thì thấy rõ ràng nhóm có thở bụng đạt kết quả tốt hơn (thống kê y học).

Ta biết khi stress kéo dài thì tuyến Pituitary ở não sẽ không tiết hormone tăng trưởng nên những trẻ bị căng thẳng quá trong học tập sẽ không lớn nổi. Stress làm Tuyến tụy tiết ra Glucagon làm giảm Insulin gây tiểu đường. Tuyến sinh dục cũng không phát triển được, không tiết DHEA bình thường. Đó là lý do tại sao đời sống tình dục ngày càng có vẻ yếu đi, yếu đến nỗi người ta phải dùng thuốc cường dương các thứ…

Một dấu hiệu quan trọng của stress nữa là giảm sút trí nhớ, luôn do dự, khó tập trung, suy nghĩ không logic, phán đoán sai, chỉ thấy mặt tiêu cực, mất định hướng, hoang mang, sợ hãi… hoặc buồn rầu, cô đơn, tâm tính bất thường…

Những dấu hiệu của stress về thể chất như nhức đầu, đau lưng, đau cột sống cổ… Đi bác sĩ đau đâu chích đó, hoặc can thiệp bằng mổ xẻ cũng không dứt hẳn. Vì gốc bệnh là do stress hoặc do tư thế ngồi làm việc, phải điều chỉnh.

Cần có một chế độ để nghỉ ngơi hợp lý. Nghỉ và ngơi là hai từ khác nhau. Ngơi là ngưng, ngưng hẳn. Nhiều khi nghỉ mà không ngơi. Cho nên, cần có nghỉ và ngơi thực sự. Chương trình đưa Thiền chánh niệm vào trường học (MiSP) nói trên có đề ra một công thức khá hay, mà tôi gọi là “Lá Bùa”, có thể dán bất cứ ở đâu để nhắc nhở mình. Đó là (.b).

Chấm (.) có nghĩa là Ngưng, Thôi, Dừng lại. Còn (b) là breath (thở chánh niệm) và hiện diện “ở đây và bây giờ”. Thực hiện được đã là rất tốt.

Giao tiếp rất quan trọng trong đời sống. Giao tiếp giữa người với người mà thành công sẽ tạo một môi trường lành mạnh cho sự phát triển cảm xúc và trí tuệ. Có 3 nguyên tắc chính: tôn trọng, chân thành và thấu cảm. Trong Bồ-tát thập hạnh, hạnh thứ 6 là “Thiện hiện”, đây chính là sự thấu cảm; hạnh thứ 8 là Tôn trọng và hạnh thứ 10 là chân thực. Nếu thực hành được ba hạnh này thì giao tiếp chắc chắn thành công.

Để có cuộc sống an lạc, tự tại, thì ta phải “từ bi” với mình, đừng cao vọng đòi hỏi xa xôi quá để bị hút vào, bị cuốn đi. Nhưng như vậy không có nghĩa là không phấn đấu để trở thành người hoàn thiện hơn. Trong thời đại người ta nói nhiều đến Siêu hiện đại như hiện nay, càng thấy rõ lời Phật dạy từ 2600 năm trước: vô thường, khổ, vô ngã… Phải vượt qua ái dục, chấp trước, phải “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”…, “viễn ly điên đảo mộng tưởng” thì mới có được cuộc sống an lạc, hạnh phúc.

BS Đỗ Hồng Ngọc


 

THÊM MỘT TUỔI MỚI – Bài: BS Đỗ Hồng Ngọc

NHỮNG BÀI POST HAY.

Bài: BS Đỗ Hồng Ngọc

Có người hỏi vì sao tôi không phải là bác sĩ lão khoa mà lại dám viết về… người già, nào Gió heo may đã về, nào Già ơi chào bạn, nào Già sao cho sướng…? Đúng vậy, tôi là một bác sĩ nhi khoa, bác sĩ của trẻ con, nhưng sở dĩ viết về người già là bởi vì trước sau gì mấy nhóc nhỏ mà tôi đã và đang khám chữa bệnh cũng sẽ trở thành một người già, một ngày nào đó! Hơn năm mươi năm trước khi tôi thực tập ở bệnh viện Từ Dũ, đã có dịp đỡ đẻ cho một số trẻ sơ sinh, bây giờ nhớ lại, các nhóc đó tuổi cũng đã “gió heo may” rồi còn gì! Còn mấy bệnh nhi tôi có dịp chữa trị ở Bệnh viện Nhi đồng Saigon và tại phòng mạch hằng mấy chục năm qua thì bây giờ cũng đã lại thấy mang con và cả cháu nữa đến khám bệnh. Cho nên làm gì có chuyện cách ngăn tuổi này, tuổi nọ, tuổi kia. Cuộc sống như một dòng sông đó thôi.

Lão khoa, nhi khoa… chẳng qua là một cách nói! Có người chưa hai mươi mà đã già… khú đế, có người tám mươi còn phơi phới tuổi xuân. Một thầy thuốc đàn anh của tôi thường nói: “Hãy chăm sóc các cụ từ trong bụng mẹ”! Đúng vậy, đợi các cụ ngáp ngáp rồi mới “tận tình chăm sóc” thì e rằng quá trễ, chẳng giúp ích được gì cho cuộc sống của họ, chẳng giúp các cụ thêm vui, thêm khoẻ, thêm hạnh phúc…

Tổ chức Sức khoẻ Thế giới  (WHO) khi đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho Năm quốc tế người cao tuổi, (1999) cũng đã khuyến cáo muốn cho các cụ được khoẻ mạnh thì phải cho Mẹ… các cụ được dinh dưỡng tốt trong lúc mang thai, trong lúc cho các cụ… bú mớm;  phải chích ngừa đầy đủ các bệnh nguy hiểm ngay từ nhỏ để các cụ không phải chịu cảnh tật nguyền bệnh hoạn sau này; phải dạy dỗ các cụ từ tuổi thiếu niên như không uống rượu, không hút thuốc lá… để các cụ sau này khỏi bị ung thư phổi, viêm phổi tắt nghẽn mạn tính,  xơ gan cổ trướng; giúp các cụ có thói quen tập thể dục, chơi thể thao, ăn uống đúng cách để sau này khỏi bị xơ vữa động mạch, cao huyết áp, tiểu đường v.v… Rồi khi lớn lên thì  tránh các nguy cơ bệnh lây truyền qua đường tình dục, tránh béo phì, loãng xương, thấp khớp… Và dĩ nhiên đảm bảo cho các cụ có một thu nhập hợp lý để không bị lệ thuộc, để sống có phẩm giá, tiếp tục hoạt động theo năng lực, đóng góp kinh nghiệm của mình cho con cháu, được sự tôn trọng của xã hội, được thấy con thuận cháu hòa, gia đình hạnh phúc. Dĩ nhiên là bản thân các cụ phải hiểu rõ những chuyển biến tâm sinh lý của mình qua từng lứa tuổi, nhờ đó mà thích nghi, mà điều chỉnh thái độ và hành vi của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh mới, với môi trường mới. Tóm lại, chăm sóc các cụ, nói cách nào đó, thực chất là công tác của … Nhi khoa. Hoặc cũng có thể nói nhi khoa chính là lão khoa, và lão khoa cũng chính là nhi khoa đó vậy! Ngành lão khoa ngày càng phát triển vì tuổi thọ con người ngày càng được nâng cao, không chỉ ở các nước giàu có mà ngay ở cả các nước nghèo cũng vậy là nhờ những tiến bộ của khoa học, của y học, của kiến thức vệ sinh phòng bệnh, chăm sóc sức khoẻ cũng như hiệu quả của sự cải thiện môi trường sống, của chế độ dinh dưỡng hợp lý… Thế nhưng, khi nói đến lão khoa, hình như người ta quá nặng về bệnh hoạn, về tàn phế hơn là đến sự sảng khoái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội phù hợp với tình trạng tuổi tác, giới tính, chất lượng cuộc sống của họ. Các thầy thuốc lão khoa cũng thường lại là những thấy thuốc trẻ, họ tuy có chuyên môn sâu trong chữa trị bệnh tật cho người cao tuổi nhưng chưa từng được trải nghiệm tuổi già, chưa được thưởng thức… cái già, chưa được hưởng thụ… cảnh già! Khi tôi viết cuốn “Gió heo may đã về” thì đó là lúc tôi đang thực sự nghe gió heo may, tôi đang sống với nó, sửng sốt và sảng khoái vì nó, âu lo và hồi hộp vì nó. Tôi  hiểu được nỗi khắc khoải “tôi ơi đừng tuyệt vọng”, nỗi bâng khuâng “tôi đang lắng nghe, tôi đang lắng nghe im lặng của tôi…” của Trịnh Công Sơn, và những bạn bè trang lứa. Nhưng phải đợi đến tuổi 60,  tôi mới dám viết  “Già ơi…chào bạn” – “Bonjour Vieillesse!”- như một tiếng reo vui, chào mừng nó, cái sự già đó! Đâu dễ mà già phải không? Đến tuổi 75, tôi mới dám viết “Già sao cho sướng?”…

Cho mãi đến cuối thế kỷ 20, năm 1999, Liên Hợp Quốc mới có một “Năm” dành cho người cao tuổi, người già  trên toàn thế giới, gọi là “Năm quốc tế người cao tuổi” với khẩu hiệu là “Hãy sống một tuổi già tích cực”, bởi vì trước đó  người ta chỉ nghĩ tuổi già là tuổi của tàn phai, héo úa,  ăn hại, là gánh nặng xã hội… cho đến khi giật mình thấy không phải vậy! Con người ở tuổi nào cũng sẽ là gánh nặng cho xã hội, cũng ăn hại, cũng tàn phai… nếu sống không ra sống, sống mà như đã chết, sống mà không hạnh phúc, không có chất lượng cuộc sống, sống mà lệ thuộc, mà khổ đau triền miên…

Ngàn năm trước, ở nước ta, vào thời nhà Lý, Mãn Giác thiền sư đã có những câu thơ còn lưu truyền mãi đến nay với một cái nhìn tích cực về tuổi già:

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tùng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai…

( Mãn Giác, 1052-1096)

Xuân ruỗi trăm hoa rụng

Xuân tới trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già tới rồi

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai…

(Ngô Tất Tố dịch)

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết! Thật vậy. Vẫn còn đó, nơi sân trước kia, đêm qua, một cành mai vàng rực rỡ đã nở, báo hiệu một sức sống mãnh liệt vẫn dâng tràn… Vậy đó, mùa xuân dù đã phai, cành mai sân trước vẫn nở tươi thắm. Nụ cười vẫn lạc quan, cuộc sống vẫn tích cực, chủ động và sáng tạo không ngừng nếu những người có tuổi được chuẩn bị trước để hiểu rõ sự đổi thay, để chấp nhận, để điều chỉnh, tưới tẩm những niềm vui cho chính bản thân mình, cùng với sự ý thức giúp đỡ của gia đình và xã hội thì sẽ giúp họ có một cuộc sống đầy chất lượng, nhiều hạnh phúc.

Theo WHO : “Sức khỏe của người già là phát triển và duy trì được sự sảng khoái và hoạt động chức năng tốt nhất về tâm thần (mental), xã hội (social) và thể chất (physical)”.

Phát triển và duy trì được sự sảng khoái (well-being) và hoạt động chức năng (function) , bởi đa số các hoạt động chức năng xài lâu quá đều rệu rả, phần lớn đã “quá date”, dễ cảm thấy chán nản, tuyệt vọng, lo âu, trầm cảm… nói khác đi là khó mà… hạnh phúc. Thể chất thì “ba cao một thấp” (ba cao là cao máu (HA); cao đường (Tiểu đường); cao mỡ (Cholesterol xấu); còn một thấp là… Thấp khớp) đã đành mà tâm thần thì tám vạn bốn ngàn phiền não! Cho nên đưa vấn đề “tâm thần” lên hàng đầu là hoàn toàn hợp lý so với định nghĩa về sức khỏe ở người trẻ.

“Khổ” thì dĩ nhiên không thể có hạnh phúc. Con đường của Phật là con đường “Diệt Khổ”, con đường dẫn đến giải thoát.

Ở góc độ y sinh học, tâm lý xã hội học, thì những điều kiện để có một tuổi già hạnh phúc gồm:

Có sức khỏe tương đối ;

Tài chánh tự chủ;

Nhà ở an toàn; an ninh, môi trường thuận lợi;

Tự tại: chủ động sắp xếp cuộc sống riêng của mình,

Duy trì các mối quan hệ gia đình/ bè bạn;

Có ký ức tốt về tuổi thơ và tuổi thanh niên,

Hoạt động phù hợp để thấy luôn sống hữu ích;

Gần gũi với thiên nhiên;

Hiểu luật vô thường và biết “Từ bi hỷ xả” với chính mình!

Cũng có thể nhìn theo Tháp MASLOW:

a) Nhu cầu sinh học: gồm những vấn đề cơ bản của tồn tại như : Ăn, Ngủ, Thở, Tình dục… (physical well-being).

b) Nhu cầu an toàn: nhà ở an toàn, môi trường xã hội tốt đẹp, an ninh, bảo đảm về kinh tế, đời sống quân bình…

c) Nhu cầu xã hội (social well-being): các mối quan hệ xã hội trong gia đình, hàng xóm, cộng đồng tốt đẹp…

d) Nhu cầu tự khẳng định: để luôn có được tôn trọng, đóng góp theo công sức cho xã hội, thấy mình sống có ích…

e) Nhu cầu tâm thần, tâm linh (mental well-being): hướng thượng, có một tôn giáo lành mạnh, tin tưởng ở sự sống thiện, nhân quả, nghiệp báo…

Có thể nhìn ở góc độ “Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức” ta cũng có thể hình dung gần giống với Tháp Nhu cầu của Maslow, và nếu có Chánh kiến để thấy Vô Thường/ Khổ/ Vô ngã/ Không/ Duyên sinh… thì đã có thể “độ nhất thiết khổ ách” rồi vậy!

BS Đỗ Hồng Ngọc

Ảnh: Chân dung BS Đỗ Hồng Ngọc

May be an image of one or more people and people smiling

KHI BẢN NĂNG LÀM MẸ LÊN TIẾNG: BÒ MẸ ÔM NGƯỜI PHỤ NỮ VÔ GIA CƯ QUA ĐÊM ĐÔNG LẠNH BUỐT

Cung Bậc Của Những Cảm Xúc –  Kim Phan

Trong một đêm băng giá ở bang Iowa, một người phụ nữ vô gia cư lặng lẽ bước vào một chuồng trại bỏ trống, chỉ mong tìm được chút hơi ấm để sống sót qua cái lạnh nguy hiểm. Cô quấn mình trong chiếc chăn họa tiết bò và nằm xuống đống rơm khô, cố gắng tránh xa gió rét bên ngoài. Nhưng điều cô không ngờ tới… là sự xuất hiện của một bò mẹ hiền lành đang tiến lại gần.

Con bò vừa mới sinh con không lâu, và bằng bản năng thuần khiết của một người mẹ, nó cảm nhận được “sinh linh” bất động trong rơm. Nó nhẹ nhàng áp sát người phụ nữ, chia sẻ hơi ấm cơ thể, tạo nên một khoảng không an toàn giữa đêm đông buốt giá. Suốt cả đêm, người phụ nữ cuộn mình bên cạnh bò mẹ… được sưởi ấm và che chở theo cách không ai có thể tưởng tượng.

Khi bình minh lên, người nông dân phát hiện họ đang nằm yên bình cạnh nhau giữa rơm rạ, khung cảnh tĩnh lặng đến lạ. Một khoảnh khắc giản dị… nhưng đủ để nhắc chúng ta rằng lòng trắc ẩn có thể xuất hiện ở những nơi bất ngờ nhất. Dù là con người hay động vật, sự ấm áp và kết nối vẫn có thể thay đổi một đêm lạnh… và đôi khi, cả một cuộc đời.

#CTBCB

May be an image of text that says 'Ct CO thớ 0C IHE CHƯA BIET? ĐÊM BĂNG GIÁ Ở IOWA: BÒ ME NHẦM NGƯỜI VÔ VÕ GIA CƯ LÀ BÊ CON, NẰM CHE CHỞ SUỐT CẢ ĐÊM'


 

Vừa trải qua một tai nạn. Bài viết của Phùng Văn Phụng

 Bài viết của Phùng Văn Phụng

Tối thứ sáu đầu tháng, ngày 06 tháng 02 năm 2026, tôi đi dự lễ cầu nguyện cho hòa bình thế giới ở nhà thờ Ngôi Lời Nhập Thể, có chở cháu nội là Jayden đi sinh hoạt lớp Thêm sức 1. Thánh lễ ở nhà thờ kết thúc khoảng 8 giờ 10 tối, tôi cùng cháu nội ra xe để về nhà.

Tôi đang chạy trên đường Kirkwood từ hướng Nam lên hướng Bắc. Khi vừa chạy đến đường Carvel, có chiếc xe BMW, chạy từ đông sang tây, đụng thẳng vào bên mặt của chiếc xe Venza tôi đang chạy. Hai cánh cửa bên phải dẹp nát, hoàn toàn hư hại. Có lẽ trời tối, tài xế người Mễ không thấy xe phía trước đang chạy tới. Xe tôi bị hư hại nặng, phải bị “total loss”. Xe hư hại hoàn toàn, hảng bảo hiểm mang đi.

Tôi bị đau ngay cần cổ bên phải, tha dầu nóng, thường xuyên, mấy ngày nay mà không có kết quả gì và không biết có thương tích gì nặng không? Thầy Bạch và các bạn gọi hỏi thăm và nói là sẽ cầu nguyện cho.

Sáng thứ tư, ngày 11 tháng 2 năm 2026 đi chụp hình cần cổ, ở phòng mạch bác sĩ Vũ Giang, kết quả tốt. Mặc dầu đây là tai nạn lớn nhưng không có xảy ra thương tích gì trầm trọng, nguy hiểm đến tính mạng.

Tạ ơn Chúa

Cũng là tai nạn cũ.

Lần trước cách nay khoảng hơn 10 năm cũng bị đụng xe. Tôi đang chạy trên đường Beechnut, xe đang chạy bình thường, đến ngả tư Beechnut và Wilcrest đèn xanh bật lên. Xe tôi đang chạy, gặp đèn xanh nên tôi chạy luôn, không có ngó hai bên.  Trên đường Wilcrest cắt ngang Beechnut, bên trái tôi, có một cô gái khoảng 18, 20 tuổi vượt đèn đỏ, đụng vào đầu xe Camry của tôi, nên xe tôi bị xoay 90 độ, rồi có chiếc xe phía sau chạy tới, đụng vào hông xe bên phải của tôi, nên xe bị hư hại nặng, bị “total loss” (bị hảng kéo đi). Vì xe quay 90 độ, người tôi quay theo chiều kim đồng hồ, cũng 90 độ, nên tôi không có bị thương tích gì.

Thiên Chúa đã che chở tôi trong hai tai nạn lớn này.

Tạ ơn Chúa.

Ngày 11 tháng 2 năm 2026

(Ngày lễ Đức Mẹ Lộ Đức- Ngày thế giới bịnh nhân)

Mạng xh Úc đang lan tin về cậu bé Austin Appelbee anh hùng

Nguyễn Thị Bích Hậu

Mạng xh Úc đang lan tin về cậu bé Austin Appelbee anh hùng. Cậu mới mười ba tuổi, sống ở Tây Úc.  Gia đình cậu gồm 4 người là mẹ và 2 em cậu cùng Austin ra biển chèo thuyền kayak. Không may họ rơi vào vùng biển động. Sóng càng lúc càng cuốn thuyền ra xa.

Austin đã quyết định nhảy xuống biển sau khi cả nhà chới với trên thuyền.

Cậu kiên cường bơi trong vùng biển có sóng lớn để tìm cứu hộ. Vừa bơi cậu vừa cầu nguyện.

Gần 4 h sau cậu vào được bờ. Cậu  vùng chạy tiếp 2 km tới nơi cầu cứu.

Những người cứu hộ đã tìm thấy mẹ, em   trai 12 tuổi và em gái 8 tuổi của Austin. Họ bị cuốn xa 14 km, đói lả, chịu lạnh giá nhưng còn sống sót.

Austin là một anh hùng.

Cậu nói cậu kiên trì bơi và cầu nguyện Đức Chúa.

“Tôi chỉ nghĩ rằng ‘cứ tiếp tục bơi, cứ tiếp tục bơi,'” sau đó cậu bé tâm sự với các phóng viên.

Austin khiêm tốn nói: “Tôi không nghĩ rằng chính tôi là người làm điều đó – đó là Chúa đã làm suốt thời gian qua. ” Cậu đã cầu nguyện trong suốt cuộc thử thách và hứa sẽ chịu lễ rửa tội.

Một con người bé nhỏ, vào giây phút sinh tử đã giữ vững kiên trì và Đức Tin. Vì vậy, cậu đã vượt qua cõi chết và cứu sống 3 nhân mạng là ruột thịt của mình.

Thật đáng khâm phục.

Hình từ trang traci cotton.


 

Gởi Ai Đã Và Sắp Đến Tuổi Già

Chuyện tuổi Xế Chiều

Gởi Ai Đã Và Sắp Đến Tuổi Già

Bài viết của một tác giả không nhớ rõ tên, có một nội dung quá thâm thúy, dành cho những ai trong tuổi Cao Niên nếu muốn có một đời sống hạnh phúc trong những ngày còn lại trên trần gian này, trước khi thân xác trở về cát bụi thì nên suy luận những điều được nêu ra trong bài viết này.

Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, chúng ta lang thang trong khuôn viên trường đại học, vui cười vô tư và bây giờ đã hơn 40 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già !

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, chúng ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc vì qua một ngày, chúng ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, chúng ta vui một ngày. Vui một ngày… rồi không biết được bao nhiêu ngày nửa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xảy ra trong đời sống.

Hạnh phúc là những gì hiện đang ở chung quanh chúng ta, trong tầm tay chúng ta. Nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm: “Tri túc, đãi túc, tiện túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, tiện nhàn, hà thời nhàn”…

Tiền rất quan trọng trong đời sống của con người nhưng tiền không phải là tất cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền và cũng đừng lệ thuộc vào đồng tiền, mặc dù biết rằng nếu không có tiền thi làm sao chúng ta sống, làm sao để được thoải mái.

Ta vẫn biết khi ta ra đời, ta đâu có mang nó đến và khi ra đi, chúng ta cũng không mang nó theo. Đồng tiền có thể mua một lâu đài to lớn nhưng đồng tiền không mua được mái ấm gia đình. Đồng tiền giúp chúng ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.

Quãng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú.

Những gì cần ăn thì cứ ăn, cần mặc thì cứ mua sắm, muốn đi du lịch thì cứ đi. Tập cho mình có nhiều đam mê, tự tìm niềm vui cho chính mình.

Vào trong internet để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin hay, một chuyện vui, một bản nhạc, đọc những bài viết có giá trị, hay “chat” với người quen biết. Chúng ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt.

Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Rảnh rổi đi làm những việc từ thiện xã hội, giúp một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già

Hơn nửa đời, chúng ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẻ.

Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cữ thì không đủ chất bổ dưởng, quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…

Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh hoạt trong các hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gỡ bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nữa.

Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chổ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghĩ là: “Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nửa”. Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.

Ở tuổi hiện tại, chúng ta đừng nghĩ đến đồng tiền, đừng nghĩ đến giàu hay nghèo nữa và cũng đừng than trách hay hối hận vì những lầm lỗi trong quá khứ và cũng đừng tự hỏi là tại sao bây giờ ta không có nhiều tiền. Đừng nói ta không có tiền.

Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẫu của chúng ta.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì ta cần vì sẽ có lúc chúng ta để lại cho người khác xài. Nếu hôm nay ta còn khỏe mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.

Cuối tuần, hẹn nhau với người bạn đi câu cá, hưởng không khí trong lành của thiên nhiên và cũng để cho tâm tư lắng đọng, tinh thần thanh thản. Đó là những niềm vui trong cuộc sống của tuổi già.

Bài và ảnh sưu tầm


 

Những Ngày Cuối Đời Của Đại Tướng Cao Văn Viên (1921-2008) – Nhà văn Giao Chỉ

Hoang Le Thanh

Nhà văn Giao Chỉ

(tức cựu đại tá Vũ Văn Lộc)

(Tháng Giêng 2008)

Ai khanh ai tướng ai thầy thợ,

Cũng đều chung một số kiếp lưu vong! (NPN).

Bài viết của chúng tôi về đại tướng Cao văn Viên gồm có ba phần, ghi nhận vào ba thời gian khác nhau. Năm 2003, năm 2005 và năm 2008.

Mon General: (Tháng 10-2003)

Mùa Ðông năm nay, niên trưởng Cao Văn Viên sẽ trải qua những ngày băng giá khó khăn. Năm nay 82 tuổi, ông mới bị té ngã. Tưởng đã quỵ luôn, nhưng một lần nữa y khoa Hoa Kỳ đã đỡ vị Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của QLVNCH đứng lên để tập cho ông đi lại từng bước ngắn.

Chắc chắn là các bác sĩ và chuyên viên Mỹ đều không biết vị cao niên Á Châu này là người đã từng làm chức vụ gì ở Việt Nam. Bởi vì hàng ngày cũng không có nhiều người đến thăm ông. Sau trận té gẫy xương chậu, chân ông đã sưng thật to, nhưng mãi cả mấy tuần lễ sau ông mới có cơ hội chiếu điện và chữa trị chính thức. Trước đó ông tự soa lấy bằng dầu nóng và mùi Nhị Thiên Ðường thơm ngát cả căn phòng tại khu chung cư cao niên lầu hai của quận Fairfax miền Virginia. Ông đang cố gắng đứng lên tập đi trở lại trong một chương trình hồi phục để tránh phải ngồi xe lăn là điều mà tuổi già rất quản ngại.

30 năm trong quân ngũ, ông Cao Văn Viên chỉ sống với cấp trên và cấp dưới. Riêng cá nhân ông, gần như không có nhiều bằng hữu tương giao để chén tạc, chén thù. Gần 30 năm sống cuộc đời di tản, vị Ðại Tướng đứng đầu Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bây giờ cũng vẫn tiếp tục độc hành. Ông luôn luôn cố tránh liên hệ vào các tranh chấp chính trị ngay từ lúc còn trong quân đội cũng như trong hoàn cảnh di dân tỵ nạn hiện nay.Từ khi người vợ quán xuyến của ông qua đời, rồi đến người con trai duy nhất của ông cũng vắn số, ông Cao văn Viên đã trải qua những mùa đông cô độc ở Nữu Ước, hoàn toàn xa cách mọi người. Ông đi chợ nấu ăn lấy, đóng vai ông già Á Châu vô danh giữa chốn đô thị phồn hoa đông đảo nhất thế giới. Những năm gần đây ông dọn về ở luôn trong một căn hộ của khu chung cư ở miền Ðông Hoa Kỳ, bên cạnh Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn.

Nơi đây đa số là người già Ðại Hàn. Ông tiếp tục đi chợ và nấu ăn lấy. Cô con gái lớn trưởng thành của ông đã tốt nghiệp luật, đi dạy học, lập gia đình và làm việc ở nơi xa. Ðời sống đã không cho phép cha con được gần nhau và vị tướng già cũng đã quen sống như thế. Bây giờ thực ra ông cũng không có nhiều nhu cầu. Người già ở Hoa Kỳ lợi tức thấp hoặc không có lợi tức được lãnh bao nhiêu thì niên trưởng Viên của tôi cũng lãnh được bằng đó. Số tiền này đã dành trả hết cho gian phòng ông đang cư ngụ. Trung tá Tâm là một sĩ quan hiếm hoi trong số các thân hữu quân ngũ còn lại quanh ông. Vâng, chính cái anh Tâm đó đang tìm cách xin cho niên trưởng của anh vào một Nursing Home có người săn sóc ngày đêm. Ðó là nhu cầu thực tế và là một ước mơ nhỏ bé của một con người đã một thời mang hình ảnh lớn lao của quân đội chúng ta. Vào đầu thập niên 50, gặp nhau tại tiểu khu Hưng Yên, bên bờ sông Hồng Hà có 3 sĩ quan Việt Nam còn trẻ. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, quê Phan Rang miền Trung, lém lỉnh tinh ranh. Ðại úy Trần Thiện Khiêm quê miền Nam, ít nói, thâm trầm. Trung úy Cao Văn Viên, quê miền Bắc, cao lớn, trắng trẻo và đẹp trai nhất. Nếu coi đây là nhóm bạn đầu đời quân ngũ thì quả thực họ đã từng là chiến hữu. Và Trung úy Cao văn Viên lại là niên trưởng.

Ông Viên tuy người Bắc nhưng thực ra vì cha mẹ làm ăn bên Lào nên ông ra đời tại Vạn Tượng và Thủ Ðô Vientian là dấu ấn của thân phụ đặt tên cho con trai. Vào thời còn trẻ trung, các sĩ quan quốc gia bắt đầu trưởng thành trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp. Các ông quan một, quan hai còn đeo trên vai những gạch kim tuyến vàng chóe với tương lai mở rộng một đời binh nghiệp. Nhưng không ai có thể nghĩ rằng Trung úy Thiệu sẽ trở thành Tổng Thống. Ðại úy Khiêm trở thành Thủ Tướng và Trung úy Viên trở thành Ðại Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng. Ðó là chuyện sau này. Ðịnh mệnh quả nhiên đã có những ước hẹn với lịch sử. Cả ba người chiến binh Bắc Trung Nam, cùng thăng trầm với chiến tranh, với đất nước để cùng thăng tiến. Họ làm việc với nhau, họ chia nhau những chức vụ tối cao của quân đội và chính quyền. Cùng yểm trợ nhau, nhưng đồng thời cũng rất xa cách dù ở bên trong hay bên ngoài công vụ. Họ không còn ngồi với nhau những giây phút tửu hậu trà dư. Ông Viên đã nói rằng mối liên hệ của ông với Tổng Thống Thiệu hoàn toàn là công vụ. Các niên trưởng của tôi khi nói chuyện đều thưa gửi với nhau bằng chức vụ. Thưa Tổng Thống, Thủ Tướng, Ðại Tướng vân vân. Khách sáo vô cùng. Cái thời “toa moa” ngày xưa ở Secteur Hưng Yên bây giờ đã xa lắm rồi, chẳng ai còn nhớ nữa.

Với sĩ quan Cao Văn Viên, từ cấp Úy lên cấp Tá, ông luôn luôn là người cần mẫn và hòa nhã. Bước ngoặt của đời ông là cánh chim bằng nhảy dù trên ngực áo. Khi ông còn là Trung Tá tại Tham Mưu Biệt Bộ lúc đó ông Nguyễn Chánh Thi đang coi Liên đoàn Nhảy dù. Cả hai cùng là bạn cũ. Thi rủ Viên học nhảy dù để gột rửa bớt cái vẻ sĩ quan văn phòng. Nhảy thì nhảy. Trung tá Viên lấy bằng Dù và tiếp tục ngồi bên Tham Mưu Biệt Bộ thời kỳ ông Diệm còn đang tại chức. Ðảo chính xẩy ra, Ðại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Dù chạy qua Cam Bốt. Tổng thống Diệm vừa thoát nạn, ngó tới ngó lui thấy ông sĩ quan thân cận gần gũi có bằng cấp nhẩy dù bèn đưa qua nắm liên đoàn Mũ Ðỏ. Từ đó ông Cao Văn Viên bắt đầu làm tư lệnh và cuộc đời đi vào khúc quanh mới. Nhảy dù vốn là đơn vị ưu tú của quân đội, nhưng mũ đỏ đang bị thất sủng vì cú đảo chánh hụt. Giai đoạn này là lúc thử thách của cả vị tư lệnh lẫn các tiểu đoàn nhảy dù. Hai bên thăm dò lẫn nhau. Ông Viên trở thành một vị Ðại Tá tư lệnh hăng hái xông xáo từ kỹ thuật nhảy dù đến các chiến trường trên khắp bốn quân khu. Ông lấy bằng huấn luyện viên Dù và nhảy biểu diễn tự điều khiển cùng với các cố vấn Hoa Kỳ. Cuộc đảo chánh ông Diệm lần thứ hai mới là giai đoạn đặc biệt của Ðại tá Cao Văn Viên. Trong khi hầu hết các tư lệnh quân đội đều ngả theo cách mạng thì riêng mình ông từ chối. Ðó là hành động mà sau này ông cũng không chắc là một thái độ khôn ngoan.

Ông Viên thực sự cũng không muốn đóng vai anh hùng, nhưng chỉ muốn giữ tấm lòng chung thủy. Ðã có những người chống đảo chánh bị giết chết như vị Tư lệnh Hải quân, Tiểu đoàn trưởng Nhảy dù và sau này chính anh em Tổng thống Diệm cũng bị giết chết. Nếu viên Tư lệnh Nhảy dù không chịu theo cách mạng mà bị thanh toán thì cũng là chuyện có thể xảy ra. Nhưng chính bà vợ quán xuyến và can đảm đã lên tiếng khi ông chồng bị giam riêng một chỗ. Bà Viên đã quyết liệt can thiệp trực tiếp với tất cả các tướng lãnh đảo chánh mà ngày hôm trước vẫn còn là anh em thân hữu với gia đình ông. Cho đến sau này ông Viên vẫn còn ghi nhớ thái độ mạnh mẽ của người vợ đã cứu sống ông trong năm đảo chánh. Ông cũng không ngần ngại mà nói thẳng ra như thế. Sau khi cách mạng thành công, ngôi sao bản mệnh của ông lại trở nên rực rỡ. Phe thân hữu của Ðệ Nhất Cộng Hòa tuy đang bị thất thế nhưng vẫn kín đáo ca ngợi thái độ của vị Tư lệnh Nhảy dù. Ngay cả các tướng lãnh và sĩ quan phe cách mạng cũng đều vì nể thái độ của ông. Ông Cao Văn Viên gần như là người duy nhất không theo cách mạng nhưng vẫn được tiếp tục về chỉ huy nhảy dù.

Ðịnh mệnh vẫn tiếp tục chiều đãi. Ông tham dự hành quân Cao Lãnh miền Tây đạt chiến thắng và bị thương. Thêm vào chiến thương bội tinh với ngôi sao đỏ, ông lên Thiếu Tướng với hai sao lấp lánh trên cổ áo và nón đỏ vẫn đội trên đầu.Trong thời gian đảo chánh ông Diệm xảy ra, ông Cao Văn Viên đã không có những kỷ niệm tốt đẹp với tướng Dương Văn Minh. Mấy năm sau, vào giai đoạn chỉnh lý bắt các tướng cách mạng giam lỏng trên Ðà Lạt và cô lập Big Minh thì cũng toàn là lính Nhảy dù của ông Cao Văn Viên. Vì vậy lại thêm một kỷ niệm không đẹp giữa hai người.

Ðó cũng là lý do mà sau này ông nghĩ rằng không thể ngồi lại trong chính phủ Dương Văn Minh. Phải chăng đây cũng là một cái cớ chính thức để có thể ra đi vào đúng thời điểm cần thiết. Tuy nhiên, đó là câu chuyện 75. Trở lại với giai đoạn giữa thập niên 60, từ giã nhảy dù, tướng Viên về làm Tư lệnh Quân đoàn III và sau cùng lên chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Với chức vụ quan trọng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tướng Viên là người có vóc dáng đường bệ nên trong các cuộc thăm viếng đơn vị, hình ảnh của ông cạnh các tướng lãnh Hoa Kỳ đem lại niềm hãnh diện cho các binh đoàn. Lớn tuổi hơn các tướng lãnh cùng thời, nhưng ông có khuôn mặt trẻ trung và giữ được thân thể gọn gàng của một cựu huấn luyện viên thể dục lúc còn niên thiếu. Và mặc dù có dư luận chê trách, nhưng tướng Viên vẫn thực sự là người hiếu học ngay từ lúc còn làm Tư lệnh Quân đoàn III. Ông rất chịu những bài giảng về triết học bay bướm của thầy Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa đã một thời là Trung úy Quân nhu. Phần lớn các tư lệnh quân chủng và các quân đoàn đều kính nể vị Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng vốn từ bên Nhảy Dù đi lên. Ngay cả sau này khi các Tư lệnh Quân đoàn liên lạc thẳng với Tổng thống Thiệu những vẫn giữ lễ độ lịch sự với Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Viên có biệt nhãn với ngành Tiếp Vận vì ngày xưa ông đã từng là trưởng phòng 4 đầu tiên dưới thời quân đội quốc gia phôi thai năm 1954. Mặt khác, ông cũng giữ mối thiện cảm và theo dõi các hoạt động của binh chủng mũ đỏ mà ông luôn luôn hãnh diện đã góp phần trong binh nghiệp. Tướng Viên cũng được sự tin cậy và vị nể của các giới chức Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chính ông cũng tự nhận thấy chưa bao giờ nghĩ đến ngày có thể lên đến chức tước lớn lao như vậy. Ông luôn luôn mong được làm tròn nhiệm vụ, nhưng ông không phải là hàng tướng lãnh nóng nẩy ồn ào, lấy gậy chỉ huy đập vào đầu sĩ quan, hay la hét thuộc cấp tối ngày. Tướng Viên cảm nhận vai trò phối hợp của một vị Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân như bên Ngũ Giác Ðài Hoa Kỳ chứ không phải là Tổng Tư Lệnh ban hành các lệnh trực tiếp. Như ông đã giãi bày trong tác phẩm mới xuất bản, khi nhận thấy bị Tổng thống Thiệu qua mặt dành trực tiếp quyền điều hành bộ máy chiến tranh thì ông lặng lẽ lui vào vai trò tư vấn cho đến khi xin từ nhiệm.

Tháng 10-2003 khi dịch giả Nguyễn Kỳ Phong cho phát hành bản Việt ngữ tác phẩm của Ðại tướng Cao Văn Viên, phóng viên BBC Luân Ðôn có hỏi đi hỏi lại Kỳ Phong nhiều lần một câu hỏi. Ðó cũng là thắc mắc của rất nhiều thính giả và độc giả. Tại sao Ðại Tướng bị thất sủng, xin từ nhiệm lại không được chấp thuận. Dịch giả Kỳ Phong không thể thay mặt tác giả mà trả lời cho suôi câu hỏi phức tạp này. Quả thực đã có lúc ông Thiệu muốn tìm người thay ông Viên nhưng không phải là dễ dàng. Chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng phải lựa chọn trong các Tư lệnh Quân đoàn xuất sắc. Tướng Ngô Quang Trưởng với sự yểm trợ của phía Hoa Kỳ cũng không phải là người làm ông Thiệu an tâm. Tướng Ðỗ Cao Trí cũng đã được phía Hoa kỳ tiến cử trong danh sách nhưng ông Trí vừa nghe tin đã tuyên bố lăng nhăng nên đã làm ông Thiệu quản ngại và gạch tên ngay cả trước khi trực thăng của ông Trí lâm nạn.

Ðối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, việc thay thế tướng Cao Văn Viên chưa phải là nhu cầu cấp thiết. Ông Thiệu hoàn toàn yên tâm với một vị Tổng Tham Mưu Trưởng dứt khoát không chịu tham dự vào các cuộc đảo chánh chính trị. Ông không sợ ông Viên làm phản. Trước sau như một tướng Viên đã kiên định như thế. Thông thường ông Viên thân với tướng Kỳ hơn là gần gũi ông Thiệu. Nhưng không bao giờ ông Kỳ rủ được ông Viên tham gia đảo chánh ông Thiệu, ngay như vào giờ thứ 25 của thời điểm năm 75. Ông Thiệu và ông Viên, như trên đã viết ra, các niên trưởng của tôi sinh hoạt xa cách và khách sáo. Không có cái kiểu như thời kỳ còn ở Hưng Yên: “Này, Moi làm ở État Major lâu quá, thôi Toi kiếm thằng khác để Moi nghỉ một thời gian. Việc gì Toi cũng chơi thẳng với các Quân đoàn như thế thì còn cần Moi ở đây làm gì?” Không, các Xếp của tôi không ăn nói lăng nhăng như vậy. Ðại Tướng thưa rằng xin Tổng Thống cho tôi tạm nghỉ vì sức khỏe. Tổng Thống nói là xin Ðại Tướng vui lòng tiếp tục ở lại một thời gian. Bây giờ là lúc khó khăn, quân đội cần ổn định v.v… Và Ðại tướng Viên có lúc đã nhờ quân nhu tìm cho một số dụng cụ làm vườn để thực sự chuẩn bị vui thú điền viên, nhưng khi ông Thiệu nói như vậy đành chần chờ ở lại Bộ Tổng Tham Mưu cho qua ngày.

Cũng phải ghi lại là trong chức vụ cao cấp nhất của quân đội, tướng Viên đã có lần phác thảo kế hoạch tấn công ra Bắc và đó là một trong các phương cách tự vệ mãnh liệt nhất. Tuy nhiên chắc chắn rằng phía Hoa Kỳ hoàn toàn không yểm trợ và ông Thiệu không thể nào đơn phương quyết định được. Thêm vào đó, một trong các quyết định quan trọng nhất của tướng Cao Văn Viên là xử dụng tướng Ðồng Văn Khuyên từ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận lên Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Tiếp Vận rồi là Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Ông Khuyên đã không phụ lòng tin cậy của tướng Viên trong các chức vụ này và đặc biệt ông cũng được Hoa Kỳ hoàn toàn yểm trợ. Và chính guồng máy Tiếp Vận với viện trợ Mỹ là con bài tẩy của chiến tranh Việt Nam.

Trong phần ghi chú của tác giả Cao Văn Viên viết trong tác phẩm Việt ngữ mới phát hành, một đề nghị chiến lược tối mật quan trọng nhất cho chiến tranh Việt Nam là việc bỏ đất, triệt thoái do Tổng Cục Tiếp Vận, Tổng Tham Mưu soạn thảo. Hoàn toàn dựa vào bài toán quân viện, nghiên cứu khả năng thực sự giữ đất, giữ dân, Việt Nam Cộng Hòa muốn tồn tại thì phải thu về các vùng đồng bằng và duyên hải. Kế hoạch phải áp dụng ngay từ sau Hiệp Ðịnh Paris chứ không thể căng mỏng quân lực ra khắp nơi theo kiểu dành dân lấn đất và chôn chân các đơn vị Tổng Trừ Bị tại các tiền đồn. Ðại tướng Viên đã chỉ thị tướng Ðồng Văn Khuyên lên trình riêng Tổng Thống để rồi không hề nghe được bất cứ một chỉ dấu gì của ông Thiệu cho đến những ngày đau thương 30 tháng 4-1975.

Chuyến đi thăm: (Tháng 4-2005)

Ba mươi năm trôi qua như một giấc mộng dài. Tháng tư năm 2005 từ San Jose CA, chúng tôi lên thủ đô tổ chức họp mặt anh em chiến hữu trại Trần Hưng Ðạo. Ðây chính là tổng hành dinh của bộ Tổng tham Mưu ngày xưa. Ba mươi năm hội ngộ, gặp lại lần đầu nhưng ai cũng biết đây là lần cuối. Ðại tướng lấy lý do già yếu nên không đến được. Hội họp xong, tôi nhờ trung tá Tâm đưa đến thăm ông. Tháng tư là tháng không vui mà cảnh trí nơi ông ở trông thật là buồn. Tâm nói rằng, đại tướng rất đúng hẹn và rất nguyên tắc. Khi chúng tôi bước vào phòng khách của khu cao niên Á châu, “Mon General” đã đứng chờ sẵn, quần áo chỉnh tề. Hình ảnh của vị tướng lãnh cao lớn mang 4 sao, áo hoa dù, mũ đỏ không còn nữa.

Ðại tướng của tôi bây giờ là một cụ già tóc bạc lưng còng, vóc dáng nhỏ bé, chỉ còn lại cặp mắt long lanh, và tiếng nói dịu dàng. Chúng tôi ngồi xuống bên nhau nói chuyện không có chủ đề. Trung tá Tâm ngồi một bên luôn luôn để ý săn sóc cho ông cụ.

Bao nhiêu câu hỏi cần tìm hiểu vị niên trưởng mà tôi đã chuẩn bị bây giờ buông suôi hết. Nào là rút quân, nào là tử thủ, từ chuyện ông Thiệu đến chuyện ông Kỳ, chuyện Mỹ, chuyện Tàu. Trong cái buổi chiều buồn và ảm đạm đó, tôi chợt thấy tất cả đều trở nên vô nghĩa. Toàn quân, toàn dân, cấp trên cấp dưới, bây giờ không quá khứ, chẳng vị lai.

Lời người xưa còn vẳng bên tai. Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Tướng lãnh thua trận, không thể nói mạnh. Bây giờ là tháng tư, 30 năm sau ngồi đây mà đổ tội cho ai. Nhất tướng công thành, vạn cốt khô. Mà công thành, có thành công cho cam. Tôi không hỏi và ông cũng chẳng nói. Tôi đưa cả hai tay cho ông nắm thật chặt. Hình như có một lời ca từ 50 năm trước trong bài Tình Lính: Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay; Ông nắm thật chặt và Ông bắt đầu giảng cho tôi về Thiền Tông và Phật Pháp. Chẳng có thu thanh, thu hình phỏng vấn gì cả.

Đ/Tướng Cao văn Viên đi giữa hai thân hữu

Hai mươi năm chinh chiến điêu linh và ba mươi năm lưu lạc tù đầy của cả đạo quân nay bỏ qua một bên để ngồi bàn về đường đi của Phật. Trước khi chia tay, tôi ngỏ lời xin đại tướng một di vật cho viện Bảo tàng. Ông nói: Tôi có còn gì đâu. Bèn hỏi rằng hôm niên trưởng ra đi đem theo cái gì. Ông cho biết có cầm cái cặp. Bên trong có cuốn sách viết về đạo Phật. Tôi xin ông cuốn sách đó, có bút tự ghi dấu của đại tướng. Quay sang anh Tâm, tôi xin xác nhận, khi nào, … Chúng tôi ra xe, ông cụ đứng ngó theo… Giữa những người lính trẻ ngày xưa, cuộc ra đi nào cũng có thể là lần cuối.

Bây giờ chúng tôi là những người lính già, chắc chắn phải hẹn nhau gặp lại ở nơi khác.

Lần cuối. (Tháng Giêng 2008)

Giây phút … khi nào … đã đến. Ðại tướng Cao văn Viên ra đi ngày 22 tháng 1 năm 2008 tại Fairfax, VA. cũng không xa nơi ông cư ngụ những ngày sau cùng. Gia đình tuy đơn chiếc nhưng chiến hữu rất đông đảo.

Những vị niên trưởng lừng lẫy của tôi, quý vị do thời thế tạo nên. Lúc còn trẻ tôi có thể đã kỳ vọng và trách cứ quý vị rất nhiều, nhưng bây giờ cấp dưới chúng tôi cũng già rồi, tôi đã suy nghĩ khác đi nhiều. Quả thực chúng ta không thay đổi được định mệnh và không vượt qua được thời thế. Tôi cũng đã từng là anh Thiếu Úy trẻ Bắc kỳ của mùa thu 54, bây giờ cũng đã cao niên như mọi người. Tôi bao dung với chính tấm thân già của mình.

Nhìn cuộc đời nhẹ nhàng hơn và tôi thông cảm với niên trưởng Cao Văn Viên. Tôi vẫn hình dung những buổi chào cờ đầu năm ở Bộ Tổng Tham Mưu. Lá cờ sao của Ðại Tướng Tổng Tư Lệnh bay trên nhà lầu chính. Tướng Cao Văn Viên đội mũ đỏ, áo hoa dù đứng giữa hàng quân để đọc nhật lệnh tại Vũ Ðình Trường Tổng Tham Mưu mênh mông. Hàng chục ông tướng xếp hàng ngang. Trên 50 cấp Ðại Tá xếp hàng dọc. Các sĩ quan, HSQ và binh sĩ của các phòng sở với đủ mọi loại quân phục Liên Quân. Bên trái là đoàn xe với quân cảnh hộ tống thật uy nghi lẫm liệt. Phía xa là trực thăng riêng đậu chờ sẵn.

Cách đó thật xa hơn nữa về cả không gian lẫn thời gian là hình ảnh Trung úy Cao Văn Viên trẻ trung của Secteur Hưng Yên trên chiến trường Bắc Việt. Rồi đến những ngày qua khi niên trưởng Cao Văn Viên sống một mình từ Nữu Ước đến DC. Ông chậm chạp đi bộ từ chợ về nhà, leo lên lầu hai của căn phòng nhỏ, tự mình chuẩn bị bữa ăn. Sáng nay ông ăn món gì? Bánh mì trứng hay trứng bánh mì? Ông có uống sữa hay không? Ông còn nhớ gì đến chuyện di tản ở miền Bắc 54.

Chuyện di tản ở miền Nam 75. Trung úy Thiệu ngày xưa nay đã đi xa rồi, Ðại úy Khiêm ngày xưa vẫn im lìm như thuở nào. Và Trung úy Viên ngày xưa mãi mãi vẫn cô đơn. Tuổi trẻ và danh vọng rồi cũng qua đi. Ai rồi cũng chỉ còn lại một mình. Khi ra đi lần cuối cũng chỉ có một mình. Tất cả quý niên trưởng và chúng tôi ai cũng muốn sống lại cái thời đeo lon cấp Úy của tuổi hoa niên. Phải mà được làm lại từ đầu thì chúng ta sẽ làm biết bao nhiêu điều tử tế hơn, đẹp đẽ hơn, cho bản thân, cho chiến hữu và cho đất nước.“ Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y. Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Tám mươi năm, kiếp người như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên”.

Giao Chỉ – San Jose.


 

Giáo Sư Đoàn Khoách, nguyên phụ tá khoa trưởng Đại Học Sư Phạm Huế, qua đời

Ba’o Nguoi-Viet

January 29, 2026

SAN DIEGO, California (NV) – Giáo Sư Đoàn Khoách, tốt nghiệp thủ khoa Viện Hán Học Huế, từng làm giảng viên, trưởng ban Việt Hán, và là cựu phụ tá khoa trưởng Đại Học Sư Phạm Huế, vừa qua đời ở San Diego hôm 25 Tháng Giêng, hưởng thọ 96 tuổi, theo cáo phó của gia đình cho biết.

Giáo Sư Đoàn Khoách sinh năm 1930 tại Dương Nỗ, Phú Vang, Thừa Thiên.

Giáo Sư Đoàn Khoách. (Hình: Lấy từ cáo phó của gia đình)

Ngoài những thông tin nêu trên, theo tác giả Ngô Văn Ban trong bài viết “Tưởng nhớ Thầy Đoàn Khoách” đăng trên trang web namkyluctinh.org, Giáo Sư Đoàn Khoách từng là trợ lý nghiên cứu viên tại Tân Á Nghiên Cứu Sở thuộc Đại Học Trung Văn (Hồng Kông), là giám khảo chính cho International Baccalaureate Organization ở St. Mellons (Anh), và là giảng viên Việt Việt Học (Westminster).

Ông đến Hoa Kỳ năm 1989, và cư ngụ tại San Diego.

Ông từng có bài viết đăng trong các tạp chí Đại Học, Văn Học, Văn Lang, Tiếng Sông Hương, Đất Lành, Nhớ Huế, Dòng Việt, …

Các tác phẩm của ông đã phát hành là Nguyễn Trãi Dữ Kỳ Ức Trai Thi Tập (Hồng Kông, 1965), Văn Tịch Chí (Huế, 1970), Thư Mục Nguyễn Trãi (Sài Gòn, 1979), Thư Mục Nguyễn Đình Chiểu (Sài Gòn, 1981), Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập (Long An và Bến Tre 1982, hợp soạn), Sảng Đình Thi Tập (San Diego, 2002), Nhàn Trung Tùy Bút (San Diego, 2007, hợp soạn), Tiên Hoa Lục Khảo Chú (SEACAEF, 2008), và Mạnh Nghị Tuyển Tập (Viện Việt Học, Westminster, 2011).

Tang lễ vị giáo sư quá cố sẽ được tổ chức trong hai ngày 5 và 6 Tháng Hai, tại nhà quàn Peek Family, Westminster, theo cáo phó. (Đ.D.)


 

Quyết định từ chối của bà (Tiến sĩ Frances Kelsey) đã cứu sống hàng nghìn người.

My Lan Pham

 Bà vừa nhận việc thì một hãng dược lớn đòi phê duyệt “thuốc bom tấn”.

Quyết định từ chối của bà đã cứu sống hàng nghìn người.

Tháng 9 năm 1960. Washington, D.C.

Tiến sĩ Frances Kelsey bước vào Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) trong ngày làm việc đầu tiên. Khi đó bà 46 tuổi, là một nhà dược lý học có bằng bác sĩ y khoa, và là một trong số rất ít phụ nữ làm việc trong lĩnh vực quản lý dược phẩm liên bang.

Cấp trên giao cho bà một hồ sơ tưởng chừng rất bình thường.

Một công ty dược mang tên Richardson-Merrell đang xin phép lưu hành một loại thuốc an thần mới có tên Kevadon. Hoạt chất của nó là thalidomide ,loại thuốc khi đó đã gây “cơn sốt” tại châu Âu và Canada. Các bác sĩ kê đơn rộng rãi để điều trị lo âu, mất ngủ, đặc biệt là ốm nghén ở phụ nữ mang thai. Thuốc được cho là an toàn đến mức ở một số quốc gia, người dân có thể mua không cần toa bác sĩ.

Công ty dự báo doanh thu khổng lồ tại Mỹ. Họ muốn thuốc có mặt trên kệ hiệu thuốc trước Giáng sinh. Họ tin rằng quá trình phê duyệt chỉ mất vài tuần, thậm chí vài ngày.

Họ không hề biết mình đang đối mặt với ai.

Tiến sĩ Kelsey bắt đầu xem xét hồ sơ. Bà cảm thấy có điều gì đó không ổn. Các nghiên cứu an toàn quá sơ sài. Dữ liệu về cách thuốc được chuyển hóa trong cơ thể rất mơ hồ. Đáng lo ngại nhất, gần như không có thông tin nào về tác động của thuốc đối với phụ nữ mang thai ,dù đây lại là nhóm đối tượng sử dụng chính.

Bà gửi trả hồ sơ với một dòng ngắn gọn:

“Dữ liệu không đầy đủ. Từ chối phê duyệt.”

Richardson-Merrell choáng váng. Đây không phải cách mọi thứ vẫn diễn ra. Thuốc đã được phê duyệt ở hàng chục quốc gia. Doanh thu đã lên đến hàng triệu USD. Vậy mà một viên chức FDA ,lại còn là phụ nữ ,dám chặn đường họ chỉ vì những “chi tiết giấy tờ”.

Công ty lập tức mở một chiến dịch gây áp lực dữ dội ,đủ sức khiến hầu hết mọi người phải khuất phục.

Lãnh đạo công ty gọi điện cho cấp trên của bà, yêu cầu đảo ngược quyết định. Họ đích thân đến văn phòng, dùng dáng vẻ và quyền lực để đe dọa. Họ gọi bà là “quan chức tiểu tiết”, “bới lông tìm vết” vì những điều vô nghĩa. Họ nói bà thiếu kinh nghiệm, cứng nhắc, và đang gây hại cho bệnh nhân khi giữ lại một loại thuốc có lợi.

Các tạp chí chuyên ngành cũng nhập cuộc. Báo chí ngành dược công khai nghi ngờ năng lực chuyên môn của bà. Công ty ám chỉ rằng bà đang “say quyền lực”, lạm dụng thẩm quyền mới có.

Hãy thử đặt mình vào vị trí của bà: mới đi làm, giữa một môi trường gần như toàn đàn ông trong thời kỳ phụ nữ làm khoa học thường xuyên bị xem nhẹ. Không mạng lưới hỗ trợ. Không tiền lệ. Cả ngành công nghiệp dược nói rằng bà sai. Chỉ cần ký giấy là xong. Chỉ cần tự nhủ: “Thuốc đã được phê duyệt khắp nơi rồi, chắc chắn là an toàn.”

Nhưng Frances Kelsey có một thứ không thể bị bắt nạt hay thương lượng: liêm chính khoa học.

Bà yêu cầu bổ sung nghiên cứu. Khi công ty gửi dữ liệu không đạt yêu cầu, bà lại từ chối. Hết lần này đến lần khác. Bà đặt thêm câu hỏi về các báo cáo tổn thương thần kinh ở bệnh nhân Anh sử dụng thuốc lâu dài. Bà chỉ ra những điểm mâu thuẫn trong nghiên cứu. Bà kéo dài quy trình suốt 11 tháng căng thẳng, bất chấp những lời đe dọa và công kích.

Rồi tháng 11 năm 1961.

Những báo cáo đầu tiên xuất hiện từ Đức. Các bác sĩ nhận ra một mô hình kinh hoàng: trẻ sơ sinh chào đời với phocomelia ,một dị tật bẩm sinh hiếm và cực kỳ nghiêm trọng. Tay chân của các em bị teo ngắn hoặc không hình thành. Có trẻ tay chỉ dừng lại ở vai với bàn tay nhỏ như vây cá. Chân còi cọc hoặc biến mất hoàn toàn. Nhiều em còn bị tổn thương nội tạng nặng.

Con số nạn nhân tăng vọt. Và rồi mối liên hệ được xác nhận: mẹ của các em đã dùng thalidomide khi mang thai.

Sự thật lan khắp châu Âu và Australia như một cơn ác mộng. Hơn 10.000 trẻ em bị ảnh hưởng. Một nửa không sống sót qua những năm đầu đời. Những em còn sống phải đối mặt với tàn tật suốt đời. Hình ảnh những cơ thể non nớt khiếm khuyết khiến cả thế giới bàng hoàng.

Ngành dược chấn động. Các chính phủ vội vàng thu hồi thuốc. Kiện tụng bùng nổ. Sự nghiệp của nhiều người chấm dứt. Nhưng thiệt hại thì không thể đảo ngược. Cả một thế hệ gia đình bị hủy hoại.

Tại Mỹ, thảm kịch này hầu như không xảy ra.

Chỉ có một vài trường hợp do các mẫu thuốc mà công ty phát cho bác sĩ trong thời gian chờ phê duyệt. Nhưng thảm họa trên diện rộng từng tàn phá châu Âu? Nó đã không bao giờ diễn ra tại Hoa Kỳ.

Chỉ vì một người phụ nữ ngồi sau bàn làm việc đã từ chối bị khuất phục.

Năm 1962, Tổng thống John F. Kennedy mời Tiến sĩ Kelsey đến Nhà Trắng và trao cho bà Huân chương Dịch vụ Dân sự Liên bang Xuất sắc ,một trong những phần thưởng cao quý nhất dành cho công chức Mỹ. Bà là người phụ nữ thứ hai từng nhận được vinh dự này.

Nhưng với Frances Kelsey, phần thưởng lớn nhất không phải là huy chương hay sự tôn vinh. Đó là việc bà biết rằng, ở đâu đó trên nước Mỹ, hàng nghìn đứa trẻ đang chạy nhảy, vui chơi, sống trọn vẹn, mà không hề hay biết họ đã từng ở rất gần một số phận hoàn toàn khác.

Câu chuyện của bà cho thấy một điều sâu sắc về chủ nghĩa anh hùng. Nó không phải lúc nào cũng kịch tính. Đôi khi, nó rất lặng lẽ. Đôi khi, đó chỉ là ngồi trước một tập hồ sơ, nhìn vào dữ liệu chưa đầy đủ, và có đủ dũng khí đạo đức để nói “không” khi mọi người đều đang hét “có”.

Đôi khi, anh hùng là người bị cho là khó tính, cố chấp, quá thận trọng.

Đôi khi, anh hùng là người tin vào chuyên môn, trực giác và trách nhiệm với những con người mình sẽ không bao giờ gặp, hơn là tin vào những tiếng nói quyền lực đang đòi hỏi sự tuân phục.

Tiến sĩ Frances Kelsey làm việc tại FDA cho đến năm 90 tuổi. Bà dành cả sự nghiệp để bảo vệ những con người không hề biết tên bà. Và mọi đứa trẻ sinh ra khỏe mạnh tại Mỹ sau năm 1960 đều mang ơn bà ,một món nợ mà họ sẽ không bao giờ có thể hiểu hết.

Bà không chặn một viên đạn.

Bà chặn một cây bút khỏi ký vào một tờ giấy.

Và điều đó đã thay đổi tất cả.

Theo curiously Unusual Wonders

My Lan Phạm


 

Bắn chết người gần Little Saigon, trốn về Việt Nam, nghi can gốc Việt bị giải về Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

January 26, 2026

ORANGE COUNTY, California (NV) – Lê Việt Quốc Bảo, 21 tuổi, bị tình nghi bắn hai thiếu niên ở Stanton, California, làm một người chết và một bị thương nặng, sau đó trốn về Việt Nam, rồi bị bắt và bị giải giao về Mỹ hôm 21 Tháng Giêng, theo Văn Phòng Biện Lý Orange County (OCDA) cho biết hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng.

Nghi can đang bị giam tại nhà tù Orange County và sẽ bị truy tố tội giết người và âm mưu giết người.

Nghi can Lê Việt Quốc Bảo. (Hình: OCDA)

Ngoài ra, còn có hai nghi can gốc Việt khác trong án mạng này là Danny Huỳnh và Troy Quang Lư cũng bị giam ở nhà tù quận hạt.

Theo OCDA, nghi can Lê Việt Quốc Bảo bị tố cáo là một trong năm đồng phạm và là một trong hai người nổ súng bắn chết em Samuel Vidal, 15 tuổi, cư dân San Bernardino, vào ngày 5 Tháng Bảy, 2025.

Sự việc xảy ra vào khoảng 2 giờ trưa ở khu nhà có dãy số 11000 đường Court, giữa đường Beach với trường trung học Rancho Alamitos High School.

Bốn ngày sau, nghi can gốc Việt trốn về Việt Nam, FBI được xác nhận với sự trợ giúp của cơ quan điều tra phía Việt Nam.

Bắt đầu từ Tháng Mười, 2025, FBI, cùng với sự trợ giúp của Sở Cảnh Sát Orange County và đơn vị điều tra tội phạm của Biện Lý Cuộc Orange County, bắt đầu cuộc truy lùng quốc tế đối với nghi can Lê Việt Quốc Bảo.

Theo yêu cầu của FBI, an ninh Việt Nam bắt Lê Việt Quốc Bảo, rồi Bộ Công An phối hợp với Bộ Ngoại Giao Việt Nam tiến hành giải giao nghi can về Mỹ.

Ngày 21 Tháng Giêng, nghi can Lê Việt Quốc Bảo được đưa lên máy bay về Mỹ và đưa vào nhà tù Orange County qua sự phối hợp của nhiều cơ quan liên bang và địa phương.

Nghi can Ali Ibrahim Alsouqi. (Hình: OCDA)

Hai nghi can gốc Việt khác – Danny Huỳnh, 24 tuổi, bị tố cáo là người nổ súng, và Troy Quang Lư, 21 tuổi, bị tố cáo là người lái xe cùng đồng bạn bỏ trốn lúc xảy ra sự việc – cũng bị truy tố nhiều tội hình, bao gồm giết người và có ý định giết người, và đang bị giam tại nhà tù Orange County.

Còn nghi can thứ tư, Ali Ibrahim Alsouqi, đang trốn ở Jordan, OCDA tin là như vậy. 

Nghi can thứ năm chưa được xác định, vẫn theo OCDA. 

Theo thông cáo, vào ngày 5 Tháng Bảy, 2025, Ali Ibrahim Alsouqi dàn xếp cho bốn người khác đến nhà anh ở Garden Grove, nơi họ lên kế hoạch bắn các thành viên băng đảng đối thủ.

Hôm đó, nghi can Lê Việt Quốc Bảo gặp Danny Huỳnh, Troy Quang Lư, và một người chưa được xác định tại nhà nghi can Alsouqi.

Tất cả năm người sau đó lên chiếc Mercedes Benz màu đen của Troy Quang Lư. Chủ xe sau đó che bảng số xe trước khi lái đến Stanton để thực hiện kế hoạch.

Khoảng 2 giờ chiều, Vidal và người bạn 13 tuổi đụng độ những thanh niên che mặt trên chiếc Mercedez ở đường Court. Danny Huỳnh bước ra khỏi xe, bắt đầu nổ súng vào hai thiếu niên.

Lê Việt Quốc Bảo, lúc đó ngồi phía trước, bên cạnh người lái xe Troy Quang Lư, nổ súng ra.

Nạn nhân Vidal bị bắn năm phát, thủng tim, phổi, gan, và tụy, chết tại chỗ.

Thiếu niên 13 tuổi bị bắn vào ngực, nhưng sống sót.

Vài giờ sau, Troy Quang Lư bị bắt.

Đoạn đường ở Stanton, nơi xảy ra án mạng. (Hình: Google Maps)

Các nhà điều tra xác nhận Danny Huỳnh, Lê Việt Quốc Bảo, Ali Ibrahim Alsouqi, và một người chưa xác định là những người ngồi trong xe cùng với Troy Quang Lư.

Nếu bị kết tội, nghi can Lê Việt Quốc Bảo có thể bị tối đa từ 50 năm tù tới chung thân vì đồng lõa với bốn người khác trong án mạng ngày 5 Tháng Bảy, 2025, giết chết Samuel Vidal, và làm bị thương nặng thiếu niên 13 tuổi, bạn của nạn nhân.

Troy Quang Lư có thể bị tối đa từ 25 năm tù tới chung thân và Danny Huỳnh có thể bị tối đa từ 50 năm tù tới chung thân.

Nghi can Alsouqi bị truy tố một tội âm mưu giết người và có thể bị tối đa từ 25 năm tù tới chung thân, nếu bị kết tội.

Stanton có khoảng 40,000 cư dân, tọa lạc sát phía Bắc Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại.

Thành phố từng có một nghị viên gốc Việt đầu tiên và duy nhất vào năm 2019. (Đ.D.)


 

Việt kiều Mỹ đòi lại nhà ở Sài Gòn: Bị ‘đánh úp’ trước ngày cưỡng chế

Ba’o Nguoi-Viet

January 21, 2026

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Sau 17 năm đi kiện đòi lại căn nhà mặt tiền ở Sài Gòn nhờ một người bạn đứng tên, khi chuẩn bị được nhận lại nhà, ông Việt kiều Mỹ bất ngờ bị “đánh úp” vào phút chót.

Theo báo VnExpress hôm 21 Tháng Giêng, Viện Kiểm Sát Tối Cao vừa chấp nhận đề nghị của bà Huỳnh Thị Minh Thư và ra quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm của Tòa Án TP.HCM về việc tuyên buộc bà Lê Thị Vựng và các con (trong đó có bà Thư) giao trả lại căn biệt thự số 10A Cửu Long, phường 2, quận Tân Bình, nay là phường Tân Sơn Hòa, cho ông Huỳnh Larry Hưng, còn gọi là Huỳnh Hưng Lợi, 74 tuổi, Việt kiều Mỹ.

Ông Huỳnh Larry Hưng đứng trước căn biệt thự mua 20 năm trước, chờ cơ quan thi hành án cưỡng chế bàn giao cho mình, nhưng bất ngờ buổi làm việc bị tạm hoãn. (Hình: Hải Duyên/VnExpress)

Viện Kiểm Sát Tối Cao đề nghị Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Tối Cao hủy bản án của Tòa Án TP.HCM, giao hồ sơ cho Tòa Án Khu Vực 4 thụ lý xét xử lại.

Trong kháng nghị lần này, Viện Kiểm Sát Tối Cao tiếp tục xác định “tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hưng, buộc bị đơn phải giao trả nhà là có căn cứ,” song quá trình giải quyết vụ án “có vi phạm tố tụng.”

Cụ thể, “tòa án các cấp không đưa Ủy Ban Nhân Dân có thẩm quyền tham gia tố tụng về tranh chấp đất được công nhận chủ quyền; không xem xét yêu cầu của bị đơn về việc “tính công sức, bảo quản gìn giữ tài sản…”

“Tòa chưa làm rõ diện tích đất khuôn viên có nhiều thay đổi qua các thời kỳ, dẫn đến phán quyết thiếu cơ sở và khó thi hành án,” kháng nghị nêu.

Đây là lần thứ ba vụ án bị kháng nghị “đúng vào phút chót” khi Cơ Quan Thi Hành Án TP.HCM chuẩn bị cưỡng chế để bàn giao cho ông Huỳnh Larry Hưng căn biệt thự ước trị giá gần trăm tỷ đồng.

Như vậy, vụ án ông Hưng 17 năm mòn mỏi đòi nhà nhờ bạn thân đứng tên với sáu bản án sơ thẩm, phúc thẩm và hai quyết định giám đốc thẩm, có nguy cơ quay về vạch xuất phát, mặc cho các bản án trước đó đều xác định ông Hưng là chủ sở hữu hợp pháp căn nhà và buộc bà Vựng, vợ của người đứng tên giúp (người này hiện đã chết) và các con phải trả lại.

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, hồi năm 1995, khi còn đang định cư Mỹ, ông Hưng bỏ tiền mua căn nhà trên rồi nhờ một người bạn đứng tên và trông coi giùm. Đến khi ông trở về Việt Nam, muốn lấy lại nhà thì vợ của người bạn này (bà Vựng) từ chối trả nhà, thời điểm đó bạn ông đã qua đời.

Năm 2009, ông Hưng bắt đầu hành trình gian nan đi kiện để đòi nhà.

“Nhà đất này được mua bằng tiền mà tôi tích lũy được sau những năm tháng lao động chân tay với đủ nghề nơi xứ người, chỉ mong có được chốn an cư khi trở về Việt Nam dưỡng già. Tuy nhiên, gần 20 năm qua, tôi phải đi ở nhờ để theo đuổi vụ kiện đòi lại nhà mình. Nay đã 74 tuổi, sức yếu, tôi không biết còn sống được bao lâu, chỉ mong lúc nhắm mắt xuôi tay được ở trong căn nhà của mình,” ông Hưng nói.

Ông Hưng cũng cho hay, trong suốt quá trình giải quyết vụ án qua nhiều lần xét xử, bà Vựng và gia đình không đưa ra yêu cầu cụ thể nào về công sức đối với tài sản đứng tên giúp.

Hồi năm 2024, phán quyết của Tòa Án TP.HCM tuyên, tài sản thi hành án là toàn bộ căn nhà và đất tọa lạc tại 10A Cửu Long, nằm trên khu đất rộng 466.61 mét vuông. Tuy vậy, kết quả xác minh thực tế thì căn nhà và đất nêu trên rộng đến 716.6 mét vuông.

Quá trình giải quyết vụ án, gia đình bà Vựng không hợp tác cho tòa án vào đo vẽ, nên tòa phải sử dụng các bản vẽ do gia đình bà Vựng đã đo vẽ được kiểm tra nội nghiệp để giải quyết vụ án.

Ông Huỳnh Larry Hưng mất 17 năm đi kiện đòi nhà. (Hình: An Bình/Pháp Luật TP.HCM)

Hôm 18 Tháng Mười Hai, 2025, Cơ Quan Thi Hành Án Dân Sự TP.HCM đã lên kế hoạch cưỡng chế bàn giao căn nhà cho ông Hưng, song phải dừng vào phút chót để “xem xét yêu cầu kháng nghị của người liên quan.”

“Tôi kiệt sức vì phải theo đuổi vụ án suốt 17 năm qua. Nếu Tòa Án Tối Cao chấp nhận kháng nghị lần này, tôi có thể không chờ được đến ngày nhận lại ngôi nhà của mình nữa,” ông Hưng ngao ngán nói. (Tr.N) [kn]