Cô gái Úc gốc Việt thay đổi cả thế giới bằng công nghệ

Cô gái Úc gốc Việt thay đổi cả thế giới bằng công nghệ

Chỉ mới 16 tuổi, Tan Le đã được nhận vào Đại học Monash, rồi tốt nghiệp loại ưu chỉ trong vòng 3 năm ở cả hai ngành Luật và Thương mại.

Năm 1998, lần đầu tiên tại Úc, một nữ sinh viên gốc Việt 18 tuổi đã đạt danh hiệu “The Young Australian of the Year”, giải thưởng thường niên dành cho một cá nhân ưu tú dưới 30 tuổi có ảnh hưởng nhất trong xã hội.

Cô gái ấy tên là Lê Thị Thái Tần (Tan Le), vị Chủ tịch trẻ nhất của Trung tâm Dịch vụ Nhân lực Việt – Úc. Ở tuổi 15, Tần đã lãnh đạo nhiều nhóm thiện nguyện giúp đỡ hàng trăm dân nhập cư tìm việc và ổn định cuộc sống trên đất Úc.

Dù bận rộn với cộng đồng, nhưng cô vẫn hoàn thành xuất sắc chương trình trung học ngay từ tuổi 16, vào thẳng Đại học Monash, giành học bổng toàn phần của KPMG để học 2 ngành Luật và Thương mại.

Đến tuổi đôi mươi, sự nghiệp của Tần đã vững vàng khi cô là một luật sư của hãng luật hàng đầu thế giới FreeHills, vừa đảm nhận nhiều chức vụ trong Chính phủ Úc và liên tục được mời làm đại sứ của nhiều chuyến đi ngoại giao.

Song, kỳ lạ là 12 năm sau, cả thế giới lại dồn sự chú ý cả vào Tần như ngôi sao khởi nghiệp sáng nhất tại Thung lũng Sillicon, Mỹ.

Từ năm 2003, cô đồng sáng lập Emotiv System cùng Ðỗ Hoài Nam, với ý tưởng dùng ý nghĩ và cảm xúc để điều khiển thiết bị điện tử. Đến năm 2010, ý tưởng đó thành hiện thực với chiếc mũ đọc sóng não EPOC của Emotiv System gây sốt toàn cầu, thu về hơn 10 triệu USD.

EPOC hiện được ứng dụng rộng khắp các lĩnh vực như trò chơi điện tử, nghiên cứu khoa học và điều trị bệnh liên quan đến não bộ.

Khát khao được công nhận

Rời Việt Nam từ khi 4 tuổi, Tần cùng gia đình đến Úc bắt đầu cuộc sống mới hệt như nhiều dân nhập cư khác: nghèo khổ và túng thiếu. “Chúng tôi thường mang hai đôi tất. Chủ yếu là chiếc này để bịt lỗ thủng của chiếc kia,” Tần hồi tưởng. Nhưng đói khổ không ám ảnh cô bằng sự ghẻ lạnh của bạn bè cùng lớp. Tần từng chờ đợi giờ học trôi qua nhanh để trốn vào thư viện một mình. “Con bé gầy rộc đi vì nỗi sợ đó,” mẹ Tần nhớ lại.

Hoàn cảnh đó lại nảy sinh trong Tần hai phản ứng thú vị. Một mặt, cô tự nhủ “ta sẽ vượt qua tất cả các người” bằng cách ép mình học. Kết quả là cô học xuất sắc đến mức kết thúc sớm chương trình học hơn so bạn đồng lứa. Chỉ mới 16 tuổi, cô đã được nhận vào Đại học Monash, rồi tốt nghiệp loại ưu chỉ trong vòng 3 năm ở cả hai ngành Luật và Thương mại.

Mặt khác, “Tần quan tâm đặc biệt về tác động của cộng đồng lên mỗi cá nhân,” thầy giáo tiếng Anh Ruth Willis nhận xét. Chính môi trường cô lập ấy đã vô tình nung nấu trong Tần khát vọng kết nối cộng đồng. Cô hạ quyết tâm “thay đổi nước Úc thành một nơi tốt đẹp hơn để sống và làm việc”.

Kể từ lớp 9 (15 tuổi), Tần không còn trốn trong thư viện nữa mà nhiệt tình bước ra giúp đỡ cộng đồng nhập cư tại vùng Footscray (phía tây Melbourne).  Trong vòng 4 năm sau đó, Tần đã được bầu làm Chủ tịch Cộng đồng người Việt tại vùng Footscray và Trung tâm Dịch vụ Nhân lực Việt – Úc, chuyên hỗ trợ dân nhập cư tìm việc và ổn định cuộc sống trên đất khách.

Sau 15 năm, xứ người mà Tần tìm mọi cách hòa nhập ấy cuối cùng đã đón nhận cô. Chính người dân Úc đã bầu cô là gương mặt trẻ tiêu biểu nhất của quốc gia họ vào năm 1987. Cuộc đời và cống hiến của cô gái Việt trở thành phim tư liệu lưu ở Bảo tàng Úc cho thế hệ trẻ noi theo. Riêng cô đã nhận ra rằng, “à một kẻ không được thừa nhận vẫn ổn. Thậm chí tôi xem đó là một món quà. Là kẻ được thừa nhận, bạn dễ dàng chấp nhận thành kiến bao quanh. Riêng tôi lại bị đẩy ra, nhưng đối mặt với chúng không chút sợ hãi”.

“Đứa con” Emotiv System

Qua những chuyến công tác xã hội và hoạt động ngoại giao ở nhiều nước, Tần  gặp gỡ nhiều người sống theo đam mê hơn vì mưu sinh. Nghề luật sư không còn là mảnh ghép khớp với lựa chọn của cô gái đa tài này nữa.

Năm 2003, cô táo bạo rời Úc đến Thung lũng Silicon, Mỹ cùng 3 người bạn mở ra công ty Emotiv System. Tần tin công nghệ là cách nhanh nhất để thay đổi cả thế giới. Emotiv System ấp ủ ý định cho ra đời những thiết bị điều khiển mọi thứ bằng suy nghĩ và cảm xúc của con người.

Đội ngũ Emotiv System mất 7 năm trời nghiên cứu sản phẩm đầu tiên là Emotiv EPOC, nâng cấp từ công nghệ đo điện não (EGG).

Năm 2010 đánh dấu bước ngoặt lớn cho cả Emotiv System và cả nền công nghệ thế giới. Emotiv EPOC ra đời như một chiếc mũ EGG nhỏ gọn, kèm với 16 nút điện cực ghi lại mọi hoạt động trong não và cử chỉ gương mặt.

Giả sử bạn muốn kéo rèm cửa, suy nghĩ này sẽ truyền tín hiệu trong não được ghi vào EPOC. Lần tới, khi ý định kéo rèm xuất hiện trong đầu, đường truyền lần trước ngay lập tức thông qua EPOC ra lệnh cho máy tính kéo rèm từ xa, thay vì kéo tay hay bấm nút.

Ngoài ra, mấu chốt khiến Emotiv EPOC trở nên thông dụng vì nó chỉ tốn khoảng 300 USD, rẻ gấp nhiều lần so với một chiếc máy EGG hàng chục triệu USD ở phòng thí nghiệm. Emotiv EPOC bắt đầu được ứng dụng rộng rãi trong y học (cho phép bệnh nhân điều khiển xe lăn bằng suy nghĩ hoặc giao tiếp dễ dàng hơn với người thân) hay nguồn cảm hứng mới cho trò chơi điện tử.

Trong khi Emotiv EPOC đang thành tâm điểm trên thế giới, Tần vẫn chưa dừng lại.

Năm 2013, sản phẩm thứ hai Emotiv Insight đã gọi vốn thành công hơn 1,6 triệu USD trên Kickstarter, dự kiến ra thị trường vào cuối 2015. Đi kèm tính năng đã có với Emotiv EPOC, Emotiv Insight nghiêng về ứng dụng y học.

Thiết bị này có thể thu thập và phân tích hoạt động trong não từng ngày để phát hiện sớm nhất các dấu hiệu bệnh lý hay chấn thương. Ngoài ra, dữ liệu thu thập từ người dùng trên khắp thế giới sẽ thành nguồn nghiên cứu não bộ lớn nhất từ trước đến nay.

Với Tần, mảnh ghép Emotiv Insight liệu có là miếng ghép cuối cùng? Tần nhìn nhận ứng dụng đã mở ra chân trời mới trong công nghệ: “Những gì chúng tôi làm chỉ mới chạm vào phần nổi của vô vàn ứng dụng khác mà thôi!”.

Việt Trinh/Theo Nhịp cầu đầu tư

Bạn học hé lộ vụ cô gái Việt thuê sát thủ giết cha mẹ

Bạn học hé lộ vụ cô gái Việt thuê sát thủ giết cha mẹ

Jennifer Pan, 28 tuổi, bị tuyên án tù chung thân vì tội âm mưu giết cha mẹ.

Jennifer Pan, 28 tuổi, bị tuyên án tù chung thân vì tội âm mưu giết cha mẹ.

VOA Tiếng Việt

Một người bạn thời trung học của cô gái Việt ở Canada bị cáo buộc thuê sát thủ giết cha mẹ mới lên tiếng cho biết rằng Jennifer Pan “từng có một cuộc sống bị kìm kẹp và luôn phải tìm cách làm hài lòng cha mẹ”.

Cô Karen Ho còn cho biết thêm rằng cho tới tận năm 22 tuổi, cô gái gốc Việt này ít khi được đi tiệc tùng với bạn bè và chưa khi nào đi nghỉ mát mà không có cha mẹ và gia đình bên cạnh.

Cô Ho kể với VOA Việt Ngữ:

“Cô ấy nói tại tòa cũng như nói với bạn bè rằng cô ấy bị trầm cảm và bản thân cô ấy cũng có nhiều dấu hiệu của việc đó, như dùng dao tự cứa vào cơ thể mình. Cô ấy cũng nói về chuyện cha đẻ của cô rất hà khắc. Cô ít được đi chơi với bạn bè”.

Viết trên trang Facebook vào tháng Hai năm 2009, Jennifer Pan kể: “Sống trong nhà tôi giống như bị quản thúc tại gia”.

Cô gái này đầu năm nay đã bị kết án tù chung thân vì thuê sát thủ giết chết mẹ đẻ, bà Bích Hà, và khiến người cha bị một vết thương nặng ở đầu.

Ba đồng phạm của Jennifer, trong đó có người yêu cũ, cũng đã bị tòa án Canada kết án tù chung thân và không có cơ hội giảm án trong vòng 25 năm.

Cô Karen Ho cho biết rằng không ai trong đám học cùng trung học với cô có thể tưởng tượng được chuyện này lại xảy ra. Cô nói:

“Khi mới biết tin về chuyện xảy ra đối với cha mẹ của cô ấy, tôi và các bạn cùng trường có viết lên trang Facebook của cô ấy rằng chúng tôi rất lấy làm tiếc về những gì xảy ra, và nếu cần chúng tôi giúp gì thì hãy cho chúng tôi biết. Nhưng khi mọi chuyện vỡ lở, cô ấy bị truy tố vì tội âm mưu giết cha mẹ mình, bất cứ khi nào tôi gặp các bạn cùng trường chúng tôi không thể không nói về câu chuyện này và chúng tôi cảm thấy như bị phản bội. Chúng tôi không còn tin vào những gì cô ấy đã nói với chúng tôi”.

Cô Ho cho biết cô đã nói chuyện với một người không muốn nêu tên và bạn này đã tỏ ra cảm thông với Jennifer về những gì cô gái này đã phải chịu đựng cách giáo dục khắc nghiệt của người cha.

Một độc giả của VOA Việt Ngữ tên là Tạ Tốn viết rằng “suy cho cùng, trách nhiệm thuộc về cha mẹ Jennifer. Họ đã không hiểu thấu đáo về đứa con của họ và đã đặt lên vai nó một gánh nặng mà khả năng nó không mang nổi, đã đẩy nó vào hoàn cảnh phải nói dối nếu muốn tồn tại”.

Nhiều tờ báo Việt Nam cũng đã đăng tải câu chuyện buồn này và lấy đó làm ví dụ cảnh báo cho các bậc làm cha làm mẹ trong nước.

Lòng mẹ, tình cha

Lòng mẹ, tình cha

Nguoi-viet.com

Phan Ngọc Vinh
(Viết nhân ngày lễ ra trường của con trai yêu quý)

Trên chuyến bay 6 giờ sáng, từ thành phố New York đến Chicago độ 2 tiếng rưỡi, ngồi trên máy bay với đứa con thứ nhì, lòng tôi bồi hồi khó tả, dù dậy thật sớm từ 3 giờ sáng, nhưng tôi vẫn không tài nào ngủ lại được.

Mẹ (bên phải) cùng con trai lớn (giữa) và con trai nhỏ trong ngày tốt nghiệp.
(Hình: Tác giả cung cấp)

Hôm nay là ngày tốt nghiệp Master của thằng con trai lớn của tôi, thằng nhỏ thì đã lấy Master of Science in Civil Engineering 2 năm về trước, đã có việc làm ổn định, hôm nay dắt mẹ đi dự lễ tốt nghiệp Master của thằng anh.

Sở dĩ thằng lớn lấy Master trễ hơn, vì sau khi tốt nghiệp 4 năm ở trường Business Wharton nó thấy bố mẹ vất vả quá, nên sẵn các hãng đến mời dụ đi làm, nó nghe lời đi làm với mức lương béo bở, sau vài năm dành dụm một số tiền không nhỏ, cộng với những kinh nghiệm làm việc, nó thi và được nhận vào trường Business Kellogg, rồi học thật nỗ lực với 2 môn, mà nó nói với mẹ là hãng trả tiền học.

Xin quý độc giả đừng nghĩ tôi khoe, tôi người Nam, ít học, có sao thì nói vậy, đang vui với hạnh phúc của gia đình tôi, của các con tôi, nên lời lẽ thiệt tình, xin quý độc giả lượng thứ, bao dung, nếu không vừa ý.

Đầu óc miên man suy nghĩ, gợi lại những kỷ niệm cách đây 29 năm…

Ngày ấy, một em bé ra đời, người đàn bà nghèo lớn tuổi cùng chồng ôm đứa con thơ, sống thật chật vật khó khăn, hai vợ chồng nghèo nhường hết tất cả những gì mình có cho đứa con đầu lòng, nhường từ miếng ăn, giấc ngủ, sao cho con được no đủ để trí thông minh nó phát triển toàn vẹn.

Ông nhịn riêng cho mình mọi thứ để mua từng lạng thịt về luộc rồi xé nhỏ, xào khô ông tự làm chà bông cho con ăn (vì “chê” bà làm không đúng cách) để con có chất thịt trong người, bà thì cắt từng cái áo, cái quần của ông và bà để may cho con, sống kham khổ chật vật, tất cả nhường cho con, để nó ăn đầy đủ chất bổ, cho con mặc ấm trong mùa đông khi tiết trời trở lạnh.

Con bị ngộp khi sinh khó khăn nên mẹ bị mổ, khi ra đời , đứa bé bị vấn đề về đường thở, nay ốm mai đau, bao nhiêu tiền dành dụm đổ hết vào tiền bác sĩ, nhà thương, ông làm tất cả những công việc bần cùng nhất khi được ai thuê, ai mướn, hầu có chút tiền mà lo cho con.

Mẹ và con trai 29 năm trước. (Hình: Tác giả cung cấp)

Sống chật vật kham khổ, bữa đói bữa no, rồi thì trời cũng ngó xuống, chương trình HO, đưa những cựu tù đến Mỹ, một chân trời mới mở rộng, đón chào ông bà cùng hai con nhỏ…

Khi sang Mỹ, trình độ tiếng Anh không nhiều, ông theo người Mỹ phụ sửa nhà, đi giao hàng, rồi vào làm hãng. Bà đi bưng đồ ăn, đi babysit cho những nhà có con nhỏ, đi phụ bán hàng, nhận lái xe chở con nít đi học thêm sau giờ học chính ở trường. Con thì còn nhỏ, bằng mọi cố gắng tất cả vì con, làm sao cho hai con thành đạt ở xứ người.

Ngày bay đi dự lễ tốt nghiệp của con, ông không đi được, vì trước một năm ông ngã bệnh, không thể đi xa, bà cùng thằng con thứ hai bay sang tiểu bang này dự lễ.

Trong chiếc lều căn lớn giữa sân trường rộng mênh mông, trường đãi các phụ huynh những món ăn ngon, nhẹ, nhạc êm dịu, tha thiết trỗi lên từ chiếc loa, thật là cảm động, nghĩ đến sự cố gắng, miệt mài học tập của con, quyết chí lấy hai bằng trong trường Business Kellogg, mà con tôi được lọt vào danh sách Top 10% trong số 600 sinh viên ra trường năm nay. Tôi ôm con vào lòng khóc nức nở, vì vui sướng, hạnh phúc và hãnh diện cho những thành tựu mà con của chúng tôi đạt được.

Tôi tưởng như mình đang nằm mơ, khi nghĩ từ một người đàn bà lam lũ nơi quê nhà, giờ được đứng chung với những người Mỹ, những ông bà Mỹ lịch sự, giàu có, sang trọng, giờ được sánh vai ngang hàng với họ, được ăn chung, không phân biệt giai cấp, trưởng giả sang hèn, chỉ có xứ Mỹ này lòng người mới bao la như thế. Ôi! thật khâm phục, cảm ơn tấm lòng của người Mỹ và nước Mỹ.

Được ôm con vào lòng như ôm đứa bé 29 năm về trước, tôi thốt ra tiếng nói trong tiếng nấc nghẹn ngào, “Ôi, con tôi giỏi quá, mẹ vui quá con ơi. Con tôi sao nó giỏi thế này!”

Đúng như ai đó đã nói, “khi buồn quá mình cũng khóc, và khi vui quá mình cũng khóc.” Ngày này tôi vui quá, nên không kiềm được nước mắt mà ôm con và khóc nức nở trên vai con.

Giá dầu thô xuống thấp kỷ lục

Giá dầu thô xuống thấp kỷ lục

Nguoi-viet.com

WASHINGTON, DC (NV) – Thị trường dầu thô tiếp tục biến động mạnh. Theo CNN, dầu thô rớt 20% giá chỉ trong tháng này, xuống dưới $47 một thùng vào Thứ Ba, 28 Tháng Bảy, thấp kỷ lục kể từ năm 2009 đến nay.

Mới Hè năm ngoái, giá mỗi thùng dầu còn trên $100.

Giá dầu lên xuống ở mức kỷ lục trong một năm qua. (Hình: Getty Images)

Kỹ thuật mới của Mỹ, giúp khai thác dầu từ đá, là một trong những lý do quan trọng ảnh hưởng mạnh đến cán cân cung-cầu về dầu thô.

Tin vui cho khách dùng xăng dầu là các chuyên gia dự đoán xu hướng dùng kỹ thuật này vẫn sẽ tiếp tục, và giá dầu có thể còn thấp nữa.

Vào cuối năm nay, theo phân tích của chuyên gia Tom Kloza thuộc văn phòng định lượng giá dầu Oil Price Information Service, người ta có thể mong đợi mức giá dưới $2/gallon tại các tiệm xăng.

Biến động lớn của thị trường xăng dầu có thể được thấy qua mức giá $107/ thùng vào Tháng Sáu 2014, xuống còn $43/thùng vào Tháng Ba 2015, rồi lại lên thành $61/thùng. Việc lên giá này được cho là vì các dự đoán tin rằng Mỹ sẽ giảm tiến độ khai thác dầu từ đá. Tuy vậy, các dự đoán này đã sai.

“Sản lượng dầu của Mỹ có sức thay đổi đáng kể. Bất kỳ việc tăng giá nào cũng sẽ phải đối mặt với việc Mỹ tăng sản lượng dầu để ngăn giá tiếp tục tăng,” ông Vincent Piazza, một chuyên gia phân tích của Bloomberg Intelligence, nói với CNN.

Hiện tại, Mỹ sản xuất khoảng 9.5 triệu thùng dầu mỗi ngày, tăng khoảng 1 triệu thùng so với thời điểm này năm ngoái.

Bên cạnh đó, thỏa thuận nguyên tử mới đây của Iran cũng có thể tác động lên giá dầu. Khi cấm vận bị dỡ bỏ, mỗi ngày Iran có thể đưa thêm hàng ngàn thùng dầu vào thị trường thế giới.

Nền kinh tế Trung Quốc cũng là tâm điểm trong vấn đề giá dầu. Tốc độ tăng trưởng của quốc gia này đang chậm lại, và nhiều người lo rằng tương lai sẽ còn ảm đảm hơn. Điều này có nghĩa là thị trường không thể đặt hy vọng vào nền sản xuất Trung Quốc sẽ tiêu thụ số dầu dư giả hiện tại trên thị trường.

Ngoài ra, cũng như giá vàng hay giá khoáng sản, dầu thô sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng với việc giá đồng đô la đang lên. Những vật liệu được tính và bán bằng Mỹ kim sẽ trở nên tốn kém hơn cho các khách hàng quốc tế.

Tất vả những điều trên đang tác động đến ví tiền của những người tham gia thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Giá xăng có tăng 1.5% vào Thứ Ba, thúc đẩy phần nào bộ phận năng lượng của S&P 500. Tuy nhiên, nhìn chung, tỉ số chứng khoán vẫn sụt 6% trong tháng Bảy này, và là 12% nếu tính cả năm nay.

Giá dầu sẽ tiếp tục giảm, hay sẽ tăng lại? Theo các phân tích gia, trong vòng chín tháng tới, giá dầu khó mà tìm được một tác động nào đó giúp tăng lại. Theo đà này, giá dầu có thể xuống thấp hơn cả mức giá dầu những năm 2008- 2009 khi kinh tế suy thoái. (T.A.)

Bé trai bị mất hai tay vì nhiễm trùng, được ghép đôi bàn tay mới

Bé trai bị mất hai tay vì nhiễm trùng, được ghép đôi bàn tay mới

Nguoi-viet.com

PHILADELPHIA, Pennsylvania (AP) – Một bé trai 8 tuổi bị mất cả hai bàn tay và hai bàn chân vì nhiễm trùng đã trở thành bệnh nhân trẻ tuổi nhất được ghép cả hai bàn tay, theo các bác sĩ hôm Thứ Ba.

Bé Zion Harvey với hai bàn tay mới. (Hình: AP Photo/Matt Rourke)

Tay của em Zion Harvey được băng dầy chặt nhưng hai bàn tay được nhìn thấy rõ ràng khi em tươi cười xuất hiện trong cuộc họp báo được tổ chức tại bệnh viện.

Em biểu diễn cho các nhà báo thấy là sử dụng được đôi tay tuy vẫn còn có chút ngượng ngùng.

Em cho biết thức dậy với đôi bàn tay mới “lúc đầu thấy lạ, nhưng sau rất tốt.”

Em bé, sinh sống trong khu vực Owings Mills, ở ngoại ô thành phố Baltimore tại Maryland, được ghép tay hồi đầu tháng này tại bệnh viện nhi đồng The Children’s Hospital of Philadelphia, dù rằng các bác sĩ không công bố cuộc giải phẫu kéo dài 11 giờ cho đến tuần này.

Toán giải phẫu gồm 40 người sử dụng các mảnh thép và đinh ốc để gắn xương mới vào xương cũ. Các bác sĩ cẩn thận nối lại các mạch máu, bắp thịt, gân và dây thần kinh cho em Zion.

“Em bé mỉm cười khi tỉnh dậy,” theo lời Bác Sĩ L. Scott Levin, người đứng đầu toán giải phẫu. “Em không hề khóc lóc hay than thở gì.”

Em Zion bị nhiễm trùng khi còn rất nhỏ, và phải cắt bỏ hai tay và hai bàn chân. Lúc lên 4 tuổi em phải được ghép thận do mẹ cho.

Cho đến nay, chân giả giúp cho em Zion chơi đùa chạy nhảy. Em tập dùng cẳng tay để viết, ăn và chơi trò chơi điện tử. Các bác sĩ hy vọng nay em có thể làm được nhiều điều hơn như ném banh.

“Việc ghép tay không nguy hiểm hơn là ghép thận,” theo bà mẹ Pattie Ray. “Do đó tôi không ngần ngại chấp nhận rủi ro này, vì đó là điều con tôi muốn.” (V.Giang)

Giới thiệu sách (10): Hồi ký của Condoleezza Rice

Giới  thiệu  sách (10): Hồi  ký của  Condoleezza  Rice

Đoàn Thanh Liêm

* Nguyên tác bằng Anh ngữ nhan đề :

“ Extraordinary, Ordinary People

A Memoir of Family”

by Condoleezza Rice

* Nhà Xuất bản Crown Archetype ấn hành tại Mỹ năm 2010

*      *      *

Condoleezza Rice sinh năm 1954 là người phụ nữ da đen đầu tiên nắm giữ chức vụ Cố vấn An ninh bên cạnh Tổng thống, rồi lại là Ngọai trưởng Hoa kỳ vào những năm đầu của thế kỷ XXI dưới thời của George W Bush là vị Tổng thống thứ 43 của nước Mỹ. Bà là giáo sư lâu năm về môn Chính trị học và có thời gian còn giữ chức vụ Provost (Phụ tá Hành chính) tại Đại học danh tiếng Stanford ở California.

Năm 2009, sau khi rời khỏi chính trường, bà đã dành thời gian để viết cuốn Hồi ký Gia đình và cho ấn hành vào năm 2010. Sách dầy 342 trang, bìa cứng được in trên giấy trắng – dàn trải trong 38 chương, kèm theo nhiều hình ảnh riêng tư của gia đình, cũng như trích từ kho tư liệu của nhiều cơ sở văn hóa xã hội trong nước Mỹ.

Bằng một giọng văn gọn gàng mạch lạc, bình dị và trong sáng, tác giả đã cống hiến cho người đọc một câu chuyện thật sinh động hấp dẫn về những cố gắng vươn lên của một gia đình người da đen tại tiểu bang Alabama là nơi có nạn kỳ thị chủng tộc cực kỳ nghiệt ngã tàn bạo trong những thập niên 1950 – 60.

Vì là cuốn Hồi ký Gia đình, nên câu chuyện được kể lại xoay quanh ba nhân vật chính yếu, đó là người cha John Rice, người mẹ Angelena Ray và người con gái duy nhất Condoleezza Rice – mà chính là tác giả của cuốn sách này. Tác phẩm có thể coi như là một chứng từ khả tín về tình hình sinh họat chung của xã hội Mỹ trong vòng nửa thế kỷ qua – bắt đầu từ năm 1960 vào lúc cô bé Condi lên 6 tuổi và đã bắt đầu biết quan sát nhận định về những sự việc xảy ra xung quanh gia đình mình tại khu vực ngọai ô thành phố Birmingham thuộc miền Nam nước Mỹ – cho đến nay vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI.

Để bạn đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện, tôi xin lần lượt trình bày chi tiết trong một số mục đáng chú ý sau đây.

I – Sự đùm bọc gắn bó chặt chẽ trong gia đình và dòng họ nội ngọai.

Đúng theo nhan đề của cuốn sách, tác giả Condoleezza Rice đã kể lại rành rọt về sinh họat trong nội bộ gia đình của “bộ ba” (the threesome) tức là người cha John, người mẹ Angelena và người con gái Condi. Đây là một gia đình vào lọai trung lưu (middle class) với cuộc sống thật ấm cúng hạnh phúc – vì cả hai cha mẹ đều hy sinh hết mực trong việc hướng dẫn chăm sóc và “đầu tư trong việc giáo dục” cho cô con gái cưng của ông bà. Suốt trong cuốn sách, Condi đã thuật lại chi tiết về những cố gắng vươn lên của cha mẹ mình, ngay tại vùng đất Alabama còn nặng nhọc với nạn kỳ thị chủng tộc thời kỳ giữa thế kỷ XX.

Condi ngòai tình thương yêu đậm đà đối với cha mẹ, lại còn có sự ngưỡng mộ thán phục hết mình trước những thành tựu mà hai ông bà đã đạt được, mặc dầu phải trải qua bao nhiêu nghịch cảnh éo le. Nàng coi cha mẹ là thứ gương mẫu (role model) để mình noi theo. Khi lấy nhan đề cho cuốn Hồi ký là : “Extraordinary, Ordinary People”, thì rõ ràng là tác giả muốn nói rằng : Cha mẹ của bà là những người bình thường, nhưng cũng lại là những con người phi thường nữa. Dưới đây, căn cứ trên những mô tả rải rác ở nhiều nơi trong cuốn sách, ta sẽ vẽ lại chân dung của người cha và người mẹ tuyệt vời của tác giả.

A – Người cha : Ông John Rice ( 1923 – 2000)

John Rice là con của một vị mục sư Tin lành trong hệ phái Presbyterian, sinh trưởng ở tiểu bang Louisiana và sau này chính John cũng là một mục sư coi sóc một Hội thánh do cha ông thiết lập ở vùng ngọai ô thành phố Birmingham tiểu bang Alabama. Vốn là người tháo vát năng nổ, mục sư John đã gây dựng được một cộng đòan tín hữu sinh họat rất tấp nập sầm uất, không những về mặt phụng vụ, học hỏi giáo lý thánh kinh, mà đặc biệt về mục vụ cho giới thanh thiếu niên tại địa phương.

Ít lâu sau, thì ông chuyển đi phục vụ trong ngành giáo dục nơi các trường cao đẳng và đại học ở Tuscaloosa Alabama, Denver Colorado và sau cùng tại đại học danh tiếng Stanford California là nơi con gái của ông là Condoleezza làm giáo sư từ lâu. Là người có tài tổ chức, ông lôi cuốn thuyết phục được nhiều người hưởng ứng tham gia các chương trình hành động nhằm phục vụ giới sinh viên, đặc biệt trong lãnh vực thể thao và sinh họat tập thể ở ngòai trời. John có người chị là Theresa có bằng Tiến sĩ và đi dậy về văn chương tại các Đại học.

B – Người mẹ : Bà Angelena Ray (1924 – 1985).

Angelena Ray là một người con giữa trong gia đình có 5 anh chị em. Người anh lớn Albert Ray làm mục sư Tin lành trong hệ phái Presbyterian. Tuy người có tầm vóc nhỏ nhắn, nhưng Angelena lại có sự kiên trì theo đuổi việc học tập để hòan tất chương trình Đại học và theo đuổi nghề dậy học ở các trường trung học trong nhiều năm. Đặc biệt, theo gương thân mẫu bà còn trau dồi riêng về âm nhạc và trong nhiều năm đã phụ trách điều khiển chương trình hát thánh ca tại nhà thờ. Cái tên Condoleezza bà chọn đặt cho con gái chính là một từ ngữ âm nhạc bằng tiếng Ý có nghĩa là “ với sự dịu dàng êm ái” (with sweetness).

Vào thời nạn kỳ thị chủng tộc còn rất tàn bạo hắc ám tại nhiều tiểu bang ở miền Nam, người mẹ như Angelena chỉ còn biết hạn chế sinh họat trong phạm vi gia đình, giữa cộng đồng tín hữu nơi các khu xóm dành riêng cho người da đen. Bà luôn nhắc nhở con gái Condi rằng : “Con phải cố gắng hết sức để mà có thể “giỏi gấp đôi người ta” (twice as good). Vì nếu như vậy, thì dù người ta có thể không ưa con, nhưng ít nhất người ta cũng phải trọng nể con…”

Với cả hai cha mẹ đều là những người đạo hạnh, lương hảo và siêng năng cần cù như vậy, nên ngay từ tấm bé Condi đã được thừa hưởng một nền giáo dục tuyệt vời trong gia đình – với tình yêu thương nồng ấm của cha mẹ cũng như của bà con nội ngọai và cả của cộng đòan tín hữu ở địa phương mà cả cha lẫn mẹ đều góp phần tích cực xây dựng và phát triển.

II – Cố gắng vượt thóat khỏi nghịch cảnh của lớp người bị áp chế.

Cả cho đến thập niên 1950 – 60, thì tại miền Nam nước Mỹ nạn kỳ thị chủng tộc vẫn còn khắc nghiệt gay gắt, cụ thể là nạn khủng bố do nhóm người da trắng cực đoan 3K Ku Klux Klan thường xuyên gây ra. Trong khu vực người da đen cư ngụ, thì cái cảnh bom nổ liên miên, các nhà thờ bị đốt cháy, nhiều thường dân vô tội bị sát hại…là “chuyện thường ngày ở huyện”, đến nỗi mà thành phố Birmingham được gọi trại đi là “Bombingham”. Vị chỉ huy cảnh sát Birmingham tên là Bull Connor là một thứ hung thần ra tay đàn áp người da đen với đủ mọi thủ đọan thâm độc tàn ác.

Condi mô tả lại cái cảnh bom nổ kinh hòang tại một nhà thờ gần kề với gia đình mình vào ngày Chủ nhật 15 tháng 9 năm 1963 sát hại 4 em gái mới ở vào tuổi 11 – 14. Một trong những nạn nhân này là Denise McNair là người bạn vẫn thương chơi trò búp bê với Condi. Cũng trong thời gian đó, phong trào tranh đấu đòi Dân quyền do mục sư Martin Luther King phát động đã gây sôi nổi trong dư luận tòan quốc Hoa kỳ và được sự hỗ trợ của cả một bộ phận khá đông đảo của người Mỹ da trắng tiến bộ nữa.

Mặc dầu phải sinh sống trong môi trường xã hội tồi tệ đến như thế, cha mẹ của Condi vẫn nhẫn nại tìm cách vượt lên được do cố gắng học tập, làm việc và nhất là gắn bó liên đới chặt chẽ với tập thể người da đen đồng cảnh và đồng đạo với mình. Năm 1968, gia đình Rice dọn đến thành phố Denver tiểu bang Colorado, nhờ vậy mà Condi có cơ hội được học tập trong những trường học tốt nhất để hòan thành bậc trung học và đại học. Vào năm 1981 khi vừa đủ 26 tuổi, Condoleezza Rice đã được cấp phát văn bằng Tiến sĩ về ngành chính trị học. Cuộc sống của Condi bắt đầu từ thập niên 1980 đã diễn ra thật tốt đẹp, cả trong môi trường đại học ở Stanford California, cũng như trong hệ thống chính quyền Liên bang Mỹ ở Washington DC. Ta sẽ tìm hiểu chi tiết về sự đóng góp chuyên môn của vị nữ lưu này trong mục sau.

Ông bà Rice đã dồn hết khả năng tài chánh và công sức của mình để cho cô con gái Condi có được cơ hội học tập tốt nhất, kể cả trong lãnh vực nghệ thuật và thể thao. Từ thời thơ ấu 3 – 4 tuổi, Condi đã được học đàn piano và đã trở thành một nhạc sĩ dương cầm điêu luyện, được mời trình diễn hợp tấu trong nhiều dịp trình diễn văn nghệ, cũng như trong các thánh lễ. Condi cũng được cho học tập nhiều năm về môn nhảy múa trên băng (ice skating). Và Condi cũng theo gương người cha để tham gia ủng hộ rất nhiệt thành cho các đội banh Football, Basketball nổi tiếng trên tòan quốc.

III – Sự nghiệp của một chuyên viên cao cấp về bang giao quốc tế.

Mới vào đại học ở Denver vào năm 1971 -72, Condi có cái may được sự hướng dẫn tận tình của một vị giáo sư là chuyên viên  có nhiều kinh nghiệm thực tế về Liên Xô, đó là giáo sư Joseph Korbel thân phụ của Madeleine Albright sau này cũng là một vị Ngọai trưởng của Hoa kỳ.

Cô sinh viên trẻ đã hăng say học tiếng Nga và sau nhiều năm miệt mài trong việc học tập nghiên cứu, Condi đã trở thành một chuyên viên thành thạo trong ngành bang giao quốc tế – đặc biệt về tình hình chính trị quân sự của Liên bang Xô Viết. Và tiếp theo là được mời tham gia giảng dậy và nghiên cứu tại đại học danh tiếng Stanford ở California.

Tác giả thuật lại những khó khăn trong việc được cấp phát quy chế làm giáo sư thực thụ của đại học (tenure) – vì phải thông qua một thủ tục duyệt xét cam go của cả một hội đồng các vị giáo sư đàn anh gọi là “peer review”. Sự đánh giá về năng lực chuyên môn vừa căn cứ trên thành tích giảng dậy, mà nhất là trên những công trình nghiên cứu được phổ biến trong các tập chuyên san có uy tín, hay trong các sách do mình cho xuất bản. Điển hình là cuốn sách đầu tay do nhà xuất bản Đại học Princeton ấn hành, nhan đề là : “Uncertain Allegiance : The Soviet Union and the Czechoslovak Army” – đã được các thức giả đánh giá cao. Nhờ vậy, mà sau mấy năm làm phụ tá giáo sư, thì Condoleezza Rice đã được tuyển nhận vào ngạch giáo sư thực thụ của đại học Stanford.

Cũng tại đại học này, Condoleezza lại còn được mời giữ nhiệm vụ là Provost (Phụ tá hành chánh) trong một thời gian, trong khi vẫn tiếp tục công việc giảng dậy và nghiên cứu. Và trong nhiều năm, chuyên viên nổi danh về Liên Xô là Condoleezza Rice lại còn được mời tham gia cộng tác với chánh quyền Liên bang tại thủ đô Washington DC nữa. Từ năm 1989, bà bắt đầu tham gia trong văn phòng Ban Cố vấn An ninh cho Tổng thống George H Bush (Bush Cha).

Thời kỳ này, hệ thồng do Liên Xô lãnh đạo đang gặp những xáo trộn lớn lao, khiến cho vị lãnh đạo nước Mỹ luôn phải tham khảo với giới chuyên viên về Liên Xô như Condoleezza để có thể kịp thời đối phó với những biến chuyển có tầm vóc quan trọng như thế. Và quả thật ý kiến của Condi luôn được đánh giá cao vì sự cân nhắc thận trọng của một chuyên gia có sự hiểu biết tường tận về nội tình của khối cộng sản. Condi thuật lại những ngày tháng sát cánh với vị Cố vấn trưởng là Brent Scowcroft, đến độ phải làm việc căng thẳng liên miên suốt trên 15 tiếng đồng hồ mỗi ngày trong văn phòng tại Tòa Bạch Ốc.

Rồi dưới thời Tổng thống George W Bush (Bush Con), kể từ năm 2001, Condoleezza Rice lại giữ chức vụ Cố vấn trưởng về an ninh và sau đó thì thay thế Colin Powell để giữ chức vụ Ngọai trưởng Hoa kỳ. Bà đã hòan thành xuất sắc trong cả hai nhiệm vụ cao cấp nhất trong guồng máy của chánh phủ Liên bang – như giới báo chí ở Mỹ cũng như trên thế giới đã từng đánh giá. Nên thiết tưởng không còn phải nhắc lại ở đây nữa.

IV – Để tóm lược lại :

Nói chung, cuốn Hồi ký này được viết với một giọng văn mạch lạc trong sáng. Nhưng lại cung cấp cho chúng ta rất nhiều thông tin về cuộc sống lương hảo, cần cù đạo hạnh trong nội bộ một gia đình người da đen giữa thời kỳ nạn kỳ thị chủng tộc còn rất tàn bạo khắc nghiệt trong khu vực các tiểu bang tại miền Nam nước Mỹ vào thập niên 1950 – 60. Đại khái, ta có thể ghi lại một vài đặc điểm như sau :

1 – Ngòai truyền thống gia đình, thì phải kể đến ảnh hưởng của tôn giáo đối với sự thăng tiến của lớp người da đen trong xã hội nước Mỹ. Có thể nói Tôn giáo đã giúp mỗi đơn vị cộng đòan tín hữu gắn bó liên kết chặt chẽ với nhau hơn hầu đối phó được với sự ngược đãi phũ phàng do người da trắng cực đoan gây ra. Đó chính là cái nguồn vốn xã hội (the social capital) có khả năng nâng cao phẩm chất cuộc sống của mỗi thành viên của cộng đòan. Trong suốt cuốn Hồi ký, tác giả luôn nhắc lại những lời nguyện cầu của mình gửi lên Thiên chúa, mỗi khi gặp một biến cố nào xảy ra cho gia đình hay cho chính bản thân mình.

2 – Là một người đã có một sự nghiệp vững chắc trong môi trường hàn lâm đại học cũng như trong guồng máy chính quyền của một siêu cường, nên Condoleezza Rice luôn có một thái độ bao dung trước vấn nạn kỳ thị chủng tộc vốn là một thực trạng mà tác giả gọi là thứ “khuyết tật bẩm sinh” (birth defect) từ nhiều thế kỷ nay trên đất Mỹ. Noi theo lời khuyên bảo của cha mẹ, bà đã cố gắng hết mức để mà “tài giỏi gấp đôi người khác” – nhờ vậy mà gặt hái được những thành công vượt bậc trên đời như ta đã thấy. Condi đã không chấp nhận thái độ “ bi quan buông xuôi tuyệt vọng”, mà cũng không chấp nhận giải pháp “bạo động nóng nảy quá khích” của một số người là nạn nhân của tình trạng kỳ thị tệ hại này (victimhood). Thái độ tích cực đó đã khiến cho Condi được nhiều người mến phục và trọng nể.

3 – Riêng trong ngành ngọai giao của nước Mỹ, thì từ hai chục năm nay các vị Ngọai trưởng đều là những vị xuất thân từ nguồn gốc di dân, thiểu số da màu và nhất là phụ nữ. Đó là những Madeleine Albright (phụ nữ gốc di dân từ Tiệp khắc), Coli Powell (gốc da đen từ Jamaica), Condoleezza Rice (phụ nữ gốc da đen) và hiện nay là Hillary Clinton (phụ nữ). Các vị Ngọai trưởng này đều đã có những đóng góp tuyệt vời trong việc nâng cao uy tín của nước Mỹ trên trường quốc tế vậy.

Vắn tắt lại, cuốn Hồi ký Gia đình này của Condoleezza Rice quả thật là một tác phẩm rất có giá trị vì chân thực, gọn gàng và lôi cuốn. Người viết xin trân trọng giới thiệu cuốn sách thật quý báu với quý bạn đọc./

Costa Mesa California, Mùa Trung Thu Nhâm Thìn 2012

Đoàn Thanh Liêm

Báo động trước những cái chết bất minh trong trại giam

Báo động trước những cái chết bất minh trong trại giam

Gia Minh, biên tập viên RFA
2015-07-29

Thêm một người chết bất minh trong trại giam Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

T12_zing-622.jpg

Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội năm 2015.

Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Vấn nạn công dân khi bị đưa về đồn công an hay trại giam và chết một cách bất minh vẫn tiếp tục với một vụ việc mới nhất tại Trại giam Số 1 Hà Nội.

Gia đình nạn nhân đang làm đơn kêu cứu khẩn cấp và mong muốn gióng lên tiếng nói phải chấm dứt tình trạng sát hại công dân khi đang bị giam giữ như thế.

Giải thích thiếu thuyết phục

Sau khi đơn kêu cứu khẩn cấp lần thứ ba của gia đình nạn nhân Vũ Nam Ninh, sinh năm 1970, ở tại phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội được công khai trên facebook và các trang mạng xã hội, vào sáng ngày 29 tháng 7 chúng tôi liên lạc với phó giám thị Trại giam Số 1 Hà Nội để hỏi về thông tin liên quan thì được trả lời như sau:

“Vẫn đang mời gia đình lên giải quyết và liên hệ với các cơ quan chức năng. Cái này phải tổ chức pháp y, phải có hội đồng của Thành phố; nhưng gia đình vẫn chưa thống nhất về ngày, giờ. Hiện nay gia đình, trại và cơ quan chức năng vẫn đang phối hợp giải quyết.”

” Người thân chụp ảnh cả trước, cả sau và thấy cái chết của em tôi là do bị đánh đập chứ không phải bị ốm. Thế mà người ta chỉ nói bị ốm thôi. Mặt mũi phù nề, tay phù nề, chân còn trong tình trạng gãy. Lật ra phía sau có nhiều vết thâm tín, xương quai xanh bị gãy.
-Vũ Thị Thanh Huyền”

Lý do vì sao cả chục ngày qua, thân nhân của nạn nhân vẫn không chấp nhận thống nhất cách giải quyết của Trại giam số 1 Hà Nội, được chị của nạn nhân là cô Vũ Thị Thanh Huyền cho biết:

“Đêm hôm qua có một cán bộ phường Ngọc Khánh đưa thông tin triệu tập gia đình vào ngày 30 đến để giải quyết vấn đề. Còn Trại giam gia đình cũng tự liên hệ đến mấy lần và họ cũng đang hẹn nhưng gia đình chưa có câu trả lời có nên gặp người ta không. Bởi vì mấy lần lên trao đổi nhưng họ không trả lời được. Đó là em tôi mất ngày 20 mà tại sao không thông tin cho gia đình. Họ nói vào ngày thứ bảy, chủ nhật không có thông tin, không có địa chỉ… Chúng tôi nói em tôi thi hành án tại sao không có thông tin. Rồi điện thoại chẳng có ngày nào nghỉ tại sao lại nói không có thông tin. Trước đó nói bị ốm đưa vào trạm xá có hiện tượng tê chân sao không thông báo cho gia đình?

Khi thi hành án thì họ phải có trách nhiệm báo về quận, đồn hay tổ trưởng, tổ phó địa phương nơi gia đình cư trú. Người ta chỉ gọi điện vào ngày 20 hẹn đến Bệnh viện 198 vào ngày 21.

(Khi đến bệnh viện) tất cả người thân chụp ảnh cả trước, cả sau và thấy cái chết của em tôi là do bị đánh đập chứ không phải bị ốm. Thế mà người ta chỉ nói bị ốm thôi. Mặt mũi phù nề, tay phù nề, chân còn trong tình trạng gãy. Lật ra phía sau có nhiều vết thâm tín, xương quai xanh bị gãy. Tay bên phải quay ra không bị gì, nhưng tay trái bị gãy một ngón. Đằng sau có nhiều vết tím, có những vết như dạng bị dùi cui điện dí vào. Dưới chân cũng có vết thâm tím rỉ máu đen ra. Mũi và tai cũng chảy ra máu…”

Nguyên nhân đi tù

Chị Vũ Thị Thanh Huyền cũng cho biết lý do vì sao nạn nhân Vũ Nam Ninh phải đi tù.

victim-s-family

Gia đình Anh Ngô Thanh Kiều, một nạn nhân bị chết trong đồn công an trước đây. (Ảnh minh họa)

“Trước đây em tôi có uống rượu say rồi ra bến xe giao thông- vận tải gần nhà, từ nhà chỗ Thủ Lệ ra chỉ một chút thôi. Em tôi cũng làm nghề xe ôm thôi. Khi xử họ không mời gia đình nên không biết được là người (liên can) có thân quen hay không. Người ta bảo cướp điện thoại, gia đình tôi cũng chấp nhận nếu cướp điện thoại thì cho đi tù.

Tôi là người cùng em tôi trông mẹ trong 4 tháng, sau đó mẹ tôi mất nên có thể em tôi buồn, nó không vợ con, sinh ra uống rượu. Hôm đó có uống rượu nên ngoài đó cũng gây sự và bị vu là cướp điện thoại thì tôi cũng thuyết phục và bạn gái của nó bảo quay về đồn nộp điện thoại cho người ta chịu nộp phạt. Ngày hôm trước thì hôm sau đến đồn nộp; rồi bị bắt và bị kết án 8 năm tù. Chúng tôi không phản đối gì nhưng mức phạt quá nặng; chúng tôi cũng muốn em tôi hoàn lương trở về làm người tốt; nhưng rất đau đớn, bây giờ gia đình không bao giờ thấy mặt em tôi nữa.”

Tiếng chuông cảnh báo!

Đơn kêu cứu khẩn cấp lần thứ ba do 7 thành viên trong gia đình ký tên nêu rõ ‘Hiện tác các cơ quan báo chí hằng ngày đưa tin cho thấy có quá nhiều tiêu cực trong việc quản lý tại các trại tạm giam, trại giam trên toàn quốc ( Các gia đình muốn an toàn cho người thân thì phải có nhiều tiêu cực phí cho cơ quan quản lý trại giam, quản lý quá yếu kém để tù nhân cũ đánh đập đến chết tù nhân mới…) Việc để cho tù nhân bị chết với hình ảnh bị đánh đập dã man tại Trại giam Số 1 Hà Nội là vi phạm pháp luật quá nghiêm trọng.”

” Tất cả thông tin này gia đình gửi thông điệp đến mọi người để cùng chia sẻ với gia đình và làm rõ uẩn khúc cái chết của em tôi. Đó là điều thứ nhất, điều thứ hai tôi muốn làm khởi điểm đầu tiên kêu cứu cho những người từ xưa đến nay chết oan, chết uổng trong tù.
-Vũ Thị Thanh Huyền”

Chị Vũ Thị Thanh Huyền cho biết gia đình rất đau xót khi phải để người thân nằm trong nhà xác Bệnh viện 198 cả chục ngày mà chưa được mai táng theo truyền thống của người Việt Nam; tuy nhiên gia đình muốn nén nổi đau để gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh yêu cầu chấm dứt tình trạng chết bất minh khi bị giam giữ như cậu em Vũ Nam Ninh của chị:

“Tất cả thông tin này gia đình gửi thông điệp đến mọi người để cùng chia sẻ với gia đình và làm rõ uẩn khúc cái chết của em tôi. Đó là điều thứ nhất, điều thứ hai tôi muốn làm khởi điểm đầu tiên kêu cứu cho những người từ xưa đến nay chết oan, chết uổng trong tù.

Gia đình nào cũng muốn con em mình được trở về hoàn lương và giúp ích cho xã hội chứ không ai muốn người thân mình vĩnh viễn không quay trở lại.

Hãy ra tay giúp đỡ và làm cho điều rõ điều này, rồi những con người làm ăn như thế này phải bị thay thế chứ không thể để như thế mãi được!”

Chính một quan chức của Việt Nam, trung tướng Trần Trọng Lượng- phó tổng cục trưởng Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm công khai thừa nhận tại kỳ họp Ủy ban Thường Vụ Quốc hội vào tháng 3 vừa qua rằng trong vòng ba năm từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 9 năm 2014 có 226 trường hợp chết tại nhà tạm giữ, trại tạm giam trên toàn quốc. Lý do ông này đưa ra là do bệnh lý hay tự sát.

Giải thích của ông Trần Trọng Lượng không được một số vị đại biểu và ngay cả chủ nhiệm ủy ban tư pháp đồng thuận và đòi làm rõ thêm. Trong khi đó thân nhân của những người trong cuộc luôn bác bỏ chuyện đau ốm hay tự tử chết trong nhà giam vì họ cho rằng người nhà của họ không có lý do gì để tự sát, còn sức khỏe trước khi bị bắt hoàn toàn khỏe mạnh.

Một số trường hợp được nhiều người biết đến như vụ anh Nguyễn Công Nhựt tại Bến Cát Bình Dương, gia đình đòi làm rõ sự vụ nhưng rồi dường như đến nay bị chìm vào quyên lãng. Sau báo cáo của ông trung tướng Trần Trọng Lượng, nay số người chết trong khi bị giam giữ lại tăng lên và vụ việc mới nhất là nạn nhân Vũ Nam Ninh.

Thảm kịch con ‘cưng’ giết cha mẹ đẻ

Thảm kịch con ‘cưng’ giết cha mẹ đẻ

Jennifer Pan (Ảnh chụp từ báo Toronto Life).

Jennifer Pan (Ảnh chụp từ báo Toronto Life).

Jennifer Pan, một cô gái Canada gốc Việt 28 tuổi, bị buộc tội giết người cấp độ 1 và cố ý giết người trong một vụ tấn công ngày 8 tháng 11 năm 2010. Jennifer đã thuê sát thủ giết chết mẹ đẻ, bà Bích Hà, và khiến người cha bị một vết thương nặng ở đầu.

‘Lời nói dối hoàn hảo’

Jennifer Pan sinh năm 1986 và từng được cha mẹ coi như “cục vàng”. Gia đình cô sống ở thành phố Markham phía bắc Toronto.

Jennifer từng là một học sinh toàn được điểm A ở một trường Công giáo và giành được học bổng đại học. Đúng như mong muốn của cha, cô tốt nghiệp ngành Dược đầy uy tín của trường đại học Toronto, sau đó vào làm việc tại phòng xét nghiệm máu của bệnh viện SickKids.

Thành tích của Jennifer đã làm cho cha mẹ cô, bà Bích Hà và ông Huei Hann Pan tràn ngập tự hào. Ông bà là những người tị nạn từ Việt Nam đến Toronto, và đã phải lao động rất vất vả trong một nhà máy sản xuất phụ tùng ô tô để con cái họ có một tương lai tươi sáng hơn.

Nhưng trong trường hợp của Jennifer, tất cả chỉ là một lời nói dối hoàn hảo. Cô đã không tốt nghiệp trung học và cũng không nhập học đại học Toronto như đã nói với cha mẹ mình.

Có lẽ cha mẹ của Jennifer không thể tưởng tượng được cô con gái “vàng” của họ trong thực tế chỉ là kẻ thất bại.

Chân dung ‘cô gái vàng’

Vụ án của Jennifer đã xảy ra từ năm 2010 và cô đang thọ án tù chung thân nhưng mới đây, phóng viên Karen Ho, bạn học chung cấp 2 của Jennifer, đã tường thuật lại chi tiết vụ việc trên tạp chí Toronto Life.

Phóng viên Ho đã sử dụng các tài liệu của tòa án và các cuộc phỏng vấn để ghép nối các sự kiện về Jennifer như một kẻ nối dối kinh niên: giả mạo báo cáo học tập, thư học bổng, bảng điểm đại học, tất cả chỉ để giữ hình ảnh hoàn hảo của mình.

Ho viết, trường trung học mà hai người đã từng theo “là một cộng đồng hoàn hảo cho một sinh viên như Jennifer” – một cô gái rất dễ hòa mình với mọi người, với tiếng cười ròn rã, thường nhập bọn với các bạn trai cũng như bạn gái, Á cũng như Âu, thuộc mọi thành phần. Ngoài trường học, Jennifer đi bơi và học võ thuật. Nhưng sau này họ mới “khám phá ra rằng tính cách thân thiện, tự tin chỉ là vỏ bọc, mà bên trong thì Jennifer bị dày vò bởi cảm giác thiếu tự tin, nghi ngờ bản thân và hổ thẹn.”

Một trong những dấu hiệu mà ít người nhận ra là những vết cắt trên cánh tay mà Jennifer đã tự cứa vào mình.

Jennifer thực sự không hề ghi danh vào đại học, mà cũng chẳng tốt nghiệp trung học.

Trong bài báo, Ho viết: “Cha mẹ của Jennifer cứ tưởng con gái mình là học sinh giỏi. Thực là cô ấy chỉ thuộc loại trung bình, là điều không có gì lạ nơi những đứa trẻ khác nhưng lại không thể chấp nhận được trong gia đình nghiêm khắc của cô ấy”. Jennifer tiếp tục giả mạo học bạ suốt thời trung học và được sự chấp thuận sớm của Đại học Toronto. Nhưng vì rớt điểm đại số nên Jennifer đã không tốt nghiệp trung học, và trường Đại học Toronto đã rút lại đề nghị thu nhận. Jennifer đã nói dối rằng mình sẽ nhập học tại Ryeson vào mùa thu.

Cha cô, ông Hann đã rất vui mừng và mua cho cô ấy một chiếc máy tính xách tay. Jennifer thì thu thập các sách giáo khoa đã qua sử dụng và mua dụng cụ học tập.

Tháng 9 năm đó, Jennifer giả vờ tham dự tuần lễ của tân sinh viên. Cô cũng giả mạo giấy tờ để nhận được một khoản vay và làm cho cha cô tin rằng cô đã nhận được 3.000 USD tiền học bổng.

Jennifer mang cặp sách và sử dụng phương tiện giao thông công cộng làm cho cha mẹ cô tin rằng cô đang đến trường. Tuy nhiên, Jennifer lại đi đến các thư viện công cộng.

Cô cũng nói dối cha mẹ rằng vì chuyển đến Đại học Toronto nên sẽ không đủ vé mời để cha mẹ cô đến dự lễ tốt nghiệp.

Cuối cùng, cha mẹ của Jennifer cũng bắt đầu nghi ngờ, theo dõi cô và biết được sự thật.

Khi Jennifer thú nhận mình đã nói dối, thì cuộc sống trong gia đình cô nhanh chóng suy sụp.

Tức nước vỡ bờ

Ông Hann và bà Bích, cha mẹ của Jennifer Pan; bên phải là căn nhà của họ ở số 238 Helen Avenue. (Ảnh chụp từ trang web của báo Toronto Life).

Ông Hann và bà Bích, cha mẹ của Jennifer Pan; bên phải là căn nhà của họ ở số 238 Helen Avenue. (Ảnh chụp từ trang web của báo Toronto Life).

Cha mẹ Jennifer đã nuôi dạy cô và anh trai Felix tin tưởng vào tầm quan trọng tối cao của thành tích học tập và họ hạn chế tối đa các hoạt động của hai anh em. Cuộc sống thời trung học của Jennifer bao gồm nhiều hoạt động ngoại khóa như trượt băng nghệ thuật, piano, võ thuật và bơi lội. Ngoài những đêm dài học hành, Jennifer bị cấm tham dự bất cứ buổi tiệc nào. Hẹn hò là chuyện không thể có được. Trong nhà cô trưng bày rất nhiều giải thưởng.

Khi cha mẹ thấy tất cả những cố gắng của họ không đi đến đâu, họ áp đặt thêm các hạn chế đối với cô con gái nay đã trưởng thành: Không điện thoại, không máy tính xách tay. Không còn những cuộc hẹn bí mật với bạn trai là Daniel Wong nữa.

Mặc dầu cuối cùng thì Jennifer cũng được tự do hơn, cô vẫn căm giận. Cô nghĩ đến cuộc sống tự do hơn nếu không có cha mẹ. Vì vậy, với sự giúp sức của bạn trai Daniel, cô đã âm mưu giết hại hai người đã làm cho cuộc  sống của mình giống như bị “quản thúc tại gia”.

Cảnh tượng được miêu tả trên tờ Toronto Life và phiên tòa trước đó là khủng khiếp. Trong vụ giết người mà hiện trường được tạo dựng  trông giống như một vụ cướp, Jennifer đóng vai nhân chứng bất lực, vào lúc ba tay giết mướn, bắn chết mẹ mình và làm cho cha bị thương nặng. Cô hoảng hốt gọi số cấp cứu 911 để gây thêm ảo tưởng.

Báo chí tường thuật vụ việc như một vụ cướp và cảnh sát Markham cảnh báo cư dân về sự kiện người phụ nữ bị giết.

Nhưng sau một vài tuần điều tra, cảnh sát đã tìm ra sự thật. Đây sẽ là lời dối trá cuối cùng của Jennifer, khi khai rằng cha mẹ đã bị kẻ cướp bắn chết chứ không phải vì âm mưu của cô con gái.

Trong phiên xử hồi tháng giêng năm nay, một tòa án ở Ontario đã kết tội Jennifer và 3 đồng phạm vào tội cố sát và mứu sát. Tất cả đều lãnh án án tù chung thân không có cơ hội giảm án trong vòng 25 năm.

Nỗi đau của người thân

Khi phiên tòa xét xử Jennifer diễn ra vào ngày 23 tháng 1 đầu năm nay, không ai trong số các thành viên gia đình của cô xuất hiện, nhưng cha và anh trai của cô đều nói rằng cuộc sống của họ đã bị đảo lộn bởi vụ tấn công.

Cha của Jennifer cho biết: “Khi tôi mất đi người vợ, tôi cũng đồng thời mất đi đứa con gái. Ngày Bích qua đời, tôi cũng cảm thấy mình đã chết”.

Bị ám ảnh bởi những cơn ác mộng và bị cản trở bởi những nỗi đau còn lại, ông Hann cho biết ông không thể làm việc hoặc trở về ngôi nhà mà ông đã cố gắng dành dụm để mua trong 4 năm trời. Bán ngôi nhà đi cũng tỏ ra không thể xóa được vết nhơ của vụ sát hại.

Ông Hann nói: “Tôi hy vọng con gái tôi, Jennifer, nghĩ về những gì đã xảy ra với gia đình của mình và một ngày nào đó nó có thể trở thành người tốt và lương thiện”.

Trong khi đó, anh trai của Jennifer – Felix – cho biết, sự sỉ nhục về hành động của em gái sẽ theo anh suốt cuộc đời. Anh nói, ngay cả bây giờ, thật khó để nghĩ đến, hạn chế nói đến mất mát của mình.

Tòa hình sự cũng cho biết Jennifer bắt đầu âm mưu giết cha mẹ mình sau khi họ buộc cô phải lựa chọn giữa họ và bạn trai Daniel, người đã trở thành kẻ buôn bán ma túy.

Nguyên nhân tội ác

Khi trả lời phỏng vấn của tờ Washington Post, phóng viên Ho cho biết: “Đó là một tội ác khủng khiếp. Nhưng vì rất nhiều người đã trải qua tuổi thơ giống như Jennifer nên chuyện sẽ có ai đó không kiềm chế được nữa là điều không phải là điều khôn lường.

Ho cho biết, những kỳ vọng đặt lên nhiều trẻ em người Mỹ gốc Á “tác động mạnh và lâu dài đến khả năng chấp nhận thất bại”. Phóng viên Ho cũng viết: “Tôi càng biết nhiều về sự giáo dục nghiêm khắc của Jennifer tôi càng thấy mình giống cô ấy. Tôi lớn lên cùng cha mẹ Á Châu nhập cư vào Canada với hai bàn tay trắng, và cha tôi đã rất kỳ vọng vào tôi”.

Ho cho biết thêm: “Bố tôi mong muốn có người con giống như một giải thưởng, thứ mà ông có thể mang đi khoe”.

Kể từ khi xuất bản, bài báo đã đánh trúng tâm lý giới trẻ Châu Á nhập cư tại Canada và Mỹ. Họ chia sẻ trên mạng xã hội những câu chuyện về tuổi thơ với đặc điểm chung là những kỳ vọng cao đặt vào mình và nỗi lo sợ tê tái là không đáp ứng được các kỳ vọng đó.

Theo Toronto Life, Washington Post, National Post.

Giới thiệu sách mới (18) : Hành trình của người trí thức dấn thân nhập cuộc

Giới  thiệu  sách  mới (18) :

Hành  trình  của  người  trí  thức  dấn  thân  nhập  cuộc

Bài của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Nguyên tác bản tiếng Anh   :  Thinking the Twentieth Century.

by :   Tony Judt with  Timothy   Snyder (xin lưu ý : Chữ Tony Judt do tác giả Timothy Snyder cố ý ghi bằng chữ lớn hơn hẳn chữ Timothy Snyder là tên của mình – cốt ý đề cao vai trò chính yếu của Tony trong cuốn sách)

Nhà xuất bản The Penguin Press, New York ấn hành năm 2012

Sách dày trên 400 trang với bìa cừng.

www. Penguin.com

*     *     *

Tony Judt (1948 – 2010) sinh trưởng tại London Anh quốc, là một giáo sư về môn lịch sử và chính trị tại nhiều Đại học danh tiếng ở Âu châu và ở Mỹ. Ông cũng là tác giả hay biên tập của 14 cuốn sách, trong đó có cuốn “Postwar : A History of Europe Since 1945” xuất bản năm 2005 là được giới thức giả quốc tế chú ý và đánh giá cao. Ông còn đóng góp nhiều bài vở cho các tạp chí nổi tiếng như The New York Review of Books, The Times Literary Supplement, The New Republic… Do bị bệnh liệt não (bệnh Lou Gehrig), ông đã sớm từ giã cõi đời tại New York vào năm 2010 lúc mới ở vào tuổi 62.

Nhận thấy bậc đàn anh lâm bệnh ngặt nghèo, nên Timothy Snyder – cũng là một giáo sư trẻ tuổi người Mỹ về môn lịch sử – trong các năm 2009 – 2010 đã đến tư gia của Tony Judt tại New York để trao đổi thảo luận trong nhiều buổi nói chuyện thân mật tay đôi với ông. Và qua việc khai thác các băng ghi âm từ những cuộc đối thọai đó, Timothy đã hòan thành được cuốn sách có nhan đề thật bao quát là : “Thinking the Twentieth Century” –  sách này vừa mới cho ra mắt công chúng trong năm 2012. Có thể nói đây vừa là cuốn sách tự truyện của Tony Judt, vừa là một nhận định tổng hợp về sự dấn thân nhập cuộc của giới trí thức tại Âu châu suốt trong thế kỷ XX.

Để thuận tiện cho độc giả theo dõi câu chuyện đối đáp giữa hai vị chuyên gia về sử học tại Âu châu trong thế kỷ XX, người viết xin lần lượt trình bày về tiểu sử các tác giả trước khi đề cập đến những mục đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

I – Tiểu sử các tác giả.

1 – Tony Judt (1948 – 2010)

Xuất thân từ một gia đình có cả cha mẹ đều là di dân người Do Thái gốc gác từ Đông Âu, nên Tony Judt dễ có điều kiện tìm hiểu về những biến chuyển lớn lao tại miền đất xưa kia là quê hương của dòng họ bên nội cũng như bên ngọai của mình. Tony được học ở trường Đại học nổi danh bậc nhất của Anh quốc, đó là trường Cambridge – rồi lại còn được học thêm ở Trường Cao Đẳng Sư Phạm ở Paris (École Normale Supérieure) là cái nôi sản sinh ra những tinh hoa của nước Pháp. Ông thông thạo nhiều ngọai ngữ như tiếng Pháp, Đức,Tiệp khắc… và được coi là một chuyên gia có thẩm quyền về Lịch sử Giới Trí thức của Pháp thời hiện đại.

Luận văn để thi bằng Tiến sĩ của ông tại Cambridge được xuất bản thành cuốn sách trước tiên bằng tiếng Pháp vào năm 1976  – với nhan đề là “La Reconstruction du Parti Socialiste 1921 – 1926” (Sự Tái Xây dựng Đảng Xã hội (Pháp) 1921 – 1926).

Ông đã giảng dậy nhiều năm về Lịch sử và Chính trị tại các Đại học danh tiếng như Cambridge, Oxford và Berkeley và làm Giám đốc Sáng lập của Viện Erich Maria Remarque tại Đại học New York, Viện này chuyên chú vào công cuộc Trao đổi và Đối thọai giữa Âu châu và Mỹ châu.

Tony Judt cũng là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng, điển hình như :” Past Imperfect : French Intellectuals, 1944 – 1956” (xuất bản năm 1992), “Marxism and the French Left : Studies on Labor and Politics in France 1930 – 1982” (xb 1990), “The Burden of Responsibility : Blum, Camus, Aron and the French Twentieth Century (xb 1998)”, “A Grand Illusion? : An Essay on Europe” (xb 1996). Và đặc biệt cuốn “Postwar : A History of Europe Since 1945” (xb 2005), thì được tạp chí New York Times Book Review xếp lọai là “một trong 10 cuốn sách hay nhất trong năm 2005”.

Ở vào tuổi 16 – 20, Tony đã nhiều lần về Do Thái để tham gia xây dựng kibbutz ở nông thôn và làm cả việc phiên dịch cho các đòan thiện nguyện viên trong cuộc chiến tranh 7 ngày năm 1967. Nhưng sau đó, Tony đã có lập trường khác biệt với chính quyền Do Thái và trở về đi học lại để hòan tất học trình thi Tiến sĩ và bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu và giảng dậy chuyên môn về lịch sử và chính trị cho đến khi lìa đời vào tháng 8 năm 2010 tại New York.

Năm 2003, Tony Judt đưa ra chủ trương “Một quốc gia – hai dân tộc” (A bi-national State) như là giải pháp cho cuộc tranh chấp Do Thái & Palestine – thì gặp phải sự phản ứng gay gắt trong công luận – khiến cho một vài tạp chí phải từ chối sự cộng tác của ông.

Về đời tư của gia đình, thì Tony Judt có hai người vợ trước đều đã ly dị. Sau cùng, ông sống đến cuối đời với bà vợ thứ ba tên là Jennifer Homans và có hai người con trai với bà này được đặt tên là Daniel và Nicolas.

2 – Timothy Snyder (sinh năm 1969)

Sinh trưởng tại Mỹ, Timothy Snyder theo học tại Đại học Brown ở Mỹ và tốt nghiệp văn bằng Tiến sĩ từ Đại học Oxford Anh quốc. Ông còn tham gia nghiên cứu tại Paris, Warsaw, Vienna và Đại học Harvard. Ông chuyên giảng dậy tại Đại học Yale về môn Lịch sử chính trị của Đông Âu hiện đại.

Ông cũng là tác giả của 5 cuốn sách đều được giải thưởng – trong đó cuốn sách nhan đề “Bloodlands : Europe between Hitler and Stalin” (Miền Đất Đẫm Máu) đã trở thành sách bán chạy nhất tại 4 quốc gia và được 10 nhà xuất bản xếp vào lọai sách hay nhất trong năm.

Timothy Snyder là người thông thạo rất nhiều ngôn ngữ Đông Âu, cụ thể như tiếng Nga, Ba Lan, Ukraine, Belorussian, Tiệp khắc và cả tiếng Yiddish của người Do Thái ở Đức và Trung Âu – đó là chưa kể tiếng Pháp và Đức. Sách của ông đã được dịch ra đến 20 ngôn ngữ khác. Chính Tony Judt đã xác nhận trong Lời cuối sách rằng :  Với sự thông suốt về lịch sử và văn hóa Đông Âu, thì Timothy Snyder là phần bổ túc thật quý báu cho mình, mặc dầu Timothy trẻ hơn 21 tuổi so với Tony.

Tuy vậy, do sự khiêm tốn, trong cuốn sách này Timothy Snyder đã lọai bỏ bớt đi phần nói về tiểu sử của bản thân mình – cốt ý để cho Tony Judt đóng vai trò chính yếu trong việc hòan thành cuốn sách. Độc giả có thể nhận ra chi tiết đó ngay trên trang bìa sách, thì chữ Tony Judt cũng lớn hơn hẳn chữ Timothy Snyder – ông này tự coi như mình chỉ là ‘một tác giả phụ” của cuốn sách mà thôi.

II – Mấy nét chính yếu của tác phẩm.

1 – Có thể xếp lọai cuốn sách này là Lịch sử Tư tưởng Chính trị và giới Trí thức trong sinh họat chính trị của thế kỷ XX ở Âu châu – đó là một lãnh vực mà cả hai tác giả đều đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm. Vì thế mà có ấn bản lại ghi thêm một nhan đề phụ nữa là : “ Giới Trí thức và Chính trị” (Intellectuals and Politics) để bạn đọc chú ý hơn đến nội dung của sách. Phần Tự thuật của riêng Tony Judt có tác dụng minh họa cho những nghiên cứu cũng như về sự gặp gỡ trao đổi của ông với nhiều vị thức giả có tên tuổi trong giới học thuật đặc biệt xuất thân từ Đông Âu.

Cuốn sách được thành hình qua nhiều cuộc trao đổi đối thọai giữa hai vị giáo sư chuyên về môn lịch sử ở Âu châu thời cận đại – nên có tính chất linh họat của lối văn nói hơn là văn viết.

2 – Về mặt bố cục, sách được chia thành 9 chương với Lời Nói đầu của Timothy Snyder và Lời Nói cuối của Tony Judt do ông này viết tại New York vào ngày 5 tháng Bảy năm 2010 – chỉ mấy tuần trước ngày ông từ giã cõi đời vào tháng 8 năm 2010. Mỗi chương đều có nhan đề riêng biệt, điển hình như sau :

ñ  Chương 3 : Familial Socialism : Political Marxist

ñ  Chương 5 : Paris, California : French Intellectual.

ñ  Chương 6 : Generation of Understanding : East European Liberal

ñ  Chương 7 : Unities and Fragments : European Historian

ñ  Chương 9 : The Banality of Good : Social Democrat.

Phần cuối sách còn có 6 trang kê khai rất nhiều tác phẩm được hai tác giả đề cập thảo luận tới trong các cuộc đối thọai. Cuốn sách thật hấp dẫn lôi cuốn đối với người đọc – vì trong nội dung mỗi đề tài thảo luận giữa hai tác giả, thì đều ghi xen lẫn cả nhiều chi tiết về quá trình sinh sống, gặp gỡ quen biết với các chuyên gia đày tài năng khác và cả sự miệt mài say sưa trong công việc nghiên cứu không biết mệt mỏi – đó là tính chất đặc trưng của Tony Judt.

3 – Vì chủ đề của những cuộc trao đổi thảo luận quá rộng rãi – bao quát nhiều khía cạnh của lịch sử tư tưởng và sinh họat chính trị tại Âu châu suốt trong thế kỷ XX, nên việc tóm lược cho thỏa đáng về những điểm cốt lõi của cuốn sách là một công việc hết sức khó khăn – nhất là lại phải gói gọn trong một bài giới thiệu không thể kéo dài quá 3,000 chữ như thường lệ. Do vậy, tôi chỉ xin nêu ra vài ba khía cạnh đặc trưng đáng chú ý nhất trong tác phẩm – đặc biệt đối với số người Việt vốn từng quen theo dõi tình hình sinh họat chính trị tại nước Pháp. Đó là nội dung được trình bày trong phần III sau đây.

III – Những khía cạnh đáng chú ý nhất trong cuốn sách.

1 – Cách tiếp cận của người vừa ở trong cuộc, vừa ở ngòai cuộc.  (Insiders/Outsiders Approach)

Như tác giả Timothy Snyder đã ghi trong Lời nói đầu, Tony Judt vừa là người trong cuộc, vì ông dấn thân họat động cụ thể trong một số lãnh vực như một người trí thức nhập cuộc (intellectuel engagé) – mà ông cũng còn là người ngọai cuộc, vì ông chủ trương theo đuổi cái viễn kiến rộng rãi hơn, thông thóang hơn của một nhà nghiên cứu lịch sử vốn đòi hỏi một tinh thần bao quát khách quan hơn. Điều này khác biệt với phong cách của một nhà viết tiểu luận (essayist) vì ông này cần bày tỏ lập trường nhận định của mình với sự xác tín và nhiệt huyết của cá nhân mình trong bài viết – mà không bó buộc phải cân nhắc đắn đo với những đối chiếu thận trong của một nhà viết sử.

Cụ thể là Tony lúc ở tuổi 16 – 20, thì đã từng về bên nước Do Thái để tham gia xây dựng tại các kibbutz. Nhưng sau này Tony lại có ý kiến khác hẳn với chủ trương của nhà đương quyền ở xứ này. Cũng vậy, Tony theo truyền thống Marxist trong gia đình, nhưng khi trưởng thành chín chắn, thì lại theo đường hướng Xã hội Dân chủ mà ông coi là nhân bản tốt đẹp hơn hẳn chế độ tàn bạo sắt máu trong hệ thống cộng sản do Liên Xô đứng đầu. Và nhờ tiếp cận thân thiết với giới trí thức lưu vong từ Đông Âu sau năm 1968, mà Tony có cơ hội thấu hiểu cặn kẽ hơn về cái bối cảnh tòan diện chính trị xã hội và văn hóa của cả hai phía Đông Âu và Tây Âu – điều mà ít có người thức giả thực hiện được.

2 – Nhận định phê phán về Giới Trí thức của nước Pháp.

Là một nhà nghiên cứu lâu năm về tình hình chính trị cận đại của nước Pháp, Tony Judt đã trình bày những nhận xét hết sức rõ rệt sắc nét về giới Trí thức của Pháp trong thế kỷ XX. Tony thẳng thừng phê phán những trí thức thiên tả hàng đầu của Pháp như Jean – Paul Sartre, Maurice Merleau-Ponty, Simone de Beauvoir … là những người cố chấp, thiên vị đến độ mù lòa (blindfully) đồng lõa với chủ trương tàn ác của Staline. Họ coi cách mạng ở Nga năm 1917 là sự tiếp nối của cách mạng Pháp năm 1789. Tony coi họ có tinh thần điạ phương cục bộ, khư khư bám víu vào cái hư danh của truyền thống cũ kỹ cổ xưa của mình (parochial). (Xin đọc chi tiết nơi cuốn “Past Imperfect : French Intellectuals, 1944 – 1956 – xuất bản năm 1992)

Trái lại, Tony Judt lại đề cao những trí thức như Léon Blum, Albert Camus và Raymond Aron là những người đã có sự dũng cảm đi ngược lại cái khuynh hướng thiên tả cố chấp của đa số trí thức đương thời – để nói lên sự cảnh báo trước nguy cơ bành trướng của khối cộng sản Liên Xô kể từ sau năm 1945. Ông đã viết cả một cuốn sách nhỏ xuất bản năm 1998 dưới nhan đề là “The Burden of Responsibility…” đề cập chi tiết hơn về ba nhân vật này.

Trong cuộc đàm đạo với Timothy, thì Tony còn thuật lại vào tháng 2 năm 1948, cựu lãnh đạo Mặt trận Bình Dân ở Pháp năm 1936 (Front Populaire) là chính Léon Blum đã phải viết trong bài xã luận của tờ báo Le Populaire của Đảng Xã hội rằng : Ông nhận sự sai lầm của mình khi tin rằng phe Xã hội có thể hợp tác với phe Cộng sản” (trang 214) .

3 –  Về chính sách kinh tế, Tony Judt bênh vực John Maynard Keynes.

Giữa hai quan điểm đối nghịch của John Maynard Keynes là kinh tế gia người Anh giữa thế kỷ XX và của Friedrick Hayek người gốc Áo quốc gần đây, thì Tony Judt có vẻ thiên về tác giả Keynes là người cổ võ cho chính sáchTòan dụng trong nền Kinh tế Vĩ mô (Full Employment in Macro-economics) – mà ông coi là bổ túc cho khuynh hướng của chủ trương kế họach hóa do Sir William Beveridge đề xuất ở nước Anh. Tony biện minh rằng chủ trương của Keynes có tính cách mềm dẻo linh động, chứ không có sự khe khắt khắc nghiệt làm tê liệt sáng kiến của giới doanh nhân –  như Hayek đã nặng nề phê phán, đặc biệt trong tác phẩm nổi danh “The Road to Serfdom” của ông (Con Đường dẫn đến Sự Nô dịch).

Tony coi trọng thành quả của Tây Âu là đã xây dựng vững chắc được các định chế dân chủ và đặt nền móng sâu rộng cho một số quốc gia có nền phúc lợi xã hội khả quan (The Social Welfare State). Đặc biệt là sự thành công của chế độ Dân chủ Xã hội tại các quốc gia ở Bắc Âu châu (Social Democracy).

IV – Để tóm lược lại.

1 – Tuy chủ đề của cuốn sách quá rộng lớn bao quát, nhưng vì nội dung của các buổi thảo luận được trình bày xen kẽ với nhiều chi tiết sinh động về tiểu sử có tính cách tự thuật của Tony Judt, nên người đọc dễ theo dõi câu chuyện với sự thích thú kỳ diệu mà lại nhẹ nhàng. Cả hai tác giả đều là những nhà giáo – nhà nghiên cứu uyên bác và đã từng có những tác phẩm được đánh giá cao trong học giới cũng như trong công chúng độc giả. Vì thế, sự trình bày của họ trong cuốn sách thì rất là phong phú khúc chiết – nó giúp chúng ta có được một cái nhìn tổng hợp về tư tưởng và hành động của giới trì thức tiêu biểu tại Âu châu trong thế kỷ XX. Có thể nói các tác giả đã cung cấp cho người đọc một thứ lộ đồ (a road map) để khám phá cái không gian tư tưởng cực kỳ bao la đa dạng và phức tạp của thế kỷ XX.

2 – Đúng như nhan đề của bài viết, cuốn sách này là một thứ tự thuật của Tony Judt về quá trình nhập cuộc của bản thân mình trong sự tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng cho xã hội đương thời. Mà đồng thời cũng trình bày những nét chính yếu về vai trò của tòan thể giới trí thức ở Âu châu trong sinh họat chính trị văn hóa suốt thế kỷ XX. Các tác giả đã bày tỏ sự lạc quan và xác tín của mình trước viễn tượng của một nền Dân chủ Xã hội mà các thế hệ trẻ của thế kỷ XXI có thể xây dựng được – sau khi rút kinh nghiệm từ những thất bại của các thế hệ đàn anh của thế kỷ XX.

*     *  Người viết xin hân hạnh được giới thiệu với quý bạn đọc cuốn sách rất hấp dẫn lôi cuốn và cũng thật có giá trị vững chắc này vậy./

Costa Mesa California, Tháng 12 năm 2012

Đoàn Thanh Liêm

Gặp nữ tài tử khai sinh nghề nail cho cộng đồng Việt tại Mỹ

Gặp nữ tài tử khai sinh nghề nail cho cộng đồng Việt tại Mỹ

Nguoi-viet.com

*40 năm hội ngộ của Weimar Hope Village – chiếc nôi nghề nail của người Việt tị nạn


Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, Calif. (NV) – “Nhớ đến trại Weimar là nhớ đến những ân nghĩa người Mỹ dành cho mình, dạy học tiếng Anh, dạy học đánh máy, dạy lái xe, dạy nghề nail, tất cả giúp cho mình nhiều lắm để hòa nhập vào đời sống nơi đây.” Ông Trần Dật, 80 tuổi, hiện ở Glendale, bày tỏ suy nghĩ.

Ông Dật, 80 tuổi, cựu phi công trong Quân Lực VNCH, là một trong số đông những người có mặt tại tòa soạn Nhật Báo Người Việt vào trưa Chủ Nhật, 26 Tháng Bảy, để cùng tham dự buổi hội ngộ đầu tiên của những người từng trải qua ngày tháng sống tại Weimar Hope Village, nơi được xem là chiếc nôi của nghề nail của người Việt tị nạn từ 40 năm trước.

40 năm vẫn muốn nói một lời tạ ơn

40 năm – thời gian bằng nửa đời người – có được một lần hội ngộ, để gặp lại những người xưa năm cũ, để được nói một lời cám ơn những ân tình nhận được trong những ngày tháng lao đao nhất, quả thật có nhiều cảm xúc.

Những người từng ở Weimar Hope Village năm 1975 gặp lại sau 40 năm (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Bà Trương Kim Dung, hiện ở Laguna Niguel, người khởi xướng cho buổi gặp gỡ đặc biệt này, cho biết: “Lý do để 40 năm mới tổ chức được buổi này là vì khi ra khỏi trại, mọi người đi tản mác khắp nơi, không liên lạc được với ai, nên sự thân mật gần gũi không đủ mạnh để tổ chức được điều gì. Đến dịp 40 năm vừa rồi cứ nghe trên đài trên báo nói nhiều quá nên lòng tôi cũng hơi xốn xang, tôi nghĩ mình phải có một dịp để cám ơn tổ chức “Food For the Hungry”, cám ơn những người đã giúp mình từ những ngày đầu đến Mỹ nên tôi cố gắng viết thư liên lạc, để chuẩn bị nhiều thứ cho ngày họp mặt này.”

Nghe hỏi “Cô nhớ gì nhất trong những ngày ở trại Weimar?”, bà Dung chùng giọng, “Tôi đến Mỹ khi đó mới 26 tuổi, cùng hai đứa con, chồng thì mất trước đó, nên tâm trạng không vui. Thế nên khi đứng đâu ngồi đâu cũng tìm, cũng nhìn những gì gợi quê hương, vì vậy mà những hàng thông ở Weimar, mùi thông ở Weimar là thứ làm tôi nhớ nhất, bởi nó làm tôi nhớ nhà.”

Với ông Nguyễn Cao Đạt, người con trai thứ ba của cựu thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, thì Weimar Hope Village mang đến nhiều kỷ niệm không quên, bởi ông chính là “thiện nguyện viên đầu tiên đặt chân vào trại này cùng cựu Đại Tá Không Quân Jack Bailey.” Ngày đó, Nguyễn Cao Đạt mới là một thanh niên 19 tuổi.

Ông Đạt kể: “Khởi đầu Weimar Hope Village vốn là một nhà thương. Khi người ta không còn dùng nó làm bệnh viện nữa thì tổ chức ‘Food For the Hungry’ mướn chỗ này để đưa người Việt Nam tị nạn đến. Khi đó cựu Đại Tá Không Quân Jack Bailey liên lạc với bố tôi là Nguyễn Cao Kỳ nói rằng ông muốn giúp những người tị nạn Việt Nam, đặc biệt là những người Không Quân. Bố tôi nói làm gì được cho người tị nạn bố tôi đều sẵn sàng. Tôi nghe được cuộc nói chuyện giữa hai người nên nói với bố là tôi tình nguyện đi với ông Bailey.”

“Có thể nói tôi là người thiện nguyện đầu tiên bước chân vào trại này, lúc đó chưa có ai hết. Tôi cùng ông Bailey đến đây sắp xếp mọi thứ trước khi đón mọi người đến. Rồi nhiều người cùng đến giúp đỡ, trong đó có Bác Sĩ Larry Ward, có tài tử Tippi Hedren…” Ông Đạt nhớ lại.

40 năm, lần đầu gặp lại, ông Đạt thấy “vui lắm, đặc biệt lắm.”

Ông nói, “Ngày đó mình còn trẻ, có nhiều người cũng trẻ như mình, giờ bao nhiêu năm gặp lại thấy vui, thấy quý lắm. Đặc biệt nhất là con nuôi của ông Jack Bailey là cậu Minh, 40 năm mình mất liên lạc với nhau, vậy mà hôm nay nhờ buổi này mà mình mới gặp lại nối lại tình bạn tình anh em ngỡ như đã mất.”

Cũng cùng cảm xúc đó, ông Trần Dật bày tỏ, “Gặp lại những người từ 40 năm trước thấy rất xúc động. Có người ở Sacramento xuống, có người ở tiểu bang khác về. Gặp nhau vui lắm. Vui nhất là mình còn sống để được nhìn thấy mọi người, chứ nhiều người đã mất rồi. Ngày đến trại tôi mới 40, giờ đã 80 rồi còn gì.”

Nữ tài tử Tippi Hedren (ngồi, bên phải), người mang nghề nail đến cho người Việt tị nạn từ năm 1975

và những học viên nghề nail đầu tiên trên đất Mỹ, hội ngộ sau 40 năm. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Bà Ánh Vũ, 67 tuổi, ở Thousand Oaks thuộc Ventura County, tỏ ra rất vui khi nhớ lại ngày tháng cũ: “Nhớ lại thời đó cái gì cũng làm, ai kêu gì mình cũng giúp. Ban đêm ban khuya có loa gọi đi thông dịch, mình cũng đi. Tôi cũng đi học nail cùng mọi người để giúp thông dịch cho những người không biết tiếng Anh nữa.”

Bà Ánh nghỉ hưu từ 7 năm trước, sau một ngày duy nhất đi làm nail và 32 năm liên tục làm việc cho ngân hàng. Bà nói, “Tôi không có thói quen nghĩ về những điều đau buồn đã qua. Những gì không vui hãy cứ để nó trôi qua. Tôi chỉ muốn hướng đến những gì tốt hơn, và giúp mọi người với tất cả khả năng mình có.”

Tại buổi gặp gỡ, những người có mặt nhắc nhiều đến Bác Sĩ Larry Ward, người sáng lập tổ chức “Food For The Hungry”, tổ chức đã giúp đỡ cho các gia đình tị nạn Việt Nam tại Weimar Hope Village.

Bà Cao Thị Hoa Đào, hiện ở Elk Grove, từng là thư ký của Bác Sỹ Larry Ward từ những ngày còn ở Sài Gòn, cũng có mặt tham dự buổi hội ngộ 40 năm. Bà nói trong sự xúc động, “Được hiện diện ở đây tôi muốn cám ơn người sáng lập ra hội ‘Food for the Hungry’ mà tôi may mắn được làm thư ký cho ông từ lúc còn ở Việt Nam. Tôi tin rằng ông vẫn còn đâu đó quanh chúng ta, hướng về chúng ta để giúp chúng ta như ông đã từng.”

Nhiều giọt nước mắt đã lăn trên những gương mặt hằn nhiều vết nhăn của thời gian, không kể đàn ông hay phụ nữ, khi nghe người này, người kia nhắc lại, ôn lại ký ức xưa, kể từ những phút cuối cùng họ trắng tay, mất gia đình, mất sự nghiệp, mất cả quê hương.

Gặp người khai sinh nghề nail cho cộng đồng Việt

Có lẽ nhân vật được chú ý nhiều nhất, được mọi người vây quanh chụp hình nhiều nhất trong buổi hội ngộ của Weimar Hope Village chính là nữ tài tử Tippi Hedren, người được xem là khai sinh ra nghề nail cho cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ từ năm 1975.

85 tuổi, nhưng nét đẹp quý phái, sang trọng vẫn rạng rỡ trên gương mặt của người diễn viên nổi tiếng trong cuốn phim kinh dị The Birds của đạo diễn Alfred Hitchcock. Không chỉ vậy, vẻ đẹp nhân hậu của một tâm hồn luôn hướng về những người đau khổ dường như lại vượt lên tất cả khi nhìn ngắm bà.

Tài tử Tippi Hedren, người có công mang nghề nail đến cho cộng đồng Việt Nam. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Trò chuyện với phóng viên Người Việt, bên cạnh là nữ tài tử Kiều Chinh, người cũng trải qua một thời gian ngắn ở Weimar Hope Village, bà Hedren kể lại những công việc mà bà đã làm để giúp đỡ tha nhân nói chung và người tị nạn Việt Nam buổi đầu nói riêng.

“Trong thời gian làm thiện nguyện cho ‘Food For The Hungry’, tôi đi vòng thế giới để giúp mọi người ở những nơi bị động đất, sóng thần, hay bất cứ tai ương nào. Khi Sài Gòn bị thất thủ, biết được có nhiều người Việt Nam vượt thoát trên những chiếc thuyền nhỏ, chúng tôi bèn mướn một chiếc tàu cùng thủy thủy đoàn của Úc đi vòng vòng trên biển China Seas để giúp cho những thuyền nhân.” Bà Herden bắt đầu câu chuyện.

Bà tiếp tục, “Chúng tôi cho họ thức ăn, quần áo, thuốc men. Nhưng do luật hàng hải quốc tế, nên những người Việt Nam không thể ở trên tàu được. Tuy nhiên chúng tôi có thể hướng dẫn họ đi đến những bến bờ nào an toàn vì tôi nghĩ nhiều thuyền không có la bàn, họ không biết nơi mình đến. Đó là một phần quan trọng trong số những việc mà chúng tôi làm.”

“Sang đến Mỹ, trại Weimar Hope Village ở miền Bắc California vốn là một bệnh viện trị lao trước đây nên rất lớn, có rất nhiều phòng. Họ dùng nơi đó cho người tị nạn ở. Rồi chúng tôi đi tìm sự đỡ đầu, tìm những thứ cần thiết để giúp cho người tị nạn như dạy họ lái xe, hướng dẫn họ thi lấy bằng lái, tìm việc làm… Tôi mang đến trại Weimar những người thợ dạy cắt may, dạy đánh máy để giúp cho những người chưa có việc làm có việc để học, để họ có được một nghề trong tay để mà đi kiếm việc.” Diễn viên Tippi Hedren nhớ lại.

Theo lời kể của bà Hedren, trong thời gian lui tới giúp đỡ cho những người tị nạn Việt Nam tại Weimar, bà làm bạn với khoảng 20 người phụ nữ khác ở đây, những người theo bà là “rất thân, rất tử tế, dịu dàng” và bà “thích họ lắm”.

Người phụ nữ có đôi mắt thật đẹp này nhớ tiếp, “Trong thời gian quen biết họ, tôi nhận ra là họ rất thích hai bàn tay tôi với những móng tay dài, được chăm chút kỹ lưỡng, và hay sơn màu san hô. Thế là tôi nghĩ, ồ, đây là cơ hội tuyệt nhất cho những người phụ nữ này đi học nghề nail, để trở thành những người thợ nail chuyên nghiệp.”

20 phụ nữ gốc Việt đầu tiên được học nghề nail

từ trại Weimar Hope Village 40 năm trước (Hình: Facebook củaWeimar Hope Village)

Nghĩ là làm. Nữ tài tử xinh đẹp Tippi Hedren bèn “đề nghị người thợ làm móng của tôi ở Los Angeles lên Weimar dạy cho những người phụ nữ đó làm nail. Cô ta đồng ý và mỗi tuần một lần cô ta lên Weimar dạy cho những người phụ nữ Việt Nam các bước làm móng, rồi họ thực tập làm với nhau, họ tập làm luôn trên cả tay của tôi.”

“Chúng tôi đã có một thời gian rất vui khi nhìn thấy một cơ hội đầy thú vị để trở thành thợ nail chuyên nghiệp. Nghề nail có thể là một nghề sang cả, một nghề mang đầy tính nghệ thuật.” Bà nói.

Bà tiếp tục kể lại chuyện của 40 năm trước, bằng giọng dịu dàng, “Người thợ nail của tôi tên là Dusty, tôi không nhớ họ cô ta. Cô ta thích công việc làm nail, thích cả việc dạy cho những người phụ nữ này làm nail. Nhiều người cũng thích cổ và theo học tới cùng, dù không phải tất cả.”

“Rồi chúng tôi mướn một chiếc xe bus chở họ đến một trường mà tôi quên tên rồi, ở phía Nam của Sacramento, để họ học tiếp lấy bằng. Họ đều đậu khi thi bằng tiếng Anh. Tôi nghĩ chương trình giúp đỡ cho những người tị nạn này đã rất thành công Họ đi ra khỏi Weimar, và đi làm.”

“Tôi vẫn giữ liên lạc với họ. Lúc đó nghe có người khoe mua nhà, người thì mua xe Cadillac. Tất cả đều như chuyện hoang đường, không tin được. Bởi vì thật không hề dễ dàng cho bất kỳ ai đặt chân đến một nơi xa lạ mà mình hoàn toàn không biết, ngay sau khi vừa bước ra khỏi sự hoang tàn cuộc chiến. Điều tuyệt vời nhất để nhìn về sự thành công của họ chính là ở chỗ họ đã từng cảm thấy rất sợ hãi vì họ mất tất cả mọi thứ, kể cả quê hương.” Người phụ nữ góp phần mang lại sự giúp đỡ lớn lao cho người tị nạn Việt Nam nói về những suy nghĩ đầy nhân bản của mình.

Trả lời cho câu hỏi, “Khi tìm người dạy nghề nail cho 20 người phụ nữ Việt Nam đầu tiên, bà có nghĩ đến việc nghề nail sẽ thành công và phát triển như hôm nay không?”

Bà Hedren tròn mắt, “Thật không thể tưởng tượng được. Hiện nay nail đã trở thành ngành công nghiệp mang lại hàng tỉ đô la. Tôi ước gì tôi có được một phần nào số tiền đó.”

“Tôi thật sự không ngờ nó lại thành công và phát triển đến mức như vậy. Tôi rất vui khi nghề nail đã mang sự thành công đến với những người thợ nail và cả gia đình của họ để có được cơ sở tài chánh vững vàng, để có cuộc một cuộc đời tươi đẹp nơi đây.” Bà mỉm cười.

Liên lạc tác giả: Ngoclan@ngươi-viet.com

Ông tướng Phùng Quang Thanh đi xem ‘giao lưu nghệ thuật’

Ông tướng Phùng Quang Thanh đi xem ‘giao lưu nghệ thuật’

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Mãi cho đến hôm Thứ Hai, truyền thông chính thống CSVN mới đưa tin kèm theo hình ảnh và video clips ông đại tướng bộ trưởng quốc phòng để giải tỏa các lời đồn đoán ông ta đã chết.

Tướng Phùng Quang Thanh ngồi cạnh Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng
tham dự buổi “giao lưu nghệ thuật” có chủ đề là “khát vọng đoàn tụ” ở Hà Nội.
(Hình: VnExpress)

Các báo ở Việt Nam đưa tin ông tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc Phòng CSVN tới hội trường Bộ Quốc Phòng, buổi tối ngày 27 tháng Bảy, 2015, tham dự “chương trình giao lưu nghệ thuật” với chủ đề “Khát vọng đoàn tụ” nhân kỷ niệm “68 năm Ngày Thương Binh-Liệt sĩ do Ban Chỉ Đạo Quốc Gia 1237 phối hợp với Đài Truyền Hình Việt Nam, Trung Tâm Phát Thanh-Truyền Hình Quân Đội tổ chức.”

Chương trình này được truyền hình trực tiếp trên VTV1 thấy có sự có mặt của một số nhân vật hàng đầu của chế độ như ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang, phó chủ tịch Quốc Hội Tòng Thị Phóng, phó thủ tướng Vũ Đức Đam, chủ tịch MTTQ Nguyễn Thiện Nhân, trưởng Ban Dân Vận Trung Ương Hà Thị Khiết. Và đặc biệt, có mặt ông Phùng Quang Thanh.

Một vài đoạn video clips ngắn và một số hình ảnh được hệ thống báo đài nhà nước trưng ra để chứng minh một ông Phùng Quang Thanh bằng xương bằng thịt còn sống chứ không phải đã chết, kể cả chuyện bị ám sát, như những lời đồn đãi tràn lan trên mạng từ một tháng nay.

Cho tới khi báo chí trong nước đưa tin ông Phùng Quang Thanh về đến phi trường Nội Bài, Hà Nội, sáng ngày 25 tháng Bảy, 2015, vẫn có những lời nghi ngờ vì tấm hình duy nhất mà tờ Tuổi Trẻ trưng ra được chụp từ xa. Người được nói là ông Phùng Quang Thanh đứng lố nhố cùng với một số người phía sau chiếc Lexus SUV không được rõ nét, nên không đánh tan được ngờ vực.

Ông Phùng Quang Thanh qua Pháp chữa bệnh nghi là bị ung thư phổi nhưng ngụy trang dưới hình thức sang Pháp gặp bộ trưởng Quốc Phòng Pháp ngày 19 tháng Sáu. Ngay ngày hôm sau thì ông vào bệnh viện George Pampidou rồi được giải phẫu cắt “khối u” ở phổi và rồi bệnh viện ngày 10 tháng Bảy.

Trong khi đó, Ban Bảo Vệ Sức Khỏe Trung Ương ở Hà Nội thì loan tin dối trá là ông vào bệnh viện ở Paris ngày 24 tháng Sáu, khác với sổ bệnh nhân của bệnh viện nói trên.

Các tin tức liên quan đến sức khỏe, bệnh tật của những người cầm đầu chế độ độc tài đảng trị ở Việt Nam thường được che giấu kỹ lưỡng cho tới khi nào không thể che đậy được nữa thì mới xì ra một ít.

Nếu không có những lời đồn đại ông ta bị ám sát hoặc tin ông ta đi chữa bệnh rồi chết ở Pháp thì chuyện ông Phùng Quang Thanh mượn cớ sang Pháp chữa bệnh sẽ hoàn toàn không được thấy trên mặt báo chí chính thống của chế độ.

Tin ông Nguyễn Bá Thanh bị ung thư chạy sang Mỹ chữa bệnh ở Seattle chỉ được báo chí trong nước thuật lời quan chức “Ban bảo vệ sức khỏe trung ương” nói đến khi hình ảnh ông Nguyễn Bá Thanh nằm trên giường bệnh viện ở Mỹ truyền đi rộng rãi trên các diễn đàn thông tin “lề trái.”

Dù vậy, không hề có tấm hình nào của ông Nguyễn Bá Thanh nằm bệnh viện trên báo chí nhà nước CSVN. Thậm chí, ngày ông bị bệnh viện Mỹ “chê” tức là họ đã làm hết cách và khuyên ông về Việt Nam cho gia đình lo hậu sự, vẫn bị che giấu. “Ban bảo vệ sức khỏe trung ương” vẫn còn đưa ra các lời lẽ lạc quan cho đến ngày ông ta sắp chết về phương pháp điều trị phối hợp động Tây y. Và không hề có một tấm hình nào về ông Nguyễn Bá Thanh xuất hiện.

Chuyện sống chết và sức khỏe của ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh cuối cùng được nhiều báo điện tử ở Việt Nam đưa thông tin chỉ nhằm đối phó với các mạng xã hội.

Ông Phùng Quang Thanh, 66 tuổi, được một số nhà bình luận thời sự dự đoán ông là một trong mấy ứng viên vào các ghế chủ tịch nước hay tổng bí thư Đảng CSVN tại kỳ họp đại hội đảng dự trù tổ chức vào đầu năm 2016 tới đây.

Nếu ông có vấn đề sức khỏe nghiêm trọng thì tương lai chính trị của ông ta coi nhưng đóng lại. Không có những tai tiếng tham nhũng trực tiếp nhưng con trai ông, đại tá Phùng Quang Hải, Chủ tịch Hội đồng thành viên của Tổng Công Ty 319 Bộ Quốc Phòng CSVN, bị trang mạng “Chân Dung Quyền Lực” đưa ra nhiều hình ảnh, tài liệu để “giới thiệu” tài sản kếch xù và đời sống xa hoa trụy lạc của một “ông giời con” tại Bộ Quốc Phòng.

Nếu không có ông bố chống lưng, ông con Phùng Quang Hải không thể có cơ hội thâu tóm những hợp đồng khổng lồ để vơ vét hàng triệu đô la cho bố con nhà ông. Bây giờ, ít ra, người ta thấy ông Phùng Quang Thanh còn ngồi trên ghế bộ trưởng Quốc Phòng, ủy viên Bộ Chính Trị và phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương, đại biểu Quốc Hội, cho đến đầu năm 2016, nếu ông ta không chết trước đó. (TN)

5 “chuyện lạ” ở đất nước Nhật Bản

5 “chuyện lạ” ở đất nước Nhật Bản

Dường như người Nhật Bản rất thấm nhuần và áp dụng giáo lý đạo Phật trong cuộc sống hằng ngày, cho nên họ quí trọng xem con người đều bình đẳng vì cùng có Phật tánh như nhau, chứ không dựa vào dáng vẻ giàu nghèo bên ngoài, thường xuyên làm chuyện phải có lợi ích cho người khác, cũng như không dám trộm cắp, hại người, để được nghiệp quả tốt.

Chuyện thứ nhất: Trung thực

Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các bác tài sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.

Sự trung thực của người Nhật in đậm nét ở những “mini shop không người bán” tại Osaka. Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh. Người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản. Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka… cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ, túi xách.

Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào. Người Nhật tự hào khẳng định động từ “ăn cắp vặt” gần như đã biến mất trong từ điển. Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 – 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.

Chuyện thứ hai: Không ồn nơi công cộng

Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả đường cao tốc đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn 1 hòn đảo nhân tạo để làm sân bay rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”.

Tại các cửa hàng mua sắm, dù đang vào mùa khuyến mãi, cũng không một cửa hàng nào được đặt máy phát ra tiếng. Tuyệt đối không được bật nhạc làm ồn sang cửa hàng bên cạnh. Muốn quảng cáo và thu hút thì cách duy nhất là thuê một nhân viên dùng loa tay, quảng cáo với từng khách.

Chuyện thứ ba: Nhân bản

Vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc nguyên, không thu hoạch? Không ai bảo ai, những nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn để phần 5 – 10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.

Chuyện thứ tư: Bình đẳng

Mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng. Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường. Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.

Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, quan chức, cho thấy một nước Nhật không khoảng cách. Những ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ là một nước Nhật chung ý chí, chung tinh thần lao động.

Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày ở Nhật, bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.

Chuyện thứ 5: Nội trợ là một nghề.

Ở Nhật Bản, hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các tiêu chuẩn y như một người đi làm. Về già, vẫn hưởng đầy đủ lương hưu.

Độc đáo hơn nữa là nhiều công ty áp dụng chính sách, lương của chồng sẽ vào thẳng tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề cao, tôn trọng.