Tưởng Năng Tiến – Buồn Vào Hồn Không Tên

Tưởng Năng Tiến – Buồn Vào Hồn Không Tên

Tưởng Năng Tiến

17-3-2017

Có lần, tôi nghe giáo sư Nguyễn Văn Lục phàn nàn: “Người cộng sản có một sự sắp xếp rất máy móc, đơn giản về con người và sự việc. Hoặc họ coi là bạn, hoăc là kẻ thù của họ. Miền Nam sau 1975 có chiến dịch đi ‘tìm thù’ và biến miền Nam thành mảnh đất hung bạo với những ngữ từ quen thuộc như: Quét sạch, đánh phá, truy lùng, tố cáo.”

Hơn bốn mươi năm sau, sau cái chiến dịch “tìm thù” bắt đầu từ năm 1975, có bữa tôi đang ngồi lơ tơ mơ hút thuốc thì chuông điện thoại reo:

– Tiến hả?
– Dạ…
– Vũ Đức Nghiêm đây…
– Dạ…
– Anh buồn quá Tiến ơi, mình đi uống cà phê chút chơi được không?
– Dạ …cũng được!

Tôi nhận lời sau một lúc tần ngần nên tuy miệng nói “được” mà cái giọng (nghe) không được gì cho lắm. Tôi cũng thuộc loại người không biết làm gì cho hết đời mình nên thường rảnh nhưng không rảnh (tới) cỡ như nhiều người trông đợi. Sống ở Mỹ, chớ đâu phải Mỹ Tho mà muốn đi đâu thì đi, và muốn đi giờ nào cũng được – mấy cha?

Khi Mai Thảo và Hoàng Anh Tuấn còn trên dương thế, thỉnh thoảng, tôi cũng vẫn nghe hai ông thở ra (“anh buồn quá Tiến ơi”) y chang như thế. Chỉ có điều khác là ông nhà văn khi buồn thì thích đi uống rượu, ông thi sĩ lúc buồn lại đòi đi … ăn phở, còn bây giờ thì ông nhạc sĩ (lúc buồn) chỉ ưa nhâm nhi một tách cà phê nóng. Ai sao tui cũng chịu, miễn đến chỗ nào (cứ) có bia bọt chút đỉnh là được!

Vũ Đức Nghiêm sinh sau Mai Thảo và trước Hoàng Anh Tuấn. Ông chào đời vào năm 1930. Hơn 80 mùa xuân đã (vụt) trôi qua. Cả đống nước sông, nước suối – cùng với nước mưa và nước mắt – đã ào ạt (và xối xả) chẩy qua qua cầu, hay trôi qua cống. Những dịp đi chơi với ông (e) sẽ cũng không còn nhiều lắm nữa. Tôi chợt nghĩ như thế khi cho xe nổ máy.

Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm. Ảnh:honque

Quán cà phê vắng tanh. Nhạc mở nhỏ xíu nhưng tôi vẫn nghe ra giai điệu của một bài hát rất quen:

“Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương…”

– Hình như là nhạc của Vũ Đức Nghiêm … Anh nghe xem có đúng không? Tôi đùa.

– Em nói nghe cái gì?

– Anh thử nghe nhạc coi…

– Nhạc của ai?

Tôi chợt nhớ ra là ông anh đã hơi nặng tai nên gọi cô bé chạy bàn:

– Cháu ơi, người ngồi trước mặt chúng ta là tác giả của bản nhạc Gọi Người Yêu Dấu mà mình đang nghe đó. Cháu mở máy lớn hơn chút xíu cho ổng … sướng nha!

Thấy người đối diện có vẻ bối rối vì cách nói vừa dài dòng, vừa hơi quá trịnh trọng của mình nên tôi cố thêm vào một câu tiếng Anh (vớt vát) nhưng ngó bộ cũng không có kết quả gì. Đúng lúc, chủ quán bước đến:

– Cháu nó mới từ Việt Nam sang, ông nói tiếng Mỹ nó không hiểu đâu. Ông cần gì ạ?

– Dạ không, không có gì đâu. Never mind!

Tôi trả lời cho qua chuyện vì chợt nhận ra sự lố bịch của mình. Cùng lúc, bản nhạc của Vũ Đức Nghiêm cũng vừa chấm dứt. Tôi nhìn anh nhún vai. Vũ Đức Nghiêm đáp lại bằng một nụ cười hiền lành và … ngơ ngác!

Tự nhiên, tôi thấy gần và thương quá cái vẻ ngơ ngác (trông đến tội ) của ông. Tôi cũng bị nhiều lúc ngơ ngác tương tự trong phần đời lưu lạc của mình. Bây giờ hẳn không còn ai, ở lứa tuổi hai mươi – dù trong hay ngoài nước – còn biết đến tiếng “Gọi Người Yêu Dấu” (“ngập ngừng tha thiết bồn chồn”) của Vũ Đức Nghiêm nữa. Thời gian, như một giòng sông hững hờ, đã vô tình bỏ lại những bờ bến cũ.

Vũ Đức Nghiêm, tựa như một cây cổ thụ hiếm hoi, vẫn còn đứng lại bơ vơ bên bờ trong khi bao nhiêu nhạc sĩ cùng thời đều đã ra người thiên cổ. Trúc Phương là một trong những người này. Qua chương trình Bẩy Mươi Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam, nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam đã cho biết nhiều chi tiết vô cùng thê thiết về cuộc đời của người viết nhạc (chả may) này.

Trang sổ tay hôm nay, chúng tôi xin được nắn nót ghi lại đây những nhận xét của Hoài Nam, và mong được xem như một nén hương lòng (muộn màng) gửi đến một người đã khuất:

Trúc Phương là một trong những nhạc sĩ gốc miền Nam được yêu mến nhất, từng được mệnh danh là ông vua của thể điệu Bolero tha thiết trữ tình. Ông tên thật là Nguyễn Thiện Lộc, ra chào đời năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, tức Vĩnh Bình – một xứ Chùa Tháp thu nhỏ ở vùng hạ lưu sông Cửu Long…”

“Nhạc của Trúc Phương thường buồn, rất buồn. Trong số những ca khúc của ông, hình như, chỉ có hai bản vui. Đó là: Tình Thắm Duyên Quê và Chiều Làng Em. Riêng bản Chiều Làng Em nói rằng vui là so sánh với những sáng tác khác của ông. Chứ Thực ra, bản nhạc này tuy có nội dung êm đềm trong sáng nhưng giai điệu của nó cũng man mác buồn. Không hiểu vì cuộc đời của Trúc Phương vốn nhiều chuyện buồn và đã được ông gửi gấm vào dòng nhạc hay vì ông thích sáng tác nhạc buồn nên riết rồi nó ám vào người, chỉ biết những sáng tác phổ biến nhất, nổi tiếng nhất của ông đều là những ca khúc buồn: Chiều Cuối Tuần, Nửa Đêm Ngoài Phố, Tầu Đêm Năm Cũ, Bóng Nhỏ Đường Chiều …”

Tháng 4 năm 1975, Trúc Phương bị kẹt lại. Năm 1979, ông vượt biên nhưng bị bắt và bị tù. Sau khi được thả, cuộc sống của ông trở nên vô cùng thê thảm về thể xác vật chất cũng như tinh thần. Trong một đoạn video phỏng vấn ông, được Trung Tâm Asia phổ biến tại hải ngoại, Trúc Phương cho biết:.

“Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rài đây mai đó,’bèo dạt hoa trôi’… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no…Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được…đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả.Tôi nghĩ ra được một cách..là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ…Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng…thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta..thế là mình lấy 1 đồng về….như là tiền thế chân…Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng…Mà nói anh thương…khổ lắm….Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi ,tôi đành phải trải chiếu gần chỗ ‘thằng cha đi tiểu vỉa hè’, thế rồi cũng phải nằm thôi.Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát…mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn …Tôi nghĩ mà thôi , còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…”

Chất liệu, rõ ràng, đã có (và có quá dư) nhưng cơ hội để Trúc Phương viết bài sau này (tiếc thay) không bao giờ đến – vẫn theo như lời của nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam:

Vào một buổi sáng năm 1996, Trúc Phương không bao giờ thức dậy nữa. Ông đã vĩnh viễn ra đi. Tất cả gia tài để lại chỉ là một đôi dép nhựa dưới chân. Thế nhưng xét về mặt tinh thần Trúc Phương đã để lại cho chúng ta một di sản vô giá.”

“Chúng ta ở đây là những người yêu nhạc, trong nước cũng như hải ngoại, bên này cũng như bên kia chiến tuyến. Bởi vì hơn ba mươi ca khúc nổi tiếng của ông cho dù có một hai bài có nhắc đến chữ ‘cộng hoà’ vẫn phải được xem là những tình khúc viết cho những con người không phải cho một chế độ chính trị nào. Những con người sinh ra và lớn lên trong một cuộc chiến không lối thoát với niềm khắc khoải chờ mong một ngày thanh bình . Cuối cùng thanh bình đã tới nhưng không phải là thứ thanh bình mà những ‘con tim chân chính’ trong nhạc của Lê Minh Bằng hằng mơ ước mà là thứ thanh bình của giai cấp thống trị, của một thiểu số may mắn nào đó. Chính cái thanh bình ấy đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng trong đó có người Việt Nam xấu số đáng thương tên Nguyễn Thiện Lộc, tức nhạc sĩ Trúc Phương nổi tiếng của chúng ta.”

Thôi thì cũng xong một kiếp người! Và dòng đời, tất nhiên, vẫn cứ lạnh lùng và mải miết trôi. Sáng nay, tôi lại chợt nhớ đến Trúc Phương sau khi tình cờ đọc được một mẩu tin ngăn ngắn – trên báo Pháp Luật:

Ngày 31-1, một số cán bộ hưu trí, người dân ở phường Bình Hưng Hòa B (quận Bình Tân, TP.HCM) bức xúc phản ánh cuộc họp mặt đầu năm do phường tổ chức … Ngay phần khai mạc lúc gần 9 giờ sáng, trên nền nhạc hip hop, hai phụ nữ ăn mặc hở hang, thiếu vải lên nhún nhảy, múa những động tác khêu gợi. Hai thanh niên múa phụ họa. Quan sát đoạn video chúng tôi thấy nhiều cán bộ hào hứng xem tiết mục ‘lạ mắt’ này. Có cán bộ còn dùng điện thoại quay lại cảnh hai cô gái biểu diễn, ưỡn người và ngực về phía khán giả. Nhiều người tham gia rất hào hứng, chỉ trỏ, thì thầm vào tai nhau…

Chúng tôi tiếp tục liên lạc với bà Nguyễn Thị Bích Tuyền, Phó Chủ tịch phường kiêm Chủ tịch Công đoàn phường … bà Tuyền lý giải: ‘Tiết mục múa chỉ diễn ra gần 3 phút và đây là vũ điệu theo phong cách Hawaii nên hơi lạ…”

Nếu ngay sau khi chiếm được miền Nam mà qúi vị cán bộ cộng sản cũng có được cách “lý giải” tương tự thì thì Mai Thảo, Hoàng Anh Tuấn … đã không phải bỏ thân nơi đất lạ. Vũ Đức Nghiêm cũng đã tránh được những giây phút bơ vơ, ngơ ngác, lạc lõng ở xứ người. Và Trúc Phương thì chắc chắn vẫn sẽ còn ở lại với chúng ta, vẫn có những đêm khắc khoải buồn vào hồn không tên, thay vì nằm chết cong queo trong đói lạnh – trên một manh chiếu rách – với tài sản duy nhất còn lại chỉ là một đôi dép nhựa.

Mọi cuộc cách mạng luôn luôn có cái giá riêng của nó. Riêng cái thứ cách mạng (thổ tả) của những người cộng sản Việt Nam thì đòi hỏi mọi người đều phải trả cái giá (hơi) quá mắc mà thành quả – xem ra – không có gì, ngoài tội ác!

khoảng 40 dân oan Tiền Giang lên trụ sở Thanh tra chính phủ

From facebook: Trần Bang added 3 new photos.
Trưa nay 17-3 -2017, khoảng 40 dân oan Tiền Giang lên trụ sở Thanh tra chính phủ phía Nam ở 210 Võ Thị Sáu,  HCM đòi hỏi giải quyết khiếu nại cho bà con bị mất đất đai, ruộng vườn…

Sau đó bà con bị cưỡng chế lên xe buýt đưa về Văn phòng tiếp dân tại 35 Hồ Ngọc Lãm, quận Bình Tân, tại đây bà con đã giăng biểu ngữ phản đối chủ tịch tỉnh Tiền Giang…

Tối bà con bị buộc quay về quê.

Không biết khi nào Dân oan hết oan ức, hết khổ sở, hết bị chính quyền địa phương và TU dưa nhau và lừa bà con?

( FB Trần Hoàng )

Image may contain: 1 person, standing and outdoor
Image may contain: 1 person, walking, standing, crowd and outdoor
Image may contain: 1 person, sky and outdoor

Dùng súng ép cung người vô tội.

From facebook:  Hoang Le Thanh shared his post.
Dùng súng ép cung người vô tội.

Hoang Le Thanh

Công an huyện Bù Đăng dùng súng ép cung dân oan.

Kết án người vô tội tính từng ngày: bản án 2 năm 6 tháng 17 ngày.

Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước phán quyết bản án chính xác từng ngày.

Một bản án không tiền khoáng hậu trong lịch sử tòa án thế giới. Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã tự bôi tro trát trấu lên mặt mình khi nhất quyết không nhận lỗi đã giam giữ trái phép dân oan.

Ngày 16/3/2016, toà án tỉnh Bình Phước đã mở phiên toà phúc thẩm kết án 2 năm 6 tháng 17 ngày tù giam đối với bà Nguyễn Thị Tâm – một dân oan bị cướp đất, đúng với thời gian bà bị giam giữ oan ức trong tù.

Do bản án phúc thẩm bằng với thời gian bị giam giữ điều tra nên bà Tâm đã được trả tự do ngay tại toà. Khi vừa kết thúc phiên xử, bà Tâm liền ôm con rồi bật khóc uất hận.

Bà Nguyễn Thị Tâm đã lên tiếng tố cáo đại uý Nguyễn Đình Khuyên – cán bộ CA huyện Bù Đăng đã dùng súng đánh đập và bức cung bà trong quá trình điều tra.

“Nguyễn Đình Khuyên, đập và lấy súng bắn … Bắt quỳ xuống, dẫm lên tay rồi đánh vô tai”, bà Tâm kể lại trong tiếng khóc uất nghẹn.

Sau hơn 2 năm 6 tháng ngồi tù oan khuất, toàn bộ nhà cửa, ruộng vườn của vợ chồng bà đã bị cướp đoạt, hoàn cảnh không nơi nương tựa.
Hiện chồng bà, ông Ngô Văn Huynh vẫn bị kết án 3 năm tù giam.

Xin cám ơn các Luật sư Nguyễn Khả Thành, Lê Ngọc Luân và Nguyễn Văn Quynh đã tích cực bảo vệ thân chủ.

Mời các bạn xem video: Ngay sau khi buộc trả tự do, bà Tâm đã lên tiếng tố cáo đại uý công an Nguyễn Đình Khuyên – CA huyện Bù Đăng đã dùng súng đánh đập và bức cung bà trong quá trình điều tra.

Chính phủ áp lực YouTube vì không kiểm soát được video bất đồng chính kiến

Chính phủ áp lực YouTube vì không kiểm soát được video bất đồng chính kiến

2017-03-15

Phụ nữ dùng computer, ảnh minh họa.

Phụ nữ dùng computer, ảnh minh họa.

AFP photo
Một vài công ty lớn ở Việt Nam phải ngưng các quảng cáo trên YouTube sau khi nhà nước tung ra chiến dịch kiểm soát những chia sẻ bất đồng chính kiến trực tuyến vào tháng trước.

Những tập đoàn lớn như Unilever và Samsung cũng chịu ảnh hưởng.

Vào tháng trước, nhà nước Cộng sản Việt Nam đưa ra lệnh cấm các nội dung được cho là vi phạm pháp luật, gây áp lực đối với các kênh truyền thông có số lượng quảng cáo lớn như Youtube, Google, bởi vì rất nhiều những video được các nhà bất đồng chính kiến ở nước ngoài đăng tải lên mạng xã hội, vượt khỏi tầm kiểm soát của chính phủ Việt Nam và gây khó khăn trong việc loại bỏ những nội dung đó.

Hai công ty lớn của Việt Nam là Vinamilk và hãng hàng không Vietnam Airlines đã có hành động ngay sau khi chính phủ cảnh báo họ về vấn đề quảng cáo xuất hiện cùng với nội dung được cho là “độc hại”. Cả hai công ty này đều có cổ phần sở hữu khá lớn của Nhà nước.

Trong một tài liệu gửi cho Bộ thông tin và truyền thông rằng, Vinamilk cho biết đã ngưng tất cả quảng cáo trên YouTube cho đến khi có thể chắc chắn rằng bất kỳ quảng cáo nào trên trang này cũng “hoàn toàn tuân thủ pháp luật.”

Tháng trước, Bộ thông tin đã xác định có 17 video trên YouTube với nội dung sai lệch các sự kiện lịch sử, kích động hận thù quốc gia, khiêu dâm và được xem là bất hợp pháp tại Việt Nam.

Các thương hiệu toàn cầu Procter&Gamble, Unilever, Samsung và Yamaha Motor cùng với các công ty trong nước bị cho là có các video không phù hợp xuất hiện trên các chương trình quảng cáo. Chưa có văn phòng đại diện nào của các công ty này đưa ra bình luận về vấn đề trên.

Chính phủ Việt Nam cho biết Google đã loại bỏ tổng cộng 16 video theo yêu cầu của họ.

httpv://www.youtube.com/watch?v=KlHb_hV1S98

TIN NGẮN | Việt Nam kiểm soát thông tin trên

HÒA THƯỢNG NÓI KHÔNG SAI!

From facebook: Thuan Chau An Le added 4 new photos.
HÒA THƯỢNG NÓI KHÔNG SAI!

 

“Các con lớn lên trong thời đại thanh bình, nhưng các con lại bị ném vào giữa một xã hội mất hướng. Quê hương và đạo pháp là những mỹ từ thân thương nhưng đã trở thành sáo rỗng. Các bậc cao tăng thạc đức, một thời đã đánh thức lương tâm nhân loại trước cuộc chiến hung tiền, đã giữ vững con thuyền đạo pháp trong lòng dân tộc; nay chỉ còn lại bóng mờ, và quên lãng.”

“Chớ khoa trương bảo vệ Chánh Pháp, mà thực tế chỉ là ôm giữ chùa tháp làm chỗ ẩn núp cho Ma Vương, là nơi tụ hội của cặn bã xã hội. Chớ hô hào truyền pháp giảng kinh, thực chất là mượn lời Phật để xu nịnh vua quan, cầu xin một chút ân huệ dư thừa của thế tục, mua danh bán chức.”

Thích Tuệ Sỹ

Image may contain: 1 person, sitting
Image may contain: 1 person, sky, mountain, nature and outdoor
Image may contain: 1 person, sitting
Image may contain: 3 people, people standing and indoor

Nhóm Biển Xanh yêu cầu minh bạch trong chính sách Formosa

Nhóm Biển Xanh yêu cầu minh bạch trong chính sách Formosa

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2017-03-16
Người dân biểu tình chống tập đoàn Đài Loan Formosa ở trung tâm thành phố Hà Nội vào ngày 01 tháng 5 năm 2016.

Người dân biểu tình chống tập đoàn Đài Loan Formosa ở trung tâm thành phố Hà Nội vào ngày 01 tháng 5 năm 2016.

AFP photo

Trong khi giáo dân các tỉnh miền Trung tiếp tục xuống đường đòi bồi thường thỏa đáng những thiệt hại của họ do Formosa gây ra, một phong trào do nhóm Biển Xanh vận động chữ ký yêu cầu chính quyền minh bạch về những gì xảy ra khi Formosa hứa thực hiện.

Mục đích của nhóm

Nhà báo tự do Nguyễn An Dân, người đại diện nhóm Biển Xanh cho biết:

Chương trình minh bạch Formosa này chúng tôi muốn thực hiện sự minh bạch cho hai vấn đề, thứ nhất là minh bạch cho thỏa thuận đền bù của chính phủ vì chính phủ đã đại diện cho nhân dân, tức bên bị hại và vì vậy chính phủ phải có trách nhiệm công bố thỏa thuận đó cho nhân dân biết.

Cái thứ hai Bộ Tài nguyên-Môi trường có nói rằng Formosa đã khắc phục hậu quả sau khi thảm họa xảy ra cụ thể là 48/53 sai phạm đã được khắc phục vì vậy chúng tôi muốn minh bạch cái này ra nghĩa là khắc phục nó là khắc phục cái gì; Quy trình xử lý xả thải cũ của Formosa nó đã gây ra thảm họa rồi như vậy thì quy trình mới nó như thế nào; Nó mua sắm thêm những thiết bị gì, nó tăng nhân sự như thế nào, nó xử dụng công nghệ thép của Mỹ hay của châu Âu hay Trung Quốc; Sự thay đổi về quy trình xả thải là thay đổi về khoa học mà nói về khoa học thì có thể định tính và định lượng được vì vậy chúng tôi muốn công bố hai cái đó ra.

Chúng tôi làm việc này Formosa có đóng cửa hay không là một quá trình dài hạn nhưng không chỉ riêng Formosa mà bất kỳ dự án nào ở Việt Nam cũng nên có tính minh bạch.

Không chỉ riêng Formosa mà bất kỳ dự án nào ở Việt Nam cũng nên có tính minh bạch.
– Nguyễn An Dân

Mặc Lâm: Vâng, đó là mục đích mà nhóm Biển Xanh nhắm tới, vậy thực hiện những mục đích này cụ thể là gì?

Nguyễn An Dân: Hiện giờ nhà nước chưa có kênh tiếp nhận kiến nghị qua mạng Internet hay qua website hoặc e-mail mà đòi hỏi chữ ký thực tế cho nên chúng tôi sẽ tổ chức cuộc vận động người dân ký tên thực tế vào cái phiếu trên đó có ghi hai nội dung in sẵn đề nghị minh bạch Formosa như hai vấn đề mà tôi vừa nói.

Sau khi người dân ký tên xong thì đến một số lượng tương đối khoảng 10 tới 15 ngàn chữ ký thì nhóm Biền Xanh và những người ủng hộ chương trình này sẽ đại diện cho khối quần chúng đã ký vào kiến nghị đó để chính thức gửi tới cơ quan quản lý nhà nước có liên quan vụ án Formosa. Đây là một kiến nghị chính thức từ đồng thuận của nhiều người dân chứ không phải riêng những người hoạt động dân chủ hay hoạt động chính trị vì thế nó có danh nghĩa là tiếng nói của nhân dân.

Cách thức tham gia

Mặc Lâm: Những người ở nước ngoài có thể gửi chữ ký bằng phương tiện thông thường là ký tên rồi scan chữ ký gửi về nhóm Biển Xanh qua facebook hay e-mail được không?

Nguyễn An Dân: Đối với những người ở trong nước mà người ta vận động được số lượng chữ ký nhiều thí dụ như vài chục hay vài trăm chữ ký, khi họ liên lạc với nhóm chúng tôi thì chúng tôi sẽ có người đi thu trực tiếp bất kể xa hay gần. Ký xong cũng có thể gửi bằng thư cho chúng tôi theo đường bưu điện. Còn nếu người Việt ở nước ngoài nếu các vị còn quốc tịch Việt Nam thì sự tham gia của họ thật đáng quý tại vì có tính chính danh, thì họ có thể scan và gửi vào email của chúng tôi hoặc gửi vào Facebook của nhóm Biển Xanh

Mặc Lâm: Chắc anh cũng thấy trong tình hình hiện nay tại miền Trung trong giáo phận Vinh đã nổ ra nhiều cuộc biểu tình đòi Formosa phải bồi thường cho họ. Thưa anh một nhóm nhỏ như nhóm Biển Xanh đòi minh bạch cho Formosa chỉ có những chữ ký không thôi thì hiệu quả sẽ như thế nào?

Chúng tôi sẽ tổ chức cuộc vận động người dân ký tên thực tế vào cái phiếu trên đó có ghi hai nội dung in sẵn đề nghị minh bạch Formosa.
– Nguyễn An Dân

Nguyễn An Dân: Tôi nghĩ rằng Đảng và nhà nước sẽ quan tâm nếu chúng ta thu thập một số lượng chữ ký cần thiết. Cái thứ hai chúng tôi làm điều này vì chúng tôi có khó khăn đối với bà con ở vùng biển miền Trung. Chúng tôi không thể nói ủng hộ họ bằng miệng được. Chúng tôi cũng không thể ra miền Trung tham gia biểu tình với bà con được vì vấn đề địa lý, kinh tế thì đây là một hành động tích cực đầu tiên và sau khi nhân dân đã có ý kiến chính thức để gửi cho Đảng và nhà nước mà nếu Đảng và nhà nước họ không lắng nghe thì nó sẽ sinh ra nhiều hệ lụy phiền phức mà hệ lụy gì cũng có thể diễn ra khi nào nó đến thì chúng ta mới biết.

Tôi nghĩ rằng cộng đồng hay người Việt ở trong nước và kể cả nước ngoài nếu hỗ trợ công cuộc này tốt thì nó sẽ có tác dụng giúp cho việc tranh đấu sai phạm môi trường của Formosa nó hiệu quả hơn.

Mặc Lâm: Để chứng minh cho sự quan tâm của các giới khác không sống trong 4 tỉnh miền trung, họ là đồng bào cả nước đã có những quan tâm cụ thể như vậy thì lý do nào được nhóm Biển Xanh đưa ra để chứng tỏ cho nhà nước và Đảng thấy đây là sự quan tâm của người dân chứ không phải chỉ đòi hỏi quyền lợi như 4 tỉnh miền Trung cần phải giải quyết?

Nguyễn An Dân: Khi họ ký vào cái phiếu đó thì chữ ký của họ có giá trị đại diện, nó sẽ nói lên được đây là ý thức của người dân trong việc quan tâm đến một vấn đề lớn của đất nước chứ đó không phải là lời kêu gọi của một hội hay đảng phái hay một thế lực chính trị nào. Đây là lòng dân thì Đảng buộc lòng phải lắng nghe thôi. Còn nếu như đây là vấn đề chính trị của đảng phải hay hội nhóm nào thì có thể họ sẽ không lắng nghe.

Mặc Lâm: Cám ơn anh.

‘Con tàu đắm’ kéo chìm ngân sách Việt Nam

‘Con tàu đắm’ kéo chìm ngân sách Việt Nam

Phạm Chí Dũng

Nguoi-viet.com

Một chiếc tàu biển cũ nát của Vinashin. (Hình: Getty Images)
‘Con tàu đắm’ kéo chìm ngân sách Việt Nam
Phạm Chí Dũng

Tương lai của nền ngân sách độc đảng sẽ là một hình ảnh khá tương đồng với “con tàu đắm” Vinashin hiện hồn cách đây một con giáp.

Xác chết chưa chôn

Vinashin (Tập Ðoàn Công Nghiệp Tàu Thủy Việt Nam) thực ra đã “chết” từ rất lâu rồi, nhưng cứ như một “tục lệ,” vài ba năm một lần giới quản lý tài chính lại “ai điếu” với cái xác chưa thể chôn này.

Vào thời gian sắp diễn ra kỳ họp Quốc Hội mới vào cuối quý 1 năm 2017, phía chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc cùng Bộ Tài Chính lại một lần nữa “tố”: dự phòng ngân sách nhà nước phải ứng trả thay cho Vinashin trong 10 năm tới lên tới 63.2 nghìn tỷ đồng.

Không “tố” sao được! Chẳng lẽ ông Phúc lại chịu đưa đầu “chết thế” cho những kẻ còn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật?

Vào thời thủ trưởng cũ của ông Phúc là Nguyễn Tấn Dũng, số nợ của Vinashin đã lên tới khoảng 86 ngàn tỷ đồng, tức khoảng 4 tỷ đôla, chiếm đến 2.5% GDP vào thời gian đó. Chẳng có cách gì trả nợ nổi, Vinashin đã trở thành một vụ án mang tầm cỡ quốc gia với thật nhiều quan chức tham nhũng và vô trách nhiệm. Nhưng phán quyết của tòa án đã chỉ dừng ở chính giới lãnh đạo Vinashin mà không có bất kỳ quan chức chính phủ nào phải trả giá.

Cho đến tận giờ này…

Ðến giờ này, lấy đâu ra số tiền hơn sáu chục ngàn tỷ để trả nợ thay cho Vinashin, trong lúc ngân sách còn “phải chạy ăn từng bữa” – theo cách ví von còn chút liêm sỉ của một chuyên gia nhà nước?

Quả là chưa có một đời thủ tướng cộng sản nào phải “đổ vỏ” ghê gớm như thời ông Nguyễn Xuân Phúc. Chỉ riêng trong khu vực các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước mà con số nợ vay đã lên đến 237 tỷ đôla, các đời chính phủ đã bảo lãnh đến 21 tỷ đôla, để chính phủ còn đang tồn tại phải có trách nhiệm trả nợ cho số tiền vào thời buổi “không biết đào đâu ra” này.

Vậy chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng đã làm gì đó để “đóng cửa bảo nhau”?

Thuật ướp xác

Không thể rút ngân sách để “bù đắp khó khăn” cho Vinashin, vào năm 2005, chính phủ Việt Nam đã tìm cách phát hành trái phiếu quốc tế tại thị trường chứng khoán New York để vay 750 triệu đôla, với kỳ hạn 10 năm và lãi suất 7.125%/năm. Số trái phiếu này đến hạn trả nợ gốc và lãi vào năm 2016. Sau đó chính phủ đã cho Vinashin vay lại toàn bộ số trái phiếu nói trên. Nhưng khoản vay này không hiểu do nguồn cơn nào mà đã tiêu tán hết, để cuối cùng Vinashin hầu như không có khả năng trả nợ cho chính phủ. Tuy thế, hồ sơ vụ này gần như bị đóng lại. Báo chí chỉ dám hé môi rồi sau đó im bặt.

Về sau này, một chuyên gia tài chính là ông Bùi Kiến Thành đã phải nói rằng việc chính phủ giao toàn bộ 750 triệu đôla vào tay Vinashin mà không cần có các dự án cụ thể để giải ngân là “lỗi cực kỳ lớn.”

Do chẳng ai thấy cần phải chuộc lỗi, đến năm 2010, số dư nợ của Vinashin đã lên đến 86 ngàn tỷ đồng và trở nên “vô phương cứu chữa.”

Cũng vào năm 2010, chính phủ Việt Nam lại phát hành 1 tỷ đôla trái phiếu kỳ hạn 10 năm tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán Singapore với lãi suất 6.75%/năm. Số tiền này sau đó được chính phủ cho một số tập đoàn kinh tế lớn vay lại. Tuy thế, cũng không thấy tăm hơi nào từ số tiền “tái cơ cấu Vinashin.” Doanh nghiệp được mệnh danh là “con tàu đắm” này cứ lần lượt nuốt chửng các khoản tiền khổng lồ.

Vào năm 2014, lần thứ ba chính phủ Việt Nam lại xoay sở phát hành 1 tỷ đôla trái phiếu. Tuy nhiên lần này có vẻ không còn “thành công” như hai lần trước đó. Ðây cũng là thời gian mà những xung đột chính trị trong chính trường Việt Nam trở nên khốc liệt hơn hẳn trên cung đường “lập thành tích chào mừng đại hội 12 của đảng.”

Cuối năm 2015, chính phủ thêm một lần nữa cố gắng tạo ra kế hoạch “phát hành 3 tỷ đôla trái phiếu đặc biệt ra quốc tế.” Nhưng đến lúc này, mọi thứ chỉ còn là ảo mộng. Giữa năm 2016, kế hoạch này đã hoàn toàn tan vỡ.

Còn bây giờ là năm 2017. Món nợ khổng lồ của Vinashin vẫn còn gần như nguyên vẹn, và trách nhiệm phải xử lý không ai khác là “tân chính phủ” của người vẫn còn bị một số dư luận xem là “tân Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc.”

“Sám hối”

Từ quý 4 năm 2016, thần sắc và phát ngôn của ông Phúc đã khác với gương mặt hớn hở khi nhận lẵng hoa từ người tiền nhiệm Nguyễn Tấn Dũng ngay sau đại hội 12 vào đầu năm 2016.

Trầm tư và có vẻ co thủ hơn, có lẽ Thủ Tướng Phúc bắt đầu “rút kinh nghiệm sâu sắc” và thận trọng xử lý những gì thuộc về dĩ vãng.

Sau hai cảnh báo có hơi hướng “sám hối” – “nợ công nếu tính đủ thì đã vượt trần” và “sụp đổ tài khóa quốc gia” vào cuối năm 2016, đến đầu năm 2017 chính phủ của ông Phúc bắt đầu có vài động thái “làm chuồng sau khi mất bò”: Năm 2017, chính phủ chỉ bảo lãnh vay 1 tỷ USD cho doanh nghiệp.

Thông tin trên được phát ra bởi Cục Quản Lý Nợ và Tài Chính đối ngoại (Bộ Tài Chính). Cơ quan này giải thích rằng hạn mức quá khiêm tốn như thế là để không tăng thêm gánh nặng nợ công.

Như vậy, hạn mức bảo lãnh vay năm 2017 sẽ giảm mạnh so với những năm trước (năm 2015 là 2.5 tỉ đôla và 2016 là 1.5 tỉ đôla), và giảm rất mạnh so với mức 6.6 tỷ đôla của năm 2014.

Cùng lúc và như một hiệu lệnh, giới quan chức từ cao xuống thấp trong chính phủ đồng loạt tuyên bố sẽ không chấp nhận đưa nợ vay của các doanh nghiệp vào nợ công quốc gia. Những doanh nghiệp nào không thể trả nợ thì phải phá sản.

Ðó là hậu quả không cách nào tránh khỏi của những năm trước, khi nhiều tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vay nợ tràn lan để đầu tư trái ngành đã cho thấy tâm lý vay là cực kỳ vô trách nhiệm, thậm chí một số doanh nghiệp còn có biểu hiện “xù nợ” khi làm ăn lỗ lã.

Kết cục, có đến ít nhất 30% số tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước đã rơi vào vòng lỗ lã và đối mặt với nguy cơ phá sản kể từ năm 2008 khi kinh tế Việt Nam bắt đầu rơi vào giai đoạn suy thoái.

Nếu bạn là Thủ Tướng Phúc?

Tình thế đã bí lắm rồi.

Nếu tính cả nợ của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước, nợ công Việt Nam phải lên đến 210% GDP chứ không còn “đã sát ngưỡng nguy hiểm 65% GDP” như một báo cáo mới đây của chính phủ.

Còn nếu phải “ôm” núi nợ đến 237 tỷ đôla của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước mà chiếm đến 120% GDP hiện thời, chính phủ của ông Phúc chỉ còn nước từ chức toàn diện.

Cho dù đã không ai chịu từ chức vào năm 2015, khi thủ tướng lúc đó là Nguyễn Tấn Dũng cho biết Việt Nam phải trả nợ đến 20 tỷ đôla. Còn vào năm 2016, người “may mắn” thế chỗ cho ông Dũng là Nguyễn Xuân Phúc cho biết Việt Nam phải trả 12 tỷ đôla.

Chưa có thông tin chính thức về trả nợ năm 2017, nhưng nhiều khả năng Việt Nam cũng phải trả cho các chủ nợ khoảng một chục tỷ đôla…

Nhưng Vinashin lại không phải là “con tàu đắm” duy nhất trong một nền ngân sách đang ruỗng mục với tốc độ ngang ngửa lạm phát thực tế. Nếu trước đây xã hội đã phải phát sốt với hiện tượng tập đoàn kinh tế nhà nước ăn theo kiểu “đào tận gốc trốc tận rễ” như Vinashin và Vinalines, thì từ năm 2012 đến nay các vụ án quốc gia đã chuyển dần sang giới ngân hàng – xây dựng, đại dương, dầu khí toàn cầu – với vụ án nào cũng thất thoát đến hàng chục ngàn tỷ đồng.

Ngân hàng lại là tử huyệt của nền tài chính. Những Vinashin và Vinalines tuy thất thoát và nợ lớn nhưng sẽ không dễ khiến thị trường tín dụng chao đảo đổ bể và gây hoảng loạn xã hội như khối ngân hàng thương mại.

Nếu bạn là Thủ Tướng Phúc, bạn sẽ phải “kiến tạo và hành động” ra sao để cứu vãn ngân sách quốc gia khỏi chìm sâu dưới đáy đại dương?

Người Trung Quốc Ở Việt Nam Hay Là Chuyện Về Những Nàng An Thị Thời Hiện Đại

Người Trung Quốc Ở Việt Nam Hay Là Chuyện Về Những Nàng An Thị Thời Hiện Đại

Viet-studies

Nguyễn Trọng Bình

15-3-2017

1. Hiện diện trên đất nước Việt Nam hôm nay dĩ nhiên không chỉ có người Trung Quốc. Tuy vậy, phải nói rằng chuyện người Trung Quốc có mặt ở Việt Nam để làm ăn, du lịch hay làm gì khác chưa bao giờ là vấn đề thôi mang tính thời sự, hiểu theo nghĩa nào đó. Đây là đề tài – một sự thật nhiều người biết, nhiều người thấy nhưng để nói ra thì chưa bao giờ là điều dễ dàng, thoải mái.

Còn nhớ cách đây không lâu, chuyện những thương lái Trung Quốc lặn lội vào tận các vùng thôn xóm hẻo lánh ở Việt Nam để thu mua những mặt hàng “độc và lạ”, không ai có thể ngờ tới như: móng trâu, bò, ong bầu, lá điều, cau non, cam non, đuôi chuột, đỉa, ốc bưu vàng…sau đó “lặn” một hơi mất tăm để lại một nỗi buồn vô hạn cho những người dân nghèo nhẹ dạ cả tin. Câu chuyện này sau nhiều lần lặp đi lặp lại ở nhiều địa phương mới nhận được sự quan tâm của dư luận cùng với đó là những quan điểm nhìn nhận, lý giải khác nhau. Trong cái nhìn của người làm kinh tế và nhất là đã lặn lội sang tận Trung Quốc tìm hiểu, tác giả Tony trong sách “Cà phê cùng Tony” cho biết, đây đơn giản chỉ là chiêu trò cấu kết, dùng miệng lưỡi cùng thủ đoạn “mua bán lòng vòng” để tìm cách nâng giá của bọn gian thương nhằm lừa gạt những người dân quê nghèo khó và ít học. Bởi lẽ, trên thực tế không có một món hàng nào chúng thu gom của đồng bào ta được chuyển về xứ họ. Bọn gian thương ấy không chỉ lừa gạt những người dân nghèo ở Việt Nam mà ngay cả những người dân nghèo ở Trung Quốc cũng là nạn nhân của chúng.

Cũng có người lý giải sự việc này góc nhìn khác, thậm chí có cả một “thuyết âm mưu” cho rằng, những chiêu trò ấy về lâu dài nhằm phá hoại nền kinh tế nước Việt. Nhìn chung, dù ở góc độ nào thì những cách lý giải đều gặp nhau ở một điểm: nhắc nhớ mỗi người dân Việt hôm nay chớ quên bài học xương máu về sự lờ là, nhẹ dạ cả tin của nàng An Thị Mỵ Châu cách nay mấy ngàn năm. Khi ấy, chỉ vì tình cảm riêng tư với chàng Trọng Thủy mà nàng Mỵ Châu đã vô tình gây nên họa mất nước.

2. Công bằng và khách quan mà nói, không phải chuyện gì liên quan đến người Trung Quốc hôm nay cũng đều tệ hại, xấu xa để chúng ta lên tiếng dè bĩu, nghi kỵ, bài trừ, lên án…(và nếu tự soi lại mình thì không ít người Việt hôm nay chưa chắc đã tốt đẹp hơn họ). Tuy vậy, trong bối cảnh với vô vàn sự phức tạp và nhạy cảm của đất nước hôm nay, một sự thận trọng và tỉnh táo trong suy nghĩ và hành động để mỗi người Việt không tự biến mình thành những “nàng An Thị” thời hiện đại là vấn đề rất nên được nghiêm túc nhìn nhận. Nhưng, thiển nghĩ để làm được điều ấy, rất cần một sự trao đổi chân thành và thẳng thắn về một vài vấn đề có liên quan. Nói khác đi, nếu nhìn xa hơn, thì đây chính là câu chuyện lớn liên quan đến rất nhiều ban ngành, đoàn thể chính quyền các các cấp trong vấn đề quản lý người nước ngoài nhất là người Trung Quốc sang Việt Nam làm ăn, sinh sống và định cư từ nhiều năm qua.

Nói điều trên để thấy rằng, khi những người dân nghèo bị gian thương Trung Quốc lừa gạt đến nỗi “tiền mất tật mang” có người nói cũng tại dân mình tham lam quá nhưng nếu bình tâm nghĩ lại sẽ thấy dù sao những người dân nghèo ấy vẫn đáng thương hơn là đáng trách. Vì thực ra, người nghèo và ít học thì ở đâu cũng giống nhau ở một vài nét cơ bản nào đó. Thử hỏi trong hoàn cảnh mà cái bao tử lúc nào cũng sôi ùng ục lên vì đói thì làm sao họ có đủ thời gian để suy nghĩ sâu xa hay phân tích cặn kẽ những chiêu trò của bọn gian thương để từ chối những món hời trước mắt?

Không những vậy, theo lẽ thường, những thương lái Trung Quốc trước khi được tự do đi lại thoải mái đến tận các bản làng, thôn xóm nước Việt để thu mua những thứ “trời ơi đất hỡi” như thế nhất định phải hoàn thành các thủ tục tại các cửa khẩu hải quan. Cho dù có kẻ đã vào nước ta bằng đường “tiểu ngạch” đi nữa thì vẫn có cả một hệ thống chính quyền cùng rất nhiều các hội đoàn lớn nhỏ (như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Đoàn thanh niên, Tổ dân phố, Tổ tự quản…) từ trung ương đến địa phương kia mà. Và như thế, câu hỏi trước hể phải đặt ra ở đây là tại sao giữa thanh thiên bạch nhật tại một thành phố lớn mà cả một dãy phố 1.500 mét vuông với hàng loạt ngôi nhà kiến trúc kiểu Trung Quốc được dựng lên trái phép trong nhiều tháng; hay tinh thần trách nhiệm và cảnh giác kiểu gì để một nhóm người khác núp bóng đi du lịch đến thuê cả một doanh nghiệp, thuê luôn ruộng lúa sắp thu hoạch của nông dân để trồng giống “Sen lạ” hay thả nuôi hàng trăm con Tôm hùm đỏ trong một thời gian dài mới bị phát hiện?

Những người dân nghèo vì ít học và nhất là vì miếng cơm manh áo nên vô tình tự biến mình thành những “nàng An Thị” hiện đại đã đành nhưng những người “có học” và nhất là đang giữ trọng trách trong bộ máy công quyền từ trên xuối dưới thì sao? Đây là những câu hỏi nhất định phải cần được trả lời trung thực và thỏa đáng từ những người có trách nhiệm trong vấn đề quản lý. Đặc biệt là với không ít trường hợp những người Trung Quốc đến Việt Nam với một tâm thế và hành tung rất đáng ngờ mà dư luận báo chí ít nhiều đã phản ánh trong thời gian qua.

3. Nàng An Thị Mỵ Châu năm xưa chỉ vì nghe theo “tiếng gọi của tình yêu”, “tiếng nói của con tim” nên đã bị chàng Trọng Thủy lừa đánh tráo Nỏ Thần đưa đến họa mất nước. Tuy vậy, ở phương diện nào đó, rất nên biết rằng những chuyện thuộc về “tiếng nói của con tim” trong nhiều trường hợp rất khó để đưa ra một kết luận đúng “đúng”, “sai” huống hồ đây vốn là âm mưu mà kẻ thù của cha nàng đã rắp tâm sắp đặt từ trước. Nhưng dù thế nào thì nàng An Thị Mỵ Châu cũng đã trả một cái giá rất đắt cho sự nhẹ dạ của nàng. Một cái chết không toàn thây bởi chính lưỡi gươm oan nghiệt của vua cha. Nhưng lẽ nào, suốt mấy ngàn năm qua, mỗi khi nhắc nhớ về bài học mất nước này chúng ta chỉ biết đổ hết lên đầu nàng trong khi đó người chịu trách nhiệm chính trong chuyện này là Thục Phán An Dương Vương cùng những cận thần của ông lại ít khi “đụng” đến? Hình như có gì đó sai sai trong việc diễn giải và tuyên truyền về câu chuyện này từ trước đến nay? Mối tình của nàng Mỵ Châu xưa kia phải chăng chính là tấm bình phong nhằm che đậy và lấp liếm cho nhưng sai lầm trong “ngoại giao” của Thục Phán An Dương Vương –rộng hơn là những người nắm trong tay vận mệnh quốc gia từ trước đến nay nhưng chưa bao giờ họ có đủ dũng khí để thừa nhận những sai lầm ấy. Cũng giống như giờ đây, những người dân ít học nghèo khó, quanh năm “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, không bao giờ có cơ hội bàn chuyện quốc gia đại sự, nhưng lạ thay, lại được nhắc đến nhiều nhất về tinh thần cảnh giác. Ngoài ra, trong cái nhìn của không ít người, cái danh sách về những “thế lực thù địch” của dân tộc Việt Nam hôm nay lại dễ dàng bỏ qua dòng dõi, cháu con của những Triệu Đà, Triệu Trọng Thủy hiện nay? Phải chăng vì thế mới có chuyện các dự án lớn nhỏ – những “miếng ngon” nhất trên đất nước này bao giờ họ cũng được ưu ái giành phần trước nhất? Theo đà ấy, khắp các hang cùng ngỏ hẻm của dãy đất chữ S hôm nay chẳng có nơi nào mà họ không đặt chân lên trong tư thế của những kẻ “mạnh vì gạo, bạo vì tiền” cùng với đó là thái dộ ngạo mạn, nghênh ngang và bất chấp?

4. Nói cho cùng, đã là con người không ai trong đời không một lần vướng vào cái “cạm bẫy ái tình” như nàng An Thị Mỵ Châu năm xưa. Nhưng dù thế nào thì những người vướng vào cái bẫy tình ái như vậy vẫn đáng được cảm thông hơn những kẻ không vượt qua được cái cạm bẫy về tiền bạc, địa vị và danh vọng!? Phải chăng, bài học về sự cảnh giác trước kẻ thù của nàng An Thị ngàn năm trước rất nên được nhìn nhận lại đặc biệt là phải làm sao phù hợp tinh thần và bối cảnh của thời đại hôm nay: những “nàng An Thị” thời hiện đại vì tiền tài, danh vọng và quyền lực của phe nhóm và bản thân mình đã đan tâm bán rẻ dân tộc, quốc gia một cách tinh vi, hèn hạ nhất?

CT, 15/3/2017

Nguyễn Trọng Bình

—————

Nguồn tham khảo:

– Tony Buổi Sáng – “Chuyện nàng An Thị” (in trong sách “Cà phê cùng Tony”). Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2014.

“Khu phố” 1.500m2 không phép xây bí mật trong nhà kho ở Đà Nẵng”. Xem tại: http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/khu-pho-1-500m2-khong-phep-xay-bi-mat-trong-nha-kho-o-da-nang-3553595.html

Tác giả gởi cho viet-studies ngày 15-3-17

Vũ Quang Thuận & Mặt Trận Truyền Thông – S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

  Vũ Quang Thuận & Mặt Trận Truyền Thông –

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

“Một đêm Vũ Thư Hiên ngủ ở nhà tôi. Sáng hôm sau, tung chăn dậy, nhìn ra cửa sổ, nghe tiếng loa từ Ngã Sáu vọng vào, Hiên nhíu mày bảo:

– Hình như tao đã gặp buổi sáng như thế này ở đâu rồi.

Đúng là tiếng loa đã có từ lâu lắm rồi. Nó đã ngấm vào máu thịt, như là tiền kiếp vậy. Bao nhiêu năm chúng tôi đã nghe những bản nhạc hiệu ấy, những giọng nói đanh thép mở đầu ấy và cả những giọng điệu trong nội dung người viết người đọc nữa. Nó đã biến thành một phần của chúng tôi.” (Bùi Ngọc Tấn. Viết Về Bè Bạn. Hà Nội: Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn, 2012).

Cứ nghe ra rả cả ngày lẫn đêm (đảng ta, nhà nước ta, xã hội ta, nhân dân ta, quốc hội ta, bộ đội ta, sứ quán ta, người phát ngôn của bộ ngoại giao ta…) suốt “bao nhiêu năm” nên “nó biến thành một phần của chúng tôi” là … phải. Tất nhiên, đây không phải là chuyện ngẫu nhiên hoặc tình cờ – theo nhận xét của nhà bình luận La Thành:

“Trải qua nhiều chục năm thực hành và thực hành rất thành công, ngành tuyên truyền của Đảng Cộng sản đã đạt đến trình độ chuyên nghiệp và tinh vi vượt xa mọi lĩnh vực còn lại của thực tiễn cầm quyền. Để thí dụ, trong khi đã cân nhắc loại bỏ đi các thuật ngữ ‘nguỵ quyền’, ‘nguỵ quân’ trong sách giáo khoa lịch sử, các sử gia của chế độ vẫn tiếp tục sử dụng các thuật ngữ ‘Đảng ta’, ‘Nhà nước ta’, ‘quân và dân ta’, v.v. với dụng ý đánh đồng các thành phần trong hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản với toàn thể quốc dân và xã hội – một phép nguỵ biện về lô-gích và một sự trâng tráo về hành xử.”

Tuy “trâng tráo” nhưng hiệu quả. Nạn nhân của cách tuyên truyền lì lợm và thô bạo này, với thời gian, có thể biến thành … thủ phạm (dễ) như chơi. Thử nghe đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, trưởng nam của thi sĩ Thế Lữ, nói về bằng hữu của thân phụ ông (trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn) nha:

  • Ta ngặt lắm… Khái Hưng là ta… thịt mà. Bác Tam không trốn kịp thì cũng bị.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù IIWestminster, CA: Người Việt, 2014).

Cũng trong tác phẩm thượng dẫn, chương 44, tác giả viết tiếp:

  • .. Nguyễn Sinh, xưa phóng viên thường trú Vĩnh Linh, Vĩnh Mốc lên nói … anh đã chứng kiến những người ở phía bên Nam kiabị ta bắt sang chôn sống kêu rất lâu dưới huyệt, tôi lại thấy mọi người lạnh mặt lại.”

Ta thịt người này, ta chôn sống kẻ khác … nhưng chả ai áy náy hay phải chịu trách nhiệm gì ráo trọi về những việc làm tàn bạo đến độ vô nhân tính như thế vì đây là sự tàn ác của cả tập thể mà. Vô số người dân Việt đã vô tình dùng chung căn cước với Đảng CSVN (cái tập đoàn hiếu sát, hiếu chiến, bất nhân, tham lam, ác độc, giảo hoạt …) một cách hết sức hồn nhiên và vô tư: Đảng ta, nhà nước ta, quốc hội ta, bộ đội ta, sứ quán ta, người phát ngôn của bộ ngoại giao ta … Cũng không ít kẻ hễ mở miệng ra là cũng ba hoa (“ta/ta”) cứ y như loa đài của Nhà Nước vậy.

Dù vậy, Nhà Nước vẫn chưa yên tâm nên cả hệ thống truyền thông – gần trăm năm qua – luôn luôn nhắc nhở cho mọi người nhớ “con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã chọn!” Kiểu đánh đồng rất mất dậy và vô cùng trắng trợn này, tuy thế, hầu như đã không gặp phải bất cứ một sự chống đối công khai nào ráo.

Mãi cho đến đầu thế kỷ XXI, vào hôm 24 tháng 7 năm 2016, mới có một công dân Việt Nam – Trần Thị Thảo – đứng giữa phố phường, nói rõ (và nói to, to hơn cả tiếng loa phường) rằng mình hoàn toàn và tuyệt đối không có liên hệ chi với với tập đoàn lãnh đạo của chế độ hiện hành: “Tiên sư cha chúng mày chứ! Lịch sử sẽ lên án chúng mày, cả một chế độ thối nát, từ trên xuống dưới!

Vài tuần sau nữa, vào ngày 17 tháng 9, trong một cuộc phỏng vấn dành cho biên tập viên Mặc Lâm (RFA) giáo sư Tương Lai cho biết thêm là cái “chế độ thối nát” mà bà Trần Thị Thảo vừa đề cập đến (theo thứ tự từ dưới lên trên) gồm những “thằng” sau:

Từ ông thôn ông ấy bảo thằng xã nó ăn được thì tại sao tao không ăn được? Thằng xã bảo thằng huyện nó ăn được thì tại sao tao không ăn được? Thằng huyện bảo thằng tỉnh nó ăn được thì tại sao tao không ăn được? Thằng tỉnh bảo Bộ chính trị nó còn ăn, thằng Tổng bí thư nó còn ăn tại sao tao không ăn…

Giáo sư Tương Lai thản nhiên gọi TBT của Đảng Cộng Sản Việt Nam Quang Vinh bằng “thằng” khiến không ít người phải lấy làm ái ngại. Họ quan ngại rằng (cũng như bà Trần Thị Thảo) ông đã đi hơi xa trong việc biện biệt giữa “chúng ta” và “chúng nó.”

Nỗi lo ngại chính đáng này (bỗng) trở thành viển vông khi một công dân Việt Nam khác, ông Vũ Quang Thuận, đột nhiên xuất hiện như một “dàn đại bác” – theo lời tiên tri của blogger Bà Đầm Xoè:

Với tôi, dù Vũ Quang Thuận là ai thì sự lên tiếng của anh có giá trị khai sáng rất cao cho dân trí Việt Nam. Nó đã như một dàn đại bác liên tục nả vào đầu giới chóp bu cộng sản Việt Nam không trừ một ai, kể cả “linh hồn bất khả xâm phạm” Hồ Chí Minh. Với tôi, những gì Vũ Quang Thuận đã “bắn ra” đã đưa anh vào thế anh có thể biến mất bất kỳ lúc nào trước họng súng của chế độ CSVN đã bủa vây anh từ bốn phía.”

Vũ Quang Thuận. Ảnh: youtube

Quả nhiên, Vũ Quang Thuận và thân hữu của ông trong Phong Trào Chấn Hưng Nước Việt đã bị bắt giam vào hôm 3 tháng 3 năm 2017 vừa qua. Theo blogger Huỳnh Ngọc Chênh  thì “việc bắt giữ hai công dân Vũ Quang Thuận và Nguyễn Văn Điển là vi phạm nhân quyền, là dùng biện pháp bạo lực để dập tắt và chà đạp lên quyền tự do ngôn luận của công dân.” Ông bạn đồng nghiệp của tôi nói không sai nhưng e chỉ đúng  phân nửa mà thôi.

Quả thực là nhà đương cuộc Hà Nội đã “dùng bạo lực chà đạp lên quyền tự do ngôn luận của công dân” nhưng “dập tắt” được công luận thì vô phương, hay nói chính xác hơn là vô vọng. Trên mặt trận truyền thông, ĐCSVN đang phải đối mặt với một cuộc chiến tranh nhân dân mà Vũ Quang Thuận (và Nguyễn Văn Điển) chỉ là hai cảm tử quân ở tuyến đầu thôi!

Dân vây bắt một nghi can xâm hại bé gái 4 tuổi

Dân vây bắt một nghi can xâm hại bé gái 4 tuổi

14/03/2017 

TTO – Ngay khi phát hiện vụ việc, nhiều người dân địa phương đã lập tức tổ chức vây bắt, đồng thời thông báo cho lực lượng công an địa phương.

​Sự việc xảy ra vào khoảng 20g ngày 13-3, tại khu vực xóm Tân Trào, xã Minh Đài, huyện Tân Sơn, Phú Thọ. Nạn nhân là một bé gái 4 tuổi trú ở xã Minh Đài.

Thông tin ban đầu vào khoảng thời gian trên bé gái tên T. đi cùng mẹ đến sân đánh bóng chuyền sau đó bị ông H., người cùng xã đưa ra khu vực sân sau nhà văn hóa để giở trò đồi bại.

Ngay sau đó nhiều người dân địa phương phát hiện nên đã tổ chức vây bắt, đồng thời thông báo cho lực lượng công an địa phương.

Tối 14-3 trao đổi với báo chí lãnh đạo xã Minh Đài cho biết sau khi sự việc xảy ra cháu bé đã được đưa lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ để kiểm tra sức khỏe, giám định vùng kín.

Ông H. bị cơ quan chức năng điều tra.

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng.

From facebook:  Hoang Le Thanh added 3 new photos — with Phan Thị Hồng and 5 others.
MỘT PHÓNG VIÊN NGƯỜI ĐỨC VIẾT VỀ VIỆT NAM

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng.

Tác giả: Uwe Siemon-Netto (Đức quốc).

– “Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa.

– “Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra”.
Uwe Siemon-Netto.

Cuốn sách Đức: “A reporter’s love for a wounded people” của tác giả Uwe Siemon-Netto đã được viết xong và đang chờ một số người viết “foreword” và endorsements.

Bản dịch cũng đã xong, được phép của tác giả chúng tôi xin giới thiệu đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta:

Đoạn kết

Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày “giải phóng.”

Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài.

Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất.

Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ?

Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt.

Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy.

Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc “giải phóng.” Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai?

Có phải miền Nam đã được “giải phóng” khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí?

Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối?

Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu?

Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc “chiến tranh nhân dân.” Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì “chiến tranh nhân dân” phải được hiểu là cuộc “chiến tranh của nhân dân.”

Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân.

Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là “vắng mặt không phép,” câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại?

Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không.

Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là “I have no dog in this fight” (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách “Lời nguyện của nhà báo”, tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa.

Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927).

Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội.

Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ?

Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Sưllner tội nghiệp mà “tội ác” duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu?

Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội?

Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki?

Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ.

Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012).

Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả.

Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau:
Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!”

Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi… cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố.”

Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này.

Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là:

Khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận.

Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do.

Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử.

Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra.

Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?

Ảnh 1: Tháng Tư gợi lại cho hàng triệu người cảnh hoảng loạn tại miền Nam, nhiều gia đình ly tán, dòng người đổ ra biển trong những tháng, năm sau đó lên tới cả triệu. Hàng trăm ngàn người làm mồi cho cá.

Ảnh 2: Theo Wikipedia: “Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra trình diện. Riêng ở Sài Gòn có 443.360 người ra trình diện, trong số đó có 28 viên tướng, 362 đại tá, 1.806 trung tá, 3.978 thiếu tá, 39.304 sĩ quan cấp uý, 35.564 cảnh sát, 1.932 nhân viên tình báo, 1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền, và 9.306 người trong các đảng phái “phản động”.

Theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard (Hoa Kỳ) dẫn đầu: Có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn.

Ảnh 3: Xe tăng cộng sản chiếm Dinh Độc Lập vào lúc 11g30 sáng ngày 30/4/1975. Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: one or more people, crowd and outdoor
Image may contain: outdoor