Nỗi nhục của đảng CSVN, sau hơn 70 năm có mặt ở VN, đảng viên biến thái cho thấy không chỉ sai về hánh động xin ấn, mà sai cả lý thuyết cốt lõi của duy vật biện chứng đã làm nên chủ nghĩa CS.
Tại sao quan chức CS lại lo xin ấn đền chùa thì có hai vấn đề, thứ nhất họ đã ăn nên làm ra nhờ vào vị trí quan chức của họ và bây giờ họ cầu xin để có được nhiều hơn nữa, thứ hai họ đã không còn tin vào cái đảng đã cho họ cái chức vị đó nữa nên ho cầu xin thần thánh để chức vụ được chắc chắn.
Lãnh đạo đảng có quản lý nổi trường hợp này không? Vì điều này thế hiện rõ nhất cái tư duy của đảng viên mà ông TBT và ban tuyên huấn gọi là diễn biến hoà bình
(BVPL) – Có điều khác biệt ở 2 lễ hội diễn ra cùng một ngày ở Hải Phòng. Đó là Lễ hội phát ấn ở di tích Bạch Đằng Giang, quan chức Hải Phòng xếp hàng lấy ấn, còn Lễ hội “quan thề không tham nhũng” thì thưa vắng cán bộ lãn…
Sách ‘Chính trị bình dân’ của tác giả Phạm Đoan Trang. Ảnh: internet
Trong mấy ngày vừa qua, tôi nhận được rất nhiều hỗ trợ vật chất và chia sẻ tinh thần. Tiền mặt, quần áo, đồ dùng cá nhân, cả mì ăn liền, thuốc giảm đau, thuốc diệt muỗi và… nước hoa xịt phòng ùn ùn đổ về làm tôi đã bối rối càng bối rối hơn, vì vốn dĩ tôi không mang vác nặng được.
Bên cạnh đó là vô vàn lời chia sẻ từ rất, rất nhiều người. Tôi không sao trả lời hết, chỉ mong được bà con thông cảm mà lượng thứ. Tuy vậy, có một tin nhắn từ một nhà báo, bạn đồng nghiệp, mà tôi đã đọc và cố trao đổi lại dù lúc đó là gần 2h sáng:
“Chị. Em thấy hoảng sợ, em bị dằn vặt vì ý nghĩ em đang ở đây, Việt Nam, làm người viết, để làm gì? Làm gì khi mà mọi ý tưởng đều bị ném vào im lặng? Nhìn chị, em không hiểu điều gì đang diễn ra và sẽ nghiền nát những người viết”.
Tôi thẫn thờ mất vài phút, không biết phải nói với bạn thế nào, bởi vì chính tôi cũng không hiểu. Không thể nghĩ đến bây giờ, năm 2018, tức là cuối thập niên thứ hai của thế kỷ 21, mà chính quyền và công an Việt Nam vẫn hành xử hệt như hồi thập niên 50 của thế kỷ trước: tóm cổ một người viết sách lên đồn và “điều tra, làm rõ” xem động cơ viết là gì, yêu cầu tóm tắt nội dung sách, khai rõ in ở đâu, đã cho, tặng những ai, có quen biết gì với những người bị tịch thu sách, v.v.
Và họ vừa bất ngờ, vừa khó chịu khi tác giả trả lời: “Đúng, tôi viết cuốn ấy đấy. Nội dung là gì thì mời các anh tự tìm đọc. Còn việc tôi cho, tặng, biếu hay bán cho ai là chuyện riêng của tôi, các anh không có quyền và không có tư cách hỏi”.
Chỉ đơn giản là công an Việt Nam và các cảnh sát tư tưởng nói chung không quen bị từ chối như thế. Họ không tưởng tượng được là lại có những không gian, những lĩnh vực mà họ không thể thò đầu, thọc mũi vào để quản lý, kiểm soát, định hướng…
Dù sao chăng nữa, nói “hành xử như thập niên 50 thế kỷ trước” là nói về phía chính quyền. Còn về phía xã hội thì đã tốt hơn quá nhiều, vô cùng nhiều. Tôi đã không phải như người viết văn mấy chục năm về trước, viết tay, gói lá chuối bỏ chum sành chôn xuống đất, mong một ngày con cháu hoặc ai đó có hảo tâm, có điều kiện sẽ tìm ra, moi lên và in giúp. Tôi đã không phải đi câu cá trộm như nhà văn Phùng Quán, không phải về quê nhặt đá thồ gạch như thi sĩ Hữu Loan, không bị chòm xóm, họ hàng, bạn bè xua đuổi, xa lánh như hàng chục nạn nhân của Nhân văn Giai phẩm, Xét lại…
Ngược lại, tôi còn may mắn vô cùng vì được không biết bao nhiêu người giúp đỡ, cả những người công khai lẫn những người âm thầm ủng hộ.
Nhưng cho dù thế nào, tôi cũng muốn rằng tôi là nhân chứng của thế hệ người viết cuối cùng ở Việt Nam còn bị truy đuổi thế này. Mong rằng kể từ nay về sau, sẽ không còn những vụ đàn áp mang những cái tên như Nhân văn Giai phẩm, Xét lại, Đổi mới văn nghệ như ngày trước hay Dân chủ, Xã hội dân sự… như bây giờ nữa.
Phấn son tô điểm sơn hà
Làm cho nở mặt đàn bà nước Nam…
Cảm ơn những gì chị đã làm cho đất nước Việt Nam!!!
Những ý tưởng trong cuốn sách Chính Trị Bình Dân của chị rất bình dân nhưng sao lại quá cao siêu với 95 triệu người dân Việt Nam? Tôi chắc rằng chỉ cần 1% người dân Việt Nam đọc và hiểu được ý tưởng cuốn sách của chị thì người dân Việt Nam sẽ không còn làm nô lệ cho đảng Cọng Sản.
Có phải người dân Việt Nam thật sự thông minh và anh hùng như họ đã tự hào hay chỉ là những tấm khẩu hiệu đầy rẫy ngoài đường?
Tôi nói hết sức nhỏ nhẹ, và cũng rất thực lòng, như một lời an ủi gửi đến một vị tu sĩ trẻ đang bơ vơ hoằng pháp giữa quê người đất khách. Dù chỉ loanh quanh ở Biển Hồ vài ba năm nay thôi nhưng thái độ, cũng như cung cách làm việc của nhân viên Đại Sứ Quán Việt Nam (và Hội Việt Kiều) ở cái Xứ Chùa Tháp này thì tôi … rành lắm. Tôi “đụng chuyện” với họ hoài mà.
Lẽ ra tui cũng không thèm nói đâu nhưng mới rồi nghe ông Nguyễn Xuân Phúc lên giọng giả nhân/giả ngãi (“Tổ quốc lắng nghe hơi thở của bà con kiều bào, đặc biệt lắng nghe những nguyện vọng, những ý kiến đóng góp quý báu của bà con dành cho đất nước …) nên cũng xin có đôi lời xin thưa cùng “tổ quốc” cho nó tỏ tường.
Là thành viên của một hội thiện nguyện (Hiệp Hội Vì Dân – Vidan Foundation) tôi được cử đến làm việc ở trường làng Kandal – cũng thuộc Kampong Chhnan, cách Bến Ván cỡ 70 cây số về hướng Bắc – do Hội Đồng Hương Perth Tây Úc (cùng với sự bảo trợ của 2VNR Radio) khởi công xây cất từ năm 2010.
Khi tới nơi, vào cuối năm 2014, tôi mới biết rằng ngôi trường khang trang này không có nước cũng không có điện luôn. Loay hoay mãi mới bắt được nước, câu được điện, để có thể xử dụng được nhà vệ sinh, và gắn đèn với quạt cho ba lớp học. Trước khi rời khỏi đây, tôi cũng xin được Hiệp Hội cho phép gửi lại một số tiền tráng xi măng nền trường, vốn bằng đất nện, để biến nó thành sân chơi cho học sinh (vào mùa nước cạn) và hẹn sẽ quay lại trước Hè.
Việt Nam và Campuchia có quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống tốt đẹp. Cộng đồng người Campuchia gốc Việt sinh sống ở Campuchia đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Campuchia cũng như vun đắp quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước.Trên tinh thần đó, Việt Nam mong muốn Campuchia tiếp tục tạo điều kiện pháp lý thuận lợi và có biện pháp phù hợp để đảm bảo các quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người Campuchia gốc Việt.
Sau bà Hằng lại đến ông Phúc: “Tổ quốc lắng nghe hơi thở của bà con kiều bào…” Tôi lậy cả ông lẫn bà, đám dân trôi sông lạc chợ ở Cambodia đã khổ lắm rồi, cho họ xin hai chữ bình an đi!
Ảnh chụp màn hình báo cáo về Việt Nam của WorldJustice
Courtesy Worldjusticeproject.org
Dự án Công lý Thế giới (World Justice Project) vừa công bố “Chỉ Số Thượng Tôn Pháp Luật” của thế giới năm 2017-2018 qua đó cho thấy Việt Nam tụt 7 hạng so với năm 2016, xếp hạng 74 trên 113 quốc giá được đánh giá.
Cụ thể theo báo cáo Việt Nam chỉ đạt điểm số 0,5; xếp hạng 74. So với Trung Quốc, Việt Nam cao hơn 1 hạng (75). Trong khu vực Đông Á- Thái Bình Dương, Việt Nam xếp thứ 11/15, và ở vị trí 10/30 nước có mức thu nhập trung bình thấp.
Các nước khác trong khu vực Đông Nam Á có thứ hạng trên thế giới lần lượt là Singapore 13, Malaysia 53, Indonesia 63, Thái Lan 71, Philippines 88, Myanmar 100, Cambodia 112…
Dự án Công lý Thế giới thực hiện bản báo cáo dựa trên hơn 100.000 khảo sát đối với người dân và chuyên gia tại 113 quốc gia và vùng lãnh thổ về các quy định của pháp luật được thực thi như thế nào trong từng tình huống cụ thể, hàng ngày.
Điểm số dành cho mỗi quốc gia được dựa trên 44 yếu tố trong 8 nhóm gồm: kiểm soát quyền lực chính phủ, không có tham nhũng, chính phủ minh bạch, các quyền căn bản, trật tự và an ninh, khả năng chấp pháp, công bằng dân sự và luật hình sự.
Xin thêm: Tự nhiên lấy cái chủ nghĩa Mac LêNin, mà cái nôi phát sinh của nó là Liên Sô, xứ người ta đã vứt vào sọt rác từ lâu rồi (1991), đem cái chủ thuyết vớ vẩn đó, tự tròng vào cổ, rồi siết họng mình, nghẹt thở quá, tháo ra, nhưng chỉ dám tháo từ từ và gọi đó là gọi là đổi mới, thành tích. Nếu không có cái chủ thuyết này, người dân được tự do làm ăn, buôn bán thì Việt Nam đâu có thua gì Đại Hàn, Singapore.
*** Vì sao dân không còn tin vào cách xử lý của “chính quyền”? 1. Khi thảm họa môi trường xẩy ra thì “chính quyền” đã làm gì? A/ Tìm mọi cách che dấu thủ phạm gây ra thảm họa môi trường.
B/ Tổ chức các hoạt động tuyên truyền mị dân để che đậy hiểm họa sức khỏe cho dân chúng.
C/ Tổ chức ngăn chặn, đàn áp hoạt động biểu tình phản đối môi trường ô nhiễm.
C/ Lừa bịp thương nhân mua trữ cá nhiễm độc, làm nhiều doanh nghiệp nghề cá phá sản.
2. 42 năm độc quyền mà vẫn chưa chuẩn hóa hoạt động giao tiếp với người dân. Thích mời là mời, thích triệu tập là triệu tập. Thích thì bắt bớ giam cầm, bức cung, nhục hình, tra tấn vô tội vạ.
3. Quyền biểu tình, quyền tự do ngôn luận, tự do tiếp cận thông tin, lập hội lập nhóm của người dân bị xâm hại.
4. Sản xuất quá nhiều chủ trương, chính sách, văn bản luật và dưới luật để “chính quyền” tự do hành xử kiểu luật rừng.
5. Dùng quyền lực chính trị để bảo kê cho hoạt động đặc quyền kinh doanh. Đặc biệt là mọi cty, tổng cty, tập đoàn kinh tế nhà nước đều thua lỗ và bắt dân gánh chịu hàng núi nợ công.
6. Tự đặt ra hơn 432 loại thuế, phí, phụ phí, phụ thu nhằm vắt kiệt sức dân.
7. Tước đoạt quyền tư hữu tư liệu sản xuất, đất đai bởi tự đặt ra luật một cách phi lý.
8. Chế độ tuyển nhân viên quan chức theo chủ trương nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tệ, còn thì mặc kệ. Tuyển dụng con cháu quan chức dốt nát kế thừa quyền lực kiểu hôn nhân cận huyết loạn luân.
9. Luật chỉ để xử ép dân chứ không xử quan chức đảng viên khi họ phạm tội.
10. Hành xử bội ước với Hiến pháp, luật pháp quốc gia và các công ước đã ký kết với quốc tế.
Vậy thì dân nào còn đặt niềm tin và cách hành xử của “chính quyền”?
Nhiều người đi lễ đầu năm để cầu tài cầu lộc. Ảnh: HOANG DINH NAM/Getty Images
Hiện tượng người dân đi lễ cầu an, giải hạn, cúng bái trong những năm gần đây đang “tăng dần đều” vì người dân mất lòng tin vào ‘cõi dương’ nên tìm chỗ dựa ở ‘cõi âm’, một chuyên gia về minh triết Phương Đông trong quản trị nói với BBC.
Truyền thông Việt Nam mấy ngày qua đưa tin vào dịp đầu năm Mậu Tuất, người dân và cả cán bộ nhà nước đổ đến các đền chùa miếu mạo để đi lễ, cúng bái.
Tiêu biểu là hiện tượng biển người đổ về dự lễ cầu an, chen chân xin lộc ở chùa Phúc Khánh, Hà Nội và hàng ngàn người rồng rắn xếp hàng về xin ấn từ 5 giờ sáng ở Đền Trần, Nam Định, theo báo chí Việt Nam.
“Đang có một cuộc khủng hoảng trong xã hội về mặt giá trị”, Bà Giang Hà, chuyên gia về ứng dụng minh triết Phương Đông trong quản trị, nói với BBC hôm 2/3.
“Theo tôi, khi người ta cảm thấy mất lòng tin trong cuộc sống có thể nói là ‘dương’, khi người ta không biết bấu víu vào đâu thì người ta đành phải đi tìm kiếm niềm tin ở một thế giới khác – thế giới âm,” bà nhận định
Theo bà, có nhiều người đi lễ ‘theo phong trào’ mà không tìm hiểu nguồn gốc những nghi lễ họ theo đến từ đâu.
Người dân tìm kiếm điều gì khi đi chùa?
“Đi chùa đầu năm xuất phát từ mong muốn tìm một lòng tin nào đó,” theo bà Giang Hà, nhà nghiên cứu triết học phương Đông. Ảnh: Linh Pham/Getty Images
Bà Giang Hà cho biết người Việt Nam không những theo đạo Phật và mà còn theo đạo Khổng, đạo Mẫu (đạo nguyên thủy trước khi đạo Phật và đạo Khổng gia nhập vào Việt Nam).
Việc đi thăm đền chùa đầu năm là một hiện tượng chung về mặt tín ngưỡng, văn hóa và đều xuất phát từ mong muốn tìm một lòng tin nào đó.
Dẫn câu nói ‘âm thịnh dương suy’, bà Giang Hà nói phong trào đi lễ sẽ vẫn tiếp diễn trong những năm tới nếu không có thay đổi về nhận thức giá trị.
“Khi mà ‘dương thịnh’ hay khi người ta cuốn theo những cái đam mê trong công việc, gia đình, người ta hạnh phúc, thì người ta không mất thời gian đi cầu xin nhiều.
“Người ta chỉ có những chuyến du xuân – vào chùa là đến một nơi thanh tịnh, đi vào đền để ôn lại lịch sử và cảm nhận sự linh thiêng của mảnh đất nơi mình ở, chứ không phải để xin.”
“Không có một thế lực nào, một cõi âm nào mà mầu nhiệm đến mức cứ đi xin là được, cứ đi giải hạn là không còn hạn nữa.”
Khi được BBC hỏi về chuyện một số người dân phong thần cá chép hay quỳ lạy rắn nước nằm trên mộ, bà Giang Hà cho rằng, chuyện đi cầu xin một thế giới “thần thánh”, cái thế giới có lẽ vượt ra ngoài tầm nhận thức của con người, cũng “gần như là tham nhũng”.
“Anh không làm gì mà anh cứ đòi đi xin, đi xin thì một ngày nào đấy anh phải trả”, bà nhận xét.
Cán bộ nhà nước đi lễ trong giờ làm việc
Từ lâu nay, con người đi chùa là để tìm nơi thanh tịnh nhưng số lượng đông đảo người đi cầu cúng lại đặt ra vấn đề về mục tiêu của các nghi lễ. HOANG DINH NAM/Getty Images
Mặc dù chính phủ đã có công văn cấm cán bộ nhà nước đi lễ trong giờ hành chính, truyền thông Việt Nam đưa tin chuyện này vẫn xảy ra, với vụ việc nổi bật nhất là bảy cán bộ Kho bạc Nhà nước Thành phố Nam Định bị đình chỉ công tác vì làm chuyện này.
Theo bà Giang Hà, đây là do hiền triết phương Đông được áp dụng vào quản trị một cách thái quá: các cơ quan nhà nước chấp nhận tâm linh trong môi trường làm việc.
“Xét về khía cạnh tôn giáo tâm linh, lòng tin là điều rất riêng tư sâu thẳm của cá nhân, anh tin vào đâu là điều của cá nhân anh, không nên mang ra xã hội.”
Nếu cứ lấy thời gian làm việc để đi lễ mong sẽ làm ăn phát đạt, không những công chức mà cả các công ty đều không mang lại hiệu quả.”
Mua thần bán thánh?
Bảy cán bộ Kho bạc nhà nước TP Nam Định bị đình chỉ công tác vì đi lễ Đền Trần trong giờ hành chính. Ảnh: internet
Hiện tượng thương mại hóa ở các đền chùa Việt Nam được cho là rất phổ biến.
Theo các báo Việt Nam, người dân đi du xuân, cúng lễ ở Yên Tử (Quảng Ninh) phải nộp phí từ 20.000 đồng đến 40.000 đồng.
Còn tại Đền Trần (Nam Định), các hòm công đức đã được dựng sẵn ngay phía trước các điểm phát ấn và những ai muốn được phát ấn ‘tự hiểu’ họ phải bỏ tiền vào hòm công đức.
Bình luận về hiện tượng này với BBC, bà Giang Hà nhận định các cơ quan truyền thông chính thống, mạng xã hội và các cơ quan chức năng của nhà nước phải chịu trách nhiệm rất lớn vì ở đây có liên quan đến việc “thao túng lòng tin của nhân dân để kiếm tiền”.
Theo bà, những cơ quan này phải có vai trò lên tiếng, giáo dục, cảnh tỉnh người dân để chống lại mê tín và chuyện mua thần bán thánh một cách công khai lộ liễu.
“Tu tại tâm”
Người dân đi lễ ở Phủ Tây Hồ, Hà Nội. Ảnh chụp ngày 28/1/2017. Nguồn: Linh Pham/Getty Images
Bà Giang Hà cho rằng những người muốn theo đạo Phật hay theo thế giới tâm linh lẽ ra chỉ cần làm một điều quan trọng nhất, đó là “tu tại tâm”.
“Điều duy nhất mà họ cần làm là làm việc thiện. Chưa nói đến kiếp luân hồi hay luật nhân quả, mà đơn giản là khi tất cả mọi người trên thế giới cùng làm việc thiện thì thế giới sẽ tốt đẹp lên rất nhiều, và đương nhiên bạn cũng được hưởng cái thành quả chung đó.”
Bà kêu gọi giới truyền thông, những người trí thức và trường học nên giúp người dân và học sinh có hiểu biết về triết học và tôn giáo, không phải là triết học Mác Lê Nin khô cứng, mà về những giá trị trong xã hội.
Thời gian qua, chính các tờ báo Việt Nam lại tập trung giới thiệu các nghi thức như “Nghi lễ cúng Rằm tháng Giêng đầy đủ nhất” (VietnamNet), hay “Cúng Rằm tháng Giêng thế nào cho chuẩn?” (Tiền Phong).
Theo bà Giang Hà, hiện sống tại Paris nhưng thường về Hà Nội, thì:
“Mỗi người hãy góp một tiếng nói vào việc làm thức tỉnh những ai đang mải mê đi lễ, khấn bái, rằng việc đó không làm nên điều gì tốt đẹp cho xã hội.”
“Họ nên làm những điều tốt cho môi trường, cho xã hội và nên tự đi tìm niềm đam mê khác để cân bằng lại và tìm ra giá trị của cuộc sống,” bà Giang Hà nói với BBC.
Hơn một vạn rưỡi (15.000) người này đang ngồi ngoài đường để cùng nhau làm lễ cầu sao giải hạn tại chùa Phúc Khánh (Đống Đa, Hà Nội) vào đêm qua.
Tôi vẫn tự hỏi, hạn của họ, nếu có, là gì trong đời thường? Thần thánh hoặc các đấng tâm linh nào đó có thực sẽ giải hạn được cho họ hay không?
Dù họ có bỏ tiền của ra để cầu bái, khấn vái sao cho tai quan nạn khỏi, thì mọi nan đề cuộc sống (những cái hạn thực sự mà họ phải đối mặt hàng ngày) vẫn còn nguyên đó: giá xăng tăng; thuế phí tăng, học phí và viện phí tăng; giáo dục vẫn lạc hậu; thực phẩm vẫn bẩn và độc hại; xã hội vẫn bạo lực và hành xử gian trá với nhau; luật pháp vẫn rối ren và môi trường vẫn ô nhiễm ngày càng nặng nề; đường giao thông vẫn xuống cấp và ùn, tắc mỗi ngày; tai nạn giao thông và bệnh ung thư ngày càng tăng cao; nạn chạy chọt, tham nhũng và háo danh (bằng cấp) vẫn hoành hành xã hội…
Những vận hạn của họ thực sự là gì? Tại sao họ lại ngồi chen chúc nhau ngoài đường trong cái giá rét, mất tiền bạc, mất thời gian và sức khoẻ chỉ để gửi vào hư không lời cầu xin sao cho tránh được các tai ương mà họ lo sợ là nó sẽ xảy ra với mình hoặc người thân?
Nếu đã bước chân đến chốn Thánh, Thần, Phật, thì tức là họ tin vào luật nhân quả cũng như căn nguyên tạo nên những khổ hạnh của con người. Thế nhưng họ né tránh cái “nhân” trực tiếp của các tội lỗi họ phạm phải hoặc đang hiện diện (đầy rẫy) trong xã hội mà có nguy cơ ảnh hưởng tới họ, nhưng nghịch lý là họ lại đi xin xoá “quả” ở một nơi không phải là nơi gieo “nhân” dẫn đến? Vì thần phật không tạo ra hay gieo “nhân” của những “quả” xấu đó cho con người và xã hội.
Một đám người u mê và mông muội đến mức này thì không biết họ sẽ giải quyết những biến cố trong đời sống như thế nào?
Ở Nam Định thì hàng chục ngàn người chen chúc và vật vờ cả đêm để chờ tới lúc phát ấn đền Trần. Đã có lần tôi viết với tiêu đề, xin ấn làm người, với nội dung nhắc nhở rằng, đức Thánh Trần là một vị anh hùng dân tộc thời phong kiến xưa kia và đã chiến đấu kiên cường để bảo vệ đất nước cũng như vương triều của mình. Đâu có phải là Thánh thần khi mới sinh ra với phép màu kỳ diệu để mà chỉ cầu xin ấn (triện của Hoàng đế) là đạt được những mục đích tư lợi khi tìm đến đó đâu. Nếu đức thánh Trần không giỏi quân sự, không sáng suốt trong việc nước, việc mưu binh và có dũng khí mà chỉ dâng lễ cầu sao giải hạn hay đi xin ấn thì có lẽ đã đánh mất quốc gia vào tay giặc rồi. Đến An Dương Vương có Nỏ thần mà còn để tổ quốc bị đánh chiếm và còn mất mạng, mất cả con gái.
Thế nên, những người còn tiếp tục mê muội vào những việc tâm linh trong sự hạn chế về nhận thức, sự hiểu biết mà ươn hèn né tránh những vấn đề, đòi hỏi và bất công của cuộc sống, thì rồi một lúc nào đó, những hậu quả xấu do chính con người sống trong một xã hội hỗn loạn, nhiễu nhương sẽ mang đến cho họ.
Và tôi cũng lại thầm tự hỏi: bao nhiêu người cầu xin để mang cái hạn tới cho người khác (có thể cùng chung đám đông đang ngồi với nhau); và sau khi dâng lễ giải hạn xong ai sẽ làm những điều xấu, điều ác và gây ra những điều tội lỗi cho con người trong đời thường?
Chúng ta cần nhớ vòng sinh diệt, luân hồi và quả nghiệp, nghĩa là ta tạo ra cái ác thì mình hoặc người thân mình sẽ gánh chịu hậu quả của cái ác; hoặc nếu cố gắng cầu xin sự xoá bỏ cái tai hạn ở một nơi này hay đối với người này, thì cái vận hạn đó sẽ được lưu chuyển đến một nơi khác hay cho (những) người khác.
(VTC News) – Cả một xã hội khấn vái, ước ao, một xã hội biến mình thành nô lệ của hương khói và thánh thần là con đường tắt dẫn văn hóa đến ngày “mạt”.
Một xã hội khói hương
Nói ra thì bảo báng bổ, nhưng cứ thử nhìn mà xem, tháng Giêng năm nào, người ta cũng thấy rõ ràng nhất, đầy đủ nhất cái sự mê tín đến khủng khiếp của người Việt.
Một xã hội “khói hương”, với hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn người chen chân mang vác thủ lợn, gà luộc, vàng mã, đủ thứ lễ lạt cồng kềnh và cầu kỳ khắp các chùa chiền, miếu, phủ; từ nơi xa xôi hẻo lánh đến thị thành nhộn nhịp; từ đầu tuần tới cuối tuần, dai dẳng hết cả tháng Giêng, tháng Hai, có nơi còn vắt sang tháng Ba.
Đâu đâu cũng thấy những người là người, nghi ngút khói hương, sì sụp khấn vái, cầu ước.
Xa xôi gì đâu, mới cách đây mấy ngày, dư luận khiếp đảm chứng kiến một cuộc hỗn chiến dã man bằng nắm đấm, gây gộc, hung hăng và máu để cướp cho bằng được quả “phết”, tại Phú Thọ. Vì tương truyền, có quả ấy trong nhà, cả năm sẽ may mắn, ăn nên làm ra, rồi cả …đẻ con trai.
Tối hôm sau, hàng chục nghìn người xếp hàng dài cả cây số, tràn khắp các con đường, ngay trục giao thông trung tâm của Thủ đô, vái vọng xa tít tắp vào ngôi chùa Phúc Khánh vì đặt niềm tin vào sự linh thiêng của nơi này.
Biển người chen chân đi lễ đầu năm ở chùa Phúc Khánh.
Mùi của khói hương là mùi của bình an, của tĩnh tại, của thời khắc thiêng liêng, của ước vọng tốt đẹp và hướng thiện. Thứ mùi ấy, nhất định không thể tồn tại giữa xô bồ và toan tính.
Cũng đêm đó, ở đền Trần Nam Định, hơn vạn người chen lấn, giẫm đạp, nhảy bổ lên cả lư đồng, bàn thờ để cướp bằng được một chút lộc mang về nhà. Lộc ấy, dù được cướp theo cách báng bổ nhất, cũng được nâng niu như thứ bùa hộ mệnh cho lòng tin mãnh liệt vào đường công danh, thăng quan tiến chức.
Rồi các phủ, các đền, chùa, miếu mạo…cứ sau Tết là tấp nập người ra kẻ vào, khổ sở chen lấn, sớ cầu xin nào cũng dài dằng dặc ti tỉ ước mong.
Thôi thì, cầu mong những điều may mắn, tốt đẹp, an vui trong ngày đầu xuân năm mới vốn là truyền thống tốt đẹp của người Việt bao đời. Những địa danh tâm linh ấy, cũng được dựng lên từ ý nghĩa văn hóa và lịch sử đầy nhân văn của cha ông.
Nhưng thử hỏi, bao nhiêu người trong số các khách thập phương xa gần kia, mang cái tâm hướng thiện và cầu bình an thực sự đến với những nơi linh thiêng. Hay nhiều hơn thế, những kẻ đang hùng hổ cướp lộc và len lén mua khói bán nhang, mua thần bán thánh đến cầu khấn những điều biểu lộ sự tham lam vô độ của lòng người.
Nhảy bổ lên cả lư đồng, bàn thờ để cướp bằng được một chút lộc mang về nhà tại đền Trần (Ảnh: Zing)
Mùi của khói hương là mùi của bình an, của tĩnh tại, của thời khắc thiêng liêng, của ước vọng tốt đẹp và hướng thiện. Thứ mùi ấy, nhất định không thể tồn tại giữa xô bồ và toan tính.
Từ bao giờ, niềm tin của con người được “gá” vào thánh thần chứ không phải giữa con người với con người, giữa con người với ngay chính xã hội mà chúng ta đang sống, đang tồn tại hiển nhiên như vậy?
Cả một xã hội khấn vái, ước ao, một xã hội biến mình thành nô lệ của hương khói và thánh thần.
14 vạn suất cầu xin. Chầu chực mới được xin. Bỏ tiền mua suất được xin. Nghe một tên sư quốc doanh ban phát bố thí cho chút hy vọng về một tương-lai-bấp-bênh-có-thể-vì-lòng-thành-phủ-phục-mà-có-thể-có-bớt-chút-nào-đen-tối.
14 vạn người len nhau, để được quyền xin cái không có.
14 vạn. Cho một tối.
Tối nay sẽ 15 vạn hoặc hơn.
Tối 18 lại 18 vạn nữa.
Đến hẹn lại lên, lại nườm nượp rủ nhau cúi lưng đi xin giả dối.
Tôi, chăm chỉ cần cù, đã đi nhiều lần mười bốn tháng, qua nhiều lần mười bốn nghìn cây, mới gặp được, khắp mười bốn phương trời, mười bốn người bạn tâm đắc, mười bốn lứa tuồi, mười bốn con đường yêu quê hương, thương đồng loại.
Họ, 14 vạn, hình như cũng đi tìm gì đó. Có thấy không? Hay chỉ mong mãi được bình yên làm nô lệ? Nhưng khổ, cầu thế chứ cầu nữa cũng đâu có bình an rào rào từ trên trời rơi xuống! Nếu có thì đã chả kỷ lục thế giới về ung thư, về thức ăn độc hại, về ô nhiễm, về tệ nạn, về thất nghiệp, về xuất khẩu lao động, xuất khẩu mại dâm, xuất khẩu cô dâu tuyệt vọng.
Nhìn những đám đông tuyệt vọng này, nhất loạt hướng về tên sư quốc doanh Thích Thanh Quyết, hay một kẻ khác, như hắn, ma giáo kinh doanh nỗi sợ, tôi luôn ao ước có ngày nào, cùng bạn bè mười bốn phương trời, nắn được những dòng suối mười bốn vạn đó, chảy về miền yêu thương, ước vọng, miền thực sự có ánh sáng, nơi ta TẠO RA tương lai thay vì cầu xin ảo giả.
Mười bốn, mười rằm hay mười tám, tôi chúc cho mỗi người trong 14 vạn này đọc nhiều hơn chút, nghe, nhìn nhiều hơn chút, gặp gỡ thêm người tốt để tự cởi bớt dây trói u mê.
“KHÔNG CÓ LÝ DO GÌ CHÚNG TA CỨ NGHÈO MÃI”. Ông Trần Văn – nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội đã phát biểu như thế. Thấy hơi ngạc nhiên vì ông dùng từ “chúng ta”. Tại vì công tâm mà nói thì chỉ có dân nghèo, chứ quan chức như ông thì giàu sụ. 90 triệu dân, từ người trẻ cho đến người già, từ đàn bà cho đến trẻ em, ai nấy phải è cổ ra nuôi cả 1 lũ quan tham ăn tàn phá hại ko từ thứ gì, thử hỏi làm sao mà dân ko nghèo???