Hoa Kim Ngo and 11 others shared a link.


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Việt Nam, Tin Cộng Đồng


Lm Trần Chính Trực is with Trần Chính Trực at Lm Jos Trần Chính Trực.
THẢM KỊCH 39 NGƯỜI CHẾT TRÊN ĐƯỜNG DI CƯ VÀ NHỮNG DẤU CHẤM HỎI
– Khắc Bá, SJ
Dù chưa có kết luận chính thức của cơ quan điều tra, nhưng diễn tiến và các thông tin đang cho thấy rằng các nạn nhân của thảm hoạ 39 di dân chết trong container hầu chắc là người Việt Nam.
Trước mỗi biến cố đau thương, có lẽ điều quan trọng nhất chúng ta có thể làm là thinh lặng để cảm nhận sự mất mát, cầu nguyện cho nạn nhân, và nhất là hiệp thông với nỗi đau của những thân nhân họ. Tuy nhiên, những thảm kịch thư thế này luôn chứa đựng một tiếng kêu gào mạnh mẽ đối với bất cứ ai còn nhạy bén với lương tâm của mình, thúc đẩy ta truy vấn về trách nhiệm liên đới, và đặt ra những câu hỏi cho toàn xã hội. Vì thế, dù biết việc viết lách phân tích lúc này chưa hẳn là điều nên làm, vì nhiều khi con chữ không thích hợp trước một nỗi đau, nhưng người viết vẫn mạo muội chia sẻ những suy nghĩ mình trong tư cách là một người đồng loại và đặc biệt là đồng bào.
Các em mang những gì khi ra đi?
Các nạn nhân, những người còn rất trẻ, ra đi từ miền đất Miền Trung khắc nghiệt về điều kiện tự nhiên, nơi đất đá khô cằn, và thiên tai ghé thăm thường kỳ. Cái nghèo của mảnh đất này đã nung nấu những ý chí vượt khó và cả những giấc mộng đổi đời, không phải chỉ từ thế hệ của các em, mà đã truyền đời từ tinh thần của ông bà cha mẹ để lại. Vì thế, các em đã phải mang vác trên những đôi vai còn nhỏ bé những ước mơ cùng sự trăn trở của cha mẹ, của anh chị em mình. Có những mong ước rất giản dị như để cải thiện tài chính cho gia đình, có tiền cho các em ăn học. Có những mong ước tự nhiên theo tư duy của người thôn quê chân chất, như ‘xây căn nhà lớn lớn cho bằng người ta’. Và cũng có những dự tính đường xa như tìm cách định cư ở một đất nước đảm bảo tương lai tươi sáng hơn.
Hành trang của các em chứa nhiều ước mơ và khao khát, nhưng lại thiếu hụt vốn liếng giáo dục và tầm nhìn cuộc sống. Ba từ ‘đi nước ngoài’ đã phủ sóng môi trường lớn lên nơi miền quê các em. Ở đó, nếu được hỏi ‘ước mong của con là gì?’, một em bé sẽ trả lời: ‘con mong được lớn nhanh để đi nước ngoài như các anh chị trong xóm!’ Nếu hỏi phụ huynh: ‘tại sao để con cái nghỉ học sớm?’, nhiều người sẽ trả lời: ‘học nhiều có được ích gì đâu; rồi cũng có kiếm được việc đâu! Dành tiền cho tụi nó đi nước ngoài làm còn hơn!’.
Các em mang nơi tâm trí mình những hình ảnh lung linh về một cuộc sống giàu sang nơi đất khách quê người, và một viễn tượng làm công dân của một đất nước tươi đẹp, dân chủ và hiện đại. Nét oai vệ của những vị Việt Kiều về thăm quê đã hút hồn các em; và các hình ảnh xinh đẹp, khoẻ mạnh từ những bạn bè đã qua được ngoại quốc khiến các em trầm trồ mỗi khi lên mạng xã hội. Nó thật sự quá đối nghịch với hình ảnh hiện tại của quê nhà và viễn tượng tương lai của đất nước này.
Ai đã xếp ‘hành trang’ của các em?
Nói cho cùng, di cư là một hiện tượng rất tự nhiên của con người, theo quy luật ‘đất lành chim đậu’. Vì thế, rất khó trách móc hay đổ hết tội lỗi cho những đường dây đưa người đi, vì có cầu ắt có cung. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là có những vùng đất đang không lành, hoặc được nhìn là không lành. Vì thế, điều chúng ta cần trăn trở là về ‘cầu’: tại sao các em bất chấp hiểm nguy để ra đi? Ai đó có thể trách móc rằng tính vọng ngoại và sự thiếu hụt tri thức đã làm hại các em. Nhưng ai đã xếp vào hành trang các em những điều đó?
Xét trên thực tế, những miền quê nghèo chưa khi nào thực sự trở thành trọng tâm của các chính sách kinh tế và phúc lợi xã hội. Chữ ‘lợi nhuận’ đã đẩy mọi ưu tiên trong các chính sách và chương trình phát triển kinh tế dành cho những vùng có sẵn các ưu thế vốn có, như cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực có trình độ, vv. Vì thế, người dân ở quê nghèo không thể thấy một khả năng cạnh tranh khả quan nào dành cho con em của mình ở thị trường việc làm trong nước; và sự bất bình đẳng cơ hội này có khả năng ngày một tăng cao. Vì vậy, di cư ra nước ngoài, nơi sức lao động phổ thông được trả xứng đáng, dường như là hướng đi duy nhất mà họ có thể nhìn thấy.
Vốn hành trang của các em cũng chỉ ra rằng hệ thống giáo dục của chúng ta đang thất bại trong sứ mạng căn bản của nó. Nếu một nền giáo dục khiến cho người dân chỉ nhìn thấy ích lợi của nó ở khía cạnh kinh tế, thì rõ ràng nền giáo dục đó đã trở nên lệch lạc! Thiết tưởng, điểm căn bản của giáo dục phải nằm ở khả năng khai sáng của nó, tức giúp con người có khả năng biện phân những giá trị mang tính nhân văn của cuộc sống, và đưa ra những lựa chọn phù hợp với các giá trị đó.
Hơn nữa, cũng đừng vội kết luận rằng vấn đề là do các em và gia đình đã có những tầm nhìn ảo tưởng và lệch lạc về đời sống ở ngoại quốc. Vấn đề căn bản không phải ở chỗ ảo ảnh của họ về đời sống ngoại quốc, dù điều này là có thật, mà là cảm nhận của họ về sự bấp bênh cho đời sống tương lai nếu họ ở lại trong nước. Nếu chân thành với nhau, chúng ta không thể chối bỏ thực tế này: hiện nay, suy nghĩ và cảm nhận của người dân nói chung về đất nước đang ở mức rất ảm đạm. Tất cả những yếu tố tiêu cực như mức độ ô nhiễm (khiến cho bệnh tật gia tăng, nhất là ung thư), giáo dục yếu kém, nợ công tăng cao, tham nhũng tràn lan, vv., đang làm cho dân chúng cảm giác về một tương lai bếp bênh. Vấn đề nghiêm trọng tới mức người dân không còn cảm thấy mình phải có trách nhiệm xây dựng, cải tạo đất nước nữa, vì họ không cảm giác về khả thể thay đổi của nó. Vì thế, nhiều người hiện nay đã không còn coi đất nước này là “mẹ”; và khi không còn cảm thức thuộc về người mẹ, họ chẳng còn tâm tình gắn bó cách sống chết với quê hương nữa. Chúng ta có thể gọi đó là hiện tượng bi quan tập thể, nhưng không phải là thứ bi quan phi lý. Vì thế, khi diễn ra tâm lý ‘chạy trốn’ quê nhà, tìm về vùng đất mới – dù chưa hẳn nơi mới thật sự tốt lành hơn – thì trách nhiệm chính không phải ở phía những người dân thôn dã này, mà là của xã hội, vì đã không tạo được một môi trường tin cậy cho công chúng. Người dân có sự khôn ngoan của họ! Nếu tầng lớp khá giả còn cảm nhận được tính không an toàn cho tương lai, mà bằng chứng là đa phần đều cho con định cư ở ngoại quốc nếu có điều kiện, thì tầng lớp dân nghèo càng có cảm thức này mạnh hơn khi họ ý thức về những thiệt thòi và cơ hội cạnh tranh nhỏ bé của con cái mình.
Như một lời tưởng niệm
Hẳn tất cả mọi người dân Việt Nam đều đang xót xa và đau đớn trước biến cố đau thương này. Chẳng ai muốn một điều như vậy diễn ra. Chúng ta cũng chẳng thể trách móc hay đổ lỗi cho một nhóm hay một cá nhân cụ thể nào. Tuy nhiên, để những người trẻ ra đi với hành trang như nói trên là điều mà cả xã hội này phải chịu trách nhiệm. Có thể chúng ta chưa tìm ra những giải đáp tức thì cho những băn khoăn mà tiếng nói lương tâm mình thúc đẩy trước thảm kịch này, nhưng chúng ta phải khắc ghi và trăn trở với những nhắc nhở đó. Phía sau mỗi thân phận di dân là cả một câu chuyện dài; và chúng ta phải lắng nghe, tìm hiểu và suy nghĩ về chúng, nhất là khi những người chết đã không còn cơ hội kể ra câu chuyện đời mình.
Những lời cuối mà cô gái trẻ Phạm Thị Trà My nhắn tin là, “con xin lỗi bố mẹ nhiều. Con đường đi nước ngoài không thành. Con chết vì không thở được.” Có thể nói, em là đại diện tiêu biểu cho những bạn trẻ đang bất chấp tính mạng để vượt biên vào vùng đất hứa. Cho tận những giây phút cuối cùng của cuộc đời, em vẫn là một con người rất Việt Nam, mang nơi mình đặc tính hiếu thảo đặc trưng của dân tộc. Em xin lỗi bố mẹ, còn đất nước này nợ em một lời xin lỗi!
Khắc Bá, SJ – TNV Vatican News
Nguồn: https://www.vaticannews.va/…/tham-kich-39-nguoi-chet-tren-d…
27-10-2019
Theo báo mạng News.Zing.VN, thì “Sáng 26/10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã trao Quyết định thăng quân hàm từ Trung tướng lên Thượng tướng cho hai Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Trần Quang Phương và Đỗ Căn.”
Cũng theo báo này thì, như một “con vẹt đầu đàn”, nói toàn những lời vô nghĩa như trên một hành tinh xa lạ:
“Tổng Bí thư mong muốn Thượng tướng Trần Quang Phương và Đỗ Căn tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Anh hùng, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã tin tưởng giao phó, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.”
Trong khi đó, dưới trái đất, cùng một thời điểm Nguyễn Phú Trọng khua môi múa mép như trên, thì công luận và báo chí thế giới vô cùng thương tâm được tin cảnh sát Anh Quốc khám phá xác chết của 39 người Trung Quốc và Việt Nam vô danh và vô tội, trong đó có 31 người đàn ông và 8 người phụ nữ trong một thùng container có máy lạnh, tại vùng Essex.
Thật vậy nhiều chỉ dẫn cho thấy có thể một số người trong đám tử thi là người Việt Nam. Ít nhất một phụ nữ Việt Nam tên Phạm Thị Trà My 26 tuổi là một trong những nạn nhân. Trước khi chết, cô gái trẻ này còn text cho cha mẹ mình một tin nhắn vô cùng đáng thương đại khái như sau:
“Con xin lỗi Ba Mẹ. Chuyến đi hải ngoại của con không thành công. Con thương Ba Mẹ nhiều. Con không thể hít thở. Con đến từ thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, Việt Nam… Con xin lỗi mẹ”.
Tin mới nhất cho biết ngoài thiếu nữ Trà My ra còn có thể một thanh niên tên Nguyễn Đình Lượng cũng từ Hà Tĩnh là nạn nhân. Cho đến bây giờ thì con số chính xác những nạn nhân người Việt chưa biết bao nhiêu trong số 39 tử thi.
Được biết một thanh niên Bắc Ái Nhĩ Lan tên Maurice Robinson, 25 tuổi đã bị câu lưu và sẽ ra tòa thứ Hai ngày 28 tháng 10 về các tội ngộ sát, âm mưu buôn người, âm mưu giúp di dân bất hợp pháp và âm mưu rửa tiền. Ba nhân vật khác lớn tuổi hơn cũng bị truy tố về một số tội danh liên hệ.
Khi tin tức này đươc bộc lộ lần đầu thì thông tấn xã Hoa Kỳ CNN đặt câu hỏi:
1. Tại sao dân chúng Trung Quốc, với nền kinh tế đứng hàng thứ nhì trên thế giới, lại mạo hiểm chính mạng sống của mình để được nhập cư vào Vương quốc thống nhất Anh?
2. Tuy nhiên sau khi tin tức hé lộ sự hiện diện của người dân Việt Nam trong số người tử nạn, thì câu hỏi thứ nhì phải nêu ra là: Tại sao nhân dân của các quốc gia tự cho là thiên đường xã hội chủ nghĩa lại có khuynh hướng liều mạng sống, chạy trốn thiên đàng, tìm cách nhập cư vào các quốc gia “tư bản rẫy chết”, nói theo thuật ngữ ban tuyên huấn của các đảng cộng sản.
Câu trả lời cho cả 2 vấn nạn trên tuy phức tạp nhưng có thể hiểu tường tận khi chúng ta nắm rõ bản chất của các đảng CS đang nắm quyền tại Trung Quốc và Việt Nam.
Xã hội chủ nghĩa theo truyền thống Đệ Tam Quốc Tế của Lê Nin đề xướng bao gồm các yếu tố sau đây:
1. Xã hội chủ nghĩa (socialism) nôm na: Tức mọi phương tiện sản xuất thuộc nhà nước
2. Quốc tế chủ nghĩa (internationalism) nôm na toàn thể nhân loại phải tiến lên xã hội chủ nghĩa và tình anh em giữa các quốc gia xã hội chủ nghĩa
3. Toàn trị chủ nghĩa (totalitarianism) nôm na các đảng CS nắm quyền lực chính trị tuyệt đối
4. Tôn sùng lãnh tụ tối cao (Worship of supreme leader) nôm na tôn sùng Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và gần đây nhất Tập Cận Bình là những lãnh tụ siêu việt.
Đức quốc xã theo truyền thống của Hitler chủ trương bao gồm các yếu tố sau đây:
1. Xã hội chủ nghĩa (Socialism) nôm na Mọi phương tiện sản xuất thuộc nhà nước sở hữu hoặc điều hành
2. Quốc gia chủ nghĩa (Nationalism) nôm na Dân tộc Đức là siêu đẳng
3. Toàn trị chủ nghĩa (Totalitarianism) nôm na Đảng Quốc Xã toàn trị
4. Tôn sùng lãnh đạo tối cao (Worship of supreme leader) tôn sùng Hitler là lãnh tụ siêu việt.
Sau khi phân tích như trên, trong trường hợp Trung Quốc và các quốc gia CS hiện hành như tại Bắc Triều Tiên và Việt Nam thì một khi yếu tố “quốc tế chủ nghĩa” bị loại bỏ và thay thế bằng “quốc gia chủ nghĩa”, nhất là quốc gia cực đoan chủ nghĩa như tại TQ, thì bản chất đảng CSTQ thật sự không khác gì Đảng Quốc Xã của Hitler. Khác chăng là CSTQ còn dối trá và nguy hiểm hơn gấp trăm lần.
Thêm vào đó, bản chất của phiên bản xã hội chủ nghĩa trong một quốc gia tại Đức Quốc Xã có vẻ trung thực hơn phiên bản xã hội chủ nghĩa trong một quốc gia tại TQ, Việt Nam và Bắc Triều Tiên nhiều.
Lý do đơn giản là vì tại các quốc gia này chỉ còn 2 giai cấp. Đó là giai cấp đảng viên bóc lột và giai cấp nhân dân bị bóc lột. Đảng viên là tư bản đỏ. Nhân dân là giai cấp lao động vô sản bị bóc lột. Giai cấp tư bản đỏ không hề chần chừ liên kết với tư bản quốc tế, bóc lột nhân dân lao động.
Đó chính là lý do tại sao xã hội đầy rẫy tham nhũng, bất công đưa đến cảnh người dân Việt, kể cả cô gái Phạm Thị Trà Mi phải thân gái dặm trường, tha phương cầu thực và bỏ thây trong một chiếc container tại Anh Quốc.
Sự lệ thuộc của đảng CSVN vào đảng CSTQ không những thể hiện trên bình diện vĩ mô qua những hành vi đốn mạt là nhượng và bán đứng Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, nhiều ngàn cây số lãnh thổ và lãnh hải, Hoàng Sa và một phần Trường Sa cho TQ, mà trên bình diện vi mô, còn mở rộng biên giới cho sử dụng đồng Nhân Dân Tệ và biến nhiều người dân Việt trở thành nạn nhân của những băng đảng tội ác TQ, buôn người như trường hợp các người Việt nêu trên.
Hầu như là đảng CSVN, TBT đảng Nguyễn Phú Trọng và 2 thượng tướng Tổng Cục Chính Trị nêu trên càng quang vinh thì số phận nhân dân Việt Nam càng thê thảm.
Chỉ khi nào toàn bộ đảng CSVN chui tuốt vào thùng rác của lịch sử và toàn dân chung lòng xây dựng một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên trên đất nước, thì dân tộc Việt mới chấm dứt cảnh nước mất nhà tan, nhân dân đồ thán này.
27-10-2019

Khi cha mẹ không thể lo cho tương lai con cái thì cha mẹ có lỗi với con. Nhưng kết lại, đất nước bần cùng, người dân khốn khổ hôm nay là do lãnh đạo hết cả.
Trở lại vụ giờ tăng lao động. Không ngoại lệ, chủ nhân, công nhân VN “ngóc đầu không nỗi” là do các chính sách về kinh tế “lột da đầu”. Công nhân VN lương thấp vì đây là chủ trương của đảng và nhà nước VN. Không phải lãnh đạo CS luôn miệng khoe “thế mạnh” của VN trước những nhà đầu tư thế giới là “nhân công VN rẻ” hay sao? Còn giới chủ, họ luôn là đối tượng “vặt lông vịt” của công an phường, của kiểm tra quận, của đội phòng cháy chữa cháy, của những vụ “bôi trơn”…
Giới chủ VN “bòn rút công nhân” không khác thời “tư bản hoang dã” cuối thế kỷ 19. Bởi vì, nếu không “xiết bù lon” thì làm gì họ sống?
Giới chủ nhân cần “bình tâm” nhìn lại để thấy mình, cũng như giai cấp công nhân, đều là nạn nhân của các chính sách của nhà nước. Vấn đề vì vậy là do chế độ chính trị chớ không phải do “qui luật thị trường”.
Không nơi nào trên thế giới này mà giới chủ nhân, lẫn công nhân, phải nuôi sống một bộ máy quan lại đảng và nhà nước nặng nề đến như vậy. Hai người làm phải cỏng một ông cán bộ. Giá xăng cao chót vót, không phải vì giá nguyên liệu mà cao vì do đủ thứ thuế. Điện, nước, thực phẩm… thứ nào cũng giá cả trên trời. Lại còn thuế BOT, gọi là tiền “mãi lộ”. Thuế má, tiền đường, tiền xăng… tăng thì giá lương thực, như yếu phẩm phải tăng. Người công nhân làm lụng suốt năm chỉ đủ nuôi miệng, tết không đủ tiền trả tiền xe để về quê.
Bây giờ nhà nước muốn người công nhân phải làm thêm giờ. Không cần quốc hội phải bàn luận. Càng bàn ra thì càng thấy đại biểu quốc hội chỉ là một đám vẹt biết nói tiếng người.
Đừng đỗ thừa dân mình làm biếng, hay biện hộ kiểu bất lương, kiểu vì sao dân Nhật, dân Hàn… trước khi giàu có như bây giờ thì lớp công nhân của họ trong quá khứ cũng đã hy sinh rất nhiều. (ĐM tụi bây!)
VN “đổi mới” (1986) đến nay đã được 33 năm. Chỉ bằng 1/2 thời gian này (1949-1968) Nhật đã trở thành đệ nhị cường quốc về kinh tế. Còn Nam hàn, từ 1960 đến 1996, bằng khoảng thời gian VN “đổi mới”, đã trở thành cường quốc thứ 8 trên thế giới.
Người công nhân Nhật, Hàn, Đài loan… xung phong làm thêm giờ ngày xưa, vì họ thấy giờ phụ trội giúp họ cải thiện được mức sống,. Với đồng lương phụ trội họ có thể đầu tư vào giáo dục đại học cho thế hệ con cái. Thế hệ cha mẹ cố gắng hy sinh, làm nền cho thế hệ con cái tiến lên. Và các quốc gia này đã thành công. Thế hệ trẻ có học đã đưa đất nước vào thời kỳ “công kỹ nghệ hóa”. Hiện nay các nước Nhật, Hàn và Đài loan… rất cần công nhân làm các công việc “hạ tiện”, vì dân họ đều đã trở thành “công nhân cổ trắng thắt cà vạt”.
Người công nhân VN làm thêm giờ thì đồng lương phụ trội này giúp họ những gì? Không giúp được gì cả, vì đời sống đắt đỏ, giá sinh hoạt tăng nhanh hơn tiền lương.
Còn giới chủ VN? Từ sau 1975 giới “tư sản dân tộc” của miền Nam đã “trắng tay”, nếu không sớm vượt biên thì họ cũng trở thành anh phu xích lô, tài xế xe ôm. Giới chủ (thành công) bây giờ hoặc là những doanh nhân tài năng lỗi lạc, hoặc là những người biết “dựa hơi” vào thế lực quan lại đảng viên, hay chính họ là quan lại đảng viên. Ngoại trừ một số rất nhỏ có đóng góp hữu ích cho đất nước, số còn lại là thứ “tư bản thân hữu”. Đất nước nát bét ngày hôm nay cũng do lớp tư bản này.
Chế độ này còn tiếp tục thì sẽ còn những người “vượt biên”. Sẽ còn những thảm cảnh chết trong thùng xe đông lạnh. Khi cha mẹ không thể lo cho tương lai con cái thì cha mẹ có lỗi với con. Nhưng kết lại, đất nước bần cùng, người dân khốn khổ hôm nay là do lãnh đạo hết cả.
Văn hóa Việt Nam Cộng Hòa là gì?
26-10-2019
Việt Nam Cộng Hòa thành lập ngày 26/10/1955, đang lúc chiến tranh nên quốc sách bảo vệ tự do được ưu tiên, nhưng không phải vì thế mà quên lãng mục đích xây dựng một xã hội dựa trên triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc.
Lời mở đầu Hiến Pháp 1956 ghi rõ: “…dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.”
Còn Điều 11 của Hiến pháp 1967 ghi rõ “Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.”
Con người làm gốc
Việt Nam Cộng Hòa nhìn nhận mọi người đều có quyền và có bổn phận như nhau, không ai được sử dụng người khác làm phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu cá nhân hay đảng phái.
Người miền Nam tin rằng giới lãnh đạo cũng là con người nên đều mắc phải những sai lầm, vì thế cần xây dựng một thể chế đa nguyên, đa đảng đối lập, với luật pháp chặt chẽ để kiểm soát quyền lực của tầng lớp lãnh đạo.
Việt Nam Cộng Hòa nhìn nhận sự khác biệt giữa người và người, ngăn cấm việc kỳ thị giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, sắc tộc, trình độ học vấn hay kỳ thị dựa trên lý lịch, trên chính kiến, mọi người đều có cơ hội bình đẳng.
Mọi chiến lược, chính sách, chủ trương, hành động quốc gia đều phải phù hợp với nhân sinh quan về con người, với mục đích phục vụ con người, quan tâm tới quyền lợi và hạnh phúc của con người.
Ngoài việc xây dựng thành công nền giáo dục nhân bản, mọi sinh hoạt tôn giáo, sắc tộc, hướng đạo, văn hóa, văn nghệ, nghệ thuật, dân sự đều được đối xử một cách công bằng không thiên vị.
Chính quyền miền Nam nhìn nhận và bảo vệ quyền con người, quyền dân sự được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân quyền.
Trong hoàn cảnh chiến tranh, gia đình những người theo cộng sản vẫn được đối xử một cách công bằng như mọi công dân khác, được pháp luật bảo vệ, được quyền bầu cử, quyền gia nhập quân đội bảo vệ đất nước, quyền tham gia chính trị, được làm ăn buôn bán, con em họ được đến trường như mọi trẻ em khác tại miền Nam.
Từ năm 1962, chương trình Hồi chánh giúp trên 200 ngàn cán binh cộng sản buông súng quay về tạo dựng cuộc sống mới trong cộng đồng dân tộc.
Dân tộc làm nền
Tinh thần dân tộc được hình thành và phát triển theo giòng lịch sử, tạo tình đoàn kết, gắn bó dân tộc và phát triển quốc gia.
Trong thời bình thúc đẩy người dân đóng góp phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, nâng cao dân trí. Vào thời chiến giúp toàn dân đoàn kết đánh đuổi ngoại xâm.
Việt Nam Cộng Hòa luôn đề cao các giá trị lịch sử dân tộc, độc lập, tự chủ, ngôn ngữ, nghệ thuật, văn hóa. Ngay từ tấm bé trẻ em miền Nam được dạy yêu nước thương nòi.
Người miền Nam luôn tôn trọng các giá trị đặc thù, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong mọi sinh hoạt gia đình, nghề nghiệp, sắc tộc, địa phương và đất nước.
Chính phủ miền Nam chủ trương bảo tồn và phát huy những tinh hoa, những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc, để không bị mất đi hay bị đồng hóa với văn hóa nước ngoài.
Người miền Nam giữ gìn văn hóa dân tộc nhưng luôn cởi mở, cầu tiến, học hỏi, gạn lọc điều hay cái đẹp của văn hóa dân tộc khác.
Việt Nam Cộng Hòa đặt Tổ quốc trên hết, đặt dân tộc và đất nước trên cá nhân, trên giai cấp, trên đảng phái và trên cả thể chế chính trị.
Tự do để tiến bộ
Việt Nam Cộng Hòa lấy triết lý khai phóng làm rường cột thăng tiến, mọi người được tự do mở rộng tầm nhìn, tự do trau dồi năng khiếu, tự do ngôn luận, tự do quyết định cho chính mình, tự do tìm ra sự thật, ra điều hay, lẽ phải, tìm đến chân, thiện, mỹ.
Ngay từ nhỏ trẻ em miền Nam đã được giáo dục tự do, được khuyến khích mở rộng tầm nhìn tiếp nhận những tư tưởng và kiến thức tân tiến trên thế giới.
Nhờ vậy xã hội miền Nam đào tạo được những công dân tự do, sẵn sàng nhận trách nhiệm, tôn trọng luật pháp, biết xây dựng kinh tế, phát triển xã hội, đón nhận văn minh thế giới và tích cực đóng góp vào sự thăng tiến nhân loại.
Miền Nam đã xây dựng một hiến pháp và một thể chế dân chủ tam quyền phân lập rõ ràng.
Nền Cộng Hòa tại miền Nam có thể được xem là một nền dân chủ hiến định và pháp trị tiên tiến vào bậc nhất trong khu vực Á châu thời ấy.
Nền tảng triết lý Việt Nam Cộng Hòa
Tổng hợp 3 tinh thần nhân bản, khai phóng và dân tộc tạo thành triết lý xây dựng Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia vừa giành được độc lập, phải đối đầu với chiến tranh và chỉ trong vòng 20 năm đã xây dựng được nền tảng vững chắc.
Một quốc gia với kinh tế tự do, y tế đại chúng, người cày có ruộng, báo chí tự do, tôn giáo, văn học, văn nghệ, nghệ thuật phát triển tự do, và một nền dân chủ hiến định, pháp trị với tam quyền phân lập rõ ràng.
Một xã hội dân sự với nhiều hội đoàn dân sự, gồm các tổ chức tôn giáo, nghiệp đoàn, hướng đạo, đồng hương, tương trợ, từ thiện, nghiên cứu, các câu lạc bộ, đã được hình thành tại miền Nam.
Đặc biệt, nền giáo dục dựa trên nhân bản, khai phóng và dân tộc, đã đào tạo được những thế hệ công dân tốt cho miền Nam, cho Việt Nam và cho nhân loại.
Văn hóa Việt Nam Cộng Hòa
Con người làm gốc, dân tộc làm nền, tự do để tiến bộ đã trở thành nền tảng văn hóa Việt Nam Cộng Hòa, được bảo tồn và được truyền đạt đến các thế hệ Việt Nam ngày nay.
Văn hóa thể hiện qua cách sống cách suy nghĩ. Người Việt Nam Cộng Hòa sống, suy nghĩ và hướng về tương lai hoàn toàn khác với người cộng sản.
Sau 20 năm chia cắt lấy thời điểm 30/4/1975 làm mốc, miền Bắc đã trở thành một bản sao của cộng sản Trung Hoa.
Xem lại phim ảnh cách ăn mặc, cách phục sức, cách sống, cách giáo dục, xem lại sách báo, lại văn thơ, lại âm nhạc, lại tranh ảnh miền Bắc bạn sẽ dễ dàng nhận ra điều này.
Ở hải ngoại, 44 năm qua người Việt Nam Cộng Hòa vừa bảo vệ cộng đồng, bảo tồn văn hóa, vừa hỗ trợ quốc nội đấu tranh cho tự do và vẹn toàn lãnh thổ.
Ở những nơi đông người Việt sinh sống nhiều hội đoàn dân sự được thành lập, có trường dạy tiếng Việt, có sách giáo khoa soạn theo chương trình trước 1975, có tổ chức những buổi lễ ghi ơn các anh hùng dân tộc, tổ chức Tết, Tết Trung Thu cho trẻ em.
Mỗi gia đình đều cố gắng gìn giữ tiếng Việt cho con em, duy trì những sinh hoạt gia đình và cộng đồng, vừa giảng giải cho con em truyền thống dân tộc, vừa nhắc nhở con em lý do phải bỏ nước ra đi.
Nhiều ban nhạc, ban kịch, ban cải lương, câu lạc bộ văn học nghệ thuật và cả điện ảnh cũng được hình thành ở khắp nơi.
Truyền thanh, truyền hình và báo chí là những phương tiện phục vụ cộng đồng có mặt ở mọi nơi.
Nhiều nơi còn xây dựng đền thờ Quốc Tổ, đền thờ và tượng đài các anh hùng dân tộc, viện bảo tàng, chùa, nhà thờ, võ đường, trung tâm sinh hoạt cộng đồng.
Phục hồi Việt Nam
Ở trong nước, người Việt Nam Cộng Hòa vẫn âm thầm gìn giữ và truyền bá cho thế hệ tiếp nối nền văn hóa nhân bản, khai phóng và dân tộc, mong một ngày phục hồi đất nước.
Sức sống của văn hóa Việt Nam Cộng Hòa vô cùng mãnh liệt, mặc dù bị nhà cầm quyền Hà Nội ngăn cấm âm nhạc, văn học, nghệ thuật, cách sống tại Việt Nam ngày nay được phục hồi mạnh mẽ.
Phong trào thoát Trung là nỗ lực đẩy lùi tì vết văn hóa Trung Hoa còn tồn đọng tại Việt Nam.
Nhiều người cộng sản miền Nam trong tiềm thức vẫn chưa quên một xã hội miền Nam đầy nhân bản, khai phóng và dân tộc.
Trước Quốc Hội cộng sản, 12/9/2018, bà chủ tịch Nguyễn thị kim Ngân phải thừa nhận kiến thức về sử ký và địa lý nước nhà, bà học từ thời Việt Nam Cộng Hòa nay vẫn nhớ không quên điều gì.
Bà Ngân biểu lộ lòng luyến tiếc vì giờ đây trẻ em học hành khổ sở, nhưng sử ký và địa lý nước nhà hầu hết đều không biết.
Triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc ngày nay được nhiều người miền Bắc biết đến, nhất là giới trẻ Việt Nam những người đang tìm kiếm một con đường thay cho con đường cộng sản bị nhân loại đào thải.
Tự do và dân chủ chỉ là điều kiện cần, mục đích và triết lý sống của dân tộc là điều kiện đủ để phục hồi Việt Nam.
Mục đích và triết lý sống giúp mỗi dân tộc biết đang ở đâu, đang làm gì, đang sống như thế nào, sẽ đi về đâu, đi cách nào và làm sao để đạt được mục tiêu tối thượng trong hoàn cảnh và khả năng có được.
Mục đích, triết lý và văn hóa xây dựng xã hội thời Việt Nam Cộng Hòa đã thích hợp và thành công ở miền Nam, cũng sẽ thích hợp với cả nước.
Nguyễn Quang Duy, gửi từ Melbourne, Úc Đại Lợi



Nhiều con Bò cho rằng :
– “Ai bảo trốn bỏ quê hương chui vào contener để phải chết” ?
Nhưng không 1 con Bò nào giải thích được VÌ SAO HỌ PHẢI RA ĐI! Dân Mỹ – Úc – Anh ….có chui vào contener để TRỐN SANG VIỆT NAM Không hả những con Bò ?
Mà sự thật lại chính là Bầy Bò Mafia đỏ cộng sản mới luôn tìm đủ mọi cách để có thẻ xanh – Mua nhà – Cho con du học – Kết hôn ….. Miễn sao có QUỐC TỊCH ( Để từ giã cái thân phận “làm người” ở cái xứ An Nam này )
Bởi thế đừng trách người Dân phải bằng mọi giá ra đi khi “Nước mất nhà tan “ Biển Chết – Rừng hết …
XIN ĐỂ TANG KHÓC THƯƠNG CHO NHỮNG PHẬN NGƯỜI DÂN VIỆT ….
Và nghiến răng căm hờn -nguyền rủa những kẻ bất lương đang CAI TRỊ Dân Tộc đau thương này!
Người dưng còn biết xót thương
Mà sao Máu đỏ da vàng chẳng vương
Đắng lòng phận mỏng cánh chuồn
Sống chung một cõi với phường buôn Dân
Đành lòng chấp nhận Quên Thân
Tìm đường “tẩu thoát” khỏi nơi sinh thành
Hỡi ôi giấc mộng tan tành
Đau thương tang tóc muôn phần VÌ ĐÂU?
Tại sao phải trốn chạy???
Người Việt hôm nay đang gắng sức để trốn chạy khỏi nước mình. Trốn chạy dù lưu vong. Trốn chạy để hy vọng. Không chỉ với kẻ đi mà còn với vô vàn người ở lại.
1. Tháng Chạp trời Hà Nội mù sương. Sớm 9h, mưa phùn lất phất, hạt bay liêu xiêu trong gió. Những chấm người vội vã di động trong cái lạnh trên mặt đất thẫm màu vì ướt. Chưa đầy một tháng nữa sẽ là Tết, cái ngày dễ khiến người ta phiền lòng vì những chúc tụng, những bữa cơm rời rạc và đầy tràn. Nó nhắn tin: “Em đặt vé máy bay rồi. Tết năm nay em ăn Tết ở nhà!“. Nó hớn hở như khoe quà. Đôi khi mọi người mơ hồ không rõ nó đã đi bao năm. “8 năm, em đi từ 2011“, nó nhớ rành rọt. Những ngày rời nhà trọ, lội trong tuyết, tất bật phụ bếp rồi nấu hàng trăm suất ăn cho tới khi kiệt sức dạy nó biết đếm thời gian. Nó vẫn đang đếm thời gian, đếm xuôi cho tới ngày về Tết, và đếm ngược cho đến ngày… ly hôn.
Về pháp lý, nó đã 2 lần vợ. Lần đầu để đi. Lần hai để kiếm tiền trả nợ cho “ván bạc” ban đầu.
Thằng nhỏ giờ đã đang mang quốc tịch khác.
Nhưng những năm tuổi xuân của nó, tuổi 20 mãi nằm trong những bối rối không nói được thành lời. Đôi khi nó tin việc cố gắng là cần thiết. Bố mẹ toan tính, vay nợ, sắp đặt cho kết hôn giả đều là vì sửa soạn cho tương lai của nó. Tương lai của nó cũng là tương lai của cả nhà. Rồi biết đâu cả đời con nó, cháu nó. Rời nước mà đi, chuyện đó nào có ai nghĩ khó. Nhưng đôi khi, những đêm 2h sáng không thể ngủ, những hồ nghi và cơn mù mịt dằn vặt nó trong thống khổ. Tỵ nạn sinh kế hay tỵ nạn ước mơ? Ước mơ để sống của nó đang bó khung trong tháng ngày xa lạ. Cuộc sống vốn đâu đơn thuần chỉ có ăn và mặc.
Ở cố hương của nó bây giờ, đi tìm xứ khác định cư đã trở thành câu chuyện thời thượng. Những ai đã đánh tiếng đi, vô tình chạm mặt người khác sẽ được đón bằng lời hỏi thăm: “Bao giờ đi?“. Đi được là mừng. Rồi người ta chép miệng nghĩ bao giờ mình mới có “cửa”. Dù đi ở đây chính là lưu vong, là rời bỏ nơi họ chôn nhau cắt rốn!
2. Năm 2018 kết thúc bằng ồn ào “quốc thể” quanh việc 152 người Việt mua tour du lịch để bỏ trốn tại Đài Loan. Năm 2019 bắt đầu bằng những tấm hình người Việt chui trong giường hộp, tủ lạnh trốn ở lại Đài Loan để tìm sinh kế. Từ gần 1 triệu người sau năm 1954 đến hàng triệu người sau năm 1975, người Việt đã hoảng hốt di tản, tỵ nạn từ Bắc vào Nam, tỵ nạn ra nước ngoài. Hàng triệu người đã lao ra biển trên những chiếc tàu đánh cá các loại để thoát khỏi đất mẹ của mình, chấp nhận cả cái chết để… lưu vong.
Không ai nghĩ sau ngày “đổi mới”, người Việt còn ra đi khốc liệt hơn thế. Theo số liệu của Tổ chức Di cư quốc tế (IMO) lấy từ nguồn dữ liệu của Vụ Liên hiệp quốc về vấn đề kinh tế và xã hội (UN DESA), từ năm 1990 đến năm 2017, 2.727.398 người Việt Nam đã di cư ra nước ngoài [1]. Trong 28 năm qua, mỗi năm có trên 97,4 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài, bình quân mỗi tháng có hơn 8.000 người Việt ra đi. Mà dễ hình dung hơn, cứ mỗi giờ, 11 người Việt rời khỏi Việt Nam.

BỐ GIÀ CS VIỆT NAM
===================
Mấy hôm nay cái chết của thứ trưởng bộ Giáo Dục Lê Hải An làm rúng động đất nước.
Đây là 1 cái chết đầy nghi hoặc. Báo chí nhà nước đã nhanh chóng bảo rằng ông bị trượt ngã, rồi không có 1 điều tra nào khác. Nhưng xem ra cách giải thích này quá thơ ngây, khó mà thuyết phục được ai.
Kỹ thuật xây dựng các tòa nhà cao tầng đã có hàng trăm năm và có thể nói chưa bao giờ có tai nạn trượt ngã rơi xuống bởi vì tất cả đều có lan can được thiết kế sao cho 1 người không thể rơi khỏi, đừng nói là trượt ngã.
Vậy thì nghi vấn còn lại là:
1. Ông tự tử. Xác xuất này vô cùng thấp, chỉ độ 0.000001%, bởi vì ông là một thứ trưởng nhiều uy quyền, và chưa hề dính vào bất cứ vụ scandal nào, cũng không bệnh hoạn gì.
2. Có người bảo ông đánh rơi chiếc iphone 11, và chồm ra lấy rồi ngã. Xác xuất này cũng chỉ độ 0.0001%. Ông là 1 vị giáo sư tài giỏi, có bằng PhD xịn ở Anh, nên không ngu đến nỗi tiếc chiếc iphone mà chồm người ra cho nguy hiểm.
3. Ông bị bất ngờ hất xuống bởi 2 hoặc 3 người trở lên.
4. Ông bị giết trước và lập hiện trường giả bằng cách ném ông xuống từ lầu 8.
Vậy thì gom lại là ông bị giết – giết kiểu bí hiểm mà tàn độc như trong thế giới ngầm – thế giới Mafia – thế giới của tội ác trong bóng tối.
****
Từ Mafia mang nghĩa can đảm, gan dạ, xuất phát từ Sicily, Ý. Đây là hòn đảo thuộc vùng biển Địa trung hải, thuộc miền nam nước Ý, và là 1 trong 5 khu vực tự trị của quốc gia này.
Lịch sử ghi lại để phản ứng lại nạn cường hào ác bá, luật pháp bất nghiêm, dân Sicily tạo ra thế giới ngầm hoạt động song song với chính quyền với luật lệ riêng mà dân Sicily còn tuân thủ hơn cả luật pháp. Điều hành thế giới này là những ông trùm với nhiều quyền uy, mà nếu không tuân theo phải trả giá bằng sinh mạng.
Trong thế giới ngầm này cũng cạnh tranh khốc liệt để sinh tồn, cá lớn nuốt cá bé, kẻ yếu bị tiêu diệt. Đã có không ít những cuộc thanh toán, trừng phạt nhau đẫm máu.
Để tồn tại, bản chất của mafia phải là uy tín và tàn bạo. Họ đẻ ra luật bất thành văn Omerta – luật im lặng, nghĩa là trước mặt chính quyền họ không biết, không nghe, không nói cho dù có bị tra tấn đến chết. Người vi phạm luật Omerta cũng cầm bằng án tử hình, không chỉ cho mình mà còn liên can đến gia đình.
Dân mafia kỵ nhất là phản bội. Kẻ bội phản đương nhiên phải chết, nhưng phải là cái chết đặc biệt – chết do bị xiết cổ bằng dây lụa.
***
Năm 1969 tiểu thuyết Bố Già (Godfather) của Mario Puzo xuất bản ở Mỹ. Đây là quyển sách đặc sắc nhất viết về thế giới ngầm Mafia lấy bối cảnh tiểu bang New York thời kỳ sau chiến tranh thế giới II 1945 – 1955.
Ngay vừa ra lò, theo The New York Times, Bố Già trở thành best seller, cho dù Mario thú nhận rằng ông viết truyện này chỉ vì muốn kiếm ít tiền chứ không có thông điệp gì cao siêu.
Bố Già không có 1 giải thưởng văn chương nào vì đề tài quá nhạy cảm, nhưng sách có số bán chạy nhất trong 67 tuần liền, bán được gần 10 triệu bản trong 2 năm, được nhiều nhà phê bình khen là câu chuyện quá hấp dẫn, gay cấn từ đầu đến cuối. Do đó thành công là điều dễ hiểu.
Năm 1972 Bố Già được chuyển tải thành bộ phim cùng tên, và thành công vang dội. Phim có doanh số cao nhất trong năm, nhiều năm sau đó trở thành phim được mướn xem nhiều nhất, lật đổ luôn cả tác phẩm kinh điển Cuốn theo chiều gió. Tổng cộng Bố Già lọt vào top 25 phim có doanh số cao nhất Hollywood.
Năm 1973 Bố Già nhận được 5 giải quả cầu vàng (Golden Globe) và 3 giải Oscar.
Bố Già được xem là bộ phim có ảnh hưởng nhiều nhất mọi thời đại, đặc biệt ở thể loại phim hành động. Có lẽ do tính ly kỳ, cách đấu trí lạnh lùng, tàn bạo, khốc liệt mà cao thâm giữa các băng nhóm mafia.
***
Bố Già xoay quanh câu chuyện về thế giới ngầm của ngũ đại gia đình mafia ở New York, tất cả đều là gốc Sicily, trong đó nhân vật chính là gia đình bố già Vito Corleone, thủ lĩnh tối cao, bởi ngoài sức mạnh giang hồ ông còn có nhiều mối quan hệ ngầm với chính quyền các cấp.
Vito Corleone có tố chất quyền uy bẩm sinh, mưu lược và tàn bạo. Kẻ thù vừa căm ghét vừa khiếp sợ ông bởi sự tàn độc lạnh lùng. Đặc biệt ít khi thấy ông nổi giận. Thông thường ông dùng cách đối thoại, thương lượng đến mức tối đa. Khi đối phương vẫn không chấp nhận thì ông chỉ im lặng rời khỏi bàn đàm phán, và điều đó đồng nghĩa với cái chết.
Dùng văn không được mới dụng võ. Đó là thương hiệu của bố già Vito Corleone.
Nhưng đối với gia đình, bạn bè ông lại là 1 con người hoàn toàn khác, một người cha tuyệt hảo, một người bạn chân tình. Giống như 1 đấng toàn năng, ông có thể thỏa mãn mọi điều ước của họ, đôi khi giúp họ giải quyết những nỗi oan ức mà pháp luật cũng chào thua.
***
Đó là chuyện mafia ở Mỹ. Việt Nam hôm nay cũng có thế giới ngầm còn kinh khủng hơn nhiều. Mafia VN không phải giới giang hồ mà là những ông trùm quyền lực trong chính quyền. Đằng sau mỗi nhóm lợi ích đều có bóng dáng của những ông trùm này.
Nếu mafia Mỹ chỉ kiếm tiền qua các sòng bạc, rượu lậu và o ép các cơ sở kinh doanh thì mafia VN kiếm tiền bằng cách chiếm đoạt tài nguyên của đất nước, o ép dân lành.
Mafia Mỹ tuy tàn bạo nhưng có ít nhiều nghĩa khí. Đặc biệt ông trùm Corleone là người không dính đến gái và ma túy, cũng có ít nhiều lòng nhân. Còn mafia VN là những kẻ không có trái tim. Họ vơ vét tài nguyên quốc gia, tận thu trên thân phận khốn cùng của những người khốn khổ.
Câu chuyện Thủ Thiêm là 1 ví dụ còn nóng hổi. Hàng chục ngàn hộ dân bị cướp trắng, bị biến thành những người homeless đã 20 năm qua.
Đằng sau mỗi tài sản lớn là tội ác. Cứ mỗi đại gia ngàn tỷ xuất hiện có hàng ngàn hộ gia đình rơi vào vòng nghèo túng. Đó là thực tại VN.
***
Ông Lê Hải An là một người trí tuệ. Nhưng ông cũng là 1 đảng viên gộc, 1 bí thư đảng ủy của 1 cơ quan lớn thì rõ ràng ông khó có thể là 1 người chính trực. Chính trực và cộng sản thời nay không thể đi chung.
Ở một góc độ nào đó, ông cũng là 1 phần của thế giới ngầm ở VN. Và như vậy ông phải biết tuân thủ luật chơi. Nghĩa là phải lạnh lùng tàn bạo. Nhưng mặt khác ông lại là 1 người có thực tài. Rõ ràng có điều gì đó không ổn, có sự nhập nhằng giữa bóng tối và ánh sáng, giữa liêm chính và trí trá. Việc ông đòi kỷ luật 13 cục trưởng cũng giống như ông đã phạm luật Omerta, và do đó ông phải chết.
Biết nói gì hơn, chỉ xin thắp nén hương lòng tiển đưa ông về bên kia thế giới. Cầu mong thế giới này tốt đẹp hơn, không còn những cái chết tàn bạo vô nghĩa đã xảy ra rất nhiều ở VN những năm gần đây.
Larry De King
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10215672600263237&id=1088984794
Tin thêm FB: Đinh Văn Dũng
Đọc lại những cái chết bí ẩn của các Đảng Viên cao cấp (Chỉ tính từ sau khi lập quốc):
– Một cái chết có hoàn cảnh khá giống với Thứ trưởng Lê Hải An là Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái (1915-1986), có mặt trong đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân, thông gia với Võ Nguyên Giáp. Khi chuẩn bị lên làm Bộ Trưởng Quốc Phòng thay Văn Tiến Dũng thì chết đột ngột chết ngày 2/7/1986. Trước khi chết, chính Hoàng Văn Thái nói với vợ: “Người ta giết tôi.”.
– Đại Tướng Lê Trọng Tấn, tên thật là Lê Trọng Tố (1914-1986), Viện Trưởng Học Viện Quân Sự Cao Cấp, Tổng tham mưu trưởng Quân Đội Nhân dân Việt Nam, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam. Chết thình lình ngày 5/12/1986, chỉ 5 tháng sau cái chết của tướng Hoàng Văn Thái.
(Hai cái chết để dọn đường cho Tướng Lê Đức Anh Bán Nước cho Tầu với mệnh lệnh “không được nổ súng” bắn vào kẻ thù từ biên giới phía Bắc đến Gạc Ma Trường Sa…)
Sau đó, Đại Tướng Lê Đức Anh lên làm Bộ trưởng vào tháng 2/1987
– Trước đó, Đại Biểu QH Dương Bạch Mai (1904-1964), từng du học Pháp, Liên Xô, bị đột tử khi uống ly bia giữa 2 phiên họp Quốc Hội trước khi đọc diễn văn phản đối xã hội kiểu trại lính của Trung Quốc.
– Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967), Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, kiêm Chính Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam, bút hiệu Hạ Sĩ Trường Sơn. Nguyễn Chí Thanh bị chết thình lình sau khi dùng cơm chia tay với HCM ở Phủ Chủ Tịch về nhà, thì đêm hôm đó, gần sáng ngày 6/7/1967 bị ói ra máu chết, đúng ngày định trở lại miền Nam lần thứ 2. Thông tin từ nhà nước nói ông chết vì bệnh tim.
– Thượng Tướng Đinh Đức Thiện (1913-1987), người hùng đường mòn Hồ Chí Minh, Chủ Nhiệm Tổng Cục Hậu Cần, Phó Tư Lệnh Chiến Dịch Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải. Ông bị “lạc đạn” chết trong lúc đi săn, nhưng nhà nước nói là tai nạn giao thông.
– Trung Tướng Phan Bình (1934-1987), Cục Trưởng Cục Quân Báo, sau khi vừa bị Lê Đức Anh tước mất quyền, bị bắn vào đầu ngày 13/12/1987 tại Sài Gòn, nhưng thông tin nhà nước cho là tự sát. 1 tháng sau con trai là sĩ quan quân báo, cũng bị hãm hại sau khi ép vào bệnh viện với lý do “tâm thần”.
– Thượng Tướng Công An Thi Văn Tám (1948-2008), đặc trách tình báo gián điệp đột tử trong lúc khỏe mạnh và đi công tác đó đây…..
Và còn nhiều nữa….
Nguồn từ Goc Nhin Bao Chi Cong Dan.



Giới trẻ tại Việt Nam lớn lên sau chiến tranh nhìn về VNCH

EUGENE, Oregon (NV) – Hội thảo về Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tại Đại Học Oregon trong hai ngày 14 và 15 Tháng Mười, 2019, một điểm đặc biệt là có tới 7 diễn giả là các nhà nghiên cứu trẻ tuổi đến từ Việt Nam.
Những người này chưa bao giờ sống dưới chế độ VNCH, hoặc sinh ra sau chiến tranh hay sinh ra ở miền Bắc trong thời kỳ chiến tranh. Một số trong những người này mới chỉ tiếp xúc với cộng đồng người Việt hải ngoại khi họ đi du học, một số khác thì chưa từng.
Những điều cấm kỵ nói theo kiểu nhà nước CSVN là những vấn đề “nhạy cảm,” thường là liên quan đến chính trị, chẳng hạn như VNCH không được nhắc tới tại Việt Nam.
Bài thuyết trình của ông Nguyễn Lương Hải Khôi, Đại Học Sư Phạm TP.HCM, phân tích bộ “Việt Nam Sử Lược” của tác giả Trần Trọng Kim. Bài thuyết trình này động chạm tới điều mà những người Cộng Sản và cơ quan tuyên truyền của họ hay nêu lên là chỉ có đảng Cộng Sản Việt Nam mới là những người chống ngoại xâm hữu hiệu.
Cũng đến từ Đại Học Sư Phạm TP.HCM, hai diễn giả Hoàng Phong Tuấn và Nguyễn Thị Minh, so sánh sự tự do sáng tác tại miền Nam Việt Nam dưới chế độ VNCH, với loại sáng tác có định hướng dưới sự chỉ huy của đảng Cộng Sản ở miền Bắc.

Diễn giả Trương Thùy Dung, đến từ Viện Sử Học Hà Nội, so sánh các chương trình giảng dạy đại học ở miền Nam của VNCH và miền Bắc của chính phủ Cộng Sản. Việc so sánh cho thấy ở miền Nam có sự tự do học thuật mà miền Bắc không có, trong đó, các trường đại học miền Nam không ngần ngại giảng cả chủ nghĩa Marx, trong khi tại miền Bắc người ta chỉ cho phép một chủ thuyết ấy của đảng Cộng Sản được giảng dạy mà thôi.
Bình luận về nội dung các bài thuyết trình của những diễn giả đến từ Việt Nam, ông Hoàng Đức Nhã, cựu tổng trưởng Dân Vận và Chiêu Hồi thời Việt Nam Cộng hòa, nói với báo Người Việt rằng ông thấy một sự cởi mở hơn trước, và điều đó làm ông cảm thấy rất thú vị.
Trả lời câu hỏi của ông Peter Zinoman, Đại Học Berkeley, California về sự tham gia của các diễn giả đến từ Việt Nam, bà Nguyễn Thị Minh, cho rằng không khí nghiên cứu các vấn đề gọi là “nhạy cảm” ở Việt Nam đã có phần hy vọng hơn, ít sợ hãi hơn lúc trước.
Bà Phạm Thị Hồng Hà, đến từ Viện Lịch Sử Hà Nội nói với báo Người Việt về cuộc hội thảo:
“Đây là một cơ hội tốt đối với tôi, với những người nghiên cứu không sống trong giai đoạn đó, có cơ hôi được lắng nghe, ý kiến từ các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, về thời kỳ VNCH và miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Gần đây tôi thấy các nguồn tư liệu rất là mới, những tư liệu giải mật của Hoa Kỳ, nhiều chuyên gia được tiếp xúc với tư liệu từ phía Việt Nam, binh sĩ Việt Nam, kể cả những tư liệu phỏng vấn. Những nghiên cứu đó có nhiều đóng góp cho sự phát triển mới. Khi chúng tôi tham gia thì chúng tôi hiểu thêm được nhiều điều.”
Bà Nguyễn Thị Từ Huy, đến từ Đại Học Đại Dương ở Nha Trang, trả lời qua email cho báo Người Việt, viết: “Một dân tộc không thể tồn tại trong tư cách là một dân tộc nếu không có lịch sử của nó… Việc nhiều người từ Việt Nam qua tham gia một hội thảo về VNCH có lẽ phản ảnh những thay đổi quan trọng về nhận thức về lịch sử dân tộc.”
“VNCH là một phần của lịch sử Việt Nam. Sẽ không có một lịch sử Việt Nam trọn vẹn nếu thiếu phần lịch sử của VNCH. Có nghĩa là tìm hiểu về VNCH cũng cần thiết như tìm hiểu bất cứ giai đoạn lịch sử nào trong lịch sử Việt Nam. Nếu tất cả đạt tới nhận thức này thì chúng ta có thể hy vọng rằng một số vấn đề về quá khứ có thể được giải quyết.”
Tuy nhiên, sự “sợ hãi” dù đã giảm bớt như lời bà Nguyễn Thị Minh trả lời tại buổi hội thảo như đã nêu, nhưng nó chưa hoàn toàn chấm dứt.
Một diễn giả đến từ Việt Nam, từ chối nêu danh tánh trên báo Người Việt, ở chỗ riêng tư nói rằng, “Những di sản của VNCH vẫn đương nhiên tồn tại và sẽ tiếp tục tồn tại ở Việt Nam.” (Nguyễn Hòa)


Vì sao hàng xóm của TNLT Nguyễn Ngọc Ánh đã ngất xỉu khi bị C.A mời làm việc.
(Theo Nha Nam Media – Link nguồn:
https://nhanammedia.net/…/vi-sao-hang-xom-cua-tnlt-nguyen-n…)
Nguồn tin cho biết, vào ngày 20/10 vừa qua, C.A Phòng An ninh Chính trị nội bộ P03 của tỉnh Bến Tre đã gởi Giấy Mời cho bà Nguyễn Thị Châu (vợ TNLT Nguyễn Ngọc Ánh) và nữ hàng xóm của TNLT này, đến CQĐT để làm việc. Lí do được ghi trên Giấy Mời là “trao đổi một số vấn đề liên quan”, thời gian bắt đầu làm việc: 8h, ngày 23/10/2019.
Về nguyên tắc, người dân có quyền không đến CQĐT khi nhận được Giấy Mời của C.A. Tuy nhiên, trao đổi với chúng tôi, vợ TNLT Nguyễn Ngọc Ánh cho biết, bà sẽ đến để biết họ (CQĐT) muốn gì ở bà và người nữ hàng xóm.
Và sau đây là cuộc đối đáp giữa bà Châu và nhóm an ninh làm việc với bà, và người hàng xóm, được chúng tôi lược chép khi bà Châu kể lại (lược chép nhưng đảm bảo giữ nguyên vẹn ý chính của lời thoại). Chúng tôi gọi nhóm an ninh, vì theo lời bà Châu cho biết, họ (A.N) có đến 8 người nói chuyện với bà, mà thực chất là hình thức “xa luân chiến khi thẩm vấn”. Mời quý vị theo dõi phần lược thoại.
(Buổi làm việc bắt đầu hơn 8h sáng, sau khi phía A.N có lời mời 2 bà ngồi)
A.N: Chúng ta có thể bắt đầu cuộc nói chuyện này rồi chứ. Tất cả nội dung cuộc trò chuyện này, chúng tôi sẽ ghi hình lại đầy đủ, như là một bằng chứng, buổi làm việc của CQĐT và người dân hoàn toàn được minh bạch. Chúng ta vào việc nhé!
Bà Châu: Từ từ không phải vội. Tôi đang hút thuốc. (Toàn bộ thời gian buổi làm việc, người nữ hàng xóm chỉ ngồi nghe bà Châu và CQĐT đối đáp, chứ bà không nói gì)
5 phút sau, hai người đàn bà mới vào phòng làm việc. Máy quay đã sẵn sàng.
Bà Châu: (cười) Hôm nay, tôi đẹp quá hay sao mà chuẩn bị đầy đủ máy quay rồi.
A.N: Chúng tôi ghi lại buổi làm việc với chị, lí do đã nói vừa rồi.
Bà Châu: Ok! Cứ việc quay. Tôi cho các anh 30 phút.
A.N: (gằn giọng) 30 phút không đủ thời gian.
Bà Châu: Vậy tôi cho 1 tiếng. Sau 1 tiếng, thì CQĐT phải trả tôi công cho thời gian tôi làm việc, ở đây, với giá tiền 100.000 VNĐ/giờ. Còn nếu kéo dài đến 5h chiều, thì tôi lấy phí 500.000 VNĐ. Chọn đi, rồi chúng ta vào làm việc.
A.N: (lớn tiếng) Pháp luật không cho phép chúng tôi trả tiền trả phí đó.
Bà Châu: Vậy quyết định 1 tiếng. Sau 1 tiếng tôi sẽ về.
A.N: Vừa rồi cô đi với những người này nói chuyện gì và làm gì? (Đưa hình được in màu, khổ A4).
Bà Châu: Tôi đi thắp hương cho Mẹ chị Hằng. Nấu ăn, ngủ trưa rồi về. Phạm pháp chỗ nào…???
A.N: Cô lập nhóm những bà vợ của TNLT để làm gì?! Ai xúi giục?!
Bà Châu: (cười mỉa) Chia sẻ buồn vui áp lực với nhau. Vậy tôi không gọi là nhóm vợ TNLT thì gọi bằng gì?! Các anh đặt cho chúng tôi cái tên khóc đi. Chứ chúng tôi không lập nhóm mà gọi bằng nhóm thì sao?!
A.N: Các cô không được mặc áo thun có in hàng chữ ‘Hoàng, Trường Sa là của Việt Nam”, ở phía trước ngực. Chị Châu mua áo đó ở đâu?!
Bà Châu: Các anh muốn mua thì lên mạng xã hội thì có mà đầy. Tôi hỏi các anh Hoàng, Trường Sa là của ai (chủ quyền của ai – NV)?!
A.N: Thì của Việt Nam.
Bà Châu: Vậy tại sao không cho chúng tôi mặc áo, điều luật nào cấm? Các anh không đòi Hoàng, Trường Sa lại, thì hãy để cho nhân dân Việt Nam chúng tôi đòi lại. Tại sao các anh phải bảo vệ gián tiếp bảo vệ cho Trung Quốc, mà lẽ ra phải bảo vệ tổ quốc Việt Nam, con dân Việt Nam.
A.N: Nhưng bản đồ VN không có “lưỡi bò”. Áo đó có “lưỡi bò”. Muốn đòi thì qua Trung Quốc mà đòi. Áo đó ở Việt Nam chưa được pháp luật công nhận.
Bà Châu: (làm ra vẻ ngạc nhiên) Ồ, thật vậy hả?! Cho tôi văn bản cấm áo mặc áo đó đi. (ngưng lại đợi A.N trả lời, nhưng họ im lặng, nên bà Châu nói tiếp). Tôi không có tiền mua áo khác, các anh cho tôi tiền mua áo khác thì tôi sẽ không mặc áo đó nữa. Nếu không, tôi cứ mặc! (Giọng bà Châu bắt đầu giận dữ lên). Các anh chỉ bảo vệ đảng, chứ có bảo vệ dân thấp cổ bé họng chúng tôi đâu, có bảo vệ tổ quốc đâu.
A.N: … Ừm (kéo dài thách thức)! Chúng tôi bảo vệ đảng.
Bà Châu: Vậy chúng tôi cũng tự phải bảo vệ đất nước và dân nghèo chúng tôi. Việc ai nấy làm thế thôi.
A.N: (Cười gằn) Cô biết anh này không? Tên gì? (Chìa ra tờ giấy A4, in hình ảnh trắng đen)
Bà Châu: (Liếc qua, cười khẩy) FacebookĐàm Ngọc Tuyên, là bạn Facebook của tôi. Còn các anh hỏi, chứ tên gì các anh còn rõ hơn tôi mà.
A.N: Cô đi đâu đây và làm gì? (Lại đưa một tấm hình khác).
Bà Châu: Tôi đi dữ lễ ở Đức Mẹ Núi Cúi. Ăn uống vui chơi.
A.N: Đây là ai? Tên gì? Cô nói gì với ông ấy? (Lại đưa một tấm hình khác)
Bà Châu: Đó là Linh mục Nguyễn Duy Tân, ở nhà thờ. Tên gì tôi không biết (ý nói tên nhà thờ – NV). Và tôi đang hát.
A.N: Ông ấy cầm chứ gì? Cô đọc xem?
Bà Châu: (Bật cười to khinh bỉ) Các anh không biết chữ sao phải kêu tôi đọc?
A.N: (gằn từng chữ) Minh Mẫn ra tù, các cô đi để làm gì?
Bà Châu: Cùng cảnh ngộ xuống chúc mừng em ấy trở về nhà tù lớn. Chứ có cướp quần lót hay quậy phá ai không?!
A.N: Cô đi Trại 6 ngoài Nghệ An để quậy phá hả?!
Bà Châu: Anh vừa nói ai đi Trại 6 quậy phá?! Chính các người mới là kẻ quậy phá và đánh chúng tôi. Chúng tôi đóng thuế thì đường chúng tôi có quyền đi lại.
A.N: Cô đóng thuế ở đây thì chỉ được đi ở đây.
Bà Châu: (Nhướng mắt thách thức) Văn bản quy định điều này đâu cho tôi xem. Không có à, ôi trời, vậy tôi là tù nhân hả?!
A.N: (sa sầm nét mặt tức giận) Không.
Bà Châu: Vậy tôi cứ đi bất kể nơi nào trên quê hương Việt Nam này.
A.N: Tại sao cô trả lời phỏng vấn đài RFA và các đài báo nước ngoài?! Điều này là vì phạm pháp luật cô biết chưa?! (gằn giọng)
Bà Châu: Đó là quyền của tôi. Bất kỳ đài báo nào phỏng vấn để tìm công lý cho chồng con tôi, tôi sẽ làm. À mà sao không thấy báo đài cộng sản phỏng vấn tôi nhỉ?! Vậy mà nói vì dân! Xàm (tiếng lóng – có nghĩa như bọn tâm thần)! Còn vi phạm pháp luật thì căn cứ văn bản luật nào? Tôi muốn cho cả thế giới biết đến Việt Nam, thật sự là người dân có tự do không? Nếu có thì tự do đó nó thế nào?!
A.N: Cả thế giới biết thì làm được gì?! (Cười kiểu thách thức)
Bà Châu: … Ừm! … Ừm! Vì đảng này có Trung Quốc to lớn bảo vệ mà.
A.N: (cướp lời) Cô muốn đòi công lý cho chồng thì hãy đến các cơ quan nhà nước.
Bà Châu: Chắc chắn rồi. Tôi đã đi, tiếp tục đi tới các cơ quan an ninh và Bộ trưởng Bộ C.A, ông Tô Lâm để gởi đơn, và tôi nghĩ, ông ta sẽ nhận được đơn của tôi.
A.N: (lại tiếp tục cướp lời) Chúng tôi nhắc nhở cô không được qua lại với những người này không tốt (cầm xấp A4 in hình ảnh dứ dứ). Đừng đi theo vết xe đổ của chồng cô. Cô có dấu hiệu xuyên tạc, nói xấu chính quyền. Đừng trách chúng tôi không nói trước .Và không được hát những bài hát mà pháp luật VN chưa công nhận.
Bà Châu: (cười tràng dài) … Ôi! Cái đảng này tốt đẹp thế sao?! Vậy cho tôi cái bảng liệt kê chi tiết những gì tôi được làm và không được làm nha! Và từ giờ về sau, tôi đi tiểu tiện sẽ xin phép các anh nhé! Mà thời gian đã hơn 1 tiếng đồng hồ rồi.
Vừa nói bà Châu vừa đứng dậy để ra về, thì viên an ninh gọi lại ký giấy, ghi nội dung vừa trò chuyện. Bà Châu từ chối kí, với lí do, bà cho rằng đây là cuộc nói chuyện chứ không phải buổi hỏi cung.
Đến đây, tình hình cực căng thẳng, đã khiến bà hàng xóm ngồi nghe, sợ quá nên ngất xỉu. Thấy người nữ hàng xóm ngất xỉu, bà Châu liền chỉ tay thẳng mặt 8 viên A.N, bà Châu dõng dạc nói:
-Các anh đã thành công trong công việc khủng bố tôi và bà ấy. Nếu bà ấy có chuyện gì thì đừng trách nước sao tràn ly.
Xong, bà Châu giúp lay tỉnh người nữ hàng xóm, khi tỉnh dậy, cả hai người nương dìu nhau, chầm chậm ra về.
(Đàm Ngọc Tuyên lược ghi theo lời kể của bà Nguyễn Thị Châu, vợ của TNLT Nguyễn Ánh)
Link nguồn:
https://nhanammedia.net/…/vi-sao-hang-xom-cua-tnlt-nguyen-…/
Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.
Văn hóa Việt Nam Cộng Hòa là gì?
Nguyễn Quang Duy
Việt Nam Cộng Hòa thành lập ngày 26/10/1955, đang lúc chiến tranh nên quốc sách bảo vệ tự do được ưu tiên, nhưng không phải vì thế mà quên lãng mục đích xây dựng một xã hội dựa trên triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc.
Lời mở đầu Hiến Pháp 1956 ghi rõ: “…dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.”
Còn Điều 11 của Hiến pháp 1967 ghi rõ “Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.”
Con người làm gốc.
Việt Nam Cộng Hòa nhìn nhận mọi người đều có quyền và có bổn phận như nhau, không ai được sử dụng người khác làm phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu cá nhân hay đảng phái.
Người miền Nam tin rằng giới lãnh đạo cũng là con người nên đều mắc phải những sai lầm, vì thế cần xây dựng một thể chế đa nguyên, đa đảng đối lập, với luật pháp chặt chẽ để kiểm soát quyền lực của tầng lớp lãnh đạo.
Việt Nam Cộng Hòa nhìn nhận sự khác biệt giữa người và người, ngăn cấm việc kỳ thị giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, sắc tộc, trình độ học vấn hay kỳ thị dựa trên lý lịch, trên chính kiến, mọi người đều có cơ hội bình đẳng.
Mọi chiến lược, chính sách, chủ trương, hành động quốc gia đều phải phù hợp với nhân sinh quan về con người, với mục đích phục vụ con người, quan tâm tới quyền lợi và hạnh phúc của con người.
Ngoài việc xây dựng thành công nền giáo dục nhân bản, mọi sinh hoạt tôn giáo, sắc tộc, hướng đạo, văn hóa, văn nghệ, nghệ thuật, đều được đối xử một cách công bằng không thiên vị.
Chính quyền miền Nam nhìn nhận và bảo vệ quyền con người, quyền dân sự được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân quyền.
Trong hoàn cảnh chiến tranh, gia đình những người theo cộng sản vẫn được đối xử một cách công bằng như mọi công dân khác, được pháp luật bảo vệ, được quyền bầu cử, quyền gia nhập quân đội bảo vệ đất nước, quyền tham gia chính trị, được làm ăn buôn bán, con em họ được đến trường như mọi trẻ em khác tại miền Nam.
Từ năm 1962, chương trình Hồi chánh giúp trên 200 ngàn cán binh cộng sản buông súng quay về tạo dựng cuộc sống mới trong cộng đồng dân tộc.
Dân tộc làm nền.
Tinh thần dân tộc được hình thành và phát triển theo giòng lịch sử, tạo tình đoàn kết, gắn bó dân tộc và phát triển quốc gia.
Trong thời bình thúc đẩy người dân đóng góp phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, nâng cao dân trí. Vào thời chiến giúp toàn dân đoàn kết đánh đuổi ngoại xâm.
Việt Nam Cộng Hòa luôn đề cao các giá trị lịch sử dân tộc, độc lập, tự chủ, ngôn ngữ, nghệ thuật, văn hóa. Ngay từ tấm bé trẻ em miền Nam được dạy yêu nước thương nòi.
Người miền Nam luôn tôn trọng các giá trị đặc thù, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong mọi sinh hoạt gia đình, nghề nghiệp, sắc tộc, địa phương và đất nước.
Chính phủ miền Nam chủ trương bảo tồn và phát huy những tinh hoa, những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc, để không bị mất đi hay bị đồng hóa với văn hóa nước ngoài.
Người miền Nam giữ gìn văn hóa dân tộc nhưng luôn cởi mở, cầu tiến, học hỏi điều hay cái đẹp của văn hóa dân tộc khác.
Tự do để tiến bộ
Việt Nam Cộng Hòa lấy triết lý khai phóng làm giường cột thăng tiến, mọi người được tự do mở rộng tầm nhìn, tự do trau dồi năng khiếu, tự do ngôn luận, tự do quyết định cho chính mình, tự do tìm ra sự thật, ra điều hay, lẽ phải, tìm đến chân, thiện, mỹ.
Ngay từ nhỏ trẻ em miền Nam đã được giáo dục tự do, được khuyến khích mở rộng tầm nhìn tiếp nhận những tư tưởng và kiến thức tân tiến trên thế giới.
Nhờ vậy xã hội miền Nam đào tạo được những công dân tự do, sẵn sàng nhận trách nhiệm, tôn trọng luật pháp, biết xây dựng kinh tế, phát triển xã hội, đón nhận văn minh thế giới và tích cực đóng góp vào sự thăng tiến nhân loại.
Miền Nam đã xây dựng một hiến pháp và một thể chế dân chủ tam quyền phân lập rõ ràng.
Nền Cộng Hòa tại miền Nam có thể được xem là một nền dân chủ hiến định và pháp trị tiên tiến vào bậc nhất trong khu vực Á châu thời ấy.
Nền tảng triết lý Việt Nam Cộng Hòa
Tổng hợp 3 tinh thần nhân bản, khai phóng và dân tộc tạo thành triết lý xây dựng Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia vừa giành được độc lập, phải đối đầu với chiến tranh và chỉ trong vòng 20 năm đã xây dựng được nền tảng vững chắc.
Một quốc gia với kinh tế tự do, y tế đại chúng, người cày có ruộng, báo chí tự do, tôn giáo, văn học, văn nghệ, nghệ thuật phát triển tự do, và một nền dân chủ hiến định, pháp trị với tam quyền phân lập rõ ràng.
Đặc biệt, nền giáo dục dựa trên nhân bản, khai phóng và dân tộc, đã đào tạo được những thế hệ công dân tốt cho miền Nam, cho Việt Nam và cho nhân loại.
Văn hóa Việt Nam Cộng Hòa
Con người làm gốc, dân tộc làm nền, tự do để tiến bộ đã trở thành nền tảng văn hóa Việt Nam Cộng Hòa, được bảo tồn và được truyền đạt đến các thế hệ Việt Nam ngày nay.
Văn hóa thể hiện qua cách sống cách suy nghĩ. Người Việt Nam Cộng Hòa sống, suy nghĩ và hướng về tương lai hoàn toàn khác với người cộng sản.
Sau 20 năm chia cắt lấy thời điểm 30/4/1975 làm mốc, miền Bắc đã trở thành một bản sao của cộng sản Trung Hoa.
Xem lại phim ảnh cách ăn mặc, cách phục sức, cách sống, xem lại sách báo, lại văn thơ, lại âm nhạc, lại tranh ảnh miền Bắc bạn sẽ dễ dàng nhận ra điều này.
Ở hải ngoại, 44 năm qua người Việt Nam Cộng Hòa vừa bảo vệ cộng đồng, bảo tồn văn hóa, vừa hỗ trợ quốc nội đấu tranh cho tự do và vẹn toàn lãnh thổ.
Ở những nơi đông người Việt sinh sống đều có nhưng trường dạy tiếng Việt, có sách giáo khoa soạn theo chương trình trước 1975, có tổ chức những buổi lễ ghi ơn các anh hùng dân tộc, tổ chức Tết, Tết Trung Thu cho trẻ em.
Mỗi gia đình đều cố gắng gìn giữ tiếng Việt cho con em, duy trì những sinh hoạt gia đình, vừa giảng giải cho con em truyền thống dân tộc, vừa nhắc nhở con em lý do phải bỏ nước ra đi.
Nhiều ban nhạc, ban kịch, ban cải lương, câu lạc bộ văn học nghệ thuật và cả điện ảnh cũng được hình thành ở khắp nơi.
Truyền thanh, truyền hình và báo chí là những phương tiện phục vụ cộng đồng có mặt ở mọi nơi.
Nhiều nơi còn xây dựng đền thờ Quốc Tổ, đền thờ và tượng đài các anh hùng dân tộc, viện bảo tàng, chùa, nhà thờ, võ đường, trung tâm sinh hoạt cộng đồng.
Phục hồi Việt Nam
Ở trong nước, người Việt Nam Cộng Hòa vẫn âm thầm gìn giữ và truyền bá cho thế hệ tiếp nối nền văn hóa nhân bản, khai phóng và dân tộc, mong một ngày phục hồi đất nước.
Sức sống của văn hóa Việt Nam Cộng Hòa vô cùng mãnh liệt, bằng chứng là âm nhạc, văn học, nghệ thuật, cách sống tại Việt Nam ngày nay đang quay về với cội nguồn dân tộc.
Phong trào thoát Trung là nỗ lực đẩy lùi tì vết văn hóa Trung Hoa còn tồn đọng tại Việt Nam.
Nhiều người cộng sản miền Nam trong tiềm thức vẫn chưa quên một xã hội miền Nam đầy nhân bản, khai phóng và dân tộc.
Trước Quốc Hội cộng sản, 12/9/2018, bà chủ tịch Nguyễn thị kim Ngân phải thừa nhận kiến thức về sử ký và địa lý nước nhà, bà học từ thời Việt Nam Cộng Hòa nay vẫn nhớ không quên điều gì.
Bà Ngân biểu lộ lòng luyến tiếc vì giờ đây trẻ em học hành khổ sở, nhưng sử ký và địa lý nước nhà hầu hết đều không biết.
Triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc ngày nay được nhiều người miền Bắc biết đến, nhất là giới trẻ Việt Nam những người đang tìm kiếm một con đường thay cho con đường cộng sản bị nhân loại đào thải.
Tự do và dân chủ chỉ là điều kiện cần, mục đích và triết lý sống của dân tộc là điều kiện đủ để phục hồi Việt Nam.
Mục đích và triết lý sống giúp dân tộc đó biết đang ở đâu, đang làm gì, đang sống như thế nào, sẽ đi về đâu, đi cách nào và làm sao để đạt được mục tiêu tối thượng trong hoàn cảnh và khả năng có được.
Mục đích, triết lý và văn hóa xây dựng xã hội thời Việt Nam Cộng Hòa đã thích hợp và thành công ở miền Nam, cũng sẽ thích hợp với cả nước.
Nhân bản, khai phóng và dân tộc sẽ trở thành mục đích, triết lý và văn hóa chung cho toàn dân tộc làm nền tảng đưa đất nước đi lên theo kịp đà tiến bộ và văn minh nhân loại.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
23/10/2019