Dự án Cát Linh – Hà Đông: Tổng thầu Trung Quốc “ngang bướng”, thiếu trách nhiệm

Thanh Duong Le and Đài Á Châu Tự Do shared a link.

Dự án Cát Linh – Hà Đông: Tổng thầu Trung Quốc “ngang bướng”, thiếu trách nhiệm

RFA
2019-10-01

Phó thủ tướng Việt Nam Trịnh Đình Dũng đã đi kiểm tra, thị sát công trường dự án và đi thử tàu điện Cát Linh – Hà Đông với chặng đường gần 10km từ ga Cát Linh đến ga Văn Quán và ngược lại.

 Dự án Cát Linh – Hà Đông: Tổng thầu Trung Quốc “ngang bướng”, thiếu trách nhiệm

04:35/07:12

Trước buổi làm việc với Bộ Giao thông vận tải, UBND TP Hà Nội và các bên liên quan vào ngày 1/10 về dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông, Phó thủ tướng Việt Nam Trịnh Đình Dũng đã đi kiểm tra, thị sát công trường dự án và đi thử tàu điện Cát Linh – Hà Đông với chặng đường gần 10km từ ga Cát Linh đến ga Văn Quán và ngược lại.

Lấp liếm, chối trách nhiệm

Theo truyền thông trong nước, tại buổi thị sát dự án Cát Linh – Hà Đông, Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã chất vấn ông Đường Hồng, đại diện tổng thầu Công ty hữu hạn tập đoàn cục 6 Đường sắt Trung Quốc, giám đốc Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông, về thời hạn thực hiện dự án và kế hoạch đưa tuyến đường đi vào vận hành, khai thác.

Trả lời Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng, Giám đốc tổng thầu Đường Hồng cho biết dự án đang gặp vướng mắc: “Còn việc bao giờ đưa đường sắt Cát Linh-Hà Đông vào vận hành, khai thác chính thức thì không phải do nhà thầu chúng tôi quyết định mà do chủ đầu tư quyết định.”(!?)

Tôi nghĩ cách trả lời của Tổng thầu Trung Quốc là không hợp lý và không có căn cứ. Bởi vì khi anh đứng ra nhận thầu thì toàn bộ hồ sơ của anh phải luôn sẵn sàng, còn người giám sát thì có thể giám sát từ đầu hay giám sát lúc cuối cùng.
-Tiến sĩ Lê Đăng Doanh

Giám đốc tổng thầu Đường Hồng cho biết thêm, dự án đang gặp vướng mắc vì đơn vị đánh giá an toàn hệ thống tàu vào dự án muộn. Ông Đường Hồng cho rằng theo quy định, đơn vị đánh giá phải vào ngay từ khi xây dựng dự án, nhưng tư vấn vào dự án năm 2016 và lúc này tất cả các hạng mục dự án đã cơ bản hoàn thành.(!?)

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện Trưởng Viện Quản Lý Kinh Tế Trung Ương, khi trả lời RFA từ Hà Nội hôm 1/10 không đồng tình với cách trả lời này của Tổng thầu Trung Quốc:

“Tôi nghĩ cách trả lời của Tổng thầu Trung Quốc là không hợp lý và không có căn cứ. Bởi vì khi anh đứng ra nhận thầu thì toàn bộ hồ sơ của anh phải luôn sẵn sàng, còn người giám sát thì có thể giám sát từ đầu hay giám sát lúc cuối cùng. Thậm chí sau khi hoàn thành cũng có thể giám sát tiếp để phát hiện những sai sót. Cách trả lời của nhà thầu Trung Quốc như vậy là không thể chấp nhận được.”

Theo vị đại diện tổng thầu Trung Quốc, khi bên tư vấn vào dự án và yêu cầu phía nhà thầu TQ cung cấp một số hồ sơ, thì có những hồ sơ thời gian đã qua lâu rồi nên nhà thầu TQ không bổ sung được.(!?)

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói thêm:

“Tôi không biết phía Việt Nam sẽ làm gì để nhà thầu Trung Quốc chịu đưa ra các tài liệu và các hồ sơ, chứ còn việc nói là bây giờ gần kết thúc rồi mới đến để giám sát, hỏi hồ sơ tài liệu không có, thì đấy là câu trả lời vô trách nhiệm. Không thể nói là câu trả lời trẻ con mà là một câu trả lời hoàn toàn không phù hợp đối với một nhà thầu quốc tế. Đối với một nhà thầu quốc tế thì anh phải luôn sẵn sàng các hồ sơ. ”

Đường sắt Cát Linh – Hà Đông AFP

Cũng tại buổi làm việc với Tổng thầu TQ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã nói với phía nhà thầu rằng: “Chúng tôi đã chờ đợi kiên trì và bây giờ đã quá mức kiên trì chờ đợi rồi. Phải nhanh, phải đảm bảo an toàn tuyệt đối. Muốn vậy thì phải làm, không lý sự nhiều!”

Đây được cho là lần đầu tiên một lãnh đạo cấp cao “thúc” ép mạnh như vậy với Tổng thầu TQ. Tuy nhiên Tiến sĩ Lê Đăng Doanh vẫn cho rằng chủ đầu tư phải làm việc một cách nghiêm túc hơn đối với tổng thầu Trung Quốc:

“Tôi nghĩ phía chủ đầu tư phải làm việc một cách rất nghiêm túc đối với tổng thầu Trung Quốc, bởi vì một cách trả lời và hành xử như vậy là hoàn toàn thiếu trách nhiệm, chứng tỏ nhà thầu Trung Quốc không tôn trọng chủ đầu tư. Tôi nghĩ phía chủ đầu tư cần chủ động đưa ra hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Công khai việc phía chủ đầu tư đã ký với phía nhận thầu như thế nào, để mà nhà thầu bây giờ có thể đưa ra các câu trả lời ngang bướng và hoàn toàn không đáp ứng tiêu chuẩn giao dịch quốc tế như thế này.”

Hệ lụy khó lường

Ban đầu, dự án tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông, dài khoảng 13km, dự kiến thực hiện từ năm 2008 và hoàn thành vào tháng 11/2013. Nhưng sau đó, dự án được lùi lại đến năm 2010 mới khởi công và dự kiến hoàn thành vào tháng 6/2014. Tuy vậy đến nay, sau khoảng 10 lần chậm tiến độ thực hiện, dự án này vẫn chưa thể đi vào vận hành.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng được truyền thông trong nước trích lời tại buổi làm việc hôm 1/10, yêu cầu Bộ Giao thông vận tải, tổng thầu tập trung đẩy nhanh tiến độ để đưa dự án vào khai thác trong năm 2019.

Theo báo cáo của Bộ GTVT, tổng vốn đầu tư ban đầu của dự án là 419 triệu USD, sau khi điều chỉnh phải tăng thêm 250 triệu USD. Nhưng vào năm 2011, đã đội vốn thành 552 triệu USD. Và đến năm 2019 đã thành 886 triệu USD.

Phía chủ đầu tư cần chủ động đưa ra hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Công khai việc phía chủ đầu tư đã ký với phía nhận thầu như thế nào, để mà nhà thầu bây giờ có thể đưa ra các câu trả lời ngang bướng và hoàn toàn không đáp ứng tiêu chuẩn giao dịch quốc tế.
-Tiến sĩ Lê Đăng Doanh

Khi trả lời RFA từ Hà Nội, Phó giáo sư, Tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh thuộc Học viện tài chính Việt Nam, nhận định:

“Bây giờ nếu mà giở ra thì cuối cùng nhiều nguyên nhân lắm, bắt đền ai, làm thế nào để xử lý được, quả tình là rất khó. Nói để bạn biết, thực tế khối lượng công việc của dự án Cát Linh – Hà Đông chỉ còn mỗi 1%, chứ không nhiều nhặn gì, thế nhưng 1% này cực kỳ nghiệm trọng và không thể nào đưa dự án vào hoạt động được. Lý do là vì 1%, nhưng lại ảnh hưởng an ninh chạy tàu, các quy trình chạy tàu, các điều kiện đảm bảo an toàn chạy tàu, đều không có nên làm sao chạy? Phía Việt Nam không làm cách nào để chạy được dù chỉ còn 1% và không có cách nào để bắt Trung Quốc đưa phía VN chạy tàu được cả.”

Luật sư Nguyễn Văn Hậu khi trả lời RFA trước đây cho rằng, nếu bây giờ mà khởi kiện tổng thầu Trung Quốc thì phải căn cứ theo hợp đồng, mà hợp đồng của phía Việt Nam và Trung Quốc bản chất là một hợp đồng thương mại, trách nhiệm chính là do nhà thầu. Mặc dù hợp đồng không rõ ràng, tuy nhiên theo Luật sư Hậu, Việt Nam cứ nên khởi kiện:

“Tôi thấy mình cứ khởi kiện thôi, có thể là trọng tài hoặc tòa án, xử lý chuyện này từ một dự án được kỳ vọng mà sau 11 năm phê duyệt, 8 năm thi công, mà 10 lần lùi tiến độ, đội vốn 40%, đến giờ vẫn chưa xong.”

Trong khi đó, theo ông Mai Đức Chung, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết thì Hà Nội đã làm thủ tục vay để chuẩn bị cho công tác vận hành, quản lý, bảo trì, bảo dưỡng và tuyển dụng, đào tạo khoảng 1.000 người từ năm 2017. Đến nay đã 2 năm, và từ năm 2018, mỗi năm thành phố đã phải trả lãi số tiền lên đến gần 300 tỉ đồng. Theo vậy, nếu nhà thầu TQ tiếp tục trì hoãn việc vận hành tuyến đường sắt này thì chính phủ Hà Nội tiếp tục nợ chồng nợ!

VIỆN ĐẠI HỌC MINH ĐỨC

VIỆN ĐẠI HỌC MINH ĐỨC

Trường Đại học Kinh Thương

Lm. Lê Ngọc Thanh
(@Lm An Thanh)

Đại học Công giáo trước 1975

VIỆN ĐẠI HỌC MINH ĐỨC

[*Thông tin chưa hoàn chỉnh, cần bổ sung]

Viện Đại học Minh Đức là công trình của Liên hiệp các Dòng Tu Công giáo tại Việt Nam. Tôn chỉ của Viện Đại học Minh Đức là Dân tộc, Hiện đại, và Thực dụng.

Tên của Viện Đại học Minh Đức được rút từ câu đầu trong sách Đại Học (một trong bốn sách gọi là Tứ thư của Nho giáo): Đại học chi đạo tại minh minh đức… (大學之道在明明德…), nghĩa là: Con đường Đại học cốt ở làm sáng đức sáng.

Ý nghĩa của tôn chỉ Viện Đại học Minh Đức là Dân Tộc – Hiện Đại – Thực Dụng

1. Với tôn chỉ Dân Tộc, Viện đào tạo Sinh viên trên căn bản tinh thần dân tộc với chương trình giảng dạy cũng như nghiên cứu đều hướng về các sinh hoạt và phát triển trong khung cảnh Việt Nam.

2. Với tôn chỉ Hiện Đại, Viện nghiên cứu và phối hợp các kiến thức về phát triển các ngành học, phát triển Quốc Gia, các kỹ thuật tân tiến của thế giới với giá trị dân tộc và khung cảnh Việt Nam để truyền bá cho Sinh viên và cống hiến cho cộng đồng.

3. Với tôn chỉ Thực Dụng, Viện không áp dụng lối học từ chương khoa cử mà giảng dạy những vấn đề thực dụng, cần ích cho Sinh viên ra đời làm việc và đóng góp.

Viện Đại học Minh Đức thành lập từ tháng 9 năm 1970 với năm phân khoa:

– Kỹ thuật canh nông,
– Khoa học thực dụng,
– Kinh tế thương mại,
– Triết học, và
– Y khoa.

Vị viện trưởng đầu tiên được Liên hiệp các bề trên thượng cấp Việt Nam trao cho cha Thiên Phong Bửu Dưỡng là Giáo sư Triết học của Viện Đại học Sài Gòn, thuộc Dòng Đa Minh, cha Gioan Nguyễn Văn Thính, DCCT đảm nhiệm vai trò Viện Phó. Sau đó vì nhiều lý do, các Dòng tu rút dần sự tham gia trực tiếp, nên gánh nặng trách nhiệm trao sang cha Henry Bạch văn Lộc, Dòng Chúa Cứu Thế, Tiến sĩ Giáo luật làm Viện Trưởng.

Đây là viện đại học tư thục đầu tiên của Việt Nam có dạy 2 ngành Y khoa và Kỹ thuật, trong đó chương trình học Y khoa được kết hợp cả Đông Tây y. Đến tháng 12 năm 1972 thì trường chính thức nhận được giấy phép hoạt động dưới tên Viện Đại học Minh Đức. Trường tọa lạc ở số 6 đường Hoàng Hoa Thám, Gia Định. Năm phân khoa đại học trước được tách ra thành 5 trường:

*Trường Đại học Kỹ thuật Canh nông

*Trường Đại học Khoa học Kỹ thuật (phân khoa Khoa học thực dụng cũ)

*Trường Đại học Kinh thương: 179-181 đường Trần Quốc Toản (sau 1975 là đường 3 Tháng Hai)

*Trường Đại học Nhân văn Nghệ thuật (phân khoa Triết học cũ)

*Trường Đại học Y khoa, số 2 đường Trần Hoàng Quân (tức đường Nguyễn Chí Thanh sau năm 1975)

Theo ông Phạm Quang Hải (sinh viên Khóa 3) cho biết:
Trường Đại Học Kinh Thương Minh Đức được thành lập từ niên khóa 1970-1971 dưới danh hiệu Phân Khoa Kinh Tế Thương Mại. Từ đầu niên khóa 1973-1974, chính thức mang tên là Trường Đại Học Kinh Thương và đặt trụ sở riêng biệt tại số 179-181 Trần Quốc Toản, quận 10, Saigon.

Trường khởi sự với một sĩ số khiêm tốn là 175 Sinh viên Cử Nhân I. Trong bốn năm hoạt động, Trường đã phải tận lực vượt những trở ngại nội bộ cũng như hoàn cảnh, từ sự thiếu thốn phương tiện của một đại học tân lập đến ảnh hưởng của những đợt nhập ngũ liên tiếp trong các năm 1971 và 1972. Tuy nhiên, với ý chí cương quyết, tài quản trị điều hành của Trường, sự nâng đỡ tuyệt đối của Tòa Viện Trưởng và sự kiên nhẫn của tập thể Sinh viên, Đại Học Kinh Thương Minh Đức đã bước những bước tiến rất nhanh nhưng vẫn chắc chắn.

Vào niên khóa 1973-1974, sĩ số Trường Kinh Thương đã lên đến 1.000 Sinh viên. Trường hãnh diện và bận rộn sửa soạn tốt nghiệp cho Khóa I Kinh Thương với 70 Sinh viên tốt nghiệp văn bằng Cử Nhân vào hè 1974. Những phương pháp giảng dạy mới, những chương trình thực tập tại các Xí nghiệp công và tư, những cuộc du khảo, điều nghiên, chương trình tìm việc cho sinh viên tốt nghiệp v.v… đã đem đến những nhận xét đầy khích lệ của giới chức hữu quyền, phụ huynh sinh viên và của cộng đồng đại học dành cho Đại Học Kinh Thương: “Một đại học tiến bộ và vững mạnh nhất”.

Màu xanh trời nhẹ nhàng đã trở thành quen thuộc với mọi người dưới một tên mới “Màu xanh Kinh Thương”. Cảm tình của cộng đồng dành cho sinh viên Kinh Thương cũng như niềm tin của các em vào sự dìu dắt của Trường đã đưa đến một kết luận chung là 75% Sinh viên cảm thấy “hãnh diện” hay “tự tin” khi có người biết mình là Sinh viên Minh Đức (Kết quả điều tra lấy ý kiến của toàn thể Sinh viên). Bước vào niên khóa 1974-1975, Trường Kinh Thương sẽ chứng kiến một năm phát triển nhất với các chương trình Cao Học, chương trính Cao Đẳng Chuyên Nghiệp mới, việc thiết lập Võ Đường Kinh Thương (Thái Cực Đạo), Tập San Kinh Thương, Tủ Sách Kinh Thương v.v…

Mục đích giáo dục của Trường Đại Học Kinh Thương là đào tạo một lớp chuyên viên vừa giỏi về kỹ thuật, vừa có một tinh thần phục vụ cao độ và lòng yêu nước thiết tha. Sinh viên tốt nghiệp Đại Học Kinh Thương sẽ là những con người toàn diện, vừa nắm vững chuyên môn vừa bảo đảm về đạo đức.

Song song với mục đích giáo dục, Trường Đại Học Kinh Thương cũng cố gắng thực hiện các công cuộc nghiên cứu về các vấn đề kinh tế, doanh thương và quản trị tại Việt Nam, đồng thời tìm hiểu những diễn biến liên hệ trên địa hạt quốc tế. Kết quả các công trình nghiên cứu này được phổ biến rộng rãi để đóng góp thực sự không chỉ trong phạm vi học đường mà còn cho quảng đại quần chúng. Như vậy, nghiên cứu chính là một gạch nối giữa đại học và cộng đồng.

Đường lối giáo dục của Đại Học Kinh Thương là Hội Nhập, Thực Tế và Khai Phóng

1. Với đường lối Hội Nhập, Trường Đại Học Kinh Thương đặt nặng đường lối giáo dục trên khía cạnh chuyên môn nhưng không tách rời chuyên môn ra khỏi bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội và chính trị quốc gia. Phương pháp xuyên khoa (Multidisciplinary Approach) là cơ hội để thực thi chủ trương hội nhập.

2. Với dường lối Thực Tế, Trường Đại Học Kinh Thương hướng dẫn Sinh viên tìm hiểu những vấn đề thực tế qua các nỗ lực quan sát, nghiên cứu, điều tra, phỏng vấn, hội luận để thâu thập dữ kiện và xử dụng các phương pháp phân tích khoa học để đi đến các kết luận, đề nghị hay biện pháp chính xác, khả thi.

3. Với dường lối Khai Phóng, Trường Đại Học Kinh Thương mở rộng cửa đón mọi ý kiến, luôn luôn thích nghi để tiến bộ. Sinh viên được khuyến khích đặt vấn đề và thảo luận dưới sự hướng dẫn của Giáo sư để các Sinh viên có thể đóng góp tối đa trong việc học tập. “Tinh thần Tham dự” là phương châm để rèn luyện Sinh viên Kinh Thương trong lãnh vực học vấn cũng như sinh hoạt cộng đồng.

Một số giáo sư của các Trường thuộc Viện Đại học Minh Đức ngày xưa:

1. Thầy Tiến Lộc, cựu Giáo sư Khoa Nhân Văn Nghệ Thuật
2. Thầy Nguyễn Minh Triết, cựu GS Khoa Y
3. Thầy Nguyễn Hải Bình, cựu Khoa Trưởng Khoa Kinh Thương
4. Thầy Bùi Duy Tâm, cựu Khoa Trưởng Khoa Y
5. Cô Bùi Thị Lạng, cựu GS Khoa Y
6. Thầy Lê Viết Tòa, cựu GS Khoa KHKT
7. Thầy Nguyễn Kim Trang, cựu GS Khoa Canh nông
8. Thầy Nguyễn Hữu Phương, cựu GS Khoa Y và Khoa KHKT
9. Thầy Lê Dân, cựu GS Khoa NVNT
10.Thầy Lê Mộng Hoàng, cựu GS Khoa NVNT
12.Thầy Trương Thìn, cựu GS Khoa Y
13. Thầy Lê Dân, cựu Giáo sư Khoa Nhân Văn Nghệ Thuật
14. Thầy Lê Viết Tòa, cựu Giáo sư Khoa Khoa Học Kỹ Thuật

——————

Hình 1: Trường Đại học Kinh Thương.
Hình 2: Cha Bửu Dưỡng, OP
Các hình 3,4,5: Cha Henry Bạch Văn Lộc, CSsR

Nguồn: Lm. Lê Ngọc Thanh

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=173691217016190&id=100031259394131

No photo description available.
Image may contain: 4 people, people smiling, people standing
Image may contain: one or more people, people standing and wedding
Image may contain: 15 people, people smiling, indoor
Image may contain: 3 people

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ếch & Bò

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ếch & Bò

(RFA)

 

Ảnh của tuongnangtien

Trung Quốc đã làm rất tốt về việc xây dựng mạng xã hội của riêng họ. Vì vậy, Việt Nam cũng nên xây dựng mạng xã hội của mình.

T.T Nguyễn Xuân Phúc

La grenouille qui veut se faire aussi grosse que le boeuf.

Jean De La Fontaine

Trong lịch sử loài người, dường như, không xứ sở nào lại có một tầng lớp lãnh đạo “sính” chuyện viết lách như ở VN:

  • TBT Trường Chinh, làm thơ với bút hiệu Sóng Hồng.
  • TBT Nguyễn Văn Linh, viết báo với tên NVL.
  • TBT Nông Đức Mạnh, người suốt đời chỉ quan tâm đến lâm nghiệp và nông nghiệp (trồng cây gì? nuôi con gì?) cũng vừa làm công luận vô cùng kinh ngạc về bộ Tuyển Tập dầy cộm của ông, do nhà xuất bản Sự Thực xuất bản năm 2018.

Nói chung thì tất cả các đồng chí lãnh đạo đều có tác phẩm để đời ráo trọi:

Riêng Chủ Tịch Đầu Tiên của nước VNDCCH, kiêm Chủ Tịch Đảng, đã để lại cho hậu thế Hồ Chí Minh Toàn Tập (trọn bộ) tới 15 cuốn lận. Người còn làm thơ (tiếng Tầu) viết kịch (tiếng Tây) và đặc biệt nổi bật trong thể loại tự truyện – autobiography – với những bút danh xa lạ: Trần Dân Tiên hoặc Th. Lan. Ngay  cho đến nay, bài viết (“Địa Chủ Ác Ghê”) của Bác – xuất bản năm 1953, với bút hiệu CB – vẫn còn được dư luận rất quan tâm và vô cùng … ái ngại!

T. S Mạc Văn Trang nhận xét: “Cái này là mốt của những nhà cộng sản, bất kỳ ai làm Tổng Bí thư đều có sách, từ xưa đến giờ: ông Lê Duẩn có rất nhiều sách, ông Trường Chinh, ông Nguyễn Văn Linh, ông Đỗ Mười cũng rất nhiều sách.”

Đến như cỡ ông Đỗ Mười mà “cũng rất nhiều sách” thì đủ biết là giới lãnh đạo CSVN thích “trước tác” đến cỡ nào. Có điều ít ai để ý là ngoài việc chăm chỉ viết lách, họ còn vô cùng nhiệt tình … đốt sách nữa cơ. Họ đốt từ Hà Nội đến Sài Gòn. Một người dân ở lại miền Bắc sau năm 1954, ông Tự Do, cho biết:

“Tôi phải học năm cuối cùng, tú tài 2, cùng một số ‘lớp chín hậu phương,’ năm sau sẽ sát nhập thành ‘hệ mười năm.’ Số học sinh ‘lớp chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức hiệu đoàn,’ nhận ‘chỉ thị của thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’ Họ truy lùng…đốt sách!

Hai mươi mốt năm sau, tình trạng này lại tái diễn:

  • Trần Bích San: “Sau khi dùng bạo lực cưỡng chiếm miền Nam, Cộng Sản thực hiện cấp thời, qui mô chính sách tieu diệt toàn bộ văn hóa phẩm Việt Nam Cộng Hoà. Khoảng hơn 180,000,000 quyển sách đủ loại bị tịch thu, thiêu hủy.” (Trần Bích San. Văn Học Việt Nam. New Orleans, LA: Cảo Thơm, 2018).
  • T. Vấn: “Đó là những ngày tháng tủi hổ nhất cho lịch sử Việt nam, khi hàng ngàn thanh niên sinh viên học sinh của bên thua trận bị chính quyền mới ra lệnh vào tận những nhà sách, nhà xuất bản, cả những kệ sách tư nhân, tịch thu tòan bộ sách báo, ấn phẩm, tất cả những gì được in ấn, phát hành ở miền Nam trước tháng 4 năm 1975 đem ra đốt.”
  • Nguyễn Ngọc Chính: “Không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn. Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc.”

Thời gian, may thay, không đứng về phe những kẻ phần thư. Những tác phẩm bị thiêu hủy đều có thể được tái tạo, dưới hình thức khác (gọn gàng, nhẹ nhàng, và dễ tiếp cận hơn nhiều) trong thời đại mới. Internet là một phát kiến ngoài dự đoán của Geroge Orwell nên nhà tiên tri của thế kỷ XX đã bị thời đại vượt qua. Trong tác phẩm Nineteen Eighty-Four (1984) ông viết: “Who controls the past controls the future: who controls the present controls the past. Ai kiểm soát được hiện tại, kiểm soát được quá khứ. Ai kiểm soát được quá khứ, kiểm soát được tương lai.”

Những phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay khiến cho chế độ toàn trị mất ráo mọi thứ quyền “kiểm soát.” Hơn chục năm trước, báo Công An Nhân Dân (số ra ngày 05/10/2007) đã than thở rằng “blog như là một thứ hệ lụy và quản lý blog là … chuyện buộc cẳng chim trời.” Đến nay thì tình hình đã có phần (hơi) đổi khác: buộc chỉ chân voi. Vậy thì đành phải theo thời thôi!

Thế là Đảng và Nhà Nước CSVN cho ra đời hằng trăm trang mạng. Tất cả đều tưng bừng khai trương và âm thầm đóng cửa – theo nhận định của Vnexpress, đọc được vào hôm 18/09/2019: “Rất ít mạng xã hội của Việt Nam tồn tại được quá một năm. 9 năm trước, mạng xã hội Go.vn ra đời kèm theo tuyên bố chắc nịch từ lãnh đạo của dự án này là: Soán ngôi Facebook sau 6 tháng với 5 triệu người dùng. Đơn vị này cũng đặt mục tiêu chiếm 40–50% lưu lượng truy cập mạng xã hội tại Việt Nam vào năm 2015. Nhưng rồi dự án mau chóng thất bại, chuyển thành một trang tin tức tổng hợp. Tương tự Go.vn, còn nhiều cái tên mạng xã hội cũng ra mắt đình đám nhưng sớm ‘chết yểu’ như Zingme, Tamtay.vn, Yume.vn…”

Tất cả mọi người đầu biết những sự kiện này, trừ mỗi ông tân Bộ Trưởng (TT & TT) Nguyễn Mạnh Hùng. Tại lễ ra mắt mạng xã hội Lotus, nhân vật này tuyên bố rằng: “Người Việt có thể làm ra những thứ mà thế giới chưa từng làm.” Nói vậy (chắc) chưa đã miệng nên đương sự còn thêm: “Thành công của Lotus sẽ góp phần để đến 2020, người dùng các mạng xã hội Việt Nam sẽ tương đương người Việt Nam dùng các mạng của nước ngoài.”

Ông Nguyễn Thế Tân, Tổng Giám Đốc Công Ty Cổ Phần VCCorp (đơn vị phát triển mạng xã hội Lotus) cũng hùng hổ, và hùng hồn, không kém: “Kỳ vọng sẽ đạt mốc 4 triệu người dùng mỗi ngày, sau đó sẽ tăng lên 20 triệu, thậm chí 50 triệu người dùng.”

Hai ông Trời con này khiến tôi nhớ đến mấy câu thơ ngụ ngôn của Thái Bá Tân:

Con Ếch ngu ngốc ấy/Nổ đánh bùm thật to/Thế là hết con Ếch/Muốn to bằng con Bò.

Còn công luận thì nhận xét ra sao?

  • TS Nguyễn Đức AnTrên thực tế, họ ra mắt rầm rộ nhưng có lẽ là hơi vội vì hiện vẫn chưa có giao diện trên web, chỉ là một ứng dụng trên thiết bị di động … nội dung thì có vẻ rất nhiều thứ vô thưởng vô phạt, với lượng tin bài gái xinh-trai đẹp và những chuyện cướp-giết -hiếp chiếm tỉ trọng lớn.
  • Chuyên gia Lê Ngọc Sơn (Đại Học Công Nghệ Ilmenau): Họ nói là mạng xã hội dựa trên nội dung, nhưng nội dung kiểu gì mà khi vào thì toàn nội dung rẻ tiền.
  • L.S Nguyễn Văn ĐàiMạng xã hội Việt chỉ lãng phí tiền và người.
  • Báo Lao ĐộngMạng xã hội 1.200 tỉ: Chỉ toàn hot girl vậy sao?
  • BBCPhát triển mạng xã hội của Việt Nam có đang đi sai hướng?

Câu trả lời xin được nhường cho một nhân vật có thẩm quyền, ông Trần Anh Dũng – CEO & Founder của công ty cổ phần MOG: “Việc phát triển một sản phẩm công nghệ là luôn đổi mới, không dừng lại nên nếu số vốn đầu tư không đủ lớn, mô hình không đủ tốt thì sẽ ‘đốt’ tiền rất nhanh. Và khi đó, trào lưu phát triển mạng xã hội sẽ lại gặp thực trạng như vài năm trước là chết như ngả rạ.” 

Hai cựu bộ trưởng TT& TT Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn (trái) khai nhận tổng cộng là 3,2 triệu đôla hối lộ từ ông Phạm Nhật Vũ. Ảnh chú thích: BBC

Cái gì chứ “đốt tiền” thì giới quan chức Việt Nam đều có năng khiếu cả. Hai vị bộ trưởng tiền nhiệmđã thể hiện khả năng thiên phú của họ một cách vô cùng ngoạn mục. Nay thì đến lượt ông Nguyễn Mạnh Hùng. Tiền đến tay ai thì người ấy cất thôi. Good luck, sir!

Việt Nam nguy cấp!

Việt Nam nguy cấp!

Nguyễn Ngọc Già
2019-10-01

Hình minh họa. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp Chủ tịch Tập Cận Bình ở Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh hôm 25/4/2019

Hình minh họa. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp Chủ tịch Tập Cận Bình ở Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh hôm 25/4/2019

 AFP

Tình trạng Việt Nam hiện rất nguy nan, đặt trong bối cảnh phức tạp của thế giới, đặc biệt cuộc thương chiến Mỹ – Hoa, cho đến nay đủ căn cứ để khẳng định: Không có một thỏa thuận tốt đẹp nào diễn ra cả. Nhất là tình hình Hong Kong đang “mất dần và mất hẳn” “tài sản Tự Do” vốn dĩ họ thụ hưởng cả trăm năm qua, cho thấy rất cao với sự quyết liệt của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Những “đám mây mù” vẫn bao quanh lịch sử mối bang giao Việt Nam – Trung Quốc

Công Hàm 1958 do ông Phạm Văn Đồng ký công nhận Hoàng Sa – Trường Sa thuộc về Trung Quốc cũng như Hội nghị Thành Đô “thành công” vào năm 1990 do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu phái đoàn Việt Nam cho đến nay vẫn chưa tỏ tường.

Những khoản gọi là “viện trợ” của Trung Quốc dành cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để cưỡng chiếm miền Nam trước 1975 cũng như những khoản tiền khác mà người dân Việt Nam không tài nào hay biết, khi đôi bên “cho và nhận” có kèm theo những điều kiện gì.

Theo BBC [1] “1964 – 1975: Trung Quốc ‘viện trợ Hà Nội nhưng không thể chỉ huy”, bài báo cho hay, số viện trợ của Trung Quốc dành cho Bắc Việt đạt đỉnh cao năm 1965, 1967, 1972, và 1974.

Bài báo nhận định viện trợ của Trung Quốc chỉ nhằm phục vụ lợi ích riêng của nước này.  Đồng thời, cho biết số liệu chính thức của Trung Quốc thống kê từ thập niên 1950 cho đến 1975, Trung Quốc đã viện trợ cho Bắc Việt tổng cộng hơn 20 tỉ nhân dân tệ. Trong đó, 1,4 tỉ là cho vay không lãi suất.

Về “tình hữu nghị Việt – Trung”, ông Dương Danh Dy nói [2]: “Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề Biển Đông. Cái hứa của chúng ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả…”

Hình minh họa. Khách du lịch Trung Quốc đi bè ở thác Bản Giốc ở biên giới phía bắc tỉnh Cao Bằng hôm 16/1/2009
Hình minh họa. Khách du lịch Trung Quốc đi bè ở thác Bản Giốc ở biên giới phía bắc tỉnh Cao Bằng hôm 16/1/2009 AFP

Trong khi ông Nguyễn Trọng Vĩnh từng cho hay [3]: “Trong đàm phán biên giới trên bộ, Trung Quốc gian xảo lấn của ta một nửa thác Bản Giốc, 100m từ ải Nam Quan xuống đến Tân Thanh vốn là điểm nối đường ray trước đây để tàu Trung Q uốc đưa hàng hóa vào đất ta, cộng với lấn chiếm những nơi khác, họ lấn của ta một diện tích bằng tỉnh Thái Bình”.

Tuy vậy, ông Nguyễn Trọng Vĩnh cho biết thêm [3]: “Dù sao, sự nhường cơn xẻ áo của nhân dân Trung Quốc giúp chúng ta khá lớn trong hai cuộc kháng chiến, nhân dân ta, Nhà nước ta rất biết ơn, coi như mắc một món nợ. Nhưng tháng giêng năm 1974, nhà cầm quyền Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đương thuộc sự quản lý của Việt Nam Cộng hòa; năm 1975, trang bị cho lực lượng vũ trang Pôn-pốt đánh phá phía Tây nam nước ta; tháng 2/1979, Đặng Tiểu Bình huy động 60 vạn quân xâm lăng, tàn phá triệt để các tỉnh biên giới nước ta, giết hại đồng bào ta thì tự họ đã xóa hết nợ nần, ơn nghĩa trước đây. Ngược lại họ lại mắc nợ máu với nhân dân biên giới nước ta”.

Cả thế giới không còn xa lạ với bản chất của người CSVN. Vì vậy, năm xưa Đặng Tiểu Bình “dạy cho Việt Nam một bài học” để gây ra 2 cuộc chiến thảm khốc tại biên giới phía Bắc và Tây Nam, không đáng ngạc nhiên đối với quốc tế.

Vào ngày 14/12/2012, đài BBC đưa tin ông Trương Tấn Sang trong tư cách Chủ tịch Nước khẳng định [4]: “Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bán nước cho các thế lực bên ngoài như những kẻ xấu vu cáo. Hành động bán nước hay những việc làm tương tự sẽ chịu sự nguyền rủa, oán hận của các thế hệ sau này, cũng như chúng ta đã từng phê phán nghiêm khắc những nhân vật và những chế độ như thế trong lịch sử”.

Đường Lưỡi Bò – vì đâu nên nỗi?!

Đường Lưỡi Bò do nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đơn phương tuyên bố chủ quyền vào năm 1953, nhưng chưa bao giờ họ đưa ra giải thích đảm bảo tính khoa học về nó.

Năm 1953 cũng là năm khởi sự chính thức “chiến dịch Điện Biên Phủ” sau nhiều năm chuẩn bị để dẫn đến:

Chín năm làm một Điện Biên

Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)

Đến nay thật tỏ tường, Điện Biên Phủ không thể “lẫy lừng chiến thắng” nếu không có viện trợ từ Trung Quốc. Và phải chăng “thời điểm 1953” là cột mốc cho thấy, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã tận dụng quá tốt cơ hội để đưa ra “Đường Chín Đoạn”, lúc mà nhà cầm quyền Hà Nội không cần phải quan tâm, vì buộc phải tập trung mọi nguồn lực, đặc biệt rất cần “viện trợ quân sự” để đối phó với người Pháp?!

Bản vẽ đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông
Bản vẽ đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông AFP

Khi con bạc đang khát dữ dội cho “mộng ước” làm nên “trang sử oai hùng và chói lọi”, quả thật quá dễ để cho nhà cầm quyền Hà Nội nhanh chóng nhận lấy tất cả những gì mà phía Trung Quốc trao cho. Bẫy đã được đặt xong! Từ rất lâu như thế!

Bên cạnh đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh luôn nhắc đến thuật ngữ “quyền lịch sử” – để khẳng định gần hết Biển Đông là của họ – dù vô cùng mơ hồ đối với thế giới nhưng họ thật tự tin mà không cần phải lý giải! Tại sao như vậy?

Chính Bắc Kinh biết quá rõ, những “món viện trợ” cho Hà Nội “thật bất nhân và vô cùng bất nghĩa” đối với người mà họ luôn “trìu mến” gọi là “đồng chí“. Ngược lại, Hà Nội cũng thật rành tâm địa của Bắc Kinh, nhưng lại không muốn “bánh ít trao đi bánh quy trao lại”.

“Tình hữu nghị thắm thiết” của đôi bên được tụng ca thật “lãng mạn” và “nghĩa tình” vào ngay năm 1956, khi “men say chiến thắng Điện Biên” vẫn còn… “nồng nặc”:

Bên ni biên giới là mình.

Bên kia biên giới cũng tình quê hương

(Đường sang nước bạn – Tố Hữu)

Bãi Tư Chính và vấn đề kiện

Báo Thanh Niên ra ngày 18/8/2019, có bài [5] “Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam: Hiểm họa cho toàn khu vực”.

Khi người CSVN, đứng đầu là Hồ Chí Minh, phát hành Công hàm 1958 do Phạm Văn Đồng ký, đã công nhận Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc, lúc bấy giờ – người CSVN có hiểu – đó cũng là bước khởi đầu gây đại thảm họa cho toàn khu vực ngày nay không (?).

Nhà cầm quyền Hà Nội kêu gọi quốc tế ủng hộ về tình hình “Bãi Tư Chính”, trong khi người dân trong nước không còn mấy ai tin tưởng vào “hành động thực tế” của họ.

“Kiện” – chữ được bắt gặp rất nhiều, từ khi Bãi Tư Chính bị xâm phạm.

Các nhà chuyên môn về Biển Đông cùng các nhà báo có nhiều đồng thuận về việc “kiện” với bằng chứng “chắc chắn thắng” thông qua thành công của Philippines năm 2016 và nhiều căn cứ pháp luật quốc tế khác, không thể chối bỏ.

Philippines kiện “Đường Lưỡi Bò” mà Trung Quốc khẳng định “tài sản riêng” của họ, trong khi Bãi Tư Chính nằm trong vùng EEZ của Việt Nam. Nói cách khác, Philippines kiện “cái chung”, còn Việt Nam kiện “cái riêng” – Một phạm trù của Triết Học, rất đáng để cho người CSVN bóp trán suy ngẫm. Chính vì vậy, nhà cầm quyền Hà Nội rất cần ủng hộ của toàn dân, khối Asean và quốc tế. Cho đến nay “chiến lược này” hoàn toàn thất bại, bởi ngay cả ông Phạm Bình Minh trong phát biểu ngày 28/9/2019 tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, dù mất tới mười lăm phút đồng hồ, nhưng không dám nhắc tên “khách thể – Trung Quốc”. Điều này có nghĩa, không thể tiến hành khởi kiện “một quốc gia vô danh”.  Đó là khác biệt thứ nhất.

Chính phủ Philippines, cho tới nay, chưa hề cho thấy có bất kỳ “ân oán tình thù” nào kèm với những “món nợ bất minh và bất chính”  đối với Bắc Kinh. Đó là khác biệt thứ nhì.

Philippines là quốc gia đa đảng. Đó là khác biệt thứ ba.

Ông Lê Mã Lương và ông Trương Giang Long – 2 người Công Sản cấp cao – đã chỉ ra nhiều nhân vật cao cấp khác trong ĐCSVN luôn luôn “toàn tâm toàn ý” với nhà cầm quyền Bắc Kinh. Đó là khác biệt thứ tư.

Kết luận

Một nguyên tắc đối ngoại của thế giới, cho đến nay vẫn sừng sững, không thể chối bỏ: Không một quốc gia nào can thiệp vào một quốc gia khác, một khi quốc gia cần giúp đỡ không lên tiếng.

Chính sách “vừa hợp tác vừa đấu tranh” biến tướng từ chính sách “đi dây” hàng chục năm qua của nhà cầm quyền Hà Nội – Nó cần phải được loại bỏ bởi tính phản khoa học trong tình hình Việt Nam nguy cấp hiện nay.

_______________________

Nguyễn Ngọc Già

[1] https://www.bbc.com/vietnamese/world-48051722

[2] https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-China-a-long-standing-grievances-historical-MLam-07022009133546.html

[3] http://trannhuong.net/tin-tuc-17298/lao-tuong-nguyen-trong-vinh-huu-nghi-hay-muu-do-thon-tinh–.vhtm

[4] https://www.bbc.com/vietnamese/mobile/vietnam/2012/12/121214_sang_army.shtml

[5] https://thanhnien.vn/…/trung-quoc-xam-pham-vung-bien-viet-n…

Luật sư nhân quyền bị chặn khi đi gặp phái đoàn Quốc Vụ Khanh của Đức đến TPHCM

  • (RFA) Ông Đặng Đình Mạnh, luật sư thường nhận bào chữa cho các bị cáo trong những vụ án liên quan đến chính trị, nhân quyền bị một số người mặc thường phục cố ý ngăn không cho ra khỏi nhà để gặp phái đoàn của
    Quốc Vụ Khanh về Tư pháp Cộng hòa liên bang Đức đang làm việc tại TPHCM vào trưa ngày 30 tháng 9 năm 2019.

    Luật sư Mạnh xác nhận thông tin này với phóng viên Đài Á Châu Tự Do vào trưa ngày 1 tháng 10 và cho biết đây là lần đầu ông bị như vậy.

    “Có một số anh em họ mặc thường phục, họ đến họ nói là muốn được tôi tiếp và tôi mới nói nếu như vậy thì mời lên văn phòng làm việc. Họ nói không, họ muốn được tôi tiếp ở nhà. Họ ngồi đó cho đến quá buổi trưa thì họ về. Nôm na là tôi không ra khỏi nhà được!”

    Theo vị luật sư thuộc đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh thì ông có hỏi nguyên do cũng như những người này là ai nhưng không được hồi đáp thỏa đáng.

    Luật sư Đặng Đình Mạnh phán đoán rằng, có ai đó không muốn ông dự họp để có thể cung cấp những thông tin, quan điểm, cách nhìn của ông và sẽ không tốt đối với chính quyền.

    Luật sư Lê Công Định, một luật sư chuyên về thương mại, nhân quyền từng bị công an Việt Nam bỏ tù vì những việc làm của mình tiết lộ có 5 luật sư được mời để cung cấp cái nhìn bao quát về hệ thống luật pháp của Việt Nam cho phái đoàn.

    Duy chỉ có ông Mạnh là bị ngăn chặn mặc dù theo luật sư Định phía Đức đã kịp thời lên tiếng phản đối với Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao Việt Nam.

    Đài Á Châu Tự Do đã liên hệ với Đại sứ quán Đức ở Hà Nội để xác định thông tin này và chưa nhận được phản hồi

    Luật sư Đặng Đình Mạnh nhận xét về hệ thống luật pháp Việt Nam trong những năm vừa qua như sau:

    “Với tôi có 2 vấn đề cần lưu ý đó là, thứ nhất là về mặt thể chế luật pháp thì những quy định ra sau này dường như là tiến bộ hơn rất nhiều. Nó gần như là tiệm cận với luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới.

    Điều này rất là tốt, một phần cũng là do những hiệp ước mà Việt Nam ký với những quốc gia khác. Do ký như vậy nên mình (Việt Nam – PV) buộc phải sửa luật để phù hợp với cách chơi của họ, nên đó là điều tích cực.

    Tuy nhiên điều tích cực đó chỉ thể hiện trên mặt thừa hành luật pháp thôi, tuy nhiên thực tế hiện nay việc thừa hành luật pháp không phải do những người soạn thảo mà do những người cũ.

    Những người cũ này họ làm nên họ vẫn giữ nếp, quan điểm theo cách cũ. Cách cũ là cái mà mình mong phải được sửa đổi.”

    Ngay trong ngày 30-9 và 1-10-2019, nhiều nhà hoạt động nhân quyền ở Hà Nội và Sài Gòn cũng bị lực lượng an ninh ngăn chặn, theo dõi do trùng với kỷ niệm 70 năm Quốc khánh nước CHND Trung Hoa.

NẾU SỐNG TRONG CẢNH NÀY LÂU DÀI, KHÔNG BỆNH TẬT MỚI LÀ CHUYỆN LẠ!!!

Lm Trần Chính Trực is with Trần Huy and Trần Chính Trực.
 

Giống như nước thải thành phố đang dâng lên? Dân chạy đi đâu ?
Kinh !!!!!!

Nếu bức ảnh này triển lãm, mọi người sẽ thấy rõ nhiều vần đề nghiêm trọng liên quan đến môi trường, sức khoẻ của con con người. Bên cạnh đó người ta cũng sẽ đề cập đến trình độ quy hoạch thành phố, ý thức giữ vệ sinh môi trường của người dân và chất thải của các khu công nghiệp !!!!

– NẾU SỐNG TRONG CẢNH NÀY LÂU DÀI, KHÔNG BỆNH TẬT MỚI LÀ CHUYỆN LẠ!!!

– Cuối cùng, ai đứng ra chịu trách nhiệm vấn đề này. Đó là nan đề mà người dân sẽ đặt ra.

Image may contain: outdoor, water and nature

Nước sông ô nhiễm được dùng làm nước sạch cho gần 9 triệu dân Sài Gòn

 

Nước sông ô nhiễm được dùng làm nước sạch cho gần 9 triệu dân Sài Gòn

Nước sông ô nhiễm được dùng làm nước sạch cho gần 9 triệu dân Sài Gòn

Ảnh: Thương Hiệu & Công Luận

Tin Saigon.- Báo Người Lao Động ngày 27 tháng 9 năm 2019 loan tin, hệ thống sông Sài Gòn- Đồng Nai là nơi cung cấp nước sinh hoạt hay còn gọi là nước sạch cho người dân Sài Gòn, Đồng Nai đang bị ô nhiễm nặng, hàm lượng amoni, vi sinh, mangan và nhiều chất khác trên dòng sông này ngày càng tăng.

Theo thông tin từ dư luận, nguyên nhân của việc nước sông ô nhiễm là do có khá nhiều nhà máy, thuỷ điện được đặt dọc sông Sài Gòn- Đồng Nai ở phía thượng lưu. Các nhà máy này tùy tiện xả chất thải ra sông, và phía cuối thượng lưu thì nước của sông được dùng để sản xuất nước sạch bán cho người dân sử dụng hàng ngày.

Theo ông Võ Văn Hoan, Phó chủ tịch uỷ ban tại Sài Gòn, thì tác động của biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng lớn đến nguồn nước thô cung cấp cho thành phố. Ông Hoan cho rằng, dù nguồn nước ô nhiễm nặng, nhưng chất lượng nước tại nhà máy sau khi giải quyết đã đạt quy chuẩn nước dùng cho ăn uống. Tuy nhiên, hệ thống đường ống cấp nước đến các gia đình nhiều nơi đã xuống cấp, khiến cho chất lượng nước ở nhiều khu vực không còn bảo đảm.

Còn sở Tài nguyên- Môi trường thành phố cho biết, chất lượng nước trên sông Đồng Nai- Sài Gòn đoạn từ Hoá An đến Cát Lái đang bị ô nhiễm vi sinh rất nghiệm trọng, còn ô nhiễm dầu mỡ thì nhẹ.

An Nhiên

CHÍNH TRỊ LÀ GÌ , TẠI SAO PHẢI QUAN TÂM ?

Image may contain: 1 person, text

Lê Hồng Song

CHÍNH TRỊ LÀ GÌ , TẠI SAO PHẢI QUAN TÂM ?

Chính trị là nồi cơm, là manh áo, là giá xăng điện, là những kế sách an sinh xã hội vv…

Chỉ vì chúng ta sống trong một xã hội ngu dân , bị kẻ cai trị nhồi sọ và tẩy não nên chúng ta cho rằng . Chính trị là thứ gì đó to lớn mà những kẻ dân đen như ta ko thể hiểu .

Tại sao ở xã hội độc tài người dân luôn sợ nói tới chính trị, sợ nó như 1 loại bệnh dịch? Trong khi ở các nước dân chủ người dân nói chính trị như ăn cơm, uống nước mỗi ngày. Trẻ em 6 ,7 tuổi đã được bố mẹ và nhà trường giáo dục các vấn đề trong xã hội ,  như bảo vệ môi trường ,bảo vệ động vật ,  nêu các chính sách cho người già , người vô gia cư vv…

Trong khi ở chế độ độc tài họ lại không muốn người dân tham gia chính trị , thậm chí còn sử dụng nền giáo dục ngu dân để khống chế . Là vì họ muốn giữ được quyền lực lâu hơn , để có thể tham nhũng nhiều hơn ,để có thể ăn tàn phá hoại và thậm chí bán cả lãnh thổ quốc gia mà không bị người dân chỉ trích .

Bởi vì dốt chính trị nên bạn không biết nhà nước thu thuế như thế nào , và nguồn thuế của bạn đã đi đâu .

Bởi vì dốt chính trị thay vì chỉ trích chính phủ đã đưa ra những chính sách tệ hại làm ảnh hưởng môi trường sống . Bạn lại cong mông đi chửi những người đi biểu tình đòi môi trường sạch cho bạn hưởng .

Bởi vì dốt chính trị thay vì bạn dồn sức chửi những kẻ đang tham ô ngàn tỷ, phá hoại đất nước . Bạn lại đi chu mỏ qua cali chửi đồng bào bên đó là những người phá hoại , trong khi họ cách xa bạn nửa vòng trái đất và ko hề ăn cướp của bạn 1 đồng , họ cũng không rước giặc về nhà giết biển phá rừng hay tăng giá xăng điện , cũng không lập bot hút máu của bạn .

Bởi vì dốt chính trị nên bạn mới cho rằng , không nơi đâu bình an , hạnh phúc như ở Việt Nam . Trong khi đó mỗi ngày ở VN có 315 người chết vì ung thưcứ mỗi năm lại có 165 .000 ca mới được phát hiện .Tai nạn giao thông mỗi năm lên tủ ngồi gần 8000 người ,chưa kể những ca bị tàn phế , thực phẩm độc hại tràn lan thị trường và len lỏi vào tận bàn cơm gia đình bạn vv…

Bởi vì dốt chính trị nên bạn mới cảm thấy sợ hãi , và cho rằng những người đang lên tiếng đấu tranh đòi quyền sống ,  đòi công bằng là phản động . Trong khi nếu bạn có kiến thức về chính trị và cùng lên tiếng đồng hành như chúng tôi thì sẽ tạo ra một xã hội tốt đẹp biết nhường nào ,bóng tối và sự giả dối sẽ bị đẩy lùi cho một tương lai tươi sáng hơn .

Hãy quan tâm chính trị , bởi chỉ có sự hiểu biết chính trị mới kiến tạo ra được một xã hội tốt đẹp và mang lại sự công bằng cho chính bạn .

CÓ MỘT XÁC CHẾT TREO TRÊN BẦU TRỜI HÀ NỘI

CHẾT NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC CHÔN VÌ PHẢI CỐ CHO NÓ NHƯ VẪN SỐNG

(Xin đừng ai liên tưởng tới thứ khác nha)

Image may contain: bridge and outdoor
Nguyễn Quang ThiềuFollow

CÓ MỘT XÁC CHẾT TREO TRÊN BẦU TRỜI HÀ NỘI

Xác chết ấy chính là đường sắt trên cao Hà Đông – Cát Linh.

Báo chí đưa tin câu trả lời của những người có trách nhiệm về đường sắt này : “Nhà thầu không có năng lực, không có hồ sơ thiết kế, thi công”. Thế mà họ vẫn ký, vẫn khởi công. Những kẻ ký hợp đồng làm con đường này là những kẻ phản bội lại đất nước trong mọi nghĩa.

Vì sao họ vẫn ký khi họ được thông báo về nhà thầu và những gì liên quan ?

Bởi họ ngu dốt không hiểu biết gì ?

Bởi lòng tham vô độ chứa đầy tội ác mà họ chỉ cần bỏ túi những đồng tiền của Nhân dân, của Nhà nước còn mặc xác nhân dân, mặc xác tổ quốc ?
Bởi họ bị đất nước của cái nhà thầu ma quỉ kia đe dọa ?

Cho dù bởi bất cứ cái gì thì họ đã mang tội với Nhân dân, với Đất nước không biết bao giờ mới xóa được

Với tội như thế, luật pháp có dám trừng phạt họ không ? Và nếu họ không bị trừng phạt thì luật pháp chỉ là một tờ giấy gói xôi chăng ?

Ngày ngày tôi vẫn đi làm dưới con đường sắt này. Trước kia tôi chỉ nghĩ đó là một con đường xấu xí, tiêu một núi tiền khổng lồ vô lý và chậm thi công.

Còn bây giờ tôi thấy thực sự đó là một xác chết treo lơ lửng trên bầu trời thành phố mà không được mai táng.

Kinh hãi đến nhường nào khi trên đầu chúng ta treo một xác chết

Ôi tang thương, tang thương….

TÌM HIỂU VỀ GIÁO DỤC MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975

TÌM HIỂU VỀ GIÁO DỤC MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975

Thi cử bậc Phổ thông tại miền Nam ngày xưa

Bài viết của : Gordon Thúy

Sang xứ người đã vài thập kỷ, kỷ niệm thời học trò ngày càng lùi dần vào quá khứ. Bất chợt hôm nay có người nhắc lúc này đang là mùa thi tốt nghiệp phổ thông bên nhà, bỗng bồi hồi nhớ lại ngày xưa…

Trước 1975, chương trình giáo dục phổ thông tại miền Nam gồm 12 lớp, chia ra hai bậc: tiểu học và trung học. Bậc tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 (cấp 1 ngày nay). Bậc trung học từ lớp 6 đến lớp 12, lại chia ra làm 2 bậc: trung học đệ nhất cấp (cấp 2) gồm lớp 6, 7, 8, 9; trung học đệ nhị cấp (cấp 3) từ lớp 10 đến lớp 12.

Đó là hệ thống giáo dục do Pháp thiết lập, sau này bàn giao lại cho chính phủ VN và được Việt hóa, dùng tiếng Việt và sách giáo khoa Việt để giảng dạy và thi cử (sau hội nghị giáo dục toàn quốc 1958)

Các cấp bậc và các kỳ thi

Bằng tiểu học

Thời bố mẹ tôi còn đi học, thập niên 40, cuối bậc tiểu học có kỳ thi tiểu học, thi đậu thì được cấp bằng tiểu học hay thường gọi bằng tiếng Tây là Certificat (CEPCI – tức là Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinoise). Những người có Certificat đã có thể kiếm được việc làm “chữ nghĩa” tại văn phòng lĩnh lương khá hậu vào thời ấy.

Sau này thì bằng tiểu học được bãi bỏ, nhưng đến thời anh em tôi cắp sách đến trường vào thập niên 60 thì học sinh hoàn tất bậc tiểu học phải qua một kỳ thi hóc búa hơn: thi tuyển vào các trường trung học công lập. Những kỳ thi này được xem là khó vì số trường trung học công lập do chính phủ lập ra và miễn học phí không đủ phục vụ cho dân số học trò vào lúc đó, nên tỉ lệ đậu vào trường công chỉ độ 62%, riêng đối với những trường “top” chỉ khoảng 10% trúng tuyển, cũng khắt khe như tỉ lệ học sinh Mỹ ngày nay được tuyển vào các trường đại học Ivy League như Harvard, Princeton, Yale, v.v.

Những học sinh không đậu vào trường công phải ghi tên vào các trường tư, đóng học phí tốn kém và trình độ giảng dạy cũng không bằng trường công: thành phần ưu tú đã vào trường công, trường tư nhét nhiều học sinh vào ngồi cùng lớp để giảm chi phí tăng lợi nhuận, nhà trường không kỷ luật gắt gao vì muốn giữ học sinh, v.v.

Học sinh không đậu vào lớp 6 trường công thì vào lớp tiếp liên tại các trường tư hay ở nhà để luyện thêm, năm sau thi tiếp, sau 3 kỳ không được thi nữa. Vì thế học sinh trường công có thể chênh lệch nhau 2 tuổi. Tôi có một bạn ngày xưa học cùng lớp tiểu học, nhưng thi 3 lần mới đậu vào trường công, nên đến khi vào trường, lại thua tôi hai lớp.

Bằng trung học

Hết lớp 9 bậc trung học đệ nhất cấp có kỳ thi trung học, đậu bằng trung học mới được lên trung học đệ nhị cấp. Bằng trung học là thước đo trình độ để tiến thân trong việc làm cho những người trẻ vào đời. Nữ giới có bằng trung học có thể làm thư ký văn phòng, thi vào sư phạm cấp tốc dạy tiểu học, vào trường trung cấp y tế đào tạo y tá, v.v. Nam giới nếu nhập ngũ thì được đào tạo thành hạ sĩ quan, còn có bằng tiểu học chỉ đóng binh nhì.

Đến thời anh em tôi lên trung học vào thập niên 60 kỳ thi trung học đệ nhất cấp đã bãi bỏ vào năm 1967.

Tú tài I, Tú Tài II

Lên đến trung học đệ nhị cấp thì học sinh chọn ban chuyên môn: ban A chuyên về khoa học (sinh vật và lý hóa), ban B chuyên về toán, lý, hóa, ban C chuyên về văn chương, triết học, ngoại ngữ. Các môn chính học nhiều tiết hơn môn phụ, nhưng chương trình học ban nào cũng gồm đủ cả các môn văn, triết, sử, địa, toán, lý hóa, sinh vật, công dân, sinh ngữ 1, sinh ngữ 2. Cuối năm lớp 11 thi Tú tài I, cuối năm lớp 12 thi Tú Tài II. Sau này tú tài I bãi bỏ năm 1973.

Các kỳ thi Trrung học, Tú tài I và II đều là kỳ thi quốc gia, được tổ chức toàn quốc, cùng ngày, cùng đề thi. Đề thi được bộ khảo thí thuộc bộ Giáo dục chọn lựa, niêm phong mật và gửi xuống các ty giáo dục, chỉ được bóc niêm trước giờ thi.

“Ban soạn đề thi bị cô lập ở Sài Gòn khoảng một tuần để hoàn tất việc chọn đề rồi đem niêm phong cẩn thận. Đề thi cho mỗi tỉnh được đựng trong một cái rương nhôm có hai ổ khóa và được giữ bảo mật cho đến gần ngày thi, giao cho hội đồng giám thị của từng tỉnh để phân phát đề thi cho mỗi trung tâm thi xuống tận mỗi phòng thi. Vì bảo mật nên việc di chuyển đề thi có cảnh sát hộ tống.

Mỗi phòng thi có hai giám thị: một giáo sư trung học và một giáo viên tiểu học. Ngoài ra là một giám thị hành lang để giữ trong ngoài nghiêm ngặt không ai ra vào trong khi thi. Bài thi của thí sinh phải có chữ ký của hai giám thị phòng thi để ngăn ngừa việc tráo bài thi. Việc di chuyển bài thi khi thí sinh đã nộp vào cũng đòi hỏi sự cẩn mật như việc di chuyển đề thi.”

Thể thức thi cử & chấm điểm

Học sinh đến thi tại các trung tâm thi cử theo phiếu báo danh nhận được, không thi tại trường của mình, và không được các thầy cô dạy mình trông thi. Học sinh chỉ mang bút và tẩy vào lớp, giấy thi và giấy nháp do trung tâm khảo thí cấp để tránh chuyện làm “phao”.

Phiếu báo danh sắp thứ tự theo tên, chẳng hạn như những tên An, Ân, Ẩn, Ánh, v.v. được xếp vào cùng phòng thi, tên Thanh, Thêm, Thoa, Thu, Thúy, Thủy, v.v. vào cùng phòng. Mỗi tờ giấy thi có ô vuông trên đầu trang để học sinh ghi tên tuổi, ngày sinh, số báo danh, v.v. Phần này gọi là “phách” sẽ rọc đi cất riêng sau khi giám khảo ghi mã số vào phần phách và phần bài thi bên dưới.

Giáo sư chấm bài không biết tên tuổi của người viết bài, chỉ dựa thuần vào chất lượng bài thi để chấm điểm. Học sinh còn cho biết những điều phải tránh như không được dùng mực đỏ, không được gạch dưới, không được viết chữ in, tức là những điều khác thường, vì bài sẽ bị loại theo nghi vấn bài được “làm dấu” để giám khảo nhận ra “gà nhà” mà chấm thiên vị.

Sau khi việc chấm bài hoàn tất thì hội đồng thi sẽ mang phách ra ráp lại theo đúng mã số, từ đó mới biết tác giả của từng bài và điểm thi của từng thí sinh, rồi lập bảng điểm và biết ai được “bảng vàng đề tên”, ai phải thở dài ai oán “thi không ăn ớt thế mà cay”.

Kỳ thi tú tài kéo dài ba ngày dài lê thê. Sáng ngày thứ nhất thi môn chính, vì là ban C nên tôi thi môn văn sáng ngày thứ nhất, chiều thi môn phụ như sử, địa, hay công dân, toán, lý, hoá, sinh ngữ phụ (Anh văn).

Sáng ngày hai thi môn chính thứ hai: sinh ngữ chính Pháp văn, chiều thi môn phụ. Ngày thứ ba thi các môn còn lại. Hình như ban A hay B có đến 3 môn chính (sinh, lý, hoá hay toán, lý, hoá) nên ba môn này sẽ thi vào ba buổi sáng, chiều thi các môn khác.
Môn văn hay triết thường là bình luận một tác phẩm, một đề tài triết, viết dài độ 4-6 trang. Sinh ngữ chính của ban C được dạy 7 năm trung học, đòi hỏi viết một bài luận văn tiếng Pháp (rédaction). Môn sinh ngữ phụ Anh văn đã học 3 năm lớp 10-12 đòi hỏi đọc một bài viết rồi trả lời các câu hỏi (reading comprehension), làm một vài phép văn phạm, dịch một đoạn văn ngắn ra tiếng Việt.

Các môn phụ hệ số thấp như sử, địa, công dân, v.v. cũng phải thuộc làu làu từng quyển sách dầy độ 150-250 trang. Vì thế bảo rằng các cô tú cậu tú có cả “bồ” chữ nghĩa trong bụng cũng không ngoa.

Ngày xưa sau khi vượt vũ môn thi viết còn phải vào thi vấn đáp, sau này kỳ thi vấn đáp đã được bỏ năm 1968.

Các môn thi, cách chấm điểm, và xếp hạng

Điểm thi các môn từ 0 đến 20, đạt trên trung bình từ 10 trở lên là đậu, dưới 10 là rớt. Các thứ hạng thi đậu được xếp như sau:

10.00 – 11.99: thứ
12.00 – 13.99: bình thứ
14.00 – 15.99: bình
16.00 – 17.99: ưu
18.00 – 20.00: tối ưu

Tất cả các môn học trong năm đều cho thi, không từ môn nào. Tuy nhiên, điểm các môn được nhân theo hệ số (coefficient) tùy theo ban chuyên môn của mình. Ban A có môn sinh vật hệ số 4, số điểm sẽ nhân lên 4 lần, môn lý hoá sẽ nhân 3, ngoại ngữ nhân 2, các môn khác như sử, địa, công dân nhân 1. Ban B có số điểm toán sẽ nhân 4 lần, điểm lý hóa nhân 3, ban C thì môn văn hay triết sẽ nhân 4, ngoại ngữ nhân 3, v.v., tức là môn chính của mình phải xuất sắc thì mới đậu cao.

Thí dụ: nếu một học sinh ban B (toán) được 20 điểm môn công dân, hệ số 1, mà môn toán hệ số 4 chỉ có 2 điểm, thì tổng số điểm sẽ là 20×1 + 2×4 = 28, chia cho 5 hệ số, trung bình chỉ có 5.60: RỚT!

Ngược lại, nếu công dân có 2 điểm mà toán được 18 điểm, thì tổng số điểm là 2×1 + 18×4 = 74, trung bình gần 15 điểm: đậu bình!

Những ban khoa học và toán thường có nhiều thí sinh xuất sắc hơn ban văn chương sinh ngữ, vì giải toán đúng 100% có thể đạt điểm tối đa là 20, trong khi viết bài bình luận hay vẫn khó mà đạt điểm 20 được.

Kết quả thi cử

Những kỳ thi tú tài là một thử thách lớn và là cơn ác mộng trầm kha đối với giới học sinh thời đó. Có một bài hát tả oán như sau: “Thi ơi là thi, sinh mi làm chi!” Cả năm học hành kết quả khá, mà đến ngày thi lỡ bị “tào tháo đuổi” hay hỏng xe không đến được phòng thi là kể như sự nghiệp tan tành, không có mảnh bằng lận lưng là đời tàn trong ngõ hẹp.

Theo tôi, triết lý giáo dục của Pháp chủ định dùng kỳ thi để tuyển lựa ra thành phần ưu tú (élite) và loại bỏ thành phần “không xứng đáng”. Miền Nam theo nề nếp đó. Khỏi nói cũng biết học sinh thi rớt như rạ. Trung bình tú tài I chỉ đậu độ 30%, còn tú tài II, vì đã vượt vũ môn lên từ 30% của tú I, nên có sĩ số đậu khoảng 70%.Thi cử mà chỉ đậu có 30% thì đúng là thi loại bỏ chứ không phải là thi kiểm tra trình độ nữa rồi. Nhà thơ Nguyễn tất Nhiên đã có bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc: “Thi hỏng tú tài ta đợi ngày đi (vào quân trường), đau lòng ta muốn khóc”.

Có những học sinh uống thuốc chống ngủ để gạo bài thâu đêm, đế nỗi bị lậm thuốc sinh ra điên loạn. Có những học sinh thi rớt bị gia đình mắng mỏ, hay tự thất vọng đã uống thuốc độc kết liễu đời mình, năm nào báo cũng đăng. Có người thi 7 năm liền mới bằng tú tài! Sau này để “cứu giúp” học sinh thi hỏng, bộ Giáo dục cho thi tú tài II hằng năm hai lần, lần đầu vào đầu hè, lần sau cuối hè, để mọi người có cơ hội “thua keo này ta bày keo khác!”.

Bằng tú tài I đánh dấu một thành quả cao hơn bằng trung học, được vào một số học viện như Học viện Cảnh sát Quốc gia, hoặc trường cao đẳng như Trường Cao đẳng Công chánh, vào quân đội thì được huấn luyện thành sĩ quan, tuy nhiên không được lên đại học. Chỉ có bằng tú tài II mới đánh dấu việc hoàn tất thành công trung học đệ nhị cấp (cấp 3) và mở ra cổng trường đại học. Năm 1973 kỳ thi tú tài I cũng được bãi bỏ (thank God, tạ ơn thượng đế!), chỉ còn giữ tú tài II.

Thi cử tại Mỹ & VN

Sau này sang Mỹ sinh sống thấy con tôi học rất thoải mái, học trong lớp vừa xong một chương là cho bài kiểm, bài thi liền để còn nhớ bài, không đợi đến cuối năm khảo nguyên một cuốn sách mấy trăm trang như ở VN, (mà đúng ra thì VN khảo cả chục cuốn sách vì chương trình nguyên năm có cả chục môn học).

Tại trường Mỹ bài nào kiểm không khá là thầy cô cho “dạy lại, thi lại” ngay (re-teach, re-test), đến giờ nghỉ trưa hay sau buổi học bảo trò đến thầy cô kèm thêm cho thấu đáo. Đến hết bậc trung học bên Mỹ, nếu các môn bắt buộc trong chương trình phổ thông đã hoàn tất và đủ điểm, là lập tức mũ áo vênh vang lên lãnh bằng ngay, chẳng có tú I tú II gì sất! Từ đó tôi thấy sự khác biệt về thi cử giữa hai hệ thống: ở Mỹ dạy cho đậu chứ không dạy cho rớt, ở VN không thật xuất sắc là rớt như chơi.

Bonus vui: Một đứa đi thi, cả nhà mệt nghỉ!

Chưa thấy một người làm quan, cả họ được nhờ, mà chỉ thấy cả nhà mệt nghỉ vì đứa con đi thi. Bố lo tiền cho con đi học kèm thêm suốt năm, mẹ nấu chè nấu cháo ăn dặm ban đêm cho có sức khoẻ, giữa khuya lại thức giấc quát con ơi đi ngủ thôi con kẻo mai không dậy đi học nổi! Bà nội ngày rằm mồng một sì sụp khấn vái xin Trời Phật phù hộ cho cháu nó thi đỗ phen này, bảng vàng đề tên, không hổ danh giòng họ.

Ngày đi thi bố chuẩn bị dầu nhớt cho chiếc xe từ mấy hôm trước để đưa sĩ tử đi đến nơi về đến chốn. Mẹ nấu món ăn cho lành, bổ dưỡng, dễ tiêu, để không bị đau bụng đau bão. Nhất định phải có chè đậu, phải nấu bằng đậu đỏ cho may mắn, không nấu đậu đen, và tuyệt đối không cho ăn chuối hay trứng gà trứng vịt những ngày này, nhất định không cho cơ hội trượt vỏ chuối hay lãnh trứng vịt!

Đến ông anh trong nhà chẳng muốn quan tâm gì mà cũng bắt buộc trở nên “hữu dụng”: “Ra đầu ngõ đứng đi con!”. Thế là ngày nào sĩ tử cũng ra ngõ gặp trai, hên cách gì! Sau đó thì anh xách xe chạy theo đuôi bố, nhỡ xe bố trở chứng nằm ẹp là có tài xế dự khuyết trám chân vào ngay! Không nhiêu khê như nhân vật trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố ngày xưa, nhưng toàn thể tiểu gia đình cũng không kém phần sôi động vất vả.
Đại gia đình trong hai họ nội ngoại cũng chăm chăm vào. Con bác A, con chú B, con cô C, đều cũng đi thi năm nay đấy nhé. Chúng mày cố gắng hết sức mình nhé. Thi đậu thì mới có tương lai nhé. Thi rớt là tàn đời con ạ. Giờ mà không cố gắng, sau này có hối cũng muộn rồi con ạ! Bao cái “nhé! nhé! ạ! ạ!” ấy càng làm cho thí sinh tăng thêm xì trét (stress), phen này mà lỡ thi rớt thì chỉ có chít!

Hàng xóm cũng mặc tình “quan trên trông xuống, người ta trông vào”. Đến ngày toàn quốc ứng thí mà thấy cô ả áo dài tươm tất, mặt mày tái nhợt, lủi thủi theo xe bố bước ra đầu ngõ là ai cũng nhận biết ngay cái mặt “tội đồ đi thi” đây rồi, chẳng dấu vào đâu được. Các bác hàng xóm, các anh chị lớn, các em bé, v.v. đều mỉm cười thông cảm, ngấm ngầm gửi lời chúc thiện, làm mức độ xì trét lại tăng lên vụt vụt.

Chín tháng cặm cụi gạo bài, ba ngày căng thẳng loay hoay, gặm bút, viết viết, xóa xóa, đến khi khổ nạn qua rồi thì thí sinh trở nên xẹp lép như bong bóng xì hơi, ỉu xìu như chiếc bánh bao chiều, tả tơi như chiếc mền rách!

Kết quả rồi cũng được niêm yết, đứa đậu, người rớt. Học sinh trường công thì kết quả đậu rất cao. Tỉ lệ đậu toàn quốc chỉ độ 70% cho tú II, nhưng trong trường “top” của tôi, lớp 50 học sinh chỉ có một bạn rớt, còn lớp bên cạnh 100% đậu.

Trường của tôi là trường top của nữ sinh miền Nam và có một truyền thống rất tốt đẹp và rất… hậu hỉ. Mỗi học sinh đậu bình được thưởng một bông mai bằng vàng 18 karat, nho nhỏ xinh xinh, biểu tượng của trường, đường kính độ 1.8cm (nửa chỉ?), còn học sinh đậu ưu và tối ưu được thưởng một bông mai hơi lơn lớn xinh xinh, đường kính độ 2cm. Thời đó vàng rẻ, và hội phu huynh tài trợ. Năm lớp chúng tôi lãnh thưởng hoa mai vàng có tổng thống và bà Nguyễn văn Thiệu đến trường dự lễ và đọc diễn văn khen thưởng. Sau này các chị lớn kể với thầy cô rằng nhờ chiếc bông mai vàng của trường tặng thưởng mà các chị đã bán đi lấy tiền thăm nuôi chồng học tập tại các trại cải tạo, hay trao cho chồng cầm đi làm của hộ thân trên đường vượt biên.

Trong hàng xóm hay trong họ hàng thì khác, phản ánh tình hình chung, có đậu có rớt, độ 50/50. Tôi cứ nghĩ mà xót xa cho những bạn đã cố gắng hết sức mình mà vẫn ôm hận. Bố mẹ lại được dịp hể hả so sánh con mình với con nhà khác. Tội nghiệp bố cả đời vất vả chỉ mãn nguyện có bấy nhiêu, và chỉ được báo hiếu có bấy nhiêu, rồi thì bố mất sớm khi con chưa thành tài, sau này mỗi lần lãnh lương rủng rỉnh chẳng có dịp mua quà biếu bố cho bố vui.

Rồi mùa mưa kéo qua mùa thi
Rồi em cũng bỏ trường mà đi!

Đó là hai câu thơ một bạn trong trường viết ra. Tú tài II là chặng đường cuối, kết thúc tuổi học trò thơ ngây và đánh dấu tuổi vào đời. Ngày xưa bậc trung học kéo dài 7 năm dưới cùng một mái trường, nên cuộc chia tay với thầy cô, bạn bè, lớp học, sân trường, phấn trắng, bảng đen, v.v. không ít bịn rịn.

Rồi từ đó mỗi kẻ một nơi!

Sau này gặp lại, bọn tôi cùng nhau ôn lại những kỷ niệm đi học, đi thi ngày xưa. Kiến thức miệt mài nấu sử sôi kinh đã quên gần hết, nhưng điều không quên đi, không mất đi, là cái đạo đức, cái nền nếp làm người mà thầy cô đã dạy dỗ uốn nắn cho ngày xưa. Cách sống cho ra người ấy đã giúp cho học trò của thầy cô ngày xưa vươn lên ở bất cứ mọi nơi, khắc phục mọi khó khăn, vượt qua mọi trở ngại, chinh phục mọi môi trường mới, chinh phục lòng người, tạo dựng một chỗ đứng trong đời cho mình và tìm cơ hội chăm lo lại cho người khác.

Chính cái môn không hệ số, không thi cử này lại là cái vốn sống trong suốt cuộc đời.

Viện đại học Đà lạt ngày xưa đã lấy tên là Đại học Thụ Nhân, trích từ câu nói của Quản Trọng thời Xuân Thu, và có khắc câu ấy hai cột trụ hai bên cổng trường:

“Nhứt niên chi kế mạc như thụ cốc, (vì lợi ích một năm hãy trồng lúa,
“Thập niên chi kế mạc như thụ mộc (vì lợi ích mười năm hãy trồng cây,
“Chung thân chi kế mạc như thụ nhân” (vì lợi ích cả đời hãy trồng người)
(có nơi ghi: “Bách niên chi kế mạc như thụ nhân” (vì lợi ích trăm năm hãy trồng người)
Chúng tôi đồng ý với nhau chúng tôi là những sản phẩm nhà trường đã “trồng” được trong những năm tháng dưới mái trường xưa, và đã không để nhà trường và thầy cô phải hổ thẹn!

Chú thích thêm :

Năm 1945, gs Hoàng Xuân Hãn tham gia Nội Các Trần Trong Kim với chức vụ Bộ Trưởng GD và Mỹ Thuật . Ông triệu tập các trí thức Nam, Trung, Bắc không phân biệt lập trường Chính Trị, Quốc Gia hay CS thành lập Chương Trình GD bằng chữ Quốc Ngữ tại trường Quốc Học Huế trong thời gian kỹ lục. Các vị gs gồm có : Phạm Đình Ái (Lý Hóa), Nguyễn Thúc Hào (Toán), Nguyễn Dương Đôn (Toán), Hồ Hữu Tường (Toán), Nguyễn Huy Bảo, LM Nguyễn văn Hiền (Triết), Tạ Quang Bữu (Vật Lý), Ưng Quả (Pháp Văn), Hà Thúc Chính (Anh văn), Ngô Đình Nhu (Sử Địa), Hoài Thanh, Đào Duy Anh (Việt Văn), Lê văn Căn, Nguyễn Hữu Quán (Vạn vật) v.vv

Vì hầu hết các vị gs đã từng học bên Pháp nên chương trình theo rất sát chương trình Trung Học của Pháp . Trong Giáo giới người ta gọi chương trình này là chương trình Hoàng Xuân Hãn

(Theo quyển Khoa Cử và Giáo Dục Viet Nam, gs Nguyễn Q Thắng ).

Hôm các gs hoàn tất soạn thảo , gs Hãn dự định tổ chức một bửa tiệc cám ơn các gs tại trường QH, thì lại đúng ngay ngày các ông Trần Huy Liệu, Huy Cận … ( Tướng Trần Độ khi đó là SQ Đại Đội Trưởng theo hộ tống ) vào Huế ép Bảo Đại từ chức, trao Ấn Kiếm). Phía Việt Minh đến hỏi chương trình đâu, mọi người chỉ gs Phạm Đình Ái đang giữ trong cập tạp. Phái đoàn VM liền dẩn gs Ái về Hà Nội rồi sau đó đem luôn ra chiến khu. Đến năm 1952, gs PDA mới trốn về được. Về sau, gs PDA dạy Vật Lý trường Chu văn An, Sài Gòn

Chương trình này được đem áp dụng tại miền Bắc và Trung, riêng miền Nam đến giữa thập niên 50 mới đem áp dụng vì Pháp trở lại miền Nam khi đó .
(st)

Image may contain: one or more people and outdoor

Đồng Chí TRẦN PHÚ, Ông là ai ?

Image may contain: 1 person
Nguyễn MễnFollow

Chuyện bây giờ mới kể.

Đồng Chí TRẦN PHÚ, Ông là ai ?
————————

Hôm nay cha Sở Chợ Quán PX Lê văn Nhạc gửi lại cho tôi bài có kèm hình ảnh.
1: Ông Trần Phú
2. Bàn thờ Đức Mẹ ở Bệnh Viện Nhiệt Đới
3. Tượng bán thân ông Trần Phú tại Bệnh viện Nhiệt Đới
4. Hình Cha FX Lê văn Nhạc, giáo xứ mừng thọ 70 năm 2013 (cha sẽ nghỉ hưu tại giáo xứ Hạnh Thông Tây sau ngày 19/7/2018)
————————-

Đồng Chí TRẦN PHÚ, Ông là ai ?

Nhật Báo “Sài gòn Giải Phóng” vào một ngày trong thượng tuần tháng 12 năm 1998 (không nhớ rõ ngày và sô báo) đã chạy một tít lớn ở trang đầu, bên cạnh tấm ảnh chân dung Đồng chí Trần Phú :

“Tại sao Đồng chí Trần Phú lại được an táng trong Đất Thánh Họ Đạo Chợ Quán?”
———————-

Câu chuyện được kể như sau :

Sau khi Họ Đạo Chợ Quán được thông báo phải cải táng tất cả các ngôi mộ trong Đất Thánh (Nghĩa trang Công giáo) ở số 875 đường Cách Mạng Tháng 8, Quận 10 (Cư xá Bắc Hải) Tp.HCM. để Nhà Nước sử dụng làm Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng,

Một hôm trong lúc cải táng, giáo dân đã phát hiện một ngôi mộ có tấm bia mang tên “Trần Phú”.(Đồng chí Trần Phú là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam 1/5/1904 – 6/9/1931).

Giáo dân đã khai báo cho Chính Quyền. Chính Quyền đã cho cải táng, làm lễ truy điệu rồi đưa về chôn cất tại Nghĩa trang Thành Phố.
————————-

Nhật báo Sài gòn Giải Phóng đặt câu hỏi :

”Tại sao Đồng chí Trần Phú lại được an táng trong Đất Thánh Họ Đạo Chợ Quán ?

Bởi vì từ bao nhiêu năm nay, không ai biết mộ Đồng chí Trần Phú ở đâu, đến nay mới phát hiện trong Đất Thánh Họ Đạo Chợ Quán ?

Nhiều độc giả đã đọc được tin này, trong số đó có một nhà cách mạng lão thành ở tỉnh Trà Vinh biết truyện, đã viêt lại trong một lá thư dài rồi gởi đến địa chỉ Cha Chánh Sở Họ Đạo Chợ Quán, 120 Trần Bình Trọng, P.2-Q.5- Tp.HCM. lúc đó là Cha Phanxicô Xaviê Lê Văn Nhạc. Cha Sở Chợ Quán nhận được lá thơ này và khi đọc xong mới biết câu chuyện của Đồng chí Trần Phú.
———————————–

Theo nhà cách mạng lão thành ở Trà Vinh kể :

Lúc đầu, đồng chí Trần Phú bị quân Pháp bắt giam ờ “Bót Catinat” (nay ở đầu đường Đồng Khở), nơi giam giữ các tù nhân Cộng Sản.

Tại đây, gần Nhà thờ Chánh Tòa Đức Bà Sài gòn , các hội đoàn Công giáo của Nhà thờ Đức Bà Sài gòn được ra vào thăm viếng các tù nhân dễ dàng, chỉ cần xuất trình một bức ảnh Đức Mẹ cho Ông Tây đen giữ cửa là vào được.

Một thời gian sau, khi Ông Trần Phú ngã bệnh nặng do tra tấn độc ác, quân Pháp mới chuyển Ông về giam ở dãy “chuồng cọp” trong Nhà Thương Chợ Quán thuộc Họ Đạo Chợ Quán, (nay là Bệnh viện Nhiệt đới, số 764 Đường Võ Văn Kiệt, P.1-Q.5-TpHCM).

Ở đây có các Dì Phước Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán chăm sóc các bệnh nhân và vào Thứ bảy hàng tuần có Linh mục Họ Đạo Chợ Quán đến cử hành Thánh lễ cho các bệnh nhân. Một bàn thờ Đức Mẹ hiện nay vẫn còn nằm ở bên trái từ cỗng nhìn vào.

Ông Trần Phú thường xuyên được các Hội đoàn Họ Đạo Chợ Quán đến thăm hỏi, chăm sóc, đồng thời cũng gợi ý cho Ông biết chút ít về Thiên Chúa. Sau đó các đoàn thể tiếp tục đến viếng thăm và dạy giáo lý cho các bệnh nhân, các tù nhân ở đây, đồng thời chuẩn bị cho họ được lãnh nhận Bí tích Rửa Tội trước khi chết.

Ông Trần Phú cũng được ở trong trường hợp này. Trước khi chết, giáo dân rước Cha Sờ Họ Đạo Chợ Quán – lúc ấy là một Cố Tây – đến rửa tội cho Ông. Rồi sau khi chết, giáo dân làm lễ an táng và đem chôn cất Ông trong Đất Thánh Họ Đạo Chợ Quán, như một giáo dân của Họ Đạo. Đó là câu trả lời cho vấn nạn trên nhật báo Sài Gòn Giải Phóng.
———————

Hiện nay, Nhà Nước đã cho đặt một pho tượng bán thân bằng đá của Ông Trần Phú trước chuồng cọp, nơi Ông đã từng bị giam giữ và đã chết, tại Bệnh viện Nhiệt Đới Chợ Quán, trên đường vào Khu Cấp Cứu, ở bên phải bệnh viện, từ cỗng vào.

***
Sau khi biết được những thông tin này, Cha Sở Chợ Quán FX. Lê Văn Nhạc đã tìm trong Sổ Rửa Tội của Họ Đạo Chợ Quán vào khoảng năm 1930 – 1940 và đã tìm thấy một trang chỉ ghi : Ông Phêrô Trần Phú, không có thêm chi tiết nào khác. Bên dưới có chữ ký của một Linh mục người Pháp. Cha Sở đã cắt trang tin của nhật báo Sài gòn Giải Phóng, kèm theo tờ photocopy Sổ Rửa tội Ông Phêrô Trần Phú và lá thư của nhà cách mạng lão thành ở Trà Vinh, rồi để chung vào một phong bì, ghi trên phong bì : “Hồ sơ Ông Trần Phú”. Cha đem gởi cho Tòa Giám Mục Sài gòn để cất giữ trong Văn Khố Tòa Giám Mục, xem như một chứng tích lịch sử.
Viết tại Họ Đạo Chợ Quán, ngày 03.07.2018

Linh mục FX.Lê Văn Nhạc