Khang Truong Trong is with Son Cao and Son Cao.
Cả tên nó cũng không dám nói, nhục nhã cho chúng mày

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Việt Nam, Tin Cộng Đồng
Cả tên nó cũng không dám nói, nhục nhã cho chúng mày
Nếu hôm nay là ngày cuối cùng: Các bạn sẽ làm gì?
Lũ tí hon đần độn dưới kia, chúng bây có biết MẤT NƯỚC LÀ GÌ không vậy ??
Nghệ sĩ Hồng Nhung, vợ anh hề Xuân Bắc bảo với tôi là chị ấy đã viết đơn xin ra khỏi đảng Cộng sản Việt Nam, chị ấy cũng đã mạnh mẽ chia sẻ những bài viết nhạy cảm của tôi.
Tôi tự hỏi, nếu vừa rồi mình không viết vài bài tâm huyết bênh vực chị ấy, liệu chàng diễn viên nổi tiếng, học trò của chị ấy cho tới các nghệ sĩ, báo đài có lên tiếng bênh vực chị ấy nữa hay không?
Cũng có tới hai tổng biên tập vào kết bạn với tôi, nhiều nghệ sĩ cho tới các bạn trẻ chưa một lần bày tỏ quan điểm về tình hình đất nước thì nay đã mạnh mẽ bày tỏ.
Tất nhiên, với những người như ông Lại Văn Sâm (tiếng là nhà báo nhưng cả đời chỉ vui lạc trên sân khấu, ông ấy mới tuyên bố rằng những chủ tài khoản facebook bày tỏ lòng yêu nước kia đang mạo danh ông ấy, ngoài ra ông ấy không bình luận gì thêm) hay chàng phóng viên Lê Kiên bên báo Tuổi Trẻ (kẻ bồi bút được cho tiền đi du lịch, ca ngợi đặc khu Thâm Quyến và gọi những người phản đối đặc khu là đặc ngu) thì với tôi, không thể gọi họ là nhà báo!
Các bạn có biết không? Thâm Quyến, trông xa hoa, lộng lẫy là thế, nhưng đằng sau vẫn là những giọt nước mắt, những thân phận đáy cùng của xã hội.
Theo số liệu mà tôi nhận được, vào năm 2003, có tới một nửa số công ty ở Thâm Quyến nợ lương nhân viên, có ít nhất 1/3 công nhân nhận lương dưới mức tối thiểu.
Trung Quốc, mang tiếng là một quốc gia siêu cường, nhưng thực ra phần lớn dân Trung Quốc không có đủ tiền để đi du lịch Thâm Quyến.
Trung Quốc, được mệnh danh là nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nhưng nhanh là nhờ vào việc chúng khai thác tài nguyên một cách vô tội vạ, tài nguyên nước chúng quá nhiều, diện tích quá lớn, dân số quá đông, phần lớn bị bóc lột đến cùng cực, mức chênh lệch giàu nghèo cao, rồi cả bệnh tật, ô nhiễm,… Trung Quốc không thiếu gì những làng ung thư, bản thân Bắc Kinh cũng được các nhà khoa học coi là thủ đô ung thư của thế giới.
Cho nên, bản thân người dân trong nước còn bị đối xử như thế, còn không được dùng facebook, thứ hạng công dân thấp kém được đánh giá thông qua tấm hộ chiếu, nạn buôn bán nội tạng, buôn bán trẻ em hoành hành… thì mong gì chúng đối xử tốt với thế giới.
Còn với Việt Nam thì sao?
Có những đế quốc xa lạ chỉ đến xâm chiếm một lần rồi đi. Còn với Trung Quốc, tiếng là người bạn trung thành xuyên suốt chiều dài lịch sử nhưng chưa bao giờ chúng coi Việt Nam là bạn ! Cái mà được gọi là đặc khu với thời hạn cho thuê 99 năm kia thực chất là kịch bản do Tập Cận Bình vẽ ra chứ chẳng phải ai khác, ý đồ tái chiếm đã quá rõ ràng.
Việt Nam cũng rất muốn tự lập nhưng khổ nỗi đang đứng trước nguy cơ vỡ nợ, cho nên việc hôm nay các bạn mới bày tỏ hình như là hơi muộn.
Có người bảo tôi nước nào mà chả nợ. Đúng vậy, ai ra đời cũng phải nợ, nhưng có người làm được, trả được, còn có người sinh ra đã ăn tàn phá hại, chúng sinh ra chỉ để nợ.
Khi gần chết đói, không ai cho vay nữa thì chúng vòi vĩnh mẹ cha, rồi chúng bán cả ruộng vườn, đất cát, mồ mả tổ tiên nếu mà bán được, chúng cũng đào lên bán.
Cuối cùng, cho tôi hỏi thật nhé, các bạn có lo cho con cái của mình hay không? Các bạn có nghĩ rằng một ngày nào đó khi các bạn chết đi, con cháu nhà các bạn – trong thân phận nô lệ sẽ thắp hương lên bàn thờ rồi hỏi vào thời điểm chúng con bị đe dọa, sao bố mẹ không nói gì? bố mẹ đang ở đâu?
Các bạn có bao giờ hối tiếc về sự vô cảm của mình hay không? Và nếu như hiểu ra điều gì đó, nếu hôm nay là ngày cuối cùng, các bạn có dám bày tỏ chính kiến với tư cách một con người hay không?
Đỗ Cao Cường
From: Tu-Phung
Dối trá hay mộng ảo?
Nguyễn Thùy Dương
Trong hàng ngàn cuộc cướp đất diễn ra trên đất nước này, việc để nổ một quả bom như Thủ Thiêm tạo tiền đề cho những con người đi đòi quyền lợi vốn dĩ thuộc về mình.
Người Việt có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Mở ra Thủ Thiêm thì dễ, đóng nó lại thì quá khó. Nó chỉ dễ khi người giải quyết thật lòng, có thiện chí. Hoặc dễ đối với loài thú đội lốt người “cùng hung, cực ác”. Muốn biết chính quyền ta thuộc loại nào cứ nhìn cách họ giải quyết vấn đề.
Khi có tin đồn, thành phố chuẩn bị 3.000 tỷ để đền cho dân 4,3 ha tại Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm. Tôi phải cười sặc cả nước. Đầu tàu kinh tế cả nước, nộp về trung ương khoảng 80% ngân sách. Để duy trì sự sống cho chính quyền thành phố còn khó, 3000 tỷ đào đâu ra. Muốn xây nhà hát giao hưởng Thủ Thiêm, thành phố phải bán mảnh đất vàng 1.500 tỷ. Ngân sách nhà nước thì truy nợ mỗi ngày, 3000 tỷ là do nằm mơ ảo ảnh hay mộng du hơn 10 lần trúng Vietlot giải lớn nhất mà có? Huống hồ gì cái sai của chính quyền Tp. HCM đối với Thủ Thiêm không phải nằm trong 4,3 ha với 321 hộ hoặc 331 hộ mà là toàn bộ gần 960 ha, với hơn 14.000 hộ dân bị ảnh hưởng. Liên tục nhắc tới 321 hộ, rồi 331 hộ ở 4,3 ha trước báo chí và dư luận nhằm giảm thiểu tối đa số hộ bị ảnh hưởng, số diện tích liên quan. Vậy có thật thà, có thiện chí hay không? Liên tục dùng tin ảo, tiền ảo để mụ mị người dân 4,3 ha nhằm nhấn chìm hơn 14.000 hộ bị ảnh hưởng liệu có Nhân Tính chăng?
Qua hai ngày tiếp xúc với dân 4,3 ha vào ngày 19-20/7/2019, chuyện đền bù cho những hộ dân về họp bị dân chửi thề vào mặt vì độ “có học, có đạo đức” của cán bộ ta. Bằng kinh nghiệm nhiều lần bị chơi xỏ, ví dụ: “phát nước suối kêu kí nhận về đổi thành kí đồng ý không khiếu nại, khiếu kiện về sau chẳng hạn”, dân 4,3 ha đã nhận ra mình không khéo thành tội đồ với toàn dân Thủ Thiêm. Và họ không hề thiện chí khi vẫn cố ăn gian từng mét đất, từng kẽ hở để cướp lần hai.
Vậy tiền đâu để đền cho dân, tôi xin phép nói thẳng. Dù cái thẳng này có thể mang tới bất lợi cho tôi. Tiền đâu đền à? Dùng ngân sách Nhà nước đền cho người dân mất đất, mất thanh xuân, mất cuộc đời, mất niềm tin… Trung Ương thu về khoản 80% thu nhập của Tp. HCM đã khi nào Trung Ương nghĩ đến trách nhiệm với “dân nghèo” thành phố HCM? Ở đây, tôi tránh dùng từ dân oan vì án có được lập đâu mà gọi là dân oan. Còn ai cố tình không lập án thì kẻ đó tự biết. Thu về 80% nguồn thu để rồi khi “nguồn thu” vỡ nợ, ngoảnh mặt coi có đặng không? Thu về gần hết nguồn thu của Tp để đến khi dân Tp cần được bồi thường đúng thì bắt Tp tự chịu. Mình vẫn thu cho đủ của mình liệu có hợp lòng dân không? Mở ra đại án chỉ thoả mãn tính dân tuý, thoả mãn sự kiềm nén của Nhân Dân biến một nhân vật hoặc tập thể nào đó thành hình tượng anh hùng. Thì anh hùng đó không đúng nghĩa rồi!
Anh hùng thực sự làm việc gì thì mục đích cuối cùng vẫn là lợi ích của Nhân Dân. Mà lợi ích đó phải được chứng minh cụ thể qua hành động và kết quả. Nói Trung Ương không liên quan đến đau khổ, bần cùng của Nhân Dân các tỉnh thành trên đất nước này là Nguỵ Biện, là Vô Trách Nhiệm.
Nguồn: FB Nguyễn Thùy Dương
hẻm 188 Tam Bình, phường Tam Phú (quận Thủ Đức, TP.HCM) vẫn chưa hết bất ngờ khi 3 trẻ bị điện giật tại công trình thi công đường Vành Đai 2.
Vụ việc làm bé Lê Minh Châu (10 tuổi, quê Bình Thuận) và Trương Đặng Văn Bình (10 tuổi, quận Thủ Đức) tử vong. Bé gái Trương Đặng Bích Ngọc (13 tuổi) bị thương nặng, phải nhập viện cấp cứu. Trong các nạn nhân, bé Bình và Ngọc là chị em.
Anh Trương Văn Hòa chạy ra thì thấy con bị điện giật nên cởi áo làm bao tay rồi kéo bé Bình, bé Ngọc ra ngoài.Anh định cứu bé Châu nhưng luồng điện 3 pha quá mạnh nên không thể tiếp cận.
Theo người dân, đường Vành Đai 2 qua khu vực được thi công từ đầu năm đến nay. Bãi đất trống tại công trình là nơi nhiều trẻ em khu phố hay ra chơi đùa vào buổi chiều.
Nếu chuyện này là thật thì nguy hiểm quá, Vì căn cứ Ream ở gần sát đảo Phú Quốc của ta !
Nếu Phú Quốc trở thành đặc khu cho Tàu thuê thì ….

NLD.COM.VN


Fb Huynh Ngoc Chenh
CHUYỆN Ở BÃI TƯ CHÍNH VÀ QUYỀN ĐƯỢC BIẾT CỦA DÂN
Trung cộng đã đưa tàu vào vùng đặc quyền kinh tế của VN ở bãi Tư Chính để quấy phá và thăm dò dầu khí cả nửa tháng nhưng người dân không hề biết chính thức.
Các chiến sĩ hải quân phải đối đầu với chúng rất căng thẳng qua chừng đó ngày trời trong âm thầm và đơn độc.
100 triệu dân không hề biết về cuộc chiến nguy hiểm và cam go nầy. 100 triệu dân không hề có thông tin gì về việc xâm phạm chủ quyền nghiêm trọng và kéo dài chưa biết bao giờ mới chấm dứt của Trung cộng.
Nếu không có những thông tin không chính thức từ các nguồn tin nước ngoài thì liệu nhà cầm quyền còn giấu nhẹm sự việc nghiêm trọng nầy đến bao giờ?
Tại sao giặc đến trước cửa nhà lại không cho dân biết, lại không la làng lên phản đối và la lên cho cả thế giới biết trong suốt nửa tháng trời?
Điều đó chỉ giải thích được khi hiểu rằng, khi sự việc xảy ra, nhà cầm quyền nghĩ ngay đến “đại cục” nghĩa là đến lợi ích của Tàu cộng và cũng là lợi ích của đảng chứ không nghĩ đến lợi ích của đất nước và của toàn dân. Nhà cầm quyền biết rằng khi la lên phản đối hành động xâm phạm sai trái của Tàu cộng, chắc chắn sẽ làm chóp bu ở Trung Nam Hải nổi giận, đảng sẽ gánh nhận mọi phiền hà, bởi đảng đã dựa quá sâu vào chúng nó để tồn tại. Thêm vào đó, nếu đảng phải nhượng bộ gì đó với Tàu cộng để được yên thân thì người dân cũng không biết để phản đối, hoặc biết thì cũng chuyện đã rồi như vụ mất một phần lớn thác Bản Giốc.
Một nửa tháng để các chiến sĩ tiền tiêu chiến đấu trong âm thầm cô độc, 100 triệu dân không hề biết đến để lên tiếng ùng hộ động viên khích lệ là một tội ác lớn.
Người dân có thề không cần biết các chiến sĩ chiến đấu theo phương cách nào, nhưng phải biết, họ đang chiến đấu với kẻ thù ngày đêm.
Giấu nhẹm mọi thông tin về việc chủ quyền đất nước đang bị đe dọa là nhà cầm quyền đã tỏ ra hoàn toàn không tin vào người dân, khinh thường người dân và sợ hãi người dân về một điều ám ảnh nào đó.
Ám ảnh đó đã được ông chủ tịch nước nói trắng phớ ra là “thế lực thù địch” trong dân. Phát ngôn đầu tiên của ông khi trở lại làm việc không nói về mối đe dọa của giặc ngoại xâm ở bãi Tư Chính mà nhắm ngay vào dân, sợ trong dân có kẻ lợi dụng lòng yêu nước để gây nguy hại cho đảng.
Đáng buồn, nỗi sợ hãi đó của ông Trọng đã được một nhóm nhà báo nhanh nhạy nắm bắt hoặc được mớm ý trước nên tiếp tay bưng bít thông tin hoặc cuồng nhiệt ủng hộ sự bưng bít thông tin về căng thẳng ở bãi Tư Chính đối với người dân. Lẽ ra họ phải là người đi đầu trong việc đấu tranh cho quyền được thông tin của người dân, họ lại làm ngược lại.
Không cần mọi người khinh miệt, nhóm nhà báo đó đã tự khinh miệt chính mình khi đảng của họ buộc lòng phải công bố sự thật về diễn biến ở bãi Tư Chính.

Hơn 50 luật sư ký kiến nghị bảo vệ “quyền hành nghề hợp pháp” của LS Trần Vũ Hải
Cho tới chiều ngày 19/7/2019, có khoảng 55 luật sư đang làm việc ở Việt Nam đồng ý ký tên vào bản Kiến nghị “Liên quan tới hành động xâm phạm quyền hành nghề hợp pháp của luật sư thông qua việc khám xét Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải ngày 02/7/2019”.
Luật sư Ngô Anh Tuấn, một trong những luật sư khởi xướng bản kiến nghị cho chúng tôi biết thông tin này và ông hy vọng rằng sẽ được các lãnh đạo xem xét. Luật sư Tuấn nói qua điện thoại:
“Chúng tôi gửi đi đến rất nhiều cơ quan và những người cầm quyền, hiện tại trong đó có 12 tổ chức và cá nhân đó thì chắc chắn sẽ có phản hồi.
Tất nhiên có chỗ trả lời, có chỗ không tuy nhiên là sẽ có hiệu quả một phần nào đó. Chúng tôi cũng không quá kỳ vọng nhưng tôi nghĩ rằng đây là những yêu cầu chính đáng, hợp pháp nên nó sẽ được xem xét thôi. Còn sự thật khách quan của vụ án, trốn thuế như thế nào thì qua quá trình điều tra sẽ rõ thôi.
Những gì cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì ở đây là cơ quan điều tra có động thái làm sai thì chúng tôi có những kiến nghị, và những kiến nghị này là phù hợp nên sẽ được họ ghi nhận.”
Bản kiến nghị đề ngày 15/7/2019 gửi tới 11 lãnh đạo cao cấp của Việt Nam hiện nay cùng với Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội chỉ ra những điểm nghi vấn bất thường trong việc khởi tố và khám xét Văn phòng ông Trần Vũ Hải hồi đầu tháng.
Cụ thể, có 4 nghi vấn được nêu ra, trong đó nổi bật là việc Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an sau sự vụ này cũng ra thông báo không cấp giấy đăng ký bào chữa cho luật sư Trần Vũ Hải mặc dù ông này đã đăng ký bào chữa cho bị can hơn 3 tháng trước và liên tục có khiếu nại.
Các luật sư đặt câu hỏi rằng, phải chăng việc khởi tố bị can này là nhằm ngăn cản ông Hải bào chữa cho thân chủ của mình theo luật định?
Đây là sự việc blogger Trương Duy Nhất trong khi xin qui chế tị nạn chính trị với Liên hiệp quốc ở Thái Lan đã đột nhiên có mặt một vài ngày sau đó ở Việt Nam và mấy tháng sau được thông báo là bị bắt và khởi tố với cáo buộc “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” liên quan đến Vũ Nhôm.
Luật sư Trần Vũ Hải được thân nhân blogger Trương Duy Nhất mời làm đại diện pháp lý trong vụ việc mới nhất này
Luật sư Ngô Anh Tuấn, thuộc Đoàn luật sư Hà Nội cho biết thêm, ông chỉ hy vọng vào sự lên tiếng của luật sư và hiện tại chưa cần thiết có sự tham gia của người dân vì luật sư mà “không bảo vệ được mình thì đừng có hy vọng bảo vệ được người khác”.
Nhà báo Mỹ: “Giao thông Việt Nam là một kỳ quan”
Một nhà báo Mỹ khi đến với Việt Nam đã nhận xét: “Điều làm tôi ấn tượng nhất chính là giao thông Hà Nội: “Một trong những kỳ quan của thế giới”. Nó là kỳ quan, không phải bởi vì nó tệ hại mà bởi vì nó vận hành theo một cách đáng kinh ngạc.”
Llewellyn King, giảng viên, diễn giả, phóng viên, nhà báo kiêm dẫn chương trình truyền hình của tờ Huffington Post, đã nhiều lần đến Việt Nam. Mới đây, khi trở lại Hà Nội, ông đã vô cùng thích thú với giao thông tại thủ đô Hà Nội của Việt Nam.
Trong bài viết mới nhất được đăng tải trên trang HuffingtonPost, nhà báo Llewellyn King đã miêu tả về giao thông Hà Nội dưới một góc nhìn rất hài hước và thú vị:
“Tôi muốn kể cho các bạn nghe về Việt Nam: Về con người, văn hóa, kinh tế… nhưng chưa thể.
Cũng giống với rất nhiều du khách khác khi ghé thăm Hà Nội, tôi không quá chú ý đến những con đường rộng dài cổ điển có từ thời Pháp thuộc hay con đường gốm sứ kể nên câu chuyện lịch sử, những kiến trúc độc đáo, những công viên xanh tươi giữa lòng thành phố, hay những món ăn tuyệt vời kết hợp giữa ẩm thực Pháp và những gì thuần chất Việt Nam. Điều làm tôi ấn tượng nhất chính là giao thông Hà Nội: “Một trong những kỳ quan của thế giới”. Nó là kỳ quan, không phải bởi vì quá tệ hại, như những thành phố khác trên thế giới, mà bởi vì nó vận hành theo một cách đáng kinh ngạc.
Ở Hà Nội, nhiều tuyến đường (trừ những tuyến đường lớn) không có đèn giao thông cũng như biển chỉ dẫn dừng xe hay nhường đường. Các xe di chuyển với tốc độ khoảng 25km/h, có thể nhanh hơn, có thể chậm hơn tùy vào khoảng thời gian trong ngày.
Nhìn vào những con đường của Hà Nội có thể thấy dòng người đi lại như những đàn kiến, đi lại thật hỗn loạn theo một cách lịch sự. Ở đây, chỉ có 1 quy tắc cơ bản nhất là đi bên phải đường, còn những luật khác thì… “ngẫu hứng”.
Tại khu trung tâm thành phố, người dân chủ yếu sử dụng các loại xe ga và những chiếc xe máy nhỏ gọn, trong đó có cả những chiếc xe điện, xe độ và thậm chí cả xe đạp. So với 20 năm về trước khi tôi cũng ghé thăm thành phố này, xe đạp đã gần như biến mất.
Với hơn 3 triệu xe máy tham gia giao thông hàng ngày, người điều khiển xe phải có kĩ năng, ý thức và sự can đảm. Họ lượn, né, phanh, bẻ lái, tăng tốc, giảm tốc… như trong một vở ba-lê không kịch bản với hàng triệu vũ công.
Ở đây cũng có ô tô nhưng đó chỉ là số ít. Những chiếc ô tô thả mình vào dòng xe nườm nượp với sự tự tin, dũng cảm mà tôi không bao giờ có được. Tôi sẽ không dám lái xe đâu vì tôi e rằng sẽ đâm vào hàng chục người đi đường mất. Bạn không chỉ cần sự kiên nhẫn mà còn cần phải có sự can đảm để biết về “dòng sông của xe máy” – một dòng sông không bao giờ kết thúc, sẽ chảy như nào.
Ngồi trên xe taxi, tôi nín thở khi nhìn thấy những người già trẻ gái trai lao vun vút trên chiếc xe máy, không khác gì những tay đua giải NASCAR. Nên nếu có ai đó nghiên cứu thủy động lực học, các nhà xã hội học nên tìm hiểu dòng giao thông đáng kinh ngạc nơi đây.
Nếu muốn qua đường, hãy lấy hết can đảm bước vào kỳ quan hỗn loạn với niềm tin rằng những tài xế trên đường sẽ tránh bạn thôi. Ai biết được chỉ việc ngắm nhìn giao thông cũng thú vị thế này chứ? Chỉ cần nhìn thế thôi, chuyến đi của bạn cũng đã thực sự đáng giá rồi. Có thể sắp tới tôi sẽ phải kiếm cho mình một chiếc xe độ thôi.”
(Nguồn: Huffington Post)

Dương Hoài Linh: MÀN HÀI KỊCH MANG TÊN BÃI TƯ CHÍNH.
Bãi Tư Chính nằm ở đâu?
Việt Nam tuyên bố bãi Tư Chính nằm trên thềm lục địa phía nam, không thuộc quần đảo Trường Sa và bác bỏ sự gán ghép bãi này vào quần đảo Trường Sa.
Đài Loan và Trung Quốc quan niệm bãi này thuộc quần đảo Nam Sa. Khu vực bãi Tư Chính đã nhiều lần là đối tượng tranh cãi giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Tuy nhiên năm 2015 Quốc hội CSVN đã để cho Tập Cận Bình phát biểu trước quốc hội, toàn văn bài phát biểu nằm ở đây :https://www.bbc.com/…/…/151107_xi_jinping_vn_speech_complete.
Trên cơ sở của bài phát biểu này ngày7/11/2015 Tập đã có thể tuyên bố trước châu Á tại một bài phát biểu ở một trường đại học ở Singapore rằng “các đảo trên Biển Đông là của Trung Quốc” .
Sau đó ngày 12/1/2017 Nguyễn Phú Trọng đã đặt bút ký vào 15 văn kiện thỏa thuận hợp tác giữa 2 nước. Trong đó có :
Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Kinh tế Trung ương với Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc.
https://www.qdnd.vn/…/viet-nam-trung-quoc-ky-ket-15-thoa-th…
Gần đây có tin đồn là chính phủ CSVN đã bán Bãi Tư Chính cho Trung Quốc để trả một khoản nợ là 6 tỷ USD đã vay của Trung Quốc.
https://www.vietbf.com/forum/showthread.php?t=1260471
Bỏ qua những tin tức chưa thể kiểm chứng này, chỉ cần sử dụng một tí phân tích ta thấy như sau :
– Bãi Tư Chính đã được Trung Quốc xem như là của chúng. Bằng chứng là khi Tàu Trung Quốc tiến hành thăm dò ở đây , cảnh sát biển Việt Nam ngăn chặn đã được phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng gọi là hành động xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc, yêu cầu phía Việt Nam kiềm chế để không làm phức tạp thêm tình hình.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng bày vẽ đáp lễ bằng cách yêu cầu Tàu Trung Quốc rút ra khỏi Bãi Tư Chính với những ngôn từ y hệt.
Vậy thì ai mới phải rút ra?
Xưa nay biên giới, hải đảo được hình thành do chiến tranh mà nên. Các cuộc chiến tranh về phía Nam của Việt Nam sở dĩ mở rộng bờ cõi được cũng là do sức mạnh cơ bắp và giữ vững bờ cõi ở phía Bắc được là cũng do sức mạnh của thanh gươm. Việt Nam lấy gì để mà tranh giành Bãi Tư Chính với Trung Quốc khi quân đội CSVN đã hợp tác toàn diện với quân đội nước này.Có thể coi quân đội CSVN như một quân đoàn trong cái gọi là ” Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa”. Lực lượng hải quân non kém , trang bị thô sơ ấy làm sao đối đầu với hải quân Trung Quốc?
– Nếu hai bên đối đầu thì bà chủ tịch quốc hội lại phải trở thành con tin? Hoàng đế Tập có thể bắt con tin này phục vụ nô lệ tình dục hay giết mổ lấy nội tạng ?
– Nếu hai bên đánh nhau thì thỏa thuận bán ba đặc khu, rước tập đoàn xây dựng Thái Bình Dương về làm đường cao tốc hóa ra vứt xuống biển. Rồi lại còn biết bao tập đoàn , công ty , nhà máy dân Trung Quốc đóng trên đất Việt Nam chạy đi đâu ?
Nói chung thì theo logic của lịch sử từ khi Phạm văn Đồng ký công hàm bán Hoàng Trường Sa cho Trung Quốc, biển đông đã mất. Quá trình ấy được khẳng định thêm khi CSVN để cho Tập phát biểu trước quốc hội và sau đó tuyên bố láo lếu tại Singapore.Sau đó Trung Quốc đã củng cố thêm chủ quyền của chúng khi yêu cầu ngừng hoạt động thăm dò khí đốt của Repsol ngay tại Bãi Tư Chính “thuộc vùng chủ quyền không tranh cãi của Việt Nam” vào cuối tháng 7 /2017 và chính phủ CSVN cũng phải giương cờ trắng.
Bây giờ Trung Quốc được thể làm tới với mục đich “một ná 2 chim” . Một mặt chứng tỏ cho quốc tế thấy 2 anh em chúng chưa về chung một nhà, một mặt nhân việc chủ tịch quốc hội Việt Nam đang ở Trung Quốc để xem như bà này là một con tin để buộc CSVN xem Bãi Tư Chính đã mất.
Nhưng mà không mất bây giờ thì sau năm 2020 cũng mất, chỉ là đi trước một bước mà thôi.
Tuy nhiên các anh hùng bàn phím cũng ra vẽ đánh nhau trên mạng xã hội cho có khí thế, chứng tỏ yêu nước thế thôi chứ làm được gì khi họ không có trong tay quyền sử dụng lá phiếu để điều khiển chính phủ và quân đội. Nếu có biểu tình như năm 2014 thì cũng gãi ngứa, làm cho có.
Đúng ra họ không cần làm gì cả chỉ tập trung vào mỗi một việc là gây dựng lực lượng để tạo ra các cuộc biểu tình , xuống đường bất tận để thay đổi hiến pháp. Chỉ có thể làm như vậy họ mới có thể giữ được đất nước của ông cha. Nhưng làm như vậy họ sẽ phải hy sinh rất nhiều thứ. Nhưng họ lại không muốn hy sinh mà vẫn được tiếng là yêu nước, nên “chửi” vẫn là thượng sách.
Tuy nhiên một dân tộc cứ đợi nước đến chân mới nhảy thì hãy tin đi, sẽ có ngày nước cuốn phăng tất cả xuống mồ.
https://anninhthudo.vn/…/ong-tap-can-binh-ngang…/643173.antd

Gia đình và tù nhân chính trị đến Hoa Kỳ theo diện tỵ nạn. Files photos
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 hàng triệu binh sĩ chế độ VNCH buông súng để sau đó hơn 200 ngàn sĩ quan và viên chức vào hơn 80 trại cải tạo trong nhà tù của chế độ mới. Những tù nhân ấy sau khi ra trại lại có một chuyến hành trình nữa được gọi là HO để đến Mỹ bắt đầu vào năm 1990.
Mặc Lâm tìm hiểu thêm chương trình nhân đạo có một không hai này qua lời kể của bà Khúc Minh Thơ, một trong những người vận động cho chương trình H.O. thành hình.
Từ Hội Gia đình Tù nhân Chính trị đến H.O.
Sau ngày 30 tháng 4, hai danh từ mới xuất hiện trong từ điển Việt Nam là thuyền nhân và HO. Thuyền nhân là những người không chịu sống trong chế độ mới, vượt biển đông bất chấp sóng gió, cướp biển cùng những nguy hiểm khác để tìm tự do. HO là những sĩ quan, viên chức bị cải tạo ba năm trở lên trong các nhà tù sau khi trình diện Ủy ban Quân quản tại khắp miền Nam để lên đường vào trại cải tạo gọi là học tập. Những sĩ quan viên chức này trở thành HO khi qua cuộc phỏng vấn của phái đoàn Mỹ tại tp HCM và chính thức có danh sách sang Mỹ bắt đầu bằng hai chữ HO.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bên cạnh sĩ quan các cấp, những chính trị gia, nhà báo, dân biểu, lãnh đạo tôn giáo cũng cùng số phận với những người cầm súng. Tất cả đều được gọi là tù nhân cải tạo, tất cả đều bị đối xử như nhau và tất cả đều không có án.
Từ sự gợi ý của ông Lawman, một hội mang tên Gia đình Tù nhân Chính trị Việt Nam thành hình tập hợp vợ con của những người tù cải tạo để có tiếng nói chung
Cuộc sống của những tù nhân này được nuôi dưỡng bằng mồ hôi nước mắt của người thân, cha mẹ vợ con thậm chí là bạn bè, hàng xóm. Cũng có những trường hợp vợ con của họ vượt biên và nơi xa xôi tưởng chừng như mù mịt ấy những món quà nhỏ bé chắt chiu gửi về thăm nuôi họ. Sợi dây ràng buộc mong manh ấy đã ngày một bện chặt hơn khi số thuyền nhân ngày càng nhiều và ý tưởng cứu những người tù cải tạo ra khỏi đất nước một cách hợp pháp đã nảy sinh trong lòng những người vợ của họ đang sống tại Mỹ.
Một trong những người như thế là bà Khúc Minh Thơ, chồng bà là một sĩ quan đã chết trước khi trở thành một HO và bà có rất nhiều bạn bè của chồng vẫn nằm trong trại cải tạo. Bà Khúc Minh Thơ sang Mỹ năm 1977 và ý tưởng vận động cho tù nhân cải tạo vẫn thôi thúc trong lòng bà. Ông Shef Lawman, một chuyên viên của Bộ Ngoại giao Mỹ làm việc tại Việt Nam cho tới phút cuối. Do có vợ Việt ông Lawman hiểu rất rõ tình hình chính trị, văn hóa và xã hội Việt Nam và là người đầu tiên bà Khúc Minh Thơ gặp và trao đổi với ông ý tưởng của mình. Từ sự gợi ý của ông Lawman, một hội mang tên Gia đình Tù nhân Chính trị Việt Nam thành hình tập hợp vợ con của những người tù cải tạo để có tiếng nói chung.
Bà Khúc Minh Thơ kể lại giai đoạn đầu khi bà nghĩ tới bắt tay vào việc vận động này:
Khi mà tôi qua tới đây giống như trong một con đường tăm tối mà tôi phải đi tại vì không làm cách gì ngoài tình thương của gia đình, tình thương của bạn bè mà tôi cùng với anh chị em trong hội Gia đình Tù nhân Chính trị để mà làm. Có hy vọng nhưng không bao giờ nghĩ tới mình sẽ thành công nhưng vì không thể nào không nghĩ tới những người thân yêu ruột thịt của mình chết trong tù mà mình không làm gì được.
Khi nghe bà Khúc Minh Thơ vận động một việc làm không khác gì mò kim đáy biển như thế rất nhiều người e ngại cho sự thành công là quá ít và kéo dài vô tận vì nước Mỹ vừa mới thất bại trên chiến trường, tiếng nói không còn mạnh như xưa đối với Việt Nam và nhất là dân chúng Mỹ chưa chắc chấp thuận một gánh nặng cho hàng trăm ngàn người Việt như thế. Tuy nhiên nhạc sĩ Nam Lộc lúc đó đang làm việc cho cơ quan thiện nguyện USCC chuyên giúp đỡ người tị nạn tại Mỹ lại không bi quan như vậy căn cứ vào kinh nghiệm của ông:
Người thúc đẩy cho tôi nhiều nhất là ông Robert Funseth, ông ấy đặc trách chương trình tỵ nạn của Bộ ngoại giao, hai nữa người mà theo dõi diễn tiến của tụi tôi nhiều nhất là ông Shef Lowman, ông ấy là nhân viên của Bộ ngoại giao…..Ngoài ra bên lập pháp còn có TNS John McCain và TNS Robert Kennedy
bà Khúc Minh Thơ
Việc tranh đấu cho những người tù nhân chính trị bị cộng sản giam giữ mà họ gọi là cải tạo rất nhiều người nghĩ rằng là một nỗ lực không tưởng, khó để thành công. Nhưng cá nhân tôi thì tôi rất tin tưởng. Cũng những suy nghĩ tiêu cực như vậy đã xảy ra trước đó cả chục năm khi cơ quan thiện nguyện USCC cùng một số cơ quan định cư khác nỗ lực thành lập chương trình ODP thành ra chúng tôi nghĩ nếu ODP thành công thì việc tranh đấu cho các tù nhân chính trị này cũng không phải là điều không tưởng.

Một người Mỹ khác có công rất nhiều trong việc vận động cho chương trình này là ông Robert Funseth, Phụ tá Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách Chương trình Tỵ nạn. Ông là một nhà ngoại giao dành hầu như toàn bộ cuộc đời ngoại giao của ông tại Việt Nam từ khi bước chân sang cho tới khi miền Nam sụp đổ. Ông chứng kiến nhiều cảnh chiến đấu của người lính VNCH và rất hăng hái trong việc vận động tổng thống Reagan và Quốc Hội Hoa Kỳ cũng như đứng ra thương thuyết thẳng với Việt Nam về vấn đề trao đổi đối với những người tù chính trị. Bà Khúc Minh Thơ cho biết thêm về ông và những người như ông trong tiến trình giúp bà vận động:
Người thúc đẩy cho tôi nhiều nhất là ông Robert Funseth, ông ấy đặc trách chương trình tỵ nạn của Bộ ngoại giao, hai nữa người mà theo dõi diễn tiến của tụi tôi nhiều nhất là ông Shef Lowman, ông ấy là nhân viên của Bộ ngoại giao, hiểu nhiều nhất chương trình tù nhân chính trị, cũng như những người bị bắt ở tù thành ra rất là ủng hộ tôi về vấn đề này. Ngoài ra bên lập pháp còn có Thượng nghị sĩ John McCain và Thượng nghị sĩ Robert Kennedy và hầu hết phần đông những thượng nghĩ sĩ, dân biểu mà hồi xưa là cựu chiến binh Hoa Kỳ họ hiểu hoàn cảnh của anh em họ rất là ủng hộ.
Chuyến bay HO đầu tiên
Đoạn đường vận động phía Hoa Kỳ chấp nhận thương thuyết đã gian nan, nhưng về phía Việt Nam, nơi nắm giữ vận mạng của hàng trăm ngàn tù nhân chính trị cũng không phải là dễ thuyết phục khi bản thân chính quyền đang say sưa trên chiến thắng, bà Khúc Minh Thơ kể:
Cuối cùng tôi lên gặp tòa đại sứ của Việt Nam cộng sản ở New York. Tôi nhớ là ngày 30 tháng 4…tôi được Bộ Ngoại giao và Quốc hội sắp xếp cho tôi gặp ở trên đó để đòi cho được họ thả tù nhân chính trị và định cư ở Mỹ. Ba tháng sau cái ngày cuối cùng đó thì họ chấp thuận ký cái thỏa hiệp, agreement để cho tù nhân chính trị ra đi là ngày 30/7/1989
bà Khúc Minh Thơ
Mình vận động rất là lâu tới chừng cuối cùng tôi lên gặp tòa đại sứ của Việt Nam cộng sản ở New York. Tôi nhớ là ngày 30 tháng 4, tôi luôn luôn lấy ngày 30 tháng 4 như một điểm quan trọng, tôi được Bộ Ngoại giao và Quốc hội sắp xếp cho tôi gặp ở trên đó để đòi cho được họ thả tù nhân chính trị và định cư ở Mỹ. Ba tháng sau cái ngày cuối cùng đó thì họ chấp thuận ký cái thỏa hiệp, agreement để cho tù nhân chính trị ra đi là ngày 30 tháng 7 năm 1989.
Ngày mà ông Funseth và phái đoàn đi qua để thương thuyết cái thỏa hiệp này tôi vô tới Bộ Ngoại giao cầu chúc ông ấy thành công thì ông ấy cho tôi một lịch trình làm việc của ông ấy, tôi để cái lịch trình ấy trước mặt để mà cầu nguyện.
Khi ông Funseth tới phi trường Bangkok thì ông gọi cho vợ là bà Funseth để bà này báo tin cho tôi biết là đã ký xong. Lúc đó không thể tưởng tượng, không thể nói được lời nào vì mình đâu có nghĩ kết quả lại trọn vẹn như vậy.
Ngày 5 tháng 1 năm 1990 có lẽ là ngày lịch sử đối với hàng trăm ngàn người trong đại gia đình tù nhân chính trị Việt Nam. Chuyến bay chở nhóm HO đầu tiên ghé Bangkok làm thủ tục trung chuyển sang Mỹ đã làm cộng đồng người Việt tại Mỹ theo dõi từng giây phút. Sau bao nhiêu năm chờ đợi trong một đống tin tức lệch lạc thậm chí sai sự thật thì những tù nhân ấy đã chính thức bước chân xuống Mỹ. Nhạc sĩ Nam Lộc kể lại ngày vui mừng ấy khi ông ra phi trường đón những người tù nhân này trong nhóm người ra đi đầu tiên dưới cái tên HO1.
Khi những người trong đợt đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ thì đó là một ngày chúng tôi chờ mong, một ngày giấc mơ đã thành sự thật. Tôi đã ra phi trường đón tiếp những người đầu tiên trong số đó có anh Nguyễn Tiến Chỉnh một người bạn thân của chúng tôi từ khi còn rất trẻ. Anh là một trung úy không quân, một thành viên của ban nhạc Spot Light và là một trong những người thuộc nhóm đầu tiên đến Hoa Kỳ.
Cái chữ HO hồi đó có nhiều người hỏi tôi cho nên tôi hỏi lại những người làm việc tại BNG phòng đặc trách về người tỵ nạn thì họ nói hai chữ HO của bên Việt Nam chứ không phải của Bộ Ngoại giao hay chính phủ Hoa Kỳ…Bộ Ngoại giao họ thì thường trong ba tháng họ gửi cho chúng tôi để biết cái CT tỵ nạn đã có bao nhiêu người qua thì họ gọi là Political Prisoners Sub-Committee chứ họ không gọi là HO
bà Khúc Minh Thơ
Tuy nhiên, sau khi 5 năm trôi qua chương trình HO phải ngưng lại vì Quốc hội chỉ cho phép với giới hạn 5 năm. Sự ngưng lại ấy lại làm cho những người vận động cho chương trình một lần nữa phải tìm cách đối phó, bà Khúc Minh Thơ kể:
Ở trong Quốc hội Bộ Ngoại giao họ nói với tôi nếu tôi xin nhiều thì Quốc hội sẽ không chấp thuận thành ra khi đầu tiên bắt đầu xin cho chương trình đó vào năm 1990 là tới 1996 là 5 năm cho chương trình HO. Sau đó ông Funseth các người bên văn phòng của McCain, Kennedy nói rằng sau đó thì sẽ xin lại thêm chứ bây giờ mà xin 10 năm, 20 năm thì họ đâu có chịu! nhưng tù nhân mà xin 5 năm thì làm sao cho đủ? Vì vậy tới năm 1996 nó ngưng thì tôi lại phải vận động để 10 năm sau, năm 2005 tôi mới có được cái thỏa hiệp thứ hai để cho chương trình HO tiếp tục, tuy nhiên những người nào đã được chấp thuận (approve) rồi thì tiếp tục ra đi cho tới khi nào tới Mỹ.
Cho tới nay hai chữ HO vẫn là cái tên chính thức cho chương trình ra đi này. Nhiều người tra tìm chữ viết tắt của HO đã không hài lòng về kết quả của nó. Một lần nữa bà Khúc Minh Thơ cho biết nguồn gốc của hai từ này, nó không phải của Mỹ mà là từ Việt Nam:
Cái chữ HO hồi đó có nhiều người hỏi tôi cho nên tôi hỏi lại những người làm việc tại Bộ Ngoại giao phòng đặc trách về người tỵ nạn thì họ nói hai chữ HO của bên Việt Nam chứ không phải của Bộ Ngoại giao hay chính phủ Hoa Kỳ. Đầu tiên HO 1 mới kêu là HO cho tới khi HO10 thì không còn là HO nữa mà là H10. Bộ Ngoại giao họ thì thường trong ba tháng họ gửi cho chúng tôi để biết cái chương trình tỵ nạn đã có bao nhiêu người qua thì họ gọi là Political Prisoners Sub-Committee chứ họ không gọi là HO.
Theo nhạc sĩ Nam Lộc cũng là giám đốc USCC tại miền Nam California cho biết có khoảng trên dưới 200 ngàn tù nhân chính trị và gia đình đã sang Mỹ theo diện HO kéo dài cho tới năm 2008 thì mới chính thức chấm dứt.
Đó là sự chờ đợi của tất cả những người Việt ờ hải ngoại cũng như thân nhân những người tù nhân chính trị họ vui mừng không còn chỗ nào vui hơn sau năm 1975. Đó là niềm vui cho tất cả mọi người Việt Nam.
Sự ra đi chính thức của hàng trăm ngàn tù nhân chính trị và thân nhân có thể được xem là một phép lạ của thượng đế bù đắp những khốn khổ, chết chóc mà dân tộc này phải chịu. Các thế hệ nối tiếp đã có những thành tựu trong nhiều lĩnh vực tại Hoa kỳ do con em HO thực hiện. Thành quả ấy không phải do một mình bà Khúc Minh Thơ, tổng thống Reagan, ông Funseth hay John McCain, hoặc Robert Kennedy mà là kết hợp của tất cả trong niềm tin: đây là một đất nước hình thành từ di dân, do đó mọi ý tưởng cứu người bị ngược đãi, đàn áp là phương châm đầu tiên của cả dân tộc này để rồi những người di dân sau tiếp tục phát triển, bồi đắp triết lý nhân văn ấy.