Tính hẹp hòi và cố chấp của người Việt

Hẹp hòi và cố chấp là hai tính cách thường đi đôi với nhau, nó trái ngược với bao dung, vị tha. Trong rất nhiều bài viết về giáo dục, tôi luôn nói cha mẹ đừng trách phạt khi con nhận lỗi với mình. Hãy bao dung với lỗi của trẻ, hướng dẫn thêm cho trẻ để trẻ học bài học kinh nghiệm từ lỗi sai của mình, và khen trẻ khi trẻ làm sai mà biết tự nhận ra và tự thú nhận, xin lỗi. Đó là một hành động dũng cảm.

Ông cha ta có câu, “đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại.” Đó là một câu triết lý thấm đẫm tư tưởng bao dung và đầy tinh thần hòa giải hòa hợp của dân tộc. Nhưng, thực tế, cách hành xử của ông bà cha mẹ trong gia đình xưa nay, cách con người ứng xử trong xã hội, cách chúng ta đang ứng xử với nhau có được như thế chưa? Hay chúng ta vẫn đã và đang ứng xử rất hẹp hòi với nhau, với cả người thân, thậm chí con cái mà không nghĩ đó là hẹp hòi, cứ lầm tưởng đó là nghiêm khắc?

Trong đời, ai không có lỗi? Ai không một lần sai? Ai cũng có. Có cái lỗi lớn, có cái sai nhỏ, có cái nhẹ hều nhưng cũng có cái làm tổn hại, tổn thương rất lớn. Khi phạm lỗi, ai cũng muốn được người khác thấu hiểu nguyên nhân, thông cảm và tha lỗi cho mình. Nhưng khi người khác phạm lỗi thì ta lại khắt khe, chỉ trích, không chấp nhận giải thích, không bỏ qua, không tha thứ, hoặc dèm pha kể cả dạy đời, thậm chí xúc phạm họ, xa lánh họ. Ta trách người không hiểu ta nhưng ta cũng không hiểu người. Cách giáo dục hà khắc của ông bà mình, theo Nho giáo, mà cũng chỉ nửa vời hời hợt, cộng với nền giáo dục hiện tại đã làm cho người Việt chúng ta ngày càng mâu thuẫn nội tại kinh khủng và nó bộc lộ hết ra mỗi khi có chuyện.

Tôi hiếm thấy người dám dũng cảm nhận mình sai. Khi gặp được những người như vậy, tôi lập tức kết bạn và mặc định có sự tin tưởng nhất định. Vì sao vậy? Vì họ là những người chịu học, chịu xét lại bản thân, dám chịu trách nhiệm cho hậu quả do lỗi của mình gây ra. Đó là người tốt. Chúng ta thường thấy nhất cảnh khi ai đó làm sai, bị “đánh,” dồn ép đến mức không thể chạy được nữa thì mới buộc phải nhận lỗi, nhận sai. Bọn trẻ con ngay trong nhà, làm vỡ cái lọ quý, nó giấu tiệt, bạn phải tra hỏi, đánh hoặc dọa đánh đã đời cuối cùng nó mới khai thật. Vì sao vậy? Có bao giờ bạn nghĩ đó là do lỗi của chính mình, của chúng ta chưa? Khi người ta thấy trước đó bạn hẹp hòi cố chấp không tha thứ bỏ qua cho lỗi của người khác thì họ sẽ không tin bạn sẽ bỏ qua cho họ nếu họ nhận lỗi với bạn. Ngược lại, người ta sợ.

Khi người ta không bao dung cho người khác thì sẽ không tin có kẻ khác bao dung mình. Có lỗi thì… thôi thôi giấu nhẹm. Người làm gì sai, phát ngôn gì chưa chuẩn, khi được nhắc, không dám nhận mình sai vì sợ cái đứa nhắc và đám đông xúm lại chỉ trỏ bàn tán thêm mắm dặm muối “đừng tin nó nữa”, “trời ơi giờ mới biết cái bộ mặt”, và nhiều lời lẽ móc máy cay nghiệt khác, người thực lòng tha thứ rất hiếm hoi. Nỗi sợ này làm người ta dù biết mình sai cũng vẫn sẽ cố phòng thủ, phản ứng tới cùng bởi biết không có đường lui. Ta gặp phản ứng này rất nhiều trên mạng. Hãy hiểu, họ không được bao dung, họ đang phản ứng trong di chứng tổn thương, và chính sự hẹp hòi, cố chấp của ta đẩy họ tới bước bất chấp. Khi ta làm gì sai, xu hướng lặp lại y chang người ta chửi mắng trước đó. Vô thức.

Sự hẹp hòi, cố chấp trong mỗi chúng ta làm cho chúng ta không thể yêu thương nhau và ghét bỏ nhau rất dữ tợn mỗi khi có ai đó phạm lỗi hoặc ta nghĩ họ có lỗi. Lỗi của người ta dù nhỏ cũng thành lớn. Rồi phản ứng qua lại. Dùng xăng cứu lửa. Rồi thì, chúng ta thấy, người Việt mình mồm thì nói yêu nhau nhưng thể hiện thì lại trái ngược hoàn toàn. Không thể làm việc cùng. Không thể đoàn kết. Không thể hàn gắn. Không thể sẻ chia. Không thể có thành công.

Làm sao để sửa tâm thức hẹp hòi, cố chấp?

Về mặt logic, xin hãy tìm hiểu và tập thói quen suy đoán vô tội. Không vội nhận định khi chưa có đủ chứng cứ để chứng minh cho lập luận của mình, chưa bao quát các góc nhìn. Cái này thiên về mặt lý trí, loại bỏ cảm xúc yêu ghét. Khi có lối tư duy này, ta dễ dàng nhìn nhận sự việc, con người, những lỗi sai phạm một cách rõ ràng, chính xác và có tính công bằng. Khi người có lỗi nhìn thấy ở bạn sự công bằng, họ sẽ dễ nhận lỗi với bạn hơn. Bạn cũng sẽ không thể hẹp hòi và cố chấp được bởi lý trí và tính thực tế bắt bạn phải bỏ qua vì bạn đặt mục đích, lý tưởng lên trên.

Về mặt tình cảm, xin hãy nghĩ về những điều người có lỗi đã từng làm được tốt, hãy tìm hiểu nguyên nhân, tâm lý của họ, hãy nghĩ đến những gì đã có với nhau, và chậm rãi trong việc buông lời phán xét, chỉ trích, xúc phạm. Hãy dùng sự chân thành để nói nhau nghe và tỏ lòng bao dung ra trước với niềm tin người có lỗi sẽ thay đổi, cũng như ta vững tin là ta sẽ thay đổi khi ta phạm sai lầm.

Tôi biết là khó. Tôi vẫn đang trong quá trình học và tự tập cho mình, vẫn có lúc va vấp, nhưng phải tập bởi chỉ có vậy mới bỏ được sự hẹp hòi cố chấp ra khỏi đầu mình.

Dân tộc mình chịu nhiều tổn thương lắm rồi. Cày xéo thêm nhau làm chi? Chúng ta phải sửa, cho mình, cho con cháu, cho việc chung.

Theo facebook Nguyễn Thị Bích Ngà

XÃ HỘI VIỆT NAM… VÌ SAO BĂNG HOẠI

“Chúng ta vẫn biết những câu chuyện về những nhà báo viết về chống tiêu cực phải vào tù, chúng ta biết những người viết ca khúc chống Trung Quốc bị bắt. Còn những người làm thất thoát hàng trăm tỷ đồng chẳng bị sao cả, có chăng cũng chỉ đi tù sơ sơ. Đó lại chính là những “bài học thực tế ko sách vở, ko lý thuyết” mà giáo dục VN đang dạy cho học sinh và toàn xã hội. Điều đó làm xã hội đang đi xuống chứ không phải đi lên…”

Một vị giáo sư Bỉ qua đây dạy, ngày nghỉ ông tranh thủ đi chụp hình kỷ niệm tại sân Tao Đàn. Khi chiếc để camera vừa đặt xuống để mở túi, ông bị giật luôn. Kẻ cướp hành xử ngay chốn đông người, còn vị giáo sự nọ cũng không kịp than vãn và phỉ bác. Ông tự an ủi với tôi rằng “thôi thì cái máy của tôi cũ quá rồi, đây là dịp để mua cái mới”. Một người bạn khác, ra chợ Bến Thành bị móc ví. Ông ấy hới ha hớt hải vì mất hộ chiếu và giấy tờ tùy thân. Được một lúc sau có người vỗ vai nói nhỏ bằng tiếng Anh hẳn hoi, rằng ví của ông đang ở góc bên kia đường. Ông đi đến và thấy ví của mình đó, tiền mất nhưng may mắn là còn giấy tờ. Ông ấy hài hước: “đám ăn cướp Việt Nam văn minh đấy”.

Ở Châu Âu những năm 1960, 1970 dường như rất ít tệ nạn. Cho tới khi bức tường Berlin sụp đổ, dân cộng sản Đông Ấu có thể tràn qua các nước Châu Âu và từ đó tệ nạn xuất hiện nhiều hơn. Bởi tệ nạn xã hội thường xuất phát nhiều ở các nước Đông Âu. Các quốc gia cộng sản ở Đông Âu kinh tế kém phát triển, nền giáo dục cũng chưa cao. Khi sang Tây Âu họ thấy ở đây giàu quá, dân hiền quá, xe đạp để ngoài đường không cần khóa nên họ lấy. Nhưng vấn đề của chúng ta lại khác, tình trạng đến mức trầm trọng khi người ta sẵn sàng giết cha mẹ vì vài trăm ngàn. Hay những hành động côn đồ xảy ra giữa chợ mà không ai phản đối… đó là sự băng hoại về đạo đức.

Trộm, cướp… đến từ cuộc sống khó khăn nhưng sự chiếm đoạt của các ác lại nằm ở giáo dục và khi giá trị đạo đức bị hủy hoại, tha hóa rõ ràng. Bởi kinh tế khó khăn thì sau thời gian suy thoái sẽ vực dậy. Địa ốc đóng băng thì có ngày phục hồi. Đồng tiền mất giá và từ giá mới sẽ vươn lên. Nhưng nền giáo dục của ViệtNam đang lầm đường lạc lối. Nền giáo dục không tạo được con người có nhân cách, có niềm tin đạo đức, biết sống lương thiện, biết sống thương yêu… Thay vào đó là từ ngay tấm bé trẻ con đã thấy một xã hội vị kỷ, thực dụng, chỉ thấy tiền là chính. Giáo dục thường thức, giáo dục công dân đang có vấn đề. Tuổi trẻ xao nhãn học văn, ngán gẫm học sử vì bài học, vì sách giaó khoa quá ư cứng nhắc, một chiều, không hấp dẫn, không sinh động.
Thời VNCH cùng một bài học lịch sử, ngay trong một trường, ông A giảng thế này, ông B thế khác. Ông thân hữu, ông thân tả. Nhờ đó học sinh đã có cái nhìn độc lập, có nhận thức rằng ông này nói đúng, ông kia nói chưa chắc đúng. Hồi đó chúng tôi được dạy sử Việt Nam, được dạy lịch sử thế giới, thống nhất Đức, Ý, lịch sử giành độc lập Hoa Kỳ, Các mạng dân chủ dân quyền Pháp, kể cả cách mạng tháng 10 của Lê Nin. Người dạy tôi năm đó là một ông thầy thân tả và có cảm tình với XHCN. Mọi ý kiến đều được tôn trọng . Vì vậy, thời xưa đậu tú tài đã là trí thức, rất vững vàng. Tú tài thời xưa khác hẳn tú tài ngày nay. Tú tài thời nay không có hiểu biết thực, không có tự lập và không có đầu óc phê phán.”

Thời điểm Pháp thuộc, đất nước ta bị bóc lột, dân Việt bị bần cùng hóa. Đây là lý do chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc. Hiện thực xã hội lúc đó cũng có thể là thời điểm đen tối nhưng cũng có nhà văn phản tỉnh, trí thức tả chân. Cụ thể như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố trong tác phẩm của họ tố cáo trước dư luận những tội ác của thực dân và sự cùng cực của dân tộc bị trị. Nhưng những cuốn sách ấy được xuất bản, và truyền lại cho hậu thế. Còn bây giờ tôi không thấy những cuốn sách như vậy. Không phải không có những người tài mà những cuốn sách đó khó được in ấn xuất bản một cách chính diện. Người tốt giờ đây phải co cụm lại, im lặng…

Chúng ta vẫn biết những câu chuyện về những nhà báo viết về chống tiêu cực phải vào tù, chúng ta biết những người viết ca khúc chống Trung Quốc bị bắt. Còn những người làm thất thoát hàng trăm tỷ đồng chẳng bị sao cả, có chăng cũng chỉ đi tù sơ sơ. Đó lại chính là những “bài học thực tế, ko sách vở,ko lý thuyết” mà giáo dục VN đang dạy cho học sinh và toàn xã hội. Điều đó làm xã hội đang đi xuống chứ không phải đi lên…
Tội phạm không sợ bị trừng trị, không sợ bị lên án, Họ đánh mất lòng tự trọng nên thay vì xấu hổ và lo sợ chúng lại quay ra thách thức xã hội, hành hung những người dám ngăn cản mình. Cái ác hành hoành, người tốt, người có đạo đức, vốn là rường cột của xã hội họ lại phải lui về thúc thủ, bàn quan. Bởi vì nếu can thiệp họ sẽ gặp tai họa, gặp rắc rối.

Hồi cách mạng năm 1789 ở bên Pháp, giáo dục nằm trong tay nhà thờ. Cách mạng thành công, trường học được giải phóng, việc giáo dục trở thành lĩnh vực của thế nhân, chính quyền dân sự. Tuy nhiên, người Công giáo vẫn có có quyền mở lớp riêng cho họ… Những người theo đạo có quyền đi học ở mọi trường lớp và đức tin của những con chiên được nhà nước đảm bảo và tôn trọng. Xin kể một kinh nghiệm cá nhân mà tôi đã thâu thập tại Bỉ. Tôi là người theo đạo Phật, vợ tôi là người Công Giáo. Các con tôi theo đạo bố nhưng vì trường công giáo rất nghiêm, tôi ghi tên các con theo học tiểu và trung học tại đây. Nhưng không vì thế mà chúng bị phân biệt. Ở trường con tôi đứng đầu lớp về môn học giáo lý công giáo, tuy chúng nó thưa với thầy cô là chúng nó theo đạo Phật. Những nhưng thầy cô ở đây nói rằng: Con tin vào điều gì hãy giữ vừng niềm tin đó. Đằng này chúng ta đưa chính trị vào trường học, nhồi nhét quan điểm một chiều trong trường học. Thay vì khuyến khích yêu thương nâng đỡ nhau để giải quyết các vấn đề thì có một thời ta lại khuyến khích đấu tranh để sống còn. Mà đấu tranh giai cấp là tiêu diệt kẻ thù, tiêu diệt thế lực thù địch… Thói ghen ghét, đố kỵ ở đâu cũng có, nhưng tôi có cảm nhận tại ViệtNamngày nay, những tật xấu này có phần gay gắt một cách không bình thường.

Ở trường hiện nay tôi thấy ít có chủ trương dạy con thương yêu cha mẹ. Chỉ thấy dạy yêu tổ quốc nhưng người ViệtNamcũng như các dân tộc khác, căn bản là gia đình. Trẻ con phải được dạy yêu thương cái nôi là yêu cha mẹ, yêu anh em, yêu ông bà rồi mới yêu cái cây đa, yêu cái đình làng, cánh đồng lúa chin, con sông nho nhỏ uốn quanh làng quê, con đường phố rợp bóng mát cây xanh, rồi mới đến yêu tổ quốc với tất cả những yếu tố văn hoá, lịch sử đi theo: Tuyên ngôn độc lập của Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt, Bình ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du…. Vì với trẻ con tổ quốc là điều gì rất mông lung. 5, 6 tuổi biết thế nào là tình yêu tổ quốc. Tuổi này nó cần bàn tay ấm áp của mẹ, sự vuốt ve của cha, sự nâng đỡ của anh và bài học giáo dục mỗi ngày ở nhà, ở trường cũng phải thường xuyên như vậy. Nhưng dường như bài học thương yêu, đề cao những tâm hồn cao thượng, tình tương thân tương ái, nhiễu điều phủ lấy giá gương, thương người như thể thương thân, đã bị làm cho mờ nhạt từ lâu. Một môi trường như vậy mà bạo lực không xuất hiện mới là điều lạ.

* Stt này là mình trích ra từ những đoạn mình ưng ý trong bài phỏng vấn của Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng (Việt kiều Bỉ) với báo Pháp Luật . Và có 1 đoạn nói về dạy sử thời VNCH là từ 1 bài viết khác của GS Nguyen Dang Hung
Khi được phỏng vấn giáo sư đang ở VN và còn cộng tác làm việc ở VN nên ko thể nói hết những nguyên nhân gốc rễ, ko thể nhắc đến những khía cạnh pháp luật – quản lý xã hội ảnh hưởng như thế nào… tuy nhiên cách nói của giáo sư rất thích hợp cho những ai thích đọc kiểu viết nhẹ nhàng, ko gay gắt, ít đề cập trực tiếp đến chế độ 

Các bạn có thể xem toàn bộ bài phỏng vấn của giáo sư Nguyễn Đăng Hưng ở đây. Bài phỏng vấn này báo Pháp luật cũng ko dám đăng lên

 http://anhhaisg.blogspot.com/…/oi-thoai-voi-gs-nguyen-ang-h…

Nguồn: fb Nam Dao

Tòa Đại Sứ: Công dân Mỹ nên ‘rời Việt Nam sớm nhất có thể’

Tòa Đại Sứ: Công dân Mỹ nên ‘rời Việt Nam sớm nhất có thể’

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam khuyến cáo công dân Mỹ ‘rời Việt Nam sớm nhất có thể’ vì các chuyến bay thương mại cất cánh từ Việt Nam đang giảm nhanh chóng.

Thông báo nêu trên được Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam phát đi vào chiều 19 Tháng Ba.

Bản thông cáo viết: “Đại Sứ Quán Hoa Kỳ khuyến cáo tất cả các công dân Hoa Kỳ đang sinh sống hoặc du lịch tại Việt Nam rằng hiện nay, số lượng các chuyến bay thương mại cất cánh từ Việt Nam đang giảm nhanh chóng. Nếu như bạn đang cân nhắc việc rời khỏi Việt Nam, Đại Sứ Quán khuyến cáo công dân Hoa Kỳ thu xếp việc đi lại của mình trong thời gian sớm nhất.”

Một ngày trước, Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam và Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã thông báo tạm ngừng phỏng vấn cấp xét thị thực.

Theo VnExpress hôm 19 Tháng Ba, Hãng Hàng Không Vietnam Airlines vừa loan báo tạm dừng toàn bộ đường bay quốc tế từ hôm 25 Tháng Ba đến hết 30 Tháng Tư, 2020. Cùng thời điểm, Vietjet Air thông báo các đường bay giữa Việt Nam và Thái Lan, Singapore, Malaysia, Cambodia, Myanmar và Indonesia của hãng này tạm dừng từ hôm 20 Tháng Ba. Việc cắt giảm chuyến bay được hãng hàng không của tỉ phú Nguyễn Thị Phương Thảo nêu là “do ảnh hưởng của dịch bệnh, cũng như quy định mới của chính phủ Việt Nam liên quan đến nhập cảnh, cách ly”.

Một số du khách Châu Âu đang chờ chuyến bay tại phi trường Nội Bài. (Hình: Zing)

Báo Zing hôm 19 Tháng Ba cho hay nhiều đoàn du khách quốc tế đang kẹt ở Hà Nội muốn đi các nước Châu Âu hiện tại đều phải chọn bay vòng qua Bangkok, Thái Lan vì một số đường bay thẳng đang tạm dừng để phòng dịch COVID-19.

Trước đó, từ hôm 18 Tháng Ba, Hà Nội loan báo tạm dừng cấp thị thực cho người nước ngoài, bên cạnh việc áp dụng cách ly tập trung 14 ngày đối với người nhập cảnh từ Mỹ, Châu Âu và các quốc gia ASEAN.

VnExpress cho hay, do hàng trăm chuyến bay nội địa và quốc tế liên tục bị cắt giảm, gần nửa tiếp viên của Hãng Vietnam Airlines hiện đã phải xin nghỉ không lương. Con số này được ghi nhận là 1,400 người. Tờ báo dẫn lời ông Phan Ngọc Linh, trưởng đoàn tiếp viên Vietnam Airlines rằng các tiếp viên của hãng này buộc phải lựa chọn hoặc tạm hoãn hợp đồng làm việc từ một đến ba tháng không nhận lương hoặc đi làm một tuần nghỉ hai tuần…

Trong một diễn biến khác, Thủ Tướng Cambodia Hun Sen loan báo trên Facebook rằng nước này chính thức tạm dừng nhập cảnh đối với công dân Việt Nam từ 23 giờ 59 phút ngày 20 Tháng Ba nhằm “tránh những phiền toái của yêu cầu phải cách ly phòng dịch virus COVID-19”. Quyết định này có hiệu lực đối với người Việt Nam nhập cảnh bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không. (N.H.K)

Vietnam Airlines dừng tất cả các đường bay quốc tế đi/đến Việt Nam

Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) thông báo tạm dừng khai thác tất cả đường bay quốc tế trong mạng bay của hãng đến các nước đến hết tháng 4/2020. 

vietnam airlines, covid-19
Vietnam Airlines sẽ dừng tất cả các đường bay quốc tế đi/đến Việt Nam đến hết tháng 4/2020. (Ảnh minh họa: Vytautas Kielaitis/Shutterstock)

Cụ thể, các đường bay Đông Nam Á gồm Singapore, Thái Lan, Indonesia, Lào, Campuchia, Myanmar sẽ tạm dừng khai thác hai chiều từ ngày 21/3.

Đường bay Anh, Nhật Bản tạm dừng hai chiều từ ngày 23/3; trong khi đường bay Đức, Úc tạm dừng chiều Việt Nam đi từ ngày 24/3, chiều về Việt Nam từ ngày 25/3.

Trước đó, Vietnam Airlines đã tạm dừng khai thác các đường bay giữa Việt Nam với Trung Quốc, Hồng Kông, Ma Cao, Hàn Quốc, Pháp, Malaysia, Nga và Đài Loan.

Với các hành khách bị ảnh hưởng, Vietnam Airlines cho biết hãng sẽ miễn lệ phí và điều kiện thay đổi ngày bay, thay đổi hành trình trên vé cho tất cả hành khách bay quốc tế bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 xuất vé trước ngày 25/3.

Nguyễn Quân

Danh ca Thái Thanh từ trần

Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: 2 people, people smiling, people sitting
Image may contain: 3 people, people smiling, suit
No photo description available.
Huỳnh Duy Lộc

Danh ca Thái Thanh từ trần

Danh ca Thái Thanh đã từ trần vào lúc 11:50 AM, ngày thứ ba 17.3.2020 tạI Orange county, bang California.

Bản tin của VnExpress: https://vnexpress.net/…/danh-ca-thai-thanh-qua-doi-4070193.…

Thái Thanh và “Tình hoài hương”

Trong một chương trình nhạc Phạm Duy ở hải ngoại nhiều năm về trước, nhạc sĩ Phạm Duy có bày tỏ lòng tri ân đối với người em vợ của ông là nữ ca sĩ Thái Thanh: “Không có Thái Thanh thì sẽ không có ai biết đến Phạm Duy”. Câu nói của Phạm Duy không phải là một lời xưng tụng quá mức vì Thái Thanh thật sự là người đã thể hiện xuất sắc rất nhiều ca khúc do ông sáng tác.

Thái Thanh là thứ nữ của ông Phạm Đình Phụng với người vợ thứ hai. Người vợ đầu của ông Phạm Đình Phụng sinh được 2 người con là Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Người vợ thứ hai sinh ra Phạm Thị Quang Thái (tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy), nhạc sĩ Phạm Đình Chương và con gái út Phạm Thị Băng Thanh (tức ca sĩ Thái Thanh). Thái Thanh còn một người chị gái lớn, sinh trước ca sĩ Thái Hằng, nhưng không may đã trúng bom chết khi còn nhỏ. Thái Thanh sinh ngày 5 tháng 8 năm 1934 tại làng Bạch Mai, Hà Nội. Năm 1946, khi 12 tuổi, Thái Thanh theo các anh chị lên Sơn Tây tản cư. Người chị đầu của Thái Thanh đã bị trúng bom tử nạn nên cha mẹ cô lại đưa con chạy về xuôi, mở một quán phở đặt tên là Thăng Long. Thái Thanh bắt đầu hát từ năm 13, 14 tuổi nhưng từ nhỏ, cô không theo học nhạc ở trường lớp nào. Chị em Phạm Thị Quang Thái, Phạm Đình Chương và Phạm Thị Băng Thanh thường biểu diễn ngay tại quán Thăng Long. Đầu năm 1949, chị em họ Phạm gia nhập các ban văn nghệ quân đội của Liên khu IV. Quán Thăng Long dời về chợ Neo (Thanh Hóa).

Tuy nhiên giọng hát của Thái Thanh chỉ được mọi người biết tới khi cô theo gia đình rời vùng kháng chiến, về thành và vào miền Nam vào năm 1951. Từ đó, tên tuổi của cô gắn liền với ban nhạc Thăng Long và những nhạc phẩm của Phạm Đình Chương, anh trai cô, Phạm Duy, anh rể cô, và rất nhiều nhạc sĩ khác cùng thời.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã ghi chép về khoảng thời gian thành lập ban hợp ca Thăng Long ở miền Nam: “Một buổi sáng tháng 6 năm 1951. Trên chuyến máy bay cất cánh từ Gia Lâm, lời chào tạm biệt Hà Nội chưa kịp tan trong lòng mọi người, gia đình họ Phạm đã tới Saigon vào một trưa hè sáng sủa và mát mẻ. Chúng tôi xuống sân bay Tân Sơn Nhứt với một lời chào khác: Saigon, chào em!

Để sinh sống trong cuộc đời đã đổi mới, chúng tôi tới hát tại Đài phát thanh Pháp-Á (Radio France- Asie), phòng thu thanh đặt ở đại lộ de La Somme (đường Hàm Nghi) gần chợ Bến Thành. Mấy anh em họ Phạm thành lập một ban hợp ca lấy tên là ban Thăng Long (tên này đã được dùng làm bảng hiệu cho quán phở gia đình ở Chợ Đại, Chợ Neo trước đây). Rồi cũng trong tâm trạng lưu luyến dĩ vãng rất gần, Phạm Đình Viêm lấy tên là Hoài Trung, Phạm Đình Chương lấy tên là Hoài Bắc. Về phần nhạc mục (répertoire), ban Thăng Long đã có một số bài rất ăn khách do tôi soạn từ trước như “Nương chiều”, “Gánh lúa” hay mới soạn như “Tình ca”, “Tình hoài hương”… Ngoài ra những bài như “Nhạc đường xa” của Phạm Duy Nhượng, “Đợi anh về” của Văn Chung, “Được mùa”, “Tiếng dân chài” của Phạm Đình Chương cũng được hát…
Băng Thanh, cô em út trong gia đình, đổi tên là Thái Thanh để đi đôi với tên chị Thái Hằng. Thái Thanh khởi sự làm mê hoặc lòng người bằng giọng hát hãy còn rất mỏng của cô bé 17 tuổi. Bước vào nghề hát vào tuổi dậy thì, dù chẳng theo học một lớp dạy hát nào. Thái Thanh có lối hát rất Việt Nam, nghĩa là nhấn giọng vào từng chữ, giống như lối hát dân ca, hát chèo, hát chầu văn. Những bài như “Tình ca”, “Tình hoài hương” với âm vực rất rộng lúc đó được tôi soạn ra cốt để cho Thái Thanh hát và chỉ có cô mới hát nổi những nốt rất trầm (nốt Sol dưới) hoặc rất cao (nốt Sol trên) của hai tác phẩm này. Từ đó trở đi, đa số ca khúc của tôi đều dựa vào khả năng của giọng hát Thái Thanh. Cho tới khi tôi có thêm giọng Duy Quang, Julie và Thái Hiền…” (Hồi ký Phạm Duy, chương 1, tập 3)

Nữ ca sĩ Quỳnh Giao cũng nhận định về giọng ca Thái Thanh: “Thái Thanh có giọng hát đẹp như Kim Tước hay Ánh Tuyết, Mộc Lan, Châu Hà. Nhưng Thái Thanh lại khác hẳn mọi người ở khả năng phát âm rất rõ lời. Thái Thanh có sự bén nhạy thiên phú để hát mạch lạc từng câu, từng chữ với âm sắc hoàn toàn Việt Nam…” (Thái Thanh, lời ru của mẹ – Tạp ghi, tr. 310-311)

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các quan chức văn hóa đến kêu gọi cô hát các bài hát tuyên truyền cho chế độ mới, nhưng cô nhất quyết từ chối. Chính vì vậy, cô bị cấm trình diễn, cấm xuất hiện trên báo chí, truyền hình, phát thanh suốt 10 năm liền cho đến khi sang Mỹ định cư vào năm 1985. Trong những năm đầu tiên tại Mỹ, cô là một trong những ca sĩ được mời đi lưu diễn nhiều nhất và được mời thu âm cho nhiều chương trình ca nhạc của Trung tâm Diễm Xưa. Sau đó, cô mở lớp dạy hát tại nơi dạy nhạc của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi ở quận Cam, bang Cali. Năm 1999, ở tuổi 65, cô quyết định giải nghệ và việc này được đánh dấu bằng một đêm trình diễn đặc biệt của cô cùng với các con và các cháu.

Phạm Duy đã chia sẻ về tâm tình của ông và bối cảnh trong đó ông đã viết ca khúc “Tình hoài hương”, ca khúc được Thái Thanh thể hiện thành công hơn ai hết: ”Gần hai năm đã trôi qua, kể từ ngày tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ tại Sàigòn, rồi đi hát chỗ gần chỗ xa… Khi bắt đầu sáng tác lại, tôi soạn bài “Tình hoài hương” (1952). Nó là một bài hát hoài cảm, là sự nhớ nhung của riêng tôi đối với một nửa mảnh đất quê hương mà tôi vừa phải xa lìa. Ngờ đâu nó sẽ là bài hát hoài hương của một triệu người di cư vào Nam 2 năm sau đó. Rồi khi một triệu người khác, trong một thời gian khác, nghĩa là sau ngày lịch sử 30 tháng 4 năm 1975, phải vượt trời, vượt biển ra khỏi bán đảo chữ S thì bài “Tình hoài hương” của 20 năm trước lại trở thành một bài hát rất hợp tình, hợp cảnh… Bài hát nói tới sự nhớ thương con sông đào xinh xắn, nhớ phiên chợ chiều xa tắp, nhớ vòm tre non và làn khói ấm hương thôn nơi đó, trong mảnh đời thơ ngây của tôi, có con trâu lành nằm mộng bên đàn em bé, có mẹ già yêu dấu ngồi nghe tiếng sáo chơi vơi… Chao ôi là nhớ nhung!”

Ca khúc “Tình hoài hương” với giọng ca Thái Thanh (hát live):
https://youtu.be/lXiY-j1JI4U

Ca khúc “Tình hoài hương” trên Paris By Night 19:
https://youtu.be/rw-8IWG9vxM

Ảnh: Nữ danh ca Thái Thanh với Hoài Trung, Hoài Bắc Phạm Đình Chương và nhạc phẩm “Tình hoài hương”

Vì sao gọi “VÀO (VÔ) NAM, RA BẮC”

Image may contain: mountain, sky, outdoor, nature and water

Image may contain: plant, tree, grass, bridge, outdoor and nature
Image may contain: sky, tree and outdoor

Nguyễn- Chương Mt is with Nguyễn Kiều Phương.

Vì sao gọi “VÀO (VÔ) NAM, RA BẮC” (mà không gọi “vào Bắc, ra Nam”)?
“Đàng” có nhiều nghĩa, NHƯNG riêng chữ “ĐÀNG” (Đàng Trong, Đàng Ngoài), NGHĨA ĐÚNG LÀ GÌ?

Ngôn ngữ là bằng chứng sinh động lưu lại SỰ THẬT LỊCH SỬ, không xóa được!

&1&
Người Việt nói “vào (vô) trong”, chớ không ai đi nói “vào (vô) ngoài” hết. Cũng vậy, nói “ra ngoài, ra bên ngoài”, chớ không ai nói “ra trong”. Nghe trớt hướt, trật lất.
Vậy, khi nói “vào (vô) Nam” – tức là miền Nam được xem là “TRONG” (bên trong); còn “ra Bắc” – tức là miền Bắc được xem là “NGOÀI” (bên ngoài).

Từ đâu, từ hồi nào mà miền Nam trở thành “TRONG” còn miền Bắc lại trở thành “NGOÀI”?

&2&
Tới đây ắt hẳn quí bạn đều nhớ tới cuộc phân ranh hai miền NAM / BẮC, với danh xưng “Đàng Trong” (để chỉ từ phía Nam sông Gianh thuộc Quảng Bình cho đến tận Cà Mau) và “Đàng Ngoài” (để chỉ từ phía Bắc sông Gianh cho đến biên giới Việt – Tàu), vào thế kỷ 17.

Tôi có hỏi một vài bạn trẻ sinh viên, “ĐÀNG, nghĩa là gì?”.
Có bạn trả lời từ nhỏ đến lớn đi học không được thầy cô giải nghĩa, chỉ nghe nói “Đàng Trong / Đàng Ngoài” rồi học thuộc, vậy thôi. Thiệt sự vậy sao, trời? Lại có bạn bèn tra Google, gõ Wikipedia là từ điển “mở” (kêu bằng “mở” tùm lum, loạn xạ có đúng có sai), được giải thích như sau:
“Đàng là road, Trong là inside, Ngoài là outside. Đàng Trong tức là con đường bên trong, Đàng Ngoài tức là con đường bên ngoài”.

Đàng Trong là “con đường bên trong (hoặc) bên trong con đường”, đọc lên thấy khó hiểu (thế nào là “trong con đường”?), mờ mịt ý nghĩa hết sức. Rồi, đó là con đường nào vậy, mà lạ lùng, đặc biệt tới mức “bên trong con đường” thì… gồm cả một cõi miền Nam mênh mông luôn?

&3&
“Đường”, nếu theo đúng âm Hán-Việt thì có khoảng 20 chữ Hán khác nhau lận, cũng đều đọc là “đường”. Và, không có chữ “đường” nào mang ý nghĩa là “con đường” (road, street) hết ráo!

Để hiểu là “con đường” (road, street, avenue…), trong chữ Hán gọi là 路: “lộ” (như đại lộ 大路), hoặc là 道: “đạo”…Thành thử nếu cho rằng “đàng trong/đàng ngoài” nghĩa là “trong/ngoài con đường” thì phải viết chữ Hán là “nội lộ/ngoại lộ” (nên nhớ: hồi thế kỷ 17, chúng ta vẫn còn viết bằng chữ Hán chớ không phải chữ Quốc ngữ).

&4&
Thành thử tra tự điển chữ Nôm. Hồi xửa hồi xưa, thế kỷ 17, người Việt vừa xài chữ Hán vừa xài chữ Nôm (tức cũng dựa trên chữ Hán mà có những cách cấu tạo đủ kiểu, phức tạp lắm đa).
Trong Từ điển chữ Nôm, có ghi phát âm “Đàng” theo hai ký tự khác nhau: 唐, và 塘 . Để coi “đàng” nghĩa là gì.
唐, đọc là “đàng” (cũng được đọc là “đường”): có nhiều nghĩa nhưng không dính gì tới “con đường”, trong đó có một nghĩa hơi gần chút xíu, là “lối đi trong đình viện (sân nhỏ)”. Ừm, “ĐÀNG” (tỉ như trong danh xưng “Đàng Ngoài”) mà hiểu là… lối đi trong sân, coi bộ không ổn rồi đa.

Còn chữ thứ hai, 塘 (đọc là “đàng”, cũng được đọc “đường”) có mấy nghĩa lận, là cái ao, cái đầm, cái nhà… Coi bộ không hạp gì ráo với danh xưng “Đàng Trong / Đàng Ngoài”.

Thời may, trong Từ điển Thiều Chửu, Từ điển Trần Văn Chánh có ghi chú cái nghĩa nữa của chữ 塘 (đàng/đường) này là: “con đê, bờ đê”!

&5&
Quí bạn hãy cùng ngược dòng lịch sử…
Năm 1630, để ngăn chặn những cuộc tấn công từ Bắc hà (phía bắc sông Gianh) do vua chúa triều đình Thăng Long phát động, Chúa Nguyễn mời cậy nhờ Đào Duy Từ xây hệ thống hào lũy. Đặc biệt là “Lũy Thầy” với tổng chiều dài khoảng 34km, bắt đầu từ núi Đầu Mâu tựa vào dãy Trường Sơn kéo ngang ra tới cửa biển Nhật Lệ. Bề mặt thành lũy như mặt đê rộng rãi cho người lẫn voi, ngựa có thể dễ dàng đi lại trên đó.

Phòng tuyến giăng ngang giữa hai đầu núi và biển đã bịt kín các lối ra vào và hoàn toàn khống chế các mũi tấn công từ phía Bắc, phía bên ngoài thành lũy. Từ đó Nam hà (phía Nam sông Gianh trở vào) của Chúa Nguyễn được giữ vững.

=> ĐÀNG TRONG 塘 là cõi bên trong thành lũy (bờ đê 塘 của Lũy Thầy), về phía Nam.
ĐÀNG NGOÀI 塘 外 là cõi bên ngoài thành lũy, về phía Bắc.

&6&
Danh xưng “Đàng Trong”/”Đàng Ngoài” được lưu trong sách vở còn được nhìn thấy, đầu tiên là trong “Từ điển Việt – Bồ – La” của Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) vào năm 1651. Như vậy, cách gọi Đàng Trong/Đàng Ngoài xuất hiện trong quãng thời gian sau năm 1630 (xây đắp Lũy Thầy) và trước năm 1651 (được ghi trong Từ điển).

Rõ rành cách gọi hai miền là “Đàng Trong/Đàng Ngoài” được lấy theo hệ qui chiếu của miền Nam (từ phía Nam sông Gianh trở vào, Chúa Nguyễn gọi là “TRONG” – để phân định khác với Chúa Trịnh là “NGOÀI”).
Và, theo dòng thời gian sau đó, người dân miền Bắc cũng đã chấp nhận hệ qui chiếu này để gọi mình là “Đàng Ngoài”.

&7&
Vì lẽ, theo các sử liệu, trong giai đoạn phân tranh thì Đàng Trong phát triển mạnh mẽ hơn, mở rộng lãnh thổ tới Cà Mau; đồng thời xác lập những chuẩn mực văn hóa đa dạng!
Về đại thể, sự chuyển dịch trọng tâm về phía Nam là có lợi cho sự phát triển của người Việt và nước Việt nói chung.

Nguyễn Huệ (Quang Trung hoàng đế) vào năm 1789 đánh tan quân Thanh, đồng thời đặt dấu chấm hết đối với triều đình Hậu Lê tại Thăng Long. Cần nhớ: Nguyễn Huệ dựng nghiệp tại Qui Nhơn thuộc Đàng Trong. Nguyễn Huệ là người Đàng Trong.

Nguyễn Ánh, sau nhiều thăng trầm, đánh tan Tây Sơn, thống nhứt giang sơn, lên ngôi Gia Long hoàng đế năm 1802. Cần nhớ: Nguyễn Ánh dựng nghiệp dựa vào Gia Định và vùng châu thổ sông Cửu Long, đều thuộc về Đàng Trong.

&8&
Thực tế lịch sử đã in dấu ấn không bao giờ phai trong ngôn ngữ của người Việt, cho đến hiện nay! Gọi “ngoài Bắc” là xuất phát từ chữ “Đàng Ngoài”; gọi “trong Nam” là xuất phát từ danh xưng “Đàng Trong”.

Đã “TRONG (Nam)”, thành thử phải gọi là “VÀO/VÔ (Nam)”.
Cũng vậy, đã “NGOÀI (Bắc)” thì phải là “RA (Bắc)” (không ai đi nói “vào Bắc” hết ráo).
————————————————————————-
* Thắc mắc còn lại: “ĐÀNG” 塘 là con đê/bờ đê, vậy “lên đàng” bấy lâu nay được hiểu là “lên đường”, đúng hay sai?
Rồi, “Đàng Thổ” hồi thế kỷ 17 dùng để chỉ vùng Sài Gòn, Bến Nghé, đâu có bờ đê/con đê nào mà vẫn gọi là “Đàng”?
Bài viết tới đây dài rồi, để dành cho kỳ 2 giải đáp, đặng có cái mà đọc.

Hình ảnh: Sông Gianh ở Quảng Bình.
Di tích Lũy Thầy: cổng thượng Võ Thắng quan.
Di tích Lũy Thầy: cổng hạ Quảng Bình quan.

MIỀN TÂY…

MIỀN TÂY…

Vi rút Covid-19 có thể làm chết người ngay trước mắt, tức thời, nhưng đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa nuôi cả nước đang khô hạn, cạn kiệt nước (điều không thể tưởng tượng nổi) có thể gây thảm họa chết đói về lâu về dài.

Vẫn biết có nhiều lý do, như thiên tai, biến đổi khí hậu, Tàu cộng chặn dòng Mê Kông… nhưng việc không có chiến lược phát triển miền Tây Nam Bộ vững bền, coi nhẹ xem nhẹ vùng đất cực kỳ quan trọng này suốt bao năm là nguyên nhân cơ bản nhất.

Chưa bao giờ, tình trạng ly hương, tha phương cầu thực, bỏ nhà đi khắp nơi kiếm sống ở đồng bằng sông Cửu Long trầm trọng, kinh khủng như bây giờ.

Tôi nói thế bởi có căn cứ cụ thể. Quê bà xã tôi nằm ở cù lao Giêng, huyện Chợ Mới (An Giang), một vùng đất trù phú vào bậc nhất nước, giờ đây người thân họ hàng dưới đó bỏ vườn không nhà trống, đi khắp nơi Bình Dương, Vũng Tàu, Sài Gòn, ra phố Long Xuyên, Cần Thơ… làm thuê bởi không thể sống nổi với đất đai khô hạn, làm ăn canh tác khó khăn, chỉ còn vài người già, vài đứa trẻ con cầm cự với sự nghèo khó qua ngày.

Để một miền Tây Nam Bộ vốn giàu có trở nên kiệt quệ, đó là tội ác, cần ghi vào lịch sử cho con cháu mai sau hiểu được một giai đoạn kinh hoàng.

NGUYỄN THÔNG

Image may contain: outdoor and nature

Ông Lê Đình Kình là ‘khủng bố?’ – Huy Phương

Ông Lê Đình Kình là ‘khủng bố?’

Huy Phương

Hơn hai tháng nay, đại dịch COVID-19 hoành hành làm cho dân Việt, nhất là dân Hà Nội, quên mất chuyện ông Lê Đình Kình và biến cố Đồng Tâm. Nhưng điều làm chúng ta nhớ nhất, là ngày 17 Tháng Giêng năm 2020, Bộ Công An CSVN đã ra thông báo phong tỏa trương mục ngân hàng Vietcombank của bà Nguyễn Thúy Hạnh với số tiền hơn $38,791, do gần 800 người, vì thương cảm hoàn cảnh của ông Lê Đình Kình mà đóng góp. Lý do, theo công an CSVN, đây là số tiền đóng góp để “tài trợ cho hoạt động khủng bố!”

Thứ trưởng Bộ Công An CSVN cũng đã “lẹo lưỡi” nói rằng “Như chúng tôi đã công bố, các đối tượng trong vụ việc này đã khai nhận việc quyên góp và sử dụng tiền quyên góp để mua sắm vũ khí, vật liệu nổ, sản xuất vũ khí thô sơ và đã dùng để tấn công lại lực lượng chức năng.” Liệu một người dân đầu óc bình thường có thể tin vào lời kết án này không?

Đây là một thủ đoạn gán ép cố hữu của nhà nước cộng sản lâu nay, mà chúng ta nghe đã nhàm chán. Cộng Sản áp dụng những điều luật vô lý để áp đảo những người dân bất đồng chính kiến, với những tội tày trời như làm gián điệp cho ngoại bang, âm mưu lật đổ chính quyền, khủng bố, mà trong tay những người dân này, ngoài một hai tấm biểu ngữ, không súng đạn, không bom mìn, không giáo mác, cũng chẳng có chứng cớ gì là có bàn tay của ngoại quốc dính vào.

Năm 1960, trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyễn Hữu Đang cùng với nhiều văn nghệ sĩ, trí thức chỉ có trong tay một ngòi bút, cũng bị coi là “phản đảng,” “đầu cơ cách mạng.” Cùng nhà văn Thụy An, Nguyễn Hữu Đang bị kết án 15 năm tù vì tội “phá hoại chính trị,” “làm gián điệp cho ngoại bang…”

Giờ đây, ông Lê Đình Kình lại là một tên khủng bố sao?

Theo định nghĩa, khủng bố là hoạt động phá hoại, làm thiệt mạng người, gây hoang mang khiếp sợ cho tâm lý hoặc tổn thất cho xã hội và cộng đồng, nhằm mục đích chính trị hoặc tôn giáo. Khủng bố đặc biệt sử dụng bạo lực bừa bãi đối với những người không có khả năng chống cự với mục đích là sự nổi tiếng cho một nhóm, một phong trào, hoặc một cá nhân. Các tổ chức khủng bố có thể khai thác nỗi sợ hãi của con người để hỗ trợ đạt được những mục tiêu này.

Ngày 15 Tháng Tư, 2013, hai quả bom nổ tại cuộc đua Marathon ở Boston, giết chết 3 người và làm bị thương 282 người khác.

Vào ngày Thứ Tư, 2 Tháng Mười Hai, 2015, quân khủng bố xả súng bắn vào người dân Mỹ dự tiệc Giáng sinh của Trung Tâm Xã Hội Inland Regional Center phục vụ trẻ khuyết tật, tại thành phố San Bernardino, California, làm 14 người chết và 21 người bị thương.

Ông Lê Đình Công, con ông Lê Đình Kình, với gương mặt bầm tím vì bị tra tấn khi công an đưa lên truyền hình VTV “nhận tội.” (Hình chụp qua màn hình)

Một vụ tấn công bằng súng diễn ra vào lúc 2 giờ sáng ngày 12 Tháng Sáu, 2016, tại một hộp đêm ở Pulse, Orlando, Florida, nhắm vào người đồng tính làm 49 người thiệt mạng, 52 người bị thương.

Ngày 7 Tháng Giêng, 2015, ba tay súng tự xưng là thành viên Al-Qeada xông vào và xả súng ở tòa soạn tạp chí châm biếm Pháp Charlie Hebdo tại Paris, khiến 12 người, trong đó có tổng biên tập, thiệt mạng, và 10 người bị thương.

Tối 14 Tháng Mười Một, 2015, ba vụ nổ riêng biệt và 6 vụ nổ súng đã được báo cáo xung quanh thủ đô, trong đó có một vụ đánh bom gần Stade de France ở vùng ngoại ô Saint-Denis, tại nhà hát Bataclan và ít nhất là 4 tiệm ăn. Ít nhất 132 người đã thiệt mạng và 352 người bị thương.

Ngày 14 Tháng Bảy, 2016, đúng ngày Quốc Khánh của Pháp, một xe tải lớn đâm vào đám đông xem pháo bông ở thành phố Nice, giết chết 84 người và làm 50 người bị thương.

Tất cả những thảm kịch trên đây hay những hành động như gài bom trên máy bay, xe lửa, ném lựu đạn vào đám đông, đặt mìn bẫy trên đường lộ… đều được xem là những hành vi khủng bố! Ông Lê Đình Kình đã hành động ra sao để đủ yếu tố cho nhà cầm quyền ghép ông vào loại khủng bố?

Đồng ý là phong tỏa các trương mục, tài sản của khủng bố là việc quốc gia nào cũng phải làm. Hàng năm, phương Tây đã phong tỏa tài chính và tài sản hàng trăm triệu đô la của những tổ chức có liên hệ với chủ nghĩa khủng bố, Nhà Nước Hồi Giáo IS và các nhóm khủng bố thuộc mạng lưới Ai-Qaeda.

Nhưng ở đây, một ông già lãnh đạo quần chúng, nói cho lớn lao, chứ đây chỉ là mươi gia đình có quyền lợi đất đai trong xã Đồng Tâm, bị cường quyền viện lý do quốc phòng cướp đất, đã tin cậy, nhờ đến một người lớn tuổi trong làng, có nhiều tuổi đảng. Dân Đồng Tâm không có súng ống, bom mìn, chỉ có dao rựa nông nghiệp và một vài quả lựu đạn lép như quả na khô, nằm trong tay ông Kình khi chết. Chết rồi mà tay còn nắm chặt quả lựu đạn. Ghê thật!

Ông Kình không giết ai, nhưng chính ông bị giết, đem xác về đồn công an, mổ xẻ, may vá xong lại cho đem về nhà, ruột còn dấu khâu, mà lại là một tên khủng bố nguy hiểm?

Với lý do ông Lê Đình Kình là một tên khủng bố, trương mục giúp đỡ gia đình ông bị phong tỏa, sẽ đưa đến chỗ bị tịch thu. Trong chế độ này, những người đương đầu với chính quyền như ông sẽ bị tiêu diệt, tiền bạc sẽ bị sung công quỹ, nhưng đảng Cộng Sản không thể chà đạp lên danh dự của ông. Nếu không được gỡ bỏ cho chuyện mạ lỵ, áp đặt tiếng ác cho người lương thiện, rồi đây gia đình ông Kình sẽ chịu miệng tiếng đời đời là con cháu một tên khủng bố hay sao?

Ở trong các quốc gia độc tài, toàn trị Cộng Sản, việc triệt tiêu các tiếng nói đối lập từ quần chúng, cá nhân bất đồng chính kiến, hoặc gây bất lợi cho đảng và nhà nước không khó.

Staline, Putin, Mao Trạch Đông, Kim Jong Un hay Hồ Chí Minh, Lê Duẫn đã từng thanh trừng mọi tầng lớp trong đảng và trong cả nước chuyên truy lùng, thủ tiêu, các nhà đối lập, và nhẹ là thường bị tống giam trong các “trại lao nô” hay cho vào nhà thương điên. Cho nên đối với những thành phần bị quy chụp là gián điệp, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân hay khủng bố hãy còn là những lối kết tội ở mức thấp.

Khủng bố có thể là phương thức của kẻ yếu, lấy ít thắng nhiều, tấn công đột kích, bất ngờ và táo bạo, nhưng khi một nhà nước kiểu nhà nước Cộng Sản độc tài, độc tôn, có phương tiện bạo lực trong tay, đã có chủ trương trấn áp, khủng bố công khai, rồi sau đó kết án, vu vạ để bịt miệng người dân bất dồng chính kiến thì dân lành không sao chống trả nỗi!

Vụ Đồng Tâm và cái chết của ông Lê Đình Kình là một vụ “khủng bố” tiêu biểu, ở đây ai là kẻ chủ trương khủng bố, ai là nạn nhân của khủng bố, thì độc giả của tôi hẳn đã có câu trả lời! (Huy Phương)

Đảng, Đảng Viên & Tuổi Đảng

Đảng, Đảng Viên & Tuổi Đảng

1 dang vien

Đảng thực chất chỉ là đảng cướp.

Nguyễn Chí Thiện


CHXHCNVN, có lẽ, là nơi duy nhất mà danh tính của một cá nhân lại luôn kèm theo tuổi … đảng:

– Lê Khả Phiêu 71

– Nguyễn Thị Bình 73

– Lê Đình Kình 58 …

Trong một xứ sở theo chế độ đảng trị thì thâm niên tuổi đảng quả là một thuộc tính rất đáng kể, và đáng nể. Chả thế mà vào ngày 26 tháng 8 năm 2019, tất cả cáo báo đài nhà nước đều hớn hở loan tin:

“Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã tới dự và trao Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng tặng nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu. Tham dự buổi lễ có các Ủy viên Bộ Chính trị, các lãnh đạo Văn phòng Tổng bí thư, các đồng chí Ủy viên Thường vụ Quân ủy …”

Đồng chí Lê Khả Phiêu được toàn Đảng ưu ái không chỉ vì đã từng giữ quyền cao chức trọng mà còn vì ông là một nhân vật kiệt xuất, đặc biệt trong lãnh vực sáng tạo. Ngoài việc cầm quân, ông còn cầm bút và là tác giả của tuyển tập Mênh Mông Tình Dân mà thiên hạ (đôi lúc) đọc nhầm thành Mênh Mông Tiền Dân.

Khác với vị TBT kế nhiệm (Nông Đức Mạnh) đồng chí Lê Khả Phiêu không trang trí nội thất bằng cách dát vàng. Tư thất của ông trưng bầy toàn những sản phẩm đậm đà bản chất văn hoá dân tộc (và đều là hàng độc) như tượng bác Hồ, trống đồng, ngà voi … khiến khách khứa đều phải trầm trồ hay ái ngại – tùy theo cách nhìn của từng người.

Lê Khả Phiêu còn có sáng kiến rất độc đáo (tuy hơi kém “mênh mông” chút xíu) là thiết lập một hệ thống tiêu tưới tự động – sprinkler system – trên sân thượng của tư thất để làm thành một vườn rau nhỏ, dành riêng cho bếp ăn của gia đình, để khỏi phải dùng chung rau (bẩn) với bàn dân thiên hạ. Bằng vào những kỳ tích này nên trong buổi “Lễ Trao Huy Hiệu 70 Năm Tuổi Đảng,” Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng đã không tiếc lời tán tụng công đức của người tiền nhiệm: “Chúng tôi luôn học tập ở đồng chí về phương pháp, tác phong làm việc sâu sát, cụ thể và hiệu quả.”

Với loại đảng viên ở cấp địa phương thì lễ lạc loại này (thường) giản dị hơn. FB Mạc Văn Trang thuật chuyện:

“Hai hôm nay về Bãi Cháy (Hạ Long) mừng Cụ lão thành Cách mạng 90 tuổi đời, 70 tuổi Đảng, thân thiết trong gia đình. Cụ tham gia Cách mạng từ năm 16 tuổi, 20 tuổi (1949) đã vào Đảng CSVN. Con cháu cứ nhấn vào sự kiện Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng, tổ chức cho hoành tráng, tưởng Cụ 90 tuổi, lú lẫn, lẩm cẩm rồi, thì làm gì Cụ cũng nghe… Nhưng mình để ý, Cụ quan tâm đến 90 năm tuổi đời hơn là 70 năm Huy hiệu Đảng…

Cụ bảo, chúng nó cứ bày ra, nhưng tôi không cho mời ai đương chức cả, chỉ mời anh em, con cháu, bạn bè thân thiết thôi, nhân 90 tuổi mà… Mình bảo, sự kiện 70 năm tự hào lắm chứ nhỉ? – Cụ tặc lưỡi, được 12 triệu…

Tôi về hưu, suốt bao nhiêu năm làm Bí thư chi bộ, Tổ trưởng Dân phố, tham gia Mặt Trận, Hội người Cao tuổi … không bao giờ có phụ cấp, tất cả là ‘ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng’, tâm huyết, tận tụy…”

Mười hai triệu đồng VN, nếu qui ra Mỹ Kim, là tầm 700 đô la cho bẩy mươi năm năm “tâm huyết tận tụy.” Tính chi li hơn thì mỗi năm được một trăm, và mỗi ngày khoảng 25 xu Mỹ. Chả hiểu có đủ để mua một que kem?

Tuy thế, nếu bỏ chuyện tiền bạc qua một bên thì được như thế cũng quí hoá lắm rồi. Là công dân của một quốc gia đã từng liên tiếp đánh thắng mấy đế quốc to mà ông cụ vẫn còn sống sót, với nguyên vẹn tứ chi hình hài, mãi đến tuổi 90 (tưởng) đã là điều vô cùng may mắn và hy hữu.

Sự may mắn hiếm hoi này khiến tôi không khỏi trạnh lòng nhớ đến một trường hợp (không may) khác, của một đảng viên cộng sản khác. Trong bản Tuyên Bố Lên Án Tội Ác Đồng Tâm có đoạn viết về nhân vật này như sau:

“Cụ Lê Đình Kình 84 tuổi đời, 58 tuổi đảng, một lão thành cách mạng của đảng cầm quyền, một nhân cách đẹp, một khí phách lớn, kiên cường, bền bỉ, vững tin vào luật pháp nhà nước, vững tin vào lẽ phải, vào nhân dân trong cuộc đấu tranh với quyền lực tham nhũng, một già làng được hầu hết người dân Đồng Tâm kính trọng, tin yêu. Con người như vậy đã bị giết hại và phanh xác quá rùng rợn: Khảo tra, đánh đập bầm dâp khắp thân già. Kề súng tận tim, tận não xả đạn. Mang xác đi mổ bụng, phanh thây…”

Tôi trộm nghĩ thêm rằng chính cái “nhân cách đẹp, một khí phách lớn, kiên cường, bền bỉ, vững tin vào luật pháp nhà nước, vững tin vào lẽ phải” của cụ Lê Đình Kình chính là nguyên nhân gây ra thảm nạn. Cái chết tàn bạo của nạn nhân, và  mọi sự sách nhiễu cùng oan khuất mà thân nhân của ông đang phải ghánh chịu, cũng giúp cho tôi chợt hiểu ra thái độ nhận nại (hay nhẫn nhục) của nhiều đảng viên kỳ cựu khác từ nhiều thập niên qua.

Cụ Nguyễn Thị Bình, nhân vật đã nhận huy hiệu 70 tuổi đảng từ năm 2017, là một trường hợp điển hình. Theo Wikipedia: “Bà sinh năm 1927 là một nữ chính trị gia người Việt Nam. Bà nổi tiếng trên thế giới khi giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về hòa bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968-1973. Bà là một trong những người đại diện các bên ký hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định.”

2 dang vien

Nhờ vào những “kỳ tích” thượng dẫn nên dù cả MTGPMN lẫn CPCMLT đều bị giải thể (sau khi miền Nam thất thủ) Nguyễn Thị Bình vẫn được cho ngồi vào một cái ghế súp – Phó Chủ Tịch Nước – và bà đã ngồi im thin thít cả chục năm trời (1992 đến 2002) không dám ho he hay hó hé gì ráo trọi.

Mãi cho đến khi cuối đời Nguyễn Thị Bình mới rón rén lập ra một cái quỹ văn hóa với kỳ vọng “hưng dân trí, chấn dân khí” nhưng cũng không tồn tại được lâu. Báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 23/02/2019, ái ngại loan tin: “Bà Nguyễn Thị Bình – chủ tịch Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – ký văn bản thông báo về việc quỹ này chấm dứt hoạt động từ ngày 20-2 vì một số điều kiện khách quan.”

Tuy (nguyên) PCTN không nói gì về những “điều kiện khách quan” này nhưng ai cũng hiểu rằng bà (lại) tiếp tục ngậm bồ hòn làm ngọt. Thế mới rõ Nguyễn Thị Bình là người trí thức và là kẻ thức thời, chứ cứ như nông dân Lê Đình Kình (“kiên cường, bền bỉ, vững tin vào luật pháp nhà nước, vững tin vào lẽ phải, vào nhân dân”) thì e khó thọ đến bây giờ, và chưa chắc đã được chết toàn thây.

Mà có riêng chi bà Bình, ông Thọ, ông Phát, bà Định … (và ngay cả đến ông Hồ) cũng đều chọn thái độ “thức thời” tương tự vì họ biết cái đảng (cướp) của mình rõ hơn ai hết. Chỉ có những thường dân ngây thơ như chúng ta thì vẫn cùng nhau lên tiếng “đòi hỏi phải truy tố những kẻ đã sát hại cụ Kình.” Làm sao có thể can thiệp vào chuyện trừng phạt đảng viên của một đảng cướp cho dù đây là “một vụ án một tội ác trời không dung, đất không tha” chăng nữa? Công lý chỉ có thể được thực thi sau khi mọi người đều đã nhận diện được bọn cướp này, và quyết tâm đánh đuổi cho đến khi chúng ngã gục – bằng mọi giá.

Tưởng Năng Tiến
3/2020

Đại họa đã đến !

Đại họa đã đến !

@Nguyễn Ngọc Già

Lần đầu tiên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chỉ ĐÍCH DANH: Trọng – Phúc – Ngân trong Báo Cáo Nhân Quyền! Điều này thật là nghiêm trọng! Rất nghiêm trọng!

CSVN quả là “họa vô đơn chí”!!!
Dân chúng nói quá nhiều rồi mà không chịu nghe!
Kỳ này tiêu táng đường rồi!
___________________________________

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm 11/3 công bố Báo cáo Nhân quyền Quốc gia năm 2019, lên án tình hình nhân quyền tại Việt Nam trong năm 2019 trên một loạt các lĩnh vực.

“Nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước độc tài được cai trị bởi một đảng duy nhất, Đảng Cộng Sản Việt Nam dẫn đầu bởi Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Cuộc bầu cử Quốc hội gần đây nhất vào năm 2016 không tự do và công bằng, dù có sự cạnh tranh một cách hạn chế của các ứng viên được Đảng chọn”, phần mở đầu về Việt Nam của báo cáo viết.

Báo cáo mới của Hoa Kỳ xác định các vi phạm của chính quyền Việt Nam trong các vấn đề bao gồm: bắt cóc, bắt giam người tùy tiện, tra tấn người bị bắt tạm giam, tình trạng đối xử bất công đối với các tù chính trị. Hạn chế nghiêm trọng nhất ở Việt Nam theo báo cáo chính là hạn chế các quyền tự do bao gồm tự do biểu đạt, tự do báo chí, tự do internet, và tự do tôn giáo. Hoa Kỳ cáo buộc chính quyền Việt Nam đã bắt giữ tùy tiện những người dám lên tiếng chỉ trích chính phủ.

Báo cáo gồm 7 phần bao gồm: tôn trọng con người, tôn trọng các quyền tự do dân sự, bầu cử tự do, tham nhũng và minh bạch, phản ứng của chính phủ Việt Nam với các cáo buộc và điều tra của quốc tế về vi phạm nhân quyền, phân biệt đối xử và buôn người, quyền của người lao động. Trong tất cả các phần này, Việt Nam đều bị chỉ trích có những vi phạm, mức độ nghiêm trọng tùy theo từng phần…

Fb Nguyễn Ngọc Già

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=492436828312212&id=100026376973361