NGƯỜI VIỆT NAM GIAN VÀ THAM

Mạc Van Trang

Trần Thành Nam

Tôi năm nay 60, sinh ra và lớn lên dưới mái trường XHCN, đã du học ở Đông Âu trên chục năm. Luôn tự hào mình là người Việt Nam trong suốt khoảng hơn bốn mươi năm đầu cuộc đời mình. Chưa bao giờ nghi ngờ đạo đức nhân đạo và tính hướng thiện của người Việt, tức của tổ tiên mình. Thời thanh niên bên trời Âu tôi luôn từng tự hào tự gọi mình là Việt Cộng, từng là chủ tịch Hội sinh viên Quốc tế toàn Balan nơi tôi học được khoảng 1 tháng trước khi bị Đại sứ quán VN tại Vacsava gọi lên bắt từ chức xuống thành Phó CT phụ trách Học tập … Nói thế chỉ để biết gốc gác chính trị của tôi rất cộng sản và trong sáng, bởi vì cha ông tôi cũng rất trong sáng và theo cộng sản suốt đời.

Về nước, tôi làm việc cho các tập đoàn nhà nước lớn và tiếp tục có điều kiện đi công tác nước ngoài nhiều, làm việc với người nước ngoài rất nhiều. Được đọc và tiếp xúc nhiều, tôi nhận thấy là nước nào họ cũng có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng và được nhân dân quý trọng vì đã nói lên những thói hư tính xấu của dân tộc mình, trong khi người Việt chỉ thích tự khen mình: Người Việt cao quý, là Lương tâm Nhân loại …(!) và luôn ép người khác khen mình. Hôm nay, trên Vietnamnet ông Vũ – một chủ hãng cafe Việt, còn đề nghị : Mỹ và Tàu lãnh đạo thế giới về chính trị và kinh tế rồi, còn “lá cờ nhân văn” chưa ai nắm và Việt Nam hãy nắm lấy lá cờ nhân văn đó của thế giới để sánh ngang với Tàu và Mỹ (!)… thì ngoài sức tưởng tượng và chịu đựng của tôi rồi !

Đấy là lý do trực tiếp làm tôi viết bài này, nên trước khi nói về người Việt như tiêu đề, xin cho tôi có một hai câu về “Lá cờ Nhân văn” thế giới, như sau :
Ông Vũ đã đúng khi nói có Lá cờ Nhân văn thế giới. Nhưng ông đã sai khi nói chưa có ai nắm lá cờ đó, và ông càng sai nữa khi nói Việt Nam có thể nắm lấy lá cờ đó và lãnh đạo thế giới !
– Thứ nhất, nếu đã tồn tại một lá cờ nhân văn thế giới, thì nhất định nó cũng đang tồn tại chủ nhân tương xứng, cả hai đều chỉ là khái niệm. Chủ đó phải là dân tộc có tính nhân văn nhất thế giới và được các dân tộc khác công nhận, bởi lá cờ này không thể cướp được, đúng không ạ ? Ông Vũ nói nó vô chủ là rất cơ hội (hèn chi ông được tham dự ĐH Đảng XI với tư cách doanh nhân, nếu tôi không nhầm ?).
Nhưng theo tôi, nó đang ở trong tay dân tộc nào, đất nước nào đang có nền văn hóa nhân văn nhất (ở thời điểm này) thu hút được nhân tài và thế hệ trẻ được cả thế giới đến học, làm việc và ở lại sống nhiều nhất, sinh ra nhiều người tài năng và thành công nhất cho thế giới. Theo ông Vũ, đó sẽ là Việt Nam ? Nước ta đang và sẽ thu hút được bao nhiêu người nước ngoài đến học ? Ông hãy góp ý thế cho Đại Hội XI nhé ! Chúc mừng ông.

Trở lại với tiêu đề chính, cách đây khoảng gần chục năm, trong một cuộc nói chuyện bạn bè thân, tôi đã hỏi một người Anh một câu và yêu cầu trả lời trung thực : “Nếu phải lột tả người Việt trong một hay hai từ, “mày” sẽ nói thế nào ?
Không được rắc complements !” Biết ý tôi, không ngần ngại, anh bạn người Anh nói luôn : “Câu hỏi này người nước ngoài chúng tao ở VN luôn thảo luận với nhau khi không có người Việt, và đều nhất trí có câu trả lời giống nhau, nhưng không bao giờ dám nói ra với người Việt. Mày là người VN đầu tiên hỏi tao câu này không với ý định muốn nghe một lời khen, nên tao sẽ nói thật, đó là : Greedy Vietnamese. Vâng, đó là : “Người Việt tham lam !”
Dù đã chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất” với đầu óc cởi mở nhất, tôi đã choáng váng và cứng họng một lúc không nói được gì. Mãi sau, tôi mới thốt lên đau đớn vì biết bạn mình không nói dối : “Greedy ? Why ?” -“Tham lam ? Tại sao ?” Bạn tôi cười : “Thì người Việt chúng mày, trừ mày ra, (nó thương hại tôi !), luôn luôn cái gì cũng muốn được, không nhường cái gì cho ai bao giờ : Hợp đồng thì điều khoản ngon nhất, giá phải rẻ nhất, hàng phải tốt nhất, giao hàng phải nhanh nhất, bảo hành phải vô thời hạn, thanh toán thì chậm nhất, và … hoa hồng thì phải khủng khiếp nhất !” Tôi chết đứng ! Tôi biết nó nói đúng hoàn toàn. Nó làm thương mại với người Việt và ở VN gần hai chục năm rồi !
Nó (và đa số người nước ngoài cũng vậy) nhìn người Việt qua những gì nó thấy ở những cán bộ nhà nước hàng ngày làm việc (đàm phán thương mại) với nó ! Tôi đã từng đàm phán với nó cách đây hơn hai chục năm, và với rất nhiều người nước ngoài khác, chưa bao giờ biết đòi hỏi ai một cent (xu) nào từ vô số hợp đồng ngoại thương tôi đã đàm phán và ký kết, nhưng tôi biết tôi là ngoại lệ, nên tôi biết mình có quyền và có thể nhìn vào mắt mà hỏi nó (bạn tôi) hay bất kỳ ai (thương gia nước ngoài) đã làm việc với tôi, câu hỏi đó mà không sợ bị nó/họ cười khinh cho.
-“Vậy, tính từ thứ hai “bọn mày” (tôi đã từng cùng nó có dịp uống bia trong các câu lạc bộ doanh nhân người Singapore, Malaysia, Nhật, Anh, Mỹ, Hàn, Pháp…do các Amcham, Eurocham… tổ chức) miêu tả người Việt là gì ?” -Tôi dũng cảm tiếp tục, hy vọng lần này sẽ được nghe lời dễ chịu hơn. Câu trả lời là : “Tricky ! Tricky Vietnamese !” (Gian ! Người Việt hay gian dối !)”.
Tôi hét lên : “Không thể nào ! Mày không đang trêu tức tao đấy chứ ?!” Bạn tôi trả lời : “Mày muốn tao trung thực mà ?”
– “Vậy tại sao lại là gian ?” tôi cố gắng chịu đựng.
– “Vì chúng mày không bao giờ nói thật, nói thẳng, và có nói rồi cũng tìm cách thay đổi nếu có lợi hơn. Chúng mày luôn nghĩ rằng mình khôn hơn người và luôn luôn xoay sở để hơn người khác…” Tôi ngồi im lặng, điếng người, muốn khóc, và cố uống tiếp vại bia tự nhiên đắng ngắt. Từ đó tôi ghét uống bia. Nó nhắc tôi buổi tâm sự với phát hiện kinh hoàng trên. “Từ đó trong tôi” “tắt ngấm” “nắng hạ”… là người Việt ! Nhưng nội dung và diễn biến của cuộc nói chuyện thân tình trên thì tôi dù muốn cũng không bao giờ quên được !

Sự thực là tôi đã phải trăn trở rất nhiều, dằn vặt rất nhiều với điều này từng ngày từ đó : Đặc điểm bản chất của người Việt là gì so với người nước khác ? Tại sao người nước ngoài lại đang nhìn chúng ta tệ hại như thế : Gian và Tham ? Tôi đã không thể phản bác được ông bạn người Anh của mình dù tôi với nó “cùng ngôn ngữ”: đều mê The Beatles ! Có ăn nhằm gì đâu ! Nó vần bảo lưu quan điểm ! Một lần gần sau đó tôi trở lại đề tài với nó : “Tại sao mày nói người Việt rất tham lam, cái gì cũng muốn, và gian, cái gì cũng khôn lỏi hơn người, mà mày vẫn làm ăn với chúng tao ?”.
Bạn tôi cười bí hiểm trả lời: “Đấy chính là bi kịch của người Việt, ít nhất là của những người Việt đang không có quyền thế hiện nay”. Rồi nó tiếp : “Chính vì người Việt gian và tham nên chỉ có những người gian và tham hơn mới dám làm ăn cùng chúng mày !”
– “Ý mày nói đa số thương nhân nước ngoài làm việc với VN là gian và tham ?”
– “Gần như đúng thế !”
– “Cả mày nữa ?”
– “Gần đúng, vì lúc đầu tao cũng không gian, nhưng tao mất nhiều quá và buộc phải chơi theo cách của người Việt thôi…!”
– “Vậy mày gian thế nào ?”
Bạn tôi lại cười bí hiểm : “Nói mày đừng buồn, đa số người Việt kém tiếng Anh, và hầu hết kém luật pháp một cách thê thảm, nhất là luật thương mại. Càng to chức thì điều này càng đúng, mày là lính quèn nên khá giỏi. Hì hì, mà tiếng Anh là của bọn tao, luật pháp các nước khác cũng đều đi trước VN, nên
chúng tao chỉ có cách dùng tiếng Anh kém cỏi vô nghĩa của chính chúng mày để làm hợp đồng thương mại, và luật thương mại quốc tế nữa…thì chúng tao mới bình đẳng được !”.
Rồi nó bồi thêm : “Thế mày nghĩ bọn tao có thể cung cấp hàng tốt nhất, giá rẻ nhất, thời hạn nhanh nhất với trách nhiệm vô hạn được thật à ?!”
Đó là câu chuyện của hơn 10 năm trước.

Tôi đã kiểm tra độ khách quan của đánh giá đó suốt 10 năm qua với rất nhiều người nước ngoài từ các vùng, miền, đất nước có văn hóa và chính trị khác nhau mà tôi có thể tiếp cận. Đa số câu trả lời kiểm chứng (không phải tất cả) xác nhận sự khách quan và tính gần đúng của nhận xét của bạn tôi. Nhận xét đó đã bắt tôi suốt hơn mười năm qua phải tìm hiểu văn hóa và bản chất dân tộc ta là gì ? Tại sao chúng ta lại để đến nông nỗi này – để người khác nghĩ và đánh giá mình là dân tộc gian, tham ?! Người Việt gian tham ư ?! Đau xót lắm, nhưng tôi vẫn không phản bác được bạn mình, với những gì tôi và chúng ta vẫn thấy xung quanh trên đất nước chúng ta…!!!
Nó là cái văn hóa gì ?! Hôm nay, có lẽ tôi đã trả lời được câu hỏi đó cho mình.

Dân tộc ta không phải thế ! Có những hạt sạn đã được vô tình hay cố ý gieo vào đạo đức, lối sống dân ta mà có lẽ người gieo cũng không muốn và không biết mình đã làm gì ? Chúng ta phải đợi đến vụ gieo hạt sau thôi !

MVT xin bình thêm: Nguồn gốc GIAN và THAM từ đâu gieo rắc, sinh sôi trong dân tộc này? Cứ xem lương quan chức bao nhiêu mà xe hơi, nhà lầu, biệt phủ, tiêu xài xa hoa, cho con du học… thì rõ. Chết rồi còn mồ to mả lớn, gia sản trăm ngàn tỉ, mà không bỏ ra cứu trợ đồng bào, chỉ hối lộ thần phật để sống lâu, giàu thêm nữa! Đại họa cho dân tộc là từ lũ đó!

Sách có linh hồn không?

Trí thức Việt Nam

Trận đốt sách đầu tiên tôi chứng kiến diễn ra tại lề đường trước mặt rạp chiếu bóng Cao Đồng Hưng… #BuiBichHa #HocXa

Trân trọng cảm ơn sự ủng hộ và đồng hành của quý độc giả.

Sách có linh hồn không?

  • Bùi Bích Hà
  • Chủ Nhật, 12/04/2020 • 1.4k Lượt Xem
  • Sinh trưởng ở thành phố Huế cổ kính, những thập niên đầu và giữa thế kỷ 20, chúng tôi chịu một nền giáo dục hết sức nghiêm khắc của gia đình. Cha mẹ và cả các anh chị, kiểm soát con em rất chặt chẽ về cả hai phương diện hành vi và tư tưởng. Người lớn rất sợ chúng tôi tiêm nhiễm những điều chất chứa trong nội dung các cuốn sách, nặng nhất là sách truyện hay tiểu thuyết. Bàn học của chúng tôi không có sách nào khác ngoài tập vở liên quan đến chương trình học ở nhà trường. Vài bạn may mắn được gia đình chăm sóc kỹ thì có mấy cuốn sách hồng mỏng tang nêu cao gương đạo đức cho tuổi thiếu niên.

Phần tôi, người vô tình gợi ý cho tôi tò mò muốn đọc sách từ tuổi lên bảy là chị cả của tôi. Bố mẹ tôi vì công việc, thường vắng nhà. Khác với tôi bị một chị và một anh trên mình canh gác và trừng phạt thay bố mẹ, chị không bị ai giám sát cả nên chị tự do đọc bất cứ sách gì chị muốn. Tôi còn nhớ như in cảnh những buổi trưa mùa hè gió hây hây mát, chị ngồi dựa lưng trên cái ghế xích đu đặt ở mé hiên thấp thoáng nắng từ cái giàn thiên lý lá xanh như ngọc, quyển sách úp hờ hững trên ngực, hai mắt chị lim dim, khuôn mặt chị đằm đằm nét dịu dàng thỏa thuê của một bông hoa hé cánh. Chị ngưng đọc từng lúc như thế khiến tôi thầm đoán chắc chị đang ôn lại những gì chị vừa thấy mô tả qua mấy trang sách chị cầm trên tay. Điều này kích thích trí tưởng tượng non nớt của tôi, khiến tôi liều giấu một cuốn của chị trên cái hộp nước trong bồn cầu để tôi có chỗ đọc nó. Dần dần, bằng cách này, tôi đọc được nhiều sách lắm, của Dương thị Hạnh, Hoàng Ngọc Phách, Lê văn Trương, Phạm Cao Củng…, nhiều nhất là của Tự Lực Văn Đoàn. Có những cuốn đối thoại giữa các nhân vật rất hay và tôi bắt chước họ bằng cách một mình lần lượt đóng mấy vai, một mình đối đáp qua lại, làm đủ cử chỉ như sách mô tả đằng sau cánh cửa phòng vệ sinh tôi đã chốt kỹ. Sau này lớn lên, ăn nói trôi chảy, khẩu khiếu của tôi chắc từ đây mà ra.

Năm tháng trôi qua, như các bạn bè cùng trang lứa, thời mới lớn, tôi cũng có nhiều anh ngấm nghé. Có một anh du học bên Pháp về, cứ mỗi lần đến thăm tôi, anh đều cho sách, những cuốn anh chọn mua ở nhà sách Albert Portail (sau này là Xuân Thu) trên đường Catinat, Saigon. Nhờ anh, tôi đọc hết những cuốn của Francoise Sagan và rải rác trong chương trình học bên Văn khoa, vài cuốn của Jean Paul Sartre, Albert Camus, Somerset Maugham, Andre Gide (tôi bỏ nửa chừng) Alain Robbe-Grillet (tôi không mấy thích). Riêng trong số sách anh cho, có một cuốn không thuộc loại văn học nên tôi đặc biệt lưu ý, cuốn Sur Les Hauts Plateaux du Vietnam, viết về đời sống của các bộ lạc thiểu số vùng cao.

Đường sách Sài Gòn xưa.

Thấy anh qua lại đã lâu mà tôi thì lửng lơ, mẹ tôi khuyến khích: “Này con, mẹ thấy cậu Thụy được đấy. Trai gái quen nhau mà cậu ấy chỉ cho con sách. Người quý sách tính tình nho nhã, thanh lịch và sâu sắc con ạ!”

Tôi ngạc nhiên nghe nhận xét của mẹ trong cách đánh giá một con người. Nhất là bà xuất thân từ một làng quê nghèo Bắc Ninh, bản thân mù chữ, trưởng thành với công việc đồng áng lam lũ cho đến khi bước vào ngôi nhà bề thế của bố tôi để sinh con cho ông. Mãi sau này, nghĩ lại, tôi mới nghiệm ra niềm an ủi nuôi sống mẹ tôi qua suốt cuộc đời nhọc nhằn, cơ cực của bà là mấy cuốn Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc mà tôi thực sự không biết nhờ đâu bà thuộc lòng không sót một câu!

Đến đời tôi, đứa con không ai chờ đợi trong gia đình vì trên tôi đã có một chị xinh đẹp và một anh khôi ngô, tuấn tú. Từ khi lọt lòng, tôi hẩm hút trong tay người đàn bà sinh ra tôi mà tôi chỉ được gọi là chị, loanh quanh với “người chị” từ tinh mơ đến quá nửa đêm, ngày nào như ngày nấy, phải làm trăm công ngàn việc, nhiều lắm chỉ cho tôi thỉnh thoảng ngửi hơi áo đầy mùi mắm muối của chị, không có thì giờ bế ẵm, chuyện trò với tôi, bỏ mặc tôi trong cái xe đẩy bằng mây, lọc cọc bốn cái bánh gỗ trong gian bếp ám khói là nơi chị phải đánh vật suốt ngày với mấy ông đầu râu để lo cơm nước cho mấy chục nhân khẩu. Biết đi rồi, tôi vẫn một mình lủi thủi chơi với mấy con côn trùng vô hại, với cái chày giã cua quấn cái tã cũ giả bộ làm búp bê, với cái bánh xe lăn vòng quanh cái sân gạch và tôi luôn miệng mời chào, “Chị ơi, chị đi xe của em lên chợ Đông Ba không?” Lớn hơn tí nữa, tôi lăn lóc từ sáng đến chiều tối với con cái những người thợ thuyền và công nhân trong nhà, chơi đủ thứ trò chơi lảm nhảm của đám con nít không có ai giáo dục như tôi. Phước đức tổ tiên để lại, nhờ chị cả, tôi bước vào thế giới sách và học được bao nhiêu điều kỳ diệu qua ngôn ngữ và cách ứng xử của các nhân vật tác giả vẽ ra trong những cuốn sách ấy. Cũng cắp sách đi học như nhiều trẻ con khác nhưng vì có tình yêu chữ nghĩa, tôi với biển học như cá gặp nước, cha mẹ không cần roi vọt đe nẹt, thúc bách. Hơn ai hết, tôi sớm biết sách là chìa khóa mở cửa một thế giới huy hoàng, của ánh sáng, của tâm hồn, của trí tuệ, của trái tim và của trí khôn nhân loại.

Mấy tháng nay, tôi có chị bạn đang loay hoay tìm hiểu, thu góp mọi tài tiệu liên quan đến những vụ đốt sách xảy ra ở Sài Gòn những ngày đầu tiên sau biến cố 30 tháng tư 1975… Chị nói với tôi: “Tội đốt sách cũng ngang với tội diệt chủng. Lịch sử kết tội những lò hơi ngạt của Hitler, sao không ai kết tội kẻ đốt sách?” Bạn tôi không quá lời nếu chúng ta hình dung được mỗi con chữ, mỗi cuốn sách cũng có linh hồn.

Trận đốt sách đầu tiên tôi chứng kiến diễn ra tại lề đường trước mặt rạp chiếu bóng Cao Đồng Hưng, gần chợ Bà Chiểu, Gia Định. Tôi không biết có bao nhiêu cuốn sách và những loại nào được gom thành đống có ngọn, cao chừng hơn một thước, đáy tòe ra chừng thước rưỡi. Nam nữ đoàn viên đội băng đỏ xúm quanh, hăng hái diễn thuyết về nền văn hóa Mỹ Ngụy đồi trụy cần phải được đốt sạch. Họ kêu gọi dân chúng tự giác đem nộp sách cho ủy ban quân quản xử lý hay là chờ nhà cửa bị lục soát, sách bị tịch thâu và người mang tội với giải phóng và nhân dân? Hiệu triệu xong, họ cùng nhau hò hét inh ỏi rồi châm lửa vào nấm mộ sách. Ngọn lửa nhanh chóng bốc lên ngùn ngụt, khói bay khét lẹt. Tôi hơi lạ, nghĩ sao sách mới in ra thơm mùi giấy, mùi mực là thế mà khi bị đốt, sách không thơm nữa? Mỗi tờ, mỗi trang là thịt da của sách chăng?

Sau màn đốt sách này, tôi chờ đợi phải chứng kiến thêm nhiều lần nữa nhưng không! Có ai đó thông suốt về kinh tế tầm nhỏ, đã mách nước chính quyền giải phóng đừng dại dột đem sách ra đốt vì tiền đấy! Đem bán ve chai hay giấy lộn sẽ thu được khối tiền. Thế là lề đường đầy người trải những tấm bạt bày bán sách cân theo kí lô và bạn hàng chạp phô các chợ xé sách xoàn xoạt để lấy giấy gói các vật phẩm bán lẻ cho người mua.

Không đốt sách nhưng sách vẫn là một hiểm họa đáng sợ cho những kẻ không có khả năng đọc sách, hiểu sách để làm chủ sách. Sách vẫn muôn đời là ngọn đuốc soi đường, là vũ khí tranh đấu hiệu quả trong nỗ lực xây dựng tự do, dân chủ, nhân quyền và hạnh phúc cho con người chống lại bóng tối của ngu muội và của sự ác. Không triệt được sách, không bỏ tù được sách thì triệt người viết sách, bỏ tù tác giả. Sau cuộc chiến đốt sách sớm tàn lụi là cuộc chiến truy đuổi và bách hại các văn nghệ sĩ, nhà báo, học giả, trí thức kẹt lại trong nước.

Viết đến đây, tôi sực nhớ mẹ tôi xuất thân mù chữ. Rõ ràng bà không có khả năng đọc, hiểu và làm chủ sách nhưng sao mẹ tôi không hằn thù, không sợ hãi sách mà trái lại, bà quý sách và ca tụng những người quý sách? Sự khác biệt giữa mẹ tôi và các đội viên mang băng đỏ ở tay áo ngày 30 tháng tư 1975, cả những kẻ ra lệnh cho họ đốt sách, là gì? Phải chăng là trái tim của yêu thương con người, của thiện ý muốn thấy cuộc đời này tươi đẹp hơn, tiến bộ hơn, sáng sủa hơn? Phải chăng là niềm tin vào khối óc con người cần được nuôi dưỡng và phát triển thay vì triệt hạ nó?

Thi sĩ Phùng Quán hạ bút viết những câu thơ để đời: “Có những phút ngã lòng, tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.” Mẹ tôi là nhân chứng cho thơ của ông khi bà sống được như một người tử tế và đi trọn cuộc hành trình khốn khó của bà trên mặt đất này cũng chỉ nhờ những câu thơ trong Kiều, Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc, để bà vịn đứng lên và không qụy ngã. Chữ nghĩa là tường thành, là đá tảng, là gậy thép, là sức mạnh sinh tồn vượt qua mọi thử thách và đe dọa. Sợ là phải.

Mới đây, nhân chuyện con nhện giăng tơ ở vườn sau nhà tôi, chúng tôi nhớ lại bài thơ cổ đăng trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, người Việt Nam nào ra đời trong thế kỷ 20 đều thuộc: “Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ/ Buồn trông con nhện giăng tơ/ Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai?”… Điều bất ngờ vô cùng lý thú là một anh trong nhóm chúng tôi đang có nguyên vẹn cuốn sách này trong tay, khiến tôi ngẩn ngơ rồi kinh ngạc, tự hỏi làm sao mà một cuốn sách mỏng có thể trôi nổi gần một thế kỷ, qua biết bao tai ương, sóng gió để vẫn đường hoàng tồn tại trong tủ sách của một người suốt đời yêu sách như thế?

Tôi nhất định tin rằng không chỉ xương da mà sách còn có linh hồn và linh hồn ấy bất tử…

Bùi Bích Hà
16-4-2018

Đăng lại từ bài viết cùng tên trên Hocxa.com

M.TRITHUCVN.NET

Sách có linh hồn không? – Trí Thức VN

Không đốt sách nhưng sách vẫn là một hiểm họa đáng sợ cho những kẻ không có khả năng đọc sách, hiểu sách để làm chủ sách. Sách vẫn muôn đời…

TIN TỔNG HỢP (BÙI VĂN THUẬN)

TIN TỔNG HỢP (BÙI VĂN THUẬN)

‘…Giải tán đảng cộng sản, bắt giam những kẻ coi Trung Quốc là quan thầy, kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, huy động và kêu gọi mọi người dân đồng lòng cùng Tổng thống Phúc để chống thù trong (tàn dư bè lũ Nguyễn Phú Trọng)…’

1. Chiêu trò dùng chim mồi để câu tiền của ban tuyên giáo đã bị lộ tẩy. Cộng đồng mạng đã phát hiện con chim mồi “neo đơn, không nơi nương tựa” trên người đeo đầy vàng. Ngay lập tức tuyên giáo suỵt báo chí gỡ toàn bộ hình ảnh “người neo đơn” này. Cộng đồng mạng phát hiện, chim mỗi đeo vàng là bà Nguyệt, Phó Giám đốc trung tâm bảo trợ xã hội Cà Mau.

2. Trào lưu ăn xin đang trỗi dậy trong đại dịch, nhất là các công ty, hội đoàn của đảng- nhà nước:

– Mới đây, VietNam Airlines sau khi ngạo nghễ đón công dân (chủ yếu con quan chức- đảng viên đang du học ở Vũ Hán) về nước đã ngay lập tức giở bài ăn vạ: Đòi chính phủ hỗ trợ 12.000 tỷ ngay lập tức, không được chậm chễ. (Đọc xong thông tin này lại nhớ bà cụ bán con gà cuối cùng trong nhà để “quyên góp” chống dịch cúm Tàu).

– Hội nhà báo Việt Nam cũng không chịu kém miếng, hôm qua 07/4 cũng đã có văn bản xin chính phủ hỗ trợ. Hội nhà báo cũng chả khác gì cái hội của Hữu Thỉnh, toàn là những hội ăn hại và bưng bô theo định hướng của đảng. Ngân sách để nuôi các hội nhóm của đảng, toàn bộ là lấy từ ngân sách quốc gia, từ những đồng tiền từ mồ hôi háng của dân. Tuy nhiên các hội này chưa bao giờ hoạt động vì dân.

3. Cũng liên quan đến thứ rất hiếm ở đất nước này là liêm sỉ: Cộng đồng mạng, báo chí đã phản ánh chuyện nhiều người đi xe đẹp, quần là áo lượt đến các điểm phát đồ từ thiện cho dân nghèo để la liếm những phần quà dành cho người kém may mắn. Chuyện này cũng dễ hiểu khi “nhà nước” còn dám ngửa tay lấy những đồng tiền bán con gà cuối cùng, khi mà VNA, Hội nhà báo còn ăn vạ, ăn xin thì những cá nhân này không có liêm sỉ là điều dĩ nhiên và dễ hiểu.

4. Cái chết bất thường của ông Bùi Quang Tín, giảng viên khoa quản trị kinh doanh Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM làm báo chí và cộng đồng mạng xôn xao. Hầu hết các ý kiến trên mạng xã hội, từ tường trình của vợ ông Tín đều thiên về hướng: Ông Tín bị giết hại. Mục đích có thể là tranh ăn, giành ghế hoặc những bất đồng trong nội bộ.

5. Một vụ án bình thường nhưng thu hút rất nhiều quan tâm của báo chí và mạng xã hội mới xảy ra ở Thái Bình. Nữ doanh nhân Dương Đường bị bắt, khám xét nơi ở và công ty. Theo nhiều nguồn tin, nữ doanh nhân này cầm đầu nhiều đường dây cho vay nặng lãi, đòi nợ ở Thái Bình. Đặc biệt Dương Đường có quan hệ mật thiết với nhiều “nghệ sĩ” và quan chức cấp cao. (Rất có thể đây là một vụ các đồng chí ở Thái Bình cắn nhau trước mùa đại hội, nên các sân sau sẽ bị quét trước để triệt hạ nhau. Xin nói thêm là: Hầu hết các “công ty” dạng cầm đồ, cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê thường 100% có quan chức hoặc công an cấp cao bảo kê, chống lưng và ăn chia).

6. Báo PLO có bài: “Quyết định thanh tra Dự án nhiệt điện Thái Bình 2”. Đồng thời, khu “đất vàng” 69 Nguyễn Du, Hai Bà Trưng Hà Nội cũng nằm trong đợt thanh tra kỳ này. (Đây là các quyết định thanh tra nhắm và Hoàng Trung Hải, cựu phó Thủ tướng, cựu Bí thư thành ủy Hà Nội. Có lẽ Hoàng Trung Hải sẽ bị các đồng đảng- đồng chí thịt sớm thôi. Trong thời kỳ làm Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và phó Thủ tướng, Hoàng Trung Hải đã góp phần phá hàng trăm nghìn tỷ ngân sách qua các dự án thua lỗ, đắp chiếu, mất vốn. Cũng cần nói thêm: Hoàng Trung Hải quê gốc Thái Bình và “hình như” có liên quan đến đại gia xã hội đen Dương Đường mới bị bắt tối 07/4).

7. Trên trang Zing có bài rất “giật mình” với nhan đề: “Bí thư Hà Nội tiếp nhận hơn 600 đơn tố cáo sau 2 tháng nhậm chức”. (Dự đoán là nhiều kẻ giật mình vì tin này. Trong 600 đơn tố cáo gửi trực tiếp cho Vương Đình Huệ, có bao nhiêu đơn tố cáo Hoàng Trung Hải, bao nhiêu đơn tố cáo Nguyễn Đức Chung cùng các công ty sân sau, công ty của vợ con ông Chung?).

8. Cái lò thì hoàn toàn bó tay trước bầy cộng sản gộc ở Hồ Chí Minh như Lê Thanh Hải, Tất Thành Cang, Lê Hoàng Quân… Cho đến nay, các đối tượng từng cầm đầu băng nhóm ăn cướp ở Hồ Chí Minh vẫn nhơn nhơn hưởng thụ tài sản đã cướp được trên lưng dân Sài Gòn.

9. Cũng liên quan đến các băng nhóm ở Hồ Chí Minh, mấy ngày gần đây trên mạng xã hội xuất hiện các vụ đánh đấm giữa Hoa Lâm và đám Kền- Kols. Hoa Lâm thì thông đồng cùng băng nhóm đảng viên- quan chức Hồ Chí Minh để ăn cướp khắp Sài Gòn. Bên Kền- KOLs thì chỉ cần đánh đấm sao cho Hoa Lâm vung tiền ra mua sự im lặng là xong. Tóm lại có đánh nhau là vui rồi!

10. Những ngày dịch cúm Vũ Hán hoành hành này cho thấy nhiều điều. Trong đó, năng lực của quan chức là dễ thấy nhất.

– Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc được truyền thông ca tụng nhiều nhất vì những đóng góp, những công việc đã làm suốt mấy tháng Việt Nam có dịch. Vai trò của ông Phúc lớn và lấn át hoàn toàn người cầm đầu đảng- nhà nước là Nguyễn Phú Trọng.

– Phó Thủ tướng- Bộ trưởng Bộ Y tế Vũ Đức Đam cũng làm hết sức mình suốt mấy tháng vừa qua.

– Một nhân vật nữa cũng hành động quyết liệt trong cuộc chiến chống cúm Tàu là ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch Hà Nội. (Ông Chung chống dịch làm lu mờ hẳn vai trò của Bí thư Vương Đình Huệ, có lẽ vì điều đó nên mới có sự đánh tiếng “hơn 600 đơn thư khiếu nại, tố cáo” ở trên chăng?).

– Dư luận mạng xã hội, báo chí đang đánh giá vai trò của bộ ba gồm: Ông Phúc, ông Đam, ông Chung rất cao. Nếu ông Phúc giải tán đảng cộng sản, bắt giam Nguyễn Phú Trọng, Trần Quốc Vượng để lên làm Tổng thống thời điểm này là quá hợp lý và hợp lòng dân. Có thêm ông Đam, ông Chung giúp sức và sự ủng hộ rộng rãi của truyền thông, dư luận nữa thì chắc chắn là thành công.

Suốt nhiều tháng nay, sau khi ông Trọng bị đột quỵ, ông Phúc cũng đã liên tục có các chuyến thăm, làm việc và gặp gỡ các tướng lĩnh đứng đầu Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Có lẽ sự ủng hộ của 2 bộ này giành cho ông Phúc là rất lớn. (Chỉ có điên hoặc đần mới theo một ông lặn suốt mấy tháng, đi lại không vững, không biết sống chết ra sao như ông Trọng).

Giải tán đảng cộng sản, bắt giam những kẻ coi Trung Quốc là quan thầy, kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, huy động và kêu gọi mọi người dân đồng lòng cùng Tổng thống Phúc để chống thù trong (tàn dư bè lũ Nguyễn Phú Trọng) cùng giặc ngoài là lũ Trung cộng xâm lược, gây hấn ngoài biển. Chắc chắn Tổng thống Phúc sẽ được nhân dân cả nước ủng hộ hết mình, cộng đồng quốc tế, các quốc gia văn minh sẽ giúp đỡ và ủng hộ nhiệt tình.

Đại dịch làm xã hội đảo lộn, cuộc sống người dân bị ảnh hưởng nặng nề, bên ngoài thì kẻ thù truyền kiếp đang hung hăng lấn tới. Đây chính là cơ hội ngàn năm cho những bậc anh hùng cái thế, kỳ tài dị tướng dùng đại trí để cứu dân, cứu nước. Trước là giải phóng ách độc tài của cộng sản, sau là chống giặc ngoại xâm. Hoặc bây giờ hoặc không bao giờ!

Cố lên bác Phúc, bác Đam!

Bùi Văn Thuận

Nguồn: facebook.com/thuan.tinchoicho/posts/2695522024013071

Mọi sự hy sinh, mọi công sức có thể phải đổ sông, đổ biển!

BAOTIENGDAN.COM

Mọi sự hy sinh, mọi công sức có thể phải đổ sông, đổ biển! | Tiếng Dân

Mọi sự hy sinh, mọi công sức có thể phải đổ sông, đổ biển! Bởi AdminTD – 10/04/2020 Trương Quang Vĩnh 10-4-2020 Tính từ ca nhiễm bệnh đầu tiên ở VN ngày 23/01, đến nay đã 2,5 tháng. Từ những chủ trương quyết liệt của Chính phủ, sự l….

CHUYỆN TÙ “CẢI TẠO” CỦA PHÓ TỔNG THANH TRA NGÂN HÀNG QUỐC GIA VNCH – TRẦN ĐỖ CUNG

CHUYỆN TÙ “CẢI TẠO” CỦA PHÓ TỔNG THANH TRA NGÂN HÀNG 

QUỐC GIA VNCH – TRẦN ĐỖ CUNG

 “…Phí phạm “chất xám” như vậy để cho ba chục năm thống nhất đất nước vẫn lạc hậu. Bây giờ kêu gọi trí thức và “chất xám” trở về xây dựng lại nước thì thật khôi hài và có tin được chăng?…”

Một bạn thân ở Montréal Canada vừa gửi cho tôi cuốn Pháp ngữ Souvenirs et Pensées, viết bởi Bà Bác Sỹ Nguyễn Thị Đảnh và được Bác Sỹ Từ Uyên chuyển qua Việt Ngữ. Bạn lại khuyến khích tôi nếu có thì giờ thì chuyển qua Anh Ngữ theo sự mong muốn của tác giả. Sau khi đọc tôi thấy đặc biệt ở chỗ tù cải tạo này là một chuyên viên tài chính ngân hàng, khác hẳn trường hợp thường thấy của các sỹ quan trong quân lực. Ông Thảo bị đầy đọa sáu năm rưỡi trời để hy vọng moi các hiểu biết của ông về tài sản Ngân Hàng Quốc Gia.

Bà Bác Sỹ Đảnh nay định cư tại Oslo Na Uy là một phụ nữ miền Nam, Tây học. Phu quân Đỗ Văn Thảo cũng là người Nam, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1927 tại Gò Công. Sau khi tốt nghiệp Đại Học tại Pháp ông Thảo đã về làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam từ tháng Tư năm 1955. Ông đã giữ chức Giám Đốc Nha Ngoại Viện rồi Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng  Quốc Gia cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975. Ông bị đi tù cải tạo tháng 6 năm 1975 rồi bị lưu đầy ra Bắc cho đến tháng 9 năm 1980. Đến tỵ nạn chính trị tại Bergen, Na Uy tháng 12 năm 1981, ông tạ thế tháng Giêng năm 2001 tại Oslo, Na Uy vì trụy tim.

Câu chuyện Bà Bác Sỹ Đảnh kể lại về sự tù tội Việt Cộng của đức lang quân cho thấy đặc biệt có ba khía cạnh. Là người Nam thuần túy, là chuyên viên được huấn luyện công phu và chưa bao giờ liên quan đến quân đội. Nhưng Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam đã hành xử như quân xâm lăng, cầm tù những chuyên viên rồi vơ vét của cải đem về như Phát Xít Đức Quốc Xã khi tiến vào Paris. Sự thiển cận của họ đã đưa đến sự kiệt quệ tột cùng cho đến bây giờ vẫn chưa ngóc đầu lên ngang hàng với các nước lân bang. Nay mở miệng mời chào người Việt nước ngoài trở về đem chất xám giúp nước thì thử hỏi có nghe được không?

Câu chuyện do bà Đảnh kể lại trong thời kỳ gia đình bị kẹt vì lỡ chuyến ra đi của tầu Việt Nam Thương Tín. Những ôn tưởng chỉ được ông Thảo thỉnh thoảng nhắc đến vì ông không muốn trải qua một lần nữa những hình ảnh dã man mà ông đã trải qua. Bà hết sức căm nước Pháp đã hùa theo Việt Cộng chỉ vì thù Mỹ đã không giúp họ xâm chiếm lại xứ Việt Nam trù phú sau khi Thế Chiến II chấm dứt. Bất hạnh cho Việt Nam, trong khi cộng sản Nga Hoa chỉ ngầm giúp Hà Nội thì Mỹ ồn ào đổ quân vào làm mất chính nghĩa của chúng ta đã bị nhóm thiên tả và CS cơ hội bóp méo thành chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Bà viết để vinh danh những ai đã trải qua địa ngục trần gian tù cải tạo Việt Cộng. Và cũng để nói lên lời an ủi tới những ai đã bị phân tán ra bốn phương trời, làm cho không những mất gốc  mà còn mất cả cá tính nữa.

Bà cùng gia đình bị kẹt lại trong cư xá sang trọng của Ngân Hàng nằm trên đường nhỏ hướng ra cầu xa lộ mới. Bà thấy rõ sự chiến đấu dũng cảm của một Trung Đội Nhẩy Dù với 20 binh sĩ chỉ huy bởi một Thiếu Úy trẻ măng có vẻ mới ra trường. Nhìn các quân nhân rắn chắc, nét mặt kiêu hùng và người chỉ huy Thiếu Úy trẻ nhưng chững chạc, bà đã chia xẻ đồ ăn với họ và có cảm tưởng đã cùng họ chiến đấu. Cuối cùng tất cả quân sỹ đã bị hy sinh một cách tức tưởi.

Bà nói: “Ai dám bảo là quân ta không chịu chiến đấu”? Trong khi ấy những phát súng lẻ tẻ của du kích Mặt Trận Giải Phóng quấy rối giữa những tiếng nổ đại pháo. Ngoài đường một sự hỗn loạn không tưởng tượng được khi bọn hôi của nhào vào các nhà vắng chủ và du kích Việt Cộng ngày càng hung hăng tàn ác.

Rồi ông Thảo phải ra trình diện theo lệnh của quân quản Sài Gòn. Ông  thật thà nghĩ rằng vì vợ chồng ông là các chuyên gia thuần túy nên chính thể mới sẽ cần đến những bàn tay xây dựng lại quốc gia. Ông nói với vợ rằng: “Nếu họ không ưa chúng ta thì họ cũng không thể xử tệ với chúng ta. Họ không thể giết hết tất cả”. Một Pol Pot đã làm như vậy, nhưng họ đã thấy là không có lợi gì hết. Tuy nhiên Việt Cộng đã làm những việc tệ hại hơn nhiều. “Chúng tôi không hiểu rõ cái thực tế của cộng sản.

Chúng tôi đã nuôi ảo tưởng rằng cộng sản là một xác tín cao đẹp. Song  đem cái xác tín ấy vào đời sống con người bằng võ lực đã làm mất hào quang lý tưởng và thơ mộng. Và như vậy nó trở nên tầm thường, bẩn thỉu, ích kỷ và man rợ”.

Ngày 15 tháng Sáu năm 1975 bà Đảnh đã chở ông Thảo và các con trên chiếc xe VW Variant đến một ngôi trường bỏ không gần Sở Thú. Ông gập một bạn cũ cùng đi trình diện nên thấy đỡ cô đơn hơn. “Khi chia tay tôi nhìn thấy trong ánh mắt anh ấy sự tiếc nuối, lo âu và tình yêu đằm thắm. Anh chưa biết rằng sự chia tay này kéo giài cả hơn sáu năm rưỡi trời. Ánh mắt sâu thẳm ấy theo tôi mãi mãi ngày đêm và không bao giờ tôi quên được. Hầu hết các gia đình đều chịu hoàn cảnh như vậy, không cha, không chồng. Tôi may mắn thuộc thành phần không làm điều gì sai quấy và được đồng sự mến, không phải loại có nợ máu lớn với nhân dân, nên được gọi đi cải tạo trong một tuần lễ”.

Rồi xảy ra việc vơ vét toàn diện. Tại Bộ Giáo Dục cũ không một cái gì là bị bỏ sót, cục tẩy, cái bút BIC, giấy, tập vở đều bị thu gom chở về Bắc trên các xe vận tải nhà binh đầy ắp. Những cán bộ miền Nam thấy bất bình, “Chúng ta bây giờ thống nhất vậy của cải miền Nam phải được để lại miền Nam vì ở đây cũng cần các phương tiện để xây dựng lại chớ”? Bà nói: “Khi tôi nghĩ dến những đứa con miền Nam đã gia nhập MTGPMN tôi không khỏi khinh bỉ và tội nghiệp. Một số ít có thể là những người yêu nước thật sự tuy nuôi một lý tưởng ngu đần để bị VC xập bẫy. Họ đã làm gì để giúp đỡ quê cha đất tổ? Hay là giúp tay xa lìa sự trù phú, sự phồn thịnh và cả tự do nữa”?

Các cán bộ cộng sản thường vào tư gia mượn những thứ cần dùng. Họ được đối xử tử tế nhã nhặn. Nhưng một hôm một cấp chỉ huy vào nhà. Bà lịch sự rót một cốc nước mát mời thì ông ta túm lấy vai đứa con trai nhỏ bắt húp một ngụm trước. “Tôi đâu có ngu gì mà đầu độc họ ngay tại nhà tôi? Họ ra vào nhiều lần và tôi cảm thấy họ muốn cái gì, có lẽ muốn cái nhà của tôi? Ý tưởng đào thoát manh nha trong đầu tôi. Với sự hiện diện của báo chí và những quan sát viên, nên VC còn tỏ ra dè dặt, không dám ra mặt tham lam áp chế dân chúng. Cũng may là chẳng bao lâu sau cả đoàn quân CS bị chuyển qua Cao Mên”.

Một tháng sau khi trình diện học tập cải tạo không thấy một ai được về nhà. Cậu con trai lớn luôn luôn đạp xe quanh ngôi trường mà cha cậu trình diện thì thấy vắng tanh. Khi đem người trưởng gia đình đi thì tạo ra một không khí bất an và đạt được hai mục đích, vô hiệu hóa người chồng người cha và cùng một lúc kiểm soát được mọi người trong gia đình. Nhiều gia đình chỉ trông cậy vào đồng lương cha chồng đem về hàng tháng thì bây giờ túng quẫn. Và sau hai lần đổi tiền, những người giầu có nay thành nghèo và những ai đã nghèo nay lại càng xơ xác. Sau một tháng quy định chẳng ai được trở về. Thỉnh thoảng có một vài người có lẽ thuộc loại có móc nối hay không nợ máu thấy lẻ tẻ trở về. Một người quen cho biết là chồng bà bị chuyển tới trại Long Thành.

Một loạt xe vận tải nhà binh đến chở các tù nhân đi. Họ không biết là đi tới đâu. Trong đêm tối đến một khu rừng mà họ không biết là Long Thành và bị lùa vào mấy gian trại bằng tre lá và lèn chặt như cá hộp. Ngay sáng hôm sau tù phải bắt tay xây cất các trại giam khác cho những người tới sau. Có cảm tưởng là Việt Cộng không có kế hoạch gì cả, chỉ thực hiện theo nhu cầu xẩy đến và tù nhân phải dựng lấy trại giam cho mình. Mục tiêu quan trọng lúc đó là gom lại và vô hiệu hóa các thành viên của chế độ cũ. Mục đích thứ hai là cách ly quân đội với hành chính. Các cấp hành chính do cán bộ canh giữ còn các quân nhân bị đặt dưới bộ đội và các sỹ quan Việt Cộng canh chừng. Chỗ nào cũng là rừng nên không ai biết được bao nhiêu trại tù rải rác ở đâu.

Mỗi nhà giam có thể lèn chừng 50 tù, mỗi người có được chừng 80 phân để nằm ngủ ngay trên mặt đất. Về đêm phải chịu hơi lạnh của núi rừng và khi mưa phải chịu ướt át. Bà hỏi chồng có nhớ đến cái mùng mà anh cẩn thận gói theo.

Anh nói, “Trong hoàn cảnh ấy mùng đâu có ích gì và một anh bạn khéo tay đã giúp cắt ra may thành một áo trấn thủ dầy dặn với nhiều lớp vải mùng khiến cho anh qua được cảnh rét mướt”! Mỗi đêm có điểm danh trước khi cho vào đi ngủ sau khi cán bộ đã khóa chặt nhà tù.

Đồ ăn thật đơn sơ nhưng còn có gạo nên không bị đói. Cơm được nấu trong các chảo to nên có nhiều cháy là một món ngon mà đứa bé con cô cán bộ nhà bếp luôn luôn chầu chực. “Nhà tôi sực nhớ đến đứa con nhỏ ở nhà mà lòng bồi hồi xúc động”! Vấn đề nước khó khăn hơn vì chỉ có mỗi một cái giếng và khi lao động về phải sắp hàng tắm rửa. Những người lớn tuổi chậm chân nên đến lượt mình thì đã tới giờ điểm danh trở về phòng nên không bao giờ được dùng nước.

Tù phải viết bản báo cáo mỗi ngày, nói rõ những gì bản thân họ đã phạm trước kia và những gì cha hay thân nhân họ đã làm. Nay mới thấy sự ích lợi của các cây bút BIC. Các bản báo cáo trở thành ác mộng của tù nhân. Viết ít chừng nào tốt chừng ấy và phải nhớ những gì đã viết để có thể viết lại những báo cáo sau. Ý đồ của quản trại là bắt tù từ bỏ niềm tin, chối bỏ lý tưởng và gia đình, khinh rẻ chế độ cũ và chửi rủa các cấp lãnh đạo cũ. Thật là khó khăn cho những ai thẳng thắn với những nguyên tắc có sẵn hay những người bản chất hiền hòa không biết chửi bậy. Song viết ngắn quá cũng bị nghi ngờ là thiếu thành thật và tù bị gọi lên hạch hỏi đủ điều, chữa đi chữa lại. Kết quả là tù phạm tội nặng hơn để rơi vào bẫy sửa sai không ra thoát.

Có lệnh cho đi thăm tù. Những người như bà Đảnh là công nhân viên phải có giấy phép của cơ quan ghi rõ lý do nghỉ phép. Và chỉ được đem theo tối đa 5 kí thực phẩm và mỗi gia đình chỉ có ba người được đi thăm. Với bốn đứa con, đem đứa nào đi, để đứa nào lại? Trong khi thăm chồng phải ngồi hai bên bàn dài cùng những người khác, có cán bộ đứng đàu bàn lắng nghe. Phải nói to, không được dùng ngoại ngữ. Vợ chồng trao đổi những vấn đề sức khỏe và kinh tế gia đình, bán chác quần áo cho các bà miền Bắc bây giờ ham chưng diện lắm. Khi hết giờ thăm, tù đứng giậy nhặt gói quà trở về nhà giam. Có người còn bị mắng vì ôm hôn người thân hay căn dặn thêm vài điều. Trong phòng những tiếng òa khóc nổi lên như sóng gió trong cơn mưa bão. “Tôi cố nhịn khóc nhưng khi về đến nhà vào phòng tôi bật khóc lệ tràn như suối”.

Từ tháng 10/11, 1976 bà Đảnh không nhận được thư nào của chồng nữa và biết là chồng không còn ở Long Thành. Từ nay gửi thư cho anh phải qua một địa chỉ mới tại hòm thư A-40 khám Chí Hòa. Thư từ quà bánh tối đa 3-5 kí phải gửi qua một địa điểm ở một ngôi trường không xử dụng nữa. Hai đứa con lớn phải đi thi hành các nghĩa vụ công ích không lương, tối phải tạm trú tại những chỗ nào tạm che mưa nắng. Đã có dấu hiệu chống đối ngầm trong giới trẻ. Nhưng chúng bị răn đe, phải cố gắng theo chỉ thị thì cha anh mới được mau chóng tha về. Thật là xảo trá, lợi dụng lòng thương xót cha anh để ép chúng phục vụ.

Một ngày đen tối nhất của tháng 10 năm 1976, các tù được lệnh đổi trại giam. Đây là lúc cán bộ lục lọi khám xét thủ tiêu mọi chuyện. “Chồng tôi ghi chép nhật ký trong một cuốn sổ tay nhỏ hầu mong kể lại cho con những điều đã trải qua. Anh đã vội vã thủ tiêu cuốn sổ”. Tù đươc chất trên các xe vận tải, tay xích người nọ với người kia. Sau hàng giờ đi vòng vo họ bi lùa xuống hầm tầu thủy và chân bắt đầu bị khóa.Tầu đi ngang qua một khu mà nhìn qua lỗ hổng hầm tầu anh nhận ra cây cầu gần nhà, nơi đây vợ con đang ở, rất gần anh nhưng xa, xa lắm. Nước mắt anh dâng trào, không biết đang đi về đâu, xa Sài Gòn vì đây là Tân Cảng.

Chừng 7 tháng sau cái địa chỉ kỳ quái Chí Hòa, có một người tới gập bà Đảnh nhưng không dám vào nhà. Ngó trước ngó sau, phải trái, rồi anh vội nói, “Chồng chị đang bị giam tại miền cực Bắc. Tôi cũng bị giam ở đó nhưng vì vợ tôi là người Đức nên đã nhờ tòa Đại Sứ Tây Đức can thiệp”. Mắt tràn lệ, anh nói tiếp, “Chị biết chúng bắt tôi và anh làm gì không? Ngày ngày gánh phân bón rau và đó là việc nhẹ dành cho người yếu sức”! Bà bật khóc thảm thiết, ngồi bệt xuống vệ đường rồi anh bạn bỏ đi thật nhanh để khỏi bị nhòm ngó.

“Chồng tôi chẳng phải là một ông lớn tại miền Nam mà cũng không phải là các Tướng Lãnh uy quyền. Nhưng anh thuộc loại có thể khai thác được. Họ muốn biết vàng, đô la hay các kho tàng của miền Nam chôn dấu ở đâu. Họ hạch hỏi khai thác bắt làm việc đều đều, nhưng cho là không thành khẩn khai báo nên đầy ra miền Bắc cộng sản”.

Hầm tầu chật chội với các chất thải vệ sinh của tù nên tạo ra một mùi hôi hám khủng khiếp không tả nổi. Hành trình rất dài không ai nhớ rõ. Sau cùng cũng tới hình như Hải Phòng và chuyển lên các xe tải, chân vẫn xiềng xích. Xe chạy qua một số làng xóm, dân làng đua nhau la ó chửi bới và mọi người biết đây là đất địch. Có các bà chửi, “Đồ Tàu Phù khốn kiếp”! Thì ra họ tưởng là tù binh Trung Quốc.

Cán bộ la to, “Đây không phải là tù binh Trung Quốc”. Nhưng họ cũng không dám bảo là tù miến Nam vì họ sợ phản ứng của dân quê thật thà, thương hại hay cùng chia xẻ nỗi đau buồn. Đêm tới thì đến một ven rừng bát ngát. Tù được tháo cùm và lùa sâu vào rừng rậm, đi bộ dăm bẩy cây số và đến một hàng rào bao quanh một số trại. Các cán bộ vào trại, để mặc tù lo liệu chỗ ngủ qua đêm. Sáng hôm sau tù bỏ tay vào xây cất lấy trại tù cho chính mình.

Đúng 31 tháng Chạp Dương Lịch các gia đình tù nhận được một món quà chính thức cuối năm, một lá thư của thân nhân đang bị giam tại trại Bắc Thái. Ông Thảo không gập lại những bạn tù Long Thành và phải bắt đầu làm quen với các bạn tù mới. Tù được lệnh trao cho một cán bộ gái tất cả tài sản, đồng hồ, bút máy, nhẫn vòng tay, dây chuyền và tiền mặt để được liệt vào một cuốn sổ ghi tên sở hữu. Ông Thảo nhất định không đưa chiếc nhẫn cưới với lý do vì lâu ngày không kéo ra được. Sau khi dùng xà bông mà cũng không xong thì họ văng tục và thôi không thử tháo nữa. Ông nói dù họ có cố rút ra nhưng nếu ông cố ý giữ thì cũng vô hiệu vì ông nhất định không rời cái nhẫn cưới mà ông coi là tượng trưng quý báu.

Ban quản trại đều là người Bắc khắc nghiệt và khó tính. Tù thấy luôn luôn bị theo rõi sát nút. Báo cáo hằng ngày bị phân tách kỹ lưỡng, thảo luận và bị phê bình. Các cán bộ hung dữ và lộng quyền, không ngớt tỏ ra là người chiến thắng. Nhưng đừng lầm tưởng họ thèm muốn những gì chúng ta có, họ thấy chúng ta giỏi hơn họ trên mọi phương diện. Họ luôn khiêu khích, nói xiên nói xỏ, đả kích chê bai và phê bình. Và đây là tình trạng khủng bố tinh thần kinh khủng.

Về phương diện vật chất vì quá đông người nên trong phòng một tiếng động nhỏ cũng vang âm. Một tiếng ho, một cái hắt xì cũng khiến một số tù nhân thức giấc. Nhiều bạn tù trong cơn ác mộng đã rên la, gào khóc. Không ai quên được một bạn già cỡ sáu chục, góa vợ với đứa con thơ dại nên đêm đêm nức nở khi đi ngủ thương xót đứa con bỏ lại miền Nam không ai săn sóc. Giếng nước duy nhất rất gần trại nên phải nấu sôi để uống. “Chồng tôi làm công tác hôi thối gánh phân nên cần tắm rửa mỗi chiều tối. Nhưng nước lạnh cóng khi xối lên người thi da đỏ ửng. Anh còn đùa rằng, “thật may là da và phổi còn tốt”.

Nhưng cái đói thật là kinh khủng. Khi còn ở miền Nam thì nắm cơm còn thực là nắm cơm đầy đủ gạo. Ở đây, cơm phải trộn những hạt bo bo vỏ thật cứng thường phải xay ra để cho súc vật ăn. Một số lớn không muốn hy sinh bộ răng cấm nên phải ngồi nhặt các hột bo bo ra để chỉ còn lại được một muỗng cơm trong bát cơm độn. Nhiều người bị lủng củng tiêu hóa và bị tháo dạ. Cái đói thật khủng khiếp ngày đêm làm cho con người bớt sáng suốt, dảm ý chí và mất óc phán đoán.

“May mắn là cả bốn đội trưởng đều là bạn thân của em tôi. Nếu không nhờ các bạn đó và các y sĩ đồng nghiệp của tôi giúp đỡ thì chắc gì anh đã sống đến ngày được thả”!

“Tôi cố tìm hiểu vì sao mà anh bị giam giữ lâu thế? Phải chăng anh được nhiều bạn tù cảm mến nên anh bị giữ lâu? Anh luôn luôn được gọi lên yêu cầu hợp tác để giúp trại sinh hoạt tốt. Nếu nhận lời thì sẽ được cấp phần ăn như cán bộ, được miễn lao động và hưởng nhiều ưu đãi. Nhưng anh đã từ chối và bị giam giữ lâu hơn”.

Đầu tháng 9 năm 1978 ông Thảo gửi thư về cho biết quản trại đã phổ biến tin cho thân nhân đi thăm và tù được nhận thực phẩm. Ông cũng dặn nếu muốn ra Bắc thì liên lạc với một bà gốc Bắc có chồng cùng bị giam giữ với ông. Bà này biết rành Ha Nội và biết rõ manh mối chạy chọt giấy tờ di chuyển và cũng biết cách xoay xở vé xe lửa khứ hồi. Và từ nay bà Thảo biết các mánh khóe luồn lọt thật mất thì giờ, khó khăn và tế nhị. Tất cả các sự việc đều có thể mua bằng tiền, chạy đúng chỗ và không để lộ ra vì hối lộ là một trọng tội. Đối với bà lại còn khó khăn hơn vì trước kia đã phục vụ ngụy quyền và chồng đang bị tù cải tạo.

Mãi mới xin được giấy phép nghỉ nhưng chưa biết cách nào đi. May thay có một ông bạn có cô em trước làm tiếp viên phi hành cho Air Vietnam cũ và nay còn được lưu dụng bởi hãng Vietnam Airlines mới chưa có ai đủ khả năng thay thế. Cô này rất tháo vát và đã kiếm cho bà một vé máy bay vào tháng 11. Khi ra máy bay với xách đồ ăn khô cô ta đã giới thiệu là dì ruột và đưa bà lên máy bay, căn dặn là đừng tỏ ra sợ sệt quá. “Khi đã lên máy bay, không ai biết được là mình không có quyền xử dụng máy bay và khi về thì đã có người cho phép đi nên không có ai dám cản trở về”.

Khi đến phi trường Gia Lâm nhỏ xíu bà lên xe quân sự chờ đón khách. Bà gọi một xe xích lô đạp về nhà cán bộ giáo dục trẻ Sơn mà bà được bà thủ trưởng Sâm giới thiệu. Cha mẹ Sơn đều là giáo sư Đại Học tiếp bà ân cần và thông cảm. Họ được ở ngôi biệt thự cũ gần hồ Hoàn Kiếm tuy chỉ dược xử dụng có một căn phòng với một cầu tiêu lối cổ. Ông đã cơi lên một gác xép làm chỗ ngủ cho ông và con trai. “Tối đến họ dẹp bàn ghế vào tường và trải một chiếc chiếu rộng dưới sàn cho bà mẹ, cô chị dâu, cháu gái nhỏ và tôi nằm. Trong khi tôi thao thức vì sắp gập chồng sau hơn hai năm xa cách thì ai cũng ngủ ngon lành”.

Khi đợi người hướng dẫn đến bằng xe lửa phải mất ba tuần lễ, bà Đảnh ra phố quan sát thấy các nhóm người bán đồ lậu. Cái gì họ cũng có, phần nhiều là các gói nhỏ đường, trà, cà phê, bao thuốc lá và các thỏi chocolat nhỏ đựng trong các túi xách. Bà mua các gói kẹo chocolat vì mang từ Sài Gòn ra không tiện. Họ nói mua gì cũng có trữ tại nhà vả trả tiền xong là hôm sau họ sẽ giao. Người hướng dẫn cho bà đến nhập bọn ngủ dêm để sáng hôm sau ra ga lúc 5 giờ cho kịp chuyến xe lửa Đông Bắc.

Người đông như kiến, chen lấn lộn xộn và “tôi cùng bà chiếm được hai chỗ trên bực ngoài toa cho đến sau khi qua nhiều ga xép mới mò vào được bên trong để ngồi xệp xuống sàn tầu đầy rác, đỡ nạn bụi khói và mưa phùn giá lạnh”.

Từ trạm xe lửa đi đến vùng Bắc Thái phải dùng xe bò. May thay bà hướng dẫn đã nhanh nhẩu quá giang được một xe chở dầu nhà binh với tiền thù lao nhỏ 20 đồng. Đến ven rừng phải thuê một xe bò tới trại giam qua một con đường gập ghềnh với giá 15 đ một người. Tới cổng trại, một căn nhà lợp tranh thì cán bộ xét giấy và cho hai người một vào ngồi đợi ở một cái bàn nhỏ chữ nhật. Hai mưoi phút sau thân nhân được dẫn ra, yếu ớt, thân hình tiều tụy xác xơ trông thật đau lòng. Cán bộ đứng ở đầu bàn và phải nói to cũng như không được dùng ngoại ngữ. “Tôi không biết được gập anh bao lâu nhưng mục đích tôi là xin phép anh đưa các con trốn khỏi nước. Tôi có bổn phận báo cho anh biết là phải liều lĩnh như tự sát vì chừng 50% đến được bến tự do”. Nhưng làm sao để không cho cán bộ biết?

“Tôi nghĩ cách nói là mẹ con muốn đi vùng kinh tế mới”, thi anh xúc động hỏi lại, “Bộ chúng không đủ ăn sao”? Bà chậm rãi trả lời, “Chúng muốn làm lại cuộc đời mới và gập lại hai bà gì đã đến đó trước rồi”. Ông Thảo suy nghĩ rồi chợt hiểu là chị và em tôi đã định cư ở Âu Châu từ lâu và dặn dò, “Đừng để cho các con bơ vơ, em phải đi với các con còn quá nhỏ”! “Chúng tôi chuyện trò đủ chuyện Sài Gòn trước đây, nhà cửa, tình trạng gia đình thân nhân nội ngoại và anh không thổ lộ gì về hoàn cảnh của anh và số phận hiện tại”.

Sau một giờ thì cán bộ thổi còi chấm dứt thăm nuôi. Các tù nhân đứng lên lượm gói quà và sắp hàng về phòng giam. “Chồng tôi ôm tôi và thì thầm, em phải đi với các con và như vậy trong tương lai có thể dễ tìm lại nhau”. Lần thăm nuôi chỉ có bốn người đi thăm khốn khổ. Không một lời phản kháng hay thất vọng. Nước mắt có chảy cũng trong thầm lặng. Nơi đây hy vọng còn ít hơn ở Long Thành. “Rã rời tôi có cảm tưởng như sống những giây phút cuối cùng và tôi không còn biết tôi là ai nữa. Nếu tôi ra đi cùng các con thì rồi đây ai săn sóc anh, và biết có gặp lại nữa không”?

Chiều về tới Hà Nội, tôi e họ sẽ không cho tôi ghi vé trở về. Cha anh Sơn chở tôi bằng xe đạp ra trạm hàng không. Họ hỏi tôi đủ điều, lý do đi thăm, trú ngụ ở đâu, thấy thủ đô ra sao và đã đi thăm lăng Hồ Chủ Tịch chưa? “Tôi phải vui vẻ tỏ ra mãn nguyện và phải chấp nhận bất cứ cách giả dối nào để về với các con tôi. Tôi đã thành công và được về trên chuyến bay hai ngày sau”. Còn hơn một ngày tôi mướn một xe xích lô đi một vòng quanh Hồ Gươm. Hồ quá nhỏ, nước đen ngòm mà mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Không thấy dấu hiệu hư hại vì oanh tạc chỉ có cây cầu Doumer và đôi chút ở một bệnh viện mặc dầu họ tuyên truyền ầm ĩ là bị phi cơ hủy hoại. Tôi đã nói dối ở trạm hàng không. Tôi đã không đi thăm lăng chủ tịch mà chỉ đi xích lô phớt qua. Không có gì đặc sắc, chỉ là một kiến trúc lạc loài bê tông cốt sắt với các cột lạnh lẽo như trong thời cổ. Nhưng nếu tôi vào trong để nhìn thấy con người mà họ cho là thần thánh thì tôi đã ớn lạnh về sự lọc lừa phản bội của ông ta đã đưa nước nhà vào một cuộc chiến tàn khốc, tạo nên mối chia rẽ toàn dân và cả nước”!

Hà Nội một thành phố cổ kính thì nay đã tiều tụy, không được coi như một bà già mà là một đứa con nít thiếu dinh dưỡng lâu ngày, bụng ỏng, đít eo, chân tay khẳng khiu mang chứng bệnh còm cõi và già nua sớm không phương cứu chữa. “Tôi không muốn những ai đã rời Hà Nội năm 1954 trở lại để thấy sự điêu tàn khắc nghiệt vì tiền của nhân lực đều xung vào chiến tranh. Cha mẹ Sơn cũng như người hướng dẫn tôi đều hình như thổ lộ là họ đã sống qua ngày hướng về miền Nam. Nhưng nay miền Nam đã xụp đổ, thế là hết cả. Cuôc viếng thăm rất có kết quả vì tôi đã nói được với nhà tôi một điều cần thiết. Và tinh thần nhà tôi hình như đã vững hơn, bắt đầu yêu đời hơn và thấy hy vọng”.

Bà Đảnh đã đưa bốn đứa con vượt biển ngày 1 tháng 5 năm 1979 lợi dụng sơ hở vì mải liên hoan ngày lễ. Cả gia đình lênh đênh trên biển cả thì gặp một chiếc tầu chờ dầu Na Uy vớt. Vì vậy khi ông Thảo được thả về thì nhà đã mất và phải tạm trú nhà bà chị. Ông bị các đè ép từ các cơ quan công an phường, quận. Không có hộ khẩu nghĩa là không được phiếu mua thực phẩm và các đồ lặt vặt như thuốc đánh răng. Phải luôn luôn trình diện và đẩy  đi vùng kinh tế mới. Nhưng nếu xa Sài Gòn thì làm sao có được tin tức nên ông đã chán nản nghĩ liều đi trốn. Bà Đảnh phải nhắn về xin yên tâm đừng liều mạng vì đã có chương trình bảo lãnh và Cao Ủy tị nạn đã đặt thêm một văn phòng ở Sài Gòn.

Bà gửi về các giấy tờ cho nhiều nơi để khỏi thất lạc.

Cuối cùng, sau nhiều lần chạy chọt khó khăn và nhiêu khê, ông Thảo đã được giấy phép xuất cảnh. Bà Đảnh nói, “Không chối cãi việc Việt Cộng đã trả lại người thân cho chúng tôi. Nhưng họ đã ra sao khi được thả? Một số đông đã chết như anh đội trưởng giúp đỡ  tận tình bạn tù. Anh chết tức tưởi trong tuổi hoa niên của cuộc đời. Qua hành hạ thể xác độc địa nhằm triệt tiêu nhân phẩm, Việt Cộng không tàn phá nổi thể xác nhưng đã để lại trong tâm hồn tù nhân nhiều rạn nứt in hằn. Lập trường chính trị, tín ngưỡng, lòng yêu nước không bao giờ xóa tẩy được”. Bà Đảnh kết luận, “Tôi chấm dứt bằng một câu xúc tích của chồng tôi khi anh đặt chân xuống đất Na Uy”: “Chúng tôi vẫn sống, hy vọng của chúng tôi đã đạt được. Tôi đã có vợ con quanh tôi, hạnh phúc tôi tràn đầy. Từ nay các con tôi được bảo đảm tương lai trên một đất nước cao đẹp, tự do như Na Uy mà chúng tôi coi là miền đất hứa”.

tu_caitao3

 

Vài cảm nghĩ.- Cộng sản Việt Nam sùng bái Hồ Chí Minh như thánh sống. Ai cũng biết là họ Hồ mạo danh nhóm ái quốc ở Paris khi viết báo Le Paria đã dùng tên chung Nguyễn Ái Quốc (Nguyen le Patriot). Hồ đã từng nộp đơn xin làm việc với Bộ Thuộc Địa rồi đi theo cộng sản Nga để được huấn luyện thành cán bộ Đông Dương Cộng Sản. Khi qua Tầu lại lấy danh tính một người chết để thành Hồ Chí Minh. Không có lấy cái bằng sơ học,  chỉ lặp lại những danh từ Xô Viết rồi Tầu Mao, lợi dụng khí thế ái quốc chống Pháp để đổi Việt Minh thành đảng Lao Động Cộng Sản và hãm hại các người yêu nước cũng như nhiều người trong vụ đấu tố.

Ông ta đã học thuộc lòng câu “Hồng hơn Chuyên” của Mao nên cũng nói “Trí Thức là Cục Phân” cho nên khi chiếm Sài Gòn chính trị bộ Hà Nội đã bỏ tù các chuyên viên của miền Nam mà huấn luyện mất bao nhiêu thời gian và công của. Hệt như “bước nhẩy vọt” của Tầu Mao trong kế hoạch sản xuất thép tiểu công trong các làng xã phí phạm bao nhiêu nhân lực đưa đến phá sản kinh tế và môi trường. Cho nên ta thấy các Y Khoa Bác Sỹ phải đi quét chợ và chuyên viên kinh tài như ông Đỗ Văn Thảo bị giam cầm trong nhiều năm. Phí phạm “chất xám” như vậy để cho ba chục năm thống nhất đất nước vẫn lạc hậu. Bây giờ kêu gọi trí thức và “chất xám” trở về xây dựng lại nước thì thật khôi hài và có tin được chăng?

Trần Đỗ Cung
Nguồn: hon-viet.co.uk/TranDoCung

Bắt cựu Tổng Giám đốc và cựu Kế toán trưởng Tổng Công ty Dầu Việt Nam

Hai người này bị bắt, khởi tố về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

Tổng Công ty Dầu Việt Nam, PVOil, OceanBank
Bị can Nguyễn Xuân Sơn (trái) và Vũ Trọng Hải. (Ảnh: bocongan.gov.vn)

 

Căn cứ tài liệu, kết quả điều tra, ngày 7/4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOil) và Ngân hàng OceanBank.

Đồng thời, C03 đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo Điều 355 Bộ luật Hình sự đối với 2 bị can, gồm:

  • Nguyễn Xuân Sơn, SN 1959 – nguyên Tổng Giám đốc Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOil);
  • Vũ Trọng Hải, SN 1968, nguyên Kế toán trưởng Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOil).

Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đang làm rõ vụ việc.

Phạm Toàn

Ai đã giết tiến sĩ, luật sư Bùi Quang Tín?

Ai đã giết tiến sĩ, luật sư Bùi Quang Tín?

Hoàng Dũng

Ông Bùi Quang Tín, nạn nhân mới của một vụ giết người? Photo Courtesy

Vụ ông Tín bị giết (mình khẳng định luôn là bị giết) sẽ không quá 1 tuần để công bố nhóm hung thủ và toàn bộ kịch bản.

Chỉ trong vòng 24h, cơ quan cảnh sát điều tra sẽ dựng lại được chính xác toàn bộ các thời điểm của nạn nhân và các đối tượng liên quan. Theo báo chí thì ta có 2 đối tượng Trung & Dũng liên quan trực tiếp hiện trường, 6 đối tượng bạn nhậu chiều đó cũng sẽ được mời làm việc vài ngày. Có thể có thêm 1 vài đối tượng liên quan trực tiếp nữa ở những nơi ông Tín làm việc.

Cũng trong 24h, đã truy xuất xong mọi nội dung tin nhắn điện thoại, tin nhắn mạng xã hội của các đối tượng liên quan (nếu chúng chưa kịp xoá tin nhắn mạng xã hội). Nhưng nếu chúng nhắn qua Facebook thì chúng chết vì Facebook có bản sao lưu.

Tử thi và hiện trường cũng đã khám nghiệm xong. Đã có kết quả có hay không các dấu vân tay của các đối tượng trên tử thi. Nếu có, các dấu này có nằm ở vị trí bất thường hay không. Nếu không, trong nhà Dũng, có găng tay y tế bỏ đi không…

Camera các khu vực có thể thu thập dữ liệu cũng đã được copy toàn bộ. Lúc này, việc cần thiết nhất là phải tạm giữ hành chính ngay Dũng và Trung để tránh thông cung. Dũng sẽ bị hỏi nhiều về việc hẹn ai lúc chiều đó và cuộc hẹn đó cũng được cơ quan điều tra kiểm tra kỹ lưỡng.

Mình đoán rằng vụ này liên quan đến thụt két của đại học. Sẽ có ít nhất 4 người bị bắt vì tội giết người, biển thủ công quỹ. Giáo dục thời Nhạ ngọng thật rực rỡ.

Có một thông tin không kiểm chứng cho biết: Camera thang máy ghi nhận 2 người dìu ông Tín từ tầng 1 lên tầng 14. Mình nghĩ thông tin này sai vì đọc bản tường trình của chị B vợ ông Tín cho thấy nhóm đối tượng đã chuẩn bị kế hoạch giết ông Tín bằng cách ném lầu (giống thứ trưởng An) từ lâu. Nên chúng sẽ chuẩn bị kế hoạch và tạo hiện trường giả rất kỹ.

Chuyên gia tài chính Bùi Quang Tín đột ngột ra đi sau khi ‘rơi từ tầng 14 chung cư’

Đây là tin bất ngờ đối với cộng đồng tài chính, ngân hàng trên toàn quốc vì trưa ngày 5/4, ông vẫn còn chia sẻ một link bài viết lên trang Facebook cá nhân với nội dung: “Không chia cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông ngân hàng để giảm lãi suất cho vay: Có thực sự cần thiết?”.

Chuyên gia tài chính Bùi Quang Tín đột ngột ra đi sau khi ‘rơi từ tầng 14 chung cư’

Bình An – 00:00 06/04/2020

(VNF) – Nguồn tin của VietnamFinance xác nhận TS Bùi Quang Tín, Chủ tịch – CEO Trường Doanh nhân BizLight đã đột ngột ra đi ngày 5/4 sau khi “rơi từ tầng 14 của một khu chung cư tại Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh”.

TS Bùi Quang Tín, Chủ tịch – CEO Trường Doanh nhân BizLight.

Đây là tin bất ngờ đối với cộng đồng tài chính, ngân hàng trên toàn quốc vì trưa ngày 5/4, ông vẫn còn chia sẻ một link bài viết lên trang Facebook cá nhân với nội dung: “Không chia cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông ngân hàng để giảm lãi suất cho vay: Có thực sự cần thiết?”.

Trước đó, ông đã có cuộc trao đổi với các nhà báo về chủ đề giảm lãi suất huy động trong bối cảnh hiện nay. TS Bùi Quang Tín từng có nhiều ý kiến, nhận định đáng chú ý về các vấn đề kinh tế, tài chính của Việt Nam trong nhiều năm qua.

Hiện chưa rõ nguyên nhân của sự ra đi đột ngột của vị chuyên gia vốn được nhiều người trân quý này.

Báo Người lao động cũng dẫn nguồn thông tin từ Công an huyện Nhà Bè, TP HCM cho biết đang tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lấy lời khai các nhân chứng liên quan để điều tra làm rõ nguyên nhân khiến ông Bùi Quang Tín (ngụ quận Gò Vấp) từ vong tại chung cư trên địa bàn huyện Nhà Bè.

  1. Bùi Quang Tín hiện là Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Trường Doanh nhân BizLight; Thành viên sáng lập Công ty luật Globalink; Thành viên đoàn Luật sư TP. HCM.

Tiến sĩ Tín có hơn 23 năm nghiên cứu, giảng dạy và làm việc thực tiễn trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng và trên 7 năm nghiên cứu, làm việc trong lĩnh vực pháp lý. Ông đồng thời là giảng viên thỉnh giảng của nhiều trường Đại học lớn trong cả nước và tại các doanh nghiệp, định chế tài chính lớn về các chuyên đề tài chính, ngân hàng, pháp lý…

  1. Bùi Quang Tín cũng đã từng đi du học tại Mỹ để lấy bằng MBA về Quản trị Tài chính Ngân hàng từ năm 2003 và làm việc 3 năm tại ngân hàng Bank of America tại Bang Texas, Hoa Kỳ. Sau khi về nước, ông tiếp tục vừa làm việc tại ngân hàng Sacombank trong lĩnh vực ngoại hối ở vị trí Giám đốc Kinh doanh Ngoại hối và nhận học vị Tiến sĩ Kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng vào năm 2013.

Đồng thời, ông cũng đã tốt nghiệp chương trình cử nhân Luật hệ chính quy tại Trường Đại học Luật TP. HCM năm 2013 và đã chính thức là Luật sư của Đoàn Luật sư TP. HCM cũng như hoàn thành chương trình Thạc sỹ Luật Kinh tế tại Trường Đại học Luật TP. HCM tháng 9/2017.

Tiến sỹ Bùi Quang Tín cũng đã tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiều lớp đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng do Chính phủ Luxembourg (thời gian 1 năm) và Thuỵ Sĩ tài trợ cho Chính phủ Việt Nam (SECO 2) (thời gian 2 năm).

Ông cũng tham gia rất nhiều hội thảo chuyên đề cũng như xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế và pháp lý cũng như các bài báo trong tạp chí có giá trị tại Việt Nam. Đặc biệt, TS. Tín được mời làm diễn giả trong nhiều chương trình truyền hình của các đài truyền hình nổi tiếng trong nước và quốc tế cũng như được mời phỏng vấn và cho ý kiến về các vấn đề kinh tế và pháp lý chuyên sâu khác nhau trong nhiều bài báo và tạp chí nổi tiếng.

Ngoài ra, ông cũng được mời tham gia làm diễn giả chính tại các buổi hội thảo, tọa đàm do Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Tư pháp, VCCI, Hiệp hội Doanh nghiệp TP. HCM… tổ chức hàng năm về các chủ đề kinh tế và pháp lý chuyên sâu trên nhiều lĩnh vực như: tài chính, ngân hàng, thuế, pháp lý, marketing, bán hàng, bất động sản, chứng khoán…

Bình An

VIETNAMFINANCE.VN
(VNF) – Nguồn tin của VietnamFinance xác nhận TS Bùi Quang Tín, Chủ tịch – CEO Trường Doanh nhân BizLight đã đột ngột ra đi ngày 5/4 sau khi “rơi từ tầng 14 của một khu chung cư tại Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh”.

BẦY SÂU VÀ CON SÂU BỰ NHẤT

Phạm Đình Trọng
BẦY SÂU VÀ CON SÂU BỰ NHẤT

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Gần mười năm trước, tôi và nhà báo Lê Phú Khải dự đám cưới con gái ông bạn của chúng tôi là nhà thơ Thái Thăng Long. Ngồi cạnh Lê Phú Khải là người đàn ông đạo mạo, ăn mặc trau chuốt, thắt cà vạt đỏ. Ông đạo mạo tự giới thiệu làm việc ở ủy ban Kiểm tra thành ủy. Khi đó Lê Thanh Hải đang là bí thư thành ủy Sài Gòn. Ông nhà báo Lê Phú Khải vốn tính thẳng như đường cao tốc, liền bảo: Dân Thủ Thiêm đang hàng ngày réo tên, kể tội bí thư thành ủy của anh đấy. Anh phải kiểm tra ngay bí thư thành ủy của anh đi. Làm kiểm tra lúc này không kiểm tra bí thư thành ủy Lê Thanh Hải thì kiểm tra cái gì!

2. CON SÂU BỰ NHẤT LÊ THANH HẢI
Trong đám lúc nhúc những ông quan cộng sản tội phạm thì bạo chúa Lê Thanh Hải, ủy viên bộ Chính trị dù chỉ là lãnh chúa một vùng lãnh thổ nhưng tội tham nhũng của Hải có thể sánh ngang ngửa với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và hơn hẳn ông Bộ trưởng Đinh La Thăng. Còn tội ác với dân thì ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông Bộ trưởng Đinh La Thăng, ông sứ quân miền Trung Nguyễn Bá Thanh, ông tướng cảnh sát Trần Đại Quang không thấm tháp gì so với tội ác ngút trời của lãnh chúa phương Nam Lê Thanh Hải.

Để xây dựng quyền lực bạo chúa, Lê Thanh Hải đẩy đi hết những người tử tế dưới quyền. Đẩy đi người có thực học, có tri thức vững vàng, là dòng dõi con nhà nòi khoa bảng, đã theo học và làm luận văn khoa học ở những trường đại học danh tiếng trên thế giới, phó thị trưởng Sài Gòn, giáo sư Nguyễn Thiện Nhân. Đẩy đi người có bề dày hoạt động cách mạng, có chính kiến riêng thể hiện cá tính mạnh như phó thị trưởng Sài Gòn Mai Quốc Bình. Đẩy đi người có nhân cách trung thực như phó bí thư thành ủy Sài Gòn Huỳnh Thị Nhân.

Xuất thân từ tổ chức Thiên Lôi, Thanh niên Xung phong, chỉ đâu đánh đấy, hoàn toàn không làm việc bằng tri thức, cũng chẳng có công trạng gì, Lê Thanh Hải tập hợp quanh mình những thân phận đồng dạng với Hải, những thân phận xuất thân từ đám Thiên Lôi, thành đoàn. Lê Thanh Hải chỉ dùng loại Thiên Lôi, không bề dày đóng góp, không công trạng như Nguyễn Văn Đua, Tất Thành Cang, Nguyễn Hữu Tín . . .

Khởi đầu con đường hoạn lộ từ quận Năm, nơi quần tụ người Hoa, nơi tiềm ẩn sức mạnh kinh tế ngầm của người Hoa, cũng tiềm ẩn thế lực chính trị ngầm từ phương Bắc, từ Trung Nam Hải, Bắc Kinh. Có phải sức mạnh kinh tế ngầm và thế lực chính trị ngầm đó đã đưa Lê Thanh Hải, người Việt gốc Hoa thần tốc lên lãnh chúa vùng đất giàu có nhất nước, tót vào nhóm quyền lực chóp bu ngồi trên ngai vua tập thể, nhóm Bộ Chính trị.

Cả đám đàn em đông đúc trong đảng bộ mà Hải là bí thư: Lê Hoàng Quân, Nguyễn Thành Tài, Nguyễn Văn Đua, Nguyễn Hữu Tín, Tất Thành Cang, Vũ Hùng Việt, Nguyễn Thị Hồng, Lê Văn Khoa, Đào Thị Hương Lan . . . Lê Thanh Hải đã có trong tay cả một đảng bộ quyền lực, cũng là một đảng bộ tội phạm.

Cả nhà trong bộ máy quyền lực, Trương Thị Hiền, Lê Tấn Hùng, Lê Trương Hải Hiếu, Lê Trương Hiền Hòa, Lê Thanh Hải đã tạo ra cả một phủ chúa quyền lực và cũng là phủ chúa tội phạm.

Với quyền lực ủy viên Bộ Chính trị, với quyền uy một đảng bộ, với sức mạnh kinh tế ngầm người Hoa, với thế lực chính trị ngầm phương Bắc, bè lũ Lê Thanh Hải mới dám cả gan ném bỏ quyết định 367 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qui hoạch xây dựng Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm, KĐTMTT, có chữ kí của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, thay bằng quyết định 6565 với chữ kí của một Thiên Lôi khi đó chỉ là phó thị trưởng Sài Gòn, Nguyễn Văn Đua.

Với quyền lực ủy viên Bộ Chính trị, với quyền uy một đảng bộ, với sức mạnh kinh tế ngầm người Hoa, với thế lực chính trị ngầm phương Bắc, những hung thần Thiên Lôi dưới vòm trời Lê Thanh Hải mới có thể mặc sức gây tội ác suốt thời gian dài gần hai mươi năm, chà đạp lên cuộc sống mười bốn ngàn sáu trăm gia đình, chà đạp lên cuộc đời sáu mươi ngàn người dân, tước đoạt mạng sống nhiều người dân lương thiện Thủ Thiêm.

Bảo đảm cho người dân bị xáo trộn do qui hoạch phải có cuộc sống tốt hơn trước khi qui hoạch chứ không thể tồi tệ vì qui hoạch, Quyết định 367 của Thủ tướng Chính phủ đã dành 160 ha đất sát 770 ha KĐTMTT làm khu tái định cư, để sáu mươi ngàn hộ dân phải giao đất rời nhà xây dựng KĐTMTT cũng được thụ hưởng ánh sáng đô thị hiện đại, cũng được thụ hưởng cơ sở vật chất của khu đô thị hiện đại nhất Đông Nam Á.

Nhưng ngửi thấy mùi vàng ròng của khối vàng lớn ở sự chênh lệch giữa giá đất bèo lau lách hoang vu và giá đất vàng đô thị hiện đại, ngửi thấy mùi vàng ròng của khối vàng khổng lồ ở 160 ha đất mênh mông tái định cư liền kề KĐTMTT, Lê Thanh Hải đã làm cho cuộc sống người dân Thủ Thiêm không những tồi tệ mà còn đau thương, chết chóc, đói khổ, bệnh tật, cùng quẫn, hết đường sống.

Khi có quyết định 367 của Thủ tướng Chính phủ qui hoạch KĐTMTT năm 1996, Lê Thanh Hải mới là phó của Thị trưởng Sài Gòn Võ Viết Thanh. Lá cờ quyền lực còn trong tay con người tử tế Võ Viết Thanh. Nhưng trước đây vì tử tế, không ngậm máu phun người trong vụ án ngụy tạo Sáu Sứ, Võ Viết Thanh phải bật khỏi triều đình. Nay vì tử tế, Võ Viết Thanh phải về hưu trước tuổi ba năm.trời để trao lá cờ quyền lực cho Lê Thanh Hải, năm 2001. Phải mất thêm vài năm nữa Hải mới tập hợp được quanh mình đủ mặt đám Thiên Lôi sấm sét.

Có trong tay đầy đủ quyền lực chính trị và sức mạnh bạo lực, Lê Thanh Hải liền cho em trai là Lê Tấn Hùng, cầm đầu lực lượng Thanh niên Xung phong Sài Gòn mặc sức cướp đất ở Bình Thạnh. Dưới bóng quyền lực chính trị và sức mạnh bạo lực Lê Thanh Hải, đại gia người Hoa Trương Mỹ Lan mặc sức thâu tóm những khu đất vàng khắp Sài Gòn. Bà Trương Mỹ Lan khá kín tiếng nhưng sức mạnh công ty Vạn Thịnh Phát của bà Lan đã sai khiến được cả cục trưởng cục Hàng hải Dương Chí Dũng ngoài Hà Nội. Thời Lê Thanh Hải, Vạn Thịnh Phát thâu tóm đất đai Sài Gòn và các tỉnh lân cận cũng rầm rộ và mạnh mẽ như những ông chủ người Hoa Mã Hỉ, Tạ Vinh thâu tóm lúa gạo miền Nam trước 1975.

Có trong tay một đảng bộ quyền uy và một đám Thiên Lôi sấm sét, Lê Thanh Hải liền cho ra đời quyết định 6565 chỉ có hai điều.

Điều 1 phá nát qui hoạch 367 đã được Thủ tướng Võ Văn Kiệt phê duyệt, đưa cả đất dân cư ngoài qui hoạch theo quyết định 367 của Thủ tướng Chính phủ vào qui hoạch của quyết định 6565 để cướp thêm đất của dân và xé 160 ha đất tái định cư ra thành sáu mảnh, ném sáu mảnh đất tái định cư đến những chỗ khuất nẻo bùn lầy nước đọng, muỗi mòng, rắn rết. Có mảnh 50 ha bị ném ra tận kênh rạch sình lầy Cát Lái, giáp đất hoang hóa dừa nước tỉnh Đồng Nai, cách KĐTMTT đến gần 20 km. Còn 160 ha đất tái định cư theo quyết định 367 đã được Thủ tướng Võ Văn Kiệt phê duyệt thì được quyết định 6565 giao cho các nhà dầu tư để biến thành trung tâm thương mại, văn phòng, căn hộ kinh doanh của 51 dự án.

Điều 2 quyết định 6565 láo xược ghi “Quyết định này thay thế Quyết định số 367/TTg ngày 04 tháng 6 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ”. Lạm quyền và phi pháp, quyết định 6565 cấp thành phố đã vô hiệu quyết định 367 cấp Thủ tướng Chính phủ.

Xóa bỏ qui hoạch đã được Thủ tướng phê duyệt, vẽ lại qui hoạch KĐTMTT, quyết định lạm quyền, phi pháp 6565 ra đời vào ngày sắp kết thức năm 2005 mở ra một trời đau thương, một biển uất hận cho người dân Thủ Thiêm. Từ đó, năm này qua năm khác, đám Thiên Lôi như những hung thần đưa xe san ủi, xe cẩu đến phá nhà dân, đưa xe tải đến hốt tài sản của dân đưa đi đâu không ai biết, đưa lực lượng đặc nhiệm như bầy thú dữ đến đánh dân, bắt dân, đẩy người dân vào cuộc sống màn trời chiếu đất suốt hơn chục năm trời.

Những cuộc cướp đất dân Thủ Thiêm dồn dập, quyết liệt, khủng khiếp và man rợ nhất diễn ra từ năm 2009 khi Thiên Lôi Tất Thành Cang được Lê Thanh Hải cho ngồi trên hai ghế quyền lực cao nhất ở mảnh đất Thủ Thiêm, vừa là Bí thư, vừa là Chủ tịch quận 2. Trước đó, từ năm 2007, Hải đã ban lệnh cho lũ Thiên Lôi phải dùng bàn tay sắt cướp đất.

Người dân giữ nhà, giữ đất, không cho bọn cướp xông và nhà liền bị lũ sai nha đánh gãy tay, què chân, giập mặt, máu đổ lênh láng rồi bị ném lên ô tô chở về nhà giam. Ngày 14.12.2010 lũ sai nha của Tất Thành Cang, Lê Thanh Hải dùng vũ lực đánh bà Trần Thị Chuốt 73 tuổi ngã sấp mặt xuống đất rồi chúng nắm hai chân hai tay bà Chuốt quăng lên ô tô. Bà Chuốt bị đập vào thành xe, rơi xuống sàn ô tô, gãy một mảng xương sườn, giập gan, chết khi được đưa đi cấp cứu. Lũ sai nha và lũ đầu sỏ cướp đất thản nhiên giết dân như vậy nhưng dưới bóng quyền uy của Hải, pháp luật vẫn câm miệng hến!

Vợ chồng anh chị Trương Việt Hiếu và Nguyễn Kim Phượng cùng hai con ở căn nhà do cơ quan của anh chị cấp rồi bán hóa giá trên đường Lương Định Của nằm ngoài ranh quy hoạch. Sáng ngày 31.7.2012 ngôi nhà của anh Hiếu chị Phương cũng bị lũ sai nha của Tất Thành Cang, Lê Thanh Hải đến đập nát. Xác nhà và tài sản trong nhà bị lũ sai nha chất lên ô tô chở đi mất tích. Gia đình tứ tán. Anh Hiếu phải ở cơ quan, ngủ trên bàn làm việc. Hai đứa con, đứa ở nhà cậu, đứa ở nhà bà ngoại. Chị Phượng nhặt cây que dựng chiếc chòi ni lông trên nền nhà cũ ở lại giữ đất. Nhưng nỗi đau không chỉ có vậy. Đau buồn, anh Hiếu đổ bệnh hiểm, không tiền mua thuốc hiếm giá cao, không nơi nằm yên thân trị bệnh, anh Hiếu chết trong bơ vơ không nhà cửa. Cả đám tang anh Hiếu cũng phải nhờ nhà bà con.

Ông tướng đặc công về hưu Hồng Minh Hải giữ đất bằng khẩu súng ngắn ông được giữ bên mình suốt đời. Như thời giặc giã, người dân phải cầm súng giữ nước, giữ nhà, ông tướng đặc công cầm khẩu súng ngắn bảo lũ cướp đất: Tụi bây cứ tới cưỡng chế đi. Đứa nào bước vô nhà tao, tao bắn!

Hàng ngày nhìn người dân chung quanh bị lũ sai nha của Tất Thành Cang, Lê Thanh Hải cướp đất đánh tóe máu, ngất xỉu, nhà bị đập nát, san bằng, Máu nghĩa hiệp thôi thúc, ông tướng đặc công muốn ra tay. Nhưng ông kịp nghĩ lại đám nầy chỉ là tay sai, chẳng được xơ múi gì. Kẻ thực sự ăn đất Thủ Thiêm chỉ vài tên đầu sỏ. Ông lặng lẽ mang kĩ năng của cả cuộc đời lính đặc công đi điều nghiên kĩ càng cửa trước, cửa sau, phòng ăn, phòng ngủ nhà ở từng tên đầu sỏ cướp đất. Ông điều nghiên cả đường đi lối về, phòng làm việc có lính canh, có người hầu của chúng. Ông cũng viết sẵn cho mỗi tên một bản án. Nếu lũ đầu sỏ quyết dùng sức mạnh Thiên Lôi cướp đất của ông, ông sẽ cho chúng biết ý chí giữ đất sống của người lính cả đời đánh giặc giữ nước.

Người dân không có súng, chỉ còn biết mang mạng sống của mình ra giữ đất. Anh Trần Văn Phúc là thiếu tá công an quận 2. Ngôi nhà của vợ chồng anh Phúc ở đường Lương Định Của bị cưỡng chế. Vợ anh đội đơn đi khiếu kiện và có mặt trong đoàn dân Thủ Thiêm biểu tình đòi đất. Anh Phúc không thực hiện được đòi hỏi của chỉ huy là cán bộ, đảng viên không được để vợ chống cưỡng chế. Bị giáng cấp và thường xuyên bị kiểm điểm, khiển trách, anh Phúc phải bỏ công an, bỏ đảng viên, về làm dân thường để được kêu oan mất đất sống. Nhưng đơn kêu cứu bị cướp đất gửi lên triều đình thì triều đình lại lạnh lùng chuyển đơn về cho lũ cướp đất giải quyết. Tuyệt vọng, đêm 24.4.2015, anh Phúc treo cổ tự tử trong ngôi nhà sắp bị lũ cướp Lê Thanh Hải đập nát.

Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi vạch tội giặc Minh với dân ta: Trúc Lam Sơn không ghi hết tội / Nước Đông Hải không rửa hết mùi. Tội của Lê Thanh Hải cướp đất Sài Gòn, tội của Lê Thanh Hải với dân Thủ Thiêm còn đểu cáng, man rợ hơn mọi loại giặc. Đất phèn Bến Nghé Cần Giờ cửa sông Sài Gòn không có trúc chỉ có bạt ngàn rừng đước. Đước Cần Giờ không ghi hết tội, nước sông Sài Gòn không rửa hết mùi tội ác Lê Thanh Hải.

ĐÓN ĐỌC PHẦN BA
TỘI ÁC ĐƯỢC BAO CHE, DUNG TÚNG

ĐÔI LỜI VỀ “CHỮ VN SONG SONG 4.0”

Image may contain: 1 person, text
No photo description available.
Image may contain: 2 people, people standing and ocean
Image may contain: text
Image may contain: text
+2
Nguyễn HọcFollow

ĐÔI LỜI VỀ “CHỮ VN SONG SONG 4.0”

Đỗ Duy Ngọc

Cấp bản quyền chỉ là công nhận cái công trình tào lao đó của mấy anh thôi chứ không phải xác định giá trị của nó. Nhớ lấy điều đó để đừng đem cái chứng nhận bản quyền đó ra hù thiên hạ. Thực tế nó chỉ là Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, giấy này cấp để tránh chuyện có người tranh dành công trình này thôi, hoàn toàn không phải là giấy chứng nhận về mặt học thuật. Mấy anh sáng chế, sáng tạo cái gì cũng được, đó là quyền của mỗi người, nhưng đừng nghĩ là người ta sẽ sử dụng nó. Người ta cấp cái bằng này cũng như cấp bằng sáng chế ra cái chổi lông vịt thay vì bằng lông gà hay sáng chế cái ống xịt tưới nước thay vì tưới bằng bình thế thôi, nó chẳng có giá trị nào cả. Hàng năm ở Việt Nam hàng trăm bằng Tiến sĩ được cấp, chẳng có bao nhiêu đề tài trong các luận văn đấy giúp ích cho đời. Cái công trình của các anh cũng giống vậy thôi. Báo chí làm rùm beng chuyện này chứng tỏ những người viết báo chẳng có chút kiến thức vỡ lòng nào về chữ quốc ngữ.

Chẳng có ai ngu si, dốt nát đến độ đem chuyện bôi bẩn, làm xấu tiếng Việt để thay thế chữ Việt trong sáng, đẹp đẽ như đã có mặt trong đời sống của người dân Việt suốt cả một thời gian dài. Người Việt hôm nay yêu tiếng nước mình, chữ viết của nước mình từ khi bập bẹ và lúc bắt đầu cầm bút viết những con chữ đầu đời. Chắc chắn không ai có thể chấp nhận lối viết quái dị, xấu xí của mấy anh. Và như thế, các anh đừng có mơ tưởng hão huyền cái loại chữ không dấu như con chó cụt đuôi này được đưa vào giảng dạy cho học sinh. Ngay từ mới hình thành, những người sáng tạo ra chữ quốc ngữ đã dựa vào tiếng nói của người Việt để tạo nên chữ viết. Chính cái âm điệu trầm bổng của tiếng Việt mà nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ của thế giới đã cho rằng tiếng Việt nói như hát. Và âm điệu đó đã sinh ra các dấu trong chữ quốc ngữ.

Tiếng Việt khác với các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan ở nhiều đặc điểm, trong đó đặc điểm rõ nhất là tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu. Theo quan điểm ngữ âm học hiện đại về thanh điệu, thanh điệu tiếng Việt trong chức năng khu biệt nghĩa, là sự khác biệt về cao độ (pitch) và chất giọng (voice quality), khi phát âm âm tiết. Về cao độ (khái niệm về cảm thụ, tương ứng với khái niệm tần số thanh cơ bản (F0), về vật lí), các thanh điệu có thể phân biệt về 1- đường nét (contour) – đó là diễn tiến (sự biến đổi) F0 trong thời gian phát âm âm tiết; 2- âm vực (pitch level) – đó là vùng cao độ mà ở đó một thanh điệu được thể hiện (tính từ điểm thấp nhất đến điểm cao nhất về cao độ). Chất giọng là khái niệm về mặt cảm thụ, tương ứng với khái niệm kiểu tạo thanh (Phonation type), xét về mặt sinh lí tạo sản lời nói. Kiểu tạo thanh là kiểu thức rung dây thanh, tạo nên sự khác biệt về trạng thái thanh môn và lượng dòng khí đi qua thanh môn, khi phát âm âm tiết.

Khi các giáo sĩ châu Ấu mới tiếp xúc với tiếng Việt, việc phát âm đúng thanh điệu tiếng Việt là khó khăn lớn nhất đối với họ. Linh mục C. Borri đến Đàng trong năm 1618 thú nhận rằng, muốn hiểu và nói được tiếng Việt hoàn toàn phải dành ra 4 năm để học. Marini cho rằng, “dường như dân Việt bẩm sinh đã có một cơ thể rất chính xác, được điều chỉnh thật đúng và hoà hợp hoàn toàn với trí óc cùng buồng phổi; phải nói là, theo tự nhiên, người Việt là nhạc sư, vì họ có tài phát âm một cách nhẹ nhàng và chỉ hơi biến thanh là đã khác nghĩa”. Tháng 12 năm 1624, Linh mục Alexandre de Rhode từ Áo Môn đi tầu buôn Bồ Đào Nha vào Cửa Hàn đến Thanh Chiêm tức thủ phủ Quang Nam Dinh và học tiếng Việt tại đó. Về tiếng Việt ông viết: “Riêng tôi xin thú nhận rằng khi vừa tới đàng trong nghe người Việt nói chuyện với nhau, nhất là giữa nữ giới, tôi có cảm tưởng như mình nghe chim hót và tôi đâm thất vọng vì nghĩ rằng không bao giờ có thể học được tiếng Việt”. ( Alexandre de Rhodes, 1653 tr. 72 ; dân theo 2 : tr. 12).

Trong “Báo cáo vắn tắt về tiếng An nam hay Đông kinh”, Alexandre De Rhodes khẳng định hệ thống thanh điệu được phản ánh trong chữ Quốc ngữ là hệ thống thanh điệu Bắc Bộ (Tonkin- Đông Kinh). Tác giả đã miêu tả rất ấn tượng các “giọng” (thanh điệu) và đặt tên cho từng giọng (thanh điệu). “Thứ nhất, giọng bằng là giọng phát âm không uốn tiếng chút nào. Thứ hai, giọng sắc là giọng phát âm bằng cách nhấn tiếng và đẩy tiếng ra giống như người biểu lộ cơn giận. Thứ ba là giọng trầm và phát âm bằng cách hạ thấp tiếng. Thứ tư là giọng uốn cong, được diễn tả bằng cách uốn cong tiếng phát ra từ đáy ngực, và sau đó được nâng lên một cách cao vang. Thứ năm là giọng được gọi là nặng trĩu hay cực nhọc, bởi vì giọng này được diễn tả bằng việc phát âm từ đáy ngực với sự nặng trĩu hay cực nhọc nào đó, và nó được ghi bằng dấu chấm dưới. Sau hết, giọng thứ sáu là giọng nhẹ, bởi vì nó được phát ra với việc uốn cong tiếng cách nhẹ nhàng, như khi chúng ta có thói quen hỏi , itane (phải vậy không)? và những tiếng giống như vậy, và bởi vậy, dấu hiệu này được ghi bằng dấu hỏi“.

Việc các nhà truyền giáo sử dụng các dấu ghi thanh điệu cũng có lí do. 4 trong 5 dấu thanh có nguồn gốc Hi Lạp gồm dấu Huyền, Sắc, Ngã, Nặng, dấu Hỏi có nguồn gốc La Tinh. Việc lựa chọn dấu (hình dáng đồ họa, vị trí đặt dấu) để ghi mỗi thanh điệu được căn cứ vào cách phát âm của thanh đó. (NGUYỄN VĂN LỢI – Đăng lại từ báo cáo “Sự hình thành cách ghi thanh điệu chữ Quốc ngữ”)

Đoạn văn được trích trên cho thấy các dấu trong chữ Việt phát xuất từ cái hồn của tiếng Việt. Nay các anh bỏ mất dấu đi, hỏi tiếng Việt còn gì trong chữ viết mới của các anh. Chính các anh, bằng cái sáng chế công trình quái dị đó đã tước mất cái hồn vía, cái bản sắc đặc biệt trong chữ Việt mà các giáo sĩ Francisco de Pina, Joao Roiz; Gaspar Luis; Antonio Barbosa, Cristoforo Borri; Alexandre de Rhodes và Gaspar d’Amaral mất một thời gian rất dài mới tạo ra được.

Bằng công trình chữ Việt không dấu gọi là “Chữ VN song song 4.0” của hai tác giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình đã làm xấu đi chữ Việt, tạo ra một lối viết què quặt khó coi. Nhìn lối viết chữ này, người ta sẽ không còn thấy chữ Việt mà cứ nghĩ là lối chữ viết của một nhóm thổ dân nào đó. Chuyện cấp chứng nhận đăng ký quyền tác giả là chuyện bình thường, có gì đâu mà phải ầm ĩ thế!

Với tư cách là một con dân đất Việt, nói tiếng Việt và sử dụng chữ Việt suốt gần cả đời người, đồng thời là một thầy giáo dạy chữ Việt mấy chục năm, tôi phủ nhận công trình này.
2.4.2020
DODUYNGOC

Bổ sung: Đây là một đoạn văn được viết theo lối chữ mới đăng trong face của tác giả. Nói thiệt, đọc và hiểu được, chết liền! Xin hỏi có ai hiểu chi không?

BILQ

Ahp kogy xugx lal bilq xahp*Nhugo ahp mulb em-lal bok cat tragx*Bok cat zail fagv lagh *Soi ahj nagx fa ley*Bok depr des cat vagl*Thojp thojz hagl thogy dugx *Nhuo lagh les moo magl*Sudb wanl namo beny sogj *Ahp xin laml bilq bisb *Hony mais cat vagl em *Hony thatf kes thatf emy *Hony emy demd mais mais *Das hony roid hony lair *Cho denb mais muly doik *Denb tan caz datb troik *Ahp moix thoiy zaol zatr Cugs coj ki aol atr*Nhuo wilb nat bok em *Lal luc triwd iwy menb*Wapf benb cuaz wayl demy *Ahp kogy xugx lal bilq xahp *Nhugo cugs xin laml bilq bisb *Deq hat mais beny gahl*Motf tihl chugp kogy hetb*Deq nhugw ki botr tugp tragx xoaj*Val joj ved bay toaz noio noio *Nhuo hony mais wanl namo kogy thoaz*Boiv iwy bok lamx lamx em oio.
—————–
CVNSS 4.0, Chuj Wylg Bihl zikr trogp bail thoo “Bilq” cuaz Xaly Ziwf

https://kenh14.vn/tieng-viet-khong-dau-chinh-thuc-duoc-cap-