“Ngồi trên dầu mà vẫn đi xin xăng?” – nghịch lý khó nuốt

Hồng Lam 

 “Ngồi trên dầu mà vẫn đi xin xăng?” – nghịch lý khó nuốt

Việt Nam không phải là quốc gia “trắng tay” về dầu khí. Từ thềm lục địa phía Nam, những mỏ dầu từng mang lại nguồn thu lớn, từng được xem là “át chủ bài” của nền kinh tế. Đã có thời, người ta nói đến dầu khí như một niềm tự hào – thứ tài nguyên giúp đất nước có vị thế hơn trên bản đồ năng lượng.

Nhưng rồi, một nghịch lý dần hiện ra:

có dầu… nhưng vẫn thiếu xăng.

Thậm chí có lúc phải nhập khẩu, phải đi mua, thậm chí “xin” hỗ trợ từ bên ngoài.

Vì sao lại như vậy?

Thứ nhất, có dầu thô không đồng nghĩa với có xăng để dùng. Dầu khai thác lên phải qua lọc hóa mới thành xăng, dầu diesel… Trong khi đó, năng lực lọc dầu trong nước còn hạn chế, phụ thuộc vào vài nhà máy lớn. Chỉ cần một trục trặc, một lần bảo trì, là thị trường trong nước lập tức chao đảo.

Thứ hai, bài toán quản lý và điều hành. Giá xăng không hoàn toàn theo thị trường, mà bị điều tiết bởi nhiều yếu tố. Khi giá thế giới biến động, doanh nghiệp nhập khẩu lỗ, không mặn mà nhập hàng, dẫn đến thiếu nguồn cung. Cây xăng đóng cửa, người dân xếp hàng – hình ảnh không ai muốn thấy nhưng đã từng xảy ra.

Thứ ba, một phần tài nguyên được xuất đi dưới dạng thô, giá trị thấp, rồi lại nhập về sản phẩm đã qua chế biến với giá cao hơn. Một vòng luẩn quẩn: bán rẻ – mua đắt. Nếu không nâng cao công nghiệp chế biến, thì dù có tài nguyên, lợi ích thực sự vẫn rơi vào tay nơi khác.

Còn câu chuyện “đi xin xăng” – có thể không phải theo nghĩa đen hoàn toàn, nhưng lại phản ánh một tâm thế: tự chủ chưa đủ vững. Khi gặp khó khăn, vẫn phải trông chờ vào nguồn bên ngoài để ổn định trong nước.

Điều đáng suy nghĩ không phải là Việt Nam có bao nhiêu mỏ dầu, mà là: chúng ta đã tận dụng nó hiệu quả đến đâu?

Tài nguyên không phải là câu trả lời cuối cùng. Có những quốc gia không có giọt dầu nào nhưng vẫn dư thừa năng lượng. Ngược lại, có nơi “ngồi trên mỏ” nhưng vẫn loay hoay với bài toán thiếu hụt.

Vấn đề không nằm dưới lòng đất.

Mà nằm ở cách con người vận hành những gì lấy lên từ đó.

Nếu không thay đổi tư duy và cách làm, thì nghịch lý này sẽ còn lặp lại:

có tài nguyên… nhưng không có sức mạnh.

HongLam


 

Lễ Giỗ Trưng Nữ Vương  &  162 Nữ Tướng Anh Hùng Liệt Nữ Dân Tộc


Lễ Giỗ Trưng Nữ Vương &  162 Nữ Tướng Anh Hùng Liệt Nữ Dân Tộc

 6 tháng 2 năm Bính Ngọ Quốc Lịch 4905 – 24 tháng 3 năm 2026

                                Đền Quốc Tổ tại Seattle Washington State 2025

Lễ Húy Nhật Trưng Nữ Vương

“Hiện nay có khoảng 6 triệu người Minangkabau (tên của vùng đất) trên hòn đảo Sumatra – Indonesia được các nhà cổ sử cho là có nguồn gốc Việt Cổ đã trên 2000 năm. Họ còn giữ nhiều tập tục như:  tục ăn trầu nhuộm răng, giữ luôn tập tục mẫu hệ, dựng nhà kiểu nhà sàn Việt Cổ. Người Việt Cổ hiện diện tại đây thật dễ hiểu, khi Mã Viện thắng trận và Hai Bà đã tuẫn tiết. Mã Viện ra lệnh tàn sát quân dân Lĩnh Nam đặc biệt gia tộc các nữ tướng và cũng tàn sát các dòng họ Trưng-Thi-Đô-Úy. Một số Đô Đốc sẵn có thuyền chiến và giặc Đông Hán cũng không giỏi hải chiến nên nhiều quân dân còn sống sót đã lên thuyền tìm nơi “tỵ nạn” và đoàn thuyền đã lên được đảo Sumatra – Indonesia gần eo biển Malacca hiện nay.”                                       

Lạc Việt

Đã từ lâu lắm, toàn dân Việt Nam luôn quý mến và ngưỡng mộ Hai Bà vì các Ngài đã đứng lên lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Đông Hán đã cai trị nước ta từ năm -111 (trước Công Nguyên) đến năm 40 (sau Công Nguyên). Cuộc kháng chiến  kéo dài từ năm 30 đến năm 40. Thắng trận sau khi chiếm lại 65 thành trì Hai Bà lên làm vua đặt tên nước là Lĩnh Nam  đóng đô ở Mê Linh cho đến năm 43 (Đô kỳ trong cõi Mê Linh – Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta).

Sau đó nhà Hán sai Mã Viện sang báo thù, Hai Bà và quân dân Bách Việt – Lĩnh Nam đã bị thua trận và Nhà Hán tiếp tục đặt ách nô lệ lên Dân Tộc ta suốt một nghìn năm cho đến thời Ngô Vương Quyền với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ I năm 939 (Sau Công Nguyên) Nhà Ngô đã lấy lại chủ quyền cho phần đất thuộc Lạc Việt Sông Hồng. Phần còn lại của Bách Việt Lĩnh Nam (Thời các Vua Hùng) từ bờ nam sông Dương Tử (sông Trường Giang ngày nay), Ngũ Lĩnh Quảng Đông Quảng Tây vẫn tiếp tục bị giặc Hán đô hộ và tiếp tục bị Hán hoá cho đến tận ngày nay.

Tuy vậy, có lẽ đa số chúng ta mới nghe lần đầu danh hiệu của Hai Bà là Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam. Nhân đây chúng ta cùng rà soát lại một số yếu tố lịch sử liên quan đến cuộc Kháng Chiến chống Quân Xâm Lược nhà Đông Hán vào năm 30-40 sau Công Nguyên.

Như chúng ta đã biết, Mã Viện và quân Đông Hán sau khi thắng trận (năm 43 sau Công Nguyên) đã đặt ách nô lệ lên Dân Tộc ta suốt 1000 năm, và ngay lập tức chúng trả thù man rợ là tàn sát 1/3 Quân Dân Âu Lạc, đặc biệt là giết sạch các gia tộc mang dòng họ Trưng, Thi, Đô, Úy…

Một ngàn năm, thời gian dài dằng dặc tăm tối trong kiếp nô lệ giặc Phương Bắc. Chính trong thời kỳ này, Giặc Tàu cố gắng đồng hóa Dân Tộc ta bằng tất cả mọi thủ đoạn: 

“Giặc Tàu xuyên tạc Lịch Sử Việt,

Giặc Tàu xuyên tạc Nguồn Gốc Tộc Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt 4000 năm Tiền Sử Tộc Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Truyền Thuyết Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Lãnh Thổ  Việt,

Giặc  Tàu chiếm đoạt Văn Minh Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Kiến Trúc và Kỹ Thuật Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Chữ Viết của Tộc Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Biểu Tượng Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt học thuyết Đạo và Đức của Tộc Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt thuyết Âm Dương Ngũ Hành của Tộc Việt,

Giặc Tàu chiếm đoạt Danh Dự và Vinh Quang của Tộc Việt”

(website:danhgiactau)

 *****

Trong suốt 1000 năm đó, Giặc Tàu đã hoàn chỉnh thêm chữ Việt, hệ thống hóa và gọi là chữ “Hán” và bắt dân ta học loại chữ này. Giới thượng lưu Việt dùng chữ “Hán” trong giao tiếp với bọn cai trị, nhưng vẫn tiếp tục giữ chữ Nam, chữ riêng của người Nước Nam, nhưng nói trại ra là chữ Nôm. Trong chữ Nôm có ghi được cả cách phát âm rất đặc thù của người Việt khác xa với chữ Hán (Chữ Nôm có phần tượng hình để chỉ ý nghĩa và phần tượng thanh để chỉ phát âm – Hình tượng thì giống chữ “Hán” nhưng đọc thì theo âm Việt. Tổ tiên ta đã thông minh sáng tạo để tiếp tục giữ được giọng nói của Người Việt. Sự khác biệt này rất quan trọng để chống Hán Hóa.

         Chữ Nôm:           些

        Đọc là: Trăm năm trong cõi người ta.

Cha Ông chúng ta tiếp tục dùng chữ Nôm sau khi Ngô Quyền giành độc lập và Chữ Nôm đã phát triển cao độ trong các thời Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê  với những áng văn tuyệt tác của Truyện Kiều – Nguyễn Du, những tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương…Đặc biệt Hoàng Đế Quang Trung đề cao văn học chữ Nôm.

Đến Triều Nguyễn Gia Long (1804) sau khi đánh bại nhà Nguyễn Tây Sơn, Gia Long trả thù tàn ác gia tộc nhà Tây Sơn và các tướng lãnh của Đại Đế Quang Trung đã oai hùng cùng ông và quân dân chống giặc ngoại xâm là 30 vạn Quân Thanh như Nữ Tướng Bùi thị Xuân (1789) …v.v… Gia Long cũng đã chôn vùi nhiều điều tốt đẹp của thời Quang Trung Hoàng Đế đồng thời có việc xử dụng nhiều quan triều gốc Hán, điều này đưa đến việc xử dụng chữ Hán một cách phổ quát thay chữ Nôm.  Lịch sử Việt được viết bởi người Hán được dùng rộng rãi. Đó là lý do tại sao chúng ta có những bài học lịch sử phiến diện, đề cao “Thiên Triều” và hạ thấp công lao hay tầm mức của các Anh Hùng Liệt Nữ Việt.

Trong chiều hướng Hán Hóa của Giặc Tàu, thời nào cũng vậy, nếu không xóa được các chiến tích Việt, thì “Thiên Triều” cũng cố gắng hạ thấp các chiến tích hay chuyển hóa các mục tiêu  của chiến tích.

Bây giờ thì chúng ta có thể hiểu tại sao Sử Việt (do Tàu viết) được xử dụng dưới thời 150 năm Triều Nguyễn (Gia Long) lại có những bài sử ngắn gọn như “Hai Bà Trưng”, thực tế là Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam hoặc “Bà Triệu Ẩu” có tính nhục mạ, thực tế là Nữ Anh Thư Triệu thị Trinh…v.v…

Trở lại danh xưng Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam mà sử “Việt Tàu” gọi ngắn gọn là Hai Bà Trưng. Chúng ta cùng nhìn lại bối cảnh cuộc Khởi Nghĩa Giải Phóng Dân Tộc do Hai Bà và Quân Dân Bách Việt – Văn Lang đã thực hiện đánh đuổi nhà Đông Hán ra sao ?

Từ năm -111 (trước công nguyên) đến năm 30 (sau công nguyên) Bách Việt – Văn Lang nói chung và Lạc Việt Sông Hồng nói riêng bị nhà Hán xâm lăng, tuy vậy sự đô hộ chưa toàn diện, Lac Hầu, Lạc Tướng vẫn là những quan tướng Việt lo việc an dân như thời Hùng Vương. Nhà Hán chỉ thâu thuế lúa gạo là chính.

Đến năm 30-40 Hán Vũ Đế bắt đầu cho quân xâm lược trú đóng và đặt ách nô lệ hà khắc ảnh hưởng trực tiếp từ Vùng Đồng Đình Dương Tử đến rặng Ngũ Lĩnh (Quảng Đông-Quảng Tây) và vùng Sông Hồng trong đó có việc Tô Định giết Thi Sách chồng Bà Trưng (chị) là Lạc Tướng huyện Châu Diên vùng Lạc Việt – Sông Hồng.

Bà Trưng đã được các thủ lãnh tôn vinh là Đế để lãnh đạo cuộc kháng chiến giành Độc Lập của các tộc Bách Việt – Văn Lang ở bờ Nam sông Dương Tử (nay là Trường Giang) , và ở Lạc Việt – Sông Hồng. Bà Trưng (chị) không chỉ vì thù chồng và hận giặc Tô Định tham tàn như sử “Việt-Tàu” viết, mà chí lớn hơn người đã đứng lên liên kết, một cuộc liên kết rộng lớn bao gồm cả vùng Đồng Đình Hồ, vùng Ngũ Lĩnh sông Tương và vùng Sông Hồng cùng đứng lên Giải Phóng Đất Nước khỏi sự thống trị tham tàn của Giặc Đông Hán.

Dưới đây là lãnh thổ của Bách Việt – Lĩnh Nam  thời Trưng Đại Đế năm 40 sau Tây Lịch (bản đồ của website: danhgiactau)

 Công cuộc gìn giữ độc lập cho Dân Tộc được khởi đầu bởi Thánh Gióng, một thanh niên rất trẻ cùng toàn dân chống giặc Ân đời Hùng Vương Thứ VI. Và bây giờ năm 40 đã qua các thời Vua Hùng – Văn Lang, vận nước suy vi vì bị giặc Đông Hán thống trị, Bà Trưng đã cùng rất nhiều các nữ tướng trên khắp lãnh thổ Bách Việt – Văn Lang đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm giành độc lập cho nước nhà.

Các Nữ Đại Tướng và Các Nữ Đô Đốc (danh xưng Công Chúa dưới sự chỉ huy của Trưng Đại Đế: 

Danh tướng Trưng Công Chúa (Bà Trưng Em) Đại Tướng trấn thủ Quận Giao Chỉ – Vùng đất Lạc Việt sông Hồng.

Danh tướng Thánh Thiên Công Chúa giữ chức Bình Ngô Đại Tướng Quân thống lĩnh binh mã trấn thủ quận Nam Hải hiện có đền thờ ở Ngọc Lâm Yên Dũng Bắc Ninh Việt Nam và ở cả hai tỉnh Quảng Đông Quảng Tây của Trung Hoa.

 Danh tướng Lê Chân, Nữ Tướng miền biển khởi nghĩa ở An Biên Hải Phòng được Trưng Vương phong làm Đông Triều Công Chúa giữ chức Trấn Đông Đại Tướng Quân thống lĩnh đạo quân Nam Hải hiện có Đền Nghè ở An Biên Hải Phòng.

 Danh tướng Vũ Thị Thục khởi nghĩa ở Tiên La Thái Bình được Trưng Vương phong làm Bát Nàn đại tướng, Uy Viễn Đại Tướng Quân Trinh Thục Công Chúa hiện có đền thờ ở Phượng Lâu Phù Ninh Phú Thọ và Tiên La Hưng Hà Thái Bình.

 Danh tướng Vương Thị Tiên được Trưng Nữ  Vương phong làm  Ngọc Quang công chúa được thờ ở Đền Sầy và miếu thờ ở xã Gia Sinh huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình. Tương truyền Bà có công giúp Trưng Nữ Vương đánh giặc và gieo mình tự vẫn tại xã Hữu Bị huyện Mỹ Lộc phủ Thiên Trường Nam Định.

 Ba vị danh tướng Đào Chiêu Hiển, Đào Đô Thống và Đào Tam Lang của Trưng Nữ Vương hi sinh trong trận Bồ Lăng đánh với quân Hán tại khu vực nay là ngã ba sông Dương Tử  và sông Ô Giang thuộc địa phận thành phố Trùng Khánh Trung Hoa. Để tưởng nhớ công ơn của 3 anh em họ Đào nhân dân Đa Tốn đã lập miếu thờ. Đào Đô Thống thờ ở miếu Sén Tóc thôn Ngọc Động, Đào Chiêu Hiển thờ ở Nghè Ông Hai thôn Lê Xá và Đào Tam Lang ở Nghè cũ sau chuyển về Nghè Lê Xá.

 Danh tướng Nàng Nội, nữ tướng vùng Bạch Hạc khởi nghĩa ở xã Bạch Hạc thành phố Việt Trì Phú Thọ ngày nay được Trưng Vương phong làm Nhập Nội Bạch Hạc Thủy Công Chúa. Hiện thành phố Việt Trì có đền thờ Bà.

 Danh tướng Lê Thị Hoa, Nữ tướng anh hùng khởi nghĩa ở Nga Sơn Thanh Hóa được Trưng Vương phong làm Nga Sơn Công Chúa giữ chức Bình Nam Đại Tướng Quân phó thống lĩnh đạo binh Cửu Chân. Hiện có đền thờ ở Nga Sơn Thanh Hóa. 

Danh tướng Hồ Đề phó nguyên soái khởi nghĩa ở động Lão Mai Thái Nguyên được Trưng Vương phong làm Đề Nương Công Chúa Giữ chức phó nguyên soái Trấn Viễn Đại Tướng Quân Đình Đông Cao Yên Lập Phú Thọ ở Hồ Đề.

 Danh tướng Xuân Nương (có chồng là Thi Bằng em trai của Lạc Tướng Thi Sách) Bà là chưởng quản quân cơ khởi nghĩa ở Tam Nông Phú Thọ được Trưng Vương phong làm Đông Cung Công Chúa giữ chức Nhập Nội Chưởng Quản Quân Cơ Nội Các. Hiện có đền thờ ở Hưng Nha Tam Nông Phú Thọ.

 Hai danh tướng Nàng Quỳnh và Nàng Quế, tiên phong phó tướng khởi nghĩa ở Châu Đại Man Tuyên Quang được Trưng Vương phong làm Nghi Hòa Công Chúa giữ chức Hổ Oai Đại Tướng Quân  lãnh đạo quân Nhật Nam trấn thủ vùng Bắc Nam Hải. Hiện ở Tuyên Quang còn miếu thờ hai vị nữ anh hùng.

 Danh tướng Đàm Ngọc Nga, Tiền Đạo Tả Tướng khởi nghĩa ở Thanh Thủy Thanh Sơn Phú Thọ được Trưng Vương phong làm Nguyệt Điện Tế Thế Công Chúa giữ chức Tiền Đạo Tả Tướng Quân phó thống lĩnh đạo binh Nam Hải hiện có đền thờ ở Khúc Giang nay thuộc tỉnh Quảng Đông Trung Hoa.

 Danh tướng Trần Thị Phương Châu tuẫn tiết ở Khúc Giang nay thuộc tỉnh Quảng Đông Trung Hoa. Năm 39 sau công nguyên được Trưng Vương phong làm Nam Hải Công Chúa hiện có đền thờ ở Khúc Giang Quảng Đông.

 Danh tướng Đinh Bạch Nương và Đinh Tĩnh Hương quê ở động Hoa Lư Ninh Bình theo Trưng Nữ Vương phất cờ khởi nghĩa được thờ ở đình Đông Ba thuộc thôn Đông Ba xã Thượng Cát quận Bắc Từ Liêm Hà Nội.

 Danh tướng Thiều Hoa, Tiên Phong Nữ Tướng khởi nghĩa ở Tam Thanh Phú Thọ được Trưng Vương phong làm Đông Cung Công Chúa giữ chức Tiên Phong Hữu Tướng. Hiện ở xã Hiền Quan Tam Nông Phú Thọ có miếu thờ bà.

 Danh tướng Quách A, Tiên Phong Tả Tướng khởi nghĩa ở Bạch Hạc Phú Thọ được Trưng Vương phong làm Khâu Ni Công Chúa giữ chức Tiên Phong tả tướng tổng trấn Luy Lâu. Hiện có đền thờ ở trang Nhật Chiêu Phú Thọ.

 Danh tướng được Trưng Vương phong làm Vĩnh Hoa Công Chúa Nội Thị Tướng Quân khởi nghĩa ở Tiên Nha Phú Thọ. Bà có nhiều trận đánh thần kỳ giẹp tan quân của đại tướng nhà Hán là Ngô Hán ở các vùng Độ Khẩu nay thuộc tỉnh Vân Nam và Khúc Giang nay thuộc tỉnh Quảng Đông và đảo Hải Nam của Trung Hoa ngày nay.

 Danh tướng Lê Ngọc Trinh đại tướng khởi nghĩa ở Lũng Ngòi Vĩnh Tường Vĩnh Phúc được Trưng Vương phong là Ngọc Phượng Công Chúa giữ chức Chinh Thảo Đại Tướng Quân phó thống lĩnh đạo quân  ở Quế Lâm. Hiện có miếu thờ ở Vĩnh Tường Vĩnh Phúc.

 Danh tướng Lê Thị Lan, tướng quân khởi nghĩa ở Đường Lâm Sơn Tây được Trưng Vương phong làm Nhu Mẫn Công Chúa giữ chức Trấn Tây Tướng Quân, phó thống lãnh đạo Minh Hán Trung. Hiện ở Hạ Hòa Vĩnh Phúc có miếu thờ Bà.

 Danh tướng Phật Nguyệt, Tả Tướng Thủy Quân khởi nghĩa ở Thanh Ba Phú Thọ được Trưng Vương phong làm Phật Nguyệt Công Chúa giữ chức Thao Giang Thượng Tả Tướng Thủy Quân Chinh Bắc Đại Tướng Quân tổng trấn khu hồ Đồng Đình – Trường Sa. Bà có trận đánh kinh hồn chiến thắng Mã Viện, Lưu Long và Đoàn Chí ở Hồ Đồng Đình nay thuộc tỉnh Hồ Nam. Hiện di tích về  Bà còn rất nhiều tại chùa Kiến Quốc thành phố Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam, tại ngôi chùa trên núi Thiên Đài trong hệ thống dãy núi Ngũ Lĩnh. Bà là nữ tướng gây kinh hoàng nhất cho nhà Hán.

 Danh tướng Trần Thiếu Lan hiện có miếu thờ tại cửa Thẩm Giang chảy vào hồ Đồng Đình nay thuộc tỉnh Hồ Nam Trung Hoa. Cả ngàn năm qua, mỗi lần sứ thần của Việt Nam đi ngang qua đều vào tế lễ Bà.

 Danh tướng Phương Dung khởi nghĩa ở Lang Tài Bắc Ninh được Trưng Vương phong làm Đăng Châu Công Chúa giữ chức Trấn Nam Đại Tướng Quân thống lĩnh đạo binh Giao Chỉ.

 Danh tướng Trần Năng, Chưởng Lĩnh Trung Quân khởi nghĩa ở Thượng Hồng Hải Dương được Trưng Vương phong làm Hoàng Công Chúa, Vũ Ky Đại Tướng Quân giữ chức Chưởng Lĩnh Trung Quân. Hiện ở Yên Lãng Vĩnh Phúc có đền thờ Bà.

 Danh tướng Trần Quốc hay Nàng Quốc, Trung Dũng Đại Tướng Quân, khởi nghĩa ở Gia Lâm Hà Nội được Trưng Vương phong làm Gia Hưng Công Chúa Trung Dũng Đại Tướng Quân giữ chức Đô Đốc Chưởng Quản Thủy Quân trấn Bắc Nam Hải. Bà có trận thủy chiến lẫy lừng ở quận Uất Lâm nay thuộc tỉnh Quảng Tây Trung Hoa. Hiện ở Hoàng Xá Kiêu Kỵ Gia Lâm Việt Nam và cả dọc bờ biển các tỉnh Quảng Đông Phúc Kiến Hải Nam Trung Hoa ngày nay còn nhiều đền thờ Nàng Quốc. Dân ở các vùng này đã tôn bà là Giao Long Tiên Nữ giáng trần vì bà rất hiển linh.

 Tam Nương Tả Đạo Tướng Quân gồm 3 danh tướng chị em Đạm Nương, Hồng Nương và Thanh Nương. Trưng Vương phong Hồng  Nương làm An Bình Công Chúa. Thanh Nương làm Bình Xuyên Công Chúa. Đạm Nương làm Quất Lưu Công Chúa trao cho chức Kỵ Binh Lĩnh Nam. Đình Quất Lưu Vĩnh Phúc thờ Tam Nương.

 Danh tướng Quý Lan, Nội Thị Tướng quân khởi nghĩa ở Lũng Động Chí Linh Hải Dương được Trưng Vương phong là An Bình Công Chúa, giữ chức Nội Thị Tướng Quân (Lễ Bộ Thượng Thư). Hiện ở Liễu Sơn Lập Thạch Vĩnh Phúc có đền thờ Quý Lan.

 Bà Chúa Bầu khởi nghĩa ở vùng Lập Thạch Vĩnh Phúc. Hiện ở Lập Thạch Sơn Dương có đền thờ tưởng nhớ công lao của Bà.

 Danh tướng Sa Giang quê ở Trường Sa – Hồ Nam là người Hán sang giúp triều đình Lĩnh Nam được Trưng Vương phong làm Lĩnh Nam Công Chúa. Bà là một nhân vật lịch sử. Hiện ở ngoại ô huyện Phong Đô tỉnh Tứ Xuyên Trung Hoa có đền thờ Bà.

 Danh tướng Đô Thiên cũng là người Hán ứng nghĩa theo Lĩnh Nam được Trưng Vương phong làm Động Đình Công giữ chức Trung Nghĩa Đại Tướng Quân thống lĩnh đại quân Hán Trung tổng trấn Trường Sa (Hồ Nam). Hiện vùng Lưỡng Quảng của Trung Hoa có rất nhiều miếu thờ Ông.

 Danh tướng Phùng thị Chính quê ở Tuấn Xuyên Vạn Thắng Ba Vì được Trưng Vương phong làm Chưởng Nội Thị Tướng Quân. Bà nổi tiếng với trận đánh ở Lãng Bạc. Sinh con giữa trận chiến một tay ôm con một tay giết giặc. Có đền thờ Bà tại thôn Tuấn Xuyên xã Vạn Thắng huyện Ba Vì thành phố Hà Nội.

  Ngoài ra còn có các thủ lĩnh người Tày người Nùng và người Choang tại tỉnh Quảng Tây lãnh đạo nhân dân tham gia cuộc khởi nghĩa của Trưng Nữ Vương.

 *****

Sau khi thắng giặc xâm lược Hán Vũ Đế, năm 40 AD Bà Trưng lên ngôi Nữ Hoàng Đế đặt tên nước là Lĩnh Nam. Lãnh thổ gần tương đương với nước Văn Lang của các vua Hùng ngày xưa. Nước Lĩnh Nam được chia làm 6 Quận: Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ, Tượng Quận, Nam Hải và Quế Lâm. Các nữ danh tướng hiện còn nhiều đền thờ lập thành “Thần Hoàng Làng” ở miền Bắc Việt Nam và miền Nam sông Dương Tử Trung Hoa.

 Sáu Quận của nước Lĩnh Nam từ bờ Nam Dương Tử đến đèo Hải Vân:

Tượng Quận, Quế Lâm, Nam Hải, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam

 Cuộc chiến hầu như khởi động đồng loạt trên toàn lãnh thổ bao la của Bách Việt từ Hồ Đồng Đình đến rặng Ngũ Lĩnh thượng nguồn sông Tương đến vùng Sông Hồng (cực Nam là Đèo Hải Vân).

Trận chiến được mở đầu trên Đồng Đình Hồ (thủ phủ xa xưa của tộc Việt) khi 20 vạn Quân Hán thiện chiến tràn xuống từ vùng Hoàng Hà phải đối đầu với binh lực của Công Chúa Phật Nguyệt – Nữ Tướng của vùng Hồ Đồng Đình. 7 vạn quân Hán đã bị giết trong số 20 vạn quân xâm lược và khoảng 1000 trong 2000 chiến thuyền của giặc bị phá huỷ. 

Đền Trưng Nữ Vương

Với cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trên một địa bàn rộng lớn như thế, cùng với những chiến công hiển hách như vậy, sao dân ta chỉ gọi là Hai Bà Trưng như Sử Giặc Tàu viết.

Để ít nhất tương đương với nhà Đông Hán lúc đó là Hán Quang Vũ Đế, các Tướng vùng khắp nơi trên lãnh thổ Bách Việt – Văn Lang từ Hồ Đồng Đình đến Rặng Ngũ Lĩnh vào tận đến vùng Sông Hồng hẳn sẽ phải tôn vinh Ngài là Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam.

Ngày nay, chúng ta cũng không nên dựa theo sử Tàu mà gọi vi Nữ Anh Hùng có một không hai trên thế giới cổ kim đơn giản là Hai Bà Trưng mà nên  gọi Ngài là Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam hay ít nhất là Trưng Nữ Vương.

Với dòng lịch sử oai hùng như vậy của Trưng Đại Đế, TT Trump đã nhắc đến công lao “Hai Bà” trong chuyến viếng thăm VN tại Đà Nẵng năm 2017 như một lời nhắc nhở thâm thuý : “Không ai cho chúng ta Độc Lập, mà phải tự giành lấy Độc Lập như ‘Hai Bà’ đã làm từ năm 40”. Lời nhắc nhở này, người Việt chúng ta cảm thấy “nhục” hơn là hãnh diện khi Đại Họa Mất Nước đã gần hoàn tất dưới triều đại của các Hán Gian Cộng Sản.  

 Lạc Việt

Nhân ngày lễ giỗ Trưng Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam & 162 Nữ Tướng Anh Hùng Dân Tộc 6 tháng 2 năm Bính Ngọ QL4905 (Mar 24, 2026

 Tài liệu tham khảo:

1–website www.danhgiactau.com 

2–Bài trả lời phỏng vấn GS Trần Đại Sĩ

3—Website www.daotienthanh.org

4- Cội Nguồn Việt Tộc – Phạm Trần Anh

5- Lược Sử 7000 năm Tộc Việt – Nguyễn thanh Đức

6- Youtube Channel: Thai Tu Sin TV

 Ghi chú:

1–Động Đình Hồ hay Đồng Đình Hồ

Động Đình Hồ là địa danh chúng ta thường nghe. Đây chính là nơi Tổ Tiên chúng ta xuất hiện cách đây gần 5000 năm . Vùng này xưa kia rộng lớn như Biển Hồ ở phía Nam bờ sông Dương Tử. Hệ thống Hồ chằng chịt nối kết với sông Dương Tử. Do đó người Bách Việt rất giỏi về bơi lội lặn sâu, nghĩa là có khả năng vùng vẫy dưới nước như Rồng. 

Khoảng giữa hồ có nhiều núi và nhiều hang động như trong cảnh giới cõi tiên. Đây chính là nơi Mẹ Âu Cơ ngự trị. Bởi vậy truyền thuyết Dân Tộc ta là con cháu Tiên Rồng, tức là một sự kết hợp kỳ diệu của con người trong cảnh giới tuyệt vời của Nước và Non. Do đó Dân Tộc Việt chúng ta cũng gọi Quê Hương là Đất Nước. 

Theo sự nghiên cứu về chữ Việt cổ thì Vùng này lại gọi là Đồng Đình Hồ. Đồng là cùng, chung nhau. Đình là triều đình là bàn việc nước. Vậy Hồ Đồng Đình có núi non có nhiều hang động như là nơi Tiên Cảnh, Tổ Tiên ta xuất phát từ đây nên cũng dùng nơi này để cùng nhau bàn việc nước. 

2–Tại sao chúng ta lại gọi mình là người Kinh.

Tổ tiên chúng ta xuất phát từ vùng Đồng Đình Hồ. Gần hồ, những nơi nước không sâu có loại cỏ Kinh mọc san sát cao hơn đầu người. Trong những cuộc chiến chống quân xâm lược, tổ tiên chúng ta thường dùng nơi này làm chiến khu hay trận địa chiến. Người Việt đã chế ra một loại vũ khí có cán dài, trên đầu có bọc sắt nhọn và cũng ngay gần đầu có làm cái móc câu liêm. Trong đám cỏ Kinh rậm rạp này, chiến binh Việt dễ ẩn núp và khi gặp giặc tiến công thường cưỡi ngựa thì chiến binh Việt dùng vũ khí này móc cho ngựa quỵ xuống rồi cũng dùng mũi nhọn để đâm địch thủ. Vùng Đồng Đình “Thủ Đô” có nhiều cỏ Kinh nên người Việt gọi nhau là người gốc Kinh. Chữ để chỉ người Việt của thời kỳ này và tại vùng Đồng Đình  có hình cái Vũ Khí như vừa diễn tả. 

3–Cũng có sách chỉ ra rằng:

Sở dĩ Sử Tàu gọi Hai Bà là Trưng Trắc & Trưng Nhị là có ý miệt thị: Trưng Trắc là Trưng phản trắc và Trưng Nhị là Trưng hai lòng. Có lẽ cũng tương tự như chúng gọi Bà Triệu Thị Trinh là Triệu Ẩu là có ý khinh miệt

4–Sở dĩ ngày nay sau 1000 năm nô lệ

chúng ta còn biết đến công trạng của Trưng Đại Đế và đặc biệt công đức của 162 Nữ Đại Tướng (danh hiệu Công Chúa) là nhờ đền thờ của các vị mà tộc Việt khắp nơi trên lãnh thổ Tàu vẫn còn gìn giữ tôn thờ. Ngay cả các triều đại vua chúa của ta thời Đinh Lê Lý Trần hoặc đích thân hoặc các phái đoàn ngoại giao đều ghé đền Trưng Đại Đế tại Đồng Đình Hồ để thắp nhang kính viếng.

 From: My Tran 


 

“Tôi không muốn tự do chỉ cho riêng mình.”(Phạm Đoan Trang)

Teerapong Chalchalerm 

Phạm Đoan Trang không chỉ là một cái tên – chị là một câu hỏi lớn treo lơ lửng giữa thời đại: con người có thể đi xa đến đâu khi lựa chọn nói thật? Và cái giá của sự thật ấy là gì?

Nếu nhìn từ bên ngoài, cuộc đời chị có thể đã rẽ sang một hướng rất “an toàn”: một công việc ổn định, một vị trí trong hệ thống, một cuộc sống không thiếu thốn. Nhưng chính trong những hành lang tưởng như yên ổn ấy, chị đã nhìn thấy những khoảng lặng đáng sợ – nơi mà sự thật bị bóp méo, nơi mà tiếng nói bị kìm nén. Và rồi, thay vì bước tiếp trên con đường được vạch sẵn, chị quay lưng lại với nó. Không ồn ào, không tuyên bố lớn lao – chỉ là một quyết định lặng lẽ nhưng dứt khoát: viết.

Nhưng viết, với chị, không phải là hành động vô hại. Mỗi dòng chữ là một vết cắt vào sự im lặng. Mỗi cuốn sách là một lời thách thức. “Chính trị bình dân” không chỉ giải thích, nó phá vỡ những bức tường vô hình. “Phản kháng phi b*ạo l*ực” không chỉ là lý thuyết, mà là lời kêu gọi hành động trong im lặng. “Cẩm nang nuôi tù” – nghe tưởng chừng lạnh lùng – lại là một tiếng khóc nghẹn dành cho những gia đình bị bỏ lại phía sau.

Và rồi, thực tại phản hồi lại chị không phải bằng tranh luận – mà bằng b*ạo l*ực.

Năm 2015, khi cơ thể chị bị đánh gãy, đó không chỉ là một sự trừng phạt thể xác. Đó là một thông điệp: “Dừng lại.” Nhưng điều đáng sợ – hoặc đáng khâm phục – là chị đã không dừng. Một con người bình thường có thể chọn im lặng sau nỗi đau ấy. Nhưng chị thì không. Chị viết tiếp, dù mỗi bước đi đều đau. Chị lên tiếng, dù biết mỗi lời nói có thể kéo theo một cái giá mới.

Có một nghịch lý trong con người chị: càng bị bóp nghẹt, tiếng nói lại càng lan xa.

Khi bị bắt vào ngày 6 tháng 10 năm 2020, đó không phải là một sự kiện bất ngờ đối với những ai theo dõi chị. Nó gần như là một điều “đã được dự báo”. Nhưng điều khiến người ta day dứt không phải là việc chị bị bắt – mà là sự bình thản trước đó của chị. Như thể chị đã chuẩn bị từ lâu. Như thể chị hiểu rõ kết cục, nhưng vẫn bước tới.

Bản án 9 năm tù không chỉ là con số. Nó là nỗ lực đóng lại một tiếng nói. Nhưng nghịch lý lại tiếp tục: cánh cửa nhà tù khép lại, thì cánh cửa thế giới mở ra. Tên của chị xuất hiện trong các giải thưởng quốc tế, trong các bài báo, trong những cuộc thảo luận vượt khỏi biên giới. Những người chưa từng gặp chị bắt đầu biết đến chị. Những người chưa từng đọc chị bắt đầu tìm đọc.

Trong khi đó, bên trong song sắt, một cơ thể yếu dần đi. Những căn bệnh chồng chất. Những ngày tháng cô lập. Không ánh đèn sân khấu, không tiếng vỗ tay – chỉ có sự im lặng kéo dài. Và chính ở đó, câu hỏi trở nên sắc lạnh hơn bao giờ hết: điều gì giữ một con người không gục ngã?

Có lẽ không phải là sức mạnh thể chất. Cũng không phải là niềm tin mơ hồ. Mà là một ý niệm rất cụ thể, rất đau đáu: rằng nếu mình im lặng, sẽ có thêm nhiều người phải im lặng. Và nếu mình tiếp tục, dù chỉ một chút, thì đâu đó sẽ có người khác dám bước thêm một bước.

Chị từng nói: “Tôi không muốn tự do chỉ cho riêng mình.” Câu nói ấy, đặt trong hoàn cảnh bình thường, có thể chỉ là một lý tưởng đẹp. Nhưng đặt trong hoàn cảnh của chị, nó trở thành một lời cam kết – và cũng là một gánh nặng.

Vì tự do cho “tất cả” là một khái niệm rộng lớn đến mức gần như không thể nắm bắt. Nhưng chị vẫn chọn mang nó.

Có những con người làm thay đổi lịch sử bằng những hành động lớn. Và có những con người, như chị, làm thay đổi nhận thức – từng chút một, từng người một. Không cần phải đứng trên bục cao, không cần phải có quyền lực. Chỉ cần kiên trì không im lặng.

Hình ảnh về chị không phải là một biểu tượng hoàn hảo. Đó là một con người với cơ thể yếu ớt, với nỗi đau rất thật, với những giới hạn rất người. Và chính vì thế, sự dũng cảm của chị trở nên gần gũi hơn – và cũng khó đạt tới hơn. Vì nó không phải là thứ bẩm sinh, mà là một lựa chọn lặp đi lặp lại, mỗi ngày.

Có thể sẽ còn rất lâu trước khi cánh cửa kia mở ra. Có thể những năm tháng phía trước vẫn đầy thử thách. Nhưng có một điều gần như chắc chắn: câu chuyện của Phạm Đoan Trang sẽ không dừng lại ở những bức tường.

Nó đã thoát ra rồi – qua những trang sách, qua những người đọc, qua những cuộc trò chuyện âm thầm nhưng bền bỉ.

Và điều khiến người ta xúc động không phải là sự bi thương của câu chuyện ấy, mà là một sự thật rất đơn giản: giữa rất nhiều lựa chọn dễ dàng hơn, chị đã chọn con đường khó nhất – và vẫn đi đến cùng.


 

 NHÀ THỜ TRUYỀN TIN – VIÊN NGỌC CÔNG GIÁO BỊ LÃNG QUÊN, BỊ CHIẾM DỤNG TRÊN ĐƯỜNG PHỔ QUANG, TÂN BÌNH, SÀI GÒN

Người Giồng Trôm

 NHÀ THỜ TRUYỀN TIN – VIÊN NGỌC CÔNG GIÁO BỊ LÃNG QUÊN, BỊ CHIẾM DỤNG TRÊN ĐƯỜNG PHỔ QUANG, TÂN BÌNH, SÀI GÒN

Giữa dòng xe cộ hối hả của đường Phổ Quang, phường 2, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh ngày nay, có một góc khuất mà ít ai để ý: một ngôi thánh đường Công Giáo nhỏ bé, cổ kính, nằm lặng lẽ bên cạnh doanh trại quân đội (nay là Quân khu 7). Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngôi nhà thờ này bị chiếm dụng, đóng cửa kín mít, khuôn viên từng là nơi cầu nguyện thiêng liêng nay trở thành bãi đậu xe tải của ngành điện lực, cỏ dại mọc um tùm, tường vôi loang lổ, mái ngói phủ bụi thời gian. Nhiều người Sài Gòn sinh ra sau 1975, sống ngay quanh khu vực này, thậm chí đi qua hàng trăm lần, vẫn không biết đây là nhà thờ gì, thuộc Tin Lành hay Công Giáo. Tra Google Maps hay tìm kiếm trên mạng, kết quả gần như bằng không – như thể ngôi thánh đường này đã bị lịch sử xóa sổ khỏi ký ức tập thể.

Nhưng với những bậc tiền bối Bắc di cư năm 1954 còn sống sót quanh giáo xứ Tân Sa Châu, Bùi Phát (vùng Ông Tạ xưa), họ vẫn nhớ rõ như in: Đây chính là Nhà Thờ Truyền Tin – một trong những nhà thờ Công Giáo quan trọng nhất phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) thời chiến tranh. Tên gọi “Truyền Tin” lấy từ mầu nhiệm Lễ Truyền Tin (Annunciation) – ngày Sứ Thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria rằng Bà sẽ mang thai Con Thiên Chúa. Ngôi nhà thờ được xây dựng để dành riêng cho các linh mục tuyên úy dâng Thánh Lễ, chăm sóc đời sống thiêng liêng cho hàng ngàn quân nhân đóng quanh phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu (TTM), và các đơn vị binh chủng Truyền Tin, Không Quân, cùng gia đình họ ở khu gia binh gần đó.

Lịch sử xây dựng và những năm tháng huy hoàng

Ngôi nhà thờ được khởi công vào những năm đầu thập niên 1960, thuộc giáo khu Truyền Tin, giáo xứ Tân Sa Châu, dưới sự quản lý của Tổng Giáo phận Sài Gòn. Viên đá đầu tiên được đặt vào dịp Noel, ngày 23 tháng 12 năm 1961, và hoàn thành chỉ trong vòng chưa đầy một năm – ngày 13 tháng 8 năm 1962. Ban đầu, một số người gọi là “Nhà Thờ Không Quân” vì khu vực phi trường Tân Sơn Nhất lúc ấy chỉ có nhà thờ Công Giáo này phục vụ quân nhân. Sau đó đổi tên thành Nhà Thờ Truyền Tin vì nằm sát khu vực binh chủng Truyền Tin và cư xá gia binh Truyền Tin.

Người trực tiếp đảm trách và góp phần lớn vào việc xây dựng là Linh mục Phan Phát Huồn, dòng Chúa Cứu Thế (DCCT). Cha Huồn sinh ngày 5 tháng 10 năm 1926 tại họ đạo Thợ Đúc, giáo xứ Trường An, Hương Thủy, Huế. Năm mới 11 tuổi (1937), ngài đã vào tu tại Dòng Chúa Cứu Thế – một quyết định dấn thân sớm lạ thường. Khấn dòng năm 1948, thụ phong linh mục ngày 27 tháng 6 năm 1955. Từ năm 1957, cha được chọn tham gia ngành Tuyên Úy Công Giáo Quân Lực VNCH, với cấp bậc cao nhất là Trung tá Tuyên úy, Phó Giám đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo QLVNCH.

Không chỉ là linh mục tuyên úy, cha Huồn còn là một sử gia Công Giáo lỗi lạc. Tác phẩm đồ sộ nhất của ngài là bộ “Việt Nam Giáo Sử” (2 tập, xuất bản năm 1965 bởi Cứu Thế Tùng Thư tại Sài Gòn) – một công trình nghiên cứu công phu, chi tiết về lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam từ thời khai phá đến thế kỷ 20. Sau 1975, sách được tái bản tại Mỹ. Ngoài ra, cha còn làm Chủ bút Nguyệt san Tinh Thần, Giám đốc Chương trình Phát thanh Nha Tuyên Úy, mở trường Trung Tiểu học Tinh Thần, Trung Tiểu học Truyền Tin, Trung Tiểu học Lê Văn Duyệt… để chăm lo giáo dục cho con em quân nhân.

Thánh Lễ tại Nhà Thờ Truyền Tin thường diễn ra vào sáng Chúa Nhật, do các linh mục tuyên úy luân phiên chủ tế, nổi bật là cha Nguyễn Ái (người gốc Huế, cấp bậc trung úy, sau là trung tá). Cha Ái có người em là linh mục Nguyễn Ân (cấp bậc đại tá). Không khí thánh đường lúc ấy tràn đầy hy vọng, tiếng kinh nguyện hòa lẫn tiếng máy bay cất cánh từ Tân Sơn Nhất, tiếng cầu xin bình an giữa bom đạn chiến tranh.

Sau 1975: Bi kịch chiếm dụng và lãng quên

Ngày 30/4/1975, mọi thứ thay đổi. Như bao cơ sở tôn giáo, quân sự của chế độ cũ, Nhà Thờ Truyền Tin bị nhà nước tiếp nhận. Khuôn viên bị biến thành nhà kho chứa thiết bị, vật tư điện lực cao thế. Xe tải điện lực đậu kín sân, cổng khóa chặt, không còn tiếng chuông, không còn Thánh Lễ. Người coi sóc cuối cùng cũng đã qua đời. Hầu hết quân nhân, gia đình từng tham dự lễ ở đây nay đã cao niên, phần lớn định cư nước ngoài theo diện HO hoặc các chương trình khác.

Riêng cha Phan Phát Huồn, như bao tuyên úy và quân nhân khác, phải trải qua 13 năm tù cải tạo (1975–1988), từ Nam chí Bắc: Tam Hiệp, Thanh Phong, Nam Hà… Ngài được thả tự do năm 1988, định cư tại Hoa Kỳ năm 1992 theo diện HO. Tại Mỹ, cha tiếp tục sinh hoạt trong Dòng Chúa Cứu Thế hạt Long Beach, làm Đặc trách Nhà dòng, Chủ bút Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (tái bản sau khi bị đình bản tại Việt Nam), Giám đốc Chương trình Phát thanh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Linh hướng chương trình truyền hình Ánh Sáng Niềm Tin… Cha qua đời ngày 16 tháng 10 năm 2015 tại Mỹ, để lại di sản tinh thần lớn lao.

Gần 50 năm trôi qua: Di sản vẫn chưa được trả lại

Gần nửa thế kỷ, tài sản của Giáo Hội vẫn nằm trong tay nhà nước, chưa được trả lại để giáo dân tu sửa, biến nơi đây thành chốn thờ phượng. Khu vực Phổ Quang xưa kia có hai địa điểm tôn giáo phục vụ quân nhân VNCH: Nhà Thờ Truyền Tin và Chùa Phổ Quang. Chùa Phổ Quang đã được trả lại cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trùng tu khang trang, trở thành điểm hành hương đẹp đẽ. Còn Nhà Thờ Truyền Tin thì vẫn im lìm, hoang phế, như một vết thương chưa lành của lịch sử.

Nhà Thờ Truyền Tin không nằm trong danh sách thái “giao tặng” lại một số cơ sở tôn giáo cho Giáo phận Sài Gòn. Thiết nghĩ, Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn nên có những động thái cụ thể, khẩn thiết hơn: gửi văn bản chính thức, vận động, đối thoại để đòi lại ngôi thánh đường này. Kẻo để lâu, công trình sẽ hư hại hoàn toàn – mái sụp, tường đổ, và lặp lại bi kịch của không ít nhà thờ, cơ sở tôn giáo khác trong lịch sử đau thương sau 1975.

Đây không chỉ là một ngôi nhà thờ nhỏ trên đường Phổ Quang. Đây là di sản thiêng liêng, là ký ức của biết bao người đã từng quỳ gối cầu nguyện giữa khói lửa chiến tranh, là nơi cha Phan Phát Huồn – một linh mục, một sử gia, một tuyên úy – đã dâng hiến tuổi trẻ và cả cuộc đời cho đức tin và quê hương. Và quan trọng hơn, đây là lời nhắc nhở về công bằng, về quyền tự do tôn giáo, về việc trả lại những gì thuộc về Giáo Hội.

Lm. Anmai, CSsR

PS : Linh mục Phan Phát Huồn cũng chính là người sáng lập Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Xóm Mới.


 

Chú đi bầu chưa mà giờ còn ngủ?

Việt Nam Thời Báo

 Mới sáng sớm ngày bầu cử, chú công an khu vực (CAKV) đã đến gõ cửa từng nhà trong xóm hối đi bỏ phiếu.

Chú Ba mở cửa thấy chú CAKV thì run lắm:

– Dạ trọng kính chú.

Chú CAKV hất hàm hỏi xóc hông:

– Chú đi bầu chưa mà giờ còn ngủ?

Chú Ba dù bị phá giấc ngủ nướng sau một tuần làm việc khuân vác mệt nhọc, bực lắm nhưng cũng phải nhỏ nhẹ:

– Dạ chưa, lát em đi ngay. Dạ kính thưa chú, mà mình bầu cho ai?

Chú CAKV gắt:

– Không chịu coi TV tìm người mà bầu đúng cử cho xứng gì cả, chỉ lo đi làm, vớ vẩn còn hỏi.

Chú Ba thật thà:

– Dạ em xem TV thường lắm ạ. Em thấy từ tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, các bộ trưởng, các ông ở trong ban chấp hành trung ương đảng, rồi đến các ông chủ tịch này chủ tịch khác. Em nhìn mặt mấy ông bà ở trên TV hoài, nghe ở trên TV hoài, nghe họ nói đủ thứ kế hoạch, đủ thứ đạo đức mà cuối cùng thì là dẫn nhau ra toà hàng dây – nào là ăn cắp, hối lộ hàng tỷ tỷ – gái trai lung tung, em chẳng biết qua TV thì ông nào tốt, bà nào xấu, thôi thì chú CAKV sáng suốt, là tai là mắt của đảng, chỉ cho em.

Chú CAKV nghe khen cười tít mắt:

– Ừ. Phiếu bầu có ghi tên 7 người phải không? Cứ gạch người cuối là xong, còn nếu không, cứ bỏ hết vào thùng phiếu, chẳng sợ phiếu trắng bất hợp lệ đâu. Tổ kiểm phiếu người ta sửa lại cho hết đấy. Hay thôi, tiện nhất là đưa hết phiếu cho bà tổ phó an ninh, lát nữa bả đến nhắc đi bầu, nhờ bả bỏ thùng phiếu cho. Cả tổ họ làm vậy đó. Năm nào chả vậy. Cứ thế là tổ đạt trăm phần trăm đi bầu đấy.

Hừ hừ trong miệng mấy tiếng rồi quay đi, chú khu vực lẩm bẩm, mắng chú Ba:

– Mới có mấy năm không bầu mà đã quên cả luật với chả lệ.


 

Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, một cuộc đời rất đẹp

 NHỮNG BÀI POST HAYKim  Phan

 Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, một cuộc đời rất đẹp

Ngô Viết Thụ sinh ngày 17 tháng 9 năm 1926 tại làng Lang Xá, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy (Thừa Thiên – Huế), lập gia đình với cô Võ Thị Cơ, một thiếu nữ ở Đà Lạt, vào năm 1948, khi theo học Trường Cao đẳng Kiến trúc tại Đà Lạt.

Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, con trai kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, kể: “Hơn 50 năm trước, có một tân sinh viên nghèo đi từ Huế vào Đà Lạt. Anh học trò nghèo tay trắng, xách vali vào Đà Lạt để theo học tại Trường Cao đẳng Kiến trúc. Người đầu tiên anh gặp là một nữ sinh trung học đệ nhị cấp: “Cô ơi, cho tui hỏi đường tới nhà trọ này”. Nghe chỉ đường xong, anh còn hỏi thêm một câu: “Gạo một ký bao nhiêu?”, cô gái giơ hai ngón tay: “Hai đồng”.

Sau đó, vì học giỏi, anh được giới thiệu dạy kèm cho con gái ông bà ở trung tâm thành phố. Cậu sinh viên trở thành gia sư cho cô gái và các em của cô, rồi trở nên thân thiết với gia đình. Nhiều năm sau, họ thành vợ chồng.

Đó là câu chuyện của cha mẹ tôi. Mỗi khi giận nhau, hai ông bà giao hẹn giơ hai ngón tay lên để làm hòa, không giận nữa. Hình ảnh mà tôi nhớ nhất là những đêm cha mẹ hàn huyên với nhau đến 2, 3 giờ sáng. Có lẽ tình yêu này quá lớn, nên sau khi mẹ mất, cha tôi bị sốc lớn và ở vậy cho đến khi qua đời.

Cha tôi, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, sau này có lần nói: ông ráng học thật giỏi để xứng đáng với tình cảm của mẹ tôi. Sau khi du học Pháp về, một trong những nơi đầu tiên ông quay lại để giúp xây dựng chính là Đà Lạt…” (Bê tông hóa Đà Lạt, báo Người Đô Thị 18.4.2019)

Năm 1950, Trường Cao đẳng Kiến trúc Đà Lạt được chuyển về Sài gòn. Các sinh viên có thể chọn chuyển về Sài gòn hoặc sang Pháp học tiếp. Nhận thấy ông Ngô Viết Thụ rất có tài, gia đình vợ ông quyết định giúp ông sang Pháp du học. Nhưng sợ ông mang mặc cảm phận nghèo phải nương tựa nhờ vả gia đình vợ nên vợ ông quyết định nghỉ học, giúp cha mẹ buôn bán để ông yên tâm chỉ chịu ơn vợ mà thôi.

Từ năm 1950 đến năm 1955, ông là sinh viên ngành kiến trúc tại Trường Mỹ thuật Quốc gia (École des Beaux-Arts) ở Paris. Năm 1955, ông nhận Giải thưởng lớn Roma (Grand Prix de Rome), giải thưởng về kiến trúc dành cho kiến trúc sư tại Pháp, thường được gọi là giải Khôi nguyên La Mã. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1958, ông lưu trú tại Biệt thự Medicis (Villa Medicis) của Viện Hàn lâm Pháp tại Roma (Ý) để nghiên cứu về quy hoạch và kiến trúc. Năm 1962, ông là kiến trúc sư châu Á đầu tiên trở thành Honorary Fellow (viện sĩ danh dự) của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (American Institute of Architects).

Sau khi ông đoạt giải Khôi nguyên La Mã và kết thúc thời gian sống và làm việc ở Biệt thự Medicis tại Rome, rất nhiều văn phòng kiến trúc sư danh tiếng ở Pháp, Ý và một số nước khác đã đánh tiếng mời ông về làm việc với mức lương hậu hĩnh. Tương lai rộng mở, ông có thể cùng vợ con định cư tại châu Âu, nhưng lúc đó, Tổng thống Ngô Đình Diệm cử GS Bửu Hội sang Pháp mời ông về nước làm việc. Trước khi sang Pháp, GS Bửu Hội đến thăm cha ông là cụ Ngô Viết Quang và mang giúp quà của cụ gửi cho ông là 3 trái xoài cùng một bài thơ mang tên “Cá gáy hóa long”, đại ý chúc mừng ông công thành danh toại, nhưng khuyên ông không nên quên nguồn cội và nên trở về giúp đất nước. Sau khi đọc xong thư nhà, ông quyết định thu xếp cùng gia đình trở về Việt Nam.

Chỉ trong vài năm, ông thiết kế nhiều dự án quan trọng của quốc gia và vào năm 1960, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã mời ông nhận chức Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Đây là một chức vụ có quyền uy, không chỉ điều hành việc xây dựng đất nước mà còn nắm cả Công ty xổ số kiến thiết vốn là con gà đẻ trứng vàng lúc bấy giờ. Ông băn khoăn, hỏi ý kiến vợ, bà khuyên ông không nên nhận vì bản thân ông vốn là một người nghệ sĩ sáng tạo chứ không phải một chính khách. Ra nhận chức vụ lớn, trách nhiệm cao, phải học hỏi cung cách làm chính trị sẽ ảnh hưởng nhiều đến nghề nghiệp theo thời cuộc có thể lên, cũng có thể xuống, sẽ có va chạm, xung đột quyền lực với người khác ở chốn quan trường…

Thấy vợ nói cũng hợp với ý mình nên ông đã từ chối, chỉ nhận làm cố vấn và giữ chức trưởng Văn phòng Tư vấn Kiến trúc và Chỉnh trang lãnh thổ. Từ đó, Việt Nam Cộng hòa không còn Bộ Xây dựng nữa, việc quy hoạch toàn miền Nam Việt Nam cho đến năm 1975 chủ yếu do 2 văn phòng thực hiện là Văn Nghên cứu chiến lược của Ngô Viết Thụ và Tổng nha Kiến thiết.

Ông đã thiết kế nhiều công trình như Dinh Độc Lập (1961-1966), Viện Đại học Huế (1961-1963), Viện Nguyên tử Đà Lạt (1962-1965), Trường Đại học Y khoa Sài gòn, thiết kế cầu thang nối liền Khu chợ Hòa Bình với Chợ Mới Đà Lạt, Khu công nghiệp An Hòa Nông Sơn, Nhà máy dệt Phong Phú, Khách sạn Hương Giang 1 tại Huế (1962), Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam (1963), Thương xá Tam Đa (Crystal Palace), Trường Đại học Nông nghiệp Thủ Đức (1975)…

Sau năm 1975, ông ở lại Việt Nam, thiết kế Ty Thủy lợi Đắc Lắc (1976), Bệnh viện Sông Bé (1985), Khách sạn Century ở Huế (1990), phác thảo Thiền viện Trúc Lâm ở Đà Lạt (sau này do một nhóm kiến trúc sư Lâm Đồng tiếp tục thực hiện, triển khai chi tiết và thi công).

Bà Võ Thị Cơ, vợ ông, từ trần năm 1977, 1 năm sau khi ông đi học tập cải tạo về. Ông từ trần ở tuổi 72 vào ngày 3 tháng 9 năm 2000 tại TP.HCM do tai biến mạch máu não.

Ảnh: Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, với vợ, với Tổng thống Ngô Đình Diệm và với con trai, kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn


 

Ông gốc Việt bị tố giết con gái 11 tuổi của vợ trong lúc cô bé bảo vệ mẹ

Ba’o Nguoi-Viet

March 6, 2026

GARDEN GROVE, California (NV) – Ông Trần Thiện Tánh, 81 tuổi, vừa bị truy tố giết con gái riêng của vợ trong vụ án xảy ra hồi năm 2018 ở Garden Grove, tại phiên tòa ở Orange County hôm Thứ Năm, 5 Tháng Ba, theo nhật báo The Orange County Register.

“Cha tôi tìm cách giết tôi,” cô bé Dương Nguyễn Yến Anh, 11 tuổi, nói với cảnh sát và nhân viên cấp cứu sau khi bị ông Tánh đâm nhiều nhát trong lúc tìm cách bảo vệ người mẹ, một công tố viên nói với bồi thẩm đoàn hôm Thứ Năm, ngày đầu của phiên xử.

Ông Trần Thiện Tánh, người bị tố cáo đâm chết con riêng của vợ. (Hình: Sở Cảnh Sát Garden Grove)

Sự việc xảy ra tại căn nhà của gia đình trong dãy số nhà 8900 đường Blossom, Garden Grove.

Khi tới nơi, cảnh sát thấy người mẹ, bà San Nguyễn, quần áo đầy máu chạy ra khỏi nhà la lớn cầu cứu làm hàng xóm trong một khu vực yên tĩnh chú ý.

Cảnh sát kịp mang bé Yến Anh – cùng hai em trai 3 tuổi và 6 tuổi ra khỏi nhà – trong lúc ông Tánh vẫn còn bên trong.

“Cha tôi tìm cách giết tôi” là lời nói cuối cùng của cô bé Yến Anh trong lúc cô nằm trên bãi cỏ được nhân viên cấp cứu chăm sóc.

Trên người cô bé lúc đó là một vết dao đâm sâu 3.5 inch vào bên trái bụng, các công tố viên cho biết.

“Rõ ràng là cô bé hy sinh mạng sống để cứu mẹ,” công tố viên Devin Campbell nói trong tuyên bố mở đầu phiên tòa. “Cô bé chết bởi vì cố gắng và đã cứu sống người mẹ.”

Sau khi gây án, ông Tánh không chịu ra khỏi nhà và tìm cách tự tử, nhưng bị cảnh sát ngăn chặn, các công tố viên nói.

Ông Eugene Sun, luật sư công bào chữa cho ông Tánh nói với bồi thẩm đoàn rằng bằng chứng sẽ cho họ thấy một kết luận khác hơn là của các công tố viên. Tuy nhiên, ông Sun không mô tả “kết luận khác” là gì.

Ông Tánh gặp bà San ở Việt Nam, luật sư của ông nói với các bồi thẩm viên. Mặc dù khác nhau 40 tuổi, họ vẫn hẹn hò và cưới nhau năm 2016. Sau đó, ông Tánh mang vợ và ba người con riêng của vợ sang Mỹ.

Ông Tánh sống bằng tiền hưu và ở nhà trông ba đứa bé, Luật Sư Eugene Sun kể, trong lúc vợ đi làm kiếm thêm tiền.

Công tố viên Campbell nói với bồi thẩm đoàn rằng ông Tánh bắt đầu tình nghi người vợ trẻ ngoại tình, sau khi thấy tin nhắn trên điện thoại của bà San có những lời lẽ có vẻ “tán tỉnh” hoặc “lãng mạn” với một người đàn ông khác.

Cơn giận của ông Tánh bắt đầu “sôi lên theo thời gian,” ông Campbell nói thêm.

Buổi tối trước khi xảy ra án mạng, bà San nói với ông Tánh là trong khi không muốn ly dị ông, bà đang tìm một chỗ khác để sống với ba đứa con.

Sáng hôm sau, khi bà San chuẩn bị đi làm, ông Tánh dùng súng hơi bắn vào tay bà, đẩy bà vào tủ quần áo, và dùng dao đâm bà liên tục, ông Campbell nói.

Nghe tiếng la của mẹ, cô bé Yến Anh chạy vào phòng, công tố viên Campbell nói thêm. Ông Tánh đóng cửa phòng lại, không cho cô bé vào, theo công tố viên kể.

Ông Campbell nói rằng ông Tánh sau đó túm cô bé, quăng xuống đất, đứng dạng hai chân hai bên người cô bé để khống chế, và tiếp tục đâm mẹ cô bé.

Sau đó, người mẹ thoát khỏi tủ quần áo và chạy ra khỏi nhà, ông Campbell nói. Hai đứa con nhỏ không bị thương tích gì.

Ông Campbell kể rằng, khi cảnh sát tới, ông Tánh dùng dao cắt cổ tay, cắt cổ, và tự đâm vào bụng, nhưng các vết thương không sâu.

Tại phiên tòa, ông Tánh được nghe tất cả câu chuyện qua một một thông dịch viên tiếng Việt, và có vẻ xúc động khi công tố viên đọc xong những lời tố cáo, làm cho Chánh Án Lewis Clapp phải tạm ngưng phiên tòa trước khi qua phần lấy lời khai. (Đ.D.)


 

Việt Nam bị liệt vào ’10 điểm đến có nạn lừa đảo taxi nhiều nhất’

Ba’o Nguoi-Viet

February 23, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Du khách bất bình tố bị tài xế taxi ở nhiều tỉnh thành Việt Nam “chặt chém,” khiến công ty Bảo Hiểm Du Lịch AllClear xếp Việt Nam vào nhóm “10 điểm đến có dịch vụ taxi gây bất bình nhất” cho du khách ngoại quốc.

AllClear là một trong những công ty bảo hiểm du lịch ở Anh, thường xuyên thực hiện các nghiên cứu dựa trên dữ liệu lớn để cung cấp các cảnh báo rủi ro thực tế cho cộng đồng du lịch toàn cầu.

Chiếc taxi ở Hà Nội bị tố “chặt chém” hai du khách người Pháp. (Hình: Tuổi Trẻ)

Báo VNExpress hôm 23 Tháng Hai dẫn tin từ SEA Infographics, trang thông tin Đông Nam Á, đăng tải bảng xếp hạng các quốc gia có nạn lừa đảo taxi nhiều nhất thế giới.

Theo đó, dựa trên phân tích hơn 450 bài đăng và 30,000 bình luận trên mạng xã hội Reddit về các quốc gia thu hút nhiều lời phàn nàn nhất về dịch vụ taxi, công ty Bảo Hiểm Du Lịch AllClear xếp hạng hai quốc gia thuộc Đông Nam Á gồm Thái Lan đứng thứ ba và Việt Nam xếp thứ tư trong “10 điểm đến có dịch vụ taxi gây bất bình nhất.”

Tại Việt Nam, các vụ tài xế taxi “chặt chém” khách du lịch vẫn thường xảy ra ở những thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn.

Điển hình như hồi Tháng Bảy, 2025, nhóm khách Philippines đã bị “chặt chém” hơn 1.4 triệu đồng ($53.6)  cho quãng đường khoảng 1 km tại phố cổ Hà Nội.

Đầu năm 2026, hai du khách Pháp cũng tố bị taxi chặt chém 900,000 đồng ($34.4) cho quãng đường từ phi trường Nội Bài về trung tâm thành phố Hà Nội – cao gấp ba lần bình thường.

Ngoài ra, còn có nhiều trường hợp du khách ngoại quốc bị taxi ở Việt Nam “chặt chém” nhưng không trình báo tới cơ quan hữu trách vì tốn thời gian hoặc “thủ tục phức tạp.”

Nghiên cứu cũng chỉ ra một điểm chung là gần 33% số vụ lừa đảo diễn ra tại khu vực phi trường. Đây là nơi du khách dễ mất cảnh giác nhất do vừa trải qua chuyến bay dài và chưa quen thuộc với hệ thống giao thông nước sở tại.

Tại các phi trường Việt Nam, tình trạng taxi “dù” hoạt động trái phép vẫn là mối nguy lớn. Những người này thường tiếp cận khách tại sảnh đến và mời chào bỏ qua hàng dài chờ đợi.

Hình thức lừa đảo phổ biến nhất được ghi nhận là tài xế cố tình không bật đồng hồ tính giá cước.

Tại các khu vực đông khách du lịch hoặc vào tối muộn, tài xế thường báo giá cố định cao gấp nhiều lần thực tế.

Bài đăng của nữ hướng dẫn viên du lịch trên mạng xã hội tố việc nhóm khách Philippines bị taxi ở khu vực hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, “chặt chém.” (Hình: Tuổi Trẻ)

Một chiêu lừa khác thường xuyên được nhắc đến là việc tài xế taxi nhanh chóng lấy hành lý của khách bỏ vào cốp xe. Hành động này nhằm gây áp lực, buộc du khách phải đồng ý với mức giá cao trong tình huống vội vã.

Tình trạng tài xế báo hỏng máy quẹt thẻ cũng rất phổ biến. Mục đích của việc này là ép khách trả tiền mặt để dễ dàng thu thêm phụ phí hoặc lấy lý do không có tiền lẻ để không trả lại tiền thừa.

Nhiều du khách cũng phản ảnh tình trạng tài xế taxi cố tình chạy lòng vòng, tránh các tuyến đường ngắn hoặc giả vờ đi nhầm đường để tăng số cây số trên đồng hồ tính tiền.

Bà Letitia Smith, đại diện AllClear, nhận định lừa đảo taxi có thể xảy ra “bất cứ đâu và bất cứ lúc nào,” đặc biệt khi du khách lộ rõ vẻ ngoài không am hiểu giá cả địa phương. (Tr.N) [kn]


 

Các chứng cứ cho thấy Hồ Duy Hải không phải thủ phạm

Nguyễn Xuân Diện 

KIẾN NGHỊ GỬI CHÁNH ÁN TAND TỐI CAO

Văn bản gửi Ông Nguyễn Văn Quảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Kiến nghị xem xét lại Quyết định Giám đốc thẩm đối với vụ án Hồ Duy Hải

Tóm lược nội dung:

Các chứng cứ cho thấy Hồ Duy Hải không phải thủ phạm

(1) Bản kết luận giám định dấu vân tay của Hải không trùng khớp với dấu vân tay của nghi phạm thu được ở hiện trường. Đây là chứng cứ khoa học khách quan, chỉ nguyên chứng cứ này là đủ để khẳng định Hải không phải hung thủ. Đây là giá trị khoa học của chứng cứ đường vân mà ngành điều tra hình sự trên thế giới đều áp dụng. Ở Việt Nam lâu nay cũng thế. Ngay trong vụ án cũng có 144 người tình nghi khi được so sánh dấu vân tay không trùng khớp thì đã được loại bỏ ra khỏi vòng điều tra.

(2): Bản khai đầu tiên của Hồ Duy Hải không nhận tội. Đây là tài liệu mà quá trình xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trước đó không biết tới do bị bỏ ra ngoài hồ sơ vụ án. Chỉ đến khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị mới cho biết là bản khai đầu tiên ngày 20/3/2008 Hải không nhận mình là thủ phạm và trình bày diễn biến việc làm tối hôm đó. Chứng cứ này phù hợp và củng cố cho bằng chứng (1).

(3) Lời khai của các nhân chứng Hồ Văn Bình và Đinh Vũ Thường

Đây là những người lần lượt đến Bưu điện cầu Voi tối hôm 13/8/2008 đã nhìn thấy một thanh niên ngồi nói chuyện với hai cô gái trong bưu điện, theo lời khai của anh Hồ Văn Bình thì lúc ấy là đã hơn 19 giờ, còn thời điểm anh Đinh Vũ Thường nhìn thấy thì dữ liệu cuộc gọi tại bưu điện là 19 giờ 39 phút 22 giây.

Cũng theo kết quả xác minh điều tra của cơ quan điều tra thì tối hôm đó: Khoảng 19 Hải đi đến tiệm cầm đồ để cầm chiếc điện thoại để trả tiền thua độ bóng đá. Cơ quan điều tra xác định trong lúc làm thủ tục cầm cố chiếc điện thoại Hải đã nhận cuộc gọi của Võ Lộc Đang, dữ liệu cuộc gọi còn lưu lại trên hệ thống thông tin mạng điện thoại cho thấy đó là lúc 19 giờ 13 phút 39 giây. Sau khi hoàn tất cầm cố điện thoại Hải đi gặp Võ Lộc Đang.

Khớp nối các thông tin với nhau thì thấy rằng: Lúc hơn 19 giờ anh Hồ Văn Bình để xe ở Bưu điện có nhìn thấy một thanh niên ngồi trên ghế salon nói chuyện với chị Hồng, đó không phải là Hồ Duy Hải, vì cũng khoảng hơn 19 giờ Hồ Duy Hải đang ở tiệm cầm đồ.

Với diễn biến và các mốc thời gian như vậy áp dụng theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì lời khai của nhân chứng Hồ Văn Bình và Đinh Vũ Thường phù hợp củng cố cho các bằng chứng (1), (2) cho thấy Hồ Duy Hải không phải là thủ phạm.

Trong vụ án không có lời khai nhân chứng hoặc chứng cứ vật chất nào cho thấy Hồ Duy Hải là thủ phạm. Căn cứ kết tội chỉ dựa vào các biên bản ghi chép lời khai nhận tội được cho là có nội dung khai báo khớp với hiện trường mà nếu không phải là thủ phạm thì không thể nào biết được.

Căn cứ kết tội như thế không lý giải được sự tồn tại của các bằng chứng (1), (2), (3). Ngoài ra, vụ án có rất nhiều đồ vật chứa dấu vết tội phạm như thớt gỗ, ghế gấp, dao inox, bát đũa ăn trên bếp, cốc nước trên bàn khách, mẫu máu được thu giữ, nhưng cơ quan điều tra không đưa ra được vật chứng nào cho thấy Hải là thủ phạm. Những đồ vật như vòng vàng, nhẫn vàng của nạn nhân, sim card của bưu điện, chiếc máy điện thoại di động của Bưu điện được hai nhân viên sử dụng, được cho là bị người phạm tội lấy đi, đều không thu giữ lại được.

Chỉ dựa vào lời khai nhận tội của Hải, dù được cho là có tới 25 biên bản lời khai nhận tội, song về bản chất cũng chỉ là một bằng chứng lời khai. Việc kết luận Hồ Duy Hải là thủ phạm đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng về việc sử dụng bằng chứng lời khai theo Điều 98 Bộ luật tố tụng hình sự “Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.”

Trong vụ án chỉ có một chứng cứ kết tội là lời khai, trong khi có các chứng cứ (1), (2), (3) cho thấy Hồ Duy Hải không phải thủ phạm. Khi đối chiếu so sánh định lượng giữa các chứng cứ như vậy đúng ra cần phải xác định không đủ căn cứ để kết tội Hồ Duy Hải. Việc kết luận Hồ Duy Hải là thủ phạm theo đó vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật về nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự.

Theo quy định tại Điều 404 thì khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mở phiên họp để xem xét lại quyết định.

Luật sư Ngô Ngọc Trai


 

Nguyễn Thị Kim Tiến được tại ngoại sau khi nộp ‘khắc phục’ nửa triệu đô la

Ba’o Nguoi-Viet

March 1, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Bà Nguyễn Thị Kim Tiến, cựu bộ trưởng Y Tế Việt Nam, đã được cho tại ngoại hậu tra sau khi nộp tiền “khắc phục hậu quả” 14.5 tỷ đồng ($556,728) dù bà ta chỉ bị cáo buộc nhận hối lộ 7 tỷ đồng ($268,765).

Báo Dân Việt hôm 28 Tháng Hai tiết lộ tin này khi cho biết bà Kim Tiến được “bảo lĩnh.”

Bà Nguyễn Thị Kim Tiến khi còn tại vị ghế bộ trưởng Y Tế Việt Nam trong các năm 2011-2019. (Hình: Dân Việt)

Bản tin viện dẫn Điều 121 của Bộ Luật Hình Sự CSVN: “Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, cơ quan điều tra, Viện Kiểm Sát, tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.”

Báo này viết thêm rằng không rõ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào “bảo lĩnh” cho bà Kim Tiến.

Trên lý thuyết, biện pháp “bảo lĩnh” chỉ dành cho các bị can “bị cáo buộc tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng.”

Trong khi đó, bà Kim Tiến bị truy tố với cáo buộc “gây thất thoát 803 tỷ đồng ($30.8 triệu)” trong dự án xây dựng cơ sở hai của bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Việt Đức bên ngoài Hà Nội.

Trước khi vụ truy tố bị can Kim Tiến được công bố, hồi năm ngoái, bà ta bị đảng kỷ luật với cáo buộc “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,” “vi phạm trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” và “khiến dư luận bất bình, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị.”

Trên trang cá nhân có 69,000 lượt “follower,” bà Kim Tiến ngừng cập nhật sau khi đăng tấm hình chụp cùng bà Đào Hồng Lan, đương chức bộ trưởng Y Tế, hồi đầu Tháng Ba năm ngoái.

Bà Nguyễn Thị Kim Tiến tại một phiên họp ở Quốc Hội Việt Nam. (Hình: Chính Phủ)

Bà Tiến đăng tấm hình cùng dòng triết lý: “…Trên thế gian này, thử thách, khó khăn là điều tất yếu của cuộc sống. Chúng ta không thể trốn tránh, không thể bám chấp để đau khổ và oán trách mà phải đương đầu, vượt qua để sống tốt hơn, thương yêu và chia sẻ hơn với chúng sinh trong cùng một vũ trụ bao la này. Đó là triết lý của đạo Phật và của các tôn giáo khác- sống với hiện tại, trân quý và trọn vẹn với từng khoảnh khắc của cuộc sống, trong chánh niệm.”

Tên tuổi bà Nguyễn Thị Kim Tiến gắn liền với các vụ bê bối như vaccine giả, thuốc giả chữa ung thư liên quan công ty VN Pharma…

Bà ta được biết đến là cháu ngoại của ông Hà Huy Tập, cố tổng bí thư đảng CSVN. Vì là “con ông cháu cha,” bà Kim Tiến được ưu ái ngồi ghế bộ trưởng Y Tế hai nhiệm kỳ, dù dính nhiều vụ bê bối và bị công luận kêu gọi từ chức nhiều lần. (N.H.K) [kn]


 

SIÊU DỰ ÁN VÀ QUY TRÌNH “CHƯA BỊ LỘ”: KHI QUỐC GIA LÀ CÁI MỎ VÀ NHÂN DÂN LÀ CON NỢ

Nhật Ký Yêu Nước added a photo to the album: Tham Nhũng tại VN

SIÊU DỰ ÁN VÀ QUY TRÌNH “CHƯA BỊ LỘ”: KHI QUỐC GIA LÀ CÁI MỎ VÀ NHÂN DÂN LÀ CON NỢ

Vụ án bắt giam hàng loạt cán bộ huyện Long Thành và thu giữ hơn 10.000 hồ sơ đền bù khống không phải là một “tai nạn” quản lý hay sự tha hóa của vài cá nhân đơn lẻ. Nó giống như việc bạn lật một tảng đá lên và thấy cả một hệ sinh thái bòn rút đang hoạt động nhịp nhàng. Trong một thể chế độc tài toàn trị, các siêu dự án thường mang hai lớp ý nghĩa: Trên tivi, đó là biểu tượng của sự “cất cánh” quốc gia; nhưng trong bóng tối, đó là chiếc bánh vẽ khổng lồ để chia chác ngân sách.

Dưới đây là những góc nhìn trần trụi về nghệ thuật làm giàu từ mồ hôi nước mắt của nhân dân:

Triết lý nhân sự: Cán bộ “trong sạch” là người… chưa bị lộ

Có một câu đùa cay đắng nhưng phản ánh đúng thực tại nền chính trị hiện nay: “Người cộng sản trong sạch là người chưa đến lượt bị gọi tên.” Hãy nhìn lên thượng tầng kiến trúc. Không cần nói đâu xa, những nhân vật từng giữ những vị trí quyền lực tuyệt đối, từng đứng trên bục cao rao giảng về đạo đức cách mạng, về “chống tham nhũng không có vùng cấm” như ông Nguyễn Xuân Phúc, Võ Văn Thưởng, hay Vương Đình Huệ… cuối cùng đều phải lần lượt rời ghế vì những “vi phạm, khuyết điểm” liên quan đến sự lũng đoạn của các tập đoàn sân sau (Việt Á, Phúc Sơn, Thuận An…).

Nếu những người ở đỉnh cao nhất của kim tự tháp quyền lực – những người được phễu lọc của Đảng lựa chọn kỹ càng nhất – còn gục ngã trước những khối tiền khổng lồ, thì làm sao có thể trông mong sự “trong sạch” từ những viên chức cấp xã, cấp huyện đang trực tiếp cầm cân nảy mực 16 tỷ đô la tại Long Thành? Khi quyền lực không bị giám sát bởi báo chí độc lập và các đảng phái đối lập, lòng tham của con người tự khắc sẽ biến mọi kẽ hở luật pháp thành mỏ vàng.

Kịch bản bòn rút qua vỏ bọc “Siêu dự án”

Sân bay Long Thành là một ví dụ kinh điển của việc mượn danh “chủ trương lớn” để thực hiện tư lợi nhỏ.

Nghệ thuật xào xáo hồ sơ: Việc chỉnh sửa thời gian, hô biến nguồn gốc đất trong hơn 10.000 bộ hồ sơ không thể do một cá nhân thực hiện. Nó đòi hỏi một quy trình khép kín từ ấp, xã lên đến huyện. Họ ăn chặn trên chính mảnh đất của những người nông dân bị mất sinh kế, dùng bút xóa và con dấu để biến tiền ngân sách thành tiền trong tài khoản gia đình.

Quyền lực tuyệt đối sinh ra tham nhũng tuyệt đối: Khi người dân phản đối quy trình đền bù bất công, họ dễ dàng bị quy kết là “cản trở sự phát triển” hoặc “chống đối chủ trương”. Cán bộ dùng chính tấm khiên quyền lực của nhà nước để bảo vệ cho hành vi ăn cướp của mình.

Nguyên lý kinh tế XHCN: Lãi chui vào túi tư, Lỗ chia đều cho toàn dân

Tại sao những cán bộ từ cấp thấp đến cấp cao lại dũng cảm nhắm mắt làm liều, ký duyệt những dự án ngàn tỷ không có hiệu quả, hoặc khai khống hàng vạn hồ sơ? Câu trả lời nằm ở nguyên lý phân bổ rủi ro quái đản nhất: Họ không bao giờ phải trả giá bằng tiền túi của mình.

Khi dự án đội vốn, chậm tiến độ hay bồi thường sai quy định, ai là người chịu thiệt? Ngân sách nhà nước.

Ngân sách nhà nước lấy từ đâu? Từ thuế thu nhập, thuế VAT, từ từng lít xăng, gói mì tôm mà hàng chục triệu người lao động đang oằn lưng gánh vác.

Đó là lý do các cán bộ cứ “tự nhiên mà lỗ”. Đầu tư thua lỗ, thất thoát ngàn tỷ thì cùng lắm là vài cá nhân “nhận hình thức kỷ luật”, đi tù vài năm, trong khi khối tài sản kếch xù đã kịp tẩu tán cho vợ con ở trời Tây. Còn cục nợ công khổng lồ kia sẽ được chia đều lên đầu 100 triệu người dân, biến những đứa trẻ chưa ra đời đã mang sẵn nợ trên vai.

Trò chơi bắt sâu trên một cái cây mục rễ

Việc bắt giam vài chủ tịch xã hay giám đốc quỹ đất huyện thực chất chỉ là hành động “cắt ngọn cỏ”. Chừng nào mảnh đất dung dưỡng cho cỏ dại – tức là một thể chế độc quyền, nơi thông tin bị bưng bít, người dân không có quyền giám sát trực tiếp, và báo chí chỉ là công cụ tuyên truyền – vẫn còn tồn tại, thì chừng đó cỏ dại sẽ lại mọc lên.

Người ta không thể giải quyết triệt để vấn đề tham nhũng bằng cách kêu gọi “đạo đức cách mạng” hay mong chờ sự tự giác trình báo. Một quốc gia chỉ có thể minh bạch khi có thể chế dân chủ thực sự, nơi người dân có quyền dùng lá phiếu phế truất những kẻ tham nhũng và hệ thống tư pháp hoàn toàn độc lập với quyền lực chính trị.