Đời Sống Người Tù Cải Tạo

Duc Thong DO

 “CÁC SĨ QUAN VNCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP CẢI TẠI CỦA CỘNG SẢN BẮC VIỆT” TÀI LIỆU CON CHÁU VÀ THÂN NHÂN CỦA CÁC GIA ĐÌNH VNCH NÊN ĐỌC ĐỂ HIỂU RÕ SỐ PHẬN CỦA CÁC THÂN NHÂN, NẠN NHÂN CỦA CHẾ ĐỘ CSVN..

***** 

Đời Sống Người Tù Cải Tạo

12 tháng 1 năm 2011

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

LTS. Chế độ tập trung cải tạo cho quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa được thi hành sau khi Cộng Sản miền Bắc thôn tính miền Nam. Bài này đúc kết lời kể của các cựu tù nhân chính trị; mục đích là để thế hệ mai sau, trong và ngoài nước, biết các khó khăn, đau khổ của cha chú họ, như một bài học đắt giá cho nhân loại, để tránh tái diễn chứ không phải để giữ mãi hận thù.

Trình Diện Để Đi Tù Đầy

Mấy tuần lễ sau khi miền Nam thất thủ thì chiến dịch rỉ tai về học tập cải tạo bắt đầu được tung ra. Nhưng mãi đến đầu tháng sáu 1975 Uỷ Ban Quân Quản Thành Phố mới ra lệnh cho các quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa phải trình diện để đi “Học Tập Cải Tạo”. Uỷ Ban ra thông cáo vào các ngày 10-6, 11-6 và 20-6-75 trên đài phát thanh và báo chí, chỉ định rõ địa điểm và ngày giờ trình diện.

Hạ sĩ và nhân viên chính quyền từ chủ sự trở xuống học tập ba ngày tại phường. Các cấp thấp hơn như binh sĩ, cán bộ phường khóm được khoan hồng miễn trình diện. Cả mấy trăm ngàn người nô nức đi trình diện học tập vì họ nghĩ rằng học tập cho xong để hy vọng sớm trở về làm ăn. Họ đi học từ sáu giờ sáng đến tối.

Ðối với các phó quận trưởng, trưởng ty, cấp úy, thì mỗi người phải mang theo giấy bút, quần áo, mùng mền vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong mười ngày kể từ ngày trình diện.

Với các cấp chỉ huy từ giám đốc trở lên, sĩ quan từ cấp tá, các dân biểu nghị sĩ, các lãnh tụ đảng phái thì thông cáo ra lệnh mang theo giấy bút, vật dụng cá nhân, số tiền là 13,000 đồng đủ cho việc ăn uống trong 30 ngày kể từ ngày học tập đầu tiên. Thông cáo nói rõ: “các học viên phải mang theo một tháng tiền ăn và những đồ đạc cần thiết. Nhà hàng Ðồng Khánh sẽ phụ trách việc ăn uống…”

Nhiều người vì sức khỏe yếu được miễn trình diện. Nhưng vì quá tin vào thông cáo của chính quyền, học tập có một tháng, nên họ vẫn tình nguyện xin đi để tỏ thiện chí cũng như làm cho xong để còn về được an ổn kiếm kế sinh nhai.

Có người được nhân viên tiếp nhận cho về vì không hội đủ tiêu chuẩn như thông cáo nhưng vẫn nằn nì giải thích chức vụ để xin đi cho chắc bụng. Chẳng hạn, có vị khai chức vụ quốc vụ khanh chính phủ. Cán bộ không biết đó là chức gì mà coi danh sách không thấy có nên đuổi về. Vị chính khách này phải cố gắng giải thích chức vụ của mình ngang hàng tổng trưởng. Họ cũng không biết tổng trưởng là gì, đến khi nói là bộ trưởng thì họ mới cho nhập trại. Ai cũng nghĩ là trước sau rồi cũng phải học tập nên xin đi cho nó xong. Thực ra, thông cáo rất mập mờ. Lúc đầu ghi danh đi học tập cải tạo phải chuẩn bị thực phẩm hoặc đóng tiền ăn cho một tháng. Rồi pháp lệnh nói cải tạo viên phải học tập ba năm rồi đổi ra vô hạn định một cách âm thầm.

Kỷ Nguyên Tù Ðầy Cải Tạo bắt đầu. Sau khi đã bước vào trại tù cải tạo thì ngày ra dường như vô tận vì một số thiệt mạng, hầu hết tiếp tục tù đầy cho tới mươi mười lăm năm sau.

Theo bản tường tình của Aurora Foundation năm 1983  do bà Ginetta Sagan và ông Stephen Denney thực hiện thì có hơn một triệu người đã đi cải tạo mà rất ít được về sau thời hạn mười ngày hay một tháng. Trên toàn quốc lúc bấy giờ có trên 150 trại cải tạo. Có khoảng 500,000 người được trả tự do trong vòng ba tháng; 200,000 ở trại từ hai đến bốn năm; 240,000 ít nhất năm năm; nhiều chục ngàn người trên mười năm.

Trong một trại cải tạo, học viên thắc mắc về thời gian cải tao như sau:

“Thưa cán bộ, theo như chính sách 12 điểm của chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam thì sau ba năm chúng tôi được trả tự do để đoàn tụ với gia đình; bây giờ đã quá 3 năm sao chúng tôi còn phải ở trong trại?”

Cán bộ trả lời:

– Các anh thông minh, các anh phải hiểu rằng Chính Phủ Cộng Hòa miền Nam (của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) đâu có phải là Chính Phủ Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa; vả lại chính phủ Cộng Hòa Miền Nam không còn tồn tại thì những gì chính phủ ấy quy định cũng không còn tồn tại.

– Hơn nữa, các anh thông minh nhưng chưa hiểu thế nào là 3 năm. Các anh hiểu cứ mỗi năm là 365 ngày như bọn tư sản thì hỏng bét, do đó các anh khiếu nại là phải rồi. Nếu các anh phân tích một cách sâu sát thì các anh sẽ thấy rằng có 3 năm định tính và 3 năm định lượng. Một anh có thể có 3 năm định lượng, nghĩ a là đã cải tạo đúng ba năm không thiếu ngày nào, nhưng lại không có đủ 3 năm định tính vì tính chất cải tạo quá tồi, cải tạo không tốt, do đó mà chưa được về sum họp với gia đình.”

(Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

* Các dữ kiện trong bài viết này là những lời kể lại của nhiều tù nhân cải tạo sống sót.

Tổ Chức Trại Cải Tạo

Trại được chia ra làm nhiều khu. Mỗi khu có nhiều đại đội trại viên. Dưới là nhóm gọi là “B”. Mỗi B có 30 trại viên do một cán bộ hạ sĩ quan phụ trách. Trại viên còn được gọi là phạm nhân hoặc cải tạo viên. Họ phải học làm lòng tài liệu “38 điều Nội Quy” và “Bốn tiêu chuẩn cải tạo”.

Bốn tiêu chuẩn cải tạo là:

1-Thành khẩn khai báo

2- Lao động tự giác

3-Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy và các pháp lệnh nhà nước

4- Giúp bạn cải tạo cùng tiến bộ

Một cựu tù nhân cho hay: nhiều người không nhớ các tiêu chuẩn này, nên đã dùng bốn thú vật tiêu biểu cho từng tiêu chuẩn: ngu như bò, có gì khai hết; lao động như trâu; bảo sao làm vậy như con cừu và sủa như chó để báo cáo các hành động của bạn tù.

Có người đã ví việc thực hiện các tiêu chuẩn này chẳng khác gì sự xét mình, ăn năn tội lỗi, xưng tội và dốc lòng không sai phạm của một tôn giáo. Nội quy có các điều khoản về nguyên tắc chung, kỷ luật học tập, kỷ luật về lao động, kỷ luật về nếp sống hàng ngày, kỷ luật về viết thư và gặp gia đình, tổ chức phạm nhân, và khen thưởng-kỷ luật.

Ðiều nào cũng bắt đầu bằng các chữ quyết liệt như “Phải chấp hành…” hay “Tuyệt đối tuân theo…”

Chẳng hạn điều Một ghi rõ:

“Phải triệt để tuân theo đường lối, chính sách giam giữ cải tạo của Ðảng, pháp luật của nhà nước…”

Ðiều 2: “Phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, phải ra sức học tập cải tạo tư tưởng, thành khẩn nói hết lỗi lầm của mình.”

Ðiều 8: “Phải trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Ðể rèn luyện ý thức lao động, lấy lao động để cải tạo tư tưởng…”

Ðiều 12: “Không được dùng tiếng ngoại ngữ và không được nói tiếng lóng”

Ðiều 18: “Thường xuyên cạo râu, không được để râu” .

Ðiều 20: “Tránh có thái độ ngang bướng, khúm núm, nịnh hót. Khi có việc cần gặp cán bộ phải đứng xa 5-7 mét ở tư thế nghiêm. Xin báo cáo với Giám thị, cán bộ”.

Trại có rất nhiều khẩu hiệu về học tập chính trị như:

“Chính sách khoan hồng của Ðảng trước sau như một.”

“Học tập cải tạo là con đường duy nhất để trở thành người công dân lương thiện.”

“Học tập nghiêm túc, đi sát đi sâu, đào sâu, suy nghĩ, thảo luận đúng ý…”

Khai Lý Lịch

Cải tạo viên nào cũng phải khai lý lịch. Ðây là một việc làm rất nhức đầu vì họ phải khai đi khai lại cả chục lần. Khai xong mang nộp, rồi bị cán bộ hạch hỏi đủ điều. Việc khai lý lịch thường là do đoàn công tác liên bộ Quốc Phòng và Công An phối hợp thực hiện. Mẫu khai có ba mục chính với nhiều tiểu mục và tiết mục. Rầm rộ phát động chiến dịch khai báo, cho ăn đồ tươi.

1-Lý lịch cuộc đời cá nhân: bản thân người khai, gia cảnh và lý lịch thân nhân, từ ông cố tổ bốn đời. Từng địa chỉ đã sống trong suốt đời. Một địa chỉ có thể là 1 tuần ở quốc nội hoặc bốn mươi tám giờ ở quốc ngoại.

Về lý lịch thân nhân, phải khai đầy đủ chi tiết về bản thân kèm thêm đánh giá từng người về quá trình chính trị, xã hội, giai cấp.

2-Quá trình hoạt động: Trong suốt đời, với 3 giai đoạn: từ 1945 trở về trước; từ 1945 đến 1954 và từ 1954 đến 1975. Phải khai cho đầy đủ các chi tiết về ngày tháng, sinh hoạt, chức vụ, ở đâu với ai, diễn tiến công việc, kết quả công việc, ảnh hưởng của công việc vào xã hội. Khai các cá nhân, đoàn thể chống cộng ở miền Nam: tên tuổi, tổ chức nào, hoạt động ở đâu, cách tổ chức chống cộng… Kê khai bạn bè thâm giao và bạn bè thường, rồi các sinh hoạt của họ ở đâu bây giờ. Kê khai mọi cấp chỉ huy, đồng sự với các chi tiết như của mình… Hiện giờ họ ở đâu, quan điểm chính trị của họ. Khai rõ về các vấn đề tổ chức, kỹ thuật chiến thuật của miền Nam.

3-Kê khai tài sản: Của nổi của chìm, trong nước, ngoài nước, mình đứng tên hay nhờ người đứng tên, vợ con đứng tên; hiện có, đã sang nhượng, cúng dâng cho các tổ chức. Tiền từ đâu có.

Phạm nhân được dành cho một tuần để khai; ban đêm cho phép đốt đèn cầy để khai. Khai xong ký cam đoan là đúng sự thực rồi nộp cho cán bộ. Phạm nhân phải thức thâu đêm để khai; nhiều khi đi cầu, đi ăn cũng tập trung suy nghĩ coi đã làm gì, ở đâu, ngày nào…

Sau khi nộp thì mấy ngày sau lại phải khai lại vì: thiếu thành khẩn, thiếu tự giác, không khai hết sự thật, ngoan cố, giấu diếm bao che các tổ chức chính trị và cá nhân phản động.

Rằng nhân dân đã biết rõ về mình rồi, đã có hết tất cả hồ sơ tại công tư sở, đừng hòng giấu diếm. Có phạm nhân còn bị gọi lên để hạch hỏi chi tiết, hù doạ là vợ khai khác mà mình khai khác hoặc để đối chiếu lời khai của thân nhân với lời mình khai. Rồi bản khai được cất đi và phạm nhân phải khai lại từ đầu…Việc khai báo kéo dài cả mấy tháng. Một chiến dịch cổ võ cho việc khai báo cuộc đời được diễn ra. Học viên còn được cho ăn uống linh đình và được miễn lao động trước ngày khai báo bắt đầu.

Cải tạo tư tưởng-Học tập chính trị

Mục đích của cải tạo là “để thay đổi con người từ chế độ lỗi thời vào kỷ nguyên mới của những công dân tốt, với các giáo điều tốt lành của chủ nghĩa Anh Hùng Cách Mạng”.

Theo các cựu tù nhân kể lại, bài học nhồi sọ nhắm vào việc:

“Ðả phá chủ nghĩa đế quốc Mỹ, kẻ thù của nhân dân Việt Nam và thế giới. Sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Mỹ; Ðế quốc Mỹ là con đỉa hai vòi: một vòi hút máu mủ nhân dân trong nước, còn vòi kia vươn sang các nước khác để hút máu mủ nhân dân các nước này bằng cách bán súng đạn, tạo ra các cuộc chiến tranh diệt chủng. Tội ác của ngụy quyền ngụy quân miền Nam, bán nước, tay sai. Chính sách khoan hồng của Ðảng, nghĩa vụ của người có tội, lao động là vinh quang. Những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam.”

Các buổi học tập chính trị gồm có:

  1. Nhận đề cương nội dung bài.
  2. Tìm hiểu nội dung.
  3. Nghe giáo viên giảng bài.
  4. Suy nghĩ về nội dung và lời giảng của giáo viên.
  5. Không bàn thảo với ai. Viết một bài nhận định để trình bày với tổ.
  6. Phát biểu trước tổ học tập.
  7. Hội thảo cấp B cao hơn với ba tổ.
  8. Hội thảo toàn trại.
  9. Rồi viết bài tổng kết học tập dài cả chục trang.
  10. Tổng kết và giải đáp thắc mắc.

Kỹ thuật nhồi sọ áp dụng nguyên tắc nước chảy đá mòn, nói nhiều nói mãi một đề tài, nhắc đi nhắc lại một luận điệu, biến con người thành cái máy… Sau cả nhiều tháng học tập chính trị, hầu hết đều bị chê là: “chưa được rèn luyện, cải thiện bằng các tư tưởng cao siêu của Chủ Nghĩa Xã Hội, vẫn còn ngoan cố, không chịu tiếp thu bài học, không chịu gột rửa toàn diện tư tưởng xấu của bản thân, nên cần được cải tạo bằng lao động”.

Lao động

Lao động là thước đo mức độ giác ngộ của tù nhân.

Cuốc đất: 150m2/ngày/người

Trồng mì: 5000m2 /ngày/4 người

Khai quang: 300m2/ngày/người

Lấy cây đường kính 30cm, dài 4 thước, hai người một cây, mang về trại cách xa 3 cây số; đường kính 10 phân, dài 4 thước hai người năm cây một ngày.

Tranh lợp nhà: 10 bó theo tiêu chuẩn của trại. (Theo Trại Tù Cải Tạo-Phạm Quang Giai).

Ăn uống

Sau đây là kinh nghiệm người cựu tù:

“Cộng Sản không cần đánh đập, không cần kết án, mà họ đã dùng cái máy chém vô hình và im lặng: ÐÓI. Họ lôi cái máy này đến mọi nơi, mọi chốn có tù nhân chính trị miền Nam để trả thù, trả hận mà vẫn không mang tiến là ác độc, là giết người.” (Phạm Quang Giai: Trại cải Tạo)

“Cái lon nhôm sữa bột guigoz, được gọi vắn tắt là cái Gô, là bạn đồng hành thân thiết của tù. Người tù nào cũng kè kè bên mình một cái vừa đựng nước uống ra bãi, vừa dùng để nấu canh tại bãi lao động. Những loại rau cỏ dại ăn được tìm thấy ngay tại hiện trường, lén nhổ bỏ vào Gô rồi nhờ nhà bếp nấu. Nấu chín xong để bụi cát lắng xuống phần dưới, ăn phần rau cũng đỡ cái bao tử rỗng một lúc. Hôm nào bắt được con cóc, con nhái thì “canh có người lái”, tù gọi là Protein; con gì cũng qui vào chất thịt, chất protein bổ dưỡng. Tù có câu: “con gì nhúc nhích là ăn được, rau gì không chết thì ăn”… (Nguyễn Chí Thiệp: Trại Tù Kiêm Giang)

“Tiêu chuẩn kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, mỗi ngày hai bữa hai chén nhỏ xíu. Ðến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm. Khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng để thân xác chịu đựng con người được sống, nhai thật kỹ để chất thải ra thật ít, 5,7 ngày mới đại tiện một lần, vì đại tiểu tiện đều vào cái thùng đại liên để ngay bên cạnh bục nằm, đến lúc đầy tràn trật tự mới đổ đi, nên suốt ngày đêm phải nằm bên cạnh cái của nợ khai thúi đó.”  (Nguyễn chí ThiệpTrại Tù Kiêm Giang)

Vệ Sinh Trại

Tù nhân kể lại là trại chật trội ngào ngạt hơi người, mùi hôi của mọi người, mọi bệnh riêng của mỗi người, cả tháng không tắm. Cả ngàn người có một giếng nước, kéo một lúc đã cạn nước. Ðể lâu không dùng nên chuột bọ chết thối đầy đáy giếng. Ăn uống vào là bị kiết lỵ. Ði cầu vào các dẫy hố đào trên mặt đất.

Bệnh Tật

“Mặt đứa nào đứa nấy trông như những quả dưa bở chín rục, chân tay bụ bẫm cứ như những cái xác chết trôi ba ngày, đang xếp hàng dài trước bếp xin chút nước vo gạo về uống với hy vọng mong manh tí chất cám có thể cứu nổi căn bệnh phù thũng trầm kha…” (Hà Thúc Sinh: Ðại Học Máu)

Kiểm tra tư trang

“Ông cán bộ tới chỗ tôi và bắt đầu lục soát.

– Cho tôi xem cuộn giấy. Giấy này là giấy gì đây?

– Thưa cán bộ đây là giấy vệ sinh.

– Giấy vệ sinh là giấy gì?

– Thưa cán bộ là giấy đi cầu.

Ông cầm cuộn giấy, xem rất kỹ, chê bai đủ điều rồi nói tiếp:

– Ðây chính là tài liệu mật mã bọn Mỹ ngụy để lại cho các anh xử dụng để quấy phá cách mạng, nhưng làm sao qua mắt cách mạng được. Tôi ra lệnh tịch thu toàn bộ những cuộn giấy này của anh và của các anh khác.” (Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

Thăm viếng và thư từ của gia đình

Theo điều 29, “hai tháng phạm nhân được gặp người nhà một lần. Phạm nhân có trách nhiệm hướng dẫn người nhà chuẩn bị giấy tờ cần thiết khi đến thăm mình.”

Ðiều 27: “Phạm nhân mỗi tháng được viết một lá thư cho gia đình; thư phải đưa lên cán bộ duyệt trước khi gửi; không được dùng tiếng ngoại quốc, tiếng lóng.”

Tết 1977 là lần đầu tiên phạm nhân được viết thư cho thân nhân ở trong Nam. Thư gửi qua Trung Ðoàn 52-A, Chí Hòa Sài Gòn. Họ không được phép tiết lộ nơi đang học tập. Quà do thân nhân gửi không được quá 5 kí. Trà, cà phê, rượu, muối bị cấm tuyệt. (Trần Vĩ)

Kết luận

Chế độ tù cải tạo dưới chế độ Cộng Sản vào những thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước  đã đưa đến sự tàn phá tâm thần và thể xác cho nhiều quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Ðây là một thảm họa mà đến nay thế giới loài người văn minh cũng như con cháu chúng ta vẫn chưa biết được tường tận.

Các vị cựu nhân cải tạo sống sót hình thức tù đầy này cũng nên ghi lại những bài học đắt giá, những hy sinh của chính mình, của các bạn tù đã nằm xuống. Và các bà vợ tù nhân cải tạo cũng có nhiều cay đắng cuộc đời. Một thân phải tần tảo chăm sóc bầy con giữa những kỳ thị của chế độ mới, rồi lại còn trèo đèo lặn suối đi thăm nuôi chồng  bị đầy ải nơi rừng thiêng nước độc. Ghi lại để các thế hệ con cháu, trong ngoài nước, hiểu nỗi lòng của mình. Cũng như để tránh tái diễn, nhất là đối với những người cùng chung dòng giống. Chứ không phải để nuôi mãi lòng thù hận nhau.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của BPSOS: http://www.machsongmedia.com.]

NGUỒN: Đời Sống Người Tù Cải Tạo – Mach Song Media – Nhà


 

Ý Kiến quanh vụ ÔNG NGUYỄN THÀNH NAM bị bắt theo Điều 117 Bộ luật Hình sự-Trương Nhân Tuấn

Trương Nhân Tuấn


Ngày 7/7/2026, báo chí Việt Nam đưa tin ông Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” bị bắt, bị khởi tố

Ông Nguyễn Thành Nam là ai? Là một trong những người sáng lập và là cựu Tổng Giám đốc FPT, Phó Chủ tịch HĐQT trường Đại học FPT, tham gia giảng dạy bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Khoa học và Giáo dục Khai phóng (VinUniversity). Theo báo chí, ông Nam đã bị Công an thành phố Hà Nội khởi tố về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự của nước này.

Nguyên do là từ cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng”. Ông Nguyễn Thành Nam đã viết về ông Hồ Chí Minh với cách nhìn và ngôn ngữ “đời thường, hiện đại, phù hợp với giới trẻ”, khác với cách nhìn và ngôn ngữ nghiêm túc, ca ngợi, tô hồng như từ trước đến nay. Khi cuốn sách vừa ra mắt trong tháng 4/2026, nhiều ý kiến đã khen ngợi, trong đó có ông Nguyễn Quang Thiều nhà văn, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhận định rằng tác phẩm giúp người đọc tiếp cận hình ảnh Hồ Chí Minh một cách gần gũi hơn. Nhưng sau đó thì cuốn sách bị những người có quan điểm bảo thủ chỉ trích, lên án rằng sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, xúc phạm, bôi nhọ hình ảnh “lãnh tụ” Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo ĐCSVN. Nhiều tờ báo đã rút lại những bài viết khen ngợi. Cuốn sách bị thu hồi, NXB Hội Nhà Văn–nơi xuất bản cuốn sách, bị phạt 100 triệu đồng, buộc tiêu hủy toàn bộ sách đã in, bị đình chỉ hoạt động 2 tháng, Và nay thì ông Nguyễn Thành Nam chính thức bị bắt, bị khởi tố.

Điều đáng nói là ông Nguyễn Thành Nam từ trước đến giờ hoàn toàn không phải là một người bất đồng chính kiến mà là một người sinh ra, lớn lên, thành đạt và có cuộc sống khá là viên mãn trong chế độ XHCNVN, thậm chí còn giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh như vừa nêu ở trên.

*****

Với tư cách một người Việt nam luôn trăn trở với tình hình đất nước, tôi cho rằng việc buộc hành vi biên soạn, tàng trữ và phát tán tác phẩm “Chuyện với Thanh –Lời kể mới về ánh sáng” của Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự vào tội danh “Chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là một sự áp đặt khiên cưỡng, chưa đánh giá đúng bản chất hành vi và sự xung đột sâu sắc với các cam kết quốc tế về Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) mà Nhà nước Việt Nam đang xây dựng.

Tôi trân trọng đề xuất bốn (04) luận cứ nhằm làm rõ tính khách quan, khoa học và tinh thần xây dựng của các bị cáo:

  1. Bản chất của tác phẩm Chuyện với Thanh là “nghiên cứu khoa học lịch sử đa chiều”, không phải “xuyên tạc, chống phá”.

Cáo trạng buộc tác phẩm có nội dung bôi nhọ đời tư Chủ tịch Hồ Chí Minh và hạ thấp lịch sử cách mạng. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học chính trị và sử học hiện đại, lịch sử không phải là một giáo điều bất biến, mà là một tiến trình liên tục được bổ sung bằng tư liệu và góc nhìn mới.

Về vấn đề đời tư lãnh tụ: Việc tiếp cận đời tư của các nhân vật lịch sử dưới góc nhìn nhân văn, đời thường – loại bỏ lớp sương mù huyền thoại (thánh hóa) của giai đoạn chiến tranh tuyên truyền – là xu thế tất yếu của thời đại hội nhập. Khái niệm cán bộ “agitprop” (xách động và tuyên truyền) hay việc sử dụng các bút danh như Trần Dân Tiên, T.Lan, CB… để tự thuật trong bối cảnh những năm 1940-1950 là những sự thật lịch sử đã được giải mật và thảo luận rộng rãi trên thế giới. Việc các bị cáo hệ thống hóa các dữ kiện này dưới hệ qui chiếu mới hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu học thuật, không chứa đựng động cơ bôi nhọ hay ác ý chính trị.

Về tính khách quan của lịch sử cách mạng: Tác phẩm chỉ ra những khoảng trống quyền lực (Power Vacuum) trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự thỏa hiệp chính trị tất yếu với Hoa quân Tưởng Giới Thạch để lập Chính phủ Liên hiệp năm 1946, hay vai trò quyết định của nguồn viện trợ quân sự từ Moscow và Bắc Kinh sau năm 1949. Đây là những sự thật địa chính trị phản ảnh tương quan lực lượng thời Chiến tranh Lạnh. Nếu không có đòn bẩy quân sự từ khối Cộng sản, một quốc gia chưa tự chế tạo được vũ khí như Việt Nam không thể giành chiến thắng trước các siêu cường cơ giới hóa. Khẳng định điều này là tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử, chứ không phải phủ nhận xương máu của cha ông.

  1. Tính chính danh của Đảng CSVN và Nhà nước hiện nay đến từ “hiệu năng đổi mới”, không phụ thuộc vào việc kể lể công lao quá khứ. Cơ quan công tố đang sử dụng “hệ qui chiếu thời cách mạng” để bảo vệ một tính chính thống lịch sử tuyệt đối. Lập luận này hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế phát triển của đất nước:

Tính chính danh tối cao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thế kỷ 21 không còn nằm ở vị thế “có công đánh Pháp đuổi Mỹ giành độc lập” của quá khứ năm 1945 hay 1975, mà đến từ chính sách Đổi mới (1986).

Bản chất của Đổi mới là việc Nhà nước dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, sửa chữa các sai lầm của giai đoạn trước, xây dựng lại nền kinh tế thị trường, thừa nhận quyền sở hữu tư nhân và mở cửa hội nhập, những điều mà cuộc cách mạng vô sản thời kỳ đầu từng tìm cách xóa bỏ.

Do đó, một tác phẩm đặt ra các câu hỏi phản biện về giai đoạn lịch sử cũ, mục tiêu hiển nhiên là thiết lập lại những thảo luận cay đắng của những lãnh đạo tiền bối trong lúc lúc họ băn khoăn đứng trước bản lề “đổi mới”: hội nhập để phát triển hay là cố thủ rồi sụp đổ. Sự thành công trong hội nhập đã giúp thể chế hiện nay đứng vững, bằng năng lực quản trị kinh tế và sự ổn định xã hội ở hiện tại, chớ không hề đến từ việc ca tụng những hình tượng vô tri trong lịch sử.

Việc kết tội các bị cáo bằng hệ tư tưởng cũ là sự thụt lùi so với chính tinh thần “đổi mới” của đất nước, đặc biệt, là một hành vi đi ngược lại tinh thần khai phóng để đưa “đất nước vươn mình” của ông Tô Lâm.

  1. Sự mâu thuẫn với Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) trong thời kỳ đất nước hội nhập vào dòng chảy quốc tế.

Việt Nam hiện nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện với hơn 190 quốc gia, là thành viên của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và các định chế luật pháp quốc tế. Điểm tựa chính thống pháp lý của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đến từ sự thừa nhận của luật pháp quốc tế toàn cầu.

Một trong những cột trụ của hội nhập quốc tế là Tinh thần Trọng luật (Rule of Law), đòi hỏi luật pháp phải rõ ràng, minh bạch và bảo vệ các quyền cơ bản của con người, bao gồm quyền tự do nghiên cứu và tự do ngôn luận.

Việc áp dụng Điều 117 BLHS với những khái niệm định tính mơ hồ như “tuyên truyền thông tin nhằm chống Nhà nước” để hình sự hóa một công trình nghiên cứu sử học sẽ gửi đi một thông điệp tiêu cực tới cộng đồng quốc tế. Nó tạo ra một nghịch lý: Việt Nam muốn hội nhập toàn cầu về kinh tế, chấp nhận luật chơi chung về vật chất, nhưng lại dùng luật thời chiến để “treo cổ” tư duy lý luận. Sự thiếu đồng bộ này làm tổn hại đến uy tín quốc gia và tính chính danh pháp lý quốc tế mà Nhà nước đã dày công xây dựng.

  1. Hoàn toàn không có “Hậu quả nguy hại cho xã hội”

Để cấu thành tội phạm theo tinh thần của luật pháp tiến bộ, hành vi phải gây ra nguy cơ hoặc hậu quả nhãn tiền, nguy hại cho xã hội.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự là những trí thức, nhà khoa học hoạt động thuần túy trên giảng đường, bằng các trang sách. Tác phẩm của họ chỉ được lưu hành trong phạm vi hẹp của giới nghiên cứu và những người quan tâm đến lịch sử.

Tác phẩm không hề kêu gọi bạo loạn, không kích động lật đổ chính quyền, không phá hoại an ninh, trật tự công cộng. Một cuốn sách dày tính học thuật không thể lật đổ một chế độ có hệ thống luật pháp và quân đội vững mạnh. Việc hình sự hóa một cuộc thảo luận học thuật bằng án tù là một biện pháp không tương xứng (disproportionate), vi phạm nguyên tắc nhân văn của pháp luật.

Kết luận:

Nếu chúng ta muốn có một xã hội “tự lực tự cường”, chúng ta cần những trí thức dám tư duy phản biện. Nếu chúng ta muốn có một nhà nước trọng luật thực sự để ngẩng cao đầu hội nhập với thế giới, chúng ta không thể sợ hãi trước những góc nhìn lịch sử khác biệt.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự không chống lại Nhà nước; họ chỉ đang thực hiện quyền và nghĩa vụ của một người trí thức: dùng hệ qui chiếu của thời đại mới để soi rọi lại quá khứ, giúp quốc gia hiểu rõ hơn về chính mình để bước tiếp.

Nhưng những luận cứ trên tôi hy vọng các cơ quan hành pháp và tư pháp Việt Nam sẽ áp dụng tinh thần thượng tôn pháp luật, đình chỉ vụ án, trả tự do cho Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các nhân sự liên quan, khép lại một vụ việc đáng tiếc để bảo vệ uy tín hội nhập của nước nhà.

Trương Nhân Tuấn


 

Gói Đường, Gói Muối, Gói Cả Một Đời Chờ Đợi

Liem Pham

 Có những người sau năm 1975 cũng mang án tù, nhưng không có tên trong bất cứ danh sách nào.

Đó là những người vợ. Ngày nhận được mảnh giấy báo chồng đang bị “học tập cải tạo” ngoài Bắc, chị ngồi rất lâu. Không phải vì không biết đọc. Mà vì không biết bắt đầu từ đâu.

Thăm nuôi.

Hai chữ nghe nhẹ như gió, nhưng để đi được một chuyến là cả một hành trình đầy nước mắt.

 Chị bán chiếc nhẫn cưới. Cầm cố chiếc xe đạp. Vay gạo hàng xóm. Gom từng đồng bạc lẻ. Mỗi đồng đều đổi bằng những ngày nhịn ăn của mẹ con ở nhà.

Rồi bắt đầu học:

Học cách gói đường vào túi ni lông nhỏ, buộc thật chặt để khỏi chảy khi gặp mưa.

Học cách chia muối thành từng gói bằng hai ngón tay, vì nghe biết trong trại, một nhúm muối cũng quý hơn vàng.

Học cách gói thuốc lào thật kín để khỏi mất mùi. Với người tù, vài hơi thuốc đôi khi là chút bình yên hiếm hoi sau một ngày lao động kiệt sức.

Học cách khâu tiền vào lai áo. Học cách giấu vài viên thuốc cảm trong ruột bánh. Học cách trả lời cán bộ sao cho vừa đủ, không thừa một câu, không thiếu một chữ.

Không ai dạy chị. Cuộc đời dạy.

 Những người đàn bà gặp nhau ở ga Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng… nhìn chiếc bao tải trên vai là biết cùng chung một số phận. Họ truyền cho nhau từng kinh nghiệm nhỏ:

“Đừng đựng nước mắm bằng chai thủy tinh.”

“Đừng để đường chung với cá khô.”

“Đến trại nhớ cúi đầu, đừng cãi.”

Toàn những bài học không có trong bất kỳ cuốn sách nào.

 Rồi chuyến tàu lắc lư nhiều ngày đêm. Toa tàu đông nghẹt. Mùi mồ hôi, mùi cá khô, mùi khoai luộc hòa với tiếng trẻ con khóc, tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray. Người đàn bà ôm chặt chiếc giỏ như ôm cả sinh mạng của chồng mình.

Bởi trong đó không chỉ có vài ký gạo, ít đường, ít muối. Mà còn có tình nghĩa vợ chồng.

Có niềm hy vọng.

Có lời nhắn của con: “Ba nhớ về.”

 Đến nơi, sau bao lần kiểm tra, cân đo, xét hỏi, nhiều món bị giữ lại. Có thứ bị tịch thu. Có thứ bị cắt xén. Chị chỉ biết im lặng.

 Rồi cũng đến lúc được gặp.

Chỉ vài chục phút.

Qua hàng rào.

Qua ánh mắt của cán bộ.

Qua khoảng cách tưởng gần mà xa như cả một đời người.

Chị cố cười.

Anh cũng cố cười.

Không ai dám khóc.

Bởi người ở lại sợ người đi thêm đau lòng. Người trong trại lại sợ vợ về sẽ khóc suốt dọc đường.

 Khi chuyến tàu quay về Nam, chiếc giỏ đã nhẹ hơn.

Nhưng trái tim người vợ lại nặng hơn.

Lại tiếp tục những tháng ngày dành dụm.

Lại vá áo thuê.

Lại bán từng lon gạo.

Lại gói đường.

Lại gói muối.

Lại gói thuốc lào.

Để chờ một chuyến thăm nuôi khác, không biết sẽ đến sau sáu tháng, một năm hay lâu hơn.

 Lịch sử thường nhắc đến những năm tháng tù cải tạo với những người đàn ông sau hàng rào kẽm gai. Nhưng lịch sử cũng nên dành một trang cho những người phụ nữ lặng lẽ đứng ngoài cánh cổng ấy.

Không được tuyên dương.

Nhưng bằng đôi vai gầy, họ đã gánh cả một gia đình, nuôi con khôn lớn và giữ cho người chồng trong trại còn niềm tin để sống.

Có lẽ, trong ký ức của nhiều cựu tù cải tạo, thứ ngọt nhất không phải là gói đường.

Mà là biết rằng, ở quê nhà, vẫn có một người vợ đang cặm cụi buộc từng nút ni lông, gói ghém cả tình yêu và hy vọng vào chuyến tàu ra Bắc.

Phạm Sơn Liêm


 

Con Đi Tù Cải Tạo, Cha Mẹ Già Vẫn Đợi

Liem Pham  

Có những người tù cải tạo còn có được vài dòng thư gửi về nhà sau nhiều tháng, nhiều năm.

Nhưng cũng có những người… biệt vô âm tín.

Không thư.

Không tin.

Không biết còn sống hay đã chết.

Ở quê nhà, người đau khổ nhất nhiều khi không phải là người vợ trẻ, mà là những cha mẹ đã bạc đầu.

Mỗi buổi sáng, ông cụ lại chống gậy ra đầu ngõ. Chẳng để làm gì. Chỉ nhìn con đường đất dẫn vào xóm. Mỗi tiếng xe đạp, mỗi bóng người mặc áo xanh, mỗi tiếng chó sủa đều khiến ông ngẩng đầu lên, rồi lại lặng lẽ cúi xuống.

Bà cụ thì vẫn giữ nguyên chiếc chén, đôi đũa của người con trai trên chạn bếp. Bà nói với con dâu:

“Biết đâu nó về bất ngờ… phải có cái để nó ăn.”

Năm này qua năm khác.

Mái tóc của cha trắng thêm.

Đôi mắt của mẹ mờ đi.

Mùa lúa chín rồi lại gặt. Cây trước sân thay bao mùa lá. Người trong làng có người trở về, có người không. Nhưng người con của ông bà vẫn chỉ là một khoảng lặng.

Có những buổi chiều, bà cụ ngồi bên hiên, ôm chiếc áo cũ của con mà vá đi vá lại. Chiếc áo chẳng còn ai mặc, nhưng bà vẫn sợ nếu một ngày con về thì áo rách.

Cha ít nói hơn.

Ông chỉ nhìn xa xăm, thỉnh thoảng lẩm bẩm:

“Chắc nó đói lắm…”

Không ai biết trong những trại cải tạo xa xôi ấy, người con có còn sống hay không. Cũng không ai dám nói một lời chắc chắn để cha mẹ già bớt hy vọng.

Hy vọng là điều cuối cùng người ta còn giữ được.

Có những người cha mất trước khi biết tin con được thả.

Có những người mẹ nhắm mắt vẫn dặn con cháu:

“Nếu anh con có về… nói với nó là má đợi tới phút cuối.”

Đó là điều đau đớn nhất của chiến tranh và những năm tháng sau chiến tranh.

Không chỉ là những năm tù.

Mà còn là những mái nhà có ngọn đèn vẫn thắp mỗi tối, những cánh cổng chưa bao giờ khóa hẳn, và những bậc cha mẹ già dành trọn quãng đời còn lại để chờ một tiếng gọi:

“Cha… Má… Con về rồi.”

Tiếng gọi ấy, với nhiều gia đình, đã không bao giờ vang lên.

Phạm Sơn Liêm


 

Từ vụ sách Chuyện với Thanh: Việt Nam trong vòng xoáy đấu tố, chụp mũ, tại sao? (BBC)

 (BBC)

Đấu tố và phản đấu tố là những xu hướng nổi bật tại Việt Nam trong thời gian gần đây

17 tháng 7 2026

Báo chí Việt Nam đang có nhiều bài viết chỉ trích tình trạng đấu tố trên mạng xã hội và cảnh báo về những “hệ lụy khôn lường”. Cục trưởng Cục Báo chí cũng lên tiếng về vấn đề này. Nhưng đấu tố từ đâu mà có, và báo chí có thực sự vô can?

“Chỉ từ một đoạn video vài chục giây, một bức ảnh thiếu bối cảnh, một bài đăng chưa được kiểm chứng hoặc vài dòng trạng thái đầy cảm xúc, hàng nghìn bình luận đã vội vàng kết luận ai đúng, ai sai; ai đáng bị cách chức, tẩy chay hay ‘xóa sổ’ khỏi đời sống xã hội,” báo điện tử VOV viết vào ngày 14/7.

“Điều đáng lo ngại không chỉ là số phận của một con người, mà còn là nguy cơ văn hóa phản biện bị biến dạng và nguyên tắc pháp quyền bị thách thức bởi những ‘phiên tòa’ của dư luận,” báo Dân Việt dẫn lời Thượng tá, Tiến sĩ Đào Trung Hiếu, chuyên gia tội phạm học, vào ngày 15/7.

Báo Công an Nhân dân, tờ báo có truyền thống đăng các bài báo tố cáo, quy chụp những cá nhân và tổ chức mà họ cho là “phản động”, cũng đăng bài Phản biện hay quy kết?

Nhìn chung, các báo cảnh báo về nhiều hậu quả khác nhau của nạn đấu tố, như tàn phá khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại danh dự cá nhân, doanh nghiệp, bào mòn niềm tin xã hội.

Các bài viết nói trên xuất hiện trong bối cảnh mạng xã hội sục sôi đấu tố những cá nhân, tổ chức liên quan tới cuốn sách Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng, đặc biệt khi mà đối tượng bị tố cáo không chỉ là những người liên quan trực tiếp tới cuốn sách, mà còn đụng chạm tới quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông Nguyễn Đình Long, trong bài viết gửi tới BBC News Tiếng Việt vào ngày 15/7, nhận định rằng đối tượng của sự nghi ngờ ngày càng mở rộng.

“Một tác giả dẫn đến một nhà xuất bản; một nhà xuất bản dẫn đến một trường đại học; rồi đến những người từng giới thiệu, từng khen ngợi hay từng xuất hiện cùng tác giả,” ông nêu bật hiệu ứng leo thang. 

“CẦN XỬ LÝ NGHIÊM KHẮC TỔNG BIÊN TẬP BÁO NHÂN DÂN,” ông Phan Trung Can – một trong những tiếng nói nổi bật trong làn sóng “chống lật sử”, “chống cách mạng màu” ở trên mạng xã hội – sau khi chỉ trích tác giả Nguyễn Thành Nam và nhóm làm sách Chuyện với Thanh, đã tấn công tới nhân vật ở thượng tầng.

Người mà ông Can, và những người cùng lập trường với ông, chỉ trích lần này là Tổng Biên tập báo Nhân Dân Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam. “Tội trạng” của ông Minh, theo những người chỉ trích, là đã đăng hai bài viết tích cực về cuốn sách này trên báo Nhân Dân.

Ông Phan Trung Can hiện đã sửa bài viết “cần xử lý nghiêm khắc…” nói trên.

Tác giả Nguyễn Thành Nam làm việc với an ninh khi bị khởi tố liên quan đến sách Chuyện với Thanh

Khi báo chí phản đấu tố

“Một nền tư pháp văn minh được xây dựng trên chứng cứ, thủ tục tố tụng, quyền giải trình và nguyên tắc suy đoán vô tội.

“Trong khi đó, ‘phiên tòa’ trên mạng xã hội đôi khi vận hành theo logic ngược lại: Kết luận trước, tìm chứng cứ sau; cảm xúc trước, sự thật sau; ý chí của số đông được coi như ‘luật pháp’.

“Trong ‘phiên tòa’ ấy, bị cáo không có luật sư, không được đối chất, không có quyền kháng cáo. ‘Bản án’ được ‘tuyên’ và được cố xúy bằng lượt chia sẻ, bình luận và biểu tượng cảm xúc,” bài báo của VOV viết.

Bài viết còn có đoạn: “Tự do ngôn luận không bao gồm quyền bịa đặt, vu khống, xâm phạm đời tư hay kích động trừng phạt. Phản biện không phải sỉ nhục hay chống đối, yêu nước không phải quy chụp, và công luận không thể thay thế cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án.”

Báo Công an Nhân dân cũng dẫn lại bài viết này vào ngày 14/7, cho thấy tờ báo này cũng chống việc “quy kết”, “chụp mũ”, “đấu tố”.

Tuy nhiên, có một điều dễ nhận thấy là những hình ảnh gạch chéo, những bài viết quy chụp cũng đã xuất hiện từ lâu trên báo chí cách mạng Việt Nam.

Báo Công an Nhân dân vốn là tờ báo có nhiều bài viết quy chụp, đặc biệt là các bài viết tố cáo văn nghệ sĩ hải ngoại, các tiếng nói bất đồng chính kiến, các góc nhìn khác với chính quyền ở trong nước.

Trong vụ việc liên quan tới sách Chuyện với Thanh, chính tờ báo này trước đó đã có ít nhất hai bài báo chỉ trích tác giả Nguyễn Thành Nam, với những câu từ đầy tính quy kết, quy chụp.

“Trong cuốn sách và chuỗi video trên các nền tảng mạng xã hội, ông Nam thể hiện sự cợt nhả, xuyên tạc, tuyên truyền tư tưởng ‘xét lại lịch sử’ vô cùng nguy hại.

“Bằng các chiêu bài gọi là ‘đối thoại’, ‘phản biện’, ‘giải mật lịch sử’, ‘lật lại sự thật’, ‘giáo dục bằng con đường khác’… để gieo rắc hoài nghi về lịch sử cách mạng, Bác Hồ và nền tảng tư tưởng của Đảng,” Trung tá, Tiến sĩ Lê Thế Cương viết như lời một bản cáo trạng trong bài báo Không thể nhân danh “phản biện”, “khai phóng” để xuyên tạc lịch sử, lãnh tụ đăng trên Công an Nhân dân hôm 2/7.

Báo Công an Nhân dân sau đó còn tạo dư luận theo hướng kết án khi chia sẻ bài viết lên Facebook.

“Đề nghị quý báo CAND vạch trần bộ mặt của những kẻ đã tiếp tay, tung hô cho cuốn sách của Nguyễn Thành Nam,” một tài khoản bình luận.

Chưa dừng lại ở đó, báo Công an Nhân dân còn đăng tiếp một bài viết vào hôm 5/7, trong đó khẳng định rằng “nhiều ý kiến bạn đọc khẳng định bài báo [hôm 2/7] đã chỉ ra những sai phạm nghiêm trọng” trong cuốn sách và “đặt vấn đề cần làm rõ trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan trong hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật và trách nhiệm trong quản lý, xuất bản”.

Bài viết kết luận rằng tác giả Nguyễn Thành Nam, thông qua cuốn sách, đã “xét lại lịch sử, tầm thường hóa lãnh tụ”.

Bài đăng trên Facebook giới thiệu bài viết này một lần nữa được nhiều người hưởng ứng.

“Bài báo quá hay quá sắc bén, chém thẳng tay lũ nhân danh trí thức tẩy trắng lịch sử, lũ vô ơn. Đề nghị điều tra tổng thể có hay không dấu hiệu cấu kết với các tổ chức nước ngoài một cách có hệ thống,” là một trong số hàng trăm lời bình.

Có thể thấy, nếu xét theo những tiêu chí mà bài báo nói trên của VOV nêu ra, và Công an Nhân dân đăng lại, rằng “nền tư pháp văn minh được xây dựng trên chứng cứ, thủ tục tố tụng, quyền giải trình và nguyên tắc suy đoán vô tội”, thì chính báo Công an Nhân dân trước đó đã có những lời lẽ quy kết, buộc tội tác giả Nguyễn Thành Nam, trước cả khi công an công bố quyết định khởi tố, chứ chưa cần nói đến một bản án có hiệu lực của tòa án.

Tác giả Nguyễn Thành Nam đã bị khởi tố về hành vi "tuyên truyền chống Nhà nước" sau khi xuất bản sách Chuyện với Thanh

Play video, “Ông Nguyễn Thành Nam bị bắt: ‘Kính Bác, Yêu Đảng’ vì sao lại thành ‘xuyên tạc’?”, Thời lượng 13,01

13:01

Ông Nguyễn Thành Nam bị bắt: ‘Kính Bác, Yêu Đảng’ vì sao lại thành ‘xuyên tạc’?

Khi đấu tố chạm tới quyền lực thượng tầng

Ngày 7/7, thông tin ông Nguyễn Thành Nam bị khởi tố, bắt tạm giam xuất hiện trên gần như tất cả các trang báo ở Việt Nam.

Như thể được chứng minh rằng những ý kiến, chỉ trích của mình là đúng, những người đấu tố dường như càng trở nên quyết liệt hơn.

“Giờ em đi ngủ. Mai em điểm các báo lăng xê; Mốt em gọi tên mấy anh chị nhà văn, nhà báo, TS bát nháo ‘bênh’ Nguyễn Thành Nam,” ông Phan Trung Can viết vào ngày 7/7.

Và đó đúng là những gì ông đã làm sau đó khi nhắc tên một loạt cá nhân mà ông cho rằng đã có lời bênh vực hoặc ca ngợi ông Nam, hoặc tác phẩm Chuyện với Thanh. Cùng lúc, mạng xã hội cũng đưa ra danh sách những người mà họ cho rằng cần bị điều tra, xử lý.

Trong danh sách này có tên ông Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập báo Nhân Dân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam.

Tới ngày 10/7, ông Can đăng lời kêu gọi chính quyền cần “xử lý nghiêm khắc” ông Minh. Bài đăng này đã nhận được hàng ngàn lượt thích, cùng hàng trăm bình luận, đa số đồng tình. Đó là thời điểm mà nhiều người đánh giá rằng ông Can đã “vượt lằn ranh đỏ” và “gió bắt đầu đảo chiều”.

Ngày hôm sau, 11/7, đánh dấu thời điểm chính quyền bắt đầu có động thái chỉ trích hoạt động đấu tố trên mạng xã hội.

Nhiều người đã chia sẻ lại bài viết trên Facebook của ông Lưu Đình Phúc, Cục trưởng Cục Báo chí, chỉ trích việc “đấu tố cực đoan”.

“Thay vì tranh luận về hành vi thì chuyển sang kết tội con người; thay vì chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền thì coi ‘phán quyết của mạng xã hội’ là quyết định, và nếu sự việc diễn ra trên thực tế thì các quan điểm cực đoan cho rằng do có tiếng nói của ‘họ’ mới có kết quả như vậy,” Cục trưởng Cục Báo chí Lưu Đình Phúc viết.

Ngày 12/7, bài viết tương tự của ông Phúc đã xuất hiện trên báo Tuổi Trẻ, sau đó được website của Cục Báo chí, mà ông Phúc đứng đầu, đăng tải lại.

Tới ngày 14/7, VOV có bài viết chỉ trích tệ đấu tố. Ngày 15 và 16/7, các báo chính thống khác như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Dân trí… cũng có các bài viết phê bình đấu tố.

Những ai theo dõi báo chí và mạng xã hội, có thể thấy tệ đấu tố, quy chụp đã xuất hiện từ lâu, chứ không phải đợi đến trường hợp cuốn sách Chuyện với Thanh. Đối tượng đấu tố thường tập trung vào các nhân vật bị coi là “phản động”, “lật sử”, “lệch chuẩn”. Những người đề cao công trạng của Tả quân Lê Văn Duyệt, hoặc có đánh giá tích cực về Vua Gia Long… đều dễ dàng bị tấn công, đấu tố.

Một số người thường bày tỏ lập trường ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam, phê phán chủ nghĩa tư bản còn lên tiếng tố cáo Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, thiền sư Thích Nhất Hạnh, nhà sư Thích Minh Tuệ, bằng cách đưa ra các cáo buộc không có bằng chứng về tội “phản quốc”, “hợp tác với CIA”, “âm mưu cách mạng màu”, mà không lãnh hậu quả nào hay bị “tuýt còi”.

Không ít cơ quan báo chí chính thống cũng tham gia vào làn sóng này, với các video và bài viết có dấu gạch chéo vào những nhân vật mà họ lên án, dù những người này vẫn là công dân tự do chưa nhận bất kỳ bản án nào ở thời điểm báo đăng bài.

Tuy nhiên, khi làn sóng đấu tố chạm tới các tầng nấc cao trong guồng máy chính trị, đèn đỏ đã được bật lên.

Ông Lê Quốc Minh là nhân vật cấp cao nhất bị gọi tên trong vụ việc liên quan đến sách Chuyện với Thanh

Đấu tố trên báo chí chính thống

Tệ đấu tố không mới ở Việt Nam, chỉ khác lần này phong trào đấu tố có vẻ tấn công nhiều hướng hơn, và người bị đấu tố có cả “lề phải”, thậm chí có quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lâu nay, phong trào đấu tố chủ yếu nhằm vào các đối tượng bị coi là “phản động”, hoặc bất kỳ ai bày tỏ quan điểm trái với lập trường của Đảng. Họ dễ dàng bị gọi là “3 que”, “phản động”, “khát nước”, “chống phá”.

Giới nhạc sĩ, nghệ sĩ là những mục tiêu dễ gặp nhất.

Năm 2023, một làn sóng tấn công trực tuyến đã nhằm vào ca sĩ Hanni Phạm, thành viên người Úc gốc Việt trong nhóm nhạc K-pop NewJeans, vì cho rằng gia đình cô “ủng hộ Việt Nam Cộng hòa”.

Năm 2024, ca sĩ Ngọc Mai, Miss Grand Việt Nam Võ Lê Quế Anh, Tổng Giám đốc Công ty Sen Vàng Phạm Kim Dung là một số người trong giới giải trí bị gắn mác “ba que”, mà không có bằng chứng rõ ràng nào.

Nhiều ca sĩ hải ngoại cũng bị “đào” lại những bức ảnh, video cũ quay cảnh họ biểu diễn ở một khu vực có cờ vàng ba sọc đỏ.

Cũng năm 2024, mạng xã hội và Truyền hình Quốc phòng Việt Nam đấu tố Trường Đại học Fulbright Việt Nam, cho rằng đây là “ổ cách mạng màu”.

Gần đây hơn, Bộ Giáo dục bị đấu tố là có âm mưu xấu khi ủng hộ giáo dục khai phóng. Hai chữ “khai phóng” nhạy cảm tới mức ngay cả lời của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu sau đó cũng bị chỉnh sửa trên báo chí.

Cuốn sách Địa lý lớp 11, với trang bìa in hình tượng Nữ thần Tự do, nhà thờ thánh Basil và núi Phú Sĩ, cũng bị lấy ra làm “bằng chứng” cho rằng Bộ Giáo dục có tư tưởng sính ngoại. Nhiều người đặt câu hỏi sao không dùng hình ảnh Việt Nam để minh họa ở trang bìa, dù đây là cuốn sách địa lý thế giới.

Không chỉ trên mạng xã hội, báo chí cũng đấu tố người dân.

Ngày 20/5, chương trình Góc nhìn sự thật của Truyền hình Công an Nhân dân (ANTV) đã có phóng sự lên án nghệ sĩ Vượng Râu, tập trung vào các bài viết của nghệ sĩ này trên mạng xã hội mà họ cho là “xuyên tạc, chống phá”. Hình ảnh Vượng Râu bị gạch chéo, ông bị ANTV công khai gọi là “gã hề xuyên tạc lịch sử, chống phá đất nước”, dù rằng nghệ sĩ này vẫn là một công dân với đầy đủ quyền được pháp luật bảo hộ.

Trên mạng xã hội, nhiều người đã đặt câu hỏi về việc tại sao một cơ quan báo chí có thể tấn công một công dân với các ngôn từ mang tính cáo buộc, xúc phạm như vậy.

Trước Chuyện với Thanh, cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh cũng bị đấu tố trên mạng, với cáo buộc rằng sách bôi nhọ hình ảnh “bộ đội Cụ Hồ”. Làn sóng chỉ trích đã dẫn tới việc chính quyền rút tên Nỗi buồn chiến tranh ra khỏi một danh sách tôn vinh.

Trong những đợt đấu tố trước đây, không thấy báo chí đồng loạt lên bài phản đấu tố. Nhưng lần này, khi sự chỉ trích chạm tới quyền lực thượng tầng, báo chí đã đăng bài phê phán tệ đấu tố.

Quan sát tình hình xã hội thời gian qua, nhiều người nhắc tới phong trào Nhân văn giai phẩm – nỗ lực của một nhóm văn nghệ sĩ thời thập niên 1950 nhằm thúc đẩy tự do sáng tác và phản biện xã hội, nhưng sau đó bị chính quyền đàn áp, nhiều người tham gia bị xử lý và cấm hoạt động – hoặc Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc – chiến dịch do Mao Trạch Đông phát động nhằm củng cố tư tưởng cộng sản nhưng dần đưa xã hội tới một thời kỳ hỗn loạn chính trị.

Sau Cách mạng Văn hóa, Hồng Vệ binh dần thất sủng và mất chỗ đứng.


 

TRÁCH AI ?

Xuyên Sơn

 TRÁCH AI ?

Hai vợ chồng đến từ một tỉnh miền Tây. Gia đình có vẻ là khá giả.

Người chồng đau nhiều, đi lại rất khó khăn, chỉ có thể đi được vài bước chân, hai chân rất yếu, sức cơ giảm nhiều.

Ngoài trượt đốt sống và hẹp ống sống nặng, ông ấy lại đang trong cơn gút cấp. Đã thế, ông ấy lại còn bị viêm dạ dày ruột, tiêu chảy nhiễm trùng, bệnh mạch vành, viêm da mủ và tiểu đường type 2. Đã có chỉ định mổ cột sống cho ông chồng, nhưng chắc không bác sĩ nào dám cầm dao với tình trạng sức khỏe của như vậy.

Còn người vợ.

Chị ấy đã không còn đi được, teo cơ hai chân. Chị ấy cũng bị trượt đốt sống và hẹp ống sống rất nặng.

Riêng về tiểu đường thì đường huyết cao chất ngất, gần 20 chấm,

HbA1C cũng 16, 17 chấm.

Khớp gối sưng vù, nóng đỏ, siêu âm đầy dịch.

Chị này cũng đã có chỉ định mổ cho bệnh cột sống, nhưng chắc cũng không bác sĩ nào đủ dũng cảm mổ cho chị ấy.

Đến đây thì có lẽ ai cũng cho rằng cái gia đình này không quan tâm đến sức khỏe, cả hai vợ chồng đều để bệnh quá nặng mới đi khám. Để đến nông nỗi này, có lẽ lỗi hoàn toàn thuộc về bản thân người bệnh.

Nhưng không.

Họ cho biết họ có đi khám bệnh.

Nhưng khám mãi không thấy bớt, càng ngày càng nặng, nên mới khăn gói lên thành phố.

Hỏi họ khám thì bác sĩ nói sao, chẩn đoán bệnh gì.

Họ nói không thấy bác sĩ nói gì cả.

Anh chồng thì biết bị nhiều bịnh vì thấy có nhiều bác sĩ khám, cho nhiều toa, còn chị vợ thì nghĩ rằng bác sĩ chỉ khám bệnh thần kinh tọa thôi, vì chị bị đau lưng và đau chân, và không biết mình bị hàng loạt bệnh khác.

Tôi cho rằng, lỗi chính trong chuyện này là hệ thống y tế của chúng ta.

Bên cạnh hệ thống bảo vệ sức khỏe dành riêng cho các quan chức, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân được phó mặc cho những qui định của bảo hiểm.

Công tác tuyên truyền, giáo dục sức khỏe được phó mặc cho mạng xã hội và các nhà quảng cáo.

Một số bệnh nhân cho tôi biết, họ đã phát hiện và điều trị loãng xương, hết loãng xương rồi.

Hỏi khám và điều trị ở đâu thì được biết là ở… siêu thị.

Các công ty sữa mang máy đo loãng xương loại không được công nhận làm tiêu chuẩn chẩn đoán, đến đo miễn phí tại các siêu thị, rồi bán sữa về uống, hai tuần sau đo lại hết loãng xương.

Tương tự vậy, các loại thực phẩm chức năng mà chỉ có trời mới biết tác dụng như thế nào, được quảng cáo đầy trên TV.

Người dân cứ tưởng rằng uống nó là trị bá bệnh, hoặc không thì cơ thể cường tráng, khỏe mạnh, chẳng có bệnh tật nào xâm phạm nổi.

Có đi về các miền quê mới thấy, những cái giường, những cái máy,

với hàng đống đèn xanh xanh đỏ đỏ, chớp chớp nhá nhá, có giá vài chục triệu, có khi cả trăm triệu, được mang giới thiệu công khai, có khi còn có sự giúp sức của chính quyền hoặc các cơ quan đoàn thể địa phương.

Người có tiền thì mua máy về xài, người ít tiền thì trả tiền thuê máy để nằm, hãnh diện vì được những cái máy đấy trị bá bệnh cho mình…

Vào trong bệnh viện thì chỉ được làm xét nghiệm này mà không được làm cái khác, thậm chí là chỉ được dùng thuốc này mà không được dùng thuốc khác. Một ngày khám hàng mấy trăm bệnh nhân, bác sĩ, ngoài việc sợ bị bệnh nhân kiện cáo, lại sợ bị BHYT xuất toán, chẳng còn thời gian giải thích.

Hôm nào ít bệnh, có thời gian giải thích thì bị cho là lạm dụng BHYT, có khi đi tù như chơi.

Cứ thế, cả nền y tế được thả nổi.

Sức khỏe của người dân được thả nổi. Khi xảy ra những câu chuyện như gia đình bệnh nhân nói trên, thì, hoặc là qui kết cho bản thân người bệnh, hoặc là chê bai bác sĩ ở tỉnh chuyên môn tệ quá.

Còn cái cốt lõi, là cả một hệ thống chăm sóc sức khỏe bất bình đẳng, bởi sự ảnh hưởng của hệ thống chính trị phân chia đẳng cấp quan – dân,

nơi mà những kẻ hoạch định chính sách không trực tiếp trải nghiệm sản phẩm của mình, thì vô can.

Thanh Lan


 

 ĐỐT SÁCH NHƯNG CÓ ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM KHÔNG?…

Donry Nguyen

 ĐỐT SÁCH NHƯNG CÓ ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM KHÔNG?…

Ở Sài Gòn, không xa Dinh Độc Lập, ngay cạnh nhà thờ Đức Bà, bên trong đường sách Nguyễn Văn Bình, bạn sẽ tìm thấy những cuốn sách rất đắt tiền.

Chúng đắt tiền không phải do chúng dày dặn, đẹp đẽ, mà vì một lẽ khác, bởi đó là những cuốn sách đã may mắn sống sót khỏi chảo lửa đốt sách điên cuồng tại miền Nam.

Năm 1977, một cán bộ tại TP. Sài Gòn khoe với báo chí quốc tế rằng khoảng 700 tấn sách của miền Nam đã bị tịch thu và nghiền nát sau hai năm “giải phóng”.

Trong cùng năm, một cán bộ ở Huế cho biết hàng chục nghìn cuốn sách và tranh ảnh “lạc hậu” về “tình yêu ủy mị” và “tìm kiếm niềm vui thể xác” đã bị đốt bỏ.

Một cuốn sách xuất bản vào năm 1976 của một nhà báo ngoại quốc đã kể lại chuyện một nhóm học sinh, sinh viên ở Sài Gòn chủ động tổ chức đốt sách nhằm xóa bỏ “văn chương né tránh hiện thực”.

Linh mục André Gelinas cho biết một số lượng lớn trong khoảng 80.000 cuốn sách của thư viện Trung tâm Giáo dục Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn đã bị đốt bỏ theo chính sách tiêu diệt “văn hóa tư sản”.

Nhà báo Richard Dudman, phóng viên kỳ cựu của báo St. Louis Post-Dispatch, cho rằng chính quyền miền Bắc có lẽ đã không ngờ chiến thắng tại miền Nam lại đến nhanh như vậy, và họ đã không chuẩn bị kế hoạch tiếp quản phù hợp.

Một số hành động hấp tấp trên quy mô lớn để lại di chứng đời đời. Trong đó, sự kiện đốt sách đã mở đầu chiến dịch hủy diệt ngành xuất bản tư nhân đang phát triển ở miền Nam với kỹ thuật xuất bản hiện đại. Đau khổ hơn là những người cầm bút cũng có chung số phận với những cuốn sách.

Cho đến nay, sau 51 năm, Việt Nam vẫn chưa lấy lại được khí thế sôi động của ngành xuất bản tư nhân thời Việt Nam Cộng hòa.

Nền xuất bản rực rỡ của miền Nam:

Trước năm 1975, miền Nam có 44 tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh An Xuyên (địa phận Cà Mau hiện nay) với Sài Gòn là thủ đô.

Tổng dân số năm 1971 là khoảng 18,7 triệu người.

Vào năm 1974, ông Lê Bá Kông, Chủ tịch Hội Các Nhà in và Xuất bản thời Việt Nam Cộng hòa cho biết miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Trong khi đó, miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.

Từ năm 1954 cho đến giữa năm 1972, trung bình mỗi năm miền Nam xuất bản hơn một nghìn tựa sách, tổng cộng 21.279 tựa sách đã được xuất bản.

Một số tác giả dẫn số liệu năm 1972 của Ủy hội Quốc gia UNESCO Việt Nam thì có khoảng ba nghìn đầu sách được cấp phép xuất bản hàng năm.

Năm 1963, Đoàn Thêm cho biết chỉ trong ba năm (từ 1961 đến 1963) đã thấy 2.624 nhan đề sách, nhiều nhất là tiểu thuyết và thơ. Ông nhận định, sau năm 1954, văn nghệ miền Nam đã sống động hơn rất nhiều, nhờ sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ di cư từ miền Bắc.

Trong ba năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam đã nhập về tổng cộng 96.392 tấn giấy. Giấy được dùng để in nhiều ấn phẩm khác nhau, trong đó có sách.

Năm 1974, miền Nam có hơn 700 nhà in với 20 cơ sở có khả năng in một triệu cuốn sách mỗi năm. Các nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách của miền Nam, trung bình mỗi năm xuất bản khoảng 4,5 triệu cuốn sách.

Ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 3.000 cuốn sách được bán ra.

Số nhà sách ở miền Nam là 2.500 cửa hàng, đa số tập trung tại Sài Gòn, chưa tính đến các nhà cho thuê sách. Những nhà xuất bản, nhà in, hiệu sách ở miền Nam này dù khác nhau như thế nào nhưng đều có chung một ngày khai tử là ngày 30/4/1975.

Đốt sách trước năm 1975, chuyển sách ngoài Bắc vào:

Năm 1977, báo London Telegraph cho biết chính quyền đã chuyển hàng trăm tấn sách “hợp pháp” của miền Bắc vào miền Nam.

Báo chí nhà nước cũng xác nhận “hàng trăm triệu bản sách” của miền Bắc đã được chuyển vào miền Nam ngay sau tháng 4/1975 để “phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm mới – xã hội chủ nghĩa”.

Điều nghịch lý là những cán bộ miền Bắc tại Sài Gòn đã không mặn mà với những cuốn sách từ miền Bắc, mà họ thích đọc và giữ lại những cuốn sách bị cấm ở miền Nam.

Theo Nguyễn Vy Khanh, ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân quản đã ra chỉ thị cấm lưu hành và tàng trữ tất cả sách, báo trước ngày 30/4/1975. Chỉ trong một tuần, số sách tịch thu được tại một quận của Sài Gòn là 482.460 cuốn, ba tấn báo chí.

Một nhà sách ở Nha Trang phải nộp 35.530 cuốn sách.

Năm 1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam.

Đó là thứ Văn Hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động […]”

Đến tháng 1/1978, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức “Hội nghị đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn-hóa thực dân mới” tại TP. Sài Gòn.

Hai tháng sau hội nghị, chính quyền TP. Sài Gòn đã mở chiến dịch hủy diệt sách lần thứ nhì. Lần này, chính quyền trung ương cho rằng việc tiêu hủy sách trước đó vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để nên lần này phải hủy diệt tất cả các cuốn sách từ tiểu thuyết, thơ văn đến chính trị, kinh tế, luật, chỉ cho phép giữ lại các sách về khoa học tự nhiên.

Đến năm 1981, chính quyền trung ương đã công bố danh sách 122 tác giả có toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành.

Trong chiến dịch vào tháng 6/1981, chính quyền cho biết đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm, trong đó tại Sài Gòn có khoảng 60 tấn sách, hàng chục nghìn cuộn băng nhạc, tranh ảnh và hơn 600 cuộn phim.

Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động thanh niên, thậm chí là trẻ em mang băng đỏ vào nhà của người dân để lục soát, tịch thu các thể loại sách vở, báo chí, băng đĩa.

Có người kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách cạnh nhà thờ Ba Chuông (Quận 3, TP. Sài Gòn) đã cho nổ một quả lựu đạn khi các em nhỏ đeo băng đỏ xông vào nhà để tịch thu sách.

Việc đốt sách không chỉ hủy hoại nền xuất bản, tài sản của người dân, mà còn là hủy hoại nền tảng tri thức được gây dựng hơn 20 năm ở miền Nam trên nhiều lĩnh vực.

Nguyễn Văn Lục cho rằng chính quyền đã đốt sạch các sách của miền Nam mà không phân biệt thể loại, nội dung, chính trị hay không chính trị, kể cả những sách thiếu nhi có tính chất giáo dục cao cũng bị đốt bỏ. Chính quyền đã nhắm vào quan điểm, thái độ chính trị của tác giả hơn là nội dung của những cuốn sách.

Mãi đến năm 1985, chính quyền vẫn còn lo sợ về các loại sách, báo cũ của miền Nam, mặc dù vào lúc này, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Nam vẫn còn bị giam giữ trong các trại tù cộng sản trên khắp đất nước…

NGUYỄN HẠNH

—————————

-ÔN CỐ TRI TÂN

Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn Nho,

Toan giết sạch học trò hay chữ.

Không diệt được Bách gia chư tử,

Mà chính mình lại bị diệt vong.

Xem bao đời lịch sử Tây Đông,

Đâu cũng trọng hiền tài, nhân sĩ.

Vốn học thức tạo nên người tài trí,

Giúp quốc gia tự chủ trường tồn.

Có một thời Giai Phẩm Nhân Văn,

Bị đấu tố sa vòng tù tội

Bọn ngu si ghét người tài giỏi,

Quyết ra tay “hạ thủ bất hườn”.

Những Phan Khôi, Phùng Quán, Trần Dần…

Tên tuổi họ lại thêm lừng lẫy.

Tác phẩm họ còn nguyên giá trị,

Thấm đẫm tình dân tộc bao la.

Trời phương Nam hội tụ tinh hoa,

Nơi góp mặt anh tài cả nước.

Cùng sáng tạo thơ, văn, âm nhạc,

Trên lâu đài dân chủ tự do.

Cuộc phân tranh thế trận xoay cờ,

Khi phương Bắc tiến vào cướp bóc.

Chúng ra tay gồm thâu đốt sạch,

Cả một nền văn học Nước Nam.

Họ thay vào học thuyết lai căng,

Gieo rắc nỗi thù hằn giai cấp.

Biến văn chương trở thành nọc độc,

Phá tan hoang đạo đức bao đời.

Sự hung hăng cũng chỉ một thời,

Men chiến thắng lần hồi nguội lạnh.

Mớ nhạc đỏ im hơi tắt tiếng,

Đám văn nô bồi bút co vòi.

Và nhạc vàng rực rỡ lên ngôi,

Văn thơ cũ vùng lên sống lại.

Bao tài danh phục hồi tên tuổi

Giống như xưa, vốn nó vẫn là…

Tần Thuỷ Hoàng đốt sách chôn Nho,

Rốt cuộc lại tự mình hủy diệt.

Kẻ độc tài ngày nay nên biết

Càng bạo tàn càng kết liễu nhanh.

-Donry Nguyễn-


 

Dám làm dám chịu

Kim LeCâu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do Việt Nam

Dám làm dám chịu

Những gì đang xẩy ra quanh vụ đấu tố, bắt bớ các nhà văn, biên tập viên, nhà xuất bản ở Việt Nam khiến tôi nghĩ đến bài “Nỗi đau khổ không chỉ của riêng ai” viết cách đây một năm.

https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/31129502989974377

Những người thấp cổ bé họng, bị mất đất, bị bọn cường hào mới chèn ép luôn quằn quại đau khổ vì án oan. Nhiều khi hàng chục năm, có khi cả đời. Nhiều người bán hết cả nhà cửa, gia tài để lên Hà Nội, ăn chực nằm chờ, khiếu kiện, kêu oan cho người thân. Họ ngủ, nghỉ ở đâu cũng bị xua đuổi. Thế rồi cuối cùng con cái mình vẫn bị giết chết như tù nhân Lê Văn Mạnh. Gia đình tử tù Hồ Duy Hải sống khắc khoải suốt 12 năm qua. Vụ án lên đến Chủ tịch nước, Quốc hội mà vẫn không ai dám quyết. Chàng trai Nguyễn Văn Chưởng chờ chết trong tù suốt gần 20 năm qua. Nếu có lúc nào đó được ra khỏi tù, chắc cậu sẽ khó trở lại cuộc đời bình thường.

Nhiều lắm, những chuyện bất công đang diễn ra trước mắt chúng ta.

Nhưng kể cả những kẻ tưởng như nằm chiếu trên của sự bất công  cũng chẳng sướng gì. Từ các vị tứ trụ, bộ chính trị, đại biểu quốc hội, đến chủ các tập đoàn nghìn tỷ, ai cũng có thể bị trảm bất cứ lúc nào. Thậm chí kể cả những người tin yêu chế độ, sùng tín lãnh tụ, muốn đưa một luồng sinh khí mới vào sử thi ca ngợi cũng có thể bị đập chết như ngóe. Tội danh thì không bao giờ thiếu. Bí thì bổ sung thêm vào luật hình sự những con số 88, 117, 331…. Luật pháp “cây nhà lá vườn” hay ở chỗ: Muốn thông qua quốc hội lúc nào cũng xong.

Đó chính là cái bi kịch trong một hệ thống kiên quyết không chịu xây dựng và phát triển xã hội dựa trên một nền tư pháp độc lập và khai phóng con người. Những kẻ cổ vũ hoặc góp phần xây dựng nền tư pháp bỏ túi đến lúc nào đó sẽ bị chính nó quật lại.

Thiên hạ đang nói về nạn đấu tố như những năm 1990 về trước. Họ mang “Cách mạng Văn hóa”, “Nhân văn Giai phẩm” ra so sánh. Về hiện tượng thì các vụ lùm xùm về sách vở gần đây giống như những gì diễn ra trong quá khứ. Nhưng về bản chất thì đã khác.

Trước kia nhà nước yếu kém, cả về kinh tế cũng như chính trị. “Thù trong giặc ngoài” là điều được nhắc đến thời đó. Đất nước bị cô lập nặng nề, chỉ vỏn vẹn có 12-13 nước bạn XHCN giúp đỡ và cổ vũ. Từ cây kim sợi chỉ đến hạt lúa mỳ phải xin từ nước ngoài. Sinh hoạt văn hóa thì nghèo nàn như phim “Bạch Mao Nữ” và buồn như “Chung một dòng sông”. Công cụ hiếm hoi để đảm bảo sự tồn tại của chế độ chỉ là sức mạnh quân sự và chuyên chính công an. Do đó mọi tư tưởng làm ảnh hưởng đến tính chính danh của chế độ, của đảng, của lãnh tụ đều bị đập chết ngay từ trong trứng.

Ngày nay Việt Nam đã ở vào một vị thế khác. Cho dù vẫn là một nước nghèo, chậm phát triển, chưa công nghiệp hóa xong, nhưng là một quốc gia không chỉ đang tự nuôi sống được mình, mà bắt đầu tham gia tích cực vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Sinh hoạt văn hóa và tự do báo chí tuy vẫn bị xếp vào danh sách 10 quốc gia mất tự do nhất hành tinh [1], nhưng người Việt khi vào Internet vẫn có nhiều lựa chọn hơn ở Trung Quốc, hoặc thậm chí ở Nga.

Điều quan trọng hơn cả là nhà nước này đã tự tin hơn.

Người ta biết rằng chế độ độc đảng không còn là trở ngại trong quan hệ quốc tế. Đã có hai vị Tổng Bí Thư đi thăm nước ngoài với cương vị đúng đầu nhà nước. Có được ba tổng thống Mỹ cùng vài nguyên thủ Tây Âu, Bắc Âu gọi họ một cách lễ phép: “Thưa ông Tổng bí thư”. Các nguyên thủ phương tây nay biết rõ rằng, để làm việc với Việt Nam một cách hiệu quả, phải nói chuyện với Tổng Bí thư. Hiến pháp chỉ là hình thức.

Sự tự tin này lên đến mức mọi phân định trách nhiệm giữa chính quyền và đảng cầm quyền đã bị xóa bỏ. Các cơ quan báo chí nhà nước như đài phát thanh VOV, truyền hình VTV, TTXVN rồi kể cả các cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật cũng trực thuộc đảng cầm quyền.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay đều từ công an, quân đội mà ra nên họ rõ hơn ai hết về mối đe dọa của chế độ. Số bản án, các vụ bắt bớ, kỷ luật dành cho quan chức, doanh nhân trong những năm qua đã vượt xa số các vụ án dành cho người bất đồng chính kiến. Đó đang và sẽ là thực tế ở Việt Nam. Thực tế này cũng gây ra những nhiễu loạn cho công chúng khi nhìn vào các sự việc. Cả “Nỗi buồn Chiến tranh” hay “Nói chuyện với Thanh” lúc đầu đều được báo chí chính thống vinh danh để rồi tác giả bị đánh hội đồng. Rồi chính các cơ quan ca ngợi họ đều rút lui, xóa bài. Thậm chí có lúc đại diện phe chính thống còn lên tiếng phê phán đám đông đánh hội đồng (Như ông cục trưởng gì đó vừa làm).

Đại loại là đều ê chề như nhau, người ca ngợi rồi rút lui, người bị đánh và đám đông đánh hội đồng.

Trong lúc người ta hỏi học sinh làm sao để nước ta có được những người như Steve Job, thì lại diễn ra đấu tố văn hóa, trong khi kêu gọi tinh giảm bộ máy hành chính thì lại bắt người dân đến thăm họ hàng qua đêm phải khai báo… Tất cả những dích dắc đó chứng tỏ nỗi sợ vấn còn quá lớn. Tôi không tin là các NXB sơ sót điều gì. Nền kiểm duyệt mà tôi cọ xát suốt bao năm qua chưa bao giờ lơ đãng.

Phong trào tạo phản chủ yếu xuất phát từ những cựu quan chức văn hóa bảo thủ. Tuy họ không nắm quyền lực nữa, nhưng vẫn đại diện cho một lực lượng đáng kể trong xã hội. Đám đông này thổi bùng ngọn lửa “Cách mạng” để được sống lại với quá khứ của họ. Ngọn lửa này cháy to rát mặt đến mức những người chủ trương làm ngơ cho dòng chảy cuối cùng cũng phải gật đầu “cho trảm”. Lúc đầu muốn chơi trò đột phá, nhưng khi bị tạo phản thì không ai dám chịu.

Nguyên nhân của bi kịch nằm ở lực lượng “Âm binh” được nuôi dưỡng từ trước kia, nay dù muốn hay không, cũng vẫn không kiểm soát nổi.

Mất kiểm soát và thiếu bản lĩnh bản lĩnh thì thối lui.

Tất nhiên cái thực tế này sẽ còn kéo dài, bất chấp tất cả mọi mong muốn “Hóa rồng” trong “Kỷ nguyên vươn mình”. Người ta vẫn dám chấp vì luôn tin vào tăng trưởng 8-10% /năm kéo dài sẽ đưa vị thế Việt Nam tiếp tục lên cao. Điều này duy trì được chừng nào đất nước tiếp tục phát triển bằng cơ bắp, bằng gia công, bằng xuất khẩu nông sản, tài nguyên, bằng những cái giá của môi trường.

Nhưng rồi thế hệ vàng sẽ chấm dứt, lao động chân tay sẽ cạn. Đến lúc đó đất nước cần những con người có có phẩm chất để tạo ra những sản phẩm cao cấp như Chips, AI, Nano. Những con người đó không thể sinh ra trong một xã hội không có tự do học thuât, không có tự do tư tưởng, mà chỉ quen a dua đánh hội đồng.

Giả sử ngày mai có phép thần để chấm dứt các trò ngu muội đó đi, thì cũng phải mất cả chục năm để nền giáo dục khai phóng và văn hóa nhân bản mới cho ra những con người đủ phẩm chất cạnh tranh với thế giới.

Phẩm chất con người không chỉ là kiến thức, mà quan trong hơn là lý trí, đạo đức và ý chí.

Đó là điều duy nhất tôi muốn nói.

Các nhân vật từng được ưu ái, chuyên nằm chiếu trên khi ra tòa thường ăn năn, khóc lóc, xin được tha để chuộc tội lỗi. Họ càng khóc lóc thì những người xưa nay tung hô nâng đỡ họ càng tìm cách xa lánh, phủi tay. Họ có nhiều tiền để sống dễ chịu hơn trong tù, được pháp luật nương tay cho ra sớm. Nhưng họ ra tù một các lặng lẽ, giấu giếm. Vì thể tôi không mất công để viết họ.

Ngược lại những người không hề được nương tay như Hùng Gàn Lê,  hoặc Pham Doan Trang khiến tôi kính trọng. Trước tòa họ luôn tỏ ra có khí phách “Dám làm, dám chịu”. Trong suốt 5 năm Hùng Gàn ngồi tù, mẹ con Tử Đinh Hương luôn nhận được sự đùm bọc của bạn bè. Ngày Hùng ra tù, hàng ngàn người chờ trên mạng mong được nhìn vợ chồng em hội ngộ. Năm năm tù đã làm Hùng suy kiệt về sức khỏe, tài sản, sự nghiệp. Nhưng em không rời bỏ nguyên tắc của cuộc đời.

Tôi không bao giờ quên hình ảnh Đoan Trang bị giải ra khỏi phiên tòa hôm 14.12.2021. Trang không khóc, chỉ ngoái cổ lại tìm mẹ để nói: „Mẹ ơi con yêu mẹ! Con không sợ gì đâu. Mẹ giữ sức khỏe nhé!“.

THO NGUYEN 


 

Nam Kỳ Hào Sảng

“Tôi chả thấy dân Nam hào sảng gì cả, có được cho, được nhận gì bao giờ đâu”.

Khi đọc những dòng bình luận về sự hào sảng ở trong Nam, tôi khá buồn và nghĩ có lẽ bạn đang nhìn sai thước đo.

Bạn đang nhầm giữa hào phóng và hào sảng.

Có những thứ không thể “thấy”, “nhận” theo kiểu thông thường. Nhiều khi phải sống cùng, đi qua vài chuyện, rồi mới cảm được.

Khí chất hào sảng Nam Bộ không chỉ ở tiền. Ở Sài Gòn, ở miền Tây, nhiều khi nó là không khí.

Một ngày nọ, tôi ngồi ở Starbucks trên đường Nguyễn Thị Minh Khai. Nếu bạn chưa biết thì ở chỗ đó, quán không nhận tiền mặt. Có một cụ lớn tuổi đứng loay hoay muốn mua chút đồ, nhìn có vẻ là mua quà cho con cháu. Cụ lựa rất lâu, trầm ngâm tới lui, cuối cùng cũng ưng được hai món.

Tới lúc thanh toán mới kẹt. Cụ chỉ có tiền mặt, mà quán không nhận tiền mặt. Tôi thấy vậy nên bước tới, nói để cháu quẹt thẻ giúp, cụ đưa lại tiền mặt cho cháu là được.

Chuyện nhỏ thôi, không có gì đáng kể. Nhưng lúc đó, tự nhiên trong tôi bật lên rất nhiều chuyện cũ, như có ai khều nhẹ vô một cái ngăn ký ức đã lâu không mở.

Hồi nhỏ, tôi từng đi học trên những con đường đất sét ở một vùng quê nghèo. Mùa mưa, nước ngập tới đầu gối. Sáng đi rất sớm, chiều về nếu ba mẹ không đón được thì hai chị em cứ đi bộ mấy cây số về nhà. Trên đường thấy cô chú nào chạy ngang, tôi lại học lỏm một câu cửa miệng:

Cô ơi, chú ơi, cho con có giang (quá giang) về nhà.

Đa phần người ta đã chạy huốt qua (chạy lố) rồi mới dừng lại, quay đầu nhìn lại rồi kêu: Lên xe đi con.

Có khi họ chở một đoạn. Có khi không tiện thì thôi. Nhưng chỉ cần một người dừng lại, đoạn đường sình lầy hôm đó tự nhiên ngắn hơn rất nhiều.

Năm tôi mới lớp 3, mẹ tôi bị tật đãng trí đã lâu. Có hôm đưa hai đứa con đi học xong, mẹ quên mất chuyện phải đón. Hai đứa nhỏ cứ đinh ninh rằng mẹ sẽ lấy xe đạp ra rước, nên ngồi đợi miệt mài.

Tới tối khuya, ba tôi đi làm về hỏi: Con đâu em?

Cả nhà mới tá hỏa, hai đứa nhỏ vẫn còn ở trường.

Lúc đó trường đang xây mới mấy dãy phòng. Mấy chú thợ hồ thấy hai đứa nhỏ ngồi đợi tội quá, mới lôi vô căn tin, kêu bà chủ nấu cho hai gói mì con tôm. Các chú định trả tiền, mà bà chủ căn tin cũng không lấy, nói coi như cho con cháu trong nhà ăn.

Hai gói mì con tôm hồi đó, tính bằng tiền thì không đáng bao nhiêu. Nhưng với hai đứa nhỏ ngồi trong một cái trường vắng, chờ hoài không thấy ai tới đón, nó lớn hơn rất nhiều so với giá tiền của nó.

Nó làm mình nhớ hoài.

Tôi hay ăn cơm Má Tư ở Trần Cao Vân.

Tôi gọi má, gọi tía, vì thật sự không khác gì ăn cơm nhà. Nhiều người đi cùng tôi chắc sẽ thắc mắc, sao đi ăn quán mà gọi thân như vậy. Nhưng nếu họ ngồi đó đủ lâu, ăn vài bữa, nghe vài câu chuyện, họ sẽ hiểu.

Có lần tôi ăn cơm gặp mưa, má Tư nói:

Đi vô trong xếp mấy cái ghế lại nằm ngủ trưa tí đi con. Mưa đầu mùa đi mắc mưa là bịnh nha con.

Vậy là tôi ăn cơm xong, vô trong quán xếp ghế nằm ngủ quên luôn tới chiều. Quán mát, trời mưa lả tả, mà tôi thì mất ngủ kinh niên, gặp bữa ngủ được là ngủ sâu. Buồn ngủ gặp chiếu manh.

Nghe rất khó tin, nhưng với tôi lại rất bình thường. Có những chỗ ở Sài Gòn không chỉ bán cho mình một dĩa cơm. Nó cho mình một chỗ để ngồi xuống, nghỉ ngơi, thấy mình không phải người khách lạ.

Ở Sài Gòn, chuyện ăn cơm, uống cà phê xong phát hiện có ai đó đã trả tiền giùm mà mình không biết là ai, cũng không phải chuyện lạ. Tôi từng gặp nhiều lần, và nhiều khi chính tôi cũng làm vậy. Không phải để ai mang ơn. Nhiều khi chỉ thấy hạp thì làm, thấy người ta vui thì mình vui thôi.

Có lần tôi đi ăn bún riêu ngoài Hồ Con Rùa, gần đó có một nhóm anh em thợ xây dựng đang sửa công trình. Trong nhóm có một anh dẫn theo đứa con trai nhỏ đi phụ, nhìn rất tội. Ăn xong, mấy anh gọi tính tiền thì quán nói bàn kia đã thanh toán hết rồi, có để lại lời nhắn: Trả tiền cho thằng cháu nội.

Anh có con nhỏ ngơ ngác hỏi:

Ủa, tui có quen ai đâu mà được tính tiền giùm, thằng cháu nội nào vậy? thằng con tui hả? Ba tui đi bán muối lâu rồi.

Rồi cả nhóm cười khà khà, kiểu cười rất miền Nam. Vui vì cái sự dễ thương ngang hông đó.

Người trả tiền chắc cũng đi mất rồi. Không để lại tên, không cần ai mang ơn. Chỉ có cái câu “thằng cháu nội” ở lại, nghe vừa mắc cười, vừa thương, vừa rất Nam Bộ.

Miền Tây còn rõ hơn nữa. Bạn lỡ đường, ghé đại một nhà xin miếng nước, xin nghỉ nhờ một lát, nhiều khi người ta không hỏi bạn là ai trước, mà hỏi bạn ăn cơm chưa. Cái bụng người miền Tây nhiều khi vậy đó, rộng như cái sân trước nhà, có gì dọn nấy, không giàu cũng không để khách đứng ngoài mưa.

Người xưa nói người Gia Định trọng nghĩa khinh tài. Hồi nhỏ đọc mấy chữ đó tôi thấy xa lắm, tưởng là chuyện trong sách. Lớn lên mới hiểu, có những câu không phải tự nhiên mà sống lâu. Nó sống được vì vẫn còn nằm trong cách người ta đưa cái ly nước, dọn thêm chén cơm, quay đầu xe giữa đường, nấu hai gói mì cho hai đứa nhỏ ngồi đợi mẹ.

Còn ai hỏi hào sảng, khảng khái có từ khi nào, chắc phải hỏi cụ Nguyễn Đình Chiểu, người sinh ra ở đất Gia Định. Cú phán của cụ trong Lục Vân Tiên, tới giờ đọc lại vẫn nghe như một tiếng chân bước thẳng vô chuyện bất bình:

Vân Tiên ghé lại bên đàng,

Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.

Không cần nhiều lời. Thấy chuyện không đành lòng thì ghé lại. Có cây thì bẻ cây, có tay thì đưa tay, có một bữa cơm thì mời ăn một bữa cơm.

Cái hào sảng đó không nằm ở chỗ người ta có dư bao nhiêu để cho, bao ai ăn uống. Nó nằm ở chỗ, trong khoảnh khắc thấy người khác bị kẹt, người ta không nỡ để mặc.

Nó cũng khác với câu “lá lành đùm lá rách”.

Lá lành đùm lá rách là một đạo lý đẹp, nhưng trong đó vẫn có hình ảnh người còn lành che cho người đang rách, người có điều kiện hơn đỡ người khó hơn.

Còn hào sảng miền Nam nhiều khi không đặt ai ở trên, ai ở dưới. Nó không cần người kia phải khổ tận cùng mới giúp, cũng không cần người giúp phải dư dả gì. Thấy người ta kẹt thì gỡ giùm một chút, thấy thương thì làm, thấy hợp bụng thì đãi, làm xong cười khà khà rồi thôi.

Người được giúp không thấy mình bị ban ơn, người giúp cũng không thấy mình đang làm chuyện tốt chuyện lớn lao.

Cái hay nằm ở chỗ đó.

Trong người tôi là những ký ức của một đứa nhỏ từng được rất nhiều người lạ chìa tay ra. Một đứa nhỏ từng đứng bên đường sình lầy xin quá giang, từng ngồi trong trường vắng tanh ăn hai gói mì con tôm, từng ở những quán cơm mà chủ quán xem mình như con cái, từng thấy có người trả tiền bữa ăn rồi đi mất, không để lại cái tên nào cho mình mang ơn.

Thành ra sau này, khi thấy ai đó đang kẹt, tôi hay bị một cái quán tính rất lạ: đưa tay ra trước rồi tính sau.

Có lẽ hào sảng miền Nam là vậy.

Nó không ồn ào như một bài học đạo đức, cũng không sang trọng như một lời tuyên bố về lòng tốt. Nó giống hơi nước trong một căn bếp đang nấu cơm, không ai chỉ vô đó để khoe, nhưng bước vô là thấy ấm.

Hào phóng là rộng tay. Hào sảng là rộng lòng, rộng bụng, rộng cái khí chất của con người.

Vậy nên tiền bạc, vật chất chưa bao giờ là thước đo đúng nghĩa cho hai chữ hào sảng.

Hào sảng miền Nam, rốt cuộc, không phải là mình có bao nhiêu tiền, có cho ai cái gì không.

Mà là tới lúc người khác bị kẹt, chuyện đưa tay ra mình thấy nó như chuyện tất yếu, như cần không khí để thở.

Bài này tôi chỉ viết từ một góc nhìn hẹp câu chuyện thật của một người Sài Gòn.

Tôi cũng có một người anh, cũng là người thầy, giai Hà Nội. Mỗi lần em ra ngoài ấy, hễ nói thuê hotel ở là bị mắng liền: “Ra nhà anh mà ở, mày dở hơi à?”

Rồi có cu em cũng dân Hà Nội, biết tôi thích uống nước “đẹp”, nó đem từ tận ngoài đó vào biếu một hũ sấu ngâm. Tôi hỏi: “Bộ trong đây không có hả?”

Nó nói: “Làm sao ngon bằng em đem tận gốc vô biếu anh được.”

Nên tôi nghĩ cái tình, cái nghĩa, cái sự rộng lòng thì vùng nào cũng có. Bài này chỉ là một lát cắt nhỏ về cái không khí tôi đang sống và cảm nhận ở Sài Gòn.

Kim Duncan chuyển

From: T. Nguyen 


 

LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN- PHẠM SƠN LIÊM

 PHẠM SƠN LIÊM

 “Anh tên gì?”

“…”

“Số quân?”

“…”

“Đơn vị?”

Người sĩ quan già dụi tàn thuốc Bastos xuống gạt tàn. Ông ngước lên. Đôi mắt lạnh như đá.

“Hỏi ít thôi… sống lâu hơn.”

Cả căn phòng im bặt.

   Người ta nói… Một người lính phải có số quân. 

Để lãnh lương.

Để lĩnh quân trang.

Để báo tử nếu hy sinh.

Để khắc lên bia mộ.

Nhưng…

Có những người sinh ra trong cuộc chiến… Lại được huấn luyện để biến mất khỏi mọi hồ sơ công khai.

Không bảng tên.

Không cấp hiệu để khoe.

Không đơn vị để kể.

Chỉ có một mật danh……và một lệnh hành quân.

 “Các anh đi đâu?”

“Không được hỏi.”

“Bao giờ về?”

“Nếu còn.”

“Có ai đón không?”

“Có…”

“Ai?”

Người toán trưởng cười nhạt.

“Thượng Đế.”

   Họ là những quân nhân được tuyển chọn vào các công tác đặc biệt, phối hợp với MACV–SOG và Nha Kỹ Thuật trong những nhiệm vụ bí mật.

Có những chuyến đi… Không có trên bản đồ.

Có những mục tiêu… Không có trong bản tin.

Có những chiến công…Không được công bố

Và cũng có những cái chết…

Không kèn.

Không trống.

Không vòng hoa.

   Trực thăng chỉ xuất hiện vài phút.

Thả người.

Cất cánh.

Mọi thứ lại chìm vào tiếng của rừng.

Người đi…

Tự sống.

Tự chiến đấu.

Tự tìm đường về.

Nếu còn đường.

   “Mất liên lạc!”

“Bao lâu?”

“Ba ngày.”

“Cứu không?”

Viên sĩ quan nhìn tấm bản đồ rất lâu. Rồi gấp lại.

Giọng ông lạnh đến gai người.

“Không ai biết họ ở đó.”

Chỉ một câu.

Đủ khiến cả căn hầm nặng như chì.

   Nhiều năm sau… Một nhà báo hỏi một cựu quân nhân:

“Ông có thể kể về những ngày ấy không?”

Ông lắc đầu.

“Đã giải mật rồi mà.”

Ông mỉm cười.

Một nụ cười buồn.

“Giấy tờ có thể giải mật…”

“…nhưng lời hứa với đồng đội thì không.”

  Có người hỏi:

“Điều đáng sợ nhất của chiến tranh là gì?”

Không phải đạn.

Không phải mìn.

Không phải những cánh rừng tối.

Mà là… Ngày anh ngã xuống…

Không ai dám gọi tên anh.

Không phải vì anh không xứng đáng.

Mà vì nhiệm vụ của anh được sinh ra trong bóng tối.

Và có những người lính…

Đã chấp nhận sống cả tuổi thanh xuân trong bóng tối ấy.

Để khi đất nước cần… Họ xuất hiện. Khi nhiệm vụ xong… Họ biến mất.

Không đòi một lời tung hô.

Không cần huân chương.

Chỉ để lại một câu nói mà những người từng khoác áo trận đều hiểu:

“Có những người lính chiến đấu cho Tổ quốc… nhưng ngay cả lịch sử cũng không biết hết tên họ.”

Phạm Sơn Liêm.

 From: Tu-Phung


 

TẠI SAO NHẠC XƯA SỐNG LÂU?

Xuyên Sơn

TẠI SAO NHẠC XƯA SỐNG LÂU?

Dễ thấy, có những bài hát đã ngót nghét gần trăm năm nhưng vẫn được nghe đi nghe lại.

Có những ca sĩ đã 70, 80 tuổi đứng trên sân khấu vẫn được khán giả reo hò.

Họ – đại diện cho thế hệ nhạc xưa chưa bao giờ tự nhận cho mình bất kỳ một danh hiệu nào nhưng sẽ sống mãi trong lòng người yêu nhạc.

Một thế hệ những ca sĩ như Thái Thanh, Hương Lan, Giao Linh, Thanh Lan, Lệ Thu, Tuấn Vũ, Chế Linh,… có lẽ sẽ không bao giờ lặp lại nữa.

Vậy, tại sao nhạc xưa lại sống lâu?

Thứ nhất, ngày xưa người ta sáng tác nhạc bằng cảm xúc, bằng câu chuyện.

Đa phần đều là những câu chuyện của chính người nhạc sĩ hoặc câu chuyện họ được nghe, được thấy.

Cho nên câu từ, giai điệu trong bài hát rất thật, qua bao nhiêu thế hệ vẫn có thể đồng điệu.

Ngày xưa, các nhạc sĩ sáng tác đa phần để “thỏa mãn” chính mình, không vì lợi nhuận.

Thế nên, nhạc xưa rất nguyên sơ còn người nhạc sĩ thì rất nghèo.

Ngày nay, sáng tác nhạc có sự thay đổi.

Có người sáng tác vì tiền, vì đơn đặt hàng, vì muốn nổi tiếng, vì chạy theo thị trường…

Âm nhạc đã không còn nguyên vẹn là cảm xúc nữa.

Thứ hai, tiêu chuẩn để được coi là ca sĩ ở thời xưa rất khắt khe.

Người ca sĩ phải có chất giọng tốt, phải được rèn luyện bài bản, khổ cực rèn luyện mới có được chỗ đứng trong lòng người hâm mộ.

Họ cũng chinh phục khán giả bằng giọng hát, bằng cảm xúc mà không cần đến sân khấu hoành tráng, trang phục lộng lẫy hay vũ đạo bắt mắt.

Thế nên nghe nhạc xưa có phần nào đó rất nhẹ nhàng, hát như kể chuyện, không phô diễn kỹ thuật, không bị tác động bởi ngoại cảnh.

Người ca sĩ nhập tâm như kể chuyện.

Những ca sĩ thời nay thường bị chi phối nhiều hơn, phải mặc đẹp, nhảy giỏi, phải có âm thanh tốt, phải chạy show, phải phô diễn kỹ thuật.

Thành ra, âm nhạc bị mất đi phần cảm xúc vốn có.

Có thể nói, thị trường âm nhạc thay đổi, nhiều người trẻ thích sôi động không còn ưa chuộng dòng nhạc xưa.

Nhưng nếu đã từng nghe nhạc xưa thì chắc chắn sẽ mê, sẽ nghiện, nghe hoài không chán!

Nguồn fb Khải Quang

(Gốc Nhạc Xưa)

*Tại sao nhạc xưa sống lâu, nhạc trẻ yểu mệnh?

Có một thực trạng là hiện nay, nhiều nhạc sĩ “đẻ” tác phẩm xoành xoạch, bán cho ca sĩ, lấy tiền xong, hết trách nhiệm.

Lời bài hát chẳng trao chuốt, nội dung nhảm nhí, giai điệu lai tạp nhạc

Hàn Quốc, Anh, Pháp…

bài nào cũng giống bài nào, không phân biệt được và chẳng có gì ấn tượng…

Cách đây không lâu, trong một buổi họp báo ra mắt về giải thưởng âm nhạc, người viết bài có đặt câu hỏi tại sao nhạc trẻ thường đoản mệnh, trong khi nhạc xưa có bài tồn tại gần cả thế kỷ, vẫn có người tìm nghe?

Một nhạc sĩ trẻ (chúng tôi xin không nêu tên) khá nổi tiếng trả lời, có vẻ rất mãn nguyện:

“Hiện nay một bài nhạc có tuổi thọ khoảng 3 tháng là đạt yêu cầu rồi.

Quan trọng là trong 3 tháng có nhiều người nghe, chứ không quan trọng tuổi thọ dài hay ngắn”.

Câu trả lời của chàng nhạc sĩ trẻ, chuyên viết bài theo đơn đặt hàng của ca sĩ cũng là một mấu chốt cho thấy dòng nhạc sáng tác trong giai đoạn hiện nay đa số kiểu mì ăn liền.

Nhạc sĩ “đẻ” tác phẩm xoành xoạch, bán cho ca sĩ, lấy tiền xong, hết trách nhiệm.

Lời bài hát chẳng trao chuốt, nội dung nhảm nhí, giai điệu lai tạp nhạc Hàn Quốc, Anh, Pháp…bài nào cũng giống bài nào, không phân biệt được và chẳng có ấn tượng.

Một số ca sĩ bù vào phần lời “nhảm” của bài hát bằng phần nhìn, ra sức đầu tư vũ đạo, trang phục, kỹ thuật…

chi phí có khi đội lên con số trăm triệu đồng, tỉ đồng.

Bài hát may mắn nổi đình nổi đám, lượt xem MV trên Youtube cao là được. Ca sĩ chỉ chú trọng vào lượt view, chẳng màng là ca khúc mình hát tồn tại bao lâu, ai nhớ.

Chính vì quá chú trọng vào lượt view, ca sĩ hò hét fan click vào bài hát trên Youtube, đồng thời thuê người cài view ngày đêm.

Đây là một việc làm phi lý và buồn cười, bởi có người click theo “ý nguyện” của ca sĩ nhưng chẳng buồn xem nội dung, nghe lời bài hát.

Vậy số view có phản ánh được lượng khán giả thực sự yêu thích,thưởng thức  tác phẩm âm nhạc không?

Hay đó chỉ là con số dùng để trang trí cho “bảng xếp hạng” của MV?

Ca sĩ Sơn Tùng, hiện đang được gọi là “ông hoàng Youtube”.

Mỗi lần chàng ca sĩ sinh năm 1994 gốc Thái Bình tung ra sản phẩm âm nhạc mới, lượt người xem MV tăng lên chóng mặt, hàng triệu view.

Điều đáng bàn, những bài Sơn Tùng hát:

Nắng ấm xa dần, Em của ngày hôm qua, Anh sai rồi, Không phải dạng vừa đâu…

khán giả phải vất vả vểnh tai xem anh chàng này hát gì, cứ ngỡ như tiếng nước ngoài, kèm những lời “hú hớ… ơ ơ”.

Buồn cười hơn nữa, là các MV hát tiếng Việt của anh chàng này trên Youtube đều có chạy dòng chữ phụ đề Việt bên dưới, giống như phụ đề các bộ phim nước ngoài.

Lượt view cao, rầm rộ trong một thời gian ngắn, các ca khúc chìm vào quên lãng, chẳng ai còn nhớ đến, chẳng còn ai tìm nghe.

CHẠY NGAY ĐI | RUN NOW |

SƠN TÙNG M-TP

https://youtu.be/32sYGCOYJUM

Có lần ngồi ở một quán cà phê, người viết bài này nghe Sơn Tùng hát một ca khúc, nhưng không tài nào hiểu mình đang nghe gì, quay sang một thanh niên trẻ đang lắc lư theo nhạc, hỏi xem… nghĩa lời bài hát.

Anh chàng thanh niên cười:

“Em chịu. Chủ yếu là nghe giai điệu, chẳng cần nghe lời làm gì đâu anh”. Chính vì người nghe chỉ quan tâm giai điệu, chẳng buồn quan tâm lời, không hiểu nội dung ca khúc, mới dẫn đến nguyên nhân bài hát ít sống thọ.

Một bài hát muốn sống lâu với thời gian, điều cốt lõi đầu tiên là khán giả phải nhẩm hát được ca khúc ấy, thuộc lời một cách tự nhiên.

Bởi ngoài ca sĩ hát ca khúc, khán giả cũng phải hát được thì ca khúc đó mới được lan truyền, lưu truyền.

Còn đại đa số các bài hát được sáng tác hiện nay, lời còn nghe không rõ, nghĩa không hiểu, bố ai thuộc cho nổi. Nghe cho vui lúc đó, rồi quên ngay.

Nhạc xưa, có những bài tròn gần 1 thế kỷ, chẳng hạn như trường ca

Hòn vọng phu của nhạc sĩ Lê Thương.

Giai điệu hùng hồn, có lúc bi ai của người thiếu phụ chờ chồng thời chinh chiến đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Bài hát vẫn còn xuất hiện ở các chương trình ca nhạc lớn.

Thái Thanh – Hòn Vọng Phu 1

– Thu Âm Trước 1975

https://youtu.be/RZ87MDiIPuE

Nhạc xưa hay đã đành, người hát ca khúc cũng thường được nhạc sĩ chọn mặt gửi vàng.

Chính vì lẽ đó, mà ca khúc càng có sức sông mãnh liệt, lan toả.

Chẳng hạn như nhắc đến trường ca

Hòn vọng phu của nhạc sĩ Lê Thương, khán giả nghĩ ngay đến danh ca

Thái Thanh.

Nhắc đến Nửa đêm ngoài phố của Trúc Phương, không thể không kể đến danh ca Thanh Thuý.

Một lần tôi ngồi trong cánh gà cùng ca sĩ Giao Linh.

Bà chờ một ca sĩ khác hát xong ca khúc Em đến thăm anh một chiều mưa

của nhạc sĩ Tô Vũ thì đến lượt trình diễn.

Nghe nữ ca sĩ kia cất câu:

“Em đến thăm anh một chiều mưa.

Mưa dầm dề đường trơn ướt tiêu điều…”,

danh ca Giao Linh không kiềm được cảm xúc, vỗ tay thốt lên:

“Các cụ ngày xưa viết nhạc không thể nào chê được. Tôi thích nhất hai từ 

“dầm dề”, gợi cảnh chiều mưa buồn, ảm đạm. Người con gái đến thăm người yêu thật lãng mạn, ấm áp.”

Giao Linh – Anh Về Kẻo Mưa

– Thu Âm Trước 1975

https://youtu.be/udJYPBzuBIw

Cũng theo lời ca sĩ Giao Linh:

“Thời của chúng tôi, mỗi khi nhạc sĩ sáng tác xong một bài, giao cho ca sĩ nào, thì ca sĩ đó phải tập luyện rất vất vả.

Như bài “Em về kẻo trời mưa” của nhạc sĩ Ngân Giang, tôi hát mới hai mươi tuổi. Phải tập cùng ban nhạc, có nhạc sĩ hướng dẫn đúng phần hồn ca khúc trong suốt nhiều tháng ròng. Chính vì vậy, những ca sĩ Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hương Lan mới 15-16 tuổi đã có thể trình bày một ca khúc rất sâu sắc và giọng hát cùng ca khúc dễ dàng đi vào lòng khán giả.

Khán giả thuộc nằm lòng lời bài hát, thấy chính mình trong từng ca khúc, có sự đồng cảm.

Ai cũng có thể cất giọng vài câu.

Chính vì thế ca khúc sống bền bỉ cùng thời gian, lưu truyền qua nhiều thế hệ”.

Theo Lê Ngọc Dương Cầm (Petrotimes)


 

XIN CHO CHÚNG TÔI ĐƯỢC KHÓC…

Giáo Phận Bắc Ninh 

XIN CHO CHÚNG TÔI ĐƯỢC KHÓC…

Tôi ngồi một mình – giữa lòng nhà thờ.

2h chiều – không một bóng người.

Sự trầm mặc, đau thương phủ kín ngôi nhà thờ to lớn, trong những ngày đầy cơ cực.

Tiếng xe chuyển đồ, những lời mặc cả bán mua thi thoảng hắt vào qua ô cửa sổ. Như ngàn vạn sự giày xéo tan nát xứ Đạo này…

Năm  1883,  đức cha Antonio Colomer Lễ đứng giữa xứ Đạo này đọc vang sắc lệnh của Toà Thánh, thành lập Hạt đại diện Tông toà Bắc Đàng Ngoài (Giáo phận Bắc Ninh).

Năm đó, Toà Giám mục đặt ở Tử Nê.

Năm đó, tiểu chủng viện đặt ở Tử Nê.

Năm đó, đức cha Lễ nhận Tử Nê là quê hương thứ 2 tại Việt Nam…

Và cũng năm đó, chắc chắn tổ tiên chúng tôi dù có giàu trí tưởng tượng thế nào, cũng không tưởng tượng được rằng một ngày nào đó con cháu mình sẽ phải rời bỏ quê cha đất tổ để hi sinh vì lợi ích chung.

Chúng tôi đồng thuận với dự án. Ủng hộ sự phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên vươn mình.

Nhưng…

Hỡi ôi, chữ nhưng đầy đau đớn…

Giữa những lúc khó khăn này. Chúng tôi lại chẳng được khóc cho những điều đang tới.

Đâu đó người ta từng nói: tiếng khóc là sự chống cự cuối cùng của con người khi đến tận cùng số phận.

Nhưng không ai (có quyền) được khóc.(!)

Phải gượng cười, phải bình thường như những ngày bình yên xưa cũ. Khi mà:

Đi long đong cả vài ngày ngoài đường chẳng thuê nổi một nhà tạm trú, vì giá nhà đã quá cao, từ 10-15tr/tháng mà một gia đình không thể gánh gồng được. Khi mà hỗ trợ thuê nhà là 1tr5/tháng/người. Một gia đình bình thường 2 vợ chồng và 2 con chỉ vỏn vẹn 6 triệu. Số tiền 4-9 triệu còn lại ai sẽ chịu?

Tái định cư vẫn chưa thành hình, mà lịch bàn giao nhà và bàn giao tái định cư thì đã sát gần. Chúng tôi mới chỉ thấy những cánh đồng lấp đầy bằng đất. Điện, đường, nước…những thứ cơ bản cho 1 khu tái định cư vẫn là cái gì đó mịt mù chưa rõ ràng, chưa định hình.(!?)

Số tiền đền bù cầm về, khi ra tái định cư, sau khi hoàn thành các nghĩa vụ tài chính để được cấp đất thì chẳng còn đáng bao nhiêu để xây dựng lại một ngôi nhà y như ngồi nhà cũ. Chưa một lần chúng tôi dám đòi hỏi đền bù cao hơn, chúng tôi chỉ cần sự công bằng.

Kế sinh nhai rồi sẽ ra sao?

Câu hỏi mông lung khó trả lời nhất.

Ruộng chẳng còn, đất thì chỉ đủ xây nhà, cái đơn giản nhất là trồng mớ rau bán qua ngày cũng không thể. Những ông bà, cô chú đã 40-50 tuổi không bằng cấp, không nghề nghiệp cụ thể rồi sẽ mất bao lâu để tìm, để học, và liệu có tìm có học được một nghề gì mới để tự nuôi sống chính mình?!.

Vậy mà lại chẳng được khóc.

Vì nếu khóc. Nước mắt đó ai lau?

Phải ra đi.

Phải thiệt thòi.

Phải xoay sở trong lúc tình người ít ỏi.

Tôi nhìn thấy 400 năm của xứ đạo này như chạy như 1 cuốn phim cực nhanh trong đầu. Thấy bao vất vả hi sinh của cha, ông đã qua để xây dựng mảnh đất này.

Kính lạy những bậc Cha, Ông đã xây dựng mảnh đất này. Xin thứ tha bao điều lỗi phạm nếu chúng con đã làm gì sai. Xin chuyển cầu cùng Chúa cho chúng con ơn sức mạnh để dân làng vượt qua được biến cố này cách bình an…

Tôi nhìn lên Thánh giá Chúa.

Trong im lặng, thầm cầu nguyện: Lạy Chúa, xưa trong vườn cây dầu. Trước khi bước vào cuộc thương khó. Chúa lo buồn đổ mồ hôi máu. Xin cho chúng con “được khóc” để nguôi ngoai trong lòng bao tủi hờn…

….Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ

  Nhưng cứu chúng con cho khỏi (mọi) sự dữ… Amen!

Người Tử Nê

#gpbacninh #sanbaygiabinh