VỊ LINH MỤC BỊ GIAM SUỐT 13 NĂM… KHÔNG MỘT BẢN ÁN…

Nguyễn Trung Hiếu 

Có một câu chuyện về Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận mà mỗi lần nhắc lại, người ta vẫn không khỏi xúc động.

Ngày 15/8/1975, khi đang là Tổng Giám mục phó Sài Gòn, Ngài bị bắt. Không một phiên tòa, không một bản án, và cũng không biết ngày nào mình sẽ được trở về.

Từ một vị mục tử đang tự do phục vụ giáo dân, Ngài bắt đầu những năm tháng dài sau song sắt. Một năm trôi qua… rồi nhiều năm nữa.

Tổng cộng 13 năm bị giam giữ, trong đó có những khoảng thời gian Ngài phải sống trong cảnh biệt giam và gần như bị tách khỏi thế giới bên ngoài.

Nhưng điều khiến câu chuyện này trở nên đặc biệt không nằm ở việc Ngài đã phải chịu đựng bao nhiêu, mà là cách Ngài đã sống trong những năm tháng ấy.

Khi không còn nhà thờ, Ngài vẫn tìm cách dâng Thánh lễ.

Khi không có những cuốn sách để đọc, Ngài cầu nguyện và suy niệm.

Khi không có những trang giấy đầy đủ, Ngài tận dụng từng mảnh giấy nhỏ để viết xuống những điều mình muốn gửi gắm.

Và giữa nơi tưởng như chỉ có bóng tối ấy, Ngài lại viết về một điều rất sáng: **hy vọng**.

Những dòng chữ nhỏ bé được viết trong tù sau này trở thành **Đường Hy Vọng**, tác phẩm gắn liền với tên tuổi của Ngài và trở thành nguồn nâng đỡ tinh thần cho rất nhiều người.

Có một điều thật nghịch lý: người đang bị giam cầm lại trở thành người giúp người khác tìm thấy tự do trong tâm hồn; người đang sống trong bóng tối lại viết về ánh sáng; người bị lấy đi tự do lại không ngừng nói với người khác rằng hãy hy vọng.

13 năm không phải là một khoảng thời gian ngắn. Đó là một phần rất dài của cuộc đời. Nhưng Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã không để những năm tháng ấy trở thành lý do khiến mình tuyệt vọng.

Ngài biến nhà tù thành nơi cầu nguyện, biến đau khổ thành chứng tá và biến những ngày tháng tưởng như vô nghĩa thành một hành trình sống trọn niềm tin.

Có lẽ vì thế mà câu chuyện về Ngài vẫn còn được nhắc lại cho đến hôm nay: “người ta có thể khóa một con người sau song sắt, nhưng không thể khóa được niềm tin, tình yêu và hy vọng mà người ấy mang trong trái tim”.

Nguồn ảnh: Internet


 

KHỞI TỐ NỮ CỰU CHỦ TỊCH HUYỆN Ở ĐỒNG NAI TỪNG BỊ LỪA HƠN 170 TỶ ĐỒNG

BBC News Tiếng Việt 

KHỞI TỐ NỮ CỰU CHỦ TỊCH HUYỆN Ở ĐỒNG NAI TỪNG BỊ LỪA HƠN 170 TỶ ĐỒNG

Bà Nguyễn Thị Giang Hương, cựu Chủ tịch UBND huyện Nhơn Trạch (cũ), tỉnh Đồng Nai, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố.

Đáng chú ý, bà Hương từng gây xôn xao dư luận khi được xác định là nạn nhân của một vụ lừa đảo công nghệ cao, với số tiền bị chiếm đoạt lên tới hơn 171 tỷ đồng vào năm 2024.

Theo Công ty TNHH MTV Thủy lợi Đồng Nai, nơi bà Hương đang công tác, ngày 2/10, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã đến trụ sở công ty làm việc và thông báo quyết định khởi tố bà Hương, được ban hành ngày 28/9.

Hiện Bộ Công an chưa công bố cụ thể sai phạm của bà Hương. Tuy nhiên, cơ quan điều tra cho biết việc khởi tố liên quan đến trách nhiệm của bà trong thời gian công tác tại UBND huyện Nhơn Trạch.

Trước đó, vào tháng 4/2024, bà Hương được cho là đã bị một nhóm lừa đảo giả danh cơ quan bảo vệ pháp luật đe dọa rằng bà “dính dáng đến pháp luật”, rồi yêu cầu bà mở tài khoản và chuyển tiền.

Chỉ trong vài ngày, nhóm này đã chiếm đoạt của bà hơn 171 tỷ đồng. Vụ án này đã khiến dư luận khi đó xôn xao.

VGP/BBC

#BBCNewsTiengViet #DongNai #NguyenThiGiangHuong #cuuchutichhuyen #khoito


 

DI THƯ LINH MỤC ANTÔN NGUYỄN HUYỀN ĐỨC – NGUYÊN BỀ TRÊN, VIỆN PHỤ ĐAN VIỆN THIÊN AN, HUẾ:

 Huong Duongthanh 

DI THƯ LINH MỤC ANTÔN NGUYỄN HUYỀN ĐỨC – NGUYÊN BỀ TRÊN, VIỆN PHỤ ĐAN VIỆN THIÊN AN, HUẾ:

Thư gửi cộng đoàn

Cha Bề Trên và Cộng Đoàn kính mến,

Đầu lá thư, con kính xin gửi lời hỏi thăm sức khỏe Cha Bề Trên và Cộng Đoàn. Con cũng chân thành gửi lời xin lỗi Cha Bề Trên và Cộng Đoàn do sự vắng mặt, im lặng của con trong suốt một thời gian dài vừa qua. Và, con cũng kính xin cám ơn những lời khích lệ, an ủi, sự thương yêu của Cha Bề Trên và Cộng Đoàn thể hiện cách này cách khác, đặc biệt là qua lời cầu nguyện dành cho con trong ngày lễ Mừng Bổn Mạng Thánh Antôn Padova.

Trong suốt thời gian vừa qua, sức khỏe của con rơi vào tình trạng suy yếu nghiêm trọng, đau đớn thể xác, cận kề với tử thần vì con đang đối diện với căn bệnh nan y – ung thư phổi giai đoạn cuối. Phổi bên trái của con bị trắng hoàn toàn – nghĩa là phổi bị tổn thương, xơ cứng và mất dần khả năng trao đổi oxy – và có một khối u ác tính lớn. Tế bào ung thư đã di căn vào xương và gan, có nguy cơ di căn tới não. Hiện nay, con đang “sống với” các triệu chứng như: mắt gần như bị mù vì mờ, răng bị mục, tóc rụng thành từng mảng, ho và sốt liên tục, đau tức ngực, khó thở, đau buốt các khớp xương, mệt mỏi…

Tại Đức, các bác sĩ đang điều trị cho con, giải thích nguyên nhân dẫn đến ung thư phổi: yếu tố di truyền (gia đình con không có ai có tiền sử về bệnh nan y này), hoặc hút thuốc (con không hút thuốc), hoặc những sự biến đổi “ngoại di truyền” do tác động bởi các chất hóa học. Lẽ đó, các bác sĩ suy đoán con bị ung thư phổi là do “đột biến gen” – sự biến đổi “ngoại di truyền” do tác động bên ngoài – và họ nghi ngờ con bị “đầu độc”.

Qua lá thư này, con muốn xin Cha Bề Trên và Cộng Đoàn cho con có đôi lời thân thương để được bày tỏ, chia sẻ câu chuyện của con như một thành viên của Cộng Đoàn:

Con được Cha Chủ Tịch giao trọng trách làm Giám quản tại Thiên An ba năm. Trong thời điểm này, nhiều biến cố thăng trầm, căng thẳng xảy ra khi con trực tiếp giải quyết vấn đề đất đai, tài sản của Đan viện với nhà cầm quyền. Vào dịp tết âm lịch 2016, trong cương vị Bề trên nhà dòng, con tiếp rất nhiều khách khứa tới thăm và chúc tết Đan viện. Có hai vị khách quen ngỏ ý pha cà phê và trà để mời con dùng, con đồng ý và cùng thưởng thức với họ. Ngay sau khi họ ra về, con lập tức cảm thấy rát buốt vùng cổ và đầu, nhức nhối trong xương tủy, cả hàm răng đau buốt và có hiện tượng bị mục, không thể đi lại được. Một người thân tín đã phải đưa con đi châm cứu trong một sự gắng gượng tột cùng. Tuy nhiên, trên đầu của con lại xảy ra hiện tượng tóc bị rụng một mảng lớn (đường kính 3cm). Trước những triệu chứng nguy hiểm này, người thân của con đã đề nghị con ra nước ngoài chữa trị. Sau đó, con đã xin phép Cha Chủ Tịch Bruno đương nhiệm được qua Châu Âu. Tại đây, các bác sĩ dõi theo bệnh tình của con và cũng nghi ngờ con bị “đầu độc”. Con chữa trị khoảng hơn 3 tháng, rồi trở về lại Thiên An.

Cuối năm 2017, bệnh tình của con không thuyên giảm và tiếp tục xuất hiện các triệu chứng: mục răng, đau nhức các khớp xương… nên con đành phải quay lại Đức chữa trị bệnh. Thời gian này, con kết thúc trọng trách Bề trên Giám quản tại Thiên An. Theo dự kiến, con sẽ về VN, nhưng vì nhiều lý do bị cản trở/ngăn trở nhạy cảm, con không thể về. Trong thời gian ở lại Châu Âu, con có ý định tiếp tục nghiên cứu kết thúc luận án mà con đã bỏ dở do trở về VN để tiếp quản nhiều công việc khó khăn của Đan viện. Nhưng tình trạng sức khỏe của con suy kiệt vì đau răng, đau nhức khắp người, cảm cúm và sốt liên tục hơn ba tháng liền mặc dù đã được các bác sĩ tận tình chăm sóc.

Vào năm 2018, tình trạng sức khỏe của con không được khả quan, các triệu chứng trên vẫn “đeo bám”, tóc trên đầu tiếp tục rụng một mảng lớn. Thế nhưng, con vẫn tìm mọi cách trở về Thiên An và đã mua vé máy bay để bay về VN. Trước khi rời Châu Âu về VN, con bị đau nửa người, bị tai biến và liệt nửa người bên phải, bắt buộc phải dùng nạng để di chuyển và tập vật lý trị liệu. Con buộc phải hủy lịch trình về lại VN.

Vào cuối tháng 03/2019, sức khỏe con tiếp tục suy sụp, các bác sĩ yêu cầu con làm các xét nghiệm cần thiết và cho kết quả: Rối loạn toàn bộ đường tiêu hóa từ thực quản đến trực tràng; Rối loạn tuyến thượng thận (chức năng chủ yếu giúp kiểm soát tình huống căng thẳng); Rối loạn niệu quản: bộ phận thuộc hệ tiết niệu dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang (tắc nghẽn, sỏi niệu quản…); Thiếu vitamin và enzym (men, chất xúc tác sinh học có thành phần cơ bản là protein).

Tuy sức khỏe của con yếu kém nhưng con vẫn luôn mong mỏi được trở về VN và về với Cộng Đoàn. Do đó, con đã quyết định về lại VN vào trung tuần tháng 09/2019. Con từ Châu Âu về phi trường Hà Nội. Thầy Gioang và Thầy Cường đã tháp tùng con. Vừa về đến Hà Nội, con phải làm việc với Bộ Công An. Các công an viên cấp cao của Bộ yêu cầu con quay trở lại Châu Âu, vì họ sẽ không bảo đảm an toàn tính mạng của con khi ở VN, và sẽ hết sức bất lợi cho Cộng Đoàn Thiên An nếu như con ở lại Đan viện. Nhưng, con vẫn quyết tâm ở lại VN và về với Cộng Đoàn Thiên An. Tuy nhiên, trong thời gian này, sức khỏe của con kiệt quệ, toàn bộ thân thể mệt mỏi, rã rời, khó thở, đi lại rất khó khăn. Vì thế, con đành qua lại Châu Âu để chữa trị bệnh sau hơn 10 ngày ở Hà Nội.

Sau khi trở lại Đức, con bị khó thở, tức ngực, ho hen liên tục, mất ngủ triền miên. Con nhập viện. Các bác sĩ đã cho con làm thêm các xét nghiệm cần thiết như: xét nghiệm máu, xét nghiệm tóc, chụp citi,… Các xét nghiệm cho kết quả, con bị ung thư phổi giai đoạn cuối và nhiều triệu chứng bệnh khác. Phổi bên trái của con bị trắng hoàn toàn và có một khối u ác tính lớn. Tế bào ung thư đã di căn vào xương và gan, có nguy cơ di căn tới não. Mắt con bắt đầu bị mờ như bị mù, không thể nhìn thấy gì cả nên việc đi lại hết sức khó khăn, đêm không thể ngủ được vì các cơn ho kéo dài liên tục và sốt.

Các bác sĩ chữa trị cho con theo phác đồ: uống thuốc hằng ngày (250 EUR/1 ngày), 3 tuần thử máu/1 lần, 3 tháng chụp citi/1 lần. Cho đến thời điểm hôm nay, con đã điều trị được ba tháng, chi phí thuốc đặc trị của con lên đến 35000 EUR, con chưa tính viện phí, phương tiện đi lại… Về vấn đề ăn uống: con uống nước lọc để lọc chất độc theo phương pháp của người Nhật, không ăn thịt, không ăn đường, không ăn mỡ, đi dạo dưỡng sinh 5 tiếng/1 ngày.

Tạ ơn Chúa đã thêm sức, ban thêm nghị lực cho con, để con có thể vượt qua cơn đau thể xác do bệnh ung thư hoành hành trong tinh thần lạc quan. Qua biến cố thập tử nhất sinh này, con cảm nhận tình yêu quan phòng của Thiên Chúa vô bờ bến dành cho con quá nhiều hồng ân. Hiện nay con đang dần hồi phục sức khỏe, mắt con đã sáng lại, khối u ung thư bắt đầu nhỏ lại, tuy nhiên các khớp xương và cơ bắp vẫn bị đau buốt do tác dụng phụ của thuốc. Trong thời gian chữa trị bệnh hiểm nghèo, con đã được sự trợ giúp và yểm trợ từ Tòa Giám Mục Osnabrück; Hội Từ Thiện Malterse; Các bác sĩ bệnh viện Hamburg, Steven Niel, Fancicus Osnabrück và một số vị ân nhân.

Đứng trước bờ vực của sự chết, con luôn suy gẫm và hồi tưởng biến cố đau thương của Cộng Đoàn xảy ra vào cuối tháng 6/2017. Ngày ấy, chính con chứng kiến, Cây Thánh Giá bị giật sập và bị bẻ cong, Tượng Chúa Chịu Nạn bị đập gãy thành nhiều mảnh, Anh Em trong Cộng Đoàn bị đánh đập vì bảo vệ niềm tin Tôn Giáo. Các sự việc này báo hiệu cuộc đời của con sẽ bị bầm dập, dập nát và nát tương như Ngài. Sống trong những giây phút đớn đau của bệnh tật trên giường bệnh, khi chiêm ngắm Tượng Chúa Chịu Nạn bị vỡ nát không còn đôi mắt giống như đôi mắt của con bị mờ hẳn, không nhìn thấy được gì và gần như mù; Cạnh sườn Chúa bị dập nát giống như con oằn mình gồng gánh bệnh ung thư phổi; Hai cánh tay Chúa bị vỡ vụn và đôi chân Chúa bị vỡ làm đôi giống như con phải dùng nạng để đi lại sau cơn tai biến, liệt nửa người. Tạ ơn Chúa, muôn ngàn đời tạ ơn Chúa đã cho con có “cơ hội vàng” để thánh hóa nội tâm của chính con và “sống trong” mầu nhiệm hai chữ yêu thương “Thiên An”.

Thiên An đến nay đã 80 tuổi, đã và đang trải qua những thăng trầm và sẽ tiếp tục lộ trình này trong tương lai. Trong những năm diễm phúc con được làm Bề Trên Thiên An, nhiều lần con tiếp xúc với các cán bộ cao cấp của nhà nước Việt Nam, họ luôn luôn đặt câu hỏi với con: “tại sao các vị không cộng tác, không thỏa hiệp với nhà nước?”; Con trả lời: “Vì chúng tôi là Thiên An, chứ không phải Địa An”. Quả thật, bình an của trời cao là con đường Thập Giá, con đường Hiến Tế, con đường Sự Thật. Con kính cầu chúc Cha Bề Trên và Anh Em “chân cứng đá mềm” để giữ được “ngọn lửa Thiên An” mà Cộng Đoàn đã chọn.

Kính xin Cha Bề Trên và Cộng đoàn tiếp tục cầu nguyện cho con, để con có thể vui mừng hoan lạc, chấp nhận căn bệnh quái ác này như món quà Thiên Chúa tặng ban cho con cách đặc biệt.

Kính thư:

Con, Antôn Nguyễn Văn Đức


 

 Khách du có còn tìm đến thành phố mộng mơ???

Nguoi-Viet

 Khách du có còn tìm đến thành phố mộng mơ???

Nhiều con đường tại “thành phố ngàn hoa” Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, hóa thành sông, có nơi ngập sâu đến 1 mét, trong cơn mưa to xảy ra vào chiều 4 Tháng Mười.

Theo tường thuật của báo Dân Trí và Sài Gòn Giải Phóng cùng ngày, tại phường Cam Ly, Đà Lạt, nước từ thượng nguồn đổ về suối Tô Ngọc Vân khiến mực nước dâng cao, tràn lên đường.

Đoạn đường ven suối từ La Sơn Phu Tử đến Hải Thượng bị ngập từ 20 cm đến 1 mét.

Cùng thời điểm, đường Hải Thượng gần suối Tô Ngọc Vân cũng ngập 70-80 cm, khiến nhiều xe hơi, xe gắn máy bị chết máy.

Trong khi đó, nước từ thượng nguồn đổ về khiến con hẻm bên đường Nguyễn Công Trứ, phường Lâm Viên, Đà Lạt, bị ngập từ 40-60 cm. Thậm chí tại đoạn đường Trần Quốc Toản, cạnh hồ Xuân Hương và sân golf Đồi Cù, phường Xuân Hương – Đà Lạt cũng xảy ra tình trạng ngập nặng, xe cộ phải “rẽ sóng” trên đường.

Theo báo VnExpress, ngoài Đà Lạt, một số khu vực khác tại tỉnh Lâm Đồng cũng bị ngập. 


 

Bắt Cóc Xuyên Quốc Gia — Thủ Tướng Úc Đã Lên Tiếng

Chau Doan 

Bắt Cóc Xuyên Quốc Gia — Thủ Tướng Úc Đã Lên Tiếng

Ngày 18/9, hai ông Trần Hiệp và Nguyễn Đức Thuận mất liên lạc tại Campuchia — đúng đêm trước giờ họ lên máy bay. Mười ngày sau, Bộ Công an công bố: bắt quả tang nhập cảnh trái phép, khởi tố tội khủng bố.

Sáng nay, Thủ tướng Úc Anthony Albanese lên tiếng: chính phủ đang hỗ trợ lãnh sự cho công dân của mình. Không còn là chuyện riêng giữa một tổ chức lưu vong và công an nữa.

Tôi chỉ ra một lỗi trong cáo trạng: là thành viên của một tổ chức không đồng nghĩa với việc thực hiện hành vi khủng bố. Phải chứng minh mục tiêu, kế hoạch, phương tiện cụ thể. Đến nay, không có gì được công bố.

Và tôi đặt vụ này cạnh những vụ trước — có vụ đã được cả một chính phủ châu Âu xác nhận là bắt cóc.

Tôi nói đủ trong video. Link ở bình luận đầu.


 

BAO GIỜ DÂN VIỆT MỚI BIẾT CHỮ “NHỤC “

Xuyên Sơn

Nước Nhật sau thế chiến 2 bị hủy diệt, đổ nát, hoang tàn và nghèo đói.

Người dân phải ăn cả cỏ để sống.

Thế nhưng, chỉ chưa đến 20 năm sau chiến tranh họ đã xuất hiện trở lại trước thế giới với Olympic Tokyo 1964.

Tới năm 1968 họ đã vượt lên tất cả các nước châu Âu trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ.

Trong 30 năm từ 1951 đến 1980 kinh tế của họ tăng trưởng 73 lần,

vượt xa các nước Âu Mỹ.

Chiếc xe Honda 1967 của họ xuất hiện ở Saigon và vẫn tiếp tục chạy cho đến tận bây giờ, chạy bền bỉ ròng rã hơn nửa thế kỷ.

__________

Sau chiến tranh, người ta quay được những thước phim trẻ em và người già Nhật đứng xếp hàng đợi phát suất ăn từ thiện.

Nhưng rất ngắn ngủi và rất nhanh, cảnh đó đã sớm biến mất.

Trong khi đó, xứ Vịt đi đâu cũng thấy tự hào, từ hang cùng ngõ hẻm ra tận thế giới bên kia đại dương, nhục nhã thay lại coi việc đến mùa lũ lụt là “mùa thiện nguyện”,

năm này qua năm khác mà không hề mảy may thấy đó là một sự kỳ quái,

sự xấu hổ đáng phẫn nộ.

Người làm từ thiện đương nhiên là đáng trân quý rồi, nhưng nếu cứ thiện nguyện miết mà không đặt câu hỏi “tại sao lại thế?”;“bao giờ thì  chấm dứt cảnh này?”; “phải chăng đó là do thiên tai thật?

Hay là nhân tai?”…,

Thì bỗng dưng, việc thiện nguyện thành nghề thiện nguyện, bỗng dưng từ cứu người, một lúc nào đó lại thành việc dằn ấn người ta xuống thế phải cúi đầu chìa tay.

Dần dà cả tộc quen với hình ảnh đó, coi một phần của tộc là phải suốt đời sống với sự thương cảm/thương hại không ngẩng đầu lên nổi.

Không biết mọi người thế nào, chớ mình đến “mùa lũ lụt/mùa thiện nguyện” là lại muốn nhắm mắt quay đi trước cảnh “nô nức” làm thiện nguyện, hàng đoàn xe lớn bé đeo băng đỏ “ủng hộ đồng bào lũ lụt” chạy trên mọi nẻo đường quốc lộ, như một lễ hội carnaval kỳ quái.

Chớ đừng nói đến những đoạn clip lanh lảnh tiếng cô Tiên “chài ai lũ trôi mất dép đó hả”; “nè lại trôi mất dép nữa rồi nè”…,

Nửa suồng sã thân ái, nhưng lại phần nhiều như một trò đùa, sỉ nhục người phải đi xin.

Không chấp nhận việc phải xếp hàng đợi phát suất ăn từ thiện, người Nhật đã thoát khỏi cảnh xếp hàng đó.

Còn dân Vịt thì thương xót kiểu rủa nhau độc địa “đánh các nghệ sĩ rồi thì để mùa lũ này coi ai thiện nguyện cho dân miền Trung nữa nha”.

Thế nên cả tộc thành ăn mày, từ nguyên thủ cuốc gia túa nhau đi xin, đến nhân dân đồng bào, một năm dành không biết bao nhiêu thời gian là đi đưa cơm từ thiện, cả đời như thế.

__________

Bao giờ người đi cho cũng thấy mình nhục như đồng bào trước mặt đang chìa tay xin, để cùng nâng tay nhau đứng dậy ngẩng đầu, may ra…

Một quốc gia mà cứ “ thiện nguyện “ đi xin như vậy năm này sang năm khác thì như cái chữ “nhục” với lòng tự trọng con người nó đã mất đi từ khi có VỊT  ta lãnh đạo sáng suốt!

Nên dân toàn lãnh đạn !

Với lãnh bị đi xin !

Nỗi “ nhục “ như vậy kéo dài hàng năm mà dân việt họ quen dần cái nếp sống ấy !

Nên bao giờ nhận thức được chữ “ Nhục “ lòng tự ái, tự trọng ở con người thay đổi được thì may ra còn có thể phát triển được!

Còn như vậy hoài thì cả đời này, đời con rồi cháu vẫn nhơ nhơ mà chẳng nhận ra được lòng tự tôn dân tộc !

Nguồn fb Yến Huyền Hải Âu 


 

THẢM KỊCH TỪ MÂU THUẪN GIA ĐÌNH Ở CỦ CHI

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Chiều 24/9, tại một dãy trọ trên đường Hồ Văn Tắng, xã Củ Chi, TP.HCM, một nam thanh niên được cho là đã dùng dao tấn công gia đình vợ.

Theo người dân, vợ chồng nghi phạm quê Cà Mau, lên TP.HCM làm công nhân. Gần đây hai người xảy ra mâu thuẫn nên người chồng không còn ở chung. Ngày xảy ra vụ việc, người này trở lại phòng trọ và cãi vã với vợ.

Vụ tấn công khiến người vợ và chị vợ tử vong; cha vợ cùng con của người chị bị thương nặng, phải nhập viện cấp cứu. Cơ quan chức năng đang điều tra nguyên nhân.

Từ một mâu thuẫn gia đình, chỉ trong ít phút, hai mạng người bị cướp đi và cả một gia đình tan nát. Vụ việc tiếp tục cảnh báo về bạo lực gia đình: đừng xem những lời đe dọa hay dấu hiệu bất thường là “chuyện riêng” cho đến khi mọi sự đã quá muộn. 


 

BÃI BIỂN MŨI NÉ NGẬP TRONG RÁC

Tin Mừng Cho Người Nghèo

September 19 at 9:15 PM

Rác thải dồn thành từng lớp, phủ kín một đoạn bờ biển Mũi Né. Hình ảnh nhếch nhác này không chỉ gây ô nhiễm môi trường mà còn làm xấu đi hình ảnh của một điểm du lịch nổi tiếng.

Những đống rác này không tự nhiên mà có; chúng là hậu quả của việc xả rác bừa bãi và ý thức bảo vệ môi trường còn hạn chế của nhiều người dân Việt Nam. Đã đến lúc người Việt cần học người Hàn từ những việc nhỏ nhất: không xả rác và biết giữ gìn không gian chung.

Ảnh: VNExpress

TRĂM NGHÌN NHÁNH KHỔ!

Phan Thế Nghĩa

Sau 1975, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng.

Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng?

Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

 Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm,… Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược.

 Lần trước về Sàigòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế… Lặng cả người, “…Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người, mà yêu thương trót trao nhau trọn lời…”.

Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng tư 1975, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.

 Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn – Đà Lạt. Có khi Hà bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết.

  Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.

 Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt.

Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.

  Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc.

 Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm 5- 7 học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ… bãi gửi xe.

 Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Đất nước này không dung những tiềm năng như em…

 Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị. Sao lại có thể xây dựng đất nước bởi những con người bằng thiệt học giả? Những năm sau 1975, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon,… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la,…

Năm 1978, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, qúy phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê 2 bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C. V. Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

  Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu – Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin thuốc dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.

 Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 1975 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?

  Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre,…

  Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại quá phũ phàng?

  Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thể đưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.

  Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần,… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?

 Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ, có khi chẳng mua được thứ gì.

 Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ,… quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

  Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo.

 Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên, bà này chắc có căn phần phúc đức.

  Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong… Thánh.

  Tháng tư năm nay, Sàigòn nóng khủng khiếp. Sàigòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

 Đà Lạt 8 giờ tối đã như 12 giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà như kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm.

 Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân. Cuối tháng tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sàigòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này của kẻ buồn, không nói cho thế hệ sau biết những buồn bã sau 1975 là như thế đó, lòng dạ nào yên?

  Năm 1975 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù có ở phương trời nào, tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn cuộc đời rồi?

  Tháng tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu “…Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người, khi mình còn đôi tay…”.

Vũ Thế Thành


 

Đã tìm thấy nữ tài xế bị lũ cuốn trôi ở Đồng Nai…

Tin Biển Đông 24h

Vậy là không có phép màu! Đã tìm thấy nữ tài xế bị lũ cuốn trôi ở Đồng Nai, đau lòng hiện trường cách 300 m.

Chiều hôm ấy, khi mưa lớn trút xuống Đồng Nai, không ai nghĩ một chuyến xe trên đường Sư Vạn Hạnh lại kết thúc bằng một cuộc tìm kiếm kéo dài suốt hai ngày.

Bà Trần Thị Bích Liên, 46 tuổi, ngụ phường An Lộc, lái ô tô từ hướng Tân Khai về An Lộc. Con đường vốn quen thuộc bỗng trở nên nguy hiểm khi nước từ thượng nguồn dồn xuống.

Khi đến khu vực đập Sở Nhì, dòng nước không còn đơn thuần là nước mưa chảy trên mặt đường. Nó cuồn cuộn đổ về, mang theo sức mạnh đủ để đẩy một chiếc ô tô xuống hồ Sa Cát.

Một số người dân chứng kiến sự việc lập tức tìm cách tiếp cận để cứu người phụ nữ bên trong xe, nhưng dòng nước quá mạnh khiến mọi nỗ lực bất thành.

Chiếc xe nhanh chóng biến mất giữa dòng nước, còn người phụ nữ 46 tuổi cũng không còn tung tích.

Từ khoảnh khắc đó, một cuộc chạy đua với thời gian bắt đầu.

Điều khiến mọi người lo lắng hơn là không ai biết chính xác chiếc ô tô đã bị dòng nước cuốn đi đâu. Hồ Sa Cát rộng, mưa vẫn tiếp tục nặng hạt, nước chảy xiết và tầm nhìn bị hạn chế.

Hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, lực lượng dân phòng cùng người dân được huy động. Flycam được sử dụng để mở rộng phạm vi quan sát trên mặt hồ.

Từng khu vực được rà soát, từng dấu vết được tìm kiếm. Nhưng sau ngày đầu tiên, điều quan trọng nhất vẫn chưa xuất hiện: không có dấu hiệu rõ ràng về vị trí của nạn nhân và chiếc xe.

Sang ngày thứ hai, cuộc tìm kiếm trở nên căng thẳng hơn. Mỗi giờ trôi qua đều khiến hy vọng tìm thấy người phụ nữ càng trở nên mong manh.

Nhưng rồi một diễn biến bất ngờ xuất hiện.

Sáng ngày 24/9, Công an phường Bình Long thông báo lực lượng cứu hộ đã tìm thấy bà Trần Thị Bích Liên.

Vị trí phát hiện nằm tại hồ Sa Cát, cách nơi chiếc ô tô được cho là bị nước cuốn khoảng 300 m.

Sau hai ngày tìm kiếm, cuối cùng gia đình và lực lượng cứu hộ cũng có câu trả lời về số phận người phụ nữ mất tích.

Thế nhưng, cuộc tìm kiếm vẫn chưa thực sự kết thúc.

Chiếc ô tô mà bà Liên điều khiển vẫn chưa được xác định vị trí để trục vớt. Một người đã được tìm thấy, nhưng phương tiện vẫn nằm đâu đó dưới hoặc quanh vùng nước rộng lớn.

Chính chi tiết này khiến câu chuyện trở nên ám ảnh.

Chỉ trong một khoảnh khắc, một con đường quen thuộc đã biến thành nơi nước lũ cuốn phăng cả phương tiện lẫn con người, để lại phía sau hai ngày căng thẳng và hàng trăm người cùng tham gia tìm kiếm.

Điều đáng nói là vụ việc không phải hiện tượng riêng lẻ trong những ngày mưa lớn ở Đồng Nai.

Cùng thời điểm, nhiều khu dân cư và tuyến đường trên địa bàn tỉnh rơi vào tình trạng ngập sâu.

Tối ngày 21/9, chỉ sau hơn hai giờ mưa lớn, nhiều khu vực thuộc các xã Đại Phước, Phước An và Nhơn Trạch đã chìm trong nước, có nơi nước dâng gần một mét.

Trên đường Hùng Vương, đoạn qua xã Phước An, nước từ những khu vực cao dồn xuống với tốc độ nhanh khiến hàng loạt xe máy chết máy. Người đi đường phải xuống xe dắt bộ giữa dòng nước.

Nhưng bất ngờ chưa dừng lại ở đó.

Nước không chỉ chiếm mặt đường mà còn tràn vào nhiều căn nhà hai bên. Người dân phải vội vàng kê cao đồ đạc, tìm cách dùng máy bơm để đẩy nước ra ngoài.

Với những người sống tại khu vực này, cảnh tượng ấy không hoàn toàn xa lạ.

Một tiểu thương tên Thành cho biết gia đình ông đã xây tường chắn nước khá cao nhưng vẫn không thể ngăn được nước tràn vào nhà. Ông phải liên tục dùng máy bơm để cứu đồ đạc.

Điều đáng chú ý là theo lời ông, đây đã là lần thứ ba khu vực này bị ngập chỉ trong riêng tháng 9.

Và phía sau những con số ấy là một câu chuyện khác: người dân đang phải đối mặt với tình trạng ngập lặp lại nhiều lần chỉ trong thời gian ngắn.

Khu vực gần chợ Vĩnh Thanh cũng nhanh chóng trở nên hỗn loạn khi mưa càng lúc càng nặng hạt.

Người dân cho biết mưa kéo dài hơn hai giờ, trong khi nước từ hướng các khu công nghiệp Nhơn Trạch tiếp tục đổ về. Hệ thống cống thoát nước không kịp tiêu thoát khiến nước dâng nhanh.

Đúng lúc nhiều công nhân tan ca, con đường đã trở thành một vùng nước rộng. Có người không thể tiếp tục di chuyển, phải đứng chờ nước rút.

Một chuyến trở về nhà sau giờ làm tưởng như bình thường bỗng biến thành cuộc chờ đợi giữa dòng nước.

Càng đáng lo hơn, tại một số khu vực thấp trũng thuộc xã Thanh Sơn, ven sông Đồng Nai, nước cũng dâng cục bộ. Chính quyền địa phương phải di dời nhiều người đến nơi an toàn.

Những diễn biến liên tiếp ấy cho thấy mưa lớn không chỉ gây bất tiện trong việc đi lại mà có thể nhanh chóng chuyển thành tình huống nguy hiểm khi nước tập trung từ nhiều hướng.

Trong vụ bà Liên, điều đáng sợ nhất có lẽ không nằm ở cơn mưa đơn thuần mà ở tốc độ thay đổi của dòng nước.

Chỉ một thời gian ngắn trước đó, con đường vẫn là tuyến giao thông quen thuộc. Nhưng khi nước từ thượng nguồn đổ xuống mạnh, khu vực đập Sở Nhì trở thành điểm nguy hiểm và chiếc ô tô bị cuốn xuống hồ Sa Cát.

Người chứng kiến có mặt nhưng không thể cứu được nạn nhân.

Lực lượng cứu hộ đến sau đó cũng phải đối mặt với mặt hồ rộng, mưa lớn và dòng nước phức tạp.

Hai ngày tìm kiếm cho thấy thiên nhiên đôi khi có thể che giấu một dấu vết nhỏ bé đến mức nào.

Và khi nạn nhân được tìm thấy cách vị trí chiếc xe bị cuốn khoảng 300 m, câu hỏi tiếp theo lập tức xuất hiện: Chiếc ô tô đang ở đâu?

Đó vẫn là phần chưa có lời giải của cuộc tìm kiếm.

Trong khi đó, thời tiết tiếp tục khiến tình hình đáng lo ngại.

Theo thông tin khí tượng được nêu trong nội dung, trong 48–72 giờ tiếp theo, Đồng Nai tiếp tục có mưa vừa đến mưa to, tổng lượng mưa phổ biến từ 80–130 mm, có nơi trên 130 mm. Đợt mưa lớn được dự báo có khả năng kéo dài đến hết ngày 24/9.

Ở phạm vi rộng hơn, từ chiều ngày 21 đến ngày 24/9, khu vực phía Đông Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng và Nam Bộ được cảnh báo có tổng lượng mưa từ 150–250 mm, cục bộ trên 400 mm, nguy cơ xuất hiện mưa có cường độ trên 100 mm trong 3 giờ.

Những con số ấy không chỉ nằm trên bản tin dự báo. Đằng sau chúng là nguy cơ nước dâng nhanh, đường sá bị chia cắt và những tình huống có thể chuyển từ bình thường sang nguy hiểm chỉ trong vài phút.

Vụ việc đau lòng tại hồ Sa Cát là một lời cảnh báo rõ ràng: khi nước lũ đã tràn qua đường và dòng chảy trở nên mạnh, không nên cố điều khiển phương tiện vượt qua. Chỉ một khoảnh khắc đánh giá sai sức nước cũng có thể dẫn đến hậu quả không thể cứu vãn. 


 

Chuyện… vượt biên! Exodus of Vietnamese Boat People….

Lão Ngoan Đồng 

Chuyện… vượt biên! Exodus of Vietnamese Boat People….

Hay nói cho đúng hơn, đó là một cuộc ra đi khổng lồ của người Việt sau năm 1975, một thảm họa nhân đạo của riêng dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những biến cố di dân đau thương nhất của lịch sử hiện đại.

Đó là một chương sử mà riêng tôi, cũng như rất nhiều người từng trải qua, không muốn nhớ lại. Thế nhưng, có những điều càng muốn quên thì càng không thể quên. Bởi đằng sau hai chữ “vượt biên” không chỉ là một chiếc ghe nhỏ lênh đênh giữa biển cả. Đó là những gia đình bán đi từng món đồ cuối cùng, là những người mẹ ôm con trong đêm tối, là những người cha đem mạng sống của mình đặt cược vào một chuyến đi không biết có ngày trở lại hay không. Và cũng là những người đã ra đi mà không bao giờ tới được bến bờ.

Tôi từng là một trong những người vượt biên sau biến cố tháng Tư năm 1975. Tôi đã đến Philippines và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ. Về sau, tôi cũng là một trong số ít người trở lại làm việc với đồng bào vượt biên thông qua các tổ chức ICMC và UNHCR ở Phi, Mã Lai, Thái lan…  trong những năm cuối của một chặng đường đầy nước mắt, mất mát, khổ ải và chết chóc, kéo dài từ năm 1975 đến năm 1995.

Tôi trở lại không phải để kể câu chuyện riêng của mình, mà để chứng kiến và ghi nhớ câu chuyện của những người kém may mắn hơn. Có người sống sót sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, nhưng phải mang theo những vết thương tinh thần suốt đời. Có người đến được trại tị nạn nhưng không còn cha mẹ, vợ chồng hay con cái. Có người chỉ còn nhớ mang máng tên của những người đã mất, bởi tất cả giấy tờ, hình ảnh và kỷ niệm đều đã chìm xuống biển.

Một câu hỏi thường trở lại trong tâm trí tôi là, vì sao một đất nước có lịch sử mấy ngàn năm, vừa bước ra khỏi một cuộc chiến tranh khốc liệt, lại chứng kiến hàng triệu người tìm cách rời bỏ quê hương trong những năm được gọi là thời bình?

Đó là câu hỏi mà có lẽ nhiều người từng đặt ra, rồi cuối cùng chỉ biết thở dài. Bởi muốn trả lời, người ta phải nhìn lại cả một giai đoạn lịch sử đầy đau đớn, một giai đoạn đã đẩy hàng triệu gia đình vào cảnh túng quẫn, ly tán và tuyệt vọng.

Người dân miền Nam đã gánh chịu chiến tranh trong gần hai mươi năm. Họ từng sống giữa bom đạn, từng nhiều lần bỏ nhà cửa chạy loạn, từng phải dựng lại cuộc đời từ những gì còn sót lại. Nhưng trong chiến tranh, dù gian nan đến đâu, nhiều người vẫn còn có cơ hội học hành, làm ăn, nuôi sống gia đình và hy vọng vào một ngày mai tốt đẹp hơn.

Gia đình tôi cũng từng nhiều lần phải chạy giặc, phải bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn, công việc và những gì đã gây dựng. Từ Bình Định vào Sài Gòn, chúng tôi đã không ít lần phải làm lại cuộc đời. Thế nhưng sau tháng Tư năm 1975, cảm giác mất mát không còn chỉ đến từ bom đạn. Nó đến từ sự thay đổi đột ngột của cả một đời sống, từ công việc, học hành, tài sản cho tới quyền được tự quyết định tương lai của mình.

Những gì xảy ra sau năm 1975 không thể chỉ được tóm gọn bằng câu nói rằng có “triệu người vui, triệu người buồn”. Với rất nhiều gia đình miền Nam, đó là một thời kỳ mà con đường sống dần dần bị thu hẹp. Các chính sách cải tạo công thương nghiệp, kiểm kê và tịch thu tài sản, đưa dân đi vùng kinh tế mới đã làm đảo lộn đời sống của hàng triệu người. Chế độ phân biệt lý lịch tiếp tục ảnh hưởng đến việc học hành, nghề nghiệp và tương lai của con cái họ.

Hàng trăm ngàn sĩ quan, viên chức, cán bộ và những người từng phục vụ cho chính quyền miền Nam bị đưa vào các trại tù được gọi bằng cái tên nhẹ nhàng là “học tập cải tạo”. Nhiều người được hứa rằng họ sẽ trở về trong một thời gian ngắn, nhưng rồi phải ở lại nhiều năm. Gia đình họ sống trong cảnh chờ đợi, thiếu thốn và bất an. Không ít người trở về với sức khỏe suy kiệt, cũng có người không bao giờ trở về.

Trong hoàn cảnh đó, vượt biên đối với nhiều người không phải là một cuộc phiêu lưu, càng không phải là một lựa chọn dễ dàng. Đó là quyết định được đưa ra sau khi mọi cánh cửa khác gần như đã đóng lại. Người ta ra đi vì sợ không còn tương lai cho con cái. Người ta ra đi vì không thể tiếp tục sống trong cảnh thiếu thốn, bị kiểm soát và không nhìn thấy lối thoát. Người ta ra đi vì muốn tìm một nơi mà công sức của mình có thể đổi lấy một đời sống bình thường.

Có người ra đi bằng đường biển. Có người vượt biên qua Campuchia, qua Lào hoặc theo những con đường bí mật khác. Có người đi theo các chương trình di dân có tổ chức, đoàn tụ gia đình, chương trình HO và những chương trình nhân đạo quốc tế. Nhưng trong ký ức của thế giới, hình ảnh tiêu biểu nhất vẫn là những chiếc thuyền mong manh chở đầy người trên biển Đông, những con người đặt sinh mạng vào tay sóng gió.

Theo các thống kê quốc tế và những nghiên cứu lịch sử, trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1995, khoảng 1,5 đến hơn 2 triệu người Việt đã rời khỏi đất nước bằng nhiều con đường khác nhau. Con số chính xác khó xác định, vì nhiều chuyến đi không được ghi nhận, nhiều người mất tích không để lại danh sách, và cách thống kê của từng quốc gia, từng tổ chức cũng không hoàn toàn giống nhau.

Riêng số người sống sót và đến được các trại tị nạn thường được ước tính vào khoảng gần 800.000 người. Họ đến các trại tị nạn ở Đông Nam Á và một số nơi khác, trong đó có Malaysia, Indonesia, Philippines, Hồng Kông, Thái Lan và Singapore. Từ những trại tị nạn ấy, nhiều người được định cư tại Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Đức và các quốc gia khác. Một bộ phận khác phải hồi hương theo các chương trình quốc tế hoặc vì không còn con đường nào khác.

Nhưng những con số ấy chỉ nói được một phần của sự thật.  Không có bảng thống kê nào ghi đủ tên những người chết vì đói khát, bệnh tật, bão tố, đắm tàu hay hải tặc. Không ai biết chính xác bao nhiêu người đã bị ném xuống biển, bao nhiêu phụ nữ bị hãm hiếp, bao nhiêu trẻ em đã chết trong vòng tay cha mẹ. Nhiều người mất tích không bao giờ được tìm thấy. Nhiều gia đình đến được bến bờ nhưng đã mất một nửa, hoặc hơn một nửa, những người thân cùng đi.

Một số nghiên cứu ước tính số người chết hoặc mất tích trên biển lên đến hàng trăm ngàn. Những con số khác nhau không làm cho sự mất mát nhẹ đi. Dù là vài chục ngàn, hàng trăm ngàn hay một con số nào khác, mỗi người mất đi vẫn là một cuộc đời, một gia đình và một khoảng trống không gì bù đắp được.

Riêng trong đợt di tản cuối tháng Tư năm 1975, khoảng 125.000 người đã rời khỏi Việt Nam. Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu của một cuộc ra đi kéo dài suốt hai thập niên. Sau đó là những đợt vượt biên âm thầm, diễn ra trong đêm, ở các bến sông, bến biển và những vùng ven biên giới. Người ra đi không biết mình sẽ tới đâu. Người ở lại không biết bao giờ sẽ nhận được tin. Có những gia đình chờ đợi nhiều năm chỉ để biết rằng người thân của mình đã không còn.

Nhìn lại, không thể phủ nhận rằng nhiều người đã ra đi vì không còn tin vào một tương lai có thể sống được trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Những lời hứa về một xã hội bình đẳng, tự do, no ấm và hạnh phúc từng rất đẹp trên giấy tờ. Nhưng đời sống thực tế lại quá phũ phàng. Khi những khẩu hiệu lớn lao không đem lại cơm ăn, việc làm, quyền học hành hay sự an toàn cho gia đình, người dân chỉ còn biết tự tìm lấy một con đường sống.

Vì vậy, họ xuống thuyền. Họ không mang theo nhiều hành lý. Có khi chỉ vài bộ quần áo, một ít lương khô, vài chỉ vàng giấu kín và một tấm hình gia đình. Nhưng thứ họ mang theo nhiều nhất là nỗi sợ và niềm hy vọng. Sợ biển cả, sợ hải tặc, sợ bị bắt, sợ chết. Nhưng trên tất cả, họ sợ phải tiếp tục sống một cuộc đời không còn lối thoát.

Có người gọi họ là “bỏ chạy”. Có người gọi họ là “phản bội”. Nhưng trước khi phán xét, hãy thử hình dung một gia đình phải bán căn nhà cuối cùng, giao mạng sống cho một người tổ chức xa lạ, rồi chen chúc trên một chiếc ghe nhỏ giữa biển đêm. Không ai biết chắc mình sẽ sống hay chết. Không ai ra đi vì nghĩ rằng phía trước là dễ dàng. Họ ra đi vì phía sau đã trở nên quá tuyệt vọng.

Đó là lý do cuộc vượt biên của người Việt cần được nhìn như một thảm họa nhân đạo, chứ không chỉ như một sự kiện chính trị. Trong thảm họa ấy có những nguyên nhân lịch sử, chính sách và xã hội cụ thể. Nhưng bên dưới tất cả vẫn là những con người bình thường muốn được sống, được làm việc, được nuôi con và được giữ lấy phẩm giá của mình.

Ngày nay, hàng triệu người Việt đang sống ngoài quê hương. Nhiều cộng đồng được hình thành từ những chuyến ra đi năm xưa. Những ngôi nhà, cơ sở kinh doanh, trường học, hội đoàn và thế hệ trẻ ở hải ngoại là kết quả của biết bao hy sinh. Nhưng không nên chỉ nhìn thấy thành công sau cùng mà quên cái giá đã phải trả.

Đằng sau mỗi gia đình định cư được là một chuyến đi đầy hiểm nguy. Đằng sau mỗi người sống sót là những người đã nằm lại dưới lòng biển. Đằng sau mỗi cuộc đoàn tụ là những năm tháng trong trại tị nạn, những lá thư thất lạc, những cuộc chờ đợi mỏi mòn và những nấm mồ không tên.

Tôi viết lại những điều này không phải để khơi thêm hận thù, cũng không nhằm phủ nhận nỗi đau của bất cứ ai trong chiến tranh. Tôi chỉ muốn nhắc rằng lịch sử không nên bị thu gọn thành những khẩu hiệu của bên thắng hay bên thua. Lịch sử còn là tiếng khóc của những đứa trẻ mất cha, là người mẹ đứng bên bến cảng chờ tin con, là người tù cải tạo trở về sau nhiều năm, và là những người đã chết giữa biển khơi mà không có một nấm mồ.

Hai mươi năm, từ 1975 đến 1995, là một khoảng thời gian đủ dài để một thế hệ trưởng thành, nhưng cũng đủ dài để hàng triệu người phải rời bỏ quê hương. Có người đi rồi không bao giờ trở lại. Có người trở lại với thân phận khác, mang trong lòng cả tình yêu lẫn nỗi đau đối với đất nước. Có người đã dành phần đời còn lại để giúp đỡ những người vượt biên sau mình.

Riêng tôi, mỗi lần nhớ về những năm tháng ấy, điều còn lại không phải là những con số. Điều còn lại là khuôn mặt của từng con người, những người đã tin rằng ở phía bên kia biển cả, họ có thể tìm được một cơ hội sống.

Nhưng không phải ai cũng đến được bến bờ.  Có những chiếc ghe mất tích giữa biển khơi, không một lời báo tin, không một tấm bia, không một nấm mồ để người thân tìm đến thắp nhang. Có những người mẹ ôm con cho đến khi kiệt sức. Có những đứa trẻ chết trong vòng tay cha, trong khi người cha vẫn phải tiếp tục cầm lái giữa đại dương để cứu những người còn sống. Có những người vợ, người chồng, người anh, người chị ra đi rồi vĩnh viễn không trở lại, để lại phía sau những gia đình sống nhiều năm trong chờ đợi và hy vọng mong manh.

Những người đã nằm xuống giữa biển cả không phải là những con số vô danh. Mỗi người trong họ từng có một mái nhà, một gia đình, một công việc, một ước mơ và những người thương yêu đang chờ đợi. Họ đã mất mạng trong hành trình tìm lấy một đời sống bình thường, một tương lai cho con cái, một cơ hội được sống với phẩm giá của con người.

Nhờ những hy sinh ấy, nhiều người khác đã đến được bến bờ. Họ sống sót, được định cư, được học hành, làm việc, lập gia đình và xây dựng một cuộc đời mới. Những cộng đồng người Việt ở hải ngoại, những ngôi nhà, trường học, cơ sở kinh doanh và thế hệ trẻ được sinh ra trong tự do, đều ít nhiều được hình thành từ những chuyến đi đầy máu và nước mắt ấy.

Nhưng không nên chỉ nhìn vào những người đã đến nơi mà quên những người đã không bao giờ tới được. Không nên chỉ nói về thành công của người sống sót mà bỏ quên cái giá mà người đã khuất phải trả. Bởi phía sau mỗi gia đình đoàn tụ là một gia đình khác đã tan vỡ. Phía sau mỗi người được định cư là những người có thể đã nằm lại dưới đáy biển. Phía sau sự bình yên hôm nay là những tháng ngày mà bao người Việt kém may mắn đã phải đem chính mạng sống của mình đổi lấy một cơ hội sống cho người khác.

Vì vậy, khi nhắc đến cuộc vượt biên sau năm 1975, xin đừng chỉ gọi đó là một cuộc di dân, một làn sóng tị nạn hay một biến cố chính trị. Hãy nhớ rằng đó còn là một thảm họa nhân đạo, một vết thương sâu trong lịch sử dân tộc và là nỗi đau của hàng triệu con người.

Xin hãy nhớ đến những người đã ra đi trong đêm tối.

Xin hãy nhớ đến những người đã chết giữa biển khơi.

Xin hãy nhớ đến những gia đình bị chia lìa, những đứa trẻ lớn lên không còn cha mẹ, những người sống sót nhưng mang vết thương suốt đời.

Họ đã không chết vô nghĩa. Sự hy sinh của họ đã mở ra con đường sống cho những người đi sau. Nhờ họ, bao người khác đã có cơ hội đặt chân lên đất liền, được sống, được học hành, được làm việc, được nuôi dưỡng con cái và được xây dựng một tương lai mà những người đã nằm xuống không bao giờ được nhìn thấy.

Nhưng chính vì vậy, những người đang sống hôm nay càng phải biết trân trọng tự do, biết thương yêu đồng bào, biết bảo vệ phẩm giá con người và biết nhìn lại lịch sử bằng sự thật, lòng nhân ái cùng sự khiêm nhường.

Biển cả đã giữ lại quá nhiều người Việt.

Những con sóng năm xưa có thể đã lặng, nhưng nỗi đau của những người nằm xuống vẫn còn đó. Nó nằm trong ký ức của những người sống sót, trong những gia đình không còn đủ đầy, trong những bàn thờ không có hài cốt và trong lương tâm của những thế hệ hôm nay.

Chúng ta có thể tiếp tục cuộc đời của mình, nhưng không được phép quên rằng đã có những người Việt kém may mắn hơn phải chết để những người khác có cơ hội sống.  Và đó là điều đau xót nhất, cũng là món nợ lớn nhất mà người còn sống phải mang theo suốt đời.

Huy Phan


 

TÔI BIẾT ƠN NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HÒA – Nguyễn Ngọc Già

Việt Luận – Viet’s Herald 

Nguyễn Ngọc Già

Văn hóa là cội rễ. Giáo dục là dưỡng chất. Quốc gia nào cũng cần hai yếu tố tối quan trọng này để phát triển. Việt Nam không là ngoại lệ.

Nền giáo dục của Việt Nam hiện nay đang bị chỉ trích mạnh mẽ và lên án dữ dội chưa từng thấy.

Trước 1975, bậc tiểu học và cả trung học hầu như chỉ có bộ sách giáo khoa cũ. Nó được “truyền lại” cho đàn em. Đặc biệt, những gia đình nghèo càng coi trọng “của gia truyền” này, bởi lý do đơn giản: Tiết kiệm. Đứa học trò nhà nào nghèo quá, có quyền mượn ở thư viện trường. Nhưng làm dơ, rách thì phải đền.

Đồng phục? Nhà trường chỉ bán “phù hiệu”, mua mấy cái cũng được, về tự may vào áo, phía bên trái ngực trên. Quần áo thì phụ huynh tự lo cho con em mình, với duy nhất yêu cầu (hầu hết là) “áo trắng, quần xanh đen”. Đứa học trò nào nghèo quá, được quyền “thừa hưởng” quần áo cũ của “tiền bối” với duy nhất một yêu cầu: thay phù hiệu. Nếu học đúng trường mà anh chị từng học, khỏi thay, cứ y như vậy, bận đi học.

Thế hệ chúng tôi không được dạy những cái gọi là “cải cách”. Không biết cách đánh vần “cờ lờ mờ vờ” hay “vờ tờ vờ” v.v… Tuy nhiên, chúng tôi vẫn đọc thông viết thạo. Môn Văn Chương, “điểm tám” trở thành tuyệt đối. Hy hữu lắm mới có đứa đạt “điểm chín”, lúc đó phải nói, bài văn vô cùng độc đáo.

Screenshot

Chúng tôi cũng không phải “học thêm, học bớt”. Hồi xưa chỉ có “học phụ đạo” – lớp học cho những đứa học trò nào vì bận phụ giúp gia đình hay học yếu quá, theo không kịp bạn bè. Thầy – Cô thấy thương, tự mở lớp giúp tụi nó. Không tốn tiền bạc gì hết.

Tiếng Việt vốn “đơn âm”, nên chúng tôi không được dạy “tách tiếng” với những “tròn tròn vuông vuông tam giác”. Tiếng Anh vì là “đa âm”, nên Thầy – Cô nào cũng dạy “phải ráng nối âm (linking sound) nha em”. Ví dụ “the voice of freedom” phải nối âm “c” vào âm “of” hoặc giả, không được phép đọc “bờ-ra-xin” để chỉ nước Ba Tây. Thầy – Cô dạy tiếng Anh (hay tiếng Pháp) không bao giờ mắng học trò bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh  là “con vật này hay con thú kia”. Thầy – Cô dạy các môn khác cũng như vậy.

Thời đó, tú tài đôi là “ngon” lắm rồi!

Chúng tôi được dạy mọi điều theo cách giản dị, dễ hiểu mà nhớ lâu. Ví dụ, hai chữ “trách nhiệm”, thầy cô nào cũng giảng nghĩa thật đơn giản mà thấm thía đến kỳ lạ thông qua “hình tròn”. Cô giáo vẽ lên bảng một hình tròn và nói nếu chỉ “khuyết một tí xíu” cũng là “không tròn trách nhiệm”. Chúng tôi không được dạy “thiếu trách nhiệm”. Biết thế nào là “thiếu với đủ”?! Trách nhiệm mà!

Ngoài xe cộ “chạy đầy đường”, trước 1975, Sài Gòn vô cùng hiếm thấy các loại “giáo sư – tiến sĩ”.

Mặc dù thời xưa ở miền Nam Việt Nam, ai cũng biết là đa đảng, nhưng nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa không đào tạo “giáo sư – tiến sĩ chuyên ngành xây dựng đảng”.

Ba Thức nói rằng ông cũng không dạy anh yêu nước. Ông chỉ hướng cho con mình sống có nhân cách và có ích, đừng vì mình mà làm tổn thương người khác

Chính khách thời bấy giờ cạnh tranh gay gắt không thua gì các nước dân chủ bây giờ. Nền chính trị lúc đó, quả xác đáng gọi là “chính trường” như người miền Nam cũng thường gọi: thương trường, vận động trường, kịch trường, phim trường v.v… – nơi phải diễn ra sự cạnh tranh khốc liệt của những tài năng trên các lãnh vực – biểu hiện của tự do đích thực.

Screenshot

Thế hệ những “thằng con nít” như chúng tôi được dạy như ông Trần Văn Huỳnh dạy con trai mình:

“…Có một lần, Thức bỏ nhà đi bụi suốt mấy tháng hè hồi lớp tám. Chính nhờ lời cha dạy, phải học để làm người có ích đã kéo Thức ra khỏi những tháng ngày hư hỏng, trở lại mái trường với một quyết tâm học cho giỏi để gia đình không phải lo lắng vì mình. Ba Thức nói rằng ông cũng không dạy anh yêu nước. Ông chỉ hướng cho con mình sống có nhân cách và có ích, đừng vì mình mà làm tổn thương người khác, thì tự nhiên trẻ con lớn lên sẽ sống có trách nhiệm với mình và đất nước…”.

Tôi mãi mãi biết ơn nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa.

Nguyễn Ngọc Già