Vì sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử?

Xuân Hồng 

Vì sao Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử?

Thấy có một số bạn kết án TT Ngô Đình Diệm đã ” ép” Nhất Linh chết. Mọi thứ đều có nguồn cơn

Văn nhân kiêm chánh trị gia Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sanh ngày 25-7-1905 tại Cẩm Giàng, Hải Dương

Ông là học sinh trường Bưởi Hà Nội. Năm 1923 đậu tiểu học, năm 1924 học y và mỹ thuật ở Hà Nội, nhưng sau đó bỏ ngang hông

Năm 1926, vào Nam Kỳ, qua Miên

Năm 1927, sang Pháp, nghiên cứu nghề báo và xuất bản. Năm 1930, tốt nghiệp cử nhơn khoa học giáo khoa chuyên ngành lý hoá tại Pháp

Trở về nước, Nguyễn Tường Tam dạy học tại trường Thăng Long và Gia Long Hà Nội.

Năm 1932, làm giám đốc báo Phong Hoá.

Năm 1933, thành lập Tự Lực Văn Đoàn. Nhất Linh là cây bút trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn

Hồi năm 1939 Nhất Linh hoạt động chánh trị, lập đảng chống Pháp lấy tên là Hưng Việt sau đổi thành Đại Việt Dân Chính

Năm 1942, Nguyễn Tường Tam sang Trung Quốc hoạt động trong Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội với Nguyễn Hải Thần và Hồ Chí Minh

Sau đó, ông về Việt Nam Quốc Dân Đảng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng (Đại Việt Dân chính đảng hợp nhứt với Việt Nam Quốc dân đảng và Đại Việt Quốc dân đảng)

Năm 1945 Nguyễn  Tường Tam tham gia Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất  làm Phó chủ tịch, Nguyễn Hải Thần Chủ tịch, và là đối lập với Việt Minh

Sau dưới áp lực của Tưởng Giới Thạch, Nguyễn Tường Tam giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chánh phủ Liên hiệp Kháng chiến của ông Hồ Chí Minh

Ngày 5-3-1946, Nguyễn Tường Tam từ chức bộ trưởng ngoại giao và tháng 12-1946 bỏ qua Tàu cùng với cựu hoàng Bảo Đại

Năm 1949, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tuyên bố không hoạt động chánh trị nữa 

Năm 1953, ông lên Đà Lạt ở ẩn, 1958 trở về Sài Gòn hoạt động văn nghệ

Năm 1960 thời VNCH của TT Ngô Đình Diệm, Nhất Linh tham gia thành lập Mặt trận Quốc dân đoàn kết, ủng hộ đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông đảo chánh tấn công dinh Độc Lập nhằm lật đổ TT Ngô Đình Diệm vào ngày 11/11/1960

Vụ đảo chánh bất thành

Những người cầm đầu như Vương Văn Đông, Hoàng Cơ Thuỵ, Nguyễn Chánh Thi chạy thoát sang Cam Bốt

Những chính khách ở lại đều bị bắt gồm: Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Bùi Lượng, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Chữ, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Thành Vinh, Vĩnh Lợi, Trần Tương, Trương Bảo Sơn, luật sư Lê Ngọc Chấn và …..Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

TT Ngô Đình Diệm đã nương tay với Nhất Linh

Tội “xâm phạm an ninh quốc gia” tham gia đảo chánh là tội nặng phải bắt nhốt vô tù, nếu tại ngoại bị giam lỏng thì 3 ngày trước khi xét xử phải bị giam, nhưng riêng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam thì không bị giam ngày nào

Nguyễn Tường Tam bị điều tra sơ khởi tại Nha Cảnh Sát, nha an ninh quân đội và thẩm tòa án quân sự đặc biệt

Ông khai ông không biết gì đảo chánh

TT Diệm cho bắt giam hết các nhân sĩ và lãnh tụ đảng phái và giáo phái khác, không trừ một ai,nhưng trừ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khi ông này vẫn ở nhà chung cư chợ An Đông, tất nhiên bị an ninh canh chừng

Phiên tòa sẽ xét xử ngày 08/07/1963

Chủ tọa phiên tòa “viết thơ mời” Nguyễn Tường Tam chứ không phải ra trát đòi yêu cầu ông ngày đó nhớ đi hầu tòa.

Ai dè ngày  7-7-1963 Nguyễn Tường Tam tự sát bằng thuốc

Ra tòa đặng làm sáng tỏ, cũng là thể hiện bản lãnh người làm chánh trị, nhưng ông không ra tòa, ông tự sát

Chúng ta thắc mắc, vậy rốt cuộc Nhất Linh có dính cuộc đảo chánh TT Ngô Đình Diệm hay không?

Trong một bài viết,con trai ông là Nguyễn Tường Thiết viết:

“Sau này được tiếp xúc với Giáo Sư Nguyễn Thành Vinh, một đàn em cũng là đồng chí của ông cụ, anh Vinh xác nhận với tôi: “Anh Tam đã tuyên bố không làm chính trị, vì vậy anh đứng ngoài, anh chỉ ủng hộ ngầm việc làm của các anh em mà thôi. Tất cả các buổi họp quan trọng trước ngày đảo chánh đều không có mặt anh Tam. Tuy nhiên anh được thông báo mọi diễn tiến. Vì vậy anh Tam biết trước có vụ đảo chánh xẩy ra.”

Nhất Linh có dính cuộc đảo chánh

Ông Thiết viết và lý giải vì sao cha ông là ông Nguyễn Tường Tam được tự do ở nhà trong khi đồng sự, đàn em bị bắt tạm giam hết

(Trích)

” Sự việc không bắt cha tôi, ngoài lý do không có bằng cớ, tôi cho còn là một sự tính toán cân nhắc lợi hại của chính quyền họ Ngô chứ chưa hẳn do cảm tình riêng của ông Diệm đối với ông cụ tôi như nhiều người nghĩ.

Thứ nhất không bắt ông cụ để ông cụ vô can tức là chứng tỏ cho dân chúng biết Nhất Linh không hề bất mãn và phản đối chế độ ông Diệm.

Thứ hai họ nghĩ rằng chặt hết tay chân của ông cụ tôi thì ông cụ tôi còn làm gì được nữa?

Nhưng không bắt bớ không có nghĩa là để cho ông cụ tôi được hoàn toàn tự do.

Trong cuốn “Nhất Linh Cha Tôi” trang 36 tôi ghi lại lời của cha tôi nói với tôi buổi sáng ngày 7 tháng 7, 1963: “Cậu chẳng sợ kết quả (ra tòa) ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau.” (Hết trích)

Nhất Linh chọn ngày song thất 7 tháng 7 năm 1963 tự tử chết là trù và rủa ông Diệm vì ông lên làm Tổng Thống cũng vào ngày song thất

Nhất Linh để lại di ngôn 71 chữ :

“Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử Đối lập Quốc Gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay Cộng Sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do,Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.7-7-1963”

Ông  noi gương ông  Thích Quảng Đức

Có ba nhận định về cái chết của Nhất Linh

Chúng ta hậu thế đọc đủ 3 dòng này

– Ông Nguyễn Văn Lục viết sách nói Nhất Linh “tự tử vì căn bệnh tâm thần” từ trước, tức có chứng bịnh suy nhược thần kinh và ông đã muốn chết từ trước 

-Lê Nguyên Phu nói Nhất Linh chết  “tự tử để tránh khỏi phải ra tòa đối chất với thuộc hạ”

Và thứ ba là của những người chống đối TT Diệm và của gia đình Nhất Linh nói Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tự tử chết để phản đối  sự xâm phạm quyền tự do ngôn luận của chế độ TT Ngô Đình Diệm Ngô, chống lại gia đình trị độc tài

Ai hiểu sao cứ hiểu

Trong lịch sử, từ xưa đã có nhiều trí thức tự chọn cách tự tử một cách tiêu cực để rủ bỏ nợ trần ai

Khuất Nguyên là bậc đại trí thức thời kì chiến quốc, ông ôm giữ tấm lòng tận trung báo quốc với tài năng, đức độ và sự chánh trực của mình.

Thế nhưng có lẽ ông chỉ là một ngọn đuốc lẻ loi, một kỵ binh đơn thương độc mã, cuối cùng Khuất Nguyên ôm bọc đá nhảy xuống sông Mịch La tự trầm

“Tránh điều lỗi, mặc đời xoi mói!

Nén chí xưa, cam nỗi xót xa.

Thánh hiền xưa cũng như ta,

Thẳng ngay mà chết, ấy là chết trong”

(Ly tao-Khuất Nguyên)

Đời Hậu Trần, vua tôi Trùng Quang Đế,Đặng Dung, Nguyễn Súy khi rơi vào tay quân Minh đều tự vẫn, đó là tấm gương trung liệt cho đời

“Đầu bạc giang san thù chửa trả,

Long Tuyền mấy độ bóng trăng soi”

(Đặng Dung-Cảm hoài)

Quan Phan Thanh Giản sau khi giao thành trì cũng tự vẫn để giữ tròn khí tiết

Chúng ta không ca ngợi và đề cao cái chết của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, nhưng cũng không dám phê phán nó, làm chánh trị mà hở chút …tự tử chết thì hao người lắm. Nhưng cũng tôn trọng sự lựa chọn của ông

Chánh trị kiểu ông Thích Quảng Đức cũng là tạo sự kiện chánh trị thôi

Vũ Hoàng Chương có viết bài văn tế Nhất Linh, lấy hai câu kết bài

“Than ôi! Đời chính trị lông hồng gieo núi Thái, ngẩng đầu lên sấm sét vẫn chưa nguôi;

Việc văn chương một tấc để ngàn thu, ngoảnh mặt lại đá vàng sao khỏi thẹn.”

Chúng ta hậu thế, phải đọc và hiểu rõ nguồn gốc, ngọn ngành để tránh bị dẫn đường như người mù trong bóng tối.

Theo FB Nguyễn gia Việt


 

Có một thời như thế đó! – Tác giả: Vũ Đông Hà

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… 

              *****     Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam *****

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp họckhắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… 

Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.    

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

*Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: 

*Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”

* Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và :

“cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”

* Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: 

“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”

* Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận 

* Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.

* Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: 

“Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”

* Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau *”Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”

* Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ! 

Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam,

Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên:

 “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” 

*Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: 

*Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân.*.. 

Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát :

“Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”

* Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên. 

Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên 

*Những Ngày Xưa Thân Ái*của chúng tôi.

*Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai*

*Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em*

*Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù*

*Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…*

Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. 

Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống :

“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”

* Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi . Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi *anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh*, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. 

Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những *”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh”* cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được 

*”Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”*, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những 

*”Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”.*

Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát 

*”Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”* .

Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát 

*”Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”*

Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng 

“*Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” *đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những 

*”Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”*. 

Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là *”ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”*.

Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết 

*”bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”* 

Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. 

Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.

Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy,

Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… 

Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc *”anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…”* khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. 

Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… 

Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. 

Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

*”Nhưng anh bây giờ anh ở đâu*

*con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm*

*tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ*

*Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa*

*nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”*

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung và *”người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” * cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH. 

Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại :

*”Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo”* để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt :

*”Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.*

Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những :

“*Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…

“* Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: 

“*Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…

“* Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ:

 *”Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…*

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng:

–  Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam.

Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những :

*”Bác cùng chúng cháu hành quân” *và *”Tiến về Sài Gòn” *thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản.

Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. 

Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn.. 

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975.

Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi* Con Đường Xưa Em Đi* và đốt đuốc đi tìm xem *Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân* đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

Tác giả: Vũ Đông Hà 

From: Tu-Phung


 

63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Việt Tân 

 63 NGƯỜI DÂN TƯƠNG TÁC VỚI KÊNH CỦA ÔNG LÊ TRUNG KHOA BỊ “BẾ LÊN ĐỒN”

Vừa qua, công an tỉnh Quảng Ngãi đã triệu tập 63 người dân với cáo buộc “tương tác, chia sẻ thông tin xấu độc” trên mạng xã hội. Và kênh mà những người này thường xuyên tương tác là của ông Lê Trung Khoa, người từng bị chính quyền Việt Nam kết án vắng mặt 17 năm tù giam bởi cáo buộc “tuyên truyền chống phá nhà nước”.

Hai trong số 63 người bị triệu tập lần này đã phải đóng phạt 12,5 triệu đồng, những người còn lại “may mắn” hơn chỉ bị răn đe.

Cả một chính quyền cộng sản với hàng triệu tay sai, là công an, dân phòng, bảo vệ dân phố, thế mà lại sợ một người đàn ông ngoài 50 tuổi, lại còn sống cách Việt Nam gần nửa vòng trái đất.

Chỉ vài lời nói của ông Lê Trung Khoa có thể làm cả chế độ cộng sản run sợ. Tại sao? Chỉ có thể là vì những lời ông ấy nói là sự thật, là điều mà chính quyền luôn muốn che giấu. Chế độ này không thể bịt miệng ông Khoa như cách họ vẫn thường làm với dân thường trong nước, nên chỉ biết đe dọa những người yếu thế hơn.

Thay vì tìm cách bịt miệng những người đối đầu, chính quyền nên dành thời gian chăm lo cho đời sống của người dân. Vì cây ngay thì sẽ không sợ bị chết đứng.


 

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

BBC News Tiếng Việt  

50 NĂM ĐỔI TÊN: BẢN SẮC CỦA SÀI GÒN LÀ TỰ DO

Lịch sử, cùng với vinh quang của người này là nỗi tổn thương, mất mát của người khác song hành trong một cộng đồng dân tộc.

Sài Gòn, thủ đô của một Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, được thay tên bằng Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tròn 50 năm [ngày 2/7/1976].

Cái tiếc nhất của tôi là bầu khí trí thức và khoáng đạt của đại học, sự sôi động của báo chí và văn học nghệ thuật thuở đó.

Giờ đây, chúng ta có phố đi bộ Nguyễn Huệ rộng rãi hơn, vẫn có thể dễ dàng thưởng thức một ly nước mía mát lạnh, những chiếc bánh pâté chaud nóng và cà phê ngon ở bất cứ đâu.

Nhưng chắc chắn không thể tìm thấy một môi trường học thuật tự do, cùng cái mã thượng hay sự tôn trọng sự khác biệt chính kiến của nhau như thời đó.

Bạn học, trong chúng tôi, ai theo Việt Cộng, ai theo Thiệu – Kỳ, ai làm mật thám chỉ điểm… ai cũng biết ai. Nhưng chúng tôi vẫn chơi với nhau. Không có đấu tố.

Chúng tôi tự in sách báo, tạp chí… tự do biểu đạt tư tưởng, tự do sáng tác. Chúng tôi chửi Mỹ, giễu cợt Thiệu – Kỳ. Chúng tôi chống chiến tranh, chúng tôi xuống đường và chúng tôi cũng đi lính… diệt Cộng.

Chúng tôi tôn trọng sự khác biệt chính kiến, tư tưởng và lối sống của nhau. Đấy là tự do và chúng tôi không dùng tự do của mình để chà đạp tự do của người khác.

Mời các bạn đọc toàn bài của nhà văn Nguyễn Viện gửi cho BBC trong link bài viết dưới phần bình luận.

#BBCNewsTiengViet #SaiGon #TPHCM #lichsu – BBC News Tiếng Việt

Các bạn đọc bài ở đây: https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cn4d218e8zzo

 

Người hành hương đổ về Tắc Sậy trước lễ Tuyên Phong Chân Phước cha Trương Bửu Diệp

Ba’o Nguoi-Viet

June 30, 2026

CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Mặc dù còn hai ngày nữa mới đến ngày lễ Tuyên Phong Chân Phước Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (Cha Trương Bửu Diệp) nhưng người hành hương từ khắp nơi đã đổ về Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau, trải chiếu ngủ lại để chờ ngày chính lễ đặc biệt này.

Nghi thức Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp sẽ chính thức bắt đầu lúc 8 giờ sáng 2 Tháng Bảy tới đây tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy, nhưng từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người từ các tỉnh Điện Biên, Hưng Yên, Hà Nội, Vĩnh Long… tìm về. Họ đến sớm để có một chỗ nghỉ ở nhà thờ và chờ đợi ngày mà nhiều người nói rằng mình “đã mong từ rất lâu.”

Từ hôm 29 Tháng Sáu, nhà thờ Tắc Sậy đã bắt đầu đón những đoàn người hành hương từ các nơi tìm về dự lễ. (Hình: Chúc Ly/VnExpress)

Nói với báo Thanh Niên, ông Đào Văn Song, 61 tuổi, ở tỉnh Hưng Yên, cho biết mình cùng đoàn người trong làng đi hai xe đò 50 chỗ vào miền Tây. Chuyến đi kéo dài gần hai ngày nhưng cảm giác nhẹ nhõm khi đặt chân đến nơi mình mong muốn.

“Chúng tôi đi sớm mấy ngày vì sợ đông quá không vào được. Vào được tới đây rồi thì yên tâm,” ông Song vui vẻ cho biết.

Còn bà Dương Thị Đâu, 71 tuổi, ở Vĩnh Long, cho biết nhóm của bà đã lên kế hoạch từ nhiều tháng trước khi hay tin lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Diệp sẽ được tổ chức ở Tắc Sậy.

“Đi sớm để có chỗ nằm. Đi trễ đông người quá sẽ khó ở lại. Mình chờ ngày này lâu rồi nên không muốn bỏ lỡ,” bà Đâu nói.

Khi trời dần tối, nhiều người tranh thủ nghỉ ngơi, trong khi một số người vẫn tiếp tục đi lại trong khuôn viên nhà thờ. Không khí khá yên tĩnh dù lượng người đổ về ngày một đông, khác với hình dung của nhiều người về một sự kiện dự kiến đón hàng chục ngàn người tham dự.

Theo báo VnExpress, chiều 30 Tháng Sáu (giờ Việt Nam), Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philipines, quyền tổng trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng của Tòa Thánh Vatican, cũng đã đến Hà Nội để thay mặt Đức Thánh Cha Leo XIV làm chủ sự lễ Tuyên Phong Chân Phước cho Cha Trương Bửu Diệp.

Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh tại Việt Nam, cùng hai Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Năng và Vũ Văn Thiên, chủ tịch và phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã đến đón Đức Hồng Y Tagle.

Đức Hồng Y Luis Antonio G. Tagle (cầm hoa) được Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski, đại diện Tòa Thánh Việt Nam và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đón tại phi trường Nội Bài, Hà Nội. (Hình: Đức Dũng/VnExpress)

Theo Linh Mục Giuse Võ Văn Hoài, chánh sở Họ Tắc Sậy, đây là lần đầu tiên sau gần 500 năm kể từ khi Công Giáo vào Việt Nam, một lễ Tuyên Phong Chân Phước được tổ chức tại Việt Nam thay vì tại Vatican.

Dự trù hôm 1 Tháng Bảy tại nhà thờ Tắc Sậy sẽ có bốn Thánh Lễ từ sáng đến chiều.

Lễ đài 10,000 chỗ ngồi, khuôn viên đối diện nhà thờ Tắc Sậy hiện đã hoàn thiện, sẵn sàng phục vụ giáo dân, khách hành hương dự lễ.

Ngoài ra, còn có khu nhà nghỉ trước lễ dành cho đức hồng y và các đức giám mục, khu ẩm thực sau lễ và nhiều khu chức năng khác.

Các họ đạo trong giáo phận Cần Thơ đã tổ chức Tuần Cửu Nhật cầu nguyện cho đại lễ. Giáo dân vận động được 47,000 phần ăn sáng và 200,000 chai nước uống phục vụ người tham dự; chuẩn bị 1,850 áo lễ tặng các đức giám mục và linh mục, cùng 14,000 phần ăn dành cho khách mời trong sân lễ. (Tr.N)


 

BÁO CHÍ TP HCM: SỐNG SÔI NỔI VÀ CHẾT ÂM THẦM DƯỚI NGỌN CỜ CỦA ĐẢNG

BBC News Tiếng Việt

 BÁO CHÍ TP HCM: SỐNG SÔI NỔI VÀ CHẾT ÂM THẦM DƯỚI NGỌN CỜ CỦA ĐẢNG

(Photo by HOANG DINH NAM/AFP via Getty Images)

Hôm nay, báo giấy Tuổi Trẻ ra số cuối cùng. Những ngày kế tiếp, Tuổi Trẻ chỉ còn phiên bản điện tử.

Báo Người Lao Động, Pháp luật TP HCM, Phụ nữ TP HCM, Thời báo Kinh tế Sài Gòn… thì ngưng hẳn.

Một nền báo chí sôi động hậu 1975 ở Sài Gòn-TP HCM đã “hoàn thành sứ mệnh”.

Như một sự tái hiện lịch sử: Ngày này 45 năm trước, báo Tin Sáng của Lực lượng thứ ba cũng được chính quyền tuyên bố “đã hoàn thành nhiệm vụ”. Tin Sáng là tờ báo hiếm hoi trước 1975 được phép tái bản sau ngày Sài Gòn thất thủ, nhưng thời gian hoạt động cũng không dài.

Cùng nhìn lại nền báo chí cách mạng của thành phố thịnh vượng nhất nước trong 50 năm qua.

#BBCNewsTiengViet #BaochiVietNam #XahoiVietNam #ChinhtriVietNam


 

Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Nguoi-Viet 

 Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Vũ Đình Trọng tổng hợp

Suốt gần 500 năm, mọi nghi thức tuyên Chân Phước liên quan đến người Việt đều diễn ra ở Roma. Lần này, Vatican cử cả một Hồng Y bay sang Cà Mau. Sáng 2 Tháng Bảy, tại một khu đất 5 hécta đối diện nhà thờ Tắc Sậy, hơn 70,000 người sẽ đứng giữa nắng để chứng kiến giáo hội làm điều chưa từng làm cho một linh mục Việt Nam: mang nghi thức tuyên Chân Phước về đúng nơi ông đã sống và chết.

Người được vinh danh là linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp, cái tên giáo dân miền Tây vẫn gọi thân thương là “Cha Diệp.” Ông sinh ngày 1 Tháng Giêng, 1897 tại họ đạo Cồn Phước, An Giang. Thụ phong Linh mục năm 1924 ở Nam Vang. Sáu năm sau, ông về nhận xứ Tắc Sậy, và ở đó cho đến ngày cuối cùng.

Một quyết định không có trong sách giáo lý

Tháng Ba, 1946, chiến sự loạn lạc, quân Nhật bắt giữ cha Diệp cùng hơn 70 giáo dân. Ông được khuyên lánh đi. Ông từ chối, với một câu nói mà sau này trở thành biểu tượng: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Sau lần thứ ba bị gọi đi “làm việc,” ông không trở về. Vài ngày sau, giáo dân tìm thấy xác ông tại một cái ao, vết chém ngang sau ót. Thi hài ban đầu được chôn tại họ đạo Khúc Tréo. Đến năm 1969 mới được cải táng về Tắc Sậy, nơi từ đó trở thành điểm hành hương lớn nhất miền Tây, đón cả người không theo Công Giáo.

Đó là phần lịch sử mà hầu như ai quan tâm đến Cha Diệp cũng đã biết. Phần ít người để ý nằm ở chỗ khác.

Mười ba năm cho một buổi sáng hai giờ

Án điều tra cấp giáo phận mở năm 2013. Hồ sơ hoàn tất năm 2017, chuyển sang Roma. Năm 2019, Bộ Phong Thánh xác nhận đủ căn cứ để khởi sự án. Phải đến 25 Tháng Mười Một, 2024, Đức Giáo Hoàng mới ký sắc lệnh công nhận đây là một vụ tử đạo thực sự, bị giết vì lòng căm thù đức tin, không phải một cái chết ngẫu nhiên giữa thời loạn.

Mười ba năm, để đi đến một buổi lễ kéo dài khoảng hai giờ.

Người chủ trì buổi lễ phong Thánh là Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philippines, Quyền Tổng Trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng, đặc phái viên do Giáo Hoàng Lêô XIV cử sang Việt Nam. Ông sẽ công bố Tông Sắc tuyên phong ngay tại lễ đài, trước sự chứng kiến của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và một số giám mục thuộc Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu.

Bài toán của 70,000 người và một trục đường

Giáo Phận Cần Thơ chia khu vực tổ chức thành hai phần: khu nhà thờ và phần mộ Cha Diệp chứa khoảng 25,000 người; khu đất 5 hécta đối diện làm quảng trường chính, chứa thêm khoảng 47,000. Cộng lại, ban tổ chức tính ra con số chính thức: hơn 70,000. Một lãnh đạo Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Cà Mau nói với báo giới con số thực tế có thể chạm tới 100,000.

Vấn đề không phải là chỗ ngồi. Vấn đề là một con đường.

Trước Trung Tâm Hành Hương chỉ có một trục lộ chính, Quốc Lộ 1. Công an Cà Mau quyết định không bố trí xe trung chuyển, vì thêm xe vào trục đường độc đạo đó chỉ khiến ùn tắc nặng hơn. Giải pháp: khách hành hương xuống xe tại một vòng xoay cách lễ đài 500 đến 700 thước, rồi đi bộ vào. Quốc Lộ 1 đoạn qua Tắc Sậy sẽ cấm xe hoàn toàn từ 4 giờ sáng đến 5 giờ chiều ngày 2 Tháng Bảy. Một bệnh viện dã chiến cùng các trạm y tế vệ tinh được dựng lên. Giáo dân trong giáo phận tự nguyện chuẩn bị hơn 40,000 phần ăn sáng miễn phí.

Không ai ra lệnh phải làm những việc đó. Nhưng tất cả đều được làm, cho một linh mục đã qua đời 80 năm.

Một chi tiết gia đình ít ai nhắc

Có một sợi dây ít xuất hiện trên các bản tin chính thức: Cha Diệp là bác họ của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, cố Tổng Giám Mục Sài Gòn, và được ghi nhận có vai trò dẫn dắt vị hồng y này trên đường tu đạo. Một linh mục xứ nghèo ở Cà Mau, gián tiếp đặt nền cho một trong những vị giáo phẩm cao nhất của Công Giáo Việt Nam sau này, đó là một chi tiết nằm khuất phía sau những con số 70,000 người và hai giờ nghi thức.

Còn một chi tiết nhỏ hơn, mang tính kỹ thuật nhưng cũng đáng nói: theo sổ rửa tội tại họ đạo Cồn Phước, tên thánh chính xác của ông là “Phanxicô,” không có “Xaviê.” Nhưng phần lớn báo chí, kể cả văn bản giáo phận, vẫn dùng song song hai cách gọi, một sự nhầm lẫn nhỏ đã sống lâu hơn nhiều thứ khác.

Ngày 2 Tháng Bảy, khi Hồng Y Tagle công bố Tông Sắc giữa cánh đồng Cà Mau, đám đông 70,000 người đứng đó sẽ không ai hỏi về tên thánh hay những con số hậu cần. Họ đến vì một lý do đơn giản hơn nhiều: gần một thế kỷ sau cái chết của một linh mục nghèo, lòng tin của người dân vẫn đủ lớn để buộc cả Vatican phải thay đổi nơi tổ chức nghi thức. Câu hỏi còn lại, có lẽ không nằm ở giáo hội, mà ở chính những người sẽ đi bộ 700 thước dưới nắng sáng đó: điều gì, sau 80 năm, vẫn kéo người ta về một ngôi mộ ở Tắc Sậy?

***

Khu vực Thánh đường Tắc Sậy được chỉnh trang trước đại lễ Phong Thánh. Hình: Thanh Niên


 

Giết tình nhân và 2 người thân, ông Tây Ninh lãnh án tử

Ba’o Nguoi-Viet

June 26, 2026

TÂY NINH, Việt Nam (NV) – Hơn một tháng sau khi đâm chết tình nhân cùng mẹ và con ruột của bà này, bị cáo Nguyễn Cao Bằng, ở xã Hậu Thạnh, tỉnh Tây Ninh, bị kết án tử hình.

Báo VnExpress hôm 26 Tháng Sáu cho biết, hàng trăm người dân địa phương, trong đó có nhiều trẻ em, dự khán phiên xử lưu động được phát trực tiếp qua màn hình lớn.

Bị cáo Nguyễn Cao Bằng tại phiên tòa. (Hình: VnExpress)

Cáo trạng vụ án cho hay, bị cáo Bằng đã ly hôn, không có nghề nghiệp ổn định trước khi quen bà Mai Thị Thu Trang, 41 tuổi, mẹ đơn thân ở cùng địa phương, hồi tám năm trước.

Hai người thuê nhà trọ tại xã Hậu Thạnh sống chung như vợ chồng.

Đến Tháng Ba, do nam bị cáo không có việc làm, giữa hai người thường xảy ra cãi vã.

Bà Trang sau đó đưa con trai riêng về sống cùng mẹ ruột là bà Huỳnh Thị Điệp, mở quán ăn tại nhà.

Trong sự việc xảy ra vào đêm 19 Tháng Năm, sau khi nhậu xỉn, bị cáo Bằng giấu một con dao Thái Lan để trong cốp xe gắn máy đến nhà bà Trang.

Vừa thấy nam bị cáo, bà Trang và mẹ lớn tiếng chửi bới.

Bị cáo Bằng lần lượt đâm chết bà Điệp và con gái ngay tại chỗ.

Nam thanh niên 22 tuổi, là con trai bà Trang, lao vào ngăn cản cũng bị nam bị cáo đâm một nhát trúng ngực.

Nạn nhân liên tục van xin “Chú tha cho con” nhưng vẫn bị lãnh thêm hơn 10 nhát dao.

Tưởng nạn nhân đã chết, bị cáo Bằng vứt con dao rồi lên xe bỏ đi.

Nhưng khi thấy con trai bà Trang tỉnh lại, gắng gượng lết đi cầu cứu hàng xóm, bị cáo quay lại, la “Tao chết, mày cũng phải chết” rồi giết cho chết nam thanh niên này.

Đám tang ba nạn nhân trong vụ án mạng gây rúng động dư luận hồi tháng trước. (Hình: VietNamNet)

Vài giờ sau, bị cáo Bằng bị bắt giữ khi đang lẩn trốn cách hiện trường khoảng 2 cây số.

Tại phiên tòa, bị cáo Bằng khai rằng mình không chủ ý giết người tình, mẹ cùng con trai của nạn nhân mà chỉ “tình cờ gây án” nhưng bị Hội Đồng Xét Xử bác bỏ.

Đại diện Viện Kiểm Sát cho rằng hành vi của bị cáo “mang tính côn đồ, chỉ vì mâu thuẫn tình cảm đã tước đoạt tính mạng ba người, gây hoang mang trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.”

Khi được cho nói lời sau cùng, bị cáo Bằng gửi lời xin lỗi đến gia đình nạn nhân.

Bản án tử hình được tuyên sau khi tòa kết luận rằng bị cáo “không còn khả năng cải tạo, giáo dục và cần loại bỏ vĩnh viễn khỏi đời sống xã hội.” (N.H.K) [dt]


 

 SỰ HY SINH THẦM LẶNG – Loc Duong

BẢO TỒN TIẾNG VIỆT – HQ Luu

  SỰ HY SINH THẦM LẶNG – Loc Duong

Sau khi hai Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và Nguyễn Thanh Long lần lượt bị mất chức và đi tù vì tham nhũng và buôn thuốc tây giả, chính phủ ta đã đưa một người không biết gì về y tế lên làm bộ trưởng.

Đó là bà Đào Hồng Lan, người có khuôn mặt mũm mĩm, xinh ra phết, vốn là một nhà giáo đã có nhiều đóng góp cho ngành giáo dục nhưng rốt cuộc cũng chẳng đi đến đâu.

Vừa lên ngôi, bà tân Bộ trưởng đã phát động cuộc thi viết về “Sự hy sinh thầm lặng” của ngành y tế. Giải thưởng rất hấp dẫn.

Có nhiều bài viết gửi về. Trong số đó có bài của một em học sinh lớp 6 bị ném ngay vào thùng rác, giống như dân Facebook vẫn hay nói là “bị loại từ vòng gửi xe”.

Bài viết của em như sau:

Người ta cứ bảo bác sĩ, y tá là lương y như từ mẫu, là những chiến sĩ thầm lặng, em thấy không đúng. Cả nước đều biết nếu không có phong bì hay tiền ứng trước viện phí, người bịnh sẽ có nhiều cơ hội bị bỏ nằm nhúc nhích ngoài hành lang, vừa thở vừa chờ cho tới sáng. Hay ai cần thay băng mà không lòi tiền bồi dưỡng ra, sẽ được các nhân viên y tế thay mạnh tay còn hơn đô vật…Cho nên em chỉ thấy những bịnh nhân bình thường như mẹ em mới xứng đáng đoạt danh hiệu “ Sự hy sinh thầm lặng”.

Mẹ em là một cô giáo, ở trong trường thì được chính phủ gọi là kỹ sư tâm hồn, nhưng lúc mẹ em bị bướu cổ phải đi bịnh viện thì không khác gì một con chuột đang bị cả hệ thống y tế xúm vô hành hạ.

Mẹ em phải dậy sớm đi vô bệnh viện lúc 3 giờ rưỡi sáng để lấy số thứ tự. Ba em nằm trên giường cằn nhằn “ Chỉ có ăn trộm mới đi giờ này”.

Em cũng phải đi “ăn trộm” với mẹ em, vì ba em nói chiều nay mắc nhậu, không giữ em được.

Lấy số xong, mẹ em ngồi chờ tới trưa cũng không thấy đọc tên, trong khi có nhiều người tới sau thì lại được mấy cô y tá vui vẻ nắm tay dẫn vô trước. Có một ông ngồi ngủ gục cạnh mẹ em, lâu lâu mở một con mắt ra nói:

“Không có người quen giới thiệu, không có tiền khám dịch vụ thì chị ngủ một giấc đi cho khoẻ tấm thân ngà”.

Tới hồi nghe đọc tên, mẹ em mừng muốn khóc, mẹ chạy lại ô cửa sổ. Cô y tá, khuôn mặt nghiêm khắc, sau khi điền tên tuổi, giấy tờ xong, nói với mẹ em: “Đóng viện phí rồi tới phòng khám số 6”.

Mẹ em nhẹ nhàng hỏi “ Phòng số 6 ở đâu chị ?”.

Cô y tá nạt “ Ở trong miệng chị chứ ở đâu. Đi ra ngoài mà hỏi”.

Tại đây, sau khi chờ mòn mỏi thêm nữa tiếng nữa, mẹ em được vô gặp bác sĩ. Ông bác sĩ, mồ hôi đầy trên mặt và nách, chắc tại phải làm việc quá sức. Nhìn ổng, em không thấy giống bác sĩ chút nào, mà thấy giống mấy người bán keo dán chuột.

Bác sĩ hỏi: “Bệnh sao?”

Mẹ em đang trình bày thì bác sĩ đã ghi xong toa thuốc, ông nói: “Đi chụp X quang và mua thuốc”.

Mẹ em dẫn em ra ngoài, im lặng đi như một xác chết.

Em hỏi mẹ :“ Sao mình chờ hết buổi sáng mà chỉ được gặp bác sĩ không tới 3 phút vậy mẹ ?”.

Mẹ thở dài : “Ở đây, bác sĩ là chủ tịch nước. Con đói chưa, ra mẹ mua xôi con ăn rồi mình ghé quầy thuốc tây mua thuốc”.

“Mẹ không đi chụp phim hả mẹ?”.

“ Không kịp chiều nay đâu con ơi, người ta xếp hàng dài thế kia, để mai mẹ sẽ xin nghỉ dạy thêm một ngày nữa đi chụp”.

Tại quầy bán thuốc tây, cũng lại cảnh xếp hàng và chen lấn. Nhiều người ngồi luôn xuống đất cho đỡ mỏi chân. Em cũng ngồi nhưng mẹ em thì không. Chắc mẹ nghĩ trong bệnh viện mẹ vẫn là cô giáo chứ không phải bệnh nhân bướu cổ. Đứng lâu lắm thì mẹ cũng mua được một loại thuốc, còn hai loại khác người bán bảo rằng “ngành y tế đang thiếu thuốc, chị ra ngoài chợ đen mà mua”.

Mẹ thất vọng, lảo đảo đi ra như người say nắng. Thời may, có một bà tiên mập mạp hiện ra trước mặt cứu nguy. Bà tiên móc từ trong áo ngực ra mấy vỉ thuốc :

“Em có hai loại thuốc chị cần nè, chị lấy em để rẻ cho”.

Nhưng mẹ em cám ơn và nắm tay em lôi đi. Mẹ bảo mẹ sợ mua nhầm thuốc giả của mấy con buôn.

Ngồi trên xe buýt về nhà, em thấy suốt ngày hôm nay khủng khiếp quá.

Bịnh viện đông như kiến. Đông thế nhưng không kiếm ra một nụ cười. Ai cũng gắt gỏng. Ai cũng lê lết chầu chực để được khám qua loa. Mùi mồ hôi, mùi mấy người bịnh khiến em cũng muốn bịnh theo luôn. Vậy mà mẹ em vẫn im lặng chịu đựng. Lúc gần ra về, có cụ già nuôi bệnh, bị móc túi hết tiền, ngồi khóc lóc thảm thiết, mẹ em lẳng lặng lấy ra cho mấy ngàn, không nói một câu.

Mẹ chỉ đổ quạu khi về tới nhà thấy ba em nằm say xỉn, ói tùm lum. Dọn đống ói xong, mẹ lại hấp tấp chạy đi mua nước chanh về cho ba uống giải rượu.

Nhìn theo bóng dáng mẹ chạy đi mua nước chanh, em thấy thương sự hy sinh thầm lặng của mẹ vô cùng, cho nên em viết bài dự thi này. Mong bà Bộ trưởng cho em được giải để em đưa hết tiền lãnh thưởng cho mẹ em trị bịnh bướu cổ. Chứ bịnh viện kiểu này, không có tiền thì chắc mẹ em chỉ có nước sống và trị bịnh bằng niềm tin.

Kính chúc bà Bộ trưởng dồi dào sức khoẻ, ngồi ghế được lâu, suy nghĩ được gì giúp ích cho dân nghèo bịnh hoạn, chứ đừng như ông Bộ trưởng trước, mới ngồi chưa nóng đít đã tham nhũng, phải vô khám ngồi bóc lịch mà nước mắt ổng cá sấu cứ rưng rưng.

Loc Duong


 

SÀI GÒN-Nguồn fb LS Nguyễn Khánh Ngọc

Xuyên Sơn

SÀI GÒN

Sài Gòn sống dễ queo, dân nhập cư làm gì cũng sống được.

Không làm công nhân thì làm bưng bê, không bưng bê trong nhà hàng thì bưng bê ngoài quán cóc.

Không thôi thì sắm cái xe đẩy dạo bán cóc ổi mía ghim, bán bánh tằm,

bán cháo lòng, bán bánh tráng trộn, bán kẹo bông gòn, bán bò bía mặn,

bán xôi dứa ống…

Cái quầy bán cà phê cóc dưới gốc cây có mấy chai nước ngọt với mấy chai cà phê pha sẵn, nuôi sống được một gia đình, dựng vợ gả chồng cho con cũng từ đó.

Ở Sài Gòn thì vui, mấy giờ xuống đường chơi cũng không phải ngại.

Nửa khuya rồi, bạn gọi lâu quá không ngồi với nhau hay thành sinh viên lại chút. Ờ, thì mấy thằng lại ngồi đến tảng sáng, có bia có hột vịt lộn,

có hột gà, có trứng cút lộn, có lẩu, có tôm nhúng mù tạt, có bolero vỉa hè, có ông già như thương binh gẩy guitar hát nhạc lính… rồi có xiếc, có nuốt lửa, có biểu diễn rắn chui vào miệng thò ra ngoài mũi…

Sài Gòn mấy giờ cũng còn thức, 0h cũng được, mà 1h cũng được, 2h cũng được mà 3h cũng được, 4h cũng được mà 5h cũng được.

Sài Gòn có nhiều bar, rượu tràn như suối.

Bên cạnh bar thì cũng có quán nép vỉa hè, cá đuối chấm với nước mắm me.

Dân Sài Gòn thích ăn thịt, phải là rất nhiều thịt.

Cái gì cũng có giò nạc, loại giò to như nắm đấm, cắn ngập răng chấm nước mắm ớt từ cái chén con con để sẵn trên bàn.

Bún bò Huế cũng có giò nạc mà hủ tíu cũng có giò nạc, bánh canh bột gạo cũng có giò nạc mà bánh canh ghẹ cũng có giò nạc.

Ai không thích giò nạc thì đổi thành giò gân, giò móng.

Ăn phở thì phải có giá trụng, có đầu hành, có tương đen, có chén hột gà có chén thịt thêm.

Ăn cơm tấm nhất định phải sườn nướng, mà miếng sườn phải to tẩm đầy gia vị, mỡ tràn ra bên ngoài.

Sài Gòn đi ăn ốc, gọi đủ ốc hương nướng muối ớt, ốc giác xào sa tế, ốc mỡ xào tỏi thì cũng phải có ốc len xào nước dừa.

Ăn vừa ngọt nhiều vừa béo nhiều lại mằn mặn.

Sài Gòn thích bánh mì không, cái gì cũng chấm bánh mì không được, ăn ốc xào sa tế vẫn có bánh mì quẹt sa tế ăn kèm.

Sài Gòn dân chơi, vỉa hè có thùng nước uống miễn phí, có tủ kính bánh mì cho người nghèo.

Có quẹt xe nhìn nhìn liếc liếc phát rồi đi, tức quá thì văng tục câu “..ụ ..á”.

Ờ, thi thoảng mấy anh máu chó cũng đấm cũng đá, cũng đâm cũng chém mà cái này ít thôi, hảo hán xứ nào chẳng có.

Sài Gòn được cái ai giàu thây kệ, ai nghèo thây kệ.

Ngồi cà phê túm tụm trong câu chuyện của mình, còn thằng ngồi kế bên vừa trúng Vietlott thì kệ cụ, uống xong bàn ai nấy trả tiền thôi…

Nguồn fb LS Nguyễn Khánh Ngọc


 

Học dốt còn hơn đốt sách !

 Xuyên Sơn 

Đây là lý do ngành giáo dục suy đồi ấu trĩ, nhồi sọ sau 1975 chúng cướp,

phá hoại những gì để lại thế hệ sau . Với chúng thà giết lầm chứ không bỏ xót!

      Học dốt còn hơn đốt sách !

Ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương.

Nhưng với bản chất bần cố nông chúng đâu biết giá trị của những cuốn sách chúng đốt phá ấy !

Là cả nền dân trí giáo dục & tâm huyết của những tiền nhân đi trước, với chúng đấy là sự ô nhục dù là kẻ thắng cuộc, chúng đem những tư tưởng phát xít vào nghành giáo dục suy đồi & nhồi sọ những thế hệ sau này thành những thành phần ngu ngơ, ngờ nghệch che dấu đi những tội ác man rợ mà chúng gây ra trong lịch sử dân tộc!

Thời chúng tôi còn học Trung học, tức dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, sách tiếng Việt ít nên muốn thi đậu bắt buộc phải dùng sách tiếng Pháp, như Toán hình học, Toán đại số, Toán vật lý…

Học lớp Đệ tứ (lớp 9 bây giờ) mà làm hết cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs gồm 1.144 bài thì nhất, đi thi trung học chắc ăn như bắp.

Thời ấy các tiệm sách lớn như Khai Trí chẳng hạn không có nhân viên bảo vệ mặc đồng phục ngồi gác ở cửa như bây giờ, mà có các nhân viên giả làm khách hàng, trông nom, ngăn chặn những người muốn ăn cắp sách.

Buổi sáng hôm ấy, cậu học sinh này cứ lang thang mở coi hết cuốn này đến cuốn khác ở chỗ các giá sách tiếng Pháp. Việc lấm lét nhìn tới nhìn lui của cậu bé khiến nhân viên trông coi khu sách tiếng Pháp nghi ngờ.

Lúc cậu đi ra, họ giữ lại, sờ ngực áo cậu và lôi ra một cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs quý giá đã nói ở trên.

– Tại sao cậu ăn cắp sách?

Cậu bé tái mặt không nói nên lời. Chiếc phù hiệu trên ngực áo cậu cho biết cậu học trường Pétrus Ký, một trong bốn trường trung học công lập lớn nhất rất nổi tiếng tại Sài Gòn lúc bấy giờ:

Gia Long,

Trưng Vương,

Pétrus Ký,

Chu Văn An.

– Hừ, học sinh trường Pétrus Ký mà ăn cắp sách! Tôi gọi cảnh sát đến bắt để cậu chừa cái thói đó đi!

Họ lôi cậu bé tới chỗ quầy thâu tiền của cô thâu ngân viên, nhờ cô giữ cậu giùm rồi đi gọi cảnh sát.

Cậu bé sợ hãi khóc như mưa như gió:

– Lạy chị, nhà em nghèo không có tiền mua sách, chị nói với chú ấy tha cho em đừng gọi cảnh sát…

Cậu bé khóc quá khiến cô thâu ngân viên cũng thấy mủi lòng:

– Ba má em làm gì mà nghèo?

– Ba em chết, má em quét chợ An Đông…

– Mẹ quét chợ An Đông mà con học Pétrus Ký? Em học đến đâu rồi?

– Dạ thưa quatrième année.

Chị tha cho em, nếu cảnh sát bắt, đưa giấy về trường em bị đuổi học tội nghiệp má em…

– Các em quen với tiếng Pháp lắm phải không?

– Dạ.

– Bởi vậy nên mới lấy trộm sách Pháp. Bằng bấy nhiêu mà đã học lớp Đệ tứ, sắp thi Trung học là giỏi lằm.

Nhưng chú ấy đã đi gọi cảnh sát thì biết làm sao…

Cậu bé sợ quá lại khóc…

Từ đầu đến giờ có một ông đã lớn tuổi, ăn mặc lịch sự vẫn đứng theo dõi câu chuyện.

Thấy cô thâu ngân nói thế,

ông bảo cô ta:

– Thôi được, cuốn sách giá bao nhiêu để tôi trả tiền. Học trò nghèo mà, lấy một cuốn sách, lỡ bị đuổi học tội nghiệp…

Cô thâu ngân viên chưa biết giải quyết thế nào thì đúng lúc đó ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách mà mọi người vẫn gọi là ông Khai Trí, từ ngoài đi vô.

Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì.

Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân.

Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:

– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…

Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:

– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…

Ông bắt tay, cám ơn ông khách lần nữa rồi đi vào trong.

Ba năm sau, nghe nói cậu bé đậu xong Tú tài phần II, được học bổng du học nước ngoài, hình như sang Canada.

Thời gian qua đi.

Một năm sau biến cố lịch sử 1975, nhà sách Khai Trí bị tịch thu,

mới đầu người ta đặt tên là nhà sách “Ngoại văn”, sau đó đổi thành nhà sách “Fahasa” (viết tắt của 3 chữ “Phát hành sách”), hiện nay lại đổi lần nữa thành nhà sách “Sài Gòn”.

Hồi ấy nhà sách Khai Trí là nạn nhân của nạn hôi của, đốt phá, sách vở tung toé khắp nơi từ trong nhà sách ra ngoài đường, nhiều người đã chính mắt chứng kiến cảnh ấy trong nỗi bất lực…

Kho sách 60 tấn bị tiêu hủy.

Ông Khai Trí bị đi cải tạo vì tội “biệt kích văn nghệ”.

Sau khi được thả, ông sang định cư bên Hoa Kỳ.

10 năm sau, ông ở Mỹ về Việt Nam một lần nữa, mang theo hy vọng làm được một chút gì cho đất nước.

Ông đã mang về 2.000 đầu sách để tiếp tục làm văn hoá.

Sách bị tịch thâu với lý do: in trước 75.

Phần lớn sách bị tịch thâu là các loại sách Học Làm Người, báo chí quý hiếm trước 1954, như bộ Loa rất nổi tiếng..

Sách ông mang về ai cũng biết là sách về giáo dục, sách hiền, sách tốt cả.

Mà dại gì ông mang sách dữ, mà làm gì kiếm ra đâu được sách dữ.

Nó chỉ có một cái tội:

Tội đã in trước 1975…

Ông đau lòng vì sách, ôm đơn đi kiện. Kết cục chẳng đi đến đâu.

Ông buồn bã nói:

– Chắc… năm 3.000 thì họ trả…

Ông mất năm 2005 tại Sài Gòn.

Trước khi ông mất, người ta đã “không quên” đặt tên ông cho một con phố nhỏ (!?!).

Một buổi chiều, người ta thấy một “ông già” khoảng ngoài 70 tuổi, ăn mặc theo lối Việt kiều, đứng ngắm trước cửa nhà sách Sài Gòn với nét mặt buồn buồn rồi bước vào hỏi thăm các cô bán sách về ông Khai Trí,

các cô nói hình như ông đã mất cách đây đến hàng chục năm.

“Ông già Việt kiều” lại ra đứng ngắm trước cửa tiệm sách hồi lâu, lấy khăn giấy lau nước mắt, chắp tay hướng lên trên trời khẽ vái ba vái rồi đi.

Không ai biết ông ta là ai cả…

Nguồn fb Yến Hải Âu

Trong hình:

Ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương.