Vụ án sách Chuyện với Thanh: Tổ chức nhân quyền kêu gọi trả tự do cho ông Nguyễn Thành Nam và những người liên quan (BBC)

BBC

22 tháng 7 2026

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch – HRW) hôm 22/7 đã kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho ông Nguyễn Thành Nam và bốn người liên quan đến việc xuất bản và quảng bá sách Chuyện với Thanh Lời kể mới về ánh sáng.

“Chính quyền Việt Nam cần ngay lập tức hủy bỏ mọi cáo buộc đối với cả năm người và phóng thích họ vô điều kiện,” HRW viết trong thông cáo.

Vào ngày 7/7, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hà Nội cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Nguyễn Thành Nam và ông Trần Việt Anh để điều tra về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Ông Nam là tác giả sách Chuyện với Thanh Lời kể mới về ánh sáng, còn ông Trần Việt Anh là nhà sáng lập của Spiderum – một mạng xã hội được quảng bá là nền tảng chia sẻ tri thức của người Việt Nam.

Sau khi bị bắt, ông Nam và ông Việt Anh đã xuất hiện trên sóng truyền hình VTV1, thú nhận hành vi của mình, tương tự như những gì mà đài này kết hợp với công an thường làm trong các vụ án được dư luận quan tâm khác.

Sau đó, công an tiếp tục bắt giữ ba lãnh đạo chủ chốt của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, gồm bà Nguyễn Thúy Hằng, ông Đào Bá Đoàn và ông Nguyễn Văn Yên, cũng với các cáo buộc tương tự.

Bà Elaine Pearson, Giám đốc khu vực châu Á của HRW, được trích lời trong thông cáo nêu trên: “Làn sóng bắt giữ vì một cuốn sách về Hồ Chí Minh gửi một thông điệp lạnh gáy đến toàn bộ giới nhà văn, nhà báo và xuất bản rằng tuyên ngôn về kỷ nguyên ‘vươn mình’ mới chỉ có nghĩa là gia tăng đàn áp.”

“Phản ứng cực đoan về cuốn sách thể hiện rằng ngay cả những nhân vật thành danh trong các lĩnh vực kinh doanh, xuất bản và báo chí cũng không được an toàn trước giới bảo thủ của Đảng Cộng sản,” bà Pearson nói thêm.


 

Những trại cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Vết thương chưa lành trong lịch sử Việt Nam.

Đoàn Xuân Thu

 Những trại cải tạo sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 – Vết thương chưa lành trong lịch sử Việt Nam.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa và sự thống nhất đất nước dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng phía sau hình ảnh xe tăng do Trung Cộng cung cấp tiến vào Dinh Độc Lập, phía sau những buổi lễ chiến thắng và những lời tuyên bố về “giải phóng”, là một chương lịch sử đầy đau thương đối với hàng trăm ngàn con người bị đưa vào hệ thống trại được CS gọi là “học tập cải tạo”.

Hai chữ “cải tạo” nghe có vẻ nhẹ nhàng, thậm chí mang ý nghĩa giáo dục và sửa chữa sai lầm. Nhưng đối với hàng trăm ngàn quân nhân, viên chức, trí thức và những người từng phục vụ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đó lại là khởi đầu của những năm tháng mất tự do, đói khát, bệnh tật và tuyệt vọng.

Những tờ giấy triệu tập và lời hứa cuội “học tập vài ngày”

Sau tháng 4 năm 1975, chính quyền CS kêu gọi các sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, công chức, cảnh sát, nhân viên hành chính ra trình diện để “học tập cải tạo”.

Nhiều người đã ngây thơ tin rằng đây chỉ là một khóa học chính trị ngắn hạn nhằm giúp họ hiểu đường lối mới. Có người mang theo vài bộ quần áo, một ít thức ăn, nghĩ rằng chỉ vài ngày hoặc vài tuần sẽ trở về với gia đình.

Nhưng thực tế hoàn toàn khác. Nhiều sĩ quan cấp cao, từ tướng lãnh đến sĩ quan cấp thiếu úy trở lên, cùng hàng loạt công chức các cấp, bị đưa đi giam giữ trong các trại nằm rải rác từ Nam ra Bắc. Một số người chỉ trở về sau vài tháng, nhưng nhiều người phải trải qua từ 5 năm, 10 năm, thậm chí hơn 15 năm trong cảnh bị CS tù đày.

Đặc biệt, nhiều sĩ quan cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị đưa ra các vùng rừng núi xa xôi như Hoàng Liên Sơn, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, hoặc các vùng rừng thiêng nước độc ở miền Trung và Tây Nguyên.

“Cải tạo” bằng lao động khổ sai.

Một trong những đặc điểm khắc nghiệt nhất của hệ thống trại cải tạo là việc sử dụng lao động nặng nhọc như một phương tiện “giáo dục”.

Những người từng là bác sĩ, giáo sư, kỹ sư, sĩ quan chỉ huy, công chức văn phòng bị buộc phải lao động chân tay: phá rừng, khai hoang, trồng trọt, làm đường, đào mương, chặt cây.

Đối với những người đã lớn tuổi, sức khỏe yếu hoặc từng bị thương trong chiến tranh, công việc này trở thành thử thách sinh tử.

Có những cựu quân nhân từng kể lại cảnh phải đi hàng chục cây số vào rừng đốn củi, đào đất trong điều kiện thiếu dụng cụ, thiếu thuốc men. Một tai nạn lao động nhỏ cũng có thể trở thành nguy hiểm vì trại giam cách xa bệnh viện và thiếu phương tiện chữa trị.

Cái đói – nỗi ám ảnh lớn nhất.

Trong ký ức của nhiều cựu tù nhân cải tạo, cái đói là một trong những nỗi ám ảnh sâu sắc nhất.

Khẩu phần ăn nghèo nàn thường chỉ gồm một ít cơm độn với khoai, sắn, bo bo hoặc rau rừng. Những người tù phải tìm kiếm thêm thức ăn trong tự nhiên như lá cây, củ rừng, hoặc trao đổi với người dân địa phương để tồn tại.

Nhiều người từ những gia đình khá giả, từng có địa vị xã hội, khi ra khỏi trại chỉ còn da bọc xương, sức khỏe suy kiệt.

Có người đã không sống sót để trở về với vợ con.

Những cái chết âm thầm trong rừng sâu.

Không có những bản án tử hình công khai, không có tiếng súng xử bắn trước pháp trường, nhưng nhiều người đã chết dần trong các trại cải tạo vì đói rét, bệnh tật và kiệt sức.

Những căn bệnh tưởng như có thể chữa trị trong điều kiện bình thường như sốt rét, kiết lỵ, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng cũng có thể trở thành nguyên nhân tử vong trong môi trường thiếu thuốc men.

Nhiều gia đình ở miền Nam trong nhiều năm không biết người thân của mình còn sống hay đã mất. Một số chỉ nhận được tin qua những người tù được thả về hoặc qua những nấm mộ đơn sơ nằm lại nơi rừng núi xa xôi.

Đằng sau mỗi cái tên là một gia đình tan nát: người vợ chờ chồng, người mẹ chờ con, những đứa trẻ lớn lên mà thiếu bóng cha.

Những người trí thức cũng trở thành tù nhân. Điều đặc biệt của hệ thống cải tạo sau 1975 là không chỉ giới hạn trong quân đội.

Nhiều giáo sư đại học, giáo viên, bác sĩ, nhà văn, nhà báo, công chức dân sự cũng bị đưa đi cải tạo vì từng làm việc cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Một xã hội muốn tái thiết sau chiến tranh cần sự tham gia của mọi tầng lớp, nhưng thay vì tận dụng nguồn nhân lực trí thức, nhiều người trong số họ lại bị CS loại khỏi đời sống xã hội trong nhiều năm.

Hậu quả không chỉ là những mất mát cá nhân mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của đất nước.

Từ “hòa giải” đến những câu hỏi của lịch sử.

Sau nhiều thập niên, vấn đề trại cải tạo vẫn là một đề tài gây tranh luận.

Những người từng trải qua thời kỳ đó cho rằng họ đã chịu sự đối xử bất công, bị tước đoạt tự do mà không qua một phiên tòa độc lập, và phải trả giá cho một cuộc chiến mà họ không phải là người duy nhất quyết định.

Đối với nhiều người Việt hải ngoại, ký ức về trại cải tạo trở thành một phần quan trọng trong lịch sử di dân sau năm 1975. Chính những kinh nghiệm đau thương ấy đã khiến hàng trăm ngàn người tìm đường vượt biển, rời bỏ quê hương để tìm tự do.

Bài học về nhân quyền.

Lịch sử của các trại cải tạo sau năm 1975 nhắc nhở một điều căn bản: khi một chính quyền có quyền lực tuyệt đối nhưng thiếu cơ chế kiểm soát, con người rất dễ trở thành nạn nhân của những quyết định chính trị.

Chiến tranh có thể kết thúc trên chiến trường, nhưng hậu quả của chiến tranh vẫn tiếp tục trong số phận của con người.

Những người đã chết trong các trại cải tạo không chỉ là những con số thống kê. Họ là những người cha, người chồng, người con; họ có tên tuổi, gia đình, ước mơ và một cuộc đời đã bị thay đổi bởi lịch sử.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng câu chuyện về các trại cải tạo vẫn còn đó như một lời nhắc nhở rằng tự do, công lý và nhân phẩm của con người luôn cần được bảo vệ.

Bởi vì một dân tộc muốn bước tới tương lai không thể chỉ nhớ những chiến thắng, mà còn phải can đảm nhìn lại những nỗi đau của quá khứ.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập – Bích Lan

Duc Thong DO 

THƯƠNG THAY NHỮNG NGƯỜI VỢ HIỀN TẦN TẢO NUÔI CON VÀ THĂM NUÔI CHỒNG BỊ TÙ CẢI TẠO TẠI MIỀN BẮC, MIỀN TRUNG VÀ MIỀN NAM.

***** 

1- THĂM CHỒNG BỊ CẢI TẠO TẠI MIỀN BẮC

Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập

Bích Lan

“Thương anh mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”

Đường Saigon – Hà Nội dài hơn 1700 km, có mấy núi, mấy sông, ngàn vạn cái đèo cũng không ngăn được bước chân những chinh phụ đi tìm chinh phu trong ngục tù của VC.

Năm 1979, tôi từ Nam ra Bắc lần đầu tiên, xuống ga Hà Nội, tới bến xe Kim Liên để về Ninh Bình, quê chồng, nơi mà năm 1954 khi đình chiến anh mới được 12 tuổi mà đã một mình dám theo các cô chú họ hàng vào Nam, xa lìa cha mẹ anh em.

Hơn 20 năm sau, anh trở về quê hương đất Bắc tay trong cùm, chân mang xích. Tôi đến Ninh Bình để đón mẹ chồng cùng lên thăm chồng tôi ở trại Tân Lập, vì bố mẹ chồng tôi đã thăm anh mấy tháng trước và đã biết được trại tù này.

Thân gái dặm trường nên khi xuống ga Hà Nội, tôi nhìn quanh để tìm bạn đồng hành, tất cả lem luốc như có gì mặc nấy, thanh niên, thiếu nữ, ông già, bà lão v.v.. mặc giống nhau, cùng một mầu, mầu “bộ đội” với dép râu, nón cối, xe đạp.

Tôi thoáng trông thấy một chị y phục tươm tất nổi bật trong đám đông ấy và có lẽ chị cũng cùng tâm trạng, cùng hoàn cảnh như tôi khiến chúng tôi tiến gần lại nhau, và chúng tôi là những chinh phụ đi tìm chồng giữa chốn “hỗn quân”. Đám đông nhìn chúng tôi, người Hà Nội nhìn chúng tôi với thái độ vô cảm, họ chỉ trỏ, soi mói, thì thào với nhau, họ biết chúng tôi là người từ miền Nam, người Sài Gòn, “Vợ ngụy”. Chúng tôi đứng với nhau một lúc cảm thấy mình không lẻ loi; rồi chị bạn có thân nhân ở Hà Nội đón và tôi lại cô đơn, một mình.

Ở bến xe Kim Liên, những đứa nhỏ bằng tuổi con tôi, từ 7 tới 10 tuổi, chúng líu lo chen chúc quanh tôi nghe rất là dễ thương, tôi đã nép mình sang một bên đường và nhường lối cho chúng đi qua nhưng vẫn bị chen lấn. Mấy phút sau chúng tản mát đâu hết, tôi chưa kịp hỏi han các em lời nào. Thấy các em, tôi nhớ đến con tôi, mới đi có mấy ngày mà nhớ con quá, các con còn nhắc mẹ là nhớ hôn bố thay các con.

Tôi nhìn lại túi xách tay nhỏ, chết rồi! Tiền bạc và giấy tờ của tôi đã mất! Không lẽ những trẻ thơ chỉ bằng con mình đã lấy của mình rồi chăng? Nhưng ngoài các em ra, có ai chen lấn gì tôi đâu, nhưng tôi đã mất đồ thật rồi! Trong cảnh bơ vơ, lần đầu tiên về quê chồng nơi xứ Bắc này tôi phải làm gì đây?

Tôi vào đồn công an bến xe Kim Liên để khai báo. Mấy người công an tiếp tôi hờ hững như chẳng có chuyện gì quan trọng, như là chuyện thường ngày, một người đưa cho tôi tờ giấy và cây viết, cộc lốc:

– Khai đi.

Mấy phút sau, tôi nộp lại tờ khai mất giấy tờ, tiền bạc và quan trọng nhất là giấy xin thăm nuôi, tên công an vừa đưa tờ giấy và viết cho tôi trước đó 15 phút quát:

Tôi bảo chị mất cắp gì thì khai vào tờ giấy này, còn lôi thôi gì nữa không?

Tôi trả lời: “Tôi khai rồi đây này”.

Hắn cầm tờ giấy lật qua lật lại, nhìn tôi chầm chầm, mấy tên ngồi gần đó và cả mấy tên đứng quanh đó trố mắt nhìn tôi, một tên nào đó thốt lên:

– Nhanh thế!

Tôi không quan tâm tới gì họ nói, họ muốn “khai” bao nhiêu tôi “khai” cho họ là xong, nhưng trước mắt, không giấy tờ tiền bạc làm sao tôi về đến quê chồng, và còn vào trại tù thăm chồng trong lúc khó khăn này!

Tôi đứng chơ vơ lẻ loi trong đám đông hỗn độn và hỗn hào trong bến xe, cùng tắc biến, tôi hỏi thăm đại một người đường về quê chồng. Trời thương, may gặp được người cùng làng của cha mẹ chồng, vài lời thăm hỏi, và biết hoàn cảnh của tôi, bác đã nhận lời giúp trả tiền xe và đưa tôi về nhà cha mẹ chồng. Bác an ủi tôi, bác bảo:

– Bác là người cùng làng, cùng họ hàng nên cháu đừng sợ.

Tôi cảm thấy bớt cô đơn.

Ngồi trong cái xe cũ kỹ về Ninh Bình, đến một làng có ngôi thánh đường khá lớn, xa xa có dãy núi, trên đỉnh núi thật cao ấy có cây thánh giá sừng sững giữa trời. Làng của chồng tôi đây sao? Lấy chồng năm 20 tuổi tôi đã theo đạo của chồng. Trước khi vào nhà cha mẹ chồng, đi ngang qua ngôi Thánh đường, tôi đã cầu xin Chúa cho được gặp chồng và xin cho anh được bằng an.

Xuống xe đầu làng, thấy một thanh niên đi tới, không chờ họ nói mà tôi hỏi trước:

– Này, em có phải là em của anh Chiến không?

Cậu ta ngẩn người ra và hỏi lại tôi:

– Sao chị biết.

– Chị là chị Chiến đây, trông em giống anh ấy quá.

Chú ấy chở hai giỏ quà sau xe, tôi đi bộ theo, trên đường vào làng mọi người túa ra thăm hỏi, những đứa trẻ miệng trầm trồ, có đứa còn nói lời chào “Chào chị Chiến”. Trẻ con ở đây lễ phép hơn. Cha mẹ chồng tôi đã vào Nam thăm mẹ con tôi năm 1977 nên tôi cũng không xa lạ với ông bà, tôi được sống trong những giây phút ấm áp đó.

Qua một đêm ở nhà cha mẹ chồng, họ hàng, dân làng đến thăm hỏi, họ cũng muốn tìm hiểu đời sống của người miền Nam. Khách đầy nhà, một người nói rằng hồi nhỏ học cùng lớp với chồng tôi, thấy tôi người Huế, anh nói với tôi:

– Này chị Chiến, năm 1973 đơn vị tôi bao vây một cái đồn ở Huế, nghe tin Chiến ở trong đó nên tôi rút quân không đánh nữa.

Thoáng nghĩ: “Lại có mấy cái máy lạnh đặt ở công viên” nữa rồi, tôi trả lời anh:

– Ông xã tôi chỉ ở miền Nam, không có ở Huế.

Sáng hôm sau mẹ chồng tôi và tôi lại lên Hà Nội, đi xe lửa chợ từ Hà Nội lên Yên Bái, xuống ga Ấm Thượng, tầu chở người và súc vật chung, người và vật chen chúc hôi hám. Tôi và mẹ tôi không có chỗ ngồi vì phần đông là bộ đội, họ đã chiếm hết chỗ rồi, họ nói chuyện như cãi lộn, hò hét, chửi thề, văng tục, họ chẳng biết nhường chỗ cho người già và phụ nữ. Tôi và mẹ tôi phải vịn thanh sắt, chân kẹp chặt giữ mấy giỏ đồ, đứng liên tục 10 tiếng đồng hồ từ 5 giờ chiều tới 3 giờ sáng mới tới ga Ấm Thượng, trong khi đó họ ngồi, họ chiếm cả chỗ…

Trong toa tầu ánh đèn lờ mờ, con tàu lắc lư, một tên thừa cơ tranh sáng tranh tối, đưa tay sờ ngực tôi, mẹ tôi đứng cạnh tôi trông thấy bà la lên:

– Ấy, ấy, đó là con dâu tôi đấy, nó có chồng 3 con rồi đấy mấy chú ơi.

Mặc cho bà la, chúng cười nham nhở và còn bảo: “Thế à”! … cười nói khả ố…*

Tôi nói mẹ đừng la nữa, tầu sắp đến ga rồi, coi chừng mấy giỏ quà giúp con.

Mẹ con tôi xuống ga Ấm Thượng và phải nằm chờ tới sáng, ga trống vắng lạnh lẽo, lại phải ở chung với chó, lợn, gà. Trời đêm mưa phùn, gió rét, tôi nghe tin hôm qua có một anh tù cải tạo bị chết đuối.

Bàng hoàng, xúc động, tôi ôm mẹ và khóc, mẹ chồng tôi sau hơn ¼ thế kỷ mới gặp con, có biết bao điều để nói, nhưng với cái nhiễu nhương trước mắt mẹ cũng chỉ biết cầu xin.

– “Cầu cho tất cả được bình yên trở về, ngủ đi con, ngày mai còn phải đì đò rồi đi bộ mười mấy cây số vào trại, ngủ đi con.

Từ ga Ấm Thượng vào trại Tân Lập phảỉ đi đò ngang qua sông Hồng nước chảy xiết, con đò mong manh xuôi theo giây cáp, tròng trành như sắp bị cuốn trôi đi theo dòng nước. Lên đò lại phaỉ đi bộ hơn 20 cây số đường rừng, bùn đất gập gềnh, mẹ tôi thấy tôi đi không nổi nên cứ dành gánh những gói quà.

Vào tới trại thì đã xế chiều, trình giấy tờ, lại phải ngủ qua đêm trong khí hậu núi rừng lạnh thấu tim gan để qua ngày hôm sau mới được gặp anh! Lại một đêm trằn trọc, đêm đầy tiếng kẻng, mỗi lần nghe tiếng kẻng từ trong trại dội ra là tôi lại ôm mẹ, nghĩ tới anh qua hình ảnh các bạn anh mà tôi đã thấy trên đường vào trại, các anh cũng đã vui mừng khi nhìn thấy chúng tôi nhưng không còn vóc dáng ngày nào, an phận! Chịu đựng! Vậy là hết rồi sao!

Sau 15 phút ngồi đối diện với chồng, có mẹ chồng bên cạnh, tôi chẳng nói được gì với anh cả. Chúng tôi chỉ mới nói chuyện gia đình mạnh khỏe, con cái học hành là đã hết 15 phút! Chỉ muốn nắm tay anh mà cũng chẳng được vì tên cán bộ ngồi đầu bàn cứ chằm chặp nhắc nhở “Anh chị phải giữ nếp sống văn hóa”! Văn hóa gì đây hỡi trời?

Chồng tôi nhận quà, tôi chỉ dặn được vài câu anh cố gắng giữ sức khoẻ thế nào cũng có ngày đoàn tụ, còn chồng tôi thì nói em cố gắng lo cho các con, đừng lo cho anh.

Chồng tôi lại phải vào trại, anh đi được vài bước, quay lại, bước đi, ngoái cổ lại phía sau. Lòng tôi bối rối, đau như cắt, thình lình tôi gọi to:

– Anh!

Chồng tôi dừng lại, tôi chạy thật nhanh, ôm chầm lấy chồng và hôn anh, hôn lấy hôn để, tên cán bộ nhìn thấy thế, anh ta ú ớ:

– Ơ cái anh chị kia, nhớ giữ gìn nếp sống văn hóa chứ.

Mấy người tù trẻ, có lẽ là tù hình sự, đứng vỗ tay như là ở cái xã hội Bắc Kỳ này chuyện vợ chồng hôn nhau chỉ có trong phim. Mặc cái gì là văn hóa, cái gì là nội qui, nhớ chồng quá, ai nói gì mặc kệ, bao năm xa cách, đi từ Nam ra Bắc cũng chẳng được cầm tay mà chỉ ngồi nhìn nhau 15 phút thôi sao! Tình người và tình vợ chồng ở nơi đây cũng trở thành gỗ đá ư!

Cái hôn đầu tiên, ngày nào ấy năm 1968, anh đã ôm hôn tôi sau bánh xe Jeep, còn tôi chỉ biết chịu trận, run rẩy. Ngược lại, hôm nay trong hoàn cảnh éo le này, chồng tôi chỉ như khúc cây để cho tôi sờ mặt, hôn anh trong một phút bất thần vì nhớ nhung. Không biết khi vào trại anh có bị hình phạt gì không?

Sau này, những khi ôn lại chuyện thăm chồng, vợ chồng tôi đã đùa với nhau là hai cái hôn sấm sét. Anh có biết trải bao đoạn đường từ Nam ra Bắc mới được nhìn người yêu, mới được ôm vội vàng nửa phần đời trong tích tắc mà mấy tên cán bộ đang xỉ vả mình đây này.

Nhưng em quyết đi thăm anh, tìm anh, và em đã được gặp anh.

Dù vất vả, mọi gian nan đã xẩy ra trên đường đến thăm anh, dù đã vượt quá sức chịu đựng của em, nhưng em đã mãn nguyện là anh còn sống, và em đã được ôm và được hôn anh dù chỉ trong phút giây. Trên đường trở về, lâu lâu mẹ chồng tôi lại ôm vai tôi, nhìn tôi và mỉm cười.

Bích Lan

Nguồn : Bích Lan: Thăm chồng tại trại tù “cải tạo” Tân Lập



 

5 người trong vụ cháy quán ăn ở Sài Gòn đã thiệt mạng

Ba’o Nguoi-Viet

July 27, 2026

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Dù được các bác sĩ bệnh viện Chợ Rẫy tận tình cứu chữa, song năm trong sáu nạn nhân bị phỏng nặng trong vụ cháy quán ăn ở phường Bình Thạnh, Sài Gòn, đã không qua khỏi.

Loan báo với truyền thông hôm 27 Tháng Bảy, đại diện bệnh viện Chợ Rẫy cho biết cả năm nạn nhân bị phỏng nặng trong vụ cháy quán ăn trên đường Ngô Đức Kế, phường Bình Thạnh, vào tối 11 Tháng Bảy vừa qua đã không qua khỏi do “phỏng hô hấp, sốc phỏng, suy hô hấp, hôn mê, tiên lượng xấu.”

Các bệnh nhân trong vụ hỏa hoạn điều trị tại Khoa Bỏng-Tạo Hình, bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. (Hình: Thanh Niên)

Theo báo Lao Động, bệnh nhân mới nhất mới qua đời tối 26 Tháng Bảy là cô PTT, 30 tuổi, bị phỏng khoảng 60% diện tích cơ thể tập trung ở đầu, mặt, ngực, bụng và tứ chi, kèm phỏng hô hấp, sau hơn hai tuần điều trị tích cực.

Trước đó, bốn nạn nhân khác trong vụ tai nạn cùng nằm ở Khoa Bỏng-Tạo Hình của bệnh viện Chợ Rẫy là cô LNT, 44 tuổi, bị phỏng diện tích đến 98% cơ thể ở độ II-III; cô AKL, 48 tuổi, phỏng lửa độ II-III diện tích 60%; ông NTTh, 51 tuổi, bị phỏng tương đương và ông NQH, 56 tuổi, bị phỏng độ III diện tích 80% cơ thể, đều lần lượt qua đời sau nhiều ngày điều trị.

Như vậy, liên quan vụ cháy quán ăn trên, năm nạn nhân đã thiệt mạng, chỉ còn lại mỗi cô HTKT, 46 tuổi, may mắn bị phỏng khoảng 2% diện tích cơ thể, điều trị tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định được xuất viện hôm 14 Tháng Bảy.

Trước đó, khoảng 8 giờ 30 phút tối 11 Tháng Bảy, tại quán ăn gia đình số 56D Ngô Đức Kế bất ngờ cháy và phát nổ. Đám cháy sau đó lan sang vựa ve chai bên cạnh.

Do bên trong khu vực xảy ra hỏa hoạn chứa nhiều vật liệu dễ bắt lửa nên tạo ra cột khói đen bốc cao, lan rộng ra nhiều khu vực lân cận khiến người dân ở khoảng cách khá xa vẫn có thể thấy được.

Sau vụ hỏa hoạn, có sáu người gồm nhân viên và khách đang ngồi ăn gặp nạn được đưa vào bệnh viện Nhân Dân Gia Định cấp cứu trong tình trạng phỏng và ngạt khí nhiều mức độ.

Lực lượng hữu trách phong tỏa hiện trường vụ cháy. (Hình: Q.Hải/Dân Việt)

Sau khi hội chẩn liên viện, năm nạn nhân được chuyển về Khoa Bỏng-Tạo Hình, bệnh viện Chợ Rẫy để điều trị.

Đại diện bệnh viện Chợ Rẫy cho biết, các bệnh nhân đều bị phỏng hô hấp – một trong những tổn thương nặng và nguy hiểm nhất ở nạn nhân hỏa hoạn. Bệnh nhân được điều trị chống sốc do phỏng, hỗ trợ thở máy, nhiều lần rửa phổi để làm sạch muội than bám trong khí quản và phế quản nhằm cải thiện hô hấp. Tuy nhiên, muội than bám vào niêm mạc đường hô hấp rất khó loại bỏ, dễ gây kích ứng, viêm, phù nề, khiến người bệnh suy hô hấp nặng đe dọa tính mạng.

Chủ quán ăn gia đình là bà MTAN, 24 tuổi, quê An Giang, đã xuất trình giấy phép kinh doanh hợp lệ. Căn nhà số 56D Ngô Đức Kế vừa ở, vừa kết hợp kinh doanh.

Hiện nguyên nhân vụ cháy đang được cơ quan hữu trách điều tra. (Tr.N)


 

NGƯỜI GIỮ 16 TẤN VÀNG CỦA VNCH QUA ĐỜI TẠI THÁI LAN

 My Lan Pham  

Ông Lê Quang Uyển, người có trách nhiệm giữ 16 tấn vàng của Ngân hàng Quốc gia (NHQG), tài sản của VNCH, đã qua đời tại Chiang Mai, Thái Lan thọ 81 tuổi. Ông sinh năm 1937 và mất ngày 26-1-2018. Nhân dịp 49 ngày ông mất, tôi xin có bài sau đây.

Trong giới kinh tế tài chính, nhất là vào những năm chót của chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), ai cũng biết đến Thống đốc trẻ tuổi của NHQG là ông Lê Quang Uyển.

Sau khi tốt nghiệp HEC (Hautes Etudes Commerciales) tại Paris năm 1960, ông Lê Quang Uyển về Việt Nam phục vụ. Ông đã làm một thời gian ngắn  cho Ngân hàng Pháp Á (BFA – Banque Francaise de l’Asie). Sau đó ông cũng như nhiều chuyên viên trẻ khác đã bị động viên vào quân đội và lên đến cấp bậc đại úy.

Từ quân đội ông được chuyển sang ngạch “chuyên viên Phủ Tổng thống,” một ngạch công vụ của VNCH dành cho các chuyên viên trẻ, có học thức và nhiều tương lai. Họ được đào tạo để trở thành các nhà lãnh đạo tương lai trong ngành kinh tế, tài chính, giáo dục; các công ty của chính phủ – nhà đèn, công ty đường, Air Vietnam… Và sau này có thể có những trách nhiệm cao cấp trong chính phủ. Ngạch này được thành lập từ thời TT Ngô Đình Diệm để kéo các chuyên viên giỏi phục vụ cho chính phủ VNCH.

Trong cương vị này, ông đã tham gia nhiều chuyến đi của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trong đó có chuyên viếng thăm Manilla. Sau này ông đã được đề nghị giữ ghế thống đốc NHQG.

Trong những ngày chót của VNCH, Hoa Kỳ muốn VNCH đưa 16 tấn vàng gởi dự trữ tại Ngân hàng Trung ương tại New York (một việc làm bình thường vì đa số các nước đều có trương mục với ngân hàng FED New York). Sau khi bàn bạc, Thống đốc Lê Quang Uyển quyết định gởi các thoi vàng qua Thụy Sĩ, tại Ngân hàng Banque International Ressettlement – BIR ở Basle.

Theo kinh nghiệm thế giới, nhiều chính phủ Âu Châu trước đây, khi bị Cộng sản xâm chiếm họ đã gởi vàng dự trữ tại đây để tránh chiến tranh và sau này giữ được tài sản quốc gia. Một kế hoạch đã được lập lên để chở 16 tấn vàng sang Thụy Sĩ chứ không phải sang Hoa Kỳ. NHQG đã cho mướn một chuyến máy bay để chở số vàng này qua Thụy Sĩ.

Trong lúc hỗn loạn của những ngày miền Nam sắp mất, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và máy bay được mướn chở vàng không thể đáp xuống sân bay, vì vậy kế hoạch gởi vàng qua Thụy Sĩ không thực hiện được.

Vào những ngày chót, một số nhân viên ngân hàng cấp cao đều được cấp Walkie Talkie để dễ liên lạc với nhau nhằm bảo vệ tài sản cho Việt Nam. Thống đốc Lê Quang Uyển tử thủ trong NHQG và chỉ mở cửa NHQG khi Cộng sản mang nhiều xe tăng đến định bắn vào NHQG.

CS lúc nào cũng phao tin đồn là cựu TT Nguyễn Văn Thiệu đã mang 16 tấn vàng đi nước ngoài trong khi nhiều người cũng kể công về việc giữ số vàng này. Vậy sự thật ra sao? Bài báo sau đây của nhân chứng nói về kiểm tra vàng tại NHQG do báo Tuổi Trẻ đăng:

Bài viết của tác giả Huỳnh Bửu Sơn trên tờ Tuổi Trẻ trích đoạn như sau:

“…Những ngày đầu Tháng Năm, 1975, tôi vào trình diện tại NHQG ở 17 Bến Chương Dương, thủ đô Sài Gòn cùng các đồng nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài người. Chúng tôi được lệnh của Ban Quân quản NHQG là chờ phân công tác. Trong khi chờ đợi, mỗi ngày mọi người đều phải có mặt tại cơ quan.

Lần kiểm kê cuối cùng… Việc kiểm kê kho tiền và vàng là việc chúng tôi làm thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên cảm thấy không có gì đặc biệt. Chỉ có một điều là tôi biết lần kiểm kê này chắc chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với tôi, kho tiền và vàng sẽ được bàn giao cho chính quyền mới. Tôi không lo âu gì cả vì biết chắc rằng số tiền và vàng nằm trong kho sẽ khớp đúng với sổ sách.

Trong những ngày hỗn loạn, các hầm bạc của NHQG vẫn được chúng tôi quản lý một cách tuyệt đối an toàn. Cần nói thêm là các hầm bạc được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ khóa và mật mã riêng, được thay đổi định kỳ, mỗi cửa nặng trên 1 tấn.

Đại diện Ban Quân quản là một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham gia với ông trong suốt quá trình kiểm kê là một anh bộ đội còn rất trẻ, trắng trẻo, đẹp trai và rất thân thiện. Anh hay nắm tay tôi khi trò chuyện. Sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt – chỉ huy phó đơn vị tiếp quản NHQG.

Số vàng đúc lưu giữ tại kho của NHQG vào thời điểm đó gồm vàng thoi và các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng thoi: vàng thoi mua của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED); vàng thoi mua của một công ty đúc vàng ở Nam Phi – Công ty Montagu; và vàng thoi được đúc tại VN, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan thuế tịch thu từ những người buôn lậu qua biên giới, phần lớn từ Lào.

Tất cả những thoi vàng đều là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi.

Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau… Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này còn được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó. Tất cả số vàng thoi và tiền vàng cổ đều được theo dõi chi tiết từng đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận điện toán (computer) của ngân hàng theo dõi định kỳ hằng tháng và hằng năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập tồn kho. Kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách điện toán từng chi tiết nhỏ. Tôi ký vào biên bản kiểm kê, lòng cảm thấy nhẹ nhõm. Việc bàn giao tài sản quốc gia cho chính quyền mới đã hoàn tất. Sau chiến tranh, ít nhất đất nước cũng còn lại một chút gì, dù khiêm tốn, để bắt đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi, điều này cũng chứng minh một cung cách quản lý nghiêm túc của những người đã từng làm việc tại NHQG…”

Tác giả Huỳnh Bửu Sơn cũng liệt kê từng tủ và từng hầm kho tàng. Và cuối bài viết, ông ghi: “Tổng cộng: 1.234 thoi vàng.”

Qua việc bảo tồn tài sản quốc gia, việc này cho thấy là các công chức của NHQG và người đứng đầu là Thống đốc Lê Quang Uyển đã làm việc một cách nghiêm túc – với tinh thần trách nhiệm của một công chức. Đó là niềm hãnh diện cho VNCH, không bỏ chạy (tình thần trách nhiệm) và rất trung thực. Thống đốc Lê Quang Uyển là một tấm gương soi sáng cho thế hệ trẻ – cho tinh thần trách nhiệm của công chức miền Nam.

Thống đốc Lê Quang Uyển và tù cải tạo

Ông Uyển, cũng như nhiều người khác, đã phải đi cải tạo trên 3 năm trong Nam (1975-1979). Trái với ông phó thống đốc NHQG là ông Dõng, ông Uyển không trình diện liền khi CS kêu gọi thành phần nội các ra trình diện học tập (họ không biết là thống đốc NHQG có hàm bộ trưởng). Ông Phó thống đốc Dõng đã ra trình diện và bị chết trong trại tù Thanh Cẩm, tỉnh Thanh Hóa. (Tôi còn gặp bà Dõng tại Sài Gòn sau khi bà bị trục xuất ra khỏi nhà tại NHQG, khi tôi đi cải tạo về vào năm 1979).

Ông Uyển là một sĩ quan VNCH cấp bậc đại úy và đã ra trình diện khi CS gọi các sĩ quan cấp đại úy trình diện. Ông bị đi tù cải tạo 3 năm.

Ông đã đi Pháp cùng vợ vì bà vợ, chị Geneviève LyLap (một huynh trưởng nữ hướng đạo hệ Scout et Guide de France, bà là công dân Pháp và là nhân viên Tòa Đại sứ Pháp tại Sài Gòn).

Năm 1981, ông Uyển tham gia vào Ngân hàng Banque Indosuez. Ông được gởi làm giám đốc chi nhánh tại Saudi Arabia và ở đây đến 1990. Ông đứng đầu chi nhánh “Al BankAl Saudi Al Fransi” (Saudi French Bank), ngân hàng duy nhất của Pháp tại Ả Rập Saoudi. Sau 1990, ông Lê Quang Uyển được phái đi làm cho nhiều chi nhánh của Ngân hàng Indosuez tại nhiều nước khác nhau.

Ông đã về hưu tại Chiang Mai, Thái Lan. Ông là hình ảnh một công chức VNCH có tư cách và có tinh thần trách nhiệm rất cao. Trong dịp 49 ngày ông qua đời (ba má và gia đình ông Lê Quang Uyển theo đạo Cao Đài), tôi viết vài hàng này để đề cao tinh thần trách nhiệm của cựu Thống đốc Lê Quang Uyển.

Với tư cách một chuyên viên trẻ đã từng có thời gian làm việc với ông, tôi xin thành kính chia sẻ nỗi buồn với chị Uyển trong sự mất mát này và cầu mong ông sớm được về miền Cực Lạc.

TS. Đinh Xuân Quân

(Cali,18-3-20 18)

Trên đây là bài viết của TS Đinh Xuân Quân

TS Đinh Xuân Quân là cựu nhân viên Quỹ Phát triển trực thuộc NHQG. Ông là cựu giáo sư Đại học Luật khoa, Ban Kinh tế, Đại học Sài Gòn (khóa 1974-1975). Hiện nay ông là chuyên gia, cố vấn kinh tế cho Liên Hiệp Quốc (UNDP+World Bank) và USAID tại nhiều nước như Afghanistan, Iraq, Indonesia…

Theo fb Phan Lưu An

Ảnh: ông Lê Quang Uyển khi còn trẻ. 


 

Có nên bắt giam nhà văn?-Hiệu Minh

Ba’o Tieng Dan

Hiệu Minh

24-7-2026

Người ta có thể khóa một cánh cửa. Có thể khóa một căn phòng, một ngôi nhà, thậm chí cả một thành phố. Nhưng từ rất lâu trước khi phát minh ra nhà tù, nhân loại đã phát hiện ra một điều khá bất tiện đối với mọi quyền lực: Ý tưởng là thứ gần như không biết nghe lệnh.

Nhà văn sống bằng những ý tưởng ấy. Sách và văn học

Họ giống những người đi dọc bờ biển lúc bình minh, nhặt lên những chiếc vỏ sò mà người khác bước qua. Có chiếc chỉ là một mảnh vỏ vô nghĩa. Có chiếc lại giữ tiếng vọng của cả đại dương. Công việc của nhà văn đôi khi chỉ là lắng nghe những âm thanh rất nhỏ mà cuộc sống quá ồn ào đã bỏ quên.

Bởi vậy, mỗi cuốn sách  giống như một bức thư gửi cho tương lai. Có người mở thư rồi mỉm cười. Có người mở thư rồi nổi giận. Điều đó hoàn toàn bình thường. Văn học chưa bao giờ được sinh ra để tất cả cùng đồng ý với nhau. Nếu mọi cuốn sách đều chỉ lặp lại những điều ai cũng muốn nghe, nhân loại chẳng cần nhà văn. Chỉ cần một dây chuyền sản xuất gương soi với công nghệ đánh bóng ngày càng hiện đại.

Nhưng nhà văn không phải chiếc gương. Họ thường là chiếc cửa sổ. Mà cửa sổ thì rất bất lịch sự

. Nó luôn cho người ta thấy còn có một thế giới khác bên ngoài căn phòng.

Lịch sử  văn học thế giới là một thư viện đầy nghịch lý. Có những cuốn sách từng bị cấm nhưng sau này lại được đưa vào chương trình học. Có những tác giả từng bị nguyền rủa rồi được dựng tượng. Cũng có những tác phẩm từng được tung hô như chân lý cuối cùng để rồi lặng lẽ phủ bụi trên giá sách. Danh tiếng trong văn học đôi khi có vòng đời ngắn hơn cả một trào lưu trên mạng xã hội.

Thời gian là nhà phê bình khó tính nhất, đọc rất chậm, nhưng hiếm khi đọc theo hashtag.

Lịch sử Việt Nam với phong trào Nhân văn – Giai phẩm, cũng như nhiều giai đoạn ở Liên Xô, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác, cho thấy một điều đáng suy ngẫm, đánh giá về một tác phẩm đôi khi thay đổi theo thời đại. Điều hôm nay bị xem là nguy hiểm, ngày mai có thể trở thành tư liệu để nghiên cứu. Không phải vì cuốn sách tự viết lại chính mình, mà vì xã hội học được cách đọc lại chính mình. Lịch sử Jorge Luis Borges từng hình dung thiên đường giống như một thư viện. Có lẽ ông không tưởng tượng rằng ở một số nơi, thư viện đôi khi còn khiến người ta lo lắng hơn… kho vũ khí.

Vậy có nên bắt giam một nhà văn?

Có lẽ câu hỏi ấy cũng giống như hỏi có nên bỏ tù một người làm vườn chỉ vì ông gieo một hạt giống mà ta không thích. Nếu ông phá hoại khu vườn của người khác, pháp luật phải lên tiếng. Nhưng nếu điều khiến người ta sợ chỉ là khả năng hạt giống ấy có thể nảy mầm, thì vấn đề có lẽ không còn nằm ở cái cây.

Điều đáng sợ nhất không phải một ý tưởng được viết ra. Điều đáng sợ là bầu không khí khiến chẳng còn ai dám viết bất kỳ ý tưởng nào nữa.

Một khu vườn chỉ có một loài hoa chắc chắn rất ngăn nắp. Nhưng hiếm ai gọi đó là thiên nhiên.

Dĩ nhiên, nhà văn cũng chỉ là công dân như mọi công dân khác. Họ không đứng trên pháp luật chỉ vì biết đặt dấu phẩy đúng chỗ. Nếu phạm tội, họ phải chịu trách nhiệm như bất kỳ ai. Cây bút không phải tấm hộ chiếu miễn trừ trước công lý.

Nhưng khi điều bị trừng phạt chủ yếu là một ý tưởng hay một tác phẩm, xã hội nên tự hỏi một câu khác: Điều gì khiến vài trăm trang giấy trở nên đáng sợ đến vậy? Toánhọc

Có những cuốn sá ch làm người đọc khó chịu. Có những câu văn khiến người ta mất ngủ. Có những ý tưởng giống như hạt cát rơi vào vỏ trai, gây đau đớn trước khi hóa thành viên ngọc. Văn học chưa bao giờ hứa sẽ mang lại sự dễ chịu. Điều duy nhất nó cố gắng gìn giữ là sự thành thật.

Umberto Eco từng nhận xét rằng sách  giống như cái thìa, cái búa hay bánh xe, một khi đã được phát minh, rất khó có thứ gì thay thế tốt hơn. Có lẽ cũng vì thế mà nhiều người vẫn tin rằng cách hiệu quả nhất để đối phó với một cuốn sách là… đừng để ai đọc nó. Lịch sử, tiếc thay, nhiều lần chứng minh đây là một chiến lược có tỷ lệ thành công khá khiêm tốn.

Một nền văn minh trưởng thành không được đo bằng số lượng tượng đài dành cho nhà văn, mà bằng sự bình thản khi đối diện với những cuốn sách mình không thích. Người ta có thể phản biện, phê bình, bác bỏ, hoặc viết một cuốn sách khác để tranh luận. Đó là cách câu chữ đối thoại với câu chữ. Còn nếu lập luận phải nhờ đến còng tay hỗ trợ, thì có lẽ vấn đề không còn nằm ở văn chương nữa.

Đôi khi, chúng ta cư xử với một cuốn tiểu thuyết như thể nó nguy hiểm hơn lạm phát, tham nhũng hay một con đường đầy ổ gà. Đó là lúc cuốn tiểu thuyết ấy hẳn cũng phải ngạc nhiên về sức mạnh mà chính nó chưa từng dám nhận.

Bởi ý tưởng, cũng như gió, không biết dừng lại trước song sắt.

Người ta có thể giữ một con người  trong bốn bức tường. Nhưng rất khó giữ một câu chuyện ở yên một chỗ. Nó sẽ theo một độc giả bước ra khỏi thư viện , ngồi trên chuyến tàu chiều, nằm trong chiếc ba lô của một sinh viên, hoặc lặng lẽ ở lại trong ký ức của ai đó suốt nhiều năm. Con người và xã hội

Rồi con người sẽ già đi. Những nhà tù cũng sẽ cũ. Những cánh cửa sắt rồi cũng han gỉ.

Chỉ có những câu chuyện, nếu còn chạm được vào trái tim con người, vẫn tiếp tục cuộc hành trình của mình, bình thản như một cánh chim bay qua bầu trời mà chẳng cần xin phép bất kỳ hàng rào nào.

Và đó có lẽ là điều khiến văn chương vừa đáng yêu, vừa đáng sợ: phàm đã là văn chương thì không bao giờ biết cách ngồi yên.

PS. Hôm trước đọc bài của chị Beo về nhà văn bị bắt, bỗng viết bài này một cách chung chung để khỏi bị nhắc nhở.


 

CHUYỆN ĐỜI Ở HÀNH LANG BỆNH VIỆN…

Chuyện tuổi Xế Chiều – Lộc Ninh 

Khi mẹ nằm truyền, mình đi ra ngoài và hỏi thăm người đàn bà mà mình thấy đã ngồi đó rất lâu:

– Trễ rồi sao cô chưa về?

– Cô chưa có tiền đóng để mua dây, mua…vì mai tới ngày chạy thận.

– Cô đóng nhiêu ạ?

– 260 đồng. Sáng nay cô lấy 100 tờ vé số, bán được 50 tờ, còn 50 tờ nhờ bà kia bán mà chắc chưa hết nên chưa đưa tiền qua….

…Cô ở một mình, tối trải ghế bố ngủ ngoài kia, cả ngày đi bán vé số kiếm tiền trị bệnh.

– Để con đi đóng cho cô nha.

– Con giỡn chơi hà.

Mình vào phòng tìm y tá hỏi thăm. Bạn í ngạc nhiên:

– Ủa, cô Hường không có người thân mà. Chị quen gì với cô?

– Chị không quen, nhưng chị muốn đóng cho cô ấy. Một tháng cô hết bao nhiêu em hén?

– Dạ, một tháng 2,5 triệu. Chị đóng một tháng luôn hay mấy trăm ngàn thôi?

…..

Mình suy nghĩ, vì mình chỉ đưa mấy triệu để lo cho mẹ, nếu đóng cho cô mà lỡ Bs nói đóng thêm gì cho mẹ thì không đủ. Thế là, mình đi hỏi xem mẹ còn gì phải đóng tiền,  bạn nói không…Mà mình còn thẻ nữa.

– Em ơi, chị đóng luôn cho cô ấy 2 tháng. 5 triệu nha.

Bạn y tá ngạc nhiên nhìn mình, hỏi lại có đúng không. Mình gật đầu. Bạn cho tờ giấy đóng tiền, thế là mình vội chạy đi đóng ở dãy nhà khác – kịp để về chăm mẹ.

Ôi trời, mình không tưởng tượng được khi đưa biên lai cho cô ấy. Cổ đâu tin, đọc đi đọc lại tên mình xem có đúng không, rồi đọc số tiền…Là thiệt rồi, cổ thốt lên vậy…

…Rồi cổ khóc, khóc ngon ơ như có gì chất chứa trong lòng, nay được tuôn ra ngoài – người đàn bà bán vé số mang bệnh mà không có người thân – 2 tháng tới đây, chắc vơi đi khó nhọc nhiều lắm!

Rồi cũng trên dãy hành lang ấy, có cô kia đã níu tay mình:

– Cô ơi, đỡ tui dậy đi vệ sinh được không? Bị mệt và choáng nên tui không ngồi lên được.

– Cô không có ai đi cùng à?

– Con tui nó bận hết rồi, tui đi một mình.

Thế là mình đỡ cô dậy, dìu cô đi. Vào nhà vệ sinh, ngay cả quần cô cũng không kéo nổi. Mình lại loay hoay giúp cô, đứng đó cho cô nắm vào tay vì ngồi không vững.

Cô đi xong, mình chùi rửa sạch sẽ cho cô rồi dìu ra ngoài. Cô nói, sáng giờ chưa ăn gì, muốn đi mua mà không bước được.

Thế rồi mình lại chạy đi, mua 2 hộp sữa Ensure mang về cho cô 1 hộp, cô vé số 1 hộp. Mình nói, cô đưa số điện thoại con của cô, con gọi.

Cô đọc số, mình gọi và nghe giọng con trai.

– Em ơi, mẹ em yếu lắm, em vào lo cho mẹ.

Giọng bên kia gắt lên:

– Đã vào đó là có bác sĩ, y tá, không ai lo hay sao mà đưa số cho chị gọi.

– Ủa em, dù có ai đi nữa thì mẹ em cũng phải có người nhà chứ.

– Chiều tối xong việc mới vào được, chị chuyển máy cho mẹ tôi đi.

Mình muốn chửi ghê trời, nghe cái giọng điên hết cả người, nhưng rồi sợ cổ buồn, nên thôi.

– Tui có 2 đứa con, một trai, một gái. Trai có vợ rồi, còn gái thì chưa lập gia đình. Tụi nó bận lắm, muốn nhờ cũng khó.

…Rồi cô lại nói mình dìu nằm xuống ghế, đợi khỏe tí rồi tui ra phòng cấp cứu.

Lòng mình xót xa quá đỗi, chạy vội vào canh chừng mẹ:

– Cha mi, đi đâu nãy chừ để mẹ trông.

…Mình ỏn ẻn, nói con đi nhiều chuyện ở ngoài kia. Mẹ mệt, nhưng mẹ cười rất tươi…Mình nhìn mẹ – rồi lại nghĩ đến những người đàn bà nơi góc hành lang bệnh viện…

     Có vào viện mới hiểu lòng con cái …

Tác giả : Trần Linh

Ảnh st minh họa


 

Việt Nam bị Mỹ áp thuế thương mại mới (BBC)

(BBC)

Tổng thống Mỹ Donald Trump và Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer (phải) – người chỉ đạo cuộc điều tra thương mại đối với Việt Nam – tại một cuộc họp báo ở Nhà Trắng tháng 2/2026

Việt Nam nằm trong nhóm 60 đối tác thương mại sẽ bị chính quyền Tổng thống Donald Trump áp thuế thương mại mới, ngay sau khi mức thuế tạm thời 10% áp dụng trong 150 ngày hết hiệu lực.

Mức thuế mới, từ 10% đến 12,5%, sẽ được áp dụng từ 0 giờ 01 ngày 25/7 theo giờ miền Đông nước Mỹ, theo thông báo đăng trên Công báo Liên bang ngày 24/7.

Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer nói Mỹ đã cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức trong gần một thế kỷ và đã đến lúc các đối tác thương mại cũng thực hiện nghiêm túc các quy định tương tự.

Theo quyết định cuối cùng, Việt Nam nằm trong số các nước sẽ chịu mức thuế 12,5%.

Các mức thuế mới được áp dụng theo Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, với lý do nhiều đối tác chưa thực thi đầy đủ các lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức.

Chính quyền Mỹ cho biết các mức thuế mới sẽ bao phủ 99,4% hàng nhập khẩu vào Mỹ, nhưng miễn trừ đối với nhiều mặt hàng, bao gồm dầu khí, phân bón, một số thực phẩm và các sản phẩm đã chịu thuế theo Điều 232 vì lý do an ninh quốc gia như ô tô, thép, nhôm và đồng.

Hàng hóa đáp ứng các quy định của Hiệp định Thương mại Mỹ-Mexico-Canada (USMCA) cũng được miễn thuế.

Hàng hóa từ Argentina, Bangladesh, Anh, Campuchia, Canada, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Malaysia

Mexico, Pakistan, Sri Lanka và Trinidad và Tobago sẽ chịu thuế 10%.


 

Đời Sống Người Tù Cải Tạo

Duc Thong DO

 “CÁC SĨ QUAN VNCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP CẢI TẠI CỦA CỘNG SẢN BẮC VIỆT” TÀI LIỆU CON CHÁU VÀ THÂN NHÂN CỦA CÁC GIA ĐÌNH VNCH NÊN ĐỌC ĐỂ HIỂU RÕ SỐ PHẬN CỦA CÁC THÂN NHÂN, NẠN NHÂN CỦA CHẾ ĐỘ CSVN..

***** 

Đời Sống Người Tù Cải Tạo

12 tháng 1 năm 2011

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

LTS. Chế độ tập trung cải tạo cho quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa được thi hành sau khi Cộng Sản miền Bắc thôn tính miền Nam. Bài này đúc kết lời kể của các cựu tù nhân chính trị; mục đích là để thế hệ mai sau, trong và ngoài nước, biết các khó khăn, đau khổ của cha chú họ, như một bài học đắt giá cho nhân loại, để tránh tái diễn chứ không phải để giữ mãi hận thù.

Trình Diện Để Đi Tù Đầy

Mấy tuần lễ sau khi miền Nam thất thủ thì chiến dịch rỉ tai về học tập cải tạo bắt đầu được tung ra. Nhưng mãi đến đầu tháng sáu 1975 Uỷ Ban Quân Quản Thành Phố mới ra lệnh cho các quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa phải trình diện để đi “Học Tập Cải Tạo”. Uỷ Ban ra thông cáo vào các ngày 10-6, 11-6 và 20-6-75 trên đài phát thanh và báo chí, chỉ định rõ địa điểm và ngày giờ trình diện.

Hạ sĩ và nhân viên chính quyền từ chủ sự trở xuống học tập ba ngày tại phường. Các cấp thấp hơn như binh sĩ, cán bộ phường khóm được khoan hồng miễn trình diện. Cả mấy trăm ngàn người nô nức đi trình diện học tập vì họ nghĩ rằng học tập cho xong để hy vọng sớm trở về làm ăn. Họ đi học từ sáu giờ sáng đến tối.

Ðối với các phó quận trưởng, trưởng ty, cấp úy, thì mỗi người phải mang theo giấy bút, quần áo, mùng mền vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong mười ngày kể từ ngày trình diện.

Với các cấp chỉ huy từ giám đốc trở lên, sĩ quan từ cấp tá, các dân biểu nghị sĩ, các lãnh tụ đảng phái thì thông cáo ra lệnh mang theo giấy bút, vật dụng cá nhân, số tiền là 13,000 đồng đủ cho việc ăn uống trong 30 ngày kể từ ngày học tập đầu tiên. Thông cáo nói rõ: “các học viên phải mang theo một tháng tiền ăn và những đồ đạc cần thiết. Nhà hàng Ðồng Khánh sẽ phụ trách việc ăn uống…”

Nhiều người vì sức khỏe yếu được miễn trình diện. Nhưng vì quá tin vào thông cáo của chính quyền, học tập có một tháng, nên họ vẫn tình nguyện xin đi để tỏ thiện chí cũng như làm cho xong để còn về được an ổn kiếm kế sinh nhai.

Có người được nhân viên tiếp nhận cho về vì không hội đủ tiêu chuẩn như thông cáo nhưng vẫn nằn nì giải thích chức vụ để xin đi cho chắc bụng. Chẳng hạn, có vị khai chức vụ quốc vụ khanh chính phủ. Cán bộ không biết đó là chức gì mà coi danh sách không thấy có nên đuổi về. Vị chính khách này phải cố gắng giải thích chức vụ của mình ngang hàng tổng trưởng. Họ cũng không biết tổng trưởng là gì, đến khi nói là bộ trưởng thì họ mới cho nhập trại. Ai cũng nghĩ là trước sau rồi cũng phải học tập nên xin đi cho nó xong. Thực ra, thông cáo rất mập mờ. Lúc đầu ghi danh đi học tập cải tạo phải chuẩn bị thực phẩm hoặc đóng tiền ăn cho một tháng. Rồi pháp lệnh nói cải tạo viên phải học tập ba năm rồi đổi ra vô hạn định một cách âm thầm.

Kỷ Nguyên Tù Ðầy Cải Tạo bắt đầu. Sau khi đã bước vào trại tù cải tạo thì ngày ra dường như vô tận vì một số thiệt mạng, hầu hết tiếp tục tù đầy cho tới mươi mười lăm năm sau.

Theo bản tường tình của Aurora Foundation năm 1983  do bà Ginetta Sagan và ông Stephen Denney thực hiện thì có hơn một triệu người đã đi cải tạo mà rất ít được về sau thời hạn mười ngày hay một tháng. Trên toàn quốc lúc bấy giờ có trên 150 trại cải tạo. Có khoảng 500,000 người được trả tự do trong vòng ba tháng; 200,000 ở trại từ hai đến bốn năm; 240,000 ít nhất năm năm; nhiều chục ngàn người trên mười năm.

Trong một trại cải tạo, học viên thắc mắc về thời gian cải tao như sau:

“Thưa cán bộ, theo như chính sách 12 điểm của chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam thì sau ba năm chúng tôi được trả tự do để đoàn tụ với gia đình; bây giờ đã quá 3 năm sao chúng tôi còn phải ở trong trại?”

Cán bộ trả lời:

– Các anh thông minh, các anh phải hiểu rằng Chính Phủ Cộng Hòa miền Nam (của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) đâu có phải là Chính Phủ Việt nam Dân Chủ Cộng Hòa; vả lại chính phủ Cộng Hòa Miền Nam không còn tồn tại thì những gì chính phủ ấy quy định cũng không còn tồn tại.

– Hơn nữa, các anh thông minh nhưng chưa hiểu thế nào là 3 năm. Các anh hiểu cứ mỗi năm là 365 ngày như bọn tư sản thì hỏng bét, do đó các anh khiếu nại là phải rồi. Nếu các anh phân tích một cách sâu sát thì các anh sẽ thấy rằng có 3 năm định tính và 3 năm định lượng. Một anh có thể có 3 năm định lượng, nghĩ a là đã cải tạo đúng ba năm không thiếu ngày nào, nhưng lại không có đủ 3 năm định tính vì tính chất cải tạo quá tồi, cải tạo không tốt, do đó mà chưa được về sum họp với gia đình.”

(Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

* Các dữ kiện trong bài viết này là những lời kể lại của nhiều tù nhân cải tạo sống sót.

Tổ Chức Trại Cải Tạo

Trại được chia ra làm nhiều khu. Mỗi khu có nhiều đại đội trại viên. Dưới là nhóm gọi là “B”. Mỗi B có 30 trại viên do một cán bộ hạ sĩ quan phụ trách. Trại viên còn được gọi là phạm nhân hoặc cải tạo viên. Họ phải học làm lòng tài liệu “38 điều Nội Quy” và “Bốn tiêu chuẩn cải tạo”.

Bốn tiêu chuẩn cải tạo là:

1-Thành khẩn khai báo

2- Lao động tự giác

3-Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy và các pháp lệnh nhà nước

4- Giúp bạn cải tạo cùng tiến bộ

Một cựu tù nhân cho hay: nhiều người không nhớ các tiêu chuẩn này, nên đã dùng bốn thú vật tiêu biểu cho từng tiêu chuẩn: ngu như bò, có gì khai hết; lao động như trâu; bảo sao làm vậy như con cừu và sủa như chó để báo cáo các hành động của bạn tù.

Có người đã ví việc thực hiện các tiêu chuẩn này chẳng khác gì sự xét mình, ăn năn tội lỗi, xưng tội và dốc lòng không sai phạm của một tôn giáo. Nội quy có các điều khoản về nguyên tắc chung, kỷ luật học tập, kỷ luật về lao động, kỷ luật về nếp sống hàng ngày, kỷ luật về viết thư và gặp gia đình, tổ chức phạm nhân, và khen thưởng-kỷ luật.

Ðiều nào cũng bắt đầu bằng các chữ quyết liệt như “Phải chấp hành…” hay “Tuyệt đối tuân theo…”

Chẳng hạn điều Một ghi rõ:

“Phải triệt để tuân theo đường lối, chính sách giam giữ cải tạo của Ðảng, pháp luật của nhà nước…”

Ðiều 2: “Phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, phải ra sức học tập cải tạo tư tưởng, thành khẩn nói hết lỗi lầm của mình.”

Ðiều 8: “Phải trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Ðể rèn luyện ý thức lao động, lấy lao động để cải tạo tư tưởng…”

Ðiều 12: “Không được dùng tiếng ngoại ngữ và không được nói tiếng lóng”

Ðiều 18: “Thường xuyên cạo râu, không được để râu” .

Ðiều 20: “Tránh có thái độ ngang bướng, khúm núm, nịnh hót. Khi có việc cần gặp cán bộ phải đứng xa 5-7 mét ở tư thế nghiêm. Xin báo cáo với Giám thị, cán bộ”.

Trại có rất nhiều khẩu hiệu về học tập chính trị như:

“Chính sách khoan hồng của Ðảng trước sau như một.”

“Học tập cải tạo là con đường duy nhất để trở thành người công dân lương thiện.”

“Học tập nghiêm túc, đi sát đi sâu, đào sâu, suy nghĩ, thảo luận đúng ý…”

Khai Lý Lịch

Cải tạo viên nào cũng phải khai lý lịch. Ðây là một việc làm rất nhức đầu vì họ phải khai đi khai lại cả chục lần. Khai xong mang nộp, rồi bị cán bộ hạch hỏi đủ điều. Việc khai lý lịch thường là do đoàn công tác liên bộ Quốc Phòng và Công An phối hợp thực hiện. Mẫu khai có ba mục chính với nhiều tiểu mục và tiết mục. Rầm rộ phát động chiến dịch khai báo, cho ăn đồ tươi.

1-Lý lịch cuộc đời cá nhân: bản thân người khai, gia cảnh và lý lịch thân nhân, từ ông cố tổ bốn đời. Từng địa chỉ đã sống trong suốt đời. Một địa chỉ có thể là 1 tuần ở quốc nội hoặc bốn mươi tám giờ ở quốc ngoại.

Về lý lịch thân nhân, phải khai đầy đủ chi tiết về bản thân kèm thêm đánh giá từng người về quá trình chính trị, xã hội, giai cấp.

2-Quá trình hoạt động: Trong suốt đời, với 3 giai đoạn: từ 1945 trở về trước; từ 1945 đến 1954 và từ 1954 đến 1975. Phải khai cho đầy đủ các chi tiết về ngày tháng, sinh hoạt, chức vụ, ở đâu với ai, diễn tiến công việc, kết quả công việc, ảnh hưởng của công việc vào xã hội. Khai các cá nhân, đoàn thể chống cộng ở miền Nam: tên tuổi, tổ chức nào, hoạt động ở đâu, cách tổ chức chống cộng… Kê khai bạn bè thâm giao và bạn bè thường, rồi các sinh hoạt của họ ở đâu bây giờ. Kê khai mọi cấp chỉ huy, đồng sự với các chi tiết như của mình… Hiện giờ họ ở đâu, quan điểm chính trị của họ. Khai rõ về các vấn đề tổ chức, kỹ thuật chiến thuật của miền Nam.

3-Kê khai tài sản: Của nổi của chìm, trong nước, ngoài nước, mình đứng tên hay nhờ người đứng tên, vợ con đứng tên; hiện có, đã sang nhượng, cúng dâng cho các tổ chức. Tiền từ đâu có.

Phạm nhân được dành cho một tuần để khai; ban đêm cho phép đốt đèn cầy để khai. Khai xong ký cam đoan là đúng sự thực rồi nộp cho cán bộ. Phạm nhân phải thức thâu đêm để khai; nhiều khi đi cầu, đi ăn cũng tập trung suy nghĩ coi đã làm gì, ở đâu, ngày nào…

Sau khi nộp thì mấy ngày sau lại phải khai lại vì: thiếu thành khẩn, thiếu tự giác, không khai hết sự thật, ngoan cố, giấu diếm bao che các tổ chức chính trị và cá nhân phản động.

Rằng nhân dân đã biết rõ về mình rồi, đã có hết tất cả hồ sơ tại công tư sở, đừng hòng giấu diếm. Có phạm nhân còn bị gọi lên để hạch hỏi chi tiết, hù doạ là vợ khai khác mà mình khai khác hoặc để đối chiếu lời khai của thân nhân với lời mình khai. Rồi bản khai được cất đi và phạm nhân phải khai lại từ đầu…Việc khai báo kéo dài cả mấy tháng. Một chiến dịch cổ võ cho việc khai báo cuộc đời được diễn ra. Học viên còn được cho ăn uống linh đình và được miễn lao động trước ngày khai báo bắt đầu.

Cải tạo tư tưởng-Học tập chính trị

Mục đích của cải tạo là “để thay đổi con người từ chế độ lỗi thời vào kỷ nguyên mới của những công dân tốt, với các giáo điều tốt lành của chủ nghĩa Anh Hùng Cách Mạng”.

Theo các cựu tù nhân kể lại, bài học nhồi sọ nhắm vào việc:

“Ðả phá chủ nghĩa đế quốc Mỹ, kẻ thù của nhân dân Việt Nam và thế giới. Sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Mỹ; Ðế quốc Mỹ là con đỉa hai vòi: một vòi hút máu mủ nhân dân trong nước, còn vòi kia vươn sang các nước khác để hút máu mủ nhân dân các nước này bằng cách bán súng đạn, tạo ra các cuộc chiến tranh diệt chủng. Tội ác của ngụy quyền ngụy quân miền Nam, bán nước, tay sai. Chính sách khoan hồng của Ðảng, nghĩa vụ của người có tội, lao động là vinh quang. Những thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam.”

Các buổi học tập chính trị gồm có:

  1. Nhận đề cương nội dung bài.
  2. Tìm hiểu nội dung.
  3. Nghe giáo viên giảng bài.
  4. Suy nghĩ về nội dung và lời giảng của giáo viên.
  5. Không bàn thảo với ai. Viết một bài nhận định để trình bày với tổ.
  6. Phát biểu trước tổ học tập.
  7. Hội thảo cấp B cao hơn với ba tổ.
  8. Hội thảo toàn trại.
  9. Rồi viết bài tổng kết học tập dài cả chục trang.
  10. Tổng kết và giải đáp thắc mắc.

Kỹ thuật nhồi sọ áp dụng nguyên tắc nước chảy đá mòn, nói nhiều nói mãi một đề tài, nhắc đi nhắc lại một luận điệu, biến con người thành cái máy… Sau cả nhiều tháng học tập chính trị, hầu hết đều bị chê là: “chưa được rèn luyện, cải thiện bằng các tư tưởng cao siêu của Chủ Nghĩa Xã Hội, vẫn còn ngoan cố, không chịu tiếp thu bài học, không chịu gột rửa toàn diện tư tưởng xấu của bản thân, nên cần được cải tạo bằng lao động”.

Lao động

Lao động là thước đo mức độ giác ngộ của tù nhân.

Cuốc đất: 150m2/ngày/người

Trồng mì: 5000m2 /ngày/4 người

Khai quang: 300m2/ngày/người

Lấy cây đường kính 30cm, dài 4 thước, hai người một cây, mang về trại cách xa 3 cây số; đường kính 10 phân, dài 4 thước hai người năm cây một ngày.

Tranh lợp nhà: 10 bó theo tiêu chuẩn của trại. (Theo Trại Tù Cải Tạo-Phạm Quang Giai).

Ăn uống

Sau đây là kinh nghiệm người cựu tù:

“Cộng Sản không cần đánh đập, không cần kết án, mà họ đã dùng cái máy chém vô hình và im lặng: ÐÓI. Họ lôi cái máy này đến mọi nơi, mọi chốn có tù nhân chính trị miền Nam để trả thù, trả hận mà vẫn không mang tiến là ác độc, là giết người.” (Phạm Quang Giai: Trại cải Tạo)

“Cái lon nhôm sữa bột guigoz, được gọi vắn tắt là cái Gô, là bạn đồng hành thân thiết của tù. Người tù nào cũng kè kè bên mình một cái vừa đựng nước uống ra bãi, vừa dùng để nấu canh tại bãi lao động. Những loại rau cỏ dại ăn được tìm thấy ngay tại hiện trường, lén nhổ bỏ vào Gô rồi nhờ nhà bếp nấu. Nấu chín xong để bụi cát lắng xuống phần dưới, ăn phần rau cũng đỡ cái bao tử rỗng một lúc. Hôm nào bắt được con cóc, con nhái thì “canh có người lái”, tù gọi là Protein; con gì cũng qui vào chất thịt, chất protein bổ dưỡng. Tù có câu: “con gì nhúc nhích là ăn được, rau gì không chết thì ăn”… (Nguyễn Chí Thiệp: Trại Tù Kiêm Giang)

“Tiêu chuẩn kỷ luật mỗi tháng còn 9 kg lương thực ăn với nước muối, mỗi ngày hai bữa hai chén nhỏ xíu. Ðến bữa ăn phải kềm hãm cố nhai cho thật kỹ, vừa để cho đỡ buồn, cho qua thời giờ có việc làm. Khi nhai thức ăn, vừa phải nhai kỹ để thức ăn ít ỏi và quí báu được tiêu thật hết, khỏi phí phạm, giúp cơ thể bòn từng chút bổ dưỡng để thân xác chịu đựng con người được sống, nhai thật kỹ để chất thải ra thật ít, 5,7 ngày mới đại tiện một lần, vì đại tiểu tiện đều vào cái thùng đại liên để ngay bên cạnh bục nằm, đến lúc đầy tràn trật tự mới đổ đi, nên suốt ngày đêm phải nằm bên cạnh cái của nợ khai thúi đó.”  (Nguyễn chí ThiệpTrại Tù Kiêm Giang)

Vệ Sinh Trại

Tù nhân kể lại là trại chật trội ngào ngạt hơi người, mùi hôi của mọi người, mọi bệnh riêng của mỗi người, cả tháng không tắm. Cả ngàn người có một giếng nước, kéo một lúc đã cạn nước. Ðể lâu không dùng nên chuột bọ chết thối đầy đáy giếng. Ăn uống vào là bị kiết lỵ. Ði cầu vào các dẫy hố đào trên mặt đất.

Bệnh Tật

“Mặt đứa nào đứa nấy trông như những quả dưa bở chín rục, chân tay bụ bẫm cứ như những cái xác chết trôi ba ngày, đang xếp hàng dài trước bếp xin chút nước vo gạo về uống với hy vọng mong manh tí chất cám có thể cứu nổi căn bệnh phù thũng trầm kha…” (Hà Thúc Sinh: Ðại Học Máu)

Kiểm tra tư trang

“Ông cán bộ tới chỗ tôi và bắt đầu lục soát.

– Cho tôi xem cuộn giấy. Giấy này là giấy gì đây?

– Thưa cán bộ đây là giấy vệ sinh.

– Giấy vệ sinh là giấy gì?

– Thưa cán bộ là giấy đi cầu.

Ông cầm cuộn giấy, xem rất kỹ, chê bai đủ điều rồi nói tiếp:

– Ðây chính là tài liệu mật mã bọn Mỹ ngụy để lại cho các anh xử dụng để quấy phá cách mạng, nhưng làm sao qua mắt cách mạng được. Tôi ra lệnh tịch thu toàn bộ những cuộn giấy này của anh và của các anh khác.” (Phan Phát Huồn: AK và Thập Giá)

Thăm viếng và thư từ của gia đình

Theo điều 29, “hai tháng phạm nhân được gặp người nhà một lần. Phạm nhân có trách nhiệm hướng dẫn người nhà chuẩn bị giấy tờ cần thiết khi đến thăm mình.”

Ðiều 27: “Phạm nhân mỗi tháng được viết một lá thư cho gia đình; thư phải đưa lên cán bộ duyệt trước khi gửi; không được dùng tiếng ngoại quốc, tiếng lóng.”

Tết 1977 là lần đầu tiên phạm nhân được viết thư cho thân nhân ở trong Nam. Thư gửi qua Trung Ðoàn 52-A, Chí Hòa Sài Gòn. Họ không được phép tiết lộ nơi đang học tập. Quà do thân nhân gửi không được quá 5 kí. Trà, cà phê, rượu, muối bị cấm tuyệt. (Trần Vĩ)

Kết luận

Chế độ tù cải tạo dưới chế độ Cộng Sản vào những thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước  đã đưa đến sự tàn phá tâm thần và thể xác cho nhiều quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Ðây là một thảm họa mà đến nay thế giới loài người văn minh cũng như con cháu chúng ta vẫn chưa biết được tường tận.

Các vị cựu nhân cải tạo sống sót hình thức tù đầy này cũng nên ghi lại những bài học đắt giá, những hy sinh của chính mình, của các bạn tù đã nằm xuống. Và các bà vợ tù nhân cải tạo cũng có nhiều cay đắng cuộc đời. Một thân phải tần tảo chăm sóc bầy con giữa những kỳ thị của chế độ mới, rồi lại còn trèo đèo lặn suối đi thăm nuôi chồng  bị đầy ải nơi rừng thiêng nước độc. Ghi lại để các thế hệ con cháu, trong ngoài nước, hiểu nỗi lòng của mình. Cũng như để tránh tái diễn, nhất là đối với những người cùng chung dòng giống. Chứ không phải để nuôi mãi lòng thù hận nhau.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của BPSOS: http://www.machsongmedia.com.]

NGUỒN: Đời Sống Người Tù Cải Tạo – Mach Song Media – Nhà


 

Ý Kiến quanh vụ ÔNG NGUYỄN THÀNH NAM bị bắt theo Điều 117 Bộ luật Hình sự-Trương Nhân Tuấn

Trương Nhân Tuấn


Ngày 7/7/2026, báo chí Việt Nam đưa tin ông Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” bị bắt, bị khởi tố

Ông Nguyễn Thành Nam là ai? Là một trong những người sáng lập và là cựu Tổng Giám đốc FPT, Phó Chủ tịch HĐQT trường Đại học FPT, tham gia giảng dạy bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Khoa học và Giáo dục Khai phóng (VinUniversity). Theo báo chí, ông Nam đã bị Công an thành phố Hà Nội khởi tố về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự của nước này.

Nguyên do là từ cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng”. Ông Nguyễn Thành Nam đã viết về ông Hồ Chí Minh với cách nhìn và ngôn ngữ “đời thường, hiện đại, phù hợp với giới trẻ”, khác với cách nhìn và ngôn ngữ nghiêm túc, ca ngợi, tô hồng như từ trước đến nay. Khi cuốn sách vừa ra mắt trong tháng 4/2026, nhiều ý kiến đã khen ngợi, trong đó có ông Nguyễn Quang Thiều nhà văn, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhận định rằng tác phẩm giúp người đọc tiếp cận hình ảnh Hồ Chí Minh một cách gần gũi hơn. Nhưng sau đó thì cuốn sách bị những người có quan điểm bảo thủ chỉ trích, lên án rằng sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, xúc phạm, bôi nhọ hình ảnh “lãnh tụ” Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo ĐCSVN. Nhiều tờ báo đã rút lại những bài viết khen ngợi. Cuốn sách bị thu hồi, NXB Hội Nhà Văn–nơi xuất bản cuốn sách, bị phạt 100 triệu đồng, buộc tiêu hủy toàn bộ sách đã in, bị đình chỉ hoạt động 2 tháng, Và nay thì ông Nguyễn Thành Nam chính thức bị bắt, bị khởi tố.

Điều đáng nói là ông Nguyễn Thành Nam từ trước đến giờ hoàn toàn không phải là một người bất đồng chính kiến mà là một người sinh ra, lớn lên, thành đạt và có cuộc sống khá là viên mãn trong chế độ XHCNVN, thậm chí còn giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh như vừa nêu ở trên.

*****

Với tư cách một người Việt nam luôn trăn trở với tình hình đất nước, tôi cho rằng việc buộc hành vi biên soạn, tàng trữ và phát tán tác phẩm “Chuyện với Thanh –Lời kể mới về ánh sáng” của Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự vào tội danh “Chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là một sự áp đặt khiên cưỡng, chưa đánh giá đúng bản chất hành vi và sự xung đột sâu sắc với các cam kết quốc tế về Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) mà Nhà nước Việt Nam đang xây dựng.

Tôi trân trọng đề xuất bốn (04) luận cứ nhằm làm rõ tính khách quan, khoa học và tinh thần xây dựng của các bị cáo:

  1. Bản chất của tác phẩm Chuyện với Thanh là “nghiên cứu khoa học lịch sử đa chiều”, không phải “xuyên tạc, chống phá”.

Cáo trạng buộc tác phẩm có nội dung bôi nhọ đời tư Chủ tịch Hồ Chí Minh và hạ thấp lịch sử cách mạng. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học chính trị và sử học hiện đại, lịch sử không phải là một giáo điều bất biến, mà là một tiến trình liên tục được bổ sung bằng tư liệu và góc nhìn mới.

Về vấn đề đời tư lãnh tụ: Việc tiếp cận đời tư của các nhân vật lịch sử dưới góc nhìn nhân văn, đời thường – loại bỏ lớp sương mù huyền thoại (thánh hóa) của giai đoạn chiến tranh tuyên truyền – là xu thế tất yếu của thời đại hội nhập. Khái niệm cán bộ “agitprop” (xách động và tuyên truyền) hay việc sử dụng các bút danh như Trần Dân Tiên, T.Lan, CB… để tự thuật trong bối cảnh những năm 1940-1950 là những sự thật lịch sử đã được giải mật và thảo luận rộng rãi trên thế giới. Việc các bị cáo hệ thống hóa các dữ kiện này dưới hệ qui chiếu mới hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu học thuật, không chứa đựng động cơ bôi nhọ hay ác ý chính trị.

Về tính khách quan của lịch sử cách mạng: Tác phẩm chỉ ra những khoảng trống quyền lực (Power Vacuum) trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự thỏa hiệp chính trị tất yếu với Hoa quân Tưởng Giới Thạch để lập Chính phủ Liên hiệp năm 1946, hay vai trò quyết định của nguồn viện trợ quân sự từ Moscow và Bắc Kinh sau năm 1949. Đây là những sự thật địa chính trị phản ảnh tương quan lực lượng thời Chiến tranh Lạnh. Nếu không có đòn bẩy quân sự từ khối Cộng sản, một quốc gia chưa tự chế tạo được vũ khí như Việt Nam không thể giành chiến thắng trước các siêu cường cơ giới hóa. Khẳng định điều này là tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử, chứ không phải phủ nhận xương máu của cha ông.

  1. Tính chính danh của Đảng CSVN và Nhà nước hiện nay đến từ “hiệu năng đổi mới”, không phụ thuộc vào việc kể lể công lao quá khứ. Cơ quan công tố đang sử dụng “hệ qui chiếu thời cách mạng” để bảo vệ một tính chính thống lịch sử tuyệt đối. Lập luận này hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế phát triển của đất nước:

Tính chính danh tối cao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thế kỷ 21 không còn nằm ở vị thế “có công đánh Pháp đuổi Mỹ giành độc lập” của quá khứ năm 1945 hay 1975, mà đến từ chính sách Đổi mới (1986).

Bản chất của Đổi mới là việc Nhà nước dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, sửa chữa các sai lầm của giai đoạn trước, xây dựng lại nền kinh tế thị trường, thừa nhận quyền sở hữu tư nhân và mở cửa hội nhập, những điều mà cuộc cách mạng vô sản thời kỳ đầu từng tìm cách xóa bỏ.

Do đó, một tác phẩm đặt ra các câu hỏi phản biện về giai đoạn lịch sử cũ, mục tiêu hiển nhiên là thiết lập lại những thảo luận cay đắng của những lãnh đạo tiền bối trong lúc lúc họ băn khoăn đứng trước bản lề “đổi mới”: hội nhập để phát triển hay là cố thủ rồi sụp đổ. Sự thành công trong hội nhập đã giúp thể chế hiện nay đứng vững, bằng năng lực quản trị kinh tế và sự ổn định xã hội ở hiện tại, chớ không hề đến từ việc ca tụng những hình tượng vô tri trong lịch sử.

Việc kết tội các bị cáo bằng hệ tư tưởng cũ là sự thụt lùi so với chính tinh thần “đổi mới” của đất nước, đặc biệt, là một hành vi đi ngược lại tinh thần khai phóng để đưa “đất nước vươn mình” của ông Tô Lâm.

  1. Sự mâu thuẫn với Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) trong thời kỳ đất nước hội nhập vào dòng chảy quốc tế.

Việt Nam hiện nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện với hơn 190 quốc gia, là thành viên của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và các định chế luật pháp quốc tế. Điểm tựa chính thống pháp lý của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đến từ sự thừa nhận của luật pháp quốc tế toàn cầu.

Một trong những cột trụ của hội nhập quốc tế là Tinh thần Trọng luật (Rule of Law), đòi hỏi luật pháp phải rõ ràng, minh bạch và bảo vệ các quyền cơ bản của con người, bao gồm quyền tự do nghiên cứu và tự do ngôn luận.

Việc áp dụng Điều 117 BLHS với những khái niệm định tính mơ hồ như “tuyên truyền thông tin nhằm chống Nhà nước” để hình sự hóa một công trình nghiên cứu sử học sẽ gửi đi một thông điệp tiêu cực tới cộng đồng quốc tế. Nó tạo ra một nghịch lý: Việt Nam muốn hội nhập toàn cầu về kinh tế, chấp nhận luật chơi chung về vật chất, nhưng lại dùng luật thời chiến để “treo cổ” tư duy lý luận. Sự thiếu đồng bộ này làm tổn hại đến uy tín quốc gia và tính chính danh pháp lý quốc tế mà Nhà nước đã dày công xây dựng.

  1. Hoàn toàn không có “Hậu quả nguy hại cho xã hội”

Để cấu thành tội phạm theo tinh thần của luật pháp tiến bộ, hành vi phải gây ra nguy cơ hoặc hậu quả nhãn tiền, nguy hại cho xã hội.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự là những trí thức, nhà khoa học hoạt động thuần túy trên giảng đường, bằng các trang sách. Tác phẩm của họ chỉ được lưu hành trong phạm vi hẹp của giới nghiên cứu và những người quan tâm đến lịch sử.

Tác phẩm không hề kêu gọi bạo loạn, không kích động lật đổ chính quyền, không phá hoại an ninh, trật tự công cộng. Một cuốn sách dày tính học thuật không thể lật đổ một chế độ có hệ thống luật pháp và quân đội vững mạnh. Việc hình sự hóa một cuộc thảo luận học thuật bằng án tù là một biện pháp không tương xứng (disproportionate), vi phạm nguyên tắc nhân văn của pháp luật.

Kết luận:

Nếu chúng ta muốn có một xã hội “tự lực tự cường”, chúng ta cần những trí thức dám tư duy phản biện. Nếu chúng ta muốn có một nhà nước trọng luật thực sự để ngẩng cao đầu hội nhập với thế giới, chúng ta không thể sợ hãi trước những góc nhìn lịch sử khác biệt.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự không chống lại Nhà nước; họ chỉ đang thực hiện quyền và nghĩa vụ của một người trí thức: dùng hệ qui chiếu của thời đại mới để soi rọi lại quá khứ, giúp quốc gia hiểu rõ hơn về chính mình để bước tiếp.

Nhưng những luận cứ trên tôi hy vọng các cơ quan hành pháp và tư pháp Việt Nam sẽ áp dụng tinh thần thượng tôn pháp luật, đình chỉ vụ án, trả tự do cho Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các nhân sự liên quan, khép lại một vụ việc đáng tiếc để bảo vệ uy tín hội nhập của nước nhà.

Trương Nhân Tuấn


 

Gói Đường, Gói Muối, Gói Cả Một Đời Chờ Đợi

Liem Pham

 Có những người sau năm 1975 cũng mang án tù, nhưng không có tên trong bất cứ danh sách nào.

Đó là những người vợ. Ngày nhận được mảnh giấy báo chồng đang bị “học tập cải tạo” ngoài Bắc, chị ngồi rất lâu. Không phải vì không biết đọc. Mà vì không biết bắt đầu từ đâu.

Thăm nuôi.

Hai chữ nghe nhẹ như gió, nhưng để đi được một chuyến là cả một hành trình đầy nước mắt.

 Chị bán chiếc nhẫn cưới. Cầm cố chiếc xe đạp. Vay gạo hàng xóm. Gom từng đồng bạc lẻ. Mỗi đồng đều đổi bằng những ngày nhịn ăn của mẹ con ở nhà.

Rồi bắt đầu học:

Học cách gói đường vào túi ni lông nhỏ, buộc thật chặt để khỏi chảy khi gặp mưa.

Học cách chia muối thành từng gói bằng hai ngón tay, vì nghe biết trong trại, một nhúm muối cũng quý hơn vàng.

Học cách gói thuốc lào thật kín để khỏi mất mùi. Với người tù, vài hơi thuốc đôi khi là chút bình yên hiếm hoi sau một ngày lao động kiệt sức.

Học cách khâu tiền vào lai áo. Học cách giấu vài viên thuốc cảm trong ruột bánh. Học cách trả lời cán bộ sao cho vừa đủ, không thừa một câu, không thiếu một chữ.

Không ai dạy chị. Cuộc đời dạy.

 Những người đàn bà gặp nhau ở ga Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng… nhìn chiếc bao tải trên vai là biết cùng chung một số phận. Họ truyền cho nhau từng kinh nghiệm nhỏ:

“Đừng đựng nước mắm bằng chai thủy tinh.”

“Đừng để đường chung với cá khô.”

“Đến trại nhớ cúi đầu, đừng cãi.”

Toàn những bài học không có trong bất kỳ cuốn sách nào.

 Rồi chuyến tàu lắc lư nhiều ngày đêm. Toa tàu đông nghẹt. Mùi mồ hôi, mùi cá khô, mùi khoai luộc hòa với tiếng trẻ con khóc, tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray. Người đàn bà ôm chặt chiếc giỏ như ôm cả sinh mạng của chồng mình.

Bởi trong đó không chỉ có vài ký gạo, ít đường, ít muối. Mà còn có tình nghĩa vợ chồng.

Có niềm hy vọng.

Có lời nhắn của con: “Ba nhớ về.”

 Đến nơi, sau bao lần kiểm tra, cân đo, xét hỏi, nhiều món bị giữ lại. Có thứ bị tịch thu. Có thứ bị cắt xén. Chị chỉ biết im lặng.

 Rồi cũng đến lúc được gặp.

Chỉ vài chục phút.

Qua hàng rào.

Qua ánh mắt của cán bộ.

Qua khoảng cách tưởng gần mà xa như cả một đời người.

Chị cố cười.

Anh cũng cố cười.

Không ai dám khóc.

Bởi người ở lại sợ người đi thêm đau lòng. Người trong trại lại sợ vợ về sẽ khóc suốt dọc đường.

 Khi chuyến tàu quay về Nam, chiếc giỏ đã nhẹ hơn.

Nhưng trái tim người vợ lại nặng hơn.

Lại tiếp tục những tháng ngày dành dụm.

Lại vá áo thuê.

Lại bán từng lon gạo.

Lại gói đường.

Lại gói muối.

Lại gói thuốc lào.

Để chờ một chuyến thăm nuôi khác, không biết sẽ đến sau sáu tháng, một năm hay lâu hơn.

 Lịch sử thường nhắc đến những năm tháng tù cải tạo với những người đàn ông sau hàng rào kẽm gai. Nhưng lịch sử cũng nên dành một trang cho những người phụ nữ lặng lẽ đứng ngoài cánh cổng ấy.

Không được tuyên dương.

Nhưng bằng đôi vai gầy, họ đã gánh cả một gia đình, nuôi con khôn lớn và giữ cho người chồng trong trại còn niềm tin để sống.

Có lẽ, trong ký ức của nhiều cựu tù cải tạo, thứ ngọt nhất không phải là gói đường.

Mà là biết rằng, ở quê nhà, vẫn có một người vợ đang cặm cụi buộc từng nút ni lông, gói ghém cả tình yêu và hy vọng vào chuyến tàu ra Bắc.

Phạm Sơn Liêm


 

Con Đi Tù Cải Tạo, Cha Mẹ Già Vẫn Đợi

Liem Pham  

Có những người tù cải tạo còn có được vài dòng thư gửi về nhà sau nhiều tháng, nhiều năm.

Nhưng cũng có những người… biệt vô âm tín.

Không thư.

Không tin.

Không biết còn sống hay đã chết.

Ở quê nhà, người đau khổ nhất nhiều khi không phải là người vợ trẻ, mà là những cha mẹ đã bạc đầu.

Mỗi buổi sáng, ông cụ lại chống gậy ra đầu ngõ. Chẳng để làm gì. Chỉ nhìn con đường đất dẫn vào xóm. Mỗi tiếng xe đạp, mỗi bóng người mặc áo xanh, mỗi tiếng chó sủa đều khiến ông ngẩng đầu lên, rồi lại lặng lẽ cúi xuống.

Bà cụ thì vẫn giữ nguyên chiếc chén, đôi đũa của người con trai trên chạn bếp. Bà nói với con dâu:

“Biết đâu nó về bất ngờ… phải có cái để nó ăn.”

Năm này qua năm khác.

Mái tóc của cha trắng thêm.

Đôi mắt của mẹ mờ đi.

Mùa lúa chín rồi lại gặt. Cây trước sân thay bao mùa lá. Người trong làng có người trở về, có người không. Nhưng người con của ông bà vẫn chỉ là một khoảng lặng.

Có những buổi chiều, bà cụ ngồi bên hiên, ôm chiếc áo cũ của con mà vá đi vá lại. Chiếc áo chẳng còn ai mặc, nhưng bà vẫn sợ nếu một ngày con về thì áo rách.

Cha ít nói hơn.

Ông chỉ nhìn xa xăm, thỉnh thoảng lẩm bẩm:

“Chắc nó đói lắm…”

Không ai biết trong những trại cải tạo xa xôi ấy, người con có còn sống hay không. Cũng không ai dám nói một lời chắc chắn để cha mẹ già bớt hy vọng.

Hy vọng là điều cuối cùng người ta còn giữ được.

Có những người cha mất trước khi biết tin con được thả.

Có những người mẹ nhắm mắt vẫn dặn con cháu:

“Nếu anh con có về… nói với nó là má đợi tới phút cuối.”

Đó là điều đau đớn nhất của chiến tranh và những năm tháng sau chiến tranh.

Không chỉ là những năm tù.

Mà còn là những mái nhà có ngọn đèn vẫn thắp mỗi tối, những cánh cổng chưa bao giờ khóa hẳn, và những bậc cha mẹ già dành trọn quãng đời còn lại để chờ một tiếng gọi:

“Cha… Má… Con về rồi.”

Tiếng gọi ấy, với nhiều gia đình, đã không bao giờ vang lên.

Phạm Sơn Liêm