Nếu Mỹ thực sự đã bắt ông Maduro, tiếp theo có thể là gì? BBC

BBC

Mỹ tấn công Venezuela

Mỹ chưa từng thực hiện một can thiệp trực tiếp như vậy ở Mỹ Latinh kể từ khi nước này xâm lược Panama năm 1989 để lật đổ nhà lãnh đạo quân sự lúc bấy giờ là Manuel Noriega.

Nếu ông Maduro thực sự bị loại bỏ khỏi chính trường Venezuela như ông Trump nói, điều này sẽ được xem là một thắng lợi lớn đối với một số nhân vật diều hâu trong chính quyền Mỹ – những người trong số đó từng công khai ủng hộ thay đổi chế độ.

Mỹ đã cáo buộc ông Maduro đứng đầu một tổ chức tội phạm buôn lậu ma túy, điều mà ông phủ nhận. Mỹ cũng không công nhận ông là tổng thống hợp pháp của Venezuela sau cuộc bầu cử năm 2024, vốn chủ yếu bị đánh giá là không tự do và không công bằng.

Trong khi đó, Venezuela đã cáo buộc Mỹ muốn chiếm đoạt các mỏ dầu béo bở của họ – vốn được cho là lớn nhất thế giới.

Điều thực sự chưa rõ là chuyện gì sẽ xảy ra ở chính Venezuela nếu Maduro thực sự đã bị loại bỏ.

Những người ủng hộ can thiệp của Mỹ cho rằng điều này sẽ mở đường cho phe đối lập Venezuela nắm quyền, do nữ chủ nhân giải Nobel Hòa bình Maria Corina Machado hoặc ứng viên đối lập từ cuộc bầu cử 2024 Edmundo Gonzalez dẫn dắt.

Tuy nhiên, những người khác tin rằng tình hình sẽ không hề đơn giản như vậy.

Quân đội và lực lượng bán quân sự ở Venezuela vẫn trung thành với ông Maduro, và thậm chí một số người chỉ trích ông cũng lo ngại rằng can thiệp trực tiếp của Mỹ có thể khiến Venezuela càng thêm bất ổn.

Chắc chắn sẽ còn những đồng minh thân cận khác của ông lo sợ cho tương lai của chính họ sau khi có tin về việc ông Maduro bị bắt.

Xem tiep  BBC

https://www.bbc.com/vietnamese/live/c77k48de146t

Donald Trump : Quân đội Mỹ oanh tạc Caracas, Maduro bị « bắt và đưa ra khỏi » Venezuela  (RFI)


 

IRAN TÊ LIỆT: KHI ĐÁM ĐÔNG KHÔNG CÒN SỢ VÀ NHÀ NƯỚC MẤT ĐỘC QUYỀN KIỂM SOÁT

Chau Trieu is with Can Pham

Những gì đang diễn ra ở Iran hôm nay được mô tả là “biểu tình”, nhưng dưới lăng kính thuyết âm mưu quyền lực, đó giống một khoảnh khắc đứt gãy hệ thống hơn là phản kháng thông thường. Khi người biểu tình xông vào trụ sở chính quyền, khi nhiều thành phố rơi vào tay đám đông, vấn đề không còn là giá xăng, lạm phát hay đạo luật cụ thể. Vấn đề là: nỗi sợ đã biến mất.

Trong các chế độ kiểm soát cứng, quyền lực không dựa chủ yếu vào pháp luật, mà dựa vào tâm lý: khiến đa số tin rằng phản kháng là vô ích và nguy hiểm. Khi tâm lý đó sụp đổ, bộ máy, dù còn quân đội, cảnh sát, vũ khí, cũng bắt đầu tê liệt. Iran hôm nay cho thấy dấu hiệu của giai đoạn này: lực lượng an ninh không còn hiện diện khắp nơi, phản ứng chậm, hoặc đứng ngoài quan sát.

Theo giới phân tích, đây không hẳn là một cuộc nổi dậy “tự phát”.

Nó có thể là kết quả của khủng hoảng tích tụ: kinh tế bị siết bởi trừng phạt, đấu đá nội bộ giữa các phe quyền lực, và đặc biệt là sự rạn nứt trong tầng tinh hoa, nơi một số nhóm không còn mặn mà bảo vệ hiện trạng. Khi thượng tầng không còn đồng thuận, hạ tầng xã hội sẽ bùng nổ.

Một giả thuyết khác cho rằng Iran đang bị đẩy vào “kịch bản mệt mỏi”: không cần đảo chính, không cần chiến tranh trực tiếp, chỉ cần để hệ thống tự nghẽn. Biểu tình lan rộng khiến hành chính tê liệt, kinh tế đình trệ, đồng tiền mất giá, và cuối cùng chính quyền buộc phải lựa chọn giữa đàn áp toàn diện (đầy rủi ro) hoặc nhượng bộ dây chuyền.

Điều đáng chú ý là cách đám đông hành động: không chỉ hô khẩu hiệu, mà chiếm không gian quyền lực. Trụ sở chính quyền, quảng trường, cơ quan hành chính,  đó là biểu tượng. Khi biểu tượng bị chiếm, tính chính danh bị khoét rỗng.

Lịch sử cho thấy, chế độ không sụp đổ vào lúc còn mạnh nhất, mà vào lúc không còn dám dùng hết sức mạnh. Iran hôm nay có thể chưa đến hồi kết, nhưng rõ ràng đã bước vào vùng nguy hiểm: nơi một sự kiện nhỏ cũng có thể kích hoạt hiệu ứng domino. Và khi đám đông đã nếm cảm giác “không còn gì để mất”, không một bộ máy an ninh nào có thể kiểm soát hoàn toàn bằng mệnh lệnh.

Chân dung lãnh đạo


 

Thuỵ Sĩ: hoả hoạn tại quán bar Le Constellation

Tai nạn kinh hoàng nhất trong lịch sử Thuỵ Sĩ: hoả hoạn tại quán bar Le Constellation ở khu trượt tuyết nổi tiếng Crans-Montana, thuộc bang Valais.

Quán bar đã bị thiêu cháy, khiến cho hơn 40 nạn nhân bị thiệt mạng và 115 người bị thương nặng. Đó là các con số cho đến thời điểm hiện tại. Điều đó cũng có nghĩa là sẽ có nhiều nạn nhân hơn trong những giờ tới…

Các nạn nhân chỉ trong độ tuổi 16-18. Họ muốn đón chào đêm Giao thừa tại quán Le Constellation nổi tiếng. Các cuộc điều tra vẫn đang được tiến hành nhằm làm rõ nguyên nhân của vụ cháy.

Theo các nhân chứng sống sót, tất cả chỉ diễn ra trong vài giây khiến tầng dưới của quán bar, nơi diễn ra các màn lễ hội, đã bị bốc cháy, khiến cho hàng trăm người giẫm lên nhau, tranh nhau, để tìm lối thoát…

Chính phủ Liên bang Thuỵ Sĩ đã quyết định treo cờ rũ tại các trụ sở hành chính trong vòng 5 ngày để tưởng niệm các nạn nhân.

Các bệnh viện lớn thuộc các đại học y khoa tại các thành phố lớn ở Thuỵ Sĩ đã tiếp nhận điều trị các nạn nhân bị thương nặng. Các trường hợp nặng nhất được chuyển về bệnh viện CHUV (Le Centre hospitalier universitaire vaudois) tại Lausanne.

Nhiều quốc gia láng giềng đã bày tỏ tình đoàn kết với Thuỵ Sĩ khi ngỏ ý giúp đỡ và đón nhận các nạn nhân bị phỏng nặng.

Trong số các nạn nhân, sẽ có nhiều người nước ngoài vì Crans-Montana là một khu du lịch nổi tiếng sang trọng bậc nhất tại Thuỵ Sĩ.

Nơi tôi làm việc cách không xa bang Valais. Tôi chỉ cầu mong không ai trong số những người quen biết có mặt trong cái đêm định mệnh đón chào năm mới tại quán bar Le Constellation!


 

Vì sao sếp nhà máy quốc phòng Nga tự thiêu ở Quảng trường Đỏ? – BBC

BBC

Hình ảnh các xe tăng và xe bọc thép của Nga bị phá hủy tại làng Dmytrivka, phía tây Kyiv, Ukraine hồi năm 2022

28 tháng 12/ 2025

Cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine đã mở ra một mỏ vàng tiềm năng cho Vladimir Arsenyev, theo Reuters.

Nhà khoa học 75 tuổi này đứng đầu một công ty tại Moscow chuyên sản xuất linh kiện cho thiết bị liên lạc dùng trong các kíp lái xe tăng.

Khi xe tăng Nga tiến vào Ukraine năm 2022, doanh nghiệp của ông ngập trong các đơn đặt hàng quốc phòng.

Nhưng những đơn hàng mà ông giành được hóa ra lại là chén thuốc độc, ông kể lại trong một loạt cuộc phỏng vấn. Đây là lần đầu tiên ông lên tiếng công khai về những khó khăn của mình. Ông đã phải tăng tốc sản xuất với tốc độ chóng mặt và giao hàng đúng hạn với mức giá do Bộ Quốc phòng Nga ấn định.

Thất bại là điều không thể chấp nhận. Gợi lại bóng ma của nhà độc tài Xô Viết Joseph Stalin, chính phủ Nga đã đe dọa các nhà sản xuất quốc phòng bằng án tù nếu họ không thực hiện đúng các nghĩa vụ hợp đồng.  

Đến mùa xuân năm 2023, nhà máy của Arsenyev đã bị chậm tiến độ sản xuất và các giám đốc cấp cao bắt đầu đấu đá lẫn nhau, theo các cuộc phỏng vấn với hai nhân vật chủ chốt và hồ sơ tòa án.

Sergei Mosiyenko, một cổ đông thiểu số, cho hay ông nhận thấy công ty sắp lỡ thời hạn bàn giao nên đã báo cáo vụ việc. “Bộ Quốc phòng là khách hàng,” ông nói. “Họ luôn luôn đúng.”

Vị giám đốc nhà máy nói những quan chức mà ông tìm đến để nhờ giúp đỡ đều phớt lờ ông.

 Khi công ty đang bên bờ vực phá sản, Arsenyev đã đi bộ vào Quảng trường Đỏ ở Moscow vào ngày 26 /7/2024. Phía ngoài Điện Kremlin, gần lăng của người sáng lập nhà nước Xô Viết Vladimir Lenin, ông đã đổ xăng lên người và tự thiêu.

Ông kể mình đã phải nằm viện nhiều tuần với những vết bỏng nặng.

Trả lời từ bệnh viện, Arsenyev phủ nhận việc các hợp đồng đang gặp rắc rối. Ông cho rằng những người muốn hãm hại ông đã gửi các khiếu nại vô căn cứ đến cơ quan chức năng.

“Tại sao một công ty – vẫn nhận được đơn hàng ngày càng nhiều và vẫn hoàn thành các đơn hàng đó – lại có thể đang chết dần được?” ông đặt câu hỏi. “Điều đó cho thấy có thể đang có một vấn đề nào đó.”

Điện Kremlin và Bộ Quốc phòng Nga đã không phản hồi các câu hỏi chi tiết về trường hợp của Arsenyev cũng như cách họ xử lý các hợp đồng quốc phòng nói chung.

Công nghiệp quốc phòng chịu áp lực

Hình ảnh những chiếc xe tăng Nga bị phá hủy gần làng Bohorodychne thuộc vùng Donetsk, Ukraine năm 2024

Những khó khăn tại công ty của Arsenyev, Viện Nghiên cứu Khoa học Trung ương Volna, đã phơi bày các áp lực đè nặng lên các doanh nghiệp quốc phòng Nga, vốn đã phải đối mặt với yêu cầu tăng tốc sản xuất trong nhiều năm qua.

Khó khăn của Arsenyev không phải là cá biệt, theo kết quả các phán quyết của tòa án Moscow.

Dựa trên các tài liệu được đăng tải trên trang web của các tòa án thẩm quyền chung tại Moscow, đã có ít nhất 34 người phải đối mặt với cáo buộc hình sự vì làm gián đoạn các đơn đặt hàng quốc phòng của nhà nước kể từ khi cuộc chiến Ukraine bắt đầu. Trong số đó có ít nhất 11 giám đốc công ty và 2 quản lý cấp cao.

Kể từ khi Tổng thống Nga Vladimir Putin ra lệnh đưa quân vào Ukraine vào tháng 2/2022, các nhà sản xuất của nước này đã tăng sản lượng đạn pháo, tên lửa, xe tăng và thiết bị không người lái (drone), vượt xa khả năng sản xuất hoặc nguồn cung từ các đồng minh phương Tây của Kyiv.

Tuy nhiên, theo Mathieu Boulegue, chuyên gia tư vấn tại Viện nghiên cứu Chatham House (Anh), cùng một số nhà phân tích an ninh phương Tây khác, lĩnh vực này cũng đang bị kìm hãm do sự kém hiệu quả và tham nhũng, dẫn đến chi phí leo thang, trì hoãn sản xuất và không đạt chỉ tiêu.

Trả lời phỏng vấn, ông Boulegue cho hay phản ứng của Điện Kremlin – bao gồm việc tập trung quyền quyết định vào Bộ Quốc phòng và tập đoàn quốc phòng nhà nước Rostec, đồng thời áp đặt các quy tắc cứng nhắc lên các nhà thầu – đang làm tổn hại đến khả năng đổi mới và hiện đại hóa của các công ty.

Trong một bài viết hồi tháng Bảy, ông Boulegue đánh giá trong ngắn hạn, điều này có thể sẽ không ảnh hưởng đến khả năng đe dọa của Nga đối với Ukraine và phương Tây, nhưng “sẽ khiến Nga khó duy trì sức cạnh tranh với các đối thủ của mình hơn”.

Tập đoàn Rostec đã bác bỏ và gọi những khẳng định về sự “suy thoái” của ngành công nghiệp quốc phòng Nga là “những câu chuyện tuyên truyền”.

“Mọi thứ của ngành công nghiệp quốc phòng Nga đều ổn,” Rostec tuyên bố trên tài khoản Telegram của mình. “Các đối thủ phương Tây chỉ có thể mơ về tốc độ tăng trưởng mà Rostec đang thể hiện.”

Tuy nhiên, rốt cuộc thì quân đội đã không nhận được các thiết bị cần thiết đúng hạn, theo Luch Factory – đơn vị lắp ráp các thiết bị liên lạc và thuộc sở hữu chung của Rostec thông qua một chuỗi công ty.

Trong báo cáo thường niên năm 2023, Luch Factory chỉ ra nguyên nhân một phần là do công ty của Arsenyev đã không cung cấp linh kiện đúng dự kiến, một cáo buộc mà Arsenyev phủ nhận. Báo cáo không nêu rõ quy mô đơn hàng hay thời gian trì hoãn là bao lâu.

Giám đốc Luch Factory, ông Andrei Pestryaev, từ chối cung cấp chi tiết.

Arsenyev cho biết một tranh chấp với chính phủ về giá linh kiện của Volna đã khiến công ty rơi vào tình trạng thiếu hụt tài chính.

Sau đó, các tài khoản của công ty đã bị phong tỏa do nợ thuế, theo thông tin từ Arsenyev và SPARK, một cơ sở dữ liệu do hãng thông tấn Interfax của Nga tạo ra để tổng hợp thông tin từ các hồ sơ doanh nghiệp và nhà nước. Lương nhân viên không được chi trả, dẫn đến các vụ kiện tụng.

“Chúng tôi đột nhiên thấy mình cận kề bờ vực phá sản,” ông Arsenyev nói.

Trang web của các nhân viên thi hành án cho thấy, khi họ được triệu tập để thu hồi nợ vào tháng 9/2024, họ đã không thể tìm thấy tài sản nào có thể tịch thu.

Để đáp ứng nhu cầu của quân đội, Luch Factory đã phải tự thiết kế và sản xuất phiên bản linh kiện riêng thay thế cho Volna, ông Pestryaev nói.

Tính đến tháng Một, các thiết bị của Luch Factory đang bị thiếu hụt, một thương nhân kinh doanh thiết bị quân sự, người cung cấp hàng cho các đơn vị tiền tuyến của Nga, cho hay trong điều kiện ẩn danh. Chưa thể xác định liệu tình trạng này còn tiếp diễn hay không. Ông Pestryaev từ chối bình luận.

Rostec đã không trả lời các câu hỏi về vụ việc này hay cách xử lý các hợp đồng quốc phòng. Phía quân đội cũng không đưa ra bình luận nào.


 

Ở Thụy Điển, có một sáng kiến nhỏ bé nhưng khiến người ta phải mỉm cười thật lâu

Những Câu Chuyện Thú Vị

Người cao tuổi sống trong các viện dưỡng lão được “mượn” chó từ trại cứu hộ để cùng nhau đi dạo mỗi tuần. Không phải để huấn luyện, không phải để trị liệu theo cách khô khan, mà đơn giản là để cùng bước chậm lại, cùng thở và cùng hiện diện.

Điều ít ai biết là chương trình này ra đời từ một thực tế rất đời thường. Nhiều người cao tuổi từng có thú cưng suốt nửa đời người, nhưng khi về già, họ không còn đủ sức khỏe hay điều kiện để nuôi một con chó trọn vẹn. Trong khi đó, các trại cứu hộ lại có rất nhiều chú chó cần vận động, cần được vuốt ve và cần cảm giác được ai đó chờ đợi. Thế là hai thế giới tưởng như xa nhau ấy được kết nối bằng… một sợi dây dắt chó.

Mỗi tuần, các cụ già đội mũ, khoác áo, tay cầm dây dắt, chậm rãi bước ra ngoài cùng những chú chó từng bị bỏ rơi. Không ai vội vàng. Chó không thúc ép, người cũng không bị giục giã. Chỉ có tiếng bước chân đều đều, hơi thở hòa nhịp và cảm giác mình có lý do để ra ngoài hôm nay. Nhiều nhân viên chăm sóc cho biết, những cụ trước đây gần như không muốn rời phòng, nay lại háo hức hỏi: “Hôm nay đến lượt tôi dắt chó chưa?”.

Lợi ích không chỉ nằm ở vận động thể chất. Các bác sĩ và người chăm sóc ghi nhận rõ rệt sự cải thiện về tâm trạng, khả năng ăn uống và giao tiếp xã hội của người cao tuổi. Với các chú chó, những buổi đi dạo đều đặn cùng con người lớn tuổi – nhẹ nhàng, kiên nhẫn – lại giúp chúng trở nên bình tĩnh hơn, thân thiện hơn và dễ được nhận nuôi hơn. Một vòng tròn tử tế cứ thế hình thành, không cần khẩu hiệu, không cần chiến dịch truyền thông rầm rộ.

Nhưng có lẽ điều sâu sắc nhất nằm ở chỗ này: chó không hỏi bạn đã từng là ai, không quan tâm bạn còn lại bao nhiêu sức. Chúng chỉ biết bạn đang ở đó. Và với nhiều người cao tuổi, cảm giác được một sinh linh khác tin tưởng, chờ đợi và bước đi cùng mình – dù chỉ một vòng quanh khu nhà – là liều thuốc tinh thần vô cùng quý giá.

Giữa một thế giới ngày càng số hóa, câu chuyện từ Thụy Điển nhắc chúng ta rằng đôi khi, chữa lành không đến từ công nghệ cao hay phương pháp phức tạp, mà từ những kết nối rất giản dị. Một con đường nhỏ, một buổi chiều yên tĩnh, một người già và một chú chó – thế là đủ để cả hai cùng khỏe hơn, cả về thể chất lẫn tâm hồn.

#ChuyenTuTe #NhanVan #NguoiGia #ChoCuuHo #ChuaLanhTinhThan #KetNoiConNguoi #DulichVanHoa #Plutos_Sales #Hotdeal365 #Dulichvanhoa

ST.


 

CHI TIẾT TỪNG GIỜ TRONG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA CHẾ ĐỘ CS LIÊN XÔ – Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

Giới thiệu: Mikhail Sergeyevich Gorbachev qua đời ngày 30 tháng 8, 2022, sau một cơn bệnh dài, thọ 91 tuổi. Ông là lãnh đạo thứ 8 và cũng là lãnh đạo cuối cùng của Liên Xô. Ngoài chức vụ Tổng Bí Thư, ông còn kiêm chức vụ Chủ tịch Nhà Nước Liên Xô và Chủ tịch Chủ Tịch Đoàn Xô Viết Tối Cao.  Gorbachev được bầu vào chức vụ Tổng Bí Thư đảng CSLX vào tháng 3, 1985. Dưới thời ông, hai chính sách nổi tiếng Glasnost (Cởi mở) và Perestroika (Cải tổ) được giới thiệu vào năm 1985. Sau sáu năm với nhiều thay đổi và xáo trộn, ngày 25 tháng 12, 1991 Gorbachev “ngưng chức”.

Ngày này được đánh dấu là ngày cuối cùng của Liên Xô mặc dù trên thực tế chế độ CSLX đã chấm dứt trước đó khi 15 nước “Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Xô” trong đó có cả Nga tuyên bố độc lập.

Bài viết khá dài này gồm hai phần:

1) Tóm tắt diễn tiến ngày cuối cùng của  Mikhail Gorbachev trong cương vị lãnh đạo Liên Xô.

2) Nhận định của người viết (1) về sự chuyển động không ngừng của xã hội con người đã thúc đẩy các mâu thuẫn có tính triệt tiêu của chế độ CS bộc phát nhanh, (2) Tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và, riêng tại LX, trung ương không giữ được các địa phương đã dẫn tới sự sụp đổ không tránh khỏi của chế độc CSLX.

——

“Merry Christmas!” Một viên chức trong đoàn tùy tùng của Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev chào Ted Koppel và nhóm phóng viên của hãng tin ABC đang đứng chờ trước bậc thềm điện Kremlin. Ted Koppel chào lại nhưng anh chàng Rick Kaplan, phụ tá của Ted Koppel, phản đối, “Với tôi anh phải chúc là Happy Hanukkah mới phải.” Rick Kaplan nói thế chỉ vì anh ta gốc Do Thái. Viên chức Liên Xô không hiểu Hanukkah nghĩa là gì và tưởng là Honecker nên hỏi ngược, “Tại sao tôi phải chào Happy Honecker chứ nhỉ?”

Thật ra, thắc mắc của viên chức Liên Xô không phải là không có lý do. Ngày 25 tháng 12, 1991 không chỉ là ngày cuối cùng của hệ thống CS Liên Xô mà có thể cũng là ngày cuối của Erich Honecker nữa. Tên lãnh tụ CS Đông Đức này bị truy tố tại Đức và được Gorbachev cho phép tỵ nạn chính trị tại Liên Xô. Erich Honecker sợ bị Boris Yeltsin tống cổ về Đức nên hôm qua đã chạy sang tòa đại sứ Chile ở Moscow xin tỵ nạn. Báo chí loan tin sáng hôm đó Erich Honecker vừa xin tỵ nạn chính trị lần nữa nên viên chức trong đoàn tùy tùng Gorbachev liên tưởng đến y khi nghe “Happy Hanukkah.”

Ngày 25 tháng 12 là ngày nhiều tỷ tín đồ Thiên Chúa Giáo trên thế giới kỷ niệm ngày Chúa Jesus giáng trần nhưng tại Moscow, ngày 25 tháng 12, 1991 là ngày chính thức cáo chung của chế độ Cộng Sản. Thật khó tin nhưng đang diễn ra trước mắt nhân loại. Ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô được tường thuật theo từng giờ trong tác phẩm Moscow, December 25, 1991, the last day of Soviet Union của Conor O’Clery mà người viết tham khảo.

Tối ngày 24

Thời tiết Moscow lạnh xuống gần 0 độ F. Những lớp tuyết dày trên dưới chân tường điện Kremlin là dấu vết của cơn bão tuyết ba ngày trước. Nửa đêm 24 tháng 12, một đoàn hành hương đến cầu kinh dưới chân tháp Thánh Nicholas. Từ khi chính sách Glasnost ra đời, việc tiếp xúc tôn giáo có phần cởi mở. Nhiều đoàn hành hương có cơ hội đến thăm viếng các nhà thờ lớn ở Liên Xô. Phần đông người trong đoàn đến từ Hoa Kỳ. Dù Giáng Sinh theo lịch Julian do Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga dùng là ngày 7 tháng Giêng, những người hành hương này muốn đón Giáng Sinh theo lịch Mỹ ở Moscow. Những ngọn đèn cầy được thắp lên trong đêm đông tại quốc gia CS hàng đầu thế giới. Những người hành hương không biết một cách chi tiết những gì sắp xảy ra trên đất nước này trong vài giờ nữa.

Sáng sớm ngày 25

Mikhail Sergeyevich Gorbachev, Tổng Bí Thư đảng CS kiêm Chủ tịch Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết thức dậy sớm. Ông ta ý thức ngay rằng, tất cả những gì ông sắp sửa làm từ bữa ăn sáng do đầu bếp Shura phục vụ và cả biệt điện nguy nga mà vợ chồng ông ta nghĩ trước đó sẽ ở cho đến chết đều sẽ là lần cuối. Chiếc xe đặc biệt ZIL-41047 chờ ông. Hai viên đại tá có khuôn mặt lạnh như tiền ngồi trên chiếc Volga theo sau xe của Gorbachev. Họ không phải là cận vệ nhưng là người mang chiếc cặp trong đó chứa các thông tin tuyệt mật để phát động chiến tranh nguyên tử. Hai đại tá này biết chiều tối nay họ sẽ chào từ biệt Mikhail Gorbachev để phục vụ lãnh đạo Cộng Hòa Nga Boris Yeltsin.

Mikhail Sergeyevich Gorbachev được thế giới ca ngợi như là người đã thổi vào không khí chính trị Liên Xô làn gió mới và được trao tặng giải Nobel Hòa Bình 1990 nhưng trong nước dân chúng đổ hết công phẫn lên ông ta. Tên Gorbachev đồng nghĩa với suy thoái, thất nghiệp, vật giá leo thang, tem phiếu. Người dân thường dĩ nhiên vội biết và cũng không cần biết, Gorbachev là lãnh đạo CS thứ tám và cũng là người kế thừa một gia sản lạc hậu, ung thối từ trong máu của chế độ.

Nhiều câu chuyện cười ở Moscow về thái độ bất mãn của người dân đối với Gorbachev. Ví dụ, trong một tiệm rượu, một người khách đứng dậy bỏ đi, các bạn anh ta hỏi đi đâu, anh chàng đáp đi giết Gorbachev chứ đi đâu, anh ta mở cửa ra đi thật nhưng trở lại ngay, bạn bè hỏi sao giết Gorbachev mà nhanh thế, anh chàng đáp không giết được vì phải sắp hàng dài quá.

9 giờ sáng ngày 25

Mikhail Gorbachev và đoàn tùy tùng đến dinh chủ tịch ở điện Kremlin hơi trễ hơn thường lệ chút ít. Hãng tin Mỹ ABC gồm Ted Koppel và Rick Kaplan có mặt ngay tại chỗ dừng xe. Họ được Gorbachev cho phép tường thuật biến cố lịch sử này. Theo lời kể lại của Ted Koppel, Gorbachev rất trầm tĩnh. Nhân viên làm việc trong điện Kremlin vẫn tới đủ nhưng không có việc nào làm khác hơn là dọn dẹp. Thời khóa biểu tiếp khách trước đây được tính từng phút, hôm đó trống không. Mặc dù theo thỏa thuận, Gorbachev có đến cuối năm để dời ra khỏi điện nhưng thực tế Yeltsin đã tóm thu hết quyền hành và các phương tiện thông tin. Đơn vị phòng vệ điện Kremlin vẫn túc trực nhưng không đặt dưới quyền chỉ huy của Gorbachev mà trực thuộc thẳng Yeltsin. Chiếc điện thoại màu trắng trên bàn làm việc của Gorbachev còn hoạt động nhưng không ai gọi vào.

10 giờ sáng ngày 25

Trong lúc điện Kremlin chìm trong im lặng, Tòa Nhà Trắng Nga lại sôi nổi với hàng loạt chương trình hoạt động trong ngày mới của nền Cộng Hòa. Tòa nhà quốc hội Nga này là biểu tượng của trận chiến chống chế độ toàn trị khi Yeltsin đứng trên xe tăng thách thức đám lãnh đạo CS cực đoan hồi tháng Tám trước đó. Boris Yeltsin lãnh đạo Nga đến văn phòng làm việc. Ông lên văn phòng đặt trên tầng thứ năm bằng cầu thang riêng phía sau. Trên bàn làm việc hàng loạt sắc lịnh chờ ông ký. Một chế độ hình thành bằng máu, dao búa và súng đạn đang được giải thể bằng sắc lịnh. Một trong những sắc lịnh ông phải ký hôm nay là giải tán cơ quan KGB và thay bằng Federalnaya Sluzhba Bezopasnosti gọi tắt là FSB tức Cơ Quan An Ninh Liên Bang Nga. Không chỉ trong ngành an ninh, mật vụ mà cả sắc lịnh về các hí viện, nhạc viện, các viện hàn lâm, trường đại học, viện bảo tàng v.v… từ nay đều trực thuộc Cộng Hòa Nga.

Các cơ quan ngoại giao quốc tế cũng vậy. Bộ trưởng Ngoại Giao Eduard Shevardnadze nổi tiếng thời Gorbachev bị trục xuất ra khỏi nhiệm sở và thay bằng Bộ trưởng Ngoại Giao Nga Andrey Kozyrev. Tại tất cả nhiệm sở ngoại giao khắp các múi giờ trên toàn thế giới, cờ Liên Xô bị hạ xuống và cờ Cộng Hòa Nga ba màu được kéo lên. Nhiều đại sứ vội vã đánh điện cho Yeltsin tuyên bố trung thành. Tòa đại sứ lớn nhất của Liên Xô là tòa đại sứ tại Washington DC với hơn 300 nhân viên thuộc nhiều sắc tộc. Các nhân viên chia thành nhiều nhóm theo sắc dân và tự tuyên bố họ là đại diện cho cộng hòa của họ tại Hoa Kỳ.

Gần 11 giờ sáng Tổng thống Nga Boris Yeltsin qua phòng họp quốc hội Nga ở lầu 1. Tổng cộng 252 đại biểu quốc hội đang tập trung để chứng kiến ngày lịch sử. Nhân dịp này, Boris Yeltsin thông báo tin vui rằng 11 quốc gia cựu Liên Xô trong phiên họp tại Kazakhstan đã đồng ý thành lập Khối Thịnh Vượng chung.

12 giờ trưa ngày 25

Mikhail Gorbachev ăn trưa xong. Phía sau phòng ăn có một phòng nhỏ bỏ trống. Tổng bí thư CS Liên Xô vào, đóng cửa lại và nằm nghỉ. Các phụ tá của ông hớt hải đi tìm. Gorbachev phải có mặt để ký thư từ biệt gởi các lãnh đạo thế giới mà ông có quan hệ tốt. Một danh sách khá dài từ Tổng thống Hoa Kỳ George H. W. Bush cho đến Thủ tướng Anh John Major và cả các ông hoàng như Vua Juan Carlos và Nữ Hoàng Sofia của Spain.

Bài bình luận trên báo Nga buổi sáng hôm đó chẳng tốt lành gì cho lãnh tụ CS Mikhail Gorbachev. Tờ Rossiyskaya Gazeta tiết lộ các cam kết mật Yeltsin dành cho Gorbachev khi về hưu bao gồm số phụ cấp bằng với mức lương hiện nay của ông ta có điều chỉnh theo mức lạm phát, hai chiếc xe riêng và một đoàn tùy tùng 20 người kể cả tài xế và an ninh. Đây là thỏa thuận kín giữa Gorbachev và Yeltsin nhưng đã bị cánh Yeltsin tiết lộ cho báo chí biết. Các báo còn cho rằng Gorbachev đòi hỏi một đoàn phục vụ lên đến 200 người. Thật ra, theo Chernyaev, phụ tá của Gorbachev, ông ta chưa bao giờ đòi hỏi một số lượng nhân viên phục vụ đông như thế. Phe Yeltsin chỉ bịa ra để làm nhục Gorbachev.

4 giờ chiều ngày 25

Gorbachev và phụ tá Andrei Grachev xem lại diễn văn mà 4 giờ nữa ông sẽ đọc và quyết định thay chữ “từ chức” bằng chữ “ngưng các hoạt động” trong chức vụ chủ tịch Liên Bang Xô Viết. Diễn văn được sửa tới sửa lui nhiều lần chung quanh các điểm xung khắc giữa Yeltsin và Gorbachev.

Cũng trong buổi chiều cuối cùng này, Gorbachev gọi điện thoại chào từ giã tổng thống Hoa Kỳ George H. W. Bush.

Buổi điện đàm được truyền hình ABC thu. Gorbachev mở đầu trước bằng gọi một cách thân mật “George thân mến, chúc mừng Giáng Sinh đến anh và Barbara!” và nói tiếp “George, tôi muốn báo anh biết một tin quan trọng. Trước mặt tôi là diễn văn từ nhiệm. Tôi sẽ rời khỏi chức vụ tổng tư lịnh và chuyển giao quyền sử dụng vũ khí nguyên tử sang tổng thống Liên Bang Nga.”

Buổi điện đàm diễn ra trong không khí rất thân mật và tổng thống Hoa Kỳ mời Gorbachev viếng thăm Hoa Kỳ lần nữa. Cả hai đều tránh nhắc tới tên Yeltsin.

Trời đã về chiều. Gorbachev và hai phụ tá thân cận nhất của ông ngồi quanh nhau bên ly cà phê cuối cùng. Cả ba đồng ý, sau khi đọc diễn văn, Gorbachev sẽ ký quyết định từ nhiệm thay vì ký trước như dự tính.

Trong lúc nhấp cà phê, câu chuyện về số phận Nicolae Ceausescu của Romania được nhắc đến. Mặc dù Gorbachev ví Ceausescu như là Hitler của Romania, cả hai đã duy trì một quan hệ lãnh đạo các quốc gia trong khối CS. Chỉ ba tuần trước khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, Gorbachev đã tiếp y tại điện Kremlin. Trong dịp đó Gorbachev khuyên Ceausescu đừng ngại thực hiện các cải cách dân chủ và tiên đoán “đồng chí sẽ còn sống trong dịp hội nghị các lãnh đạo CS Liên Xô và Đông Âu” tổ chức ngày 9 tháng Giêng, 1991. Ngày đó không bao giờ đến và Nicolae Ceausescu cũng đã chết rồi.

7 giờ tối ngày 25

“Kính thưa toàn thể nhân dân,”giọng Mikhail Gorbachev hơi lạc đi vì xúc động, gò má ông rung lên. Trong chốc lát, ông lấy lại bình tĩnh, “Số phận đã quyết định rằng, khi tôi trở nên lãnh đạo đất nước, hiển nhiên đã có những sai trái trầm trọng trong quốc gia này. Chúng ta có đầy đủ mọi thứ, đất đai, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và Tạo Hóa đã ban cho chúng ta trí tuệ và tài năng – Tuy nhiên, mức sống của chúng ta tệ hại hơn nhiều so với các quốc gia kỹ nghệ khác và khoảng cách mỗi ngày rộng thêm. Lý do rõ ràng vì xã hội bị bóp ngặt trong tay của một hệ thống quan quyền được tạo ra để phục vụ một ý thức hệ, và phải chịu gánh nặng chạy đua vũ trang, căng thẳng tột cùng. Tất cả cố gắng để thực hiện các cải cách nửa vời đều lần lượt dẫn đến thất bại. Đất nước không còn hy vọng gì nữa.”

Gorbachev tiếp tục nói về các cải cách ông thực thi từ 1985, dù sao, đã là những viên gạch cần thiết lót lên con đường dẫn đến chế độ dân chủ và theo ông “xã hội đã đạt được tự do, tự do về chính trị và tự do về tinh thần.”Gorbachev chấm dứt diễn văn lúc 7:12 phút tối. Ông nhìn lên ống kính truyền hình và thêm vào câu nữa “Chúc quý vị mọi điều tốt đẹp.”

Tại sao Liên Xô sụp đổ?

Các lý do làm Liên Xô sụp đổ là nguồn thúc đẩy sự nghiên cứu của nhiều sử gia, nhà nghiên cứu, nhà phân tích và vẫn còn đang được nghiên cứu, phân tích. Tuy nhiên, như nhiều người đồng ý, nguyên nhân sâu xa vẫn là (1) những mâu thuẫn có tính triệt tiêu trong bản chất của chế độ CS độc tài toàn trị, (2) sự chuyển hóa không ngừng của xã hội và (3) các nguyên nhân trực tiếp gồm tình trạng tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương.

Mâu thuẫn có tính triệt tiêu của chế độ CS

Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, chế độ CS Liên Xô không thể nào sụp đổ. Sau Thế Chiến thứ Hai, Liên Xô có một đạo quân khổng lồ gồm 500 sư đoàn trong đó có 50 sư đoàn thiết giáp. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh với Mỹ và Tây phương, Liên Xô duy trì một đạo quân từ 3 triệu người đến 5 triệu người. Khoảng thời gian Liên Xô sụp đổ, Liên Xô có 210 sư đoàn với một phần tư là các sư đoàn thiết giáp. Kho vũ khí hạt nhân Liên Xô có 27 ngàn đầu đạn nguyên tử trong đó 11 ngàn đầu đạn có tầm bắn xa đến tận nước Mỹ. Mỗi đầu đạn nguyên tử có thể tàn phá một thành phố của Mỹ.

Bên ngoài hùng mạnh nhưng bên trong, Liên Xô là một cơ chế chính trị chứa đựng các mâu thuẫn nội tại dẫn đến thối rữa. Chủ nghĩa Marx-Lenin đề cao “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” nhưng thật sự từ Cách mạng CS tại Nga, Trung Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Nam v.v… đều phát xuất từ một nhóm nhỏ cán bộ CS biết vận dụng các lý do lịch sử và bất đồng nhất thời trong xã hội để phát động chiến tranh và sau đó tiếp tục cai trị nhân dân bằng súng đạn, nhà tù, sân bắn. Người dân không có quyền chọn lựa. Mâu thuẫn đối kháng mang tính triệt tiêu nhau giữa chế độ độc tài toàn trị và quyền sống, quyền tự do chọn lựa của con người vì thế đã bắt đầu ngay khi cách mạng CS thành công và sâu sắc dần theo thời gian.

Sự chuyển hóa tri thức xã hội

Như người viết đã có dịp phân tích bài Trung Cộng không đáng sợ, sự chuyển hóa tri thức của xã hội là nguồn lực chính thúc đẩy cách mạng dân chủ tại các quốc gia CS. Nguồn lực đó nhanh hay chậm tùy theo điều kiện mỗi nước nhưng là một tiến trình không thể bị ngăn chặn bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào. Những nguồn đối kháng từ bên trong các nước CS đã âm thầm lớn mạnh chỉ chờ cơ hội là bùng vỡ. Sức sống của đất nước cũng như của xã hội là một dòng chảy không bao giờ ngừng nghỉ, các thế lực cầm quyền độc tài chỉ là những khe đá, có thể làm chậm dòng thác văn minh nhưng không thể nào ngăn chặn được.

Khi nhận thức con người được mở rộng, sự sợ hãi sẽ giảm dần. Điều này thể hiện không chỉ ở người dân Liên Xô lúc đó mà cả các cấp lãnh đạo CS Liên Xô cũng không còn sợ các biện pháp chế tài của trung ương đảng. Chưa bao giờ trong lịch sử đảng CS Liên Xô có một ủy viên bộ chính trị từ chức. Không cần phải tìm hiểu cũng biết điều gì sẽ xảy ra cho Boris Yeltsin nếu ông ta từ chức trong thời kỳ Lenin, Stalin.

Yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng cũng như Việt Nam chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội. Các quốc gia CS còn lại như Trung Cộng, Việt Nam tìm mọi cách để ngăn chặn sự phát triển tự nhiên của văn minh con người, cố tình che đậy, bưng bít thông tin nhưng chỉ làm chậm lại tiến trình cách mạng dân chủ một thời gian ngắn mà thôi. Cuộc chiến tranh xói mòn từng mảnh nhỏ này đang diễn ra từng giờ, từng phút và phần thắng đang nghiêng dần về phía người dân.

Tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương

Thập niên 1970 Liên Xô có vẻ trong vị trí ổn định và có ảnh hưởng quốc tế nhất. Vị trí của Liên Xô lên cao tại Phi Châu, Trung Đông và Á Châu. Tuy nhiên sau cuộc gặp thượng đỉnh Vladivostok giữa Leonid Brezhnev và Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford tình hình bắt đầu đổi khác. Nền kinh tế Liên Xô suy sụp dần vì hơn 30%, nhiều phân tích cho rằng hơn một nửa, ngân sách quốc gia phải đổ vào cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ. Giống như đòn kinh tế Mỹ đang áp dụng hiện nay đối với Vladimir Putin, thập niên 1980, Hoa Kỳ cũng thỏa thuận với Saudi Arabia để giữ giá dầu thấp nhằm đánh vào nền kinh tế sống nhờ xuất cảng dầu khí của Liên Xô.

Gorbachev kế thừa một “sự nghiệp cách mạng” nhưng trong thực tế một gánh nặng của chủ nghĩa độc tài toàn trị kéo dài từ 1917 cho đến tháng 3 năm 1985, thời gian ông được chọn làm tổng bí thư đảng. Cơ chế chính trị trung ương không giữ được các cộng hòa địa phương. Trước Giáng Sinh 1991 vài ngày, 11 nước cộng hòa Xô Viết gồm Ukraine, Liên Bang Nga, Belarus, Armenia, Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Turkmenistan, Tajikistan và Uzbekistan tuyên bố họ không còn là những tiểu quốc trong Liên Bang Xô Viết. Bốn nước Estonia, Lithuania, Latvia, Georgia chọn nghiêng hẳn về phía Tây Phương thay vì theo Nga.

Không có con đường nào khác dành cho các lãnh đạo độc tài CS

Chế độ CS là một chế độ đi ngược dòng phát triển văn minh nhân loại và quyền con người như Mikhail Sergeyevich Gorbachev xác nhận “hệ thống toàn trị đã ngăn chặn một quốc gia để trở nên giàu có và thịnh vượng, hệ thống đó phải bị giải thể.” Điều đó đã xảy ra tại Nga, Đông Âu, Phi Châu và đương nhiên sẽ xảy ra tại Trung Cộng và Việt Nam.

Cách mạng dân chủ là một tiến trình không thể nào đảo ngược. Các lãnh đạo CSVN chỉ có một trong hai chọn lựa, hoặc như Mikhail Gorbachev hoặc như bị lật đổ như Nicolae Ceausescu, Erich Honecker chứ không có chọn lựa thứ ba nào.

Trần Trung Đạo


 

Đan Mạch Nổi Giận Vì Đặc Phái Viên Mỹ Muốn “Biến Greenland Thành Một Phần Của Mỹ”

Ba’o Dat Viet

December 23, 2025

Căng thẳng ngoại giao giữa Mỹ và Đan Mạch bất ngờ bùng lên khi Copenhagen triệu tập đại sứ Mỹ hôm 22.12 để phản đối việc Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm Thống đốc Louisiana Jeff Landry làm đặc phái viên tại Greenland – và đặc biệt là tuyên bố gây sốc rằng ông muốn “biến Greenland thành một phần của Mỹ”.

Trên Truth Social, Tổng thống Trump nhấn mạnh Greenland có “tầm quan trọng thiết yếu” đối với an ninh quốc gia Mỹ, không chỉ cho Washington mà còn cho các đồng minh và “cả thế giới”. Từ khi trở lại Nhà Trắng hồi tháng 1, ông Trump liên tục đề cập khả năng tăng cường sự hiện diện của Mỹ tại Greenland – thậm chí không loại trừ sử dụng vũ lực để bảo vệ lợi ích tại hòn đảo giàu tài nguyên chiến lược này, theo AFP.

Ngay trong ngày được bổ nhiệm, Jeff Landry đăng trên X một tuyên bố đầy khiêu khích: “Thật vinh dự khi phục vụ để biến Greenland thành một phần của Mỹ.”

Lời tuyên bố này lập tức khiến giới lãnh đạo Đan Mạch phẫn nộ. Ngoại trưởng Lars Lokke Rasmussen cho biết ông “vô cùng tức giận”, khẳng định Washington phải tôn trọng chủ quyền của Đan Mạch và Greenland. Không lâu sau, Bộ Ngoại giao Đan Mạch triệu tập đại sứ Mỹ để yêu cầu làm rõ. “Chúng tôi đã vạch ra một lằn ranh đỏ rất rõ ràng,” ông Rasmussen nói với Đài DR, cho biết cuộc họp có sự tham dự của đại diện Greenland.

Nhà lãnh đạo Greenland Jens-Frederik Nielsen cùng Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen tuyên bố chung: “Không thể sáp nhập một quốc gia khác. Chúng tôi yêu cầu tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ.”

Trong thông điệp gửi người dân Greenland, ông Nielsen nhấn mạnh việc Mỹ bổ nhiệm đặc phái viên không thay đổi hiện thực chính trị: “Chúng ta sẽ tự quyết định tương lai của mình. Greenland thuộc về người Greenland.”

Liên minh châu Âu lập tức lên tiếng ủng hộ Copenhagen. Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen và Chủ tịch Hội đồng châu Âu Antonio Costa khẳng định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là nguyên tắc cốt lõi của luật pháp quốc tế, đồng thời tuyên bố EU “hoàn toàn đoàn kết với Đan Mạch và người dân Greenland”.

Greenland từ lâu là tâm điểm cạnh tranh chiến lược nhờ vị trí địa lý độc nhất: nằm trên tuyến đường ngắn nhất của quỹ đạo tên lửa giữa Nga và Mỹ, sở hữu trữ lượng đất hiếm lớn chưa khai thác và trở nên quan trọng hơn khi băng Bắc Cực tan, mở ra các tuyến hàng hải mới. Mỹ hiện duy trì căn cứ không quân Pituffik tại Greenland và đã mở lãnh sự quán trên đảo từ năm 2020.

Mặc dù Tổng thống Trump từng nhiều lần bày tỏ tham vọng “mua” Greenland – điều mà Đan Mạch từng gọi là “điên rồ” – lãnh đạo của cả Đan Mạch lẫn Greenland đều tái khẳng định rằng hòn đảo này “không phải để bán” và tương lai của nó sẽ do người Greenland quyết định.

Động thái mới của ông Trump và phát biểu của đặc phái viên Jeff Landry vì thế bị xem là bước leo thang gây tổn hại quan hệ đồng minh, đồng thời khiến châu Âu cảnh giác trước ý định mở rộng ảnh hưởng của Washington tại Bắc Cực.


 

 Joseph Stalin không ngủ như một con người tin tưởng vào quyền lực của mình

Phuong Tran

 Joseph Stalin không ngủ như một con người tin tưởng vào quyền lực của mình.

Khi ông đã thống trị Liên Xô một cách tuyệt đối – nắm trong tay quốc gia rộng lớn nhất thế giới, chỉ huy hàng triệu binh sĩ, định đoạt số phận của cả những dân tộc – ông vẫn đặt bên gối một khẩu súng lục đã lên đạn. Mỗi đêm, ông thay đổi phòng ngủ, không bao giờ nằm lại cùng một chiếc giường hai đêm liền. Ông từ chối đi lại trên cùng một con đường cũ. Ông không ngừng cải tạo các dinh thự, thêm những hành lang bí mật, những cánh cửa khóa layered, những lối thoát hiểm ngoằn ngoèo nhằm đánh lừa kẻ ám sát tiềm tàng.

Đó không phải là thói lập dị. Đó là bản năng sinh tồn của một người hiểu rõ hơn ai hết cách mà các nhà độc tài rời bỏ thế gian.

Vì Stalin đã trèo lên đỉnh quyền lực bằng cách khiến người khác chết trước mình.

Ông thấu suốt cơ chế của những vụ ám sát chính trị. Chính ông đã đạo diễn chúng. Ông đã chứng kiến đối thủ tan biến trong ngục tù, thấy đồng chí cũ bị bắn trong tầng hầm tối, ra lệnh những cuộc thanh trừng nuốt chửng hàng ngàn sinh mạng. Ông biết rằng những lưỡi dao ông đã phóng ra có thể bất cứ lúc nào quay ngược lại. Người trung thành hôm nay có thể đang mài dao ngày mai. Đồng minh đáng tin nhất cũng có thể hóa thành kẻ sát nhân.

Thế nên Stalin không tin ai. Và ông dựng nên cả cuộc đời mình trên nền tảng duy nhất ấy: sự nghi kỵ tuyệt đối.

Nỗi sợ ấy định hình lại mọi ngóc ngách trong cuộc sống ông. Một buổi sáng, nhân viên đến làm việc và bỗng thấy mình bị đuổi mà không một lời giải thích. Lính gác bị thay phiên liên tục để không ai kịp thuộc lòng nhịp sống của ông. Đội cận vệ thay đổi khuôn mặt thường xuyên đến mức sự quen thuộc trở thành điều xa xỉ.

Ngay cả các bác sĩ cũng run rẩy khi chữa trị cho ông – một chẩn đoán sai, một liều thuốc không hiệu nghiệm, và họ có thể bị kết tội là kẻ phá hoại hay gián điệp ngoại bang. Họ tiếp cận sức khỏe của Stalin như những người tháo ngòi nổ, tim đập trong lồng ngực.

Các cố vấn học được rằng sống sót nghĩa là cúi đầu và im lặng. Không đưa ra nhận định trung thực. Không báo tin xấu. Đặc biệt không được phản biện Tổng Bí thư. Họ chỉ nói những gì ông muốn nghe, gật đầu trước mọi lời ông phán, và thầm cầu mong được về nhà nguyên vẹn đêm ấy.

Vì vòng tròn thân cận của Stalin đều thấu một chân lý lạnh lẽo: gần quyền lực tức là gần tử thần.

Nhưng nỗi kinh hoàng không dừng lại bên trong tường thành Kremlin. Nó lan tỏa như ung thư, nhiễm độc toàn bộ cơ thể nhà nước Xô Viết.

Qua cuộc Đại Thanh trừng những năm 1930, chế độ Stalin hành quyết hàng trăm nghìn người, giam cầm và lưu đày hàng triệu linh hồn khác. Các tướng lĩnh từng dẫn quân chiến thắng bị bắn như phản tặc. Các bộ trưởng trung thành suốt mấy thập kỷ tan biến trong đêm. Nhà khoa học, nghệ sĩ, giáo viên, công nhân – bất kỳ ai cũng có thể bị bóng đêm nuốt chửng. Cảnh sát mật gõ cửa lúc nửa đêm, và con người bỗng hóa thành hư vô.

Trung thành không mua được sự an toàn. Năng lực đôi khi lại là lời mời gọi tử thần. Quá giỏi việc, bạn có thể bị coi là mối uy hiếp. Quá được lòng cấp dưới, bạn có thể bị nghi xây dựng phe cánh. Vị trí an toàn nhất là tầm thường và vô hình.

Cả nhà nước Xô Viết dần mang tâm lý của lãnh tụ: đa nghi, bí ẩn, tàn nhẫn. Sự thật trở thành lưỡi dao, nên người ta nói dối. Trung thực mời gọi roi vọt, nên mọi người giấu nhẹm vấn đề. Hệ thống lẽ ra kiến tạo thiên đường cộng sản lại dựng nên một cỗ máy khổng lồ chuyên ăn thịt chính con dân mình.

Stalin không tin ai vì ông tin rằng chẳng ai đáng tin. Và có lẽ ông đúng – bởi chính ông cũng chẳng đáng tin. Sao người khác lại khác được?

Sự mỉa mai thật nghiệt ngã: chính nỗi đa nghi ông tưởng sẽ che chở cho mình lại gây ra những thảm họa khôn lường.

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, văn hóa sợ hãi của Stalin làm tê liệt mọi quyết sách của Liên Xô. Sĩ quan biết rõ điểm yếu quân sự nhưng không dám báo – báo tin xấu đồng nghĩa với viên đạn. Tình báo về cuộc xâm lược của Đức bị bỏ ngoài tai vì dám trái ý Stalin là tự sát. Báo cáo giả thay thế báo cáo thật, bởi sống sót nghĩa là nói những lời lãnh đạo muốn nghe.

Thế nên khi Đức Quốc xã tràn qua biên giới tháng 6 năm 1941, Hồng quân thảm khốc không chuẩn bị dù đã có vô số lời cảnh báo. Cuộc tấn công chớp nhoáng của Đức xé nát lực lượng Xô Viết. Hàng triệu binh sĩ ngã xuống, bị bắt hoặc bị bao vây chỉ trong vài tháng đầu. Thành phố sụp đổ. Cả quân đoàn tan rã như cát bụi.

Những cuộc thanh trừng đa nghi trước đó đã làm suy kiệt Hồng quân – Stalin hành quyết hoặc giam cầm nhiều tướng tài nhất vì sợ họ thành đối thủ. Giờ đây, văn hóa dối trá và sợ hãi khiến đất nước trần trụi trước lưỡi hái chiến tranh mà ai cũng thấy trước nhưng không ai dám chuẩn bị.

Cái giá phải trả thật kinh hoàng. Hơn 26 triệu công dân Xô Viết bỏ mạng trong cuộc chiến – cả quân nhân lẫn thường dân. Nhiều sinh mạng ấy có thể quy trực tiếp hoặc gián tiếp về những rối loạn do nỗi đa nghi của Stalin gây ra.

Song chiến thắng trước phát xít Đức chỉ khiến ông nghi ngờ thêm.

Những năm cuối đời, nỗi đa nghi quay ngược vào trong với cơn cuồng nộ mới. Ông tin rằng chính các bác sĩ – những người giữ mạng sống cho ông – đang âm mưu hại ông. “Âm mưu Bác sĩ” 1952-1953 chứng kiến hàng loạt y sĩ danh tiếng, nhiều người gốc Do Thái, bị bắt và buộc tội mưu sát lãnh đạo.

Đó là cơn điên rồ. Nhưng là cơn điên có gốc rễ – Stalin đã xây một hệ thống nơi lý thuyết âm mưu thành chính sách quốc gia, nơi đa nghi được thưởng, nơi nhìn kẻ thù khắp nơi được ca tụng là trí tuệ thay vì bệnh hoạn.

Stalin tự cách ly mình khỏi thực tại ngày một xa. Càng ít người được tiếp cận ông. Càng ít tiếng nói đến được tai ông. Vòng tròn tin tưởng – vốn đã nhỏ bé – co lại thành hư vô. Ông là người quyền lực nhất Liên Xô, cai trị một siêu cường trải dài từ Đông Âu đến Thái Bình Dương.

Và ông cô độc đến tận cùng đáy lòng.

Ngày 1 tháng 3 năm 1953, Joseph Stalin bị đột quỵ nặng. Ông ngã quỵ trong dinh thự Kuntsevo, không thể cất tiếng kêu cứu.

Và đây là vòng tròn định mệnh của nỗi đa nghi: lính gác do dự hàng giờ không dám bước vào phòng.

Tại sao? Vì ông đã ra lệnh nghiêm cấm làm phiền. Vì bước vào mà không được phép – dù để cứu mạng – có thể lãnh án tử. Vì văn hóa kinh hoàng ông gieo rắc khiến người ta sợ cơn thịnh nộ của ông hơn là lo cho sinh mạng ông.

Nhà độc tài nằm trên sàn lạnh, nửa người tê liệt, không nói không động, trong khi cận vệ và nhân viên đứng ngoài cửa, run rẩy không dám hành động.

Khi bác sĩ cuối cùng được gọi đến và dám bước vào, Stalin đã nằm đó hàng giờ. Sự chậm trễ làm tình trạng ông tồi tệ hơn nhiều. Họ cố cứu chữa, nhưng tất cả đã quá muộn.

Joseph Stalin qua đời ngày 5 tháng 3 năm 1953, thọ 74 tuổi.

Khẩu súng dưới gối không cứu được ông. Những căn phòng luân phiên không cứu được ông. Biện pháp an ninh, thanh trừng, hành quyết, cả một đế chế kinh hoàng – chẳng gì cứu nổi ông.

Cuối cùng, chính nỗi đa nghi đã định nghĩa cả cuộc đời ông lại góp phần đưa ông đến cái chết. Nỗi sợ ông gieo vào lòng người khác khiến không ai dám kịp thời ra tay khi ông cần nhất.

Cuộc đời Stalin chứng minh một chân lý sâu thẳm và đáng sợ: quyền lực tuyệt đối không xua tan nỗi sợ, nó chỉ nhân nó lên gấp bội.

Khi cai trị bằng kinh hoàng, bạn tạo ra một thế giới mà mọi người – kể cả chính mình – sống trong nỗi sợ triền miên. Khi trung thành bị ép buộc bằng bạo lực, bạn mãi mãi không thể tin nó chân thật. Khi đã loại trừ mọi mối đe dọa, bạn chỉ còn lại những kẻ che giấu sự thật vì trung thực đồng nghĩa với tử thần.

Stalin tưởng mình đang dựng nên pháo đài an toàn. Thực ra ông đã xây một nhà tù. Và ông là tù nhân chính – cô đơn nhất.

Ông thống trị một siêu cường vĩ đại. Ông chỉ huy đạo quân hùng mạnh. Ông nắm trong tay sinh mạng hàng trăm triệu người. Các quốc gia run sợ trước sức mạnh Xô Viết. Các nguyên thủ coi ông ngang hàng trên trường quốc tế.

Vậy mà mỗi đêm, ông ngủ như một kẻ bị truy nã. Thay giường liên tục. Vũ khí kề bên. Không tin ai. Sợ hãi mọi người.

Người gieo rắc kinh hoàng cho triệu triệu con người lại sống trong chính kinh hoàng ấy. Kiến trúc sư của nhà nước giám sát lại là kẻ bị giám sát chặt chẽ nhất. Nhà độc tài có quyền giết bất kỳ ai lại biết rằng bất kỳ ai cũng có thể muốn giết mình.

Đó là cái giá cuối cùng của bạo quyền. Không chỉ những gì nó gây ra cho nạn nhân – dù đã đủ kinh hoàng. Mà còn những gì nó làm tan nát tâm hồn chính kẻ bạo chúa.

Stalin dành những năm cuối đời trong cô lập, đa nghi và sợ hãi. Ông chết một mình trên sàn lạnh, bên ngoài là những con người quá kinh hoàng để cứu ông. Hệ thống kinh hoàng ông tạo dựng đã hoàn tất vòng tròn: nuốt chửng cả chính người sinh ra nó.

Quyền lực không có lòng tin chẳng phải sức mạnh. Đó chỉ là một xiềng xích vô hình mà không khẩu súng nào có thể bắn đứt.

Như Like Thần Chưởng


 

 NĂM ẤY, TÔI TỐ CÁO CHÍNH MẸ MÌNH; NGÀY HÔM SAU BÀ BỊ XỬ BẮN

Dành cho Bò Đỏ và DLV

 NĂM ẤY, TÔI TỐ CÁO CHÍNH MẸ MÌNH; NGÀY HÔM SAU BÀ BỊ XỬ BẮN — GIỜ TÔI ĐÃ GIÀ, ĐÊM NÀO CŨNG SỐNG TRONG ÁC MỘNG†

Năm 1970, giữa cao trào Cách mạng Văn hóa, Trương Hồng Binh mới 16 tuổi nhưng đã là một hồng vệ binh cuồng tín. Với cậu, Mao Trạch Đông là chân lý tuyệt đối, còn mọi nghi ngờ đều là tội ác. Một buổi tối trong gia đình ở An Huy, khi tranh luận về sách vở, mẹ cậu – bà Phương Trung Mưu – buột miệng nói rằng có những câu người ta gán cho Mao thực ra không phải do Mao viết, và việc thần thánh hóa lãnh tụ là không bình thường. Chỉ vài câu nói ấy thôi cũng đủ làm không khí trong nhà nổ tung. Đối với người mẹ, đó có thể chỉ là lời than mệt mỏi; nhưng với cậu con trai đã được giáo dục bằng đấu tranh giai cấp, đó là lời “phản cách mạng” không thể tha thứ.

Cơn phẫn nộ nhanh chóng biến thành hành động. Trương Hồng Binh cùng cha mình viết đơn tố cáo chính người mẹ, người vợ trong gia đình, lên chính quyền địa phương. Không yên tâm, cậu còn tự tay viết thêm một bản tố cáo khác, đeo huy hiệu hồng vệ binh, lén gửi để chắc chắn vụ việc không bị bỏ qua. Chỉ trong một đêm, ranh giới giữa mẹ và “kẻ thù giai cấp” bị xóa sạch. Ngày hôm sau, bà Phương Trung Mưu bị bắt.

Vài tuần sau, tại một buổi “đấu tố” công khai với hàng nghìn người, bà bị trói, treo bảng “phản cách mạng” trước ngực, ép quỳ giữa quảng trường. Bản án được tuyên rất nhanh: tử hình, thi hành ngay. Khi đoàn xe chở bà ra pháp trường, Trương Hồng Binh đứng trong đám đông nhưng không dám tiến lên. Người mẹ bị bắn chết, còn cậu con trai – người đã góp phần đẩy bà đến cái chết – chỉ biết đứng chết lặng, vừa sợ hãi vừa trống rỗng.

Bi kịch không kết thúc ở đó. Gia đình tan nát, cha mẹ ly hôn trên giấy tờ để “cắt đứt quan hệ với kẻ phản cách mạng”, bản thân Trương Hồng Binh và cha cũng bị xã hội xa lánh. Nhiều năm trôi qua, khi Cách mạng Văn hóa kết thúc và sự cuồng tín dần lắng xuống, ông mới bắt đầu hiểu điều mình đã làm. Ông viết đơn, viết hồi ký, cố xin phục hồi danh dự cho mẹ, thú nhận rằng ngày ấy ông đã đặt khẩu hiệu lên trên tình mẫu tử.

Giờ đây, khi đã già, Trương Hồng Binh nói rằng mỗi đêm ông vẫn mơ thấy mẹ. Trong những cơn ác mộng ấy, không có khẩu hiệu, không có quảng trường, chỉ có ánh mắt của người phụ nữ đã sinh ra ông – ánh mắt của một người mẹ trước khi bị chính con mình đẩy ra trước họng súng. Đó là bản án không tòa án nào tuyên, nhưng kéo dài suốt phần đời còn lại.

https://hk.aboluowang.com/2021/0308/1565844.html

Alice Ball một cô gái trẻ người Mỹ gốc Phi va` bệnh phong

Afro USUK

Ở tuổi 23, cô đã chữa khỏi một căn bệnh đã hành hạ nhân loại suốt nhiều thế kỷ. Rồi cô qua đời. Một người đàn ông da trắng đánh cắp sáng kiến của cô và trở nên nổi tiếng. Suốt 60 năm, thế giới không hề biết đến tên cô.

Một cô gái trẻ người Mỹ gốc Phi bước vào phòng thí nghiệm hóa học tại Đại học Hawaiʻi và bắt đầu làm việc với một vấn đề tưởng như bất khả thi.

Trong nhiều thế kỷ, bệnh phong — nay gọi là bệnh Hansen — là án tử gắn liền với sự cô lập. Bệnh nhân bị đưa vào các khu cách ly, xa gia đình, chờ đợi cơ thể tàn tạ dần. Phương pháp điều trị duy nhất là dầu chaulmoogra, chiết xuất từ hạt của một loài cây nhiệt đới.

Nhưng có một vấn đề nghiêm trọng: dầu quá đặc. Nếu tiêm, nó gây u cục đau đớn dưới da. Nếu uống, nó gây buồn nôn và hầu như không được hấp thụ. Bệnh nhân chịu đựng phương pháp điều trị gần như khổ sở như chính căn bệnh.

Các bác sĩ trên toàn thế giới đã cố gắng suốt nhiều thập kỷ để khiến loại dầu này hiệu quả. Và tất cả đều thất bại.

Cho đến khi Alice Ball xuất hiện.

Sinh ra ở Seattle năm 1892, Alice bộc lộ tài năng từ rất sớm. Cô tốt nghiệp không chỉ một mà hai bằng cử nhân — Hóa dược và Dược học — từ Đại học Washington. Vào thời điểm hầu hết các trường đại học thậm chí còn không nhận sinh viên da đen, đặc biệt là phụ nữ da đen.

Ở tuổi 23, cô lấy bằng thạc sĩ hóa học tại Đại học Hawaiʻi, trở thành một trong những phụ nữ đầu tiên — và là phụ nữ da đen đầu tiên — đạt được điều này tại trường.

Nghiên cứu của cô gây chú ý với bác sĩ Harry Hollmann, người đang điều trị bệnh nhân phong tại Bệnh viện Kalihi. Ông đến gặp Alice với một thử thách: Liệu cô có thể biến dầu chaulmoogra thành dạng có thể tiêm được không?

Những gì Alice làm tiếp theo đã cứu sống hàng ngàn người.

Cô tách được các hợp chất hoạt tính trong dầu — các ethyl ester của acid béo — và phát triển kỹ thuật khiến chúng tan trong nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, dầu chaulmoogra có thể được tiêm vào máu bệnh nhân một cách an toàn và hiệu quả.

Kết quả thật phi thường. Những bệnh nhân bị cách ly suốt nhiều năm bắt đầu hồi phục. Các triệu chứng cải thiện. Một số thậm chí được xuất viện khỏi các khu cách ly và đoàn tụ với gia đình.

Alice Ball đã giải được bài toán mà các nhà khoa học trước đó thất bại suốt nhiều thế hệ.

Cô mới 23 tuổi.

Rồi bi kịch xảy ra.

Tháng 12/1916, chỉ vài tháng sau bước đột phá, Alice Ball đột ngột qua đời. Cô mới 24 tuổi.

Nguyên nhân chính xác vẫn không rõ — một số người cho rằng do phơi nhiễm hóa chất trong phòng thí nghiệm, người khác nghĩ là biến chứng bệnh khác. Tuy nhiên, nguyên nhân cái chết của Ball đến nay vẫn chưa được xác định rõ, vì giấy chứng tử ban đầu của cô đã bị sửa đổi để ghi là tử vong do bệnh lao. Chỉ biết rằng cô vẫn chưa kịp công bố kết quả. Công trình đột phá của cô chỉ tồn tại trong ghi chú.

Và rồi một điều không thể chấp nhận đã xảy ra.

Arthur Dean, chủ tịch Đại học Hawaiʻi, đã lấy nghiên cứu của Alice, tinh chỉnh kỹ thuật đôi chút và công bố — dưới cái tên duy nhất của mình.

Thế giới y học ca ngợi “Phương pháp Dean.”

Trong nhiều thập kỷ, nó được dùng để điều trị bệnh nhân phong trên khắp Thái Bình Dương, tại Philippines, khắp châu Á và châu Phi. Phương pháp đó cứu sống hàng ngàn người và mang lại hy vọng cho vô số gia đình.

Arthur Dean chưa từng nhắc đến tên Alice Ball.

Dù chỉ một lần.

Trong 60 năm, công lao của cô bị xóa bỏ. Một nữ nhà hóa học da đen trẻ tuổi, người đã làm được điều mà không ai làm nổi, đã bị quên lãng. Bị chôn vùi. Bị xóa khỏi lịch sử.

Cho đến năm 1977, khi một nhà sử học tên Kathryn Takara bắt đầu nghiên cứu về các nhà khoa học đầu tiên ở Hawaiʻi. Bà tìm được luận văn của Alice. Bà thấy các ghi chép trong phòng thí nghiệm. Bà ghép lại toàn bộ câu chuyện.

Sự thật hé lộ: “Phương pháp Dean” thực chất là “Phương pháp Ball”. Và người ta mới biết rằng Dean thực ra cũng chẳng đóng góp gì nhiều để thay đổi sáng kiến của Alice Ball.

Sự ghi nhận hiếm hoi dành cho công trình của Ball chỉ xuất hiện sáu năm sau khi cô mất. Năm 1922, tên cô được nhắc trong bài báo của bác sĩ Harry T. Hollmann, và phương pháp của cô được gọi là “Phương pháp Ball”.  Sau nhiều năm nghiên cứu này được các học giả tại Đại học Hawai‘i, bao gồm Kathryn Takara và Stanley Ali, công khai cho toàn thế giới biết sự thật.

Năm 2004, học giả Paul Wermager trích dẫn một cuộc phỏng vấn năm 1921, trong đó Arthur Dean nhấn mạnh tầm quan trọng của những người đi trước trong quá trình phát triển chiết xuất chaulmoogra. Tuy vậy, theo Wermager, báo cáo đó lại chỉ nhắc các cộng sự khác của Dean, chứ không hề nhắc đến Ball.

Tháng 3/2016, Hawaiʻi Magazine đưa Alice Ball vào danh sách những người phụ nữ có ảnh hưởng nhất trong lịch sử Hawaii. Năm 2017, Paul Wermager thành lập học bổng “Alice Augusta Ball Endowed Scholarship” nhằm hỗ trợ sinh viên theo học các ngành hóa học, sinh học, hóa sinh hoặc vi sinh.

Năm 2018, một công viên mới tại khu Greenwood ở Seattle được đặt tên theo cô. Đến năm 2019, Trường Y học Nhiệt đới và Vệ sinh London khắc tên cô lên phù điêu ở mặt tiền tòa nhà chính, cùng với Florence Nightingale và Marie Curie, để ghi nhận những đóng góp của họ cho khoa học và sức khỏe toàn cầu.

Tháng 2/2020, bộ phim ngắn The Ball Method được công chiếu tại Liên hoan phim Pan African. Sinh viên Đại học Hawai‘i sau đó đặt câu hỏi liệu nhà trường có nên làm nhiều hơn để khắc phục sai lầm của cựu hiệu trưởng Dean, trong đó có đề xuất đổi tên tòa nhà Dean Hall thành Ball Hall để vinh danh cô.

Ngày 6/11/2020, một vệ tinh mang tên cô (NuSat 9 hay “Alice”, COSPAR 2020-079A) được phóng vào vũ trụ.

Ngày 28/2/2022, Thống đốc David Ige ký tuyên bố chọn ngày này là “Ngày Alice Augusta Ball” tại Hawaii, trong buổi lễ đặc biệt tổ chức tại khuôn viên Đại học Hawaiʻi ở Mānoa. Buổi lễ diễn ra bên cạnh Bachman Hall, dưới tán cây chaulmoogra được trồng để tưởng nhớ cô, với sự tham dự của hơn 100 người, bao gồm Đệ nhất phu nhân Dawn Ige và Hiệu trưởng UH David Lassner.

Đến tháng 12/2024, sau nghị quyết của Hội đồng Giảng viên UH Mānoa, một bức tượng của Alice Ball được đặt tại Thư viện Hamilton để vinh danh cô.

Năm 2007, cô được truy tặng Huy chương Danh dự — giải thưởng cao quý nhất của trường Đại học Hawaiʻi.

Nhưng điều quan trọng nhất là:

Alice Ball chỉ mới 23 tuổi khi cô giải được một vấn đề đã thách thức nhân loại suốt hàng thế kỷ.

Cô là một phụ nữ da đen vào năm 1915, trong một lĩnh vực luôn loại trừ những người giống cô.

Cô đã cứu hàng ngàn người bằng tài năng của mình.

Và rồi một người đàn ông có quyền lực đã xóa tên cô, chiếm lấy công trình của cô.

Suốt 60 năm, thế giới tin vào một lời nói dối.

Nhưng sự thật luôn có cách trở lại. Câu chuyện của Alice Ball không bị mất — nó chỉ chờ được kể ra.

Ngày nay, phương pháp của cô được ghi nhận trong lịch sử y khoa. Sinh viên học kỹ thuật của cô trong lớp hóa học. Các nhà khoa học trẻ — đặc biệt là phụ nữ da màu — biết tên cô và nhìn thấy khả năng cho chính mình.

Di sản của Alice Ball không chỉ là khoa học. Nó nhắc chúng ta rằng:

Tài năng tồn tại ở khắp nơi, không chỉ trong những người ta “mong đợi.”

Lịch sử thường xóa bỏ công lao của phụ nữ và người da màu — nhưng công trình của họ vẫn còn đó.

Một con người, với sự cống hiến và thiên tài, có thể thay đổi cuộc sống của hàng ngàn người.

Alice Ball chưa bao giờ thấy phát minh của mình được tôn vinh. Cô không bao giờ biết mình đã cứu bao nhiêu người. Cô không được ghi nhận đúng lúc.

Nhưng công trình của cô vẫn sống. Bệnh nhân được chữa lành. Gia đình được đoàn tụ. Những cuộc đời được cứu.

Và hơn một thế kỷ sau, chúng ta nhớ đến tên cô.

Alice Augusta Ball. Nhà hóa học. Người tiên phong. Người cứu sống hàng ngàn người.

Hai mươi ba tuổi khi cô thay đổi lịch sử y học.

Ra đi ở tuổi hai mươi bốn — nhưng không bao giờ bị xóa bỏ thật sự.

Tài năng của cô không thể bị chôn vùi. Chỉ là thế giới mất sáu mươi năm để thừa nhận nó.

Hãy nhớ đến cô ấy. Hãy kể câu chuyện của cô ấy. Hãy tôn vinh sự thật.

Vì Alice Ball đã chứng minh rằng khoa học không có giới hạn về giới tính, chủng tộc hay thời gian.

*Sưu tầm dịch


 

9 tổ chức kêu gọi quốc tế đòi CSVN thả bà Phạm Đoan Trang

Ba’o Nguoi-Viet

December 12, 2025

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Chín tổ chức nhân quyền quốc tế đã cùng đứng tên chung kêu gọi cộng đồng quốc tế áp lực chế độ Hà Nội trả tự do cho nhà báo độc lập Phạm Đoan Trang.

Bà Phạm Đoan Trang, năm nay tuổi, năm nay 47 tuổi, bị nhà cầm quyền CSVN kết án 9 năm tù ngày 14 Tháng Mười Hai 2021 vì vu cho bà tội “Tuyên truyền chống” chế độ độc tài, đảng trị và cực kỳ tham nhũng tại Việt Nam.

Nhà báo độc lập Phạm Đoan Trang bị chế độ Hà Nội lôi ra tòa ngày 14 Tháng Mười Hai 2021, kết án 9 năm tù vì bà đã can đảm đấu tranh cho nhân quyền tại Việt Nam. (Hình: VNA)

“Phạm Đoan Trang là biểu tượng của quyền tự do báo chí và sự kiên cường. Bà dấn thân cho công lý và tự do báo chí không được phép bị bỏ quên. Bà xứng đáng được đặt lên hàng đầu các hoạt động ngoại giao và cộng đồng quốc tế phải làm hết tất cả mọi nỗ lực trong quyền hạn của mình để cho bà được trả tự do”.

Nhân ngày Quốc tế Nhân Quyền 10 Tháng Mười Hai, liên minh các tổ chức vận động cho bà Phạm Đoan Trang viết trong bức thư ngỏ gửi các chính phủ để thúc giục họ tích cực hành động mà nhờ đó bà có thể hy vọng chấm dứt tù tội. Liên minh 9 tổ chức đó gồm cả Phóng viên Không Biên giới (RSF), Văn Bút Quốc tế (PEN international), Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CJP), Ân Xá Quốc tế v.v…

“Phạm Đoan Trang là biểu tượng của tự do báo chí nên tiếng nói của bà là đại diện cho tấy cả những người bị chế độ bịt miệng. Bà xứng đáng được tôn vinh cho lòng can đảm chứ không phải đáng bị bỏ tù trong những điều kiện khắc nghiệt, xa gia đình hàng ngàn cây số, chỉ vì đã làm nhiệm vụ của một nhà báo. Cộng đồng quốc tế phải vận dụng tất cả mọi nguồn lực để đòi CSVN trả tự do cho bà.” Lời bà Aleksandra Bielakowska, Giám đốc vận động khu vực Á Châu – Thái Bình Dương viết trong điện thư của RSF.

Theo thông tin mà các tổ chức trên được biết, sức khỏe của bà Phạm Đoan Trang ngày càng tồi tệ khi bị giam giữ trong những điều kiện tệ hại, lại không được chăm sóc y tế từ hệ quả những lần bị Công an CSVN hành hung dã man đến vỡ đầu, đánh gãy chân. Thêm nữa, ở trong trại giam An Phước tỉnh Bình Dương, bà bị di chứng từ dịch Covid-19 kéo dài như viêm xoang mãn tính, viêm khớp và nhiều vấn đề phụ khoa khác.

Bà là một nhà báo độc lập với những bài viết rất sắc sảo về tình hình thời sự chính trị tại Việt Nam phổ biến trên mạng xã hội và được hàng trăm ngàn người theo dõi suốt nhiều năm cho đến khi bị bắt. Bà là tác giả của một số sách vận động dân chủ hóa đất nước, nổi tiếng như “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Phản kháng phi bạo lực” v.v…

Nhưng nhiều phần, tập tài liệu “Báo cáo Đồng Tâm” là đỉnh điểm đã dẫn tới việc chế độ Hà Nội quyết định bỏ tù bà để bịt miêng. Trong tài liệu này, bà kể lại từ nguyên ủy sâu xa của việc cưỡng chế đất nông nghiệp của dân xã Đồng Tâm huyện Mỹ Đức, Hà Nội, đến cuộc đàn áp đẫm máu đêm mùng 8 Tháng Giêng 2020 của hơn 3 ngàn lính công an, Cảnh sát cơ động. Những gì được kể ra trái với truyền thống bưng bít sự thật của chế độ Hà Nội về các cuộc cưỡng chế đất của dân.

Tấm hình này phổ biến trên YouTube nhân dịp bà Phạm Đoan Trang được Bộ Ngoại giao Mỹ vinh danh năm 2022 là một trong những phụ nữ can đảm trên thế giới. (Hình: YouTube)

Hồi Tháng Mười năm nay, cũng đã có 21 tổ chức quốc tế thúc giục các chính phủ trên thế giới áp lực buộc chế độ Hà Nội trả tự do vô điều kiện cho bà Phạm Đoan Trang. Tuy nhiên dù là áp lực trực tiếp chế độ Hà Nội hoặc gián tiếp qua các đối tác kinh tế chính trị với nhà cầm quyền độc tài này, người ta không hề thấy có kết quả khi chế độ ấy tảng lờ đối với áp lực cho nhân quyền.

Thậm chí, ngay sau khi bà bị kết án tù, một nhóm gồm 8 chuyên gia nhân quyền của Cao Ủy Nhân quyền LHQ, mà CSVN cũng là thành viên, đòi trả tự do cho bà, cũng bị chế độ bưng tai bịt mắt. Họ cho biết việc kết án tù Phạm Đoan Trang theo điều 88 Luật hình sự CSVN là “điều luật được viết một cách mơ hồ và vi phạm các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền.”

Trong khi bà Phạm Đoan Trang bị CSVN đàn áp thẳng tay, bà lại được nhiều tổ chức quốc tế vinh danh và trao tặng giải thưởng vì những gì bà đã làm cho người dân trong nước, bất chấp khủng bố, tù tội. Năm 2022, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh bà là một trong những phụ nữ can đảm trên thế giới.(NTB)


 

 

Gia đình một người Colombia bị không kích thiệt mạng ở biển Caribbean nộp đơn kiện Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

December 3, 2025

BOGOTA, Colombia (NV) – Thân nhân của một người đàn ông Colombia thiệt mạng do bị quân Mỹ không kích ở vùng biển Caribbean đã nộp đơn kiện Mỹ lên Ủy Ban Nhân Quyền Liên Châu Mỹ (IACHR), AFP đưa tin.

Người bị giết là ông Alejandro Carranza Medina, 42 tuổi, sau khi quân Mỹ không kích chiếc tàu của ông vào ngày 15 Tháng Chín. Thân nhân của ông bác bỏ có ma túy trên chiếc tàu của ông, vốn bị nhắm bắn trong chiến dịch chống buôn lậu ma túy của Washington. Họ khẳng định ông chỉ là ngư dân đi đánh cá ngoài biển.

Tổng thống Colombia, ông Gustavo Petro phát biểu trong buổi lễ tiêu hủy vật liệu chiến tranh ở Puerto Asis, Colombia, vào ngày 15 Tháng Mười. (Hình minh họa: David Salazar/AFP via Getty Images)

“Chúng tôi biết rằng ông Pete Hegseth, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, là người ra lệnh ném bom các tàu thuyền giống như của chiếc tàu Alejandro Carranza Medina và sát hại tất cả những người trên những con tàu đó,” đơn kiện của gia đình mà AFP thấy được hôm Thứ Tư ngày 3 Tháng Mười Hai, viết.

Các cuộc không kích của Mỹ ở Caribbean và phía Đông Thái Bình Dương đã giết chết hơn 80 người trên các tàu thuyền mà Washington cho là đang vận chuyển ma túy từ Venezuela mà không đưa ra bằng chứng.

Người thân và chính quyền ở các nước có nạn nhân thiệt mạng khẳng định một số người trong số họ là ngư dân, trong khi các tổ chức nhân quyền nói các cuộc tấn công này là bất hợp pháp ngay cả khi các mục tiêu thực sự là tàu bè đang chở ma túy.

Đơn khiếu nại đưa lên IACHR ghi rằng ông Hegseth đã ra các lệnh tấn công “mặc dù ông không biết danh tính của những người bị nhắm đến trong các vụ đánh bom và sát hại ngoài vòng pháp luật” mà họ cho rằng đã được Tổng Thống Trump “phê duyệt”.

Trong một cuộc họp nội các hôm Thứ Ba ngày 2 Tháng Mười Hai, ông Hegseth nói: “Răn đe phải được xem là điều quan trọng. Không bắt giữ và bàn giao rồi sau đó làm lại, như cách làm của các chính quyền trước đây là xử lý rồi làm lại.”

Ông Gustavo Petro, tổng thống Colombia, người đã gọi các cuộc tấn công của Mỹ là “giết người ngoài vòng pháp luật”, cam kết sẽ ủng hộ gia đình nạn nhân tìm kiếm công lý.

Trong một cuộc phỏng vấn với AFP hồi Tháng Mười, bà Katerine Hernandez, vợ góa của ông Carranza, nói rằng chồng bà là một “người tốt”. Ông để lại bốn đứa con.

“Ông ấy không có mối liên hệ gì với buôn bán ma túy, và công việc hàng ngày của ông là đánh bắt cá,” bà Hernandez nói.

“Tại sao họ lại tước đi mạng sống của ông như vậy?” bà nói trong cuộc phỏng vấn. “Ngư dân có quyền sống. Tại sao không bắt giữ họ là được?” (NNL) [đ.d.]