Từ điển Việt cộng vừa cập nhật khái niệm mới:”
Cán người hàng loạt được gọi là ” chạy lên đám đông”
😂😂😂


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Thế Giới
Từ điển Việt cộng vừa cập nhật khái niệm mới:”
Cán người hàng loạt được gọi là ” chạy lên đám đông”
😂😂😂

Những Thiên tài không bằng cấp
Một trong những tấm gương tự học nổi tiếng trong lịch sử là Frederick Douglass. Ông sinh năm 1818 trong một gia đình nô lệ ở Maryland. Khi còn là một đứa trẻ, ông đã tự mày mò học chữ khi gia đình ông đang sống ở Baltimore. Kể từ đó, ông luôn tự tìm cơ hội trau dồi thêm kiến thức bằng cách đọc thật nhiều.
Vào năm 20 tuổi, ông thoát khỏi chế độ nô lệ và định cư ở Massachusetts. Tại đây, ông vẫn tiếp tục con đường tự học, tự đào tạo và sau đó ông trở thành một trong những nhà văn, một người theo chủ nghĩa bãi nô có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Ando Tada là một kiến trúc sư nổi tiếng người Nhật dù ông chưa hề qua một trường lớp đào tạo về kiến trúc nào. Ông đã từng kiếm sống bằng nghề tài xế, làm một võ sĩ quyền Anh và là một thợ mộc trước khi tự học để trở thành một kiến trúc sư. Ông đã từng một mình thực hiện một chuyến đi từ Đông sang Tây để tự quan sát và học hỏi về nghệ thuật kiến trúc bằng cách đến thăm những công trình nổi bật trên thế giới. Năm 1969, ông thành lập hãng kiến trúc Ando Tadao.
Công trình nhà lô ở Sumiyoshi (Azuma House) hoàn thành năm 1972 là công trình đầu tiên bộc lộ những đặc điểm kiến trúc của ông. Năm 1995, Ando được nhận giải thưởng Pritzker và 100.000 đô la Mỹ. Ông đã tặng số tiền đó cho những trẻ em mồ côi trong cuộc động đất Hanshin.
Tiến sĩ Janes Goodall, một trong những nhà hoạt động bảo vệ môi trường nổi tiếng thế giới, đồng thời là sứ giả hoà bình của Liên hiệp quốc, là một nhà nghiên cứu nổi tiếng người Anh trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã. Năm 1960, khi ngoài 20 tuổi, bà đã đến Kenyathuộc châu Phi để nghiên cứu về tập tính và đời sống của loài tinh tinh. Bà đã có 40 năm sống và làm việc ở châu Phi và những nghiên cứu của bà được nhiều người đánh giá là “đã ảnh hưởng đến toàn thế giới, nói chung và thế giới động vật, nói riêng”. Điều thú vị về bà là phần lớn những công trình nghiên cứu khoa học quan trọng của bà được thực hiện khi bà chưa qua một trường lớp đào tạo nào.
TS Janes Goodall đã được trao tặng nhiều danh hiệu cao quý và giải thưởng về bảo tồn động vật hoang dã, Đại sứ hoà bình của Liên hợp quốc năm 2002, Huy chương Benjamin Franklin vì sự nghiệp khoa học năm 2003. Bà còn được biết đến với tên gọi “người phụ nữ của tinh tinh”.
Michael Faraday là một nhà Hóa Học và Vật Lý người Anh đã có công đóng góp cho lĩnh vực Điện từ học và Điện hóa. Là con thứ ba trong một gia đình nghèo có bốn người con, cậu bé Faraday chỉ có được những kiến thức cơ bản nhất từ nhà trường nhưng bù lại cậu là một đứa trẻ ham học và đã nổ lực tự học không mệt mỏi.
Năm 14 tuổi, Faraday học việc ở một cửa hiệu sách và trong suốt 7 năm học việc, ông đã đọc được rất nhiều sách, trong đó có sách của Isaac Watts, quyển mở mang trí tuệ, ông say mê tiến hành các nguyên lý và quan điểm trong quyển sách. Từ đó, ông đã biểu lộ niềm đam mê khoa học, nhất là trong lĩnh vực điện năng.
Mặc dù Faraday được đào tạo ở trường rất ít và biết ít về toán cao cấp nhưng ông là một trong những nhà khoa học có uy tín trong lịch sử khoa học. Ông là vị giáo sư hóa học đầu tiên và lỗi lạc nhất của Viện Hoàng Gia Anh Quốc và đã giữ vị trí này trong suốt cuộc đời.
Hai anh em nhà Wright, Orville và Wilbur Wright, là những người đầu tiên thử nghiệm thành công làm cho máy bay bay được. Chuyến bay đấu tiên trong lịch sử nhân loại được thực hiện vào ngày 17/12/1903 tại đồi Kill Devil, Kitty Hawk, bang Bắc Carolina, Mỹ. Mỗi anh em thực hiện hai chuyến bay vào ngày hôm đó. Lần bay đầu tiên do Orville thực hiện kéo dài 12 giây và bay được khoảng 36.5mét (120 ft).
Lần bay cuối cùng do Wilbur thực hiện kéo dài 59 giây và đi được 296 mét. Chiếc máy bay lúc đó được gọi là Flyer I. Nó có sải cánh khoảng 12 mét và nặng khoảng hơn 300kgs với động cơ xăng 12 mã lực. Hiện nay, nó đang được đặt tại Viện bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ tại Washington, D. C..
Điều đặc biệt là cả hai người đều chưa từng học qua trường đào tạo kỹ sư hay nhận được bất cứ bằng cấp chuyên môn nào. Thành công của họ đến từ niềm đam mê khoa học kỹ thuật cộng với nỗ lực tìm tòi học hỏi không ngừng. Thiên tài của hai anh em nhà Wright đã biến giấc mơ từ ngàn xưa của loài người thành sự thật.
Srinivasa Ramanujan là nhà toán học huyền thoại người Ấn Độ, nổi tiếng là người dù không được đào tạo bài bản về toán học lý thuyết nhưng đã có nhiều đóng góp quan trọng cho nhiều ngành toán học như giải tích, lý thuyết số, dãy vô hạn. Ông sinh ra và lớn lên tại Erode, Tamil Nadu, Ấn Độ và làm quen với toán học từ năm lên 10 tuổi.
Ông bộc lộ năng khiếu đặc biệt về toán khi được tặng một quyển sách lượng giác cao cấp của S L Loney. Năm 13 tuổi, ông đã thành thục quyển sách này và bắt đầu tìm cách tự phát minh ra các định lý toán học. Năm 17 tuổi, ông tự nghiên cứu về số Bernoulli và hằng số Euler-Mascheroni.
Trong quãng đời ngắn ngủi của mình (1887-1920), Ramanujan đã độc lập công bố gần 3.900 kết quả nghiên cứu phần lớn thuộc lĩnh vực phương trình và đồng nhất thức mà ngày nay hầu hết đã được công nhận là chính xác. Tạp chí Ramanujan ra đời để công bố các nghiên cứu toán học có ảnh hưởng từ các công trình của ông.
Mark Twain, một tên tuổi lớn trong nền văn học Mỹ, tên thật là Samuel Langhorne Clemens. Gia cảnh của ông khá chật vật và túng thiếu. Năm 12 tuổi, sau khi cha qua đời vì căn bệnh viêm phổi, Mark Twain phải kiếm sống bằng nghề sắp chữ. Có thời gian ông phải bỏ học, theo nghề lái tàu để kiếm sống.
Sau đó, ông tiếp tục tự học ở các thư viện công cộng tại những thành phố mà ông sinh sống và bắt đầu dấn thân vào công việc của một nhà báo. Những cuộc hành trình lênh đênh trên miền sông nước trước đó đã trở thành cảm hứng thôi thúc ông viết nên những kiệt tác như Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Cuộc sống trên sông Mississippi…
Steven Paul Jobs là một tỷ phú, là ông trùm kinh doanh và sáng chế người Mỹ. Ông là đồng sáng lập viên, chủ tịch và cựu tổng giám đốc điều hành của hãng máy tính Apple. Ông cũng từng là tổng giám đốc điều hành của xưởng phim hoạt hình Pixar (hãng sở hữu nhiều giải oscar cho phim hoạt hình hay nhất như Đi tìm Nemo, Gia đình siêu nhân, Chú chuột đầu bếp, WALL-E, Up và Câu chuyện đồ chơi 3. Sau đó, ông trở thành thành viên trong ban giám đốc của công ty Walt Disney sau khi Disney mua lại Pixar.
Jobs sinh ra tại thành phố San Francisco, bang California, là con nuôi của Paul và Clara Jobs. Ông theo học trường trung học Cupertino và Homestead tại thành phố Cupertino, bang California. Năm 1972, Jobs tốt nghiệp trung học và đăng kí vào học tại cao đẳng Reed College ở Portland, bang Oregon nhưng bị đuổi chỉ sau 1 học kỳ.
Mặc dù vậy ông vẫn tiếp tục dự thính các lớp học tại Reed, trong đó có một lớp học viết chữ đẹp. Trong thời gian “học ké” đó, ông phải ngủ dưới sàn nhà của những người bạn, đổi lon nước ngọt để lấy tiền ăn và nhận các suất ăn miễn phí mỗi tuần tại đền Hare Krishna. Sau này, Jobs bày tỏ rằng: “Nếu tôi chưa từng tham dự những khoá học lẻ đó tại trường, Mac sẽ không bao giờ có nhiều kiểu chữ hay phông chữ cách nhau tỉ lệ cân xứng như vậy”.
Là vị Tổng thống thứ 16 trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, cha mẹ ông là những nông dân mù chữ. Ông không có điều kiện đi học chính thức. Thời gian theo học thực sự của ông có lẽ chỉ kéo dài 18 tháng do các giáo viên không chuyên nghiệp dạy. Kiến thức của ông chủ yếu có được từ việc tự học qua việc đọc mọi cuốn sách có thể mượn được từ Kinh Thánh đến các sách tiếu sử và sách văn chương.
Ông thông thạo Kinh thánh, các tác phẩm của William Shakespeare, lịch sử Anh và lịch sử Mỹ. Ngoài ra, ông còn học được phong cách trình bày giản dị trước thính giả. Ông dành nhiều thời gian đọc sách đến nỗi những người hàng xóm cho rằng ông cố tình làm vậy để khỏi phải làm những công việc chân tay nặng nhọc.
Lincoln nổi tiếng nhất với vai trò gìn giữ Hợp chủng quốc và chấm dứt chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ với bản Tuyên ngôn Giải phóng và Sửa đổi thứ mười ba của Hiến pháp Hoa Kỳ về việc bác bỏ̉ chế độ nô lệ.
Nếu con bạn luôn tìm cách đối phó với việc học mà thay vào đó là ngồi lỳ lau chùi chiếc xe máy thì đừng vội buồn. Biết đâu bé sẽ có thể trở thành Henry Ford của Việt Nam.
Henry Ford ngày nhỏ cũng lười học và say mê sửa chữa đồ cũ, hỏng. Máy móc có sức quyến rũ với ông một cách kỳ dị. Năm ông mười hai tuổi, ông đã bắt chước chế tạo được một máy nhỏ chạy bằng hơi nước. Năm hai mươi tám tuổi, khi là một công nhân điện, ông quyết tâm theo đuổi chinh phục phát minh máy nổ của người Đức.
Thành công đã tới với người kiên trì bền bỉ 5 năm sau chiếc xe hơi đầu tiên của thế giới chào đời. Tuy nó cao lồng cồng, không mui, không thắng và chạy dật lùi được, tốc độ tối đa 30 km/giờ.
Vài năm sau, ông thành lập Công ty xe hơi Detroit rồi Công ty xe hơi Cadillac. Tuy không được học hành bài bản nhưng Henrry có đầu óc lãnh đạo tuyệt vời. Bên cạnh việc những mẫu xe hơi liên tục được cải tiến nâng cao chất lượng và mẫu mã với nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng, Henrry có chiến lược phát triển hoàn hảo.
Năm 1906, ông sản xuất được 8.400 chiếc xe. Bốn năm sau, con số đó tăng lên 34.000. Một năm sau nữa, nó tăng lên 78.000 và tới năm 1927 thì mỗi ngày ông sản xuất được 7.000 chiếc xe. Tính ra cứ 7 giây đồng hồ có một chiếc xe hơi ở trong xưởng ông từ từ chạy ra để được gửi đi khắp thế giới.
Năm 1980, Soichiro Honda đã được tạp chí uy tín “People” vinh danh là “người đặc biệt nhất của năm”, còn thế hệ nay coi ông như một “huyền thoại Henry Ford của Nhật Bản”.
Từ tuổi thơ khốn khó đến địa vị Chủ tịch tập đoàn Honda hùng mạnh, chuyện nghề, chuyện đời của Soichiro Honda đã trở thành huyền thoại “thiên tài không bằng cấp”.
Khi mới 2 tuổi, cậu bé Soichiro đã bị thu hút và thích mày mò chiếc cối xay gió. Lớn thêm chút nữa, cậu tự “chế tạo” chiếc máy bay đồ chơi bằng tre có gắn “động cơ” làm bằng dây cao su. Cậu suốt ngày lấm lem mặt mũi do hay giúp đỡ cha mình trong xưởng đến mức bạn bè đặt cho cậu biệt danh “chú chồn nhọ mũi”.
“Chú chồn nhọ mũi” không ham thích học hành, chỉ quan tâm đến những môn kỹ thuật và bảng điểm của cậu dở tệ. Năm 15 tuổi, Soichiro Honda bỏ học để lên Tokyo học nghề tại xưởng cơ khí ôtô Shokai, thắp lửa niềm đam mê cùng tốc độ mãi cho tới sau này.
Bốn năm sau, Honda đã mở xưởng sản xuất của riêng mình. Chỉ sau một thời gian ngắn, xưởng sản xuất “doanh nghiệp một thành viên” cho ra đời xe đạp gắn động cơ. Ngay lập tức, Sản phẩm len lỏi khắp các ngõ ngách ở Nhật Bản.
Từ đây, Honda Technical Research Institute của ông đã thành công và không ngừng phát triển. Đến năm 1948, Công ty Honda Motor Co. Ltd được thành lập và trở thành một tập đoàn số 1 thế giới về sản xuất xe máy, top 10 sản xuất ô tô.
Tại khuôn viên trường Harvard mang tên “Harvard Crimson” có một tấm biển ghi “Bill Gates là người bỏ học thành công nhất của Harvard” trong khi phần còn lại của thế giới vẫn gọi ông là “người đàn ông giàu nhất thế giới” trong hơn một thập kỷ qua. Bây giờ, mặc dù không giữ vị trí dẫn đầu, ông vẫn còn trong danh sách những người giàu có của thế giới.
Gates nhập học tại Harvard vào mùa thu năm 1973. Hai năm sau, ông ta đã bỏ học để thành lập công ty Microsoft với người bạn Paul Allen. Sau khi thành danh, Bill Gate mới quay trở lại trường để tiếp tục sự nghiệp học hành. Và trong năm 2007, cuối cùng ông cũng nhận được học vị Tiến sĩ danh dự từ trường cũ của mình.
Khi được mời phát biểu tại buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên Havard, Bill Gates nói: “Tôi là một ví dụ xấu. Đó là lý do tại sao tôi được mời tới đây để nói chuyện tốt nghiệp của bạn.. Nếu gặp tôi trước khi nhập học, có thể số lượng sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp có mặt ở đây sẽ ít hơn nhiều.”
Theo kiến trúc sư nổi tiếng nhất của Mỹ, Wright đã dành nhiều thời gian hơn vào việc thiết kế các trường cao đẳng, đại học hơn là tham dự các lớp học trong đó. Sau khi dành một năm học tại Đại học Wisconsin-Madison, ông bỏ học để đến Chicago và trở thành một người học việc của Louis Sullivan, “cha đẻ của chủ nghĩa hiện đại”.
Trong sự nghiệp thiết kế và sáng tạo không ngừng nghỉ của mình, Wright đã tạo ra hơn 500 công trình kiến trúc kỳ vĩ, nổi tiếng nhất trong số đó là Fallingwater và New York City của Solomon R. Guggenheim Museum.
Bị trục xuất khỏi Harvard hai lần, kiến trúc sư đồng thời là nhà phát minh vĩ đại người Mỹ Buckminster Fuller đã phải trải qua rất nhiều thăng trầm, biến cố. Một số ý tưởng kinh doanh ban đầu thất bại và trải qua nỗi đau đớn của việc mất đi cô con gái đầu lòng, ông tưởng chừng như không thể gượng dậy.
Tuy nhiên, ở tuổi 32, cuộc sống của Fuller bắt đầu thay đổi. Những ý tưởng sáng tạo của ông như các thiết bị ghép năng động áp dụng cho nhà ở và cả xe ôtô nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ công chúng. Đặc biệt là kết cấu xây vòm hình tượng của ông đã đưa tên tuổi của ông lên tầm cao mới và được quốc tế công nhận.
Bỏ học ở Harvard, Mark Zuckerberg phát triển Facebook trong ký túc xá trường mình. Bây giờ Facebook đã trở thành một trong những trang web phổ biến nhất trên thế giới mạng xã hội. Theo sự bùng phát của Facebook, Zuckerberg đã bỏ học để di chuyển địa điểm công ty của anh đến California.
Mark Zuckerberg đã chứng minh rằng quyết định của anh là sáng suốt. Theo Forbes, Zuckerberg là tỷ phú trẻ nhất thế giới với trị giá tài sản năm 2010 là 4 tỷ USD. Tuy nhiên, mới đây Ông chủ Facebook nhận bằng tốt nghiệp Harvard sau 12 năm bỏ học.
From : TU-PHUNG
Tỷ phú giàu nhất Đan Mạch mất 3 người con vì đánh bom ở Sri Lanka
Zing22/04/19 17:32 GMT+74 liên quanGốc
Anders Holch Povlsen, người giàu nhất Đan Mạch, cho biết ba người con của ông thiệt mạng trong vụ đánh bom khủng bố khiến 290 người chết tại Sri Lanka hôm 21/4.
Cả bốn người con của tỷ phú này đang tới thăm Sri Lanka nhân kỳ nghỉ Lễ Phục sinh. Vài ngày trước khi qua đời, con gái Alma của ông đăng một bức ảnh trên mạng xã hội Instagram, cho thấy ba người em ruột của Alma đang ngồi bên bể bơi. Trong chú thích ảnh, cô còn gọi các em là “ba chú gấu nhỏ”.
Bộ Ngoại giao Đan Mạch cho biết ba công dân nước này là nạn nhân của vụ đánh bom. Người phát ngôn của ông Holch Povlsen cũng xác nhận ba trong số bốn đứa trẻ đã thiệt mạng trong cuộc tấn công tại Sri Lanka, tuy nhiên không nêu rõ danh tính, theo Mail Online.
Bức ảnh con gái Alma của ông Holch Povlsen đăng trên Instagram vài ngày trước vụ nổ bom. Ảnh: Chụp màn hình từ Instagram.
Ông Holch Povlsen, 46 tuổi, là người sở hữu nhiều bất động sản nhất tại Scotland, đồng thời là cổ đông lớn nhất của tập đoàn thời trang Asos. Ông là CEO và chủ sở hữu chuỗi cửa hàng bán lẻ Bestseller. Người đàn ông 46 tuổi này được Forbes xếp thứ 252 trong danh sách tỷ phú năm 2019.
Ngày lễ Phục sinh đã trở thành ngày chủ nhật đẫm máu ở Sri Lanka, với tổng cộng 8 vụ nổ khiến 290 người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương, trong đó có nhiều người nước ngoài.
Chính phủ Sri Lanka mới đây cho biết tổ chức thực hiện các vụ đánh bom nói trên là nhóm Hồi giáo có tên National Thowheeth Jama’ath (NTJ). Các cuộc điều tra vẫn đang được tiến hành để làm rõ nhóm NTJ có được “hậu thuẫn từ nước ngoài” hay không.
Hương Ly
From: tiennkhuat & thunnguyen
From: Daminhmariacaotantinh
ĐTC Phanxicô – Giảng Lễ Đêm Phục Sinh
Những người phụ nữ mang dầu thơm đến mồ, nhưng họ sợ rằng hành trình của họ vô bổ, bởi tảng đá to chặn ở ngay cửa mồ. Cuộc hành trình này của những người phụ nữ ấy cũng là cuộc hành trình của chúng ta; nó giống như cuộc hành trình cứu độ chúng ta đã thực hiện buổi tối hôm nay. Có những lúc mọi sự xẩy ra dường như chạm đến một tảng đá, chẳng hạn như vẻ mỹ lệ của tạo vật trái ngược lại với thảm cảnh của tội lỗi; việc giải phóng cho khỏi tình trạng nô lệ phản nghịch lại với tính cách bất trung của giao ước; những lời hứa của các vị tiên tri ngược nghịch lại với thái độ lãnh đạm khôn xiết của dân chúng. Cũng thế ở nơi lịch sử của Giáo Hội cũng như nơi lịch sử bản thân của chúng ta. Những nỗ lực của chúng ta dường như không bao giờ đưa chúng ta tới được đích điểm. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng niềm hy vọng bị hổng lỗ của chúng ta là một thứ luật hoang trống của đời sống.
Tuy nhiên, hôm nay chúng ta thấy rằng cuộc hành trình của chúng ta không phải là một cuộc hành trình vô bổ; nó không đụng chạm tới tảng đá chắn cửa mồ. Một câu nói làm cho người nữ bàng hoàng sửng sốt và làm biến đổi lịch sử đó là: “Tại sao các bà tìm kiếm người sống nơi kẻ chết?” (Luca 24:5). Tại sao anh chị em nghĩ rằng mọi sự chẳng còn hy vọng nào nữa, rằng không ai có thể loại đi tảng đá chắn cửa mồ của anh chị em? Tại sao anh chị em thoái lui và chào thua chứ? Phục Sinh là lễ của tảng đá chắn cửa mồ bị đẩy lui, những cục đá bị đẩy sang một bên. Thiên Chúa thậm chí có thể loại đi những tảng đả cứng nhất khiến các niềm hy vọng và niềm trông đợi của chúng ta bị tan vỡ: như sự chết, tội lỗi, nỗi sợ, thế tục. Lịch sử của nhân loại không kết thúc trước một tảng đá chắn cửa mồ, vì hôm nay đây nó gặp gỡ “tảng đá sống” (cf 1Phêrô 2:4) là Chúa Giêsu phục sinh. Chúng ta, như Giáo Hội, được xây dựng trên Người, và ngay cả lúc chúng ta cảm thấy chán chường và có khuynh hướng phán đoán tất cả mọi sự theo chiều hướng thua bại, Người đến dể làm cho tất cả mọi sự trở nên mới mẻ, để lật ngược hết mọi niềm thất vọng của chúng ta. Mỗi người chúng ta được kêu gọi, vào đêm nay đây, tái nhận thức vào Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng đã đẩy tảng đá nặng nhất ra khỏi lòng của chúng ta. Bởi vậy trước hết chúng ta hãy tự vấn xem: Đâu là tảng đá tôi cần loại bỏ, tên của nó là gì?
Cái thường ngăn chặn niềm hy vọng là tảng đá thất vọng. Một khi chúng ta bắt đầu nghĩ rằng hết mọi sự xẩy ra tồi tệ và không còn gì tệ hơn nữa là chúng ta đã tỏ ra chán nản và tin rằng sự chết mãnh liệt hơn sự sống. Chúng ta trở nên yếm thế, tiêu cực và ngã lòng. Đá chồng chất, chúng ta xây lên trong chúng ta một thứ bia kỷ niệm những gì là bất mãn của chúng ta: đó là Ngôi Mộ của niềm hy vọng / the sepulcher of hope. Đời sống trở thành một chuỗi dài đầy những than trách và tinh thần của chúng ta bị bệnh hoạn. Thay thế vào đó là một thứ tâm lý mồ mả (tomb psychology): hết mọi sự đều kết thúc ở đó, không còn niềm hy vọng nào tồn tại. Thế nhưng, vào lúc ấy, chúng ta vẫn còn nghe thấy một lần nữa câu vấn nạn của Lễ Sinh: Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết? Chúa không còn được tìm thấy nơi những gì là thoái lui. Người đã sống lại: Người không còn ở đó nữa. Đừng tìm kiếm Người ở nơi anh chị em không bao giờ thấy Người: Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là của kẻ sống (xem Marco 22:32). Anh chị em đừng chôn vùi đi niềm hy vọng!
Có một tảng đá khác thường cha lấp tâm can khóa kín, đó làtảng đá tội lỗi. Tội lỗi là những gì quyến rũ; nó hứa hẹn những gì là dễ dàng và chóng vánh, những gì là thịnh vượng và thành công, thế nhưng sau đó chỉ lưu lại những gì là cô độc cùng chết chóc. Tội lỗi là những gì tìm kiếm sự sống nơi kẻ chết, vì ý nghĩa của đời sống chỉ ở nơi những gì qua đi. Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết? Tại sao anh chị em không quyết tâm từ bỏ tội lỗi, giống như một tảng đá ở trước cửa lòng của anh chị em, những gì ngăn cản ánh sáng của Thiên Chúa khỏi lọt vào chứ? Tại sao anh chị em không yêu chuộng Chúa Giêsu là ánh sáng chân thật (xem Gioan 1:9) hơn là những tia nhấp nhánh của giầu sang phú quí, của nghề nghiệp, của kiêu hãnh và của khoái lạc chứ? Tại sao anh chị em không nói với những sự vật trên thế gian này rằng anh chị em không còn sống cho chúng nữa, mà là cho Chúa của sự sống?
Chúng ta hãy trở lại với những người phụ nữ đi đến mồ của Chúa Giêsu. Họ bang hoàng khựng lại trước tảng đá đã bị lăn ra khỏi đó. Khi thấy các thiên thần thì, như Phúc Âm thuật lại, họ đứng đó “run sợ, và cúi đầu xuống đầt” (Luca 24:5). Họ không đủ can đảm để ngước đầu lên. Biết bao lần chúng ta cũng làm như thế? Chúng ta thích ở lại với những gì là hỗn độn trong các thứ thiếu sót của chúng ta, co cụm lại nơi những nỗi sợ hãi của chúng ta. Đó là những gì quái lạ, vậy mà tại sao chúng ta lại làm như thế? Không phải là không thường xuyên là vì, ủ rũ và khép mình lại, chúng ta mới cảm thấy làm chủ được mình, bởi ở một mình trong tối tăm nơi cõi lòng của mình thì thoải mái hơn mở lòng mình ra cho Chúa. Tuy nhiên, chỉ có Người mới có thể nâng chúng ta lên. Một thi sĩ đã từng viết rằng: “Chúng ta không bao giờ biết được chúng ta cao như thế nào. Cho đến khi chúng ta được kêu gọi chỗi dậy” (E. Dickinson). Chúa kêu gọi chúng ta chỗi dậy, chỗi dậy bằng lời của Người, để nhìn lên và để nhận thức rằng chúng ta được dựng nên cho trời cao, chứ không phải cho đất thấp, cho những đỉnh cao của sự sống, chứ không phải có hố thẳm của sự chết: Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết?
Thiên Chúa xin chúng ta hãy nhìn vào cuộc sống như chính Ngài nhìn nó, vì nơi từng người chúng ta Ngài không ngừng thấy cái cốt lõi mỹ lệ bất khả chế ngự. Nơi tội lỗi, Ngài thấy những người con nam nữ của mình cần phải được phục hồi; nơi sự chết, những người anh chị em cần phải đưoợc tái sinh; nơi cô độc, những tấm lòng cần phải được canh tân. Vậy thì đừng sợ: Chúa yêu sự sống của anh chị em, ngay cả khi anh chị em sợ nhìn vào nó và nắm lấy nó trong tay. Nơi Phục Sinh Ngài cho anh chị em thấy Ngài yêu thương sự sống đó biết bao: thậm chí cho đến độ sống nó một cách trọn vẹn, khi cảm nghiệm nỗi sầu thương, tình trạng bị bỏ rơi, sự chết và âm phủ, để có thể chiến thắng mà nói với anh chị em rằng: “Các con không lẻ loi cô độc một mình đâu; hãy tin tưởng vào Cha!” Chúa Giêsu là một chuyên gia biến sự chết thành sự sống, biến việc khóc thương của chúng ta thành mừng vui hớn hở (xem Thánh Vịnh 30:11). Với Người, chúng ta cũng có thể cảm nghiệm thấy một cuộc Vượt Qua (a Pasch – a Passover) – từ khuynh hướng qui ngã đến mối hiệp thông, từ nỗi cô độc đến niềm ủi an, từ sợ hãi đến tin tưởng. Chúng ta đừng cứ cúi gầm mặt xuống đất một cách sợ hãi, nhưng hãy hướng mắt của chúng ta về Chúa Giêsu phục sinh. Ánh mắt của Người làm cho chúng ta tràn đầy hy vọng, vì nó nói với chúng ta rằng chúng ta không ngừng được yêu thương và cho dù chúng ta có đủ mọi thứ bê bối, tình yêu thương của Người vẫn không hề đổi thay. Đó là niềm tin tưởng duy nhất bất khả thương thuyết chúng ta có được trong đời: tình yêu thương của Người không thay đổi. Chúng ta hãy tự vấn xem: Trong đời sống của mình, tôi đang tìn kiếm ở đâu đây? Tôi đang hướng mắt về bãi tha ma hay tìm kiếm Đấng Đang Sống?
Tại sao các bạn lại tìm kiếm người sống nơi kẻ chết? Những người phụ nữ nghe thấy những lời này của các vị thiên thần, những vị còn nói: Hãy nhớ những gì Người đã nói với các bà khi Người còn ở Galilêa” (Luca 24:6). Những người đàn bà này đã đánh mất niềm hy vọng, vì họ không thể nhớ lại những lời của Chúa Giêsu, lời kêu gọi của Người xẩy ra ở Galilêa. Vì mất đi ký ức sống động về Chúa Giêsu nên họ mới cứ tìm kiếm ở nấm mồ. Đức tin bao giờ cũng cần trở lại Galilêa, để tái tấu tình yêu ban đầu của nó với Chúa Giêsu cũng như với ơn gọi của Người: hãy nhớ lại, hãy quay lại với Người bằng tất cả trí khôn của chúng ta và bằng tất cả tâm can của chúng ta. Việc trở lại với một tình yêu sống động của Chúa là những gì thiết yếu. Bằng không, đức tin của chúng ta chỉ là một “bảo tang viện”, chứ không phải là một đức tin Phục Sinh. Chúa Giêsu không phải là một nhân vật trong quá khứ; Người là một con người đang sống động hôm nay đây. Chúng ta không biết Người theo các sử sách; chúng ta gặp gỡ Người trong cuộc sống. Hôm nay, chúng ta hãy nhớ đến việc Chúa Giêsu đầu tiên đã kêu gọi chúng ta ra sao, Người đã không chế bóng tối tăm của chúng ta như thế nào, không chế việc kháng cự của chúng ta, tội lỗi của chúng ta, và Người đã chạm đến cõi lòng của chúng ta bằng tình yêu của Người ra sao.
Những người phụ nữ, tưởng nhớ Chúa Giêsu, đã rời bỏ ngôi mộ. Lễ Phục Sinh dạy chúng ta rằng thành phần tín hữu đừng có lân la ở bãi tha ma, vì họ được kêu gọi tiến lên gặp gỡ Đấng Sống Động. Chúng ta hãy tự vấn xem: Tôi đang đi về đâu trong cuộc đời của mình đây? Đôi khi chúng ta chỉ đi theo hướng đầy giẫy các vấn đề của mình, và tiến đến với Chúa chỉ để được trợ giúp. Thế nhưng, sau đó, chính nhu cầu riêng của mình, chứ không phải Chúa Giêsu, dẫn đường chỉ lối cho chúng ta. Chúng ta cứ tìm kiếm Đấng Sống Động nơi kẻ chết. Biết bao nhiêu lần, khi chúng ta đã gặp gỡ Chúa, chúng ta lại quay về với kẻ chết, càng đáng tiếc, đáng trách, đớn đau và khôn thỏa, không để cho Đấng Phục Sinh biến đổi chúng ta? Anh chị em thân mến: Chúng ta hãy lấy Đấng Sống Động làm trọng tâm của đời mình. Chúng ta hãy xin ơn đừng bị cuốn đi theo triều sóng, trong biển khơi những vấn đề của chúng ta; ơn đừng bị mắc cạn ở những chỗ nông cạn của tội lỗi hay bị dập nát ở những mảnh đá thất vọng và sợ hãi. Chúng ta hãy tìm kiếm Người nơi tất cả mọi sự và trên tất cả mọi sự. Với Người, chúng ta sẽ sống lại.
https://zenit.org/articles/pope-francis-homily-at-easter-vigil-full-text/
Đaminh Maria cao tấn tĩnh, BVL, chuyển dịch từ Thánh Địa CN Phục Sinh 21/4/2019
CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI SRI LANKA VỪA BỊ ĐÁNH BOM
——-
3 nhà thờ Sri Lanka bị đánh bom vào lễ Phục sinh, ít nhất 138 người chết
Ba ngôi thánh đường và ba khách sạn lớn tại thủ đô Sri Lanka và vùng phụ cận vừa bị đánh bom vào ngày lễ Phục sinh khiến ít nhất 138 người thiệt mạng và 400 người bị thương.
Hãng tin Reuters dẫn lời cảnh sát địa phương cho biết có nhiều vụ nổ lớn tại các khách sạn cao cấp và một nhà thờ ở thủ đô Colombo của Sri Lanka. Hai nhà thờ khác ngoài thủ đô cũng bị đánh bom.
Theo con số thương vong mới nhất cập nhật từ giám đốc Bệnh viện quốc gia Colombo, hiện có ít nhất 138 người chết và 400 người bị thương.
Vụ nổ đầu tiên được cho là xảy ra tại nhà thờ Thánh Anthony (St. Anthony’s Shrine) ở thủ đô Colombo.
Nhân chứng tại hiện trường Alex Agileson cho biết các tòa nhà xung quanh rung lên sau vụ nổ. Hiện những người bị thương đang được chở đi cấp cứu.
Vụ nổ thứ hai xảy ra tại nhà thờ Thánh Sebastian (St. Sebastian) ở Negombo, thành phố có số đông là dân Công giáo. Riêng ở nơi này đã có ít nhất 50 người thiệt mạng.
Nhiều nhân chứng trước đó đã chứng kiến hung thủ ôm bom tự sát lao vào nhà thờ. Hiện vẫn chưa có người nhận trách nhiệm vụ đánh bom.




KHI MỘT QUỐC GIA MANG ƠN KẺ XÂM LƯỢC
Vào 14h05′ chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật Bản, cho dù ông không mặcquân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước, mất nước, mất nước”. Nhưng tướng MacArthur mang quân đến vì hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ
Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn gây áp lực đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.
Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật vô cùng chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó khăn để đi qua nhau, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu họ là kẻ chiến thắng thì họ có làm được như thế không?
Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.
Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật xây dựng tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.
Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt cho mình để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.
Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận.
Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình.
Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.
Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.
Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.
Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.
Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.
Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang. Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.
Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng điền sản của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”
Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng, tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!
Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.
Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”
Lịch sử Nhật bản ghi nhận, 12 vị khai quốc công thần quốc gia họ, thì trong đó có Mac Arthur, người mà theo ngôn ngữ của những kẻ mà ai cũng đoán ra là ai sẽ dùng là kẻ đứng đầu quân chiếm đóng, xâm lược. Người Nhật đã hiểu mình là ai, đứng ở đâu và cần gì trong giai đoạn đó….Họ biết cúi đầu, để đứng lên và trở nên hùng cường.
Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản. Còn người Nhật đã chứng minh cho thế giới, biết cúi mình mà không phải hổ thẹn.
Theo Secretchina
Ảnh: Tướng MacArthur

Thánh Tâm Chúa Jesus Suối Nguồn Lòng Thương Xót
Người phụ nữ khẳng định hình ảnh chụp lại ngọn lửa nuốt chửng Nhà thờ Đức Bà cho thấy Chúa Jesus xuất hiện vào thời điểm công trình này gặp hỏa hoạn.
– – – – –
Lesley Rowan, 38 tuổi tới từ West Dunbartonshire, Scotland tin rằng cô nhìn thấy hình ảnh Chúa Jesus trong bức ảnh chụp lại ngọn lửa nuốt trọn nhà thờ linh thiêng 850 tuổi.
“Mọi người nhìn kỹ vào bức tranh này đi và các bạn sẽ thấy. Khi tôi nhìn vào đó, tôi thấy bóng của Chúa. Đó thực sự là một hình ảnh sống động”, Rowan viết trên Facebook cá nhân đính kèm bức ảnh.
“Tôi tin rằng hình ảnh này sẽ khiến người dân Paris và người dân khắp nơi trên thế giới cảm thấy dễ chịu hơn vào thời điểm đau buồn này”, cô nói.
Chia sẻ của bà mẹ Scotland ngay lập tức thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng. Nhiều người khẳng định họ cũng nhìn thấy Chúa Jesus khi nhìn vào bức ảnh.
“Tôi nhìn thấy Chúa rất rõ, áo choàng và tất cả mọi thứ”, một người chia sẻ.
Nhưng không phải ai cũng tin vào điều này. Nhiều ý kiến cho rằng Rowan và một số người có cùng quan điểm với cô đang mắc phải ảo giác pareidolia, hiện tượng tâm lý khiến con người có xu hướng tưởng tượng ra ảo ảnh là các hình ảnh quen thuộc khi nhìn vào các mô hình hoặc kết cấu không có hình dạng xác định.
Chiều tối 15/4, người dân Paris bàng hoàng khi chứng kiến Nhà thờ Đức Bà Paris – biểu tượng của thủ đô nước Pháp chìm trong biển lửa. Giới chức ban đầu cảnh báo toàn bộ cấu trúc bên trong tòa nhà có thể bị sụp đổ khi mà ngọn lửa đang trở nên rất khó kiểm soát.
Tuy nhiên, nhờ nỗ lực của 400 lính cứu hỏa, đám cháy đã được không chế vào rạng sáng 16/4. Tháp cao nhất và 2/3 phần mái làm bằng gỗ sồi thứ thế kỷ 13 của Nhà thờ Đức Bà bị phá hủy, nhưng 2 tháp chuông và tòa nhà chính đã được cứu.
Tổng thống Emmanuel Macron hôm 16/4 tuyên bố sẽ xây dựng lại công trình này trong vòng 5 năm và đảm bảo “trái tim” của Paris thậm chí sẽ còn đẹp hơn sau khi quá trình phục dựng hoàn tất.
Sau hơn 8 thế kỷ tồn tại, Nhà thờ Đức Bà Paris mang trên mình tất cả những giá trị lịch sử, tôn giáo, kiến trúc, văn hóa… để trở thành một trong những biểu tượng lớn nhất của nền văn minh thiên chúa giáo phương Tây. Với nước Pháp, Nhà thờ Đức Bà Paris là bản sắc dân tộc sâu đậm nhất của quốc gia này.
(Nguồn: Daily Star )
🔌https://m.baomoi.com/xon-xao-hinh-anh-chua-…/c/30386258.epi…

Lính cứu hỏa Paris đang cố gắng dập lửa ở Nhà thờ Đức Bà – một kỳ quan nổi tiếng ở Paris – vào khoảng 7h tối ngày 15/4 theo giờ địa phương (tức khoảng nửa đêm theo giờ Việt Nam) trong lúc ngọn lửa và khói bốc lên từ phía trên nhà thờ, tờ Le Monde đưa tin.
Tin cho hay ngọn tháp nhọn của nhà thờ đã đổ sập.
Ngọn lửa bốc lên từ mái giáo đường, vốn là di tích lịch sử được viếng thăm nhiều nhất châu Âu. Tuy nhiên, mức độ nghiêm trọng của vụ cháy vẫn đang được đánh giá. Theo phát ngôn nhân của Nhà thờ Đức Bà, đám cháy bùng phát vào khoảng 18h50.
Điện Élysée loan báo Tổng thống Emmanuel Macron sẽ đến thị sát hiện trường vụ cháy vào chiếu tối hôm nay. Phủ Tổng thống cho biết vì lý do đó, bài diễn văn của ông Macron bàn về các giải pháp rút ra sau cuộc Đại Thảo luận Toàn quốc để giải quyết cuộc khủng hoảng áo vàng, dự kiến diễn ra tối nay sẽ bị hoãn lại.
Trên Twitter, ông Emmanuel Grégroire, trợ lý thứ nhất của thị trưởng Paris, viết: “Một vụ cháy lớn đang xảy ra ở Nhà thờ Đức Bà, quý vị phải tránh xa nơi này và chúng tôi phải sơ tán khu vực để cho phép lực lượng cứu hộ can thiệp.”
BBC cho biết hiện vẫn chưa biết nguyên nhân gây ra hỏa hoạn nhưng các quan chức cho biết nó có thể liên quan đến việc sửa chữa.
Các hình ảnh trên mạng xã hội cho thấy những cột khói cuồn cuộn bốc lên không trung phía trên ngôi giáo đường 850 tuổi, được thiết kế theo kiến trúc Gothic.
Thị trưởng Paris Anne Hidalgo mô tả đây là ‘vụ cháy khủng khiếp’, bà kêu gọi mọi người hãy tôn trọng hàng rào an ninh mà lực lượng cứu hỏa vừa dựng lên để đảm bảo an toàn.
Sau hơn 30 năm cầm quyền, Tổng thống Sudan Omar al-Bashir đã bị lật đổ và bắt giữ, bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước này cho biết.

Phát biểu trên truyền hình quốc gia, ông Awad Ibn Ouf nói rằng quân đội sẽ thực hiện công cuộc giám sát trong vòng hai năm trước khi tiến hành tổng tuyển cử.
Ông cũng tuyên bố một tình trạng khẩn cấp sẽ được diễn ra trong vòng ba tháng.
Đồng thời, hiến pháp của Sudan đã bị đình chỉ, các cửa khẩu biên giới sẽ đóng đến khi có thông báo mới.
Sudan cũng đóng không phận trong 24 giờ, ông Awad Ibn Ouf cho biết.
Các cuộc biểu tình chống lại ông Bashir, người cai trị Sudan từ năm 1989, đã diễn ra liên tục trong vài tháng qua.
TQ chi cho châu Phi thêm 60 tỷ đôla
Quân gìn giữ hòa bình VN sẽ sang Nam Sudan
Zimbabwe ‘đổi quyền không cần bạo lực’
Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu cuộc đảo chính của quân đội sẽ chấm dứt các cuộc biểu tình hay không.
”Với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng, tôi tuyên bố chế độ đã bị lật đổ, và ông al-Bashir đang được giam ở một nơi an toàn’.’
Hiện chưa có thông tin về tung tích của ông Bashir.

Ông Ibn Ouf cho rằng Sudan bị ảnh hưởng xấu bởi ”quản lý yếu kém, tham nhũng và bất công”.
Sau khi thông báo lật đổ Bashir được tung ra, đám đông người biểu tình đã ăn mừng bên ngoài trụ sở quân đội ở thủ đô Khartoum, ôm lấy binh lính và leo lên trên những chiếc xe bọc thép.
Trong khi đó, cơ quan an ninh Sudan cho biết họ đang giải phóng tất cả các tù nhân chính trị, hãng thông tấn nhà nước Suna đưa tin.
Sáng sớm thứ 5, các xe quân sự đã tiến vào trụ sở Bộ Quốc Phòng và quân đội Sudan, và là nơi ở riêng của ông Bashir, hãng thông tấn AFP đưa tin.
Đài truyền hình và đài phát thanh quốc gia sau đó đã gián đoạn chương trình của họ, nói rằng quân đội chuẩn bị đưa ra một tuyên bố.
Trong khi đó, hàng chục ngàn người biểu tình đã diễu hành qua trung tâm Khartoum, một số người hô vang “Bashir đã sụp đổ, chúng tôi đã thắng”, Reuters đưa tin.

Tin chưa chính thức nói rằng tổ chức chính đứng sau các cuộc biểu tình, Hiệp hội Chuyên viên Sudan (SPA), đã bác bỏ tuyên bố của quân đội.
Một nguồn tin của SPA được trích dẫn bởi Reuters cho biết nhóm này đang kêu gọi người biểu tình tiếp tục giữ vị trí ngoài trụ sở Bộ Quốc phòng.
SPA phát biểu rằng bất kỳ cuộc giao chuyển quyền lực nào sẽ không được phép có mặt của những người từng làm việc ”thể chế độc tài” cũ.
Các cuộc biểu tình ban đầu được châm ngòi bởi gia tăng chi phí sinh hoạt, nhưng sau đó đã mở rộng vầ bắt đầu kêu gọi tổng thống từ chức và chính phủ của ông ra đi.
Omar el-Digeir, một thành viên biểu tình, nói với hãng tin AFP tuần trước rằng nhóm đang tìm kiếm một con đường ”đại diện cho mong muốn của cách mạng”.
Cảnh sát đã ra lệnh cho các sĩ quan không can thiệp chống lại các cuộc biểu tình, nhưng chính phủ đã bị các nhóm nhân quyền chỉ trích vì phản ứng nặng nề của họ với đám đông.
Theo thông tin từ chính phủ, 38 người đã chết kể từ khi tình trạng bất ổn bắt đầu vào tháng 12, tuy nhiên tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho biết con số này cao hơn.
Từng là một sĩ quan quân đội, ông giành quyền trong một cuộc đảo chính quân sự vào năm 1989.
Thời gian cai trịcủa Bashir đã được đánh dấu bởi nội chiến Sudan.
Cuộc xung đột dân sự với miền nam đất nước này kết thúc vào năm 2005 và Nam Sudan tách ra, tuyên bố độc lập vào năm 2011.

Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) đã ban hành lệnh bắt quốc tế đối với ông Bashir, cáo buộc ông tổ chức các tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người ở khu vực phía tây Darfur của Sudan
Bất chấp lệnh bắt giữ quốc tế do ICC ban hành, ông vẫn giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử liên tiếp vào năm 2010 và 2015. Tuy nhiên, chiến thắng mới đây nhất của ông đã bị tẩy chay bởi thành viên các đảng đối lập.
Lệnh bắt giữ đã dẫn đến lệnh cấm đi lại.
Tuy nhiên, ông Bashir đã có chuyến thăm ngoại giao tới Ai Cập, Ả Rập Saudi và Nam Phi.
Vào tháng 6 năm 2015 ông đã bị buộc phải rời khỏi Nam Phi khi một tòa án ở đó xem xét liệu có nên thi hành lệnh bắt giữ ông hay không.

Tòa án Quốc tế vừa gửi thông báo thắng kiện cho ông Trịnh Vĩnh Bình, người đã theo đuổi vụ kiện xuyên thế kỷ đối với chính phủ Việt Nam. Theo đó, chính phủ Việt Nam buộc phải bồi thường cho triệu phú người Hà Lan gốc Việt tổng cộng 37.581.596 đôla thiệt hại và gần 7,9 triệu đôla án phí.
Đây được xem là một sự kiện chưa từng có đối với chính phủ Việt Nam khi phải bồi thường số tiền lớn như vậy cho một doanh nhân gốc Việt vì đã chiếm đoạt sai trái tài sản đầu tư của họ tại Việt Nam.
Trong thông báo kèm theo phán quyết dài gần 200 trang gửi cho ông Trịnh Vĩnh Bình mà VOA đọc được, Tòa án Quốc tế yêu cầu chính phủ Việt Nam bồi thường cho ông Bình 27.518.596 đôla cho phần tài sản đã chiếm của ông, 10 triệu đôla cho “thiệt hại tinh thần”, 786.672,71 đôla cho án phí ở Tòa án Quốc tế và 7.111.170,94 đôla cho chi phí pháp lý, luật sư.
Trả lời VOA ngay sau khi nhận được thông báo thắng kiện từ Tòa án Quốc tế, triệu phú đã hơn 70 tuổi xúc động nói: “Qua hơn 20 năm tranh đấu để đòi lại công lý, tôi thấy con đường Tòa án Quốc tế là rất tốt. Họ rất công tâm. Họ xử trắng ra trắng, đen ra đen. Cho nên về mặt luật pháp, công lý thì vụ này là rất rõ ràng. Tòa án đã cho mình thấy là những gì mình trông đợi ở Tòa án để cảnh báo chính phủ Việt Nam về những việc làm sai trái của họ, những gì đang xảy ra hằng ngày ở Việt Nam và vẫn đang tiếp tục xảy ra, thì họ phải điều chỉnh lại”.
Triệu phú gốc Việt nói rằng ông hy vọng vụ kiện của ông sẽ mở ra một con đường cho những người dân khác mất đất đai, tài sản tại Việt Nam muốn giành lại công lý.
“Đây có thể là một dấu hiệu cho chính phủ Việt Nam thấy rằng những ngày tới đây, họ không nên khinh xuất bắt bớ người vô tội hoặc để cho con ông cháu cha, những người có thế lực, vây cánh chiếm đoạt tài sản một cách vô tội vạ, chiếm đoạt một cách hợp pháp bằng cách ‘cưỡng chế’ theo luật pháp Việt Nam, nhưng dĩ nhiên, theo luật pháp quốc tế thì đây là một sự vi phạm trắng trợn”.
Ông cảnh báo chính phủ Việt Nam “hãy coi chừng” vì từ vụ kiện của ông, người dân Việt Nam sẽ “có cơ sở” để tiếp tục khởi kiện trong tương lai.
Xuất phát của vụ kiện xuyên thế kỷ bắt đầu từ những năm thập niên 1990, khi ông Trịnh Vĩnh Bình, khi đó là triệu phú rất thành công ở Hà Lan với biệt danh “Vua Chả Giò”, trở về Việt Nam đầu tư theo tiếng gọi “Về nước đầu tư” của Hà Nội.
Sau khi quyết định bán cơ sở kinh doanh tại Hà Lan, ông Bình đã mang về nước 2.338.250 đôla và 96 ký vàng sau 60 lần nhập cảnh, bắt đầu từ năm 1990, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán, Tổng cục hải quan Việt Nam và Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất.
Về nước, ông bắt tay vào kinh doanh trong nhiều lĩnh vực: khách sạn, thủy hải sản, xuất khẩu, nông sản, rau quả, trồng rừng… Nhưng chiến lược nhất, có lẽ là lãnh vực đất đai, vì theo như lời ông, “tôi có những bài toán lâu dài chứ không phải như Việt Nam nói là kinh doanh địa ốc”. Cứ như thế, trong vòng hơn 6 năm, giá trị số vốn ban đầu ông Bình đưa về Việt Nam được nhân lên hơn 8 lần.
Theo lời cựu Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nói với VOA, ông Bình đã trở nên “thành công và khá nổi tiếng ở Việt Nam” vào thời điểm đó nhờ tính năng động, chủ động và nhạy bén trong kinh doanh.
Tuy nhiên, sự thành công quá nhanh của ông Bình tại Việt Nam đã gây ra “sức cuốn hút không bình thường”, theo lời của cựu Đại sứ Việt Nam. Ông bị rơi vào những cái “bẫy” của các thế lực “đục nước béo cò”.
Ngày 5/12/1996, ông Trịnh Vĩnh Bình chính thức bị bắt với cáo buộc tội “trốn thuế”. Cáo buộc ban đầu này sau đó nhanh chóng được chuyển đổi thành “vi phạm các quy định về quản lý đất đai” và tội “hối lộ” vì thiếu căn cứ.
Ông Trịnh Vĩnh Bình bị tạm giam hơn 18 tháng trước khi được đưa ra xét xử. Trong thời gian này, ông Bình cho biết ông không được phép tự ý chọn luật sư, mà PA 24 chỉ định luật sư cho ông và buộc ông phải trả 50 triệu đồng cho luật sư này.
Ông Bình kể với VOA rằng điều kiện giam giữ khắc nghiệt trong thời gian này đã khiến ông suy sụp hoàn toàn và từng nghĩ đến chuyện tự tử.
Tháng 8/1998, Tòa án Nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tuyên án 13 năm tù đối với ông Trịnh Vĩnh Bình về tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai và tội đưa hối lộ, phạt 400 triệu đồng, tịch thu tài sản được cho là “sang nhượng bất hợp pháp”.
Báo Công An Nhân Dân ngày 6/6/2005 cho biết đến ngày ông Bình bị Cơ quan An ninh Điều tra tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bắt giữ (5/12/1996), ông nắm trong tay 11 căn nhà, 114 nền nhà và 2.847.745 m2 đất.
Ngày 25/2/1999, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan có thư khẩn gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam, yêu cầu chính phủ Việt Nam hoãn thi hành án cho trường hợp của ông Trịnh Vĩnh Bình cho đến khi các chính sách mới về chính sách đầu tư tại Việt Nam được làm rõ.
Sau bản án sơ thẩm, ông Bình đã kháng cáo, gửi đơn thư khiếu nại, cầu cứu lên khắp các cơ quan nhà nước, thậm chí lên các quan chức cấp cao ở trung ương và cũng đã có những chỉ đạo can thiệp từ Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và một số giới chức khác.
Tuy nhiên, nỗ lực của ông Bình và một số quan chức Việt Nam, lẫn phía Hà Lan đều không mang lại hiệu quả. Lý do, theo lời cựu Đại sứ Việt Nam Đinh Hoàng Thắng nói với VOA rằng “Việt Nam có câu ‘đục nước béo cò’ có lẽ khá đúng trong trường hợp này. Mà ‘cò’ ở đây lại là những con cò lớn và nhiều khi không xuất đầu lộ diện.”
Vị cựu Đại sứ này thừa nhận rằng vụ án Trịnh Vĩnh Bình đã gây ra rất nhiều căng thẳng ngoại giao giữa Việt Nam và Hà Lan vào thời điểm đó.
Sau phiên phúc thẩm, bản án của ông Trịnh Vĩnh Bình giảm từ 13 năm xuống thành 11 năm tù (năm 1999). Báo Thanh Niên ngày 14/7/2012 cho hay nhiều tài sản (nhà và đất) của ông Bình được tòa phúc thẩm giao cho UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Nai tịch thu. Hai cơ sở sản xuất (diện tích gần 40.000 m2) cùng 9 căn nhà trên địa bàn tỉnh được UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giao cho Cục Thi hành án dân sự bán đấu giá.
“Phiên xử sơ thẩm đến phúc thẩm không thay đổi gì mấy. Tôi thấy tình hình không êm rồi. Họ có giấy triệu tập tôi trở lại trại tù. Họ cho tôi thời gian 7 ngày. Trong thời gian đó, tôi tiếp tục làm đơn khiếu nại, nhưng thấy không êm rồi. Tới giờ chót, tức ngày hôm sau đi trình diện thì tôi trốn,” ông Bình nói với VOA.
Sau khi ra khỏi Việt Nam, ông Bình đã nộp đơn kiện chính phủ Việt Nam ra tòa trọng tài quốc tế. Hai bên “dàn xếp” ngoài tòa vào năm 2005 và Việt Nam đền ông Bình 15 triệu đôla, miễn án, tạo điều kiện cho ông Bình trở lại Việt Nam, đồng thời hoàn trả tài sản đã tịch biên.
Tuy nhiên, vào thời điểm đó, tin tức về vụ kiện đã bị cắt đứt hoàn toàn, cả trong nước lẫn quốc tế. Nguyên nhân, theo lời ông Bình, là vì đây là điều kiện phía Việt Nam đưa ra trong Thỏa thuận: Không tiết lộ thông tin cho truyền thông, báo chí.
Tháng 1/2015, ông Trịnh Vĩnh Bình quyết định khởi kiện Chính phủ Việt Nam ra Tòa trọng tài Quốc tế lần thứ hai vì theo lời ông Bình, người cho là mình đã “bị lừa”, thì chính phủ Việt Nam đã lần lữa không trả lại bất kỳ tài sản nào cho ông ngoài số tiền bồi thường trên.