Tập Cận Bình và Bộ chính trị Đảng Công sản Trung quốc đang đau đầu trước các lựa chọn tại Hongkong:
1- Nếu nhượng bộ dân Hongkong thì Tập Cận Bình sẽ mất mặt, uy tín cá nhân và uy tín của Đảng Cộng sản TQ đang dương dương tự đắc sẽ xuống đáy. Các phe phái chống đối Tập sẽ vin vào cớ này để gây áp lực khó, dễ cho quyền lực lãnh đạo suốt đời của Tập.
Với bản chất kiêu ngạo cộng sản thì việc Đảng cộng sản TQ nhượng bộ đám dân chúng chống đối hầu như là không bao giờ có trong lịch sử tồn tại của ĐCSTQ. Do vậy nếu Tập Cận Bình mà phá lệ này thì chẳng khác nào tự bội tro vào mặt. Còn nếu nhượng bộ Hongkong, chấp nhận bầu cử tự do, dân chủ thì HongKong sẽ thoát ra khỏi quĩ đạo độc tài của Trung Quốc. Các vùng khác như Đài Loan, Tây Tạng, Nội mông và nhiều vùng tự trị khác cũng sẽ nổi lên phản kháng đòi độc lập, Trung Quốc sẽ trở lên rối loạn. Cùng với các khó khăn kinh tế do cuộc chiến thượng mại với Mỹ đem lại thì nội bộ Đảng cộng sản TQ sẽ mất đoàn kết và phân hóa sâu sắc có khả năng dẫn tới sụp đổ chính quyền.
2- Nếu TQ đem quân đội vào Hongkong để đàn áp, gây ra một Thiên An Môn thứ hai thì TQ sẽ bị thế giới cô lập, nền kinh tế đang rệu rã của TQ sẽ bị Mỹ và phương tây cấm vận hoàn toàn, ngay lập tức. Mỹ sẽ mạnh tay cải tổ cái tổ chức WTO để đuổi cổ TQ ra khỏi tổ chức này để TQ không còn làm ăn buôn bán gì với thế giới nữa. Lụn bại về kinh tế vì bị cấm vận mọi mặt, cộng với chi phí lớn cho quân sự, anh ninh tại các vùng tự trị và Biển Đông sẽ kéo mức sống của 1,5 tỷ dân TQ rớt xuống mức thê thảm. Nội bộ phân hóa, kinh tế khủng hoảng, hơn một tỷ rưỡi người TQ sẽ có thể là chảo lửa nhấn chìm Đảng CSTQ, nguy cơ sụp đổ chính quyền còn cao hơn khả năng thứ nhất.
Thật là khó khăn cho Tập Cận Bình nếu cứ giữ nguyên thể chế chính trị độc tài hiện tại
3- Tuy vậy vẫn có lời giải tối ưu cho TQ để giải quyết mọi sự êm đẹp, hòa bình cho cả TQ và thế giới đó là: TQ phải chấp nhận từ bỏ chế độ độc tài, chấp nhận đa nguyên, dân chủ để tiến tới bầu cử tự do dân chủ như mô hình các nước văn minh, tiên tiến trên thế giới. Biện pháp êm đẹp này được ví như cho Tập Cận Bình & ĐCSTQ uống thuốc độc tự sát… ——– FB: Cao Sơn HD
Cách mạng tháng Tám và ba điều xét lại Bởi AdminTD –
15/08/2019
Luật Khoa Võ Văn Quản
Hơn 70 năm sau Cách mạng tháng Tám (August Revolution), bản chất của một trong những biến cố chính trị quan trọng nhất trong lịch sử đương đại Việt Nam vẫn tiếp tục còn trong vòng tranh cãi giữa sử gia, học giả cũng như những nhà quan sát.
Một số những người phản đối chế độ cộng sản khẳng định việc Việt Minh thành công trong việc biến mình trở thành gương mặt chính thức cho giới cách mạng yêu nước tại Việt Nam chỉ là một tai nạn lịch sử (historical incident). Số khác, cho rằng Việt Minh đã “cướp cạn” thành tích của nhiều nhóm chí sĩ yêu nước, các nhà dân tộc chủ nghĩa khác trong hoạt động tiếp quản chính quyền sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng lực lượng Đồng minh. Phần còn lại thừa nhận rằng sự yếu kém về năng lực, thiếu thốn đường lối và tính thống nhất của hầu hết các chính đảng còn lại tại Việt Nam thời điểm đó khiến cho nhiều nhà yêu nước, trí thức cũng như người dân Việt Nam không còn lựa chọn nào khác để vừa chống Nhật vừa chống Pháp. Tuy nhiên, họ cũng khẳng định Việt Minh “treo đầu dê bán thịt chó” khi che giấu thân phận và mục tiêu “cộng sản” của mình.
Ngược lại, các nhà sử gia cộng sản thì ca ngợi một cách khá ái kỷ tài năng lãnh đạo và sự ủng hộ nhất nhất một lòng của nhân dân Việt Nam dành cho Việt Minh và đảng Cộng sản.
Bài viết này không nhằm phê phán hay phủ nhận những thành công của Việt Minh trong việc chuẩn bị, vận động và lan tỏa danh tiếng của mình kể từ thời điểm Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, từ đó dẫn đến vai trò đầu tàu của họ trong Cách mạng tháng Tám. Tuy nhiên, để có một cái nhìn tổng quát và trọn vẹn về lịch sử thời kỳ này hơn, tác giả xin giới thiệu tới bạn đọc Luật Khoa năm sự thật lịch sử từ các góc nhìn khác biệt, góp nhặt từ những nguồn khả tín khác nhau mà báo chí và tài liệu cách mạng Việt Nam thường sẽ không nhắc đến trong các tư liệu của họ.
1. Vai trò của tình báo Mỹ (OSS) trong sự “thành danh” của Việt Minh
Khi nhắc đến Việt Minh, một hội nhóm chính trị hoạt động để che giấu danh nghĩa của Đông Dương Cộng sản Đảng trước sự thù địch của nhiều chí sĩ và người dân tại Việt Nam, có lẽ ai cũng sẽ nghĩ đến người hậu thuẫn đằng sau của tổ chức này là Liên Xô hùng mạnh.
Tuy nhiên, thực tế là sự hỗ trợ của Liên Xô trước Cách mạng tháng Tám dành cho Việt Minh cực kỳ hạn chế. Trong thập niên 1930 – 1940, hầu hết những học trò ưu tú và cánh tay đắc lực nhất được Moscow đào tạo bài bản như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu… đều đã bị chính quyền thực dân Pháp xử tử. Dây nối cảm tình chính trị giữa Stalin với nhóm Marxist còn thoi thóp hoạt động tại Việt Nam không được như trước.
Không chỉ vậy, vào năm 1943, vì yêu cầu hợp lực với các quốc gia tư bản trong chiến tranh Thế giới thứ Hai, Stalin quyết định giải tán và ngừng tài trợ vô thời hạn cho các tổ chức thuộc Quốc tế Cộng sản (Comintern – mà Đông Dương Cộng sản Đảng là một tổ chức thành viên) như một động thái thiện chí ngoại giao, triệt tiêu những phản đối trong nội bộ cộng sản thế giới về việc hợp tác với hai quốc gia tư bản mà họ dốc sức phản diện hóa trước đây. Một cái giá quá rẻ đối với Stalin để nhận được sự hỗ trợ tài chính và quân sự thiết yếu từ phía Đồng minh.
Điều này khiến cho việc hợp tác với lực lượng có thiên hướng cộng sản tại Việt Nam không khó nuốt với chính quyền của Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt cho lắm. Ở chiều ngược lại, Việt Minh lại là số ít những tổ chức chính trị “thực chiến” tại Việt Nam tỏ ra rất thiện chí và muốn thân Mỹ. Việt Minh không chỉ giúp đỡ quân đội Đồng minh (mà chủ yếu là quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương) bằng cách gây rối (chứ khó lòng chiến đấu) với quân Nhật, họ còn giúp giải cứu và hỗ trợ một số phi công Hoa Kỳ có máy bay bị bắn rơi khi giao chiến với quân Nhật trong khu vực Đông Dương.
Vào tháng Bảy năm 1945, một nhóm đặc vụ của Văn phòng Chiến lược vụ Hoa Kỳ (American Office of Strategic Services – OSS), tiền thân của Cục Tình báo Trung ương (Central Intelligence Agency – CIA), nhảy dù xuống trụ sở đầu não của Việt Minh, tổ chức huấn luyện, đào tạo và trang bị cho lực lượng quân đội non trẻ vài chục người của tổ chức này. Thông tin còn ghi nhận rằng Hồ Chí Minh thời điểm đó đang ở giữa thời khắc sống chết do bệnh kiết lỵ và sốt rét hành hạ; và ông được cứu sống nhờ một sĩ quan y tế đi cùng OSS.
Khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc, Hồ Chí Minh và lực lượng chính trị dưới trướng ông có thể được xem là một đồng minh thân thiết của Hoa Kỳ tại Đông Dương.
Ngày 19 tháng 8 năm 1945, khi các đơn vị quân đội và lực lượng chính trị của Việt Minh tiến về Hà Nội, hộ tống họ không phải là các đại diện của Liên Xô, mà là các sĩ quan và đặc vụ OSS. Điều này khiến cho Việt Minh trở thành lực lượng chính trị Việt Nam duy nhất được một thành viên Đồng minh trung lập (Hoa Kỳ, mà không phải là Pháp hay Trung Hoa Dân Quốc) hậu thuẫn; nhờ vậy, họ càng trở thành một lực lượng chính trị có sức hút và dễ dàng được chấp nhận.
Sau đó, đặc vụ Archimedes Patti (1913–1998) được Hồ Chí Minh mời tư vấn và hỗ trợ soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ông này vô cùng bất ngờ trước việc ông Hồ không hề có ý định nhắc đến xung đột xã hội hay đấu tranh giai cấp – những dấu hiệu cơ bản của một bản tuyên ngôn cộng sản. Nhờ đó, chính phủ lâm thời của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa càng có thêm nhiều cảm tình của Hoa Kỳ.
Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp chụp hình cùng các sĩ quan OSS. Ảnh: US Council on Foreign Relation.
Và trong thời điểm chuyển giao trật tự chính trị thế giới mà Hoa Kỳ tiếp quản vị trí thống lĩnh phương Tây của Vương Quốc Anh, sự ủng hộ của OSS càng khiến cho các tiếng nói phản đối Việt Minh trở nên rất ít giá trị và tính chính danh của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa càng được tăng cường.
2. Thành tích kém cỏi của đảng Cộng sản trước tháng Ba năm 1945
Dù tự nhận là lực lượng duy nhất có năng lực lãnh đạo từ năm 1930 cho đến khi Cách mạng tháng Tám thành công, thật ra thành tích đấu tranh của Việt Minh và Đông Dương Cộng sản Đảng rất kém trong giai đoạn từ những năm 1941 đến tận tháng Ba năm 1945. Hiện tượng này có thể được lý giải bởi nhiều yếu tố từ khách quan cho đến chủ quan.
Về mặt chủ quan, hầu hết hệ thống chính trị cơ sở của Đông Dương Cộng sản Đảng của Việt Minh gần như đã bị tận diệt từ hai cuộc đàn áp trước đó: lần thứ nhất là giai đoạn 1925 – 1931, sau khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh thất bại; và tiếp đó là giai đoạn 1934 – 1936, sau khi chính phủ có xu hướng xã hội chủ nghĩa Mặt trận Bình Dân (Popular Front) ở Pháp sụp đổ và các hoạt động đàn áp chính trị ở thuộc địa được cho phép tiếp tục thực hiện.
Về mặt khách quan, thành viên chính thức của Việt Minh tại thời điểm chiến tranh kết thúc chỉ khoảng trên dưới 5.000 người trên toàn Việt Nam, và hoạt động mạnh mẽ – có tổ chức nhất chỉ trong phạm vi vùng rừng núi phía Bắc, gần biên giới Trung Quốc. Điều này khiến cho ảnh hưởng thực tế của Việt Minh lên đời sống chính trị của đa số người dân Việt Nam gần như là kiến và voi nếu so với tương quan của nhiều chính đảng và tổ chức tôn giáo – chính trị có tiếng nói khác như Cao Đài, Hòa Hảo hay Quốc Dân Đảng.
Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận là kể từ khi Nhật đảo chính Pháp và nhu cầu hỗ trợ hậu cần của quân Nhật được tăng cường khiến nạn đói ở miền Bắc trở nên khốc liệt hơn, Việt Minh với các hoạt động kêu gọi đánh phá kho thóc, phản kháng vũ trang và xây dựng chính quyền tự quản địa phương dần trở thành một cái tên quen thuộc đối với nông thôn miền Bắc Việt Nam. Những khu vực mà nạn đói giết chết nhiều nông dân nhất như Nam Định, Thái Bình cũng là nơi mà sự ủng hộ dành cho Việt Minh lên cao nhất.
Việt Minh cũng nhận được điều kiện chính trị thuận lợi gián tiếp bởi sự thụ động của nhiều đảng phái chính trị ở miền Bắc trong việc thừa nhận và ứng phó với nạn đói lan rộng. Chính phủ Trần Trọng Kim thì không có động thái nào thiết thực trong việc xử lý công việc mà đáng lẽ họ phải làm.
3. Ám sát chính trị
Trong môi trường đấu tranh chống thực dân và ngoại xâm, có lẽ một trong những điều mà người Việt Nam ít muốn làm nhất là giết chóc lẫn nhau. Tuy nhiên, với tư tưởng đấu tranh xã hội, và kẻ thù lớn nhất của các lực lượng cộng sản là kẻ thù giai cấp, Việt Minh là lực lượng thường xuyên ra tay ám sát và giở thủ đoạn chính trị tàn ác nhất nhắm vào những người cùng dòng máu, màu da với mình.
Theo ghi nhận của nhiều tài liệu được dẫn dưới đây, lệnh ám sát mà Việt Minh ký không chỉ dành cho những đối thủ chính trị trực tiếp, nguy hiểm, mà còn dành cho bất kỳ ai có ảnh hưởng chính trị nhưng dám lên tiếng chống đối mình.
Một trong ví dụ dễ nhớ nhất là Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi, anh trai cả trong gia đình của Ngô Đình Diệm, bị lực lượng Việt Minh ở Trung bộ ám sát ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Bản thân Ngô Đình Diệm, trong giai đoạn 1950 – 1953 cũng nằm trong danh sách ám sát sau khi ông này chính thức lên tiếng phản đối Pháp – chính quyền Bảo Đại và cả Việt Minh; từ đó đề xuất hình thành nên Lực lượng thứ Ba (The Third Force Movement) nhằm chống lại cả chủ nghĩa thực dân của Pháp và chủ nghĩa cộng sản của Việt Minh.
Trở lại năm 1945, trong công trình nghiên cứu “Urban Guerrilla Warfare” của giáo sư khoa học chính trị Anthony James Joes của Đại học Pennsylvania, ông khẳng định các nhà lãnh đạo của phong trào yêu nước và dân chủ dân tộc chủ nghĩa Việt Nam đã phải đối mặt với chiến thuật “chặt đầu rắn” rất hiệu quả do Trường Chinh vạch ra và giải thích trong tác phẩm có tên “Primer for Revolt”. Hiểu đơn giản là ám sát những nhà lãnh đạo phong trào yêu nước phi cộng sản (hoặc phi Stalinist?).
Ảnh chụp Tạ Thu Thâu bị cảnh sát Pháp bắt sau một cuộc biểu tình ở Paris. Ông là lãnh đạo cách mạng Việt Nam có tầm ảnh hưởng cho đến khi bị Việt Minh ám sát. Ảnh: Nguồn lưu trữ Préfecture de police – Pháp
Chiến thuật này đặc biệt được áp dụng mạnh mẽ và cực kỳ thường xuyên tại miền Nam Việt Nam sau 1945, nơi mà Việt Minh không có được sự ủng hộ lớn như tại miền Bắc và phải tranh giành ảnh hưởng với các tổ chức chính trị khác. Nạn nhân của chiến thuật này có thể kể đến Huỳnh Phú Sổ của đạo Hòa Hảo, các lãnh đạo quan trọng của Mặt trận Thống nhất Quốc gia, các lãnh đạo của phe Marxist theo chủ nghĩa Trotsky như Tạ Thu Thâu, Hình Thái Thông, Trần Văn Thạch, Trần Đình Minh, .v.
Ngay cả các học giả cộng sản thế giới cũng phải ghi nhận và lên án hành vi của Việt Minh; họ thường nhắc các cuộc thảm sát – thanh trừng sau Cách mạng tháng Tám là “Stalinist Massacres” – Những cuộc thảm sát của phe thân Stalin.
***
Lịch sử đã diễn ra. Và Việt Minh được lịch sử lựa chọn là người chiến thắng của Cách mạng tháng Tám cũng như các cuộc đấu tranh nội bộ sau đó. Đó là điều không thể chối cãi. Tuy nhiên, hiểu rõ thêm về cách thức và nguồn gốc của những chiến thắng này là điều nên làm. Đến cuối cùng, lịch sử sẽ tái diễn.
Bạn đọc có thể đọc và kiểm chứng, tìm kiếm thêm thông tin tại các nguồn khả tín sau đây:
Người dân Thủ Thiêm tiếp tục phản ứng khi kết luận của lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh trong cuộc họp báo ngày 14/8/2019 thông tin về tiến trình khắc phục vi phạm kinh tế, quy hoạch, thực hiện các dự án tại khu đô thị mới Thủ Thi….
Nhà báo bị kỷ luật vì phàn nàn vụ Cát Linh – Hà Đông trên Facebook Bởi AdminTD – 14/08/2019 BTV Tiếng Dân 14-8-2019 Nhà báo Trần Thanh Trường, báo Đại Đoàn Kết. Nguồn: FB nhân vậtNhà báo Trần Thanh Tường, Trưởng ban Kinh tế – Xã hội của…
Mỹ “quan tâm sâu sắc” việc Trung Quốc chuyển quân dọc biên giới Hồng Kông
Một phát ngôn viên của Bộ Ngại giao Hoa Kỳ hôm 14/8 bày tỏ mối quan tâm sâu sắc đến việc lực lượng an ninh Trung Quốc chuyển quân gần biên giới với Hồng Kông đồng thời hối thúc Bắc Kinh tôn trọng quyền tự trị của người dân nơi này.
“Hoa Kỳ quan tâm sâu sắc bởi các báo cáo về việc lực lượng bán quân sự Trung Quốc chuyển quân dọc biên giới Hồng Kông.
Hoa Kỳ mạnh mẽ đề nghị Trung Quốc tuân thủ cam kết của mình trong Tuyên bố chung Trung-Anh nhằm cho phép Hồng Kông thực hiện quyền tự chủ cao độ”, hãng tin AFP dẫn tuyên bố của phát ngôn viên không nêu tên nói.
Một ngày sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump có phát ngôn quan tâm đến các cuộc biểu tình của người Hồng Kông, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao lên tiếng lo ngại về “sự xói mòn liên tục” quyền tự trị của Hồng Kông và bày tỏ sự ủng hộ “trung thành” đối với quyền tự do ngôn luận và hội họp hòa bình trên vùng lãnh thỗ này.
Một Thượng nghị sĩ nổi tiếng của Hoa Kỳ hôm 13/8 cảnh báo Trung Quốc rằng, Hồng Kông có thể mất tình trạng thương mại đặc biệt của Hoa Kỳ nếu Bắc Kinh can thiệp trực tiếp để đàn áp các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ ngày càng có xu hướng bạo lực ở Hương Cảng.
Một luật của Hoa Kỳ năm 1992 dành sự ưu đãi cho Hồng Kông trong các vấn đề thương mại và kinh tế so với Trung Quốc.
Các lĩnh vực được đối xử đặc biệt bao gồm thị thực, thực thi pháp luật và đầu tư.
Tình hình căng thẳng ở Hồng Kông tiếp tục được các nhật báo Pháp đưa tin ngày 14/08/2019, dù không trên trang nhất. Hơn 300 chuyến bay bị hủy trong vòng 24 giờ. Giữa người biểu tình và cảnh sát đã xảy ra xô xát tại sân bay quốc tế H…..
Những ngày vừa qua, dư luận phản bác bài viết về một tài xế chống “BOT bẩn” trên báo chí trong nước với nhan đề “Con đường từ thủ khoa đại học đến trại giam của Hà Văn Nam”. Vấn đề được đặt ra vì sao có khuynh hướng n…
Đường sắt Cát Linh – Hà Đông là một sản phẩm mà bọn khốn nạn Trung Quốc kết hợp với bọn Việt gian bán nước tạo ra nằm chềnh ềnh giữa thủ đô đang thách thức và sỉ nhục nhân dân Việt Nam.
Đây đúng là cục xương lơ lửng ở cổ họng, nuốt không nổi mà nhả ra cũng không xong. Chúng ta bỏ ra một số tiền khổng lồ, có thể gần bằng tiền làm tàu điện ngầm nhưng chỉ nhận được một sản phẩm vừa lạc hậu vừa quái thai, dị dạng. Có một số nguyên nhân khiến tuyến đường sắt này không biết đến bao giờ mới hoàn thành, đó là: 1. Thiếu tiền: Dự án nằm ngoài kiểm soát của phía VN nên nhà thầu TQ liên tục báo đội vốn mà vốn lại đi vay nên phải “năn nỉ” bọn Tàu để chúng cho vay thêm, rất mất thời gian để bổ sung vốn. 2. Nhà thầu không có kinh nghiệm: Do dự án này vay ODA của Tàu nên chủ nợ lựa chọn hình thức EPC, chúng chỉ định nhà thầu chưa từng có kinh nghiệm quản lý dự án lớn và chưa từng làm đường sắt trên cao bao giờ, vì thế, giờ chúng có muốn làm cho xong cũng khó vì không giải được bài toán về kỹ thuật và an toàn khi vận hành. 3. Ký kết hợp đồng bất lợi: Phía VN đã bị hớ hoặc ký theo kiểu “sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi” nên giờ bọn Tàu có kéo dài dự án đến 100 năm cũng chẳng làm gì được chúng vì không có chế tài xử lý khi vi phạm, đây là thứ lỗi sơ đẳng nhất khi ký hợp đồng mà không hiểu tại sao có thể xảy ra được. Đau là tiền nợ chúng vẫn thu đều cả gốc lẫn lãi mà dự án thì chưa biết bao giờ mới xong.
Thủ tướng chính phủ đã nhiều lần ý kiến đến lãnh đạo cao nhất của TQ để họ chỉ đạo các nhà thầu sớm hoàn thành dự án tránh ảnh hưởng đến “tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân hai nước” nhưng phía TQ có vẻ chúng phớt lờ, chúng không thèm quan tâm và giữ thể diện quốc gia.
Dự án này là quả đắng, rất đắng. Tuy nhiên chính phủ cần mạnh dạn dừng dự án này, phá bỏ và để lại 1 đoạn làm bảo tàng. Song song với đó là cấm cửa bọn Tàu tham gia các dự án ở Việt Nam, một việc nữa cũng không thể không làm là lôi cổ những thằng Việt gian khốn nạn đã rước cái dự án này về làm khổ nhân dân ra xét xử và cũng để nhân dân phỉ nhổ chúng.
KHÔNG ÔNG NÀO DÁM KÝ NGHIỆM THU ĐƯỜNG SẮT CÁT LINH – HÀ ĐÔNG?
Hôm qua gặp ông đi bộ cùng có vẻ là cán bộ to ở Bộ Giao thông, một ông hỏi: Bao giờ đường sắt Cát Linh-Hà Đông chạy? Ông nói với người bạn: – Tàu Cát Linh-Hà Đông còn lâu mới có vì không thằng nào dám ký nghiệm thu. Không nghiệm thu thì chạy thế đéo nào được. Mà không thằng chó nào dám ký vì sai từ thiết kế đến thi công, vật liệu “đểu”.
Thép đường ray, ốc, nẹp…của Pháp hơn trăm năm qua vẫn không rỉ nhưng thép của Tàu chưa sử dụng đã rỉ toe toét, có vẻ như họ làm từ thép phế liệu, đặc biệt hầu như không có khâu nào tự động hóa, khi chạy phải có hơn 600 lao động điều hành, quản lý…thì lấy tiền đâu mà bù lỗ hàng bao nhiêu năm.
Đặc biệt, mai đây hỏng hóc cần thay phụ tùng, vật tư mà TQ giở trò chậm trễ hoặc cắt thì chỉ có bỏ. Nói chung là bây giờ “tiến thoái lưỡng nan”. Cứ duy trì đống bê tông ấy thì tức mắt, đập đi thì tốn công mà số bê tông ấy đổ ở đâu cho hết…