Ăn Mày, Ăn Bẩn & Ăn Cướp

Ăn Mày, Ăn Bẩn & Ăn Cướp

RFA

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

“Mục tiêu đến năm 2010 giải quyết cơ bản không còn người lang thang xin ăn ở TP.”

Nguyễn Văn Xê – Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH

Ngày 22 tháng 12 năm 2014, báo Tuổi Trẻ hân hoan đăng lời “kêu gọi người dân không cho tiền người ăn xin,” cùng với một kế hoạch rất hoành tráng và (xem chừng) quyết liệt của UBND TP.HCM:

“Kể từ ngày 28-12, TP.HCM sẽ bắt đầu đưa những người ăn xin, người sống nơi công cộng không có nơi cư trú nhất định vào các cơ sở xã hội…

Trung tâm hỗ trợ xã hội được giao nhiệm vụ tăng cường khảo sát, phối hợp với các lực lượng công an, thanh niên xung phong, các đoàn thể… tập trung người lang thang về các cơ sở xã hội.

Đường dây nóng của trung tâm sẽ trực 24/24g để tiếp nhận thông tin về người lang thang trên địa bàn TP…

Người nào bị đưa vào Trung tâm hỗ trợ xã hội từ lần thứ hai trở lên thì trung tâm tiếp nhận nuôi dưỡng. Tại đây, các đối tượng được học văn hóa, học nghề và giới thiệu việc làm. Người nước ngoài lang thang xin ăn sẽ được đưa về nước theo quy định…

Việc giải quyết tình trạng người xin ăn lang thang phải được giải quyết theo hướng căn bản, thiết thực và bền vững.”

Mấy bữa sau, cũng báo Tuổi Trẻ buồn rầu cho biết: “Người ăn xin vẫn đầy đường Sài Gòn ngày đầu năm.”

Hình chụp tại góc đường 3-2 và đường Lý Thường Kiệt lúc 10g trưa 1-1-2015, bà cụ ngồi ngay giữa trời nắng nóng – Ảnh và chú thích: T.T.N.Đ

Đây không phải là lần đầu tiên “đám ăn mày” hay “tụi ăn xin” đã “làm phiền” công luận. Nhiều năm trước, chính xác là vào ngày 7 tháng 7 năm 2009, báo Pháp Luật cũng đã có lời kêu gọi (thiết tha) tương tự, cùng với nhiều kế hoạch quyết liệt không kém:

“Dự kiến từ tháng 7-2009, các quận, huyện phải đưa nội dung phát động không cho tiền người ăn xin sống lang thang nơi công cộng vào buổi họp tổ dân phố, khu phố.

Ông Nguyễn Văn Xê, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH, cho rằng để giải quyết tình trạng lang thang xin ăn cần rà soát khu vực, tuyến đường trọng điểm, phân rõ trách nhiệm của quận, huyện, không để trách nhiệm chung chung như hiện nay. Có như thế mới mong thực hiện được mục tiêu đến năm 2010 giải quyết cơ bản không còn người lang thang xin ăn ở TP.”

Về  “mục tiêu cơ bản” này (hồi đó) ở trong nước, đã có vị độc giả nhận xét như sau:

“Thôi nói thẳng ra là thế này. Mới đây, UBND TPHCM đã chỉ đạo tăng cường vận động nhân dân không cho tiền trực tiếp các ‘đối tượng’ lang thang, ăn xin trên đường phố. Mà cái chỉ đạo này thì thật ra có từ năm 2003 rồi. Nay thì quyết liệt làm lại…”

Không phải từ năm 2003 đâu mà trước nữa lâu lắm lận, theo lời của nhà báo Văn Lang:

40 năm qua, biết bao nhiêu lần họ mở chiến dịch “thu gom” mà đâu vẫn hoàn đấy, là vì nước nghèo thì ăn mày – ăn xin vẫn cứ tiếp tục sản sinh ra, đem “giấu” đi đâu cho hết?”

Những người vô gia cư ngủ ở trạm xe buýt ở Sài Gòn. Ảnh: Văn Lang/Người Việt

Sở dĩ cứ phải mở “chiến dịch thu gom” rồi “quyết liệt làm lại” hoài hoài chỉ vì cách “làm sạch” đường phố, theo kiểu “quét” hết ăn xin, của UBND TPHCM đã đi ngược … qui trình: đó là cách quét rác cầu thang bắt đầu từ bậc thấp nhất.

Tại sao cứ chăm chăm lo hốt đám ăn mày mà lại dung túng và bao che cho bọn ăn bẩn. Bọn này ăn tất tần tật. “Ăn của dân không từ một cái gì” nên mới đẩy không ít nạn nhân của chúng vào cảnh phải ăn mày.

Xin đan cử một thí dụ (ngay) trong địa bàn thành phố:

Ngày 8 tháng 8 năm 2010, luật sư Cù Huy Hà Vũ đã nộp  đơn “tố cáo và yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự và đưa ra vành móng ngựa tên Lê Thanh Hải, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và đồng bọn do đã đập nhà, cướp đất ở của bà Dương Thị Kính, thân nhân của Ba Liệt sĩ, tại 255/6/27 Ngô Tất Tố, phường 22 quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.”

Đây là một lời tố cáo vô cùng nghiêm trọng nhưng người bị đưa ra trước vành móng ngựa lại không phải là ông UVBCT Lê Thanh Hải (và đồng bọn) mà lại là chính L.S. Cù Huy Hà Vũ với “tội tuyên truyền chống nhà nước,” cùng bản án bảy năm tù giam và ba năm quản chế.

Vụ Án Hai Bao Cao Xu Đã Qua Sử Dụng (theo như cách gọi của dân gian) chung cuộc đã trở thành một màn hài kịch vô duyên và lố bịch. Nó đã không cứu vãn được “thanh danh” cho ông Lê Thanh Hải (đã đành) mà còn khiến cho đương sự trông càng bẩn thỉu hơn.

Câu hỏi đặt ra là đã có bao nhiêu vụ cướp đất tương tự đã xẩy ra ở Sài Gòn, và có bao nhiêu người dân đã trở nên trắng tay rồi buộc phải ngửa tay ăn xin (hay ăn mày) sau những chuyện ăn bẩn như vậy của đám quan chức ở thành phố này?

Trên phạm vi toàn quốc thì có vô số những quan chức cũng đã ăn bẩn hay ăn cướp (giữa ban ngày) y như thế. Chỉ xin nhắc đến hai vị đang được công luận quan tâm (ông Trần Văn Truyền và ông Nguyễn Xuân Phúc) theo như thông tin đọc được trên trang Dân Luận:

“Ông Trần Văn Truyền sở hữu căn biệt thự cùng 4 căn nhà gỗ đặc biệt ở xứ tỉnh Bến Tre, rộng trên 16.000m2 ước tính 24 tỷ riêng tiền đất; 1 căn nhà 300m2 được cấp hồi làm bí thư tỉnh ủy; 1 nhà 200m2 trước cổng chùa Bạch Vân; 3 cơ ngơi ở khu đô thị 5 sao Phú Mỹ Hưng, TP Hồ Chí Minh, do người thân quản lí.

Nhà đất có liên quan đến ông Trần Văn Truyền ước tính trị giá chưa tới 100 tỷ… Còn khối bất động sản của Phó Thủ tướng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống tham nhũng Nguyễn Xuân Phúc thì lại ở đẳng cấp quốc tế ước tính nhiều nghìn tỷ mà ông Truyền khó có thể so sánh:

Tài sản (tính theo bất động sản) của ông Trần Văn Truyền xem ra vẫn còn khiêm tốn lắm lắm so với khối bất động sản nhiều nghìn tỷ của Phó Thủ tướng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống tham nhũng Nguyễn Xuân Phúc.

Dù sao thì ông Trần Văn Truyền cũng đã nghỉ hưu, mối họa ông để lại cho nhân dân cũng không lớn lắm nhưng còn ông Phó Thủ tướng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống tham nhũng Nguyễn Xuân Phúc thì vẫn còn đang đương chức và có khả năng tiến xa hơn nữa … Đây mới là thực sự là nhân tố hút cạn máu Nhân dân …”

Cán bộ Đảng thi nhau “hút cạn máu” thiên hạ thì nhân dân, những kẻ sống trong “thiên đàng của bọn tham nhũng,” tránh sao được cảnh ăn mày?

Đó mới là chuyện ở bình diện cá nhân của một “bộ phận không nhỏ những cán bộ biến chất,” hay còn gọi (theo ngôn ngữ đương đại) là những “bầy sâu,” đang ngày đêm (ngoem ngoém) đục khoét tài sản quốc gia.

Ở bình diện thể chế thì những đường lối và chính sách cướp ngày của Đảng và Nhà Nước (CCRĐ, Hợp Tác Hoá Nông Nghiệp, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Kiểm Kê Tài Sản, Đổi Tiền, Thu Hồi Đất Đai …) đã “sản xuất” ra vô số ăn xin. Đó là chưa kể không ít những chủ trương lớn (Kinh Tế Quốc Doanh Chủ Đạo, Vinashin, Bauxite…) không ngừng đưa cả đất nước và dân tộc đến mức bần cùng.

Hãy đọc qua vài tiêu đề trên cùng một tờ báo, báo Pháp Luật:

Gia cảnh cơ cực của hai cụ già 10 năm xích chân con

Đắng lòng gia cảnh thanh niên nhặt rác chết cóng

Rơi nước mắt cảnh mẹ già nuôi 3 con bị tâm thần

Cha già bươn chải nuôi 2 con tâm thần

Bên dưới những bài viết thương tâm này thường có đôi dòng viết phụ:

Mọi sự giúp đỡ của những tấm lòng hảo tâm xin gửi về địa chỉ:

– Cụ Nguyễn Văn Thân

Xóm 2, xã Thạch Bàn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

– Báo Đời sống & Pháp luật tại Miền Trung

Số 03, Đại lộ Lê Nin, TP Vinh – Nghệ An; ĐT/Fax: 038.8601010;

Số tài khoản: 0191012468008, Ngân hàng Bảo Việt Nghệ An, chủ tài khoản: Báo Đời sống & Pháp luật tại Miền Trung.

Mỗi tuần tôi nhận được qua bưu điện bốn tờ tuần báo: Sống (phát hành từ Westminster, California) Thời Báo (Cheektowaga, New York) Trẻ (Dallas, Texas) và Việt Tribune (San Jose, California). Trừ tờ cuối cùng, ba tờ còn lại đều có mục “Những Tấm Lòng Vàng” hay “Trang Tương Trợ” với tên tuổi, địa chỉ, và hình ảnh những đồng bào đang lâm trọng bệnh hay rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi đát – ở quê nhà – cùng với lời kêu gọi xin độc giả hảo tâm giúp đỡ.

Sống trong một đất nước không có mạng lưới an sinh xã hội để nâng đỡ những người neo đơn, thất thế, già yếu, bệnh tật .. thì người dân còn biết trông chờ và đâu – ngoài lòng hảo tâm của tha nhân. Chớ không ngửa tay xin thì biết làm sao khác.

Sự giúp đỡ không chỉ giới hạn ở mức độ cá nhân.  Thử “google” vài cụm từ, như  “giúp đỡ xây cầu” (chả hạn) trong vòng năm mươi giây sẽ thấy hơn chục ngàn “kết quả” – đại loại như:

Nhóm Việt kiều xây hơn 100 chiếc cầu cho quê hương

– Bạn đọc Dân trí ủng hộ xây cầu Dân trí ở Quảng Bình gần 1,3 tỷ đồng

– Độc giả VnExpress quyên góp xây cầu vượt sông Pôkô

Cầu treo ở Khánh Hòa. Ảnh Nguyễn Thành Chung. Nguồn: Dân Trí

Một cá nhân, một gia đình, hoặc ngay cả một tập thể người (đôi lúc) cũng cần đến sự trợ giúp khi hoạn nạn nhưng một quốc gia thì không thể theo đuổi chính sách sống nhờ vào lòng từ thiện, vào kiều hối, hay vay vốn ODA nước ngoài – mãi mãi – như vậy được.

Vậy mà đây lại là một trong những chủ trương và chính sách (lớn) của Đảng và Nhà Nước, theo như nhận định của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“VN cũng là nước chuyên xin xỏ: suốt năm này sang năm khác, quan chức VN ngửa tay xin viện trợ từ rất nhiều nước trên thế giới. Xin nhiều đến nỗi có quan chức nước ngoài phàn nàn nói ‘Sao chúng mày nói là chúng mày rất thông minh và cần cù mà cứ đi xin hoài vậy. Dân xứ tao phải làm lụng vất vã mới có tiền cho chúng mày’. Thật là nhục. Xin người ta thì nhiều mà khi người ta gặp nạn thì VN chẳng đóng góp bao nhiêu.

Nếu không xin thì cũng đi vay. VN bây giờ là một con nợ quốc tế. Nợ ngân hàng thế giới, nợ ngân hàng ADP, nợ đủ thứ ngân hàng và nợ đủ các nước. Chính phủ thì nói nợ công của VN là 54%, nhưng các chuyên gia độc lập thì nói con số cao hơn nhiều và ở mức báo động đỏ (tức là sắp vỡ nợ?). Con số có lẽ quá lớn để cảm nhận, các nhà kinh tế học ước tính dùm cho chúng ta: mỗi một đứa trẻ mới ra đời ở VN hiện nay phải gánh một món nợ công 1000 USD.”

Vừa mở mắt chào đời đã mang một đống nợ nần, rồi lớn lên trong một xứ sở “chuyên xin xỏ” thì thế hệ tương lai e (lại) cũng sẽ lâm vào cảnh ăn mày thôi – nếu chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại.

Đứa con của biển Đông.

Đứa con của biển Đông.

Đây là câu chuyện có thật được cha Nguyễn Tầm Thường, Dòng Tên, thuật lại nhân kỷ niệm 5 năm ngày Mẹ Têrêsa Calcutta qua đời năm 2002.

Giao Chỉ, San Jose đặt lại tựa đề và chuyển tiếp từ internet. Bài này phổ biến cách đây hơn 10 năm. Lịch sử Thuyền Nhân Việt Nam trên biển Đông suốt 20 năm từ 1975 đến 1995 với 1 triệu người đến bến tự do và một phần tư là thảm kịch. Sóng gió tầu chìm chết ngay lại là những cái chết hạnh phúc. Năm mười lần hải tặc là bi kịch hãi hùng. Bị bắt giữ trên hoang đảo là những ngày dài thảm khốc. Đau thương hơn cả là những em bé gái bất hạnh bị bắt có thể vẫn còn sống trong các nhà chứa bên Thái Lan. Nhưng câu chuyện này là một phép lạ viết về đứa con của biển Đông 3 tuổi. Câu chuyện liên quan đến 3 bà mẹ. Bà mẹ Việt Nam, bà mẹ Tàu và đức mẹ Teresa. Cha của đứa bé là ông Việt Nam ngồi lặng thinh tráng bánh trong trại chuyển tiếp trên đất Phi, ba tháng góp được 20 Mỹ kim gửi cho vợ con bên trại Hồng Kông. Giấc mơ vô vọng của ông là tìm lại đứa con trai 3 tuổi bị bắt đi đang lưu lạc trong số hàng tỷ dân Tàu. Chúng ta có 40 năm trôi nổi trên thế giới và hiện đã an cư lạc nghiệp. Xin ngồi xuống đây nghe cha Tầm Thường kể chuyện về đứa con của biển Đông. Xin linh mục tác giả vui lòng liên lạc với chúng tôi, Viện bảo tàng Thuyền Nhân tại San Jose. Ai biết gia đình này hiện ở đâu, xin cho chúng tôi biết.  (giaochi12@gmail.com) Sau đây là nguyên văn câu chuyện.

(Linh mục Nguyễn Tầm Thường) Năm 2000, tôi tới giúp tĩnh tâm cho cộng đoàn Công Giáo Việt Nam ở Oakland, miền bắc California. Hôm ấy, cuối nhà thờ có người gọi. Quay lại nhìn, ngờ ngợ, ai ngờ đâu gặp lại người đàn ông tôi đang muốn tìm từ lâu…

Sáu năm làm việc tại trại tỵ nạn Palawan, Philippines 1989 – 1995, tôi gặp ông ta ở đấy. Một người đàn ông im lặng, ít nói. Ông lúc nào cũng như có chuyện khổ tâm. Ngày ngày ngồi tráng bánh ở một góc đường trong trại tỵ nạn. Ngâm gạo đêm trước, dậy tráng bánh từ hai giờ sáng bên đường. Mỗi ngày vài chục pesos. Ngày ấy,1 US dollar được 25 pesos tiềnPhilippines.

Hoàn cảnh tỵ nạn bấy giờ nhiều người túng cực. Ông này lại phải đùm bọc hai người gốc Chàm không người quen với bốn em bé không thân nhân. Mấy người sống chung với nhau trong căn nhà tỵ nạn. Kẻ xách nước, người kiếm củi, phần ông lo tráng bánh. Khoảng ba tháng ông góp được hai chục đô la, lại nhờ cha Crawford gởi qua trại tỵ nạn Hongkong cho vợ. Cha già Crawford người Mỹ trước ở Việt Nam, sau qua trại tỵ nạn giúp đồng bào,. Phần ông Việt Nam rời cửa biển Cam Ranh ngày 2/9/1988 vào đất Philippines. Một năm sau, tháng 9 năm 1989 ghe của vợ ông rời Vạn Ninh, Nha Trang được hai ngày bị bể máy. Ghe lênh đênh trên biển đông, rồi lâm nạn. Vợ ông đem theo ba con nhỏ. Hết lương thực, nhờ mưa gió có nước uống mới sống sót.

Sau nhiều ngày bão táp, một chủ ghe đánh cá người Tầu ở đảo Hải Nam bắt gặp chiếc ghe lâm nạn này. Ông ta chỉ đồng ý tiếp tế gạo, cho nước và kéo ghe ra khỏi vùng lâm nạn san hô với điều kiện cho ông ta bé cháu trai trên ghe. Cháu bé chính là con của người đàn ông này. Kể từ ngày rời bờ biển Vạn Ninh đến khi gặp chiếc ghe người Tầu rồi cập được vào đất liền là 25 ngày. Nước Tầu hạn chế sinh sản. Ông chủ ghe người Tầu mong một cháu trai mà không được. Cuộc mặc cả là xé ruột gan người mẹ. Trước biên giới sống và chết, họ phải chọn đường sống. Vấn đề ở đây là sự sống của toàn thể 44 người trên chiếc ghe. Nếu không hy sinh đứa bé, toàn ghe có thể chết.

Chiếc ghe đánh cá người Tầu mang theo cháu bé rồ máy chạy vội vã biến mất hút về phía Trung Quốc. Rồi tin ấy đưa đến cho người đàn ông này ở Palawan. Mỗi ngày ông cứ lặng lẽ tráng bánh, kiếm ăn gởi qua cho vợ ở trại tỵ nạn Hongkong. Ðau thương vì mất con. Con tôi trôi giạt nơi đâu ?

Vợ chồng mỗi người một ngả. Ðứa con mất tích sẽ ra sao? Dáng ông buồn lắm. Cháu bé lúc đó mới hơn ba tuổi. Cha Crawford kể cho tôi câu chuyện này. Không biết người đàn ông đã nhờ cha M ỹ gởi tiền cho vợ như thế bao lâu rồi. Theo ông kể lại, vì không là người Công Giáo, ông đâu có tới nhà thờ. Một hôm có mấy người vào tìm cha xin tiền mua tem gởi thư. Ông cũng đi theo. Rồi một linh cảm nào đó xui khiến ông gặp cha. Ông kể cho cha già Mỹ nghe chuyện mất con. Phần tôi, tác giả bài này kể tiếp….Một trong những ý định qua trại tỵ nạn làm việc là thu lượm những mẩu đời thương đau của người tỵ nạn. Tôi tìm gặp ông ta để hỏi chuyện.

Câu chuyện bắt đầu về chuyến đi sau của vợ con.

Sau khi chiếc ghe được kéo vào đảo Trung Quốc, một nửa số người quá sợ hãi, đi đường bộ trở về Việt Nam. Số còn lại kết hợp với ít người đã trôi dạt vào đảo trước đó, sửa ghe tìm đường qua Hongkong. Người đàn ông tưởng chừng vợ đã chết trên biển nhưng hơn ba tháng sau nhận được mấy lời nhắn tin viết vội bằng bút chì từ trại tỵ nạn Hongkong. Ông đưa miếng giấy nhàu với nét bút chì mờ cho tôi. Sau khi ông rời trại tỵ nạn, mất liên lạc, tôi chỉ còn giữ tấm giấy như một kỷ niệm quý hơn chục năm nay.

Ðó là lá thư thứ nhất ông nhận được. Tiếp theo là câu chuyện mất đứa con trai. Những lần giảng trong Thánh Lễ về tình nghĩa vợ chồng, tôi lại nghĩ đến ông.. Một người đàn ông cặm cụi tráng bánh để rồi ba tháng trời dành được 20 đô la gởi tiếp tế cho vợ. Không nghe ông oán trách sao vợ lại bỏ con của ông. Ông tâm sự với tôi là ông dự tính một ngày nào đó được đi định cư, dành dụm tiền rồi đi Trung Quốc dò hỏi tin con. Nghe ông nói vậy, tôi thấy ngao ngán. Bao giờ ông mới được định cư ? Rồi định cư xong, biết bao giờ ông mới thực hiện được mơ ước ? Tình trạng tỵ nạn lúc này quá bi đát. Mười người vào phỏng vấn may ra đậu được ba. Ðất Trung Quốc rộng mênh mông như thế biết đâu tìm ? Bao nhiêu khó khăn tuyệt vọng hiện ra trước mặt. Tôi thấy ý nghĩ mơ ước đi tìm con của ông như cây kim lặng lờ chìm xuống lòng đại dương.

– Tại sao không nhờ Cao Ủy Tỵ Nạn, nhờ Hội Chữ Thập Ðỏ Hongkong ?

Người đàn ông này sợ lên tiếng như thế gia đình Tầu kia biết tin sẽ trốn mất. Chi bằng cứ âm thầm tìm kiếm. Tôi thấy dự tính của ông khó khăn quá. Những năm làm việc bên cha Mỹ già, tôi biết một đặc tính của ngài là thương kẻ nghèo. Ngài thương họ vô cùng, ngài sẽ làm bất cứ gì có thể. Tôi đề nghị cha già cứ viết thư khắp nơi, kêu cầu bốn phương…

Những lá thư được viết đi. Ngài cầu cứu Cao Ủy Tỵ Nạn, Hội Hồng Thập Tự, cơ quan từ thiện dịch vụ tỵ nạn Công Giáo, từ Manila đến Bangkok, Thailand.

Ðợi chờ mãi mà năm tháng cứ bặt tin. Tôi vẫn thấy người đàn ông dáng điệu buồn bã ngồi bên đường tráng bánh. Trời nhiệt đới nắng và nóng, mỗi khi xe chạy qua, bụi đường bay mờ người. Hàng ngày lên Nhà Thờ, tôi lại hình dung bóng hình ông. Chỗ ông ngồi không xa tháp chuông Nhà Thờ bạc vôi sơn và vẳng nghe có tiếng chuông mỗi chiều.

Mỗi chiều dâng lễ, tôi lại nhìn thấy cây Thánh Giá trên nóc Nhà Thờ đã nghiêng vì gỗ bị mục. Cây thánh giá trải qua nhiều mùa mưa nắng quá rồi. Bức hình Mẹ Maria bế Chúa Hài Nhi trên tấm ván ép dưới cây Thánh Giá cũng bạc nước sơn. Những người tỵ nạn đã bỏ đi từ một vùng đất rất xa. Quê hương của họ bên kia bờ biển mặn. Nhiều người cứ chiều chiều ra biển ngồi. Ðêm về sóng vỗ ì ầm. Biết bao người đã không tới bến.. Họ đến đây tìm an ủi trong câu kinh.

Giữa tháng ngày cằn cỗi ấy, rồi một chiều bất ngờ tin vui đến.. Hội Hồng Thập Tự Hongkong báo tin về Manila. Manila điện xuống báo cho cha Crawford biết người ta đã tìm được cháu bé. Lúc bắt cháu bé, người Tầu trên ghe đánh cá kia đã lanh trí che tất cả số ghe. Không ngờ trời xui khiến, trong lúc thương lượng bắt cháu, trên chuyến ghe tỵ nạn Việt Nam có kẻ lại ghi được mấy chữ Tầu ở đầu ghe bên kia vào một chiếc áo. Không ngờ chiếc áo này lại là chính chiếc áo của cháu bé bỏ lại. Quả thật là chiếc áo định mệnh. Nguồn gốc nhờ mấy số đó mà sau này người ta mới phanh phui ra được gốc tích chiếc ghe. Ðó là một thuyền đánh cá ở đảo Hải Nam. Tìm được cháu rồi, bây giờ lại đến phần gia đình người Tầu đau khổ. Cháu không còn nói được tiếng Việt, vì hơn một năm liền sinh hoạt trong gia đình Tàu Hải Nam. Hồi bị bắt cháu còn bé quá, mới hơn ba tuổi. Bà mẹ người Tầu cũng khóc, biết mình sẽ mất đứa con mà họ đã nuôi. Họ nhất định không trả. Cao Ủy phải can thiệp nhiều lắm. Gia đình ở đảo Hải Nam kia dựa lý do là cháu đang được nuôi nấng tử tế, còn ở trại tỵ nạn cháu thiếu thốn đủ thứ, họ không chịu mất con. Nhưng Cao Ủy bắt phải trả cháu về cho bố mẹ ruột.

Ðể thỏa mãn điều kiện, Sở Di Trú Mỹ liền cho bà mẹ bị bắt con quyền định cư tại Mỹ, dù đã đến trại sau ngày thanh lọc. Trong lúc đó người đàn ông này đã bị Mỹ từ chối tại Philippines. Ông buồn lắm. Cha Crawford bảo tôi rằng vợ người đàn ông đã được vào Mỹ, nên cơ quan Cao Ủy Tỵ Nạn tại Philippines yêu cầu cho ông cũng được vào Mỹ theo. Vì nhân đạo, sở di trú Hoa Kỳ đồng ý. Tin vui đến như vậy mà ông cứ đứng như trời trồng, không tin chuyện có thể xảy ra như thế. Ngày trao trả cháu bé, báo chí Hongkong đăng hình cháu khóc thảm thiết. Cháu đẩy mẹ ruột ra, đòi về với mẹ nuôi. Người mẹ nuôi khóc vì thương nhớ cháu. Mẹ ruột cũng khóc vì thấy lại con mà con không nhận mình. Tất cả ai cũng khóc. Cao Ủy Tỵ Nạn bồi thường lại phí tổn nuôi nấng cháu bé cho gia đình người Tầu kia. Chuyến bay rời Hongkong mang theo bao tình cảm của con người với con người.

Thời điểm bấy giờ không biết bao chuyện thương tâm xảy ra. Hàng trăm ngàn người chết trên biển, ăn thịt nhau vì đói. Hải tặc Thái Lan tung hoành bắt người nhốt ngoài đảo, hãm hiếp, chặt răng vàng, giết hết để bịt miệng. Ðối với thế giới chuyện cháu bị bắt cóc chỉ là chuyện nhỏ. Vậy vì đâu họ ra sức đi tìm ?

Ðây là lý do:

Câu chuyện thương tâm của người mẹ mất con đến tai Mẹ Têrêsa Calcutta. Ấn Ðộ là thuộc địa cũ của người Anh. Mẹ Têrêsa viết cho chính phủ Anh xin can thiệp chuyện này. Từ London, chính phủ Anh xin Bộ Ngoại giao Bắc Kinh điều tra tìm chiếc ghe mang số như thế..

Bên ngôi mộ Mẹ Têrêsa ở Calcutta, ngày 14.5.2001 tôi kể chuyện này cho Sơ Bề Trên. Sơ yêu cầu tôi viết lại cho sơ làm tài liệu. Trong những ngày này, nhân viên Tòa Thánh đang ở Calcutta điều tra để xúc tiến hồ sơ phong thánh cho Mẹ Têrêsa.

Một Linh Mục ngồi nghe chuyện tôi kể, ngài nói:

– Tâm hồn Mẹ Têrêsa rất bao dung. Mẹ thương người nghèo. Mẹ là người của biên giới giữa sống và chết.

Nghe câu nói đó của cha. Tôi hiểu ý là Mẹ luôn đứng bên lề sự sống kéo kẻ chết về phía mình. ….

Nghe tiếng người đàn ông gọi. Quay lại nhìn, không ngờ chính người đàn ông mất con, ngồi tráng bánh ở trại Palawan ngày xưa, tôi mừng lắm. Sau lễ chiều, tôi tới nhà ông dùng cơm. Ông rời trại tỵ nạn Palawan tháng 6, lên Bataan rồi vào Mỹ tháng 12 năm 1990. Không ngờ mười năm sau tôi gặp lại.

Cháu bé bây giờ lớn rồi. Chuyện đã hơn cả chục năm qua. Cháu chẳng nhớ gì. Riêng cha mẹ thì nhớ lắm, nhất là những gì đau thương vì con cái thì trong trái tim cha mẹ không bao giờ quên. Còn tôi, đấy là một kỷ niệm đẹp trong những ngày làm việc bên trại tỵ nạn.

Không ngờ có ngày tôi gặp lại người đàn ông này. Không ngờ có ngày tôi ngồi bên mộ Mẹ Têrêsa trên đất Ấn. Một vùng đất rất xa với chỗ ngồi tráng bánh của người đàn ông mất con. Không ngờ tôi lại là kẻ chứng kiến những chuyện này, để rồi nối kết khung trời này với khung trời kia.

Không ngờ vào ngày Lễ Phục Sinh năm 1999 ông đã nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội, nếu ông không đi lễ ở Nhà Thờ Oakland hôm đó, làm sao tôi gặp lại.

Tại vùng đất Vạn Ninh, chỉ có một ngôi Nhà Thờ nhỏ miền quê độc nhất.

Ðêm Noel năm 1985 sau khi đến Nhà Thờ về, em bé chào đời đúng ngày 25 tháng 12 năm 1985. Người đàn ông kể cho tôi ngày sinh nhật của em thật đặc biệt. Còn tôi, tôi thấy ngày em mới hơn ba tuổi phải hy sinh để cứu chuyến ghe là hình ảnh thế mạng sống chuộc thay cho người khác. Trong câu chuyện này cả ba người đàn bà đều có những tấm lòng rất đỗi đáng yêu. Người mẹ sinh cháu bé, bao yêu thương và xót xa. Mẹ Têrêsa với tấm lòng hiểu nỗi thương đau của những người mẹ. Bà mẹ nuôi người Tầu đã săn sóc em khi ông chồng đánh cá đem cháu về. Tất cả là tấm lòng bao dung của những bà mẹ.

Khi tôi viết dòng này, cha già Crawford đã chết rồi. Mẹ Têrêsa cũng chết rồi.

Ngày mai, giữa biên giới của sự sống và chết , còn những chuyện không ngờ nào sẽ xảy đến nhỉ ?

Người nghèo phải chết

Người nghèo phải chết

VienDongDaily.Com

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Đây là tiêu đề của một người dân, bạn Lê Phương đăng trên báo Người Lao Động ngày 5 tháng Một, 2015 vừa qua. Bài này phát xuất do một số quy định có hiệu lực từ đầu năm nay. Trong đó quy định về cắt giảm việc trả chi phí cho các loại thuốc có chi phí cao với những bệnh nhân có bảo hiểm y tế làm dấy lên một luồng dư luận vô cùng hoang mang lo ngại cho hầu hết những gia đình nghèo.
Quy định này của Bộ Y Tế VN có nhiều chi tiết nhưng có thể tóm tắt vài điểm chính:
Từ ngày 1/1/2015, một số thuốc ung thư mới, chi phí cao sẽ chỉ được quỹ bảo hiểm chi trả 50% thay vì 100% như trước đây, hoặc không được chi trả.
Bộ Y Tế vừa ban hành danh mục thuốc tân dược được Quỹ Bảo Hiểm Y Tế (BHYT) chi trả, gồm 845 hoạt chất, 1,064 thuốc tân dược; giảm cả về số lượng hoạt chất và thuốc được chi trả so với danh mục hiện nay. Danh mục thuốc được BHYT chi trả hiện hành có 900 hoạt chất với 1,143 thuốc.
Ông Phạm Lương Sơn, trưởng ban thực hiện chính sách BHYT, Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam cho biết, danh mục thuốc BHYT lần này có tổng số lượng thuốc ít hơn vì bỏ bớt một số loại.
Số thuốc bị giảm chi từ quỹ gồm 4 loại, giảm từ chi trả 100% chi phí xuống còn 30-50%. Đây đều là các thuốc giá rất cao mà hiệu quả điều trị chưa được chứng minh rõ ràng. Trong số này có thuốc điều trị viêm gan siêu vi C phải giảm chi từ 100% xuống còn 30%. Ước tính nếu dùng thuốc này phải mất 90,000 tỷ đồng mỗi năm để chi cho đủ nhu cầu điều trị của bệnh nhân, trong khi thu quỹ cả năm 2014 mới được khoảng 53,000 tỷ đồng. Sắp tới Bộ Y tế sẽ ban hành tiếp danh mục thuốc Đông y được quỹ bảo hiểm thanh toán.

Tại sao người nghèo phải chết?

Không phải tất cả bệnh nhân đang dùng thuốc mới, giá cao đều có thể đổi sang dùng thuốc thông thường. Vì thế, với không ít người mắc bệnh hiểm nghèo, sự thay đổi này thực sự là một gánh nặng. Bởi nếu không được chữa trị với những loại thuốc thường dùng họ sẽ phải chết. Mời bạn đọc bài “tâm sự” của người dân.
– Bạn Lê Phương viết: “Tôi nhớ một bác già nằm vắt tay lên trán, chép miệng: “Mấy ổng ban hành chính sách như vậy chẳng khác nào ép người nghèo phải chết”.
Ba tôi nghỉ hưu đã 6 năm. Chưa kịp an hưởng tuổi già bên con cháu thì ông mắc phải căn bệnh quái ác: ung thư gan. Sau 2 lần phẫu thuật rồi hóa trị, xạ trị bệnh tình vẫn không thuyên giảm.
May mắn thay, gần đây bệnh viện thay đổi phác đồ điều trị và hiệu quả thấy rõ. Ba tôi đã ăn được, ngủ được, da dẻ hồng hào, khối u gom lại còn bằng 1/2 lúc trước.
Nếu không có bảo hiểm y tế chi trả các khoản chi phí điều trị căn bệnh hiểm nghèo này, ba tôi chắc đã theo ông, theo bà.

Tổng Cục Hải quan vừa bắt 1 lô hàng thiết bị y tế quá đát nhập vào Việt Nam. (Báo Tiền Phong)
Ấy vậy mà ngay trong Đêm Giáng sinh an lành, ba tôi nhận được tin sét đánh: Từ ngày 1-1-2015, loại thuốc đang điều trị cho ba tôi nằm trong danh sách 28 loại thuốc mới, đắt tiền sẽ thay đổi phương thức chi trả từ bảo hiểm y tế. Thay vì được thanh toán 100% như trước thì nay chỉ được chi trả tối đa 50%.
Hay tin này, ngay tối đó ba tôi đã không ăn uống rồi không ngủ được. Hôm sau ông bảo mẹ tôi về lấy quyển sổ tiết kiệm đem vào bệnh viện cho ông kiểm tra. Sau gần 40 năm làm việc, cống hiến, ba tôi dành dụm được 500 triệu đồng. Đây là khoản tiền “dưỡng già” như cách ba tôi hay nói vui.
Ông bảo: “Tao với mẹ mày có lương hưu, có bảo hiểm y tế; tụi bây khỏi lo. Tiền tiết kiệm này thì để dành đi du lịch và lo hậu sự”. Đó là nói chuyện trước kia, còn từ khi phát hiện bệnh hiểm nghèo, ba tôi không còn lạc quan như trước. Ông luôn miệng nói: “May mà có bảo hiểm y tế, nếu không chắc chỉ còn biết nằm chờ chết chứ tiền đâu mà chữa trị? Bởi vậy người ta mới gọi là bệnh nan y…”.
Ấy vậy mà mấy hôm nay niềm hi vọng sống vốn đã mong manh của ba tôi lại càng lay lắt như ngọn đèn trước gió. Ông nói quả quyết: “Nằm bệnh viện tới 31-12 thì về. Trước sau gì cũng chết, tốn kém làm gì?”. Ông không chỉ quyết định như vậy mà còn “rủ rê” mấy người bạn chung phòng “về nhà chờ chết”. Tôi nhìn hoàn cảnh của những người kia mà không khỏi áy náy trong lòng.
Họ đều là người hưởng lương hưu, là dân nghèo hoặc cận nghèo. Tiền mua thẻ bảo hiểm y tế phải trông chờ nhà nước hỗ trợ, vậy thì lấy đâu để “đồng chi trả” một khoản chi phí cao ngất ngưởng như vậy?
Chợt nhớ mục đích của chính sách bảo hiểm y tế là “người khỏe san sẻ cho người bệnh”. Những năm qua, hẳn là số người khỏe lớn hơn người bệnh gấp nhiều lần nên mới có khoản kết dư bảo hiểm y tế 20.000 tỉ. Ấy vậy mà các quan chức bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế lại lo vỡ quỹ nên không dám chi và còn đổ thừa qua lại.
Biết làm sao được. Chỉ còn mong cho toàn dân khỏe mạnh để những người rủi ro bệnh tật sẽ được cứu sống từ sự chung sức của cộng đồng. Nếu không thì chắc chắn những người nghèo mắc bệnh nan y sẽ phải chết dù y học có phát triển đến đâu!”
Lá thư này đã cho bạn biết rõ tại sao người nghèo phải chết.

Chuyện ở Mỹ và ở VN

Tất nhiên tôi không dại gì đi so sánh nền văn minh nhân loại hay nói gọn hơn là sự chăm sóc người dân giữa Mỹ và VN. Đây chỉ là câu chuyện nhỏ.
Tôi nhớ có lần nói chuyện qua điện thoại với ông bạn ở Virginia, ông hỏi tôi hồi này cuộc sống thế nào. Tôi thành thật trả lời ngay, “Bây giờ tôi già rồi, từ ngày tôi bị CA sờ gáy, chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày đã có ông chủ báo ở Úc cũng là bạn cùng làm báo và là đồng đội từ những ngày xa xưa lo cho từ A đến Z đến khi tôi chết hoặc ông ấy ra đi. Tôi chỉ còn lo mỗi chuyện khi phải vào bệnh viện (BV). Bắt buộc phải có một khoản tiền để sẵn, ở đây vào BV không có tiền chỉ có nước nằm đầu hè chờ chết.”
Ông bạn tôi kể chuyện ở Mỹ, vào BV là “nó” lo cho rất kỹ, có khi còn lo hơn cả điều mình mong muốn. Bởi “nó” tính tiền cho nhà nước Mẽo trả chứ tụi tôi đâu có mất xu nào.
Tôi kể tiếp rằng tôi không mua bảo hiểm, và cũng căn dặn người nhà rất kỹ dù gần chết cũng không đưa tôi vào BV công. Vì có mua bảo hiểm cũng như không, còn gặp nhiều phiền toái. Cụ thể như bà Thụy Vũ, có thẻ bảo hiểm nhưng đến khi về Sài Gòn chữa bệnh không dám đưa thẻ bảo hiểm ra vì thứ nhất phải chờ dài người mới được khám, thứ hai là uống loại thuốc rẻ tiền, còn lâu mới hết bệnh. Đấy là chưa nói đến những chuyện khác như máy móc thuộc loại hàng giả, hàng “đểu”, tay nghề kém nên có nhiều bệnh nhân khám không ra bệnh hoặc đi hai ba bệnh viện đều cho kết quả khác nhau.
Một vấn đề nhức nhối hơn đó là y đức của một số không nhỏ bác sĩ (BS) tại VN. Tôi không nói là tất cả các BS VN đều kém y đức, vẫn còn có những “lương y như từ mẫu” như tôi đã tường thuật trong bài “Buồn Vui Ở Bệnh Viện” ngày 11 tháng 5, 2012, nhưng một số không ít những BS và y tá đã “nhiễm” cái thói quen có phong bì thì săn sóc đến nơi đến chốn, còn không phong bì thì à ơi ví dầu cho xong chuyện. Mời bạn đọc vài “chuyện vặt” sau đây để hiểu rõ những gì đã và đang xảy ra với các BV ở VN.
Tôi chỉ nêu 3 vấn đề chính:

Máy xịn của Mỹ, Nhật trùm mền, xài máy TQ trôi nổi

Sở Y Tế tỉnh Đồng Nai vừa có kết luận các sai phạm trong việc quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế (TBYT) và công tác dược đối với BV huyện Xuân Lộc (Đồng Nai). Theo đó có hàng loạt sai phạm tại bệnh viện (BV) này như không dùng máy được Nhà nước trang bị mà sử dụng máy trôi nổi, đã qua sử dụng của Trung Quốc; giao cho người không đủ điều kiện bán thuốc gây nghiện, thả nổi việc quản lý dược…
Theo kết luận, tháng 5-2012, BV Đa khoa Xuân Lộc được trang bị, đưa vào sử dụng máy xét nghiệm 2000i do Nhật sản xuất. Hai tháng trước khi đưa máy vào sử dụng, công ty Nguyễn Tùng (đơn vị cung cấp máy) trúng thầu cung cấp hóa chất xét nghiệm dùng cho máy này. Tuy nhiên, BV chỉ sử dụng máy ba tháng rồi ngưng với lý do đưa ra là BV không có hóa chất.
Với lý do “không có hóa chất” nên không xài máy “nhà nước”, Sở Y tế chỉ rõ: Trước khi máy hoạt động, đơn vị cung cấp máy đã trúng thầu hóa chất sử dụng cho máy. Năm 2013, Công ty Kỹ thuật thiết bị y tế Tân Hồng Bảo trúng thầu hóa chất xét nghiệm, cũng có hóa chất sử dụng cho máy trên. Cuối năm 2013, khoa Dược của BV xuất hóa chất xét nghiệm cho chiếc máy (trị giá gần 52 triệu đồng). Vì vậy BV cho rằng không có hóa chất nên không sử dụng máy là không hợp lý.
Cũng năm 2012, BV được trang bị một máy xét nghiệm tự động XL 640 do Nhật sản xuất và máy hoạt động bình thường. Tuy nhiên, từ khi đưa vào sử dụng đến tháng 10-2014, BV không sử dụng cũng với lý do… không có hóa chất. Trong khi loại hóa chất sử dụng cho máy thì BV vẫn mua!
Tương tự, năm 2007 phòng sinh hóa của BV được cấp một máy xét nghiệm do Mỹ sản xuất nhưng đến năm 2012 thì cho đắp chiếu với lý do chuyển sang sử dụng máy tự động.
Đối với thiết bị hệ thống tán sỏi ngoài cơ thể bị “trùm mền” từ tháng 11-2012 đến nay, máy do Sở Y tế làm chủ dự án cung cấp cho bệnh viện trong khi bệnh viện chưa có phòng bảo đảm đủ điều kiện về an toàn bức xạ nên phải để tạm ở chân cầu thang.
Ngoài ra, bộ phẫu thuật nội soi mũi xoang được bệnh viện mua về từ năm 2007 nhưng sử dụng không hiệu quả vì trước khi mua sắm, bệnh viện chưa có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kỹ thuật cho viên chức bệnh viện, chưa thực hiện đúng công năng của thiết bị nên hiệu quả phục vụ điều trị chưa cao. Nói thẳng ra là các viên chức này chưa biết cách sử dụng máy nên… nhắm mắt làm liều để kiếm tiền của người bệnh.

Công ty Bio-Rad của Mỹ hối lộ $2.2 triệu USD cho các quan chức chính phủ Việt Nam

Theo hồ sơ của Ủy ban Chứng khoán Mỹ và Bộ Tư pháp nước này, Bio-Rad là nhà cung cấp các thiết bị xét nghiệm và chẩn đoán y tế nổi tiếng tại Mỹ, đã thừa nhận đã hối lộ $7.5 triệu USD cho quan chức y tế các nước Nga, Thái Lan và cả Việt Nam. Số tiền để bôi trơn tại VN được cho là $2.3 triệu USD và đổi lại họ có được doanh số đạt hơn $23 triệu USD.
Hồ sơ điều tra từ năm 2005- 2009, Bio-Rad Văn phòng tại Việt Nam có hàng loạt hợp đồng bán thiết bị với giá mỗi hợp đồng từ $100,000 USD- $200,000 USD và mỗi hợp đồng có được họ phải chi “hoa hồng” khoảng $20,000 USD.
Sự việc bị phát lộ khi giám đốc Bio-Rad Singapore nhận thấy đại diện Văn phòng tại Việt Nam đã đi ngược lại với chuẩn mực đạo đức kinh doanh bị cấm của Bio-Rad nhưng theo tờ BBC, đại diện của Bio-Rad tại Việt Nam cho rằng “nếu không bôi trơn họ sẽ mất trên 80% doanh số”.
Được biết văn phòng Bio-Rad tại Việt Nam đưa số tiền $2.2 triệu USD thông qua một đơn vị trung gian để hối lộ lại cho các quan chức bệnh viện. Vụ việc sẽ làm sáng tỏ khi Bộ Công An vào cuộc.

Nhiều hình thức hối lộ tinh vi trong lĩnh vực y tế

Tài trợ tiền, mời bác sĩ dự hội thảo quốc tế, hoa hồng qua hóa đơn… những cách hối lộ trong lĩnh vực y tế được Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội Nguyễn Văn Tiên nêu ra trong cuộc phỏng vấn sáng 6/11.
Ông Tiên nói: Năm ngoái, Trung Quốc đã xử phạt một công ty của Mỹ mấy trăm triệu USD vì tội hối lộ mà họ chấp nhận chịu phạt. Còn trường hợp này ở ta (VN), hiện nay phải xác định là họ hoạt động trong lĩnh vực nào: thuốc, hóa chất hay thiết bị y tế… Tôi nghĩ là trong 5 năm hối lộ $2.2 triệu USD, có lẽ còn quá nhỏ.
Thực tế nhiều năm nay, chi hoa hồng cho bác sĩ kê đơn thuốc là chuyện phổ biến. Đây là một vấn đề rất lớn. Ở các nước như Mỹ thì họ kiểm soát ngay từ các công ty, xem danh sách chi hoa hồng, chi cho những ai do đó mới phát hiện được. Ta cũng muốn kiểm soát nhưng rất khó. Tôi mong là qua đợt này, chúng ta sẽ phát hiện được xem ở lĩnh vực nào, dược hay thiết bị y tế.
Họ có thể tài trợ dưới hình thức mời đi nước ngoài tham dự hội thảo, cộng vào là có thể thành mấy triệu đôla. Ví dụ, hãng tài trợ cho mấy trăm bác sĩ đi dự hội thảo, mỗi người vài nghìn đôla cộng lại đã thành một khoản lớn. Hình thức hối lộ rất khó, vấn đề phát hiện ra như thế nào. Nhiều nơi có tình trạng chủ yếu trả hoa hồng qua đơn thuốc rất tinh vi.
Tôi nghĩ là những công bố của cơ quan điều tra ở nước ngoài như vậy sẽ khó với chúng ta. Nhưng đây cũng là một dịp tốt cho Việt Nam tìm cách đưa giá thuốc, giá trang thiết bị y tế về giá thực mà không bị chi phối bởi những khoản hoa hồng rất khó kiểm soát.
Tôi rất muốn Quốc hội ban hành luật Đấu thầu, trong đó có mục riêng cho đấu thầu cung ứng thuốc và thiết bị y tế để kiểm soát. Nhưng cũng rất vất vả vì thực tế này tồn tại ở nhiều nước.
Có hàng mấy chục công ty nước ngoài đầu tư trang thiết bị y tế và bán thuốc ở Việt Nam. Chỗ nào cũng có hoa hồng, vấn đề là làm thế nào để phát hiện được, rất khó.
Ở đây là vấn đề y đức, sự tự giác, quản lý của cơ quan cán bộ, bác sĩ đó.
Ví dụ mời đi hội thảo, ta không phát hiện được. Họ có cơ chế trả hoa hồng rất tinh vi, không qua tài khoản, ngân hàng…
Ngoài ra, Cục Điều tra chống buôn lậu – Tổng Cục Hải quan đã phá đường dây chuyên nhập khẩu thiết bị y tế quá đát của Công ty Kĩ thuật Thiết bị Y tế Bảo Trân (Công ty Bảo Trân, ở số 19, 180/2, đường Trần Duy Hưng, Hà Nội). Theo kết quả giám định ban đầu, toàn bộ số thiết bị y tế nhập khẩu gồm máy soi dạ dày, máy scan phim X Quang và các phụ kiện đi kèm của có xuất xứ từ Nhật Bản, Trung Quốc, Mexico đã bị thải ra do không còn giá trị sử dụng. Hiện cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc.

Tốn hàng tỉ USD đi nước ngoài chữa bệnh

Chỉ cần nhìn qua vài sự kiện trên bạn còn thể tin tưởng gì vào những thiết bị y tế để khám chữa bệnh của BV tại VN được không? Vì thế bạn đọc hiểu rõ hơn tại sao tôi căn dặn người nhà có chết cũng không đưa tôi vào BV công. Còn một số lớn các “đại gia, đại quan” cứ mắc bệnh là đi Singapore, đi Mỹ chữa bệnh. Mỗi năm chảy ra nước ngoài hàng tỉ đồng chứ không ít.
Theo thống kê, hiện cả nước VN có khoảng 170 bệnh viện tư nhân với vốn đầu tư hàng chục ngàn tỷ đồng (chưa kể hệ thống bệnh viện công xuống tới cấp huyện). Tuy nhiên, theo Bộ Y tế, hằng năm người Việt vẫn đem hơn 2 tỷ USD ra nước ngoài chữa bệnh
Có những câu chuyện khiến ngay cả người vai vế trong xã hội cũng phát khóc khi phải chịu đựng lối ứng xử hống hách của một số bác sĩ tại bệnh viện của giới nhà giàu. Không ít bệnh viện gắn sao được xây to, trang bị hiện đại, nhưng cung cách ứng xử vẫn hống hách, coi thường bệnh nhân.

Dài cổ chờ mua thuốc ở bệnh viện

Gần xế chiều, các nhà thuốc tại các bệnh viện ở TP Sài Gòn vẫn đông nghịt bệnh nhân chờ đợi. Nhiều người ở tỉnh xa trót hẹn xe đến đón buộc phải dời lại giờ, số khác ngại mất thời gian đã chấp nhận ra ngoài mua.
Nguyên nhân gây quá tải nhà thuốc là do quá tải tải bệnh viện dẫn đến người mua thuốc nhiều. Trong khi đó mỗi bệnh viện chỉ có một nhà thuốc.
Nhà thuốc Bệnh viện Nhân dân Gia Định, dù không phải là ngày đầu tuần, số bệnh nhân đến khám không quá đông, nhưng đến gần 11 giờ vẫn ngập người ngồi đợi.
Khu vực cấp thuốc bảo hiểm y tế, có khoảng 100 người ngồi chờ đến lượt. Khu bán thuốc cạnh đó cũng đông người chờ. Cảnh chờ đợi mua thuốc kéo dài gần đến xế chiều mới vơi dần.
Chờ mệt mỏi, nhiều bệnh nhân bỏ bảo hiểm khám dịch vụ
Người dân xếp hàng dài đợi chờ, mệt mỏi với các thủ tục hành chính rườm rà, nhiều người đành bỏ bảo hiểm sang khám dịch vụ khiến khu dịch vụ của các bệnh viện đông lại càng đông. Gần nửa tháng áp dụng Luật Bảo hiểm y tế (BHYT), tình hình quá tải tại các bệnh viện tuyến trên không những vấn tiếp diễn, mà phía người bệnh còn chật vật hơn khi đi khám chữa bệnh
Đông nhất là Bệnh viện Bạch Mai, người đến khám bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) chen nhau chật kín quầy tiếp đón. Bác Trịnh Văn Quân, trú tại quận Hoàng Mai than thở: “Đi bệnh viện thời nay mà như đi xếp hàng thời bao cấp vậy, chờ đợi sốt ruột vẫn chưa đến lượt mình. Càng ngày tôi càng phải chờ đợi lâu hơn”.
Sự đông đúc này khiến nhiều người đành phải bỏ BHYT để khám dịch vụ. Do đó, tại khu khám dịch vụ của các bệnh viện, số bệnh nhân rất đông.
Còn ở TP. Sài Gòn, tại Bệnh viện Thống Nhất và Bệnh viện Chợ Rẫy, 2 đơn vị thí điểm được Bộ Y tế chọn để thục hiện việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế cũng vẫn có nhiều bệnh nhân phải than phiền vì chờ đợi.
Đến đây bạn đọc lại có thể thông cảm với người dân Việt về nỗi khổ của cái bảo hiểm y tế và nỗi sợ hãi thế nào khi phải vào bệnh viện công ở VN.
Đề tài này còn khá dài, tôi sẽ có dịp tường thuật với bạn đọc vào một kỳ báo sau.

Văn Quang

(9 tháng Một, 2015)

Tiểu Tử, những giọt nước mắt, những tiếng thở dài

Tiểu Tử, những giọt nước mắt, những tiếng thở dài

Từ Thức (Paris)

(VNTB) – André Gide nói ‘’ C’est avec des beaux sentiments qu’on fait de mauvaise littérature ‘’  ( Với những tình cảm tốt, người ta làm văn chương dở ).

Tiểu Tử là một nhà văn đã chứng minh ngược lại, có thể viết hay với những tình cảm tốt. Trong tác phẩm của ông, hầu như chỉ có những tình cảm tốt , chỉ có tình người. Một nhân vật nói về một nhân vật khác trong truyện ngắn ‘’Made in Vietnam’’ : người chi mà tình nghĩa quá héng ? ‘’ . Độc giả nghĩ tới câu đó mỗi lần lại gần những nhân vật của Tiểu Tử. Người chi mà tình nghĩa quá héng. Độc giả chai đá tới đâu , đọc Tiểu Tử cũng không cầm được nước mắt. Người ta khóc, nhưng sau đó thấy ấm lòng, vì thấy trong một xã hội đảo lộn, vẫn còn đầy tình người, vẫn còn đầy thương yêu, vẫn còn nghĩa đồng bào vẫn còn những người tử tế . Và thấy đời còn đáng sống. Một nhà văn Pháp nói văn chương, trước hết là xúc động. Trong truyện ngắn của Tiểu Tử, sự xúc động hầu như thường trực.

Miệt Vườn

Tiểu Tử là một nhà văn miền Nam điển hình, con đường nối dài của những Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam. Văn của ông là lối kể chuyện của người miền Nam, bình dị nhưng duyên dáng, duyên dáng bởi vì bình dị, tự nhiên. Tiểu Tử không ‘’ làm văn ‘’ . Ông kể chuyện ; không có chữ thật kêu, không có những câu chải chuốt. Với cách viết, với ngôn ngữ chỉ có những tác giả miền Nam mới viết được. Không hề có cường điệu, không hề có làm dáng. Người đọc đôi khi có cảm tưởng tác giả không mấy ưu tư về kỹ thuật viết lách, ông viết với tấm lòng.

Ngay cả tên những nhân vật cũng đặc miền Nam, không có Lan, Cúc, Hồ Điệp , Giáng Hương như trong tiểu thuyết miền Bắc, không có Nga My, Diễm My , Công Tằng Tôn Nữ như Huế, chỉ có những con Huê, con Nhàn, con Lúa, thằng Rớt, thầy Năm Chén, thằng Lượm , bà Năm Chiên, bà Năm Cháo lòng. Các địa danh cũng đặc Nam kỳ, không có Cổ Ngư, Vỹ Dạ, Thăng Long, chỉ có những Nhơn Hoà, Cồn Cỏ, Bò Keo, Bình Quới, những tên, những địa chỉ rất ‘’miệt vườn ‘’, chỉ đọc cũng đã thấy dễ thương , lạ tai , ngồ ngộ. Âm thanh như một câu vọng cổ.

Tiểu Tử , 88 tuổi, kỹ sư dầu khí, tác giả nhiều tập truyện ngắn ( Những Mảnh Vụn, Bài ca Vọng Cổ, Chuyện Thuở Giao Thời ) học ở Marseilles, hiện sống ở ngoại ô Paris,  nhưng văn của ông không lai Tây một chút nào. Rất Việt nam, đúng ra rất Nam Việt, với lối viết như người ta kể chuyện bên ly la de, bên tô hủ tíu, với những chữ nghen, chữ héng, chữ nghe..’’ Cần gì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà ..’’. Dưới ngòi bút của một tác giả người Bắc, người Trung, gọi người đàn bà là con Huê, con Nhàn có vẻ hỗn, ở Tiểu Tử, nó chỉ có sự thân ái.

Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Tiểu Tử đã chứng tỏ ngôn ngữ địa phương, cách diễn tả địa phương làm giầu cho văn hoá dân tộc. Cố gắng bắt chước lối diễn tả Hà Nội là một lầm lỗi, nó chỉ làm cái vốn văn hoá của ta nghèo đi . ( Sự thực Hà Nội ngày nay không còn gì là nơi văn vật, cái gì cũng ‘’ đéo ‘’. Còn báo Nhân Dân không ? Đéo còn, chỉ còn Người Hà Lội )

Những giọt nước mắt

Văn chương là hư cấu, nhưng đọc Tiểu tử, người ta thấy cái chân thực, có cảm tưởng không có chi tiết nào là kết quả của tưởng tượng. Tất cả đều la những chuyện tác giả đã sống, hay đã nghe kể lại . Vả lại, ở Việt Nam, thực tế vượt xa tưởng tượng. Cái đau đớn, cái thảm kịch mỗi người Việt Nam đã, đang sống, không có người viết văn nào, giầu óc tưởng tượng tới đâu, có thể bịa ra. Trong ‘’ Thầy Năm Chén ‘’, ông thầy thuốc, suốt đời làm việc nghiã, bị cách mạnh hành hạ, chuẩn bị cho con vượt biên. Khi giã từ con, ông đưa cho con , thằng Kiệt, ‘’ một cái gói mầu đỏ đã phai màu, cột làm nhiều gút, nói : cho con cái ni (ông là người gốc Huế ). Con giữ trong người để hộ thân.’’ Kiệt đến Cannada an toàn, một ngày dở cái gói của cha cho ngày vượt biển. Trong đó có ba cái răng vàng. Thầy Năm Chén , nghèo đói quá, đã cạy ba cái răng vàng cho con làm của hộ thân  đi tìm đường sống ở xứ người. Độc giả hiểu tại sao từ ngày con đi, ông Năm Chén chỉ ăn cháo.

‘’ Chiếc khăn mùi xoa ‘’ có thể coi là  điển hình cho truyện ngắn Tiểu Tử , trong đó có sự xúc động cao độ, đẫm nước mắt, với những nhân vật nhân hậu, giầu tình nghĩa, những chi tiết éo le như một cuốn phim tình lãng mạn, nhưng đơn giản, chân thực.

Một người Việt tị nạn ở Pháp về thăm nhà, gặp những người bạn học cũ , trong đó có nhân vật chính, ‘’ con Huê ‘’, sự thực là một người đàn bà đã đứng tuổi. Ông ta kể lại : ‘’ Con Huê tiễn tao ra cổng, đứng ngập ngừng một lát rồi bỗng nói một mạch, là lạ, như tụi mình trả bài thuộc lòng thuở nhỏ : Anh qua bên Tây , gặp anh Cương nói em gởi lời thăm ảnh . Nó nói rồi bỏ chạy vội vào trong, tao thấy nó đưa tay quệt nước mắt mấy lần. Tao đứng chết trân, nhớ lại lời con Nhàn, em con Huê nói với tao : Anh biết không, chị Huê thương anh Cương từ hồi còn nhỏ lận .  Người con gái ở quê mình nó thật thà, trung hậu đến mức độ mà khi trót thương ai thì thương cho đến chết. Họ coi đó là tự nhiên , phải có nước lớn nước ròng‘’.

Tiểu Tử viết chuyện tình âm thầm của người đàn bà từ ngày còn đi học, tới ngày nay đã bạc đầu, với người bạn trai ngày xưa tên là Cương, nhưng sóng gíó 75 đã khiến người đàn ông bỏ nước đi lánh nạn. Người con gái của ông Cương, đang sống ở Bruxelles, đọc truyện, cho tác giả hay bố mẹ đều đã qua đời. Trước khi chết, Cương dặn con gái : ‘’ Con ráng tìm cách về Nhơn Hoà, Cầu Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê, nói ba không quên ai hết ‘’. ‘’Cái này ‘’ là một bao thư, trong đó có chiếc khăn mùi xoa cô Huê đã tặng Cương thời trẻ. Người con gái thấy thương bố , thương cô Hai Huê không cùng. Cô gái đi Việt Nam, một xứ xa lạ, tìm về Nhơn Hoà , Cầu cỏ , tìm người bà tên Huê để trao lại kỷ vật của người đã qua đời. Cô Hai Huê xỉu đi khi nghe tin người bạn xưa đã chết. Hai người đàn bà, một già, một trẻ ôm nhau khóc.Nếu bạn là người tưởng mình có tâm hồn sỏi đá vì đã sống, đã chứng kiến đủ mọi thảm kịch của đời sống, nhất là đời sống của một người Việt Nam, bạn sẽ ngạc nhiên thấy mình đang lau nước mắt.

Không Điên Cũng Khùng

Thế giới truyện ngắn của Tiểu Tử xoay quanh hai đề tài chính : những kỷ niệm về một Miền Nam hiền hoà, chất phác, nhân hậu ngày xưa, với những trò vui đưà nghịch ngợm của đám bạn bè trẻ , những mói tình mộc mạc của những người dân quê và, sau đó,  những đảo lộn sau 75, khi tai họa trên trời giáng xuống. ‘’ Tất cả đều bị xáo trộn, bị nghịch lý đến nỗi tao sống trong đó mà lắm khi phải tự hỏi : làm sao có thể như vậy được ‘’. Một xã hội vô tư , kể cả vùng quê, trở thành địa ngục. Chỉ còn hận thù, phản trắc , gian sảo, cướp đoạt, dối trá.

Những nhân vật của Tiểu Tử không còn cười đùa, vui chơi, dễ dãi nữa. Đó là những nhân vật đầy ưu phiền như ông Tư , như bà Hai , như thầy Năm Chén, như anh Bẩy, như bà Năm cháo lòng. Một xã hội đổ nát, rách bươm. ‘’Những người ‘’cách mạng’’ xông vào nhà, ngang nhiên hùng hổ, như một bọn cướp. Họ ‘’bươi ‘’ từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ sau ra trước…giống như gà bươi đống rác. Gặp gì kiểm tra nấy. Vậy rồi…hốt hết. ‘’

Sau 75 , người ta truyền nhau một câu ca dao mới : Thằng khôn thì đã vượt biên. Những thằng ở lại không điên cũng khùng. Các nhân vật của Tiểu Tử, vốn là những người miền Nam hiền lành, dễ tin, yêu đời, nhiều người đã hết lòng với ‘’kháng chiến ‘’, sau ‘’ cách mạng’’, đều bị đàn áp, gia sản bị cướp đoạt trắng trợn trong những chiến dịch ‘’ đáng tư sản mại bản ‘’ trở thành không điên cũng khùng

***

Ông Tư ( trong IM LẶNG ) là người có gia sản ở Sàigòn, đã bí mật đóng góp tài chánh cho ‘’Giải Phóng’’. Khi Cộng Sản vào miền Nam, không những không được trả ơn, mà bị hành hạ, gia sản bị cướp sạch. ‘’ Bỗng nhiên ông Tư nhận thức rằng tất cả những gì thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ cuả ông đang chờ đợi ông ở nhà ‘’. Nhưng bà vợ tiếc cuả, uất hận vì bị cách mạng lừa gạt, suốt ngày đay nghiến trách móc chồng. Rốt cuộc hai vợ chồng tìm được cách chạy sang Pháp, nơi con trai ông đã được bố mẹ gởi đi du học, đã thành đạt, có nhà cưả sang trọng. Ông con hỏi bố ở chơi bao nhiêu ngày. Ông Tư nói ở lại luôn. Ông con nói, giọng đặc ‘’Việt kiều yêu nước’’ : ‘’ Ủa, sao lại ở luôn. Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên cổ mình hết ; vậy mà ba má bỏ qua đây luôn. Thiệt là vô lý ‘’. Ông Tư trở thành một người câm , không nói gì với ai nưã. Cho đến một hôm lầm lũi lội chết dưới  biển.

Bà Hai ( trong Thằng Đi Mất Biệt ), con cái chết, gia tình tan nát, suốt ngày ngồi chờ đứa con trai còn lại bị đưa đi cải tạo. ‘’ Khi trời nắng ráo, bà đi tuốt ra ngoài vàm rạch, lên ngồi trên môi đất có thể nhìn thẳng qua bên kia sông. Như vậy, ‘ khi nào thằng nhỏ nó về, mình thấy nó từ đằng xa, nó có đi đò, trong đám đông, mình cũng nhìn ra đươc nó liền hà ‘’.

Thầy Năm Chén ( trong truyện cùng tên ) phòng mạch bị chiếm, con trai phải bỏ đi kiếm ăn . ‘’Chia tay nhau mà hai cha con không dám ôm nhau. Sợ người ta để ý. Thầy không đưa con ra cổng nghĩa trang. Sợ người ta để ý, Thầy không dám để rơi một giọt nước mắt. Sợ người ta để ý, Thầy chỉ thở dài. Thời buổi bây giờ chỉ thở dài là không ai để ý. Bởi vì ai cũng thở dài hết ‘’.

Ông già bới rác ( truyện cùng tên ) là một ông già có công với ‘’cách mạng’’, bi cách mạng cướp hết không còn manh giáp, trở thành khùng, suốt ngày lang thang ngoài đường bới rác, ‘’ tao bới rác để kiếm mấy thằng Việt Cộng tao đã nuôi trong nhà ‘’

Trong Những Mảnh Vụn , người yêu ‘’ đi chui  bán chánh thức ‘’, nghĩa là đi vượt biển do cán bộ tổ chức, biệt tăm, chắc mất xác vì tầu quá cũ bị chìm , anh Bẩy suốt ngày, như một người mất hồn, đi qua lại tất cả những nơi ngày xưa hai người vẫn hẹn hò. ‘’ Bẩy không biết mình đang đi lượm những những mảnh vụn của cuộc tình. Nếu không có cái ‘’ngày cách mạng thành công ‘’ đã thật sự thành công trong nhiệm vụ đập nát tất cả những gì của miền Nam, kể cả những gì nhỏ bé nhứt, tầm thường nhứt như tình yêu của chàng trai và cô gái đó ‘’.

Đọc Tiểu Tử, người ta không thể không xúc động. Nhưng văn Tiểu Tử cũng đầy nét khôi hài, những nhận xét ngộ nghĩnh . Phòng mạch của Thầy Năm Chén ‘’bịnh nhơn cũng vắng. Làm như người ta sợ quá rồi… quên bịnh. Trái lại, bên phía chùa thì lại đông người lui tới và ngày nào cũng có người. Làm như người ta chỉ còn biết …dựa vào Phật. ‘’. Qua vài nét chấm phá, ông ghi lại những cảnh trái tai gai mắt, những cảnh lố bịch của những người thắng trận. Những cảnh không biết nên cười hay nên khóc diễn ra trước mắt, mỗi ngày, chỉ cần ghi lại, không thêm thắt, bình luận. André Gide : Plus un humouriste est intelligent, moins il a besoin de déformer la réalité pour le rendre significative ( Một nhà khôi hài càng thông minh, càng không cần bóp méo sự thực để làm cho nó có ý nghĩa ). Tiểu Tử không cần bóp méo sự thực, chỉ việc cúi xuống lượm, ghi lại những cái lố lăng, đảo lộn luân thường diễn ra mỗi ngày, trước mắt.

Truyện ngắn Tiểu Tử, với lối hành văn dễ dãi, linh động là một cuốn tự điển sống của ngôn ngữ miền Nam thời chưa loạn. Đó là kho tàng quý, trong khi ở hải ngoại, chữ Việt càng ngày càng lai Tây, lai Mỹ ; trong nước càng ngày càng lai Tầu, với những chữ, những lối nói ngớ ngẩn, đôi khi kỳ quái , khiến tiếng Việt không còn là tiếng Việt, báo hiệu một ngày người Việt không còn là người Việt . Truyện ngắn Tiểu Tử là những giọt nước mắt, những tiếng thở dài, nụ cười trong những ngày bình an và ngay cả trong cơn đớn đau cùng cực. Ông là một nhân chứng quý báu của một giai đoạn bi thảm , một cuộc đổi đời ghê rợn nhất trong lịch sử Việt.

Kết quả lấy phiếu tín nhiệm vẫn giữ kín

Kết quả lấy phiếu tín nhiệm vẫn giữ kín

Kết quả lấy phiếu tín nhiệm các ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư tại Hội nghị trung ương 10 vừa qua vẫn được giữ kín.

Các nhà quan sát trong nước mà BBC liên lạc đều nói về tình hình “kín như bưng, không thể bình luận”.

Hội nghị Trung ương 10 đã kết thúc sau tám ngày làm việc với diễn văn bế mạc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Diễn văn này của ông Trọng đã đề cập rất ít về việc lấy phiếu tín nhiệm và giới thiệu nhân sự cho Bộ Chính trị so với các nội dung khác mặc dù đây là những vấn đề quan trọng được bàn thảo tại Hội nghị 10 và được người dân quan tâm.

‘Đấu đá là bình thường’

Trao đổi với BBC về các chủ đề được các ủy viên Trung ương Đảng đem ra bàn luận tại Hội nghị 10, ông Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, nói rằng ‘nhân sự là vấn đề hàng đầu’.

“Các vấn đề về văn kiện chính trị, quản lý báo chí, tinh giảm biên chế là những việc mà họ (Đảng Cộng sản) đã tiến hành dài dài nhiều thời gian rồi. Họ có ban bệ chuẩn bị rất kỹ và cũng đã thảo luận ở nơi này nơi kia nhiều lần rồi,” ông A nói.

“Giống như tất cả hội nghị trung ương chuẩn bị cho một sự kiện lớn của Đảng Cộng sản thì vấn đề nhân sự là vấn đề hàng đầu mà người ta (các ủy viên trung ương) quan tâm nhất.”

Về việc Đảng không công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm sau khi kết thúc Hội nghị 10, ông A nhận định rằng việc ‘Đảng càng thiếu minh bạch thì càng mất niềm tin trong chính nội bộ của họ’.

“Đằng nào thì những chuyện như thế cũng tiết lộ ra,” ông A cho biết, “Hôm qua tôi đi xe buýt tôi nghe người ta kháo nhau ầm ầm kể cả con số phiếu, những ông nào nhất ông nào nhì.”

Khi được hỏi về nhân sự lãnh đạo cho khóa mới của Đảng có nhân tố nào có thể tin tưởng được, ông A nói ông ‘chưa nhìn thấy một nhân tố nào cả’. Về việc Trung ương Đảng cũng đã bỏ phiếu giới thiệu nhân sự cho Bộ Chính trị khóa sau, ông A nói việc các phe phái trong Đảng đấu đá nhau để đưa người của mình lên là ‘chuyện bình thường’.

‘Giấu giếm chẳng được lợi gì’

“Chuyện cạnh tranh trong bất kỳ đảng nào cũng là chuyện bình thường,” ông giải thích, “Đáng ra Đảng Cộng sản Việt Nam phải coi đó là việc bình thường cũng như bất kỳ đảng nào khác trên thế giới có phái này phái kia, người này người nọ cạnh tranh với nhau giành quyền lãnh đạo.”

“Rất đáng tiếc Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ lúc thành lập đến giờ luôn giấu sự cạnh tranh sợ mọi người nói là đấu đá nội bộ, gây mất lòng tin,” ông nói thêm.

“Giấu cái đó thì chẳng được lợi gì cho họ cả.”

Khi đường hỏi về đường lối phát triển đất nước trong nhiệm kỳ tới mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phác họa trong diễn văn bế mạc Hội nghị 10, ông A nói ‘chẳng có gì mới mẻ cả’.

“Tôi hy vọng những mong muốn của ông Nguyễn Phú Trọng sẽ không thành sự thật và sẽ có chuyển biến gì đấy từ lúc này cho đến Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra,” ông nói.

Theo diễn văn bế mạc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thì ngoài các vấn đề nhân sự và lấy phiếu tín nhiệm, Hội nghị 10 đã bàn bạc rất nhiều vấn đề để chuẩn bị cho Đại hội 12 bao gồm Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế-xã hội sau 5 năm, Báo cáo Tổng kết 30 năm ‘đổi mới’, Báo cáo sửa đổi Điều lệ Đảng, đề án tinh giản biên chế và đề án quy hoạch và quản lý báo chí.

Xin xem thêm:

Lãnh đạo Đảng CSVN không dám công bố sự tín nhiệm(Nguoi-viet.com)

Ba tàu cá Việt bị tàu TQ tấn công

Ba tàu cá Việt bị tàu TQ tấn công

Tàu cá từ huyện đảo Lý Sơn đã nhiều lần bị tàu Trung Quốc tấn công trong năm ngoái

Ba tàu cá Việt Nam từ huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, bị tàu hải giám Trung Quốc tấn công khi đang đánh bắt gần quần đảo Hoàng Sa, nhà chức trách cho biết.

Thông tin trên được ông Trần Bút, Chủ tịch UBND Lý Sơn cung cấp cho BBC trong cuộc phỏng vấn ngày 13/1.

“Ba tàu cá từ xã An Hải, huyện Lý Sơn đã bị các tàu Trung Quốc tấn công hôm 7/1 khi đang đánh bắt gần quần đảo Hoàng Sa,” ông Bút cho biết.

Các tàu này do các thuyền trưởng Lê Tân, Nguyễn Chí Thạnh và Bùi Văn Đông điều khiển, ông nói thêm.

“Không có thiệt hại nào về nhân mạng, nhưng các tàu đều bị đập phá, lấy tài sản”.

“Tổng thiệt hại vào khoảng 300 triệu đồng”.

Trước đó, báo Tuổi Trẻ dẫn lời bà Phạm Thị Hương, Phó Chủ tịch UBND Lý Sơn nói một trong các vụ va chạm xảy ra gần đảo Tây, quần đảo Hoàng Sa.

“Chúng tôi sẽ có các biện pháp hỗ trợ cho ngư dân,” ông Bút nói.

“Bên cạnh đó, chính quyền cấp tỉnh cũng sẽ có các biện pháp hỗ trợ riêng”.

Nhiều vụ tấn công nhằm vào tàu cá Việt Nam đang đánh bắt tại quần đảo Hoàng Sa cũng đã xảy ra hồi năm ngoái.

Hồi tháng Chín, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã triệu đại diện từ đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối “hành vi đập phá, tịch thu trái phép tài sản và đánh đập ngư dân Việt Nam đang hoạt động nghề cá bình thường tại khu vực quần đảo Hoàng Sa” của lực lượng chức năng Trung Quốc.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình khi đó được dẫn lời nói hành động của phía Trung Quốc đã “xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, trái với luật pháp quốc tế …”

Bộ trưởng Thăng bị báo Trung Quốc chỉ trích

Bộ trưởng Thăng bị báo Trung Quốc chỉ trích

Vụ tai nạn sập giàn giáo xảy ra hôm 28/12/2014

Hoàn cầu Thời báo chỉ trích Bộ trưởng Giao thông-Vận tải Việt Nam Đinh La Thăng vì cảnh cáo nhà thầu Trung Quốc, nói ông ‘khơi gợi tư tưởng bài Trung’.

Tờ báo theo xu hướng dân tộc chủ nghĩa của Trung Quốc hôm 10/1 có bài nói hành động của ông Thăng đã gây bất bình ở Trung Quốc.

Chiều 4/1, Bộ GTVT đã có cuộc họp với Tổng thầu Trung Quốc EPC của dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông (Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc) về sự cố sập giàn giáo tại dự án này hôm 28/12.

Tạ̣i đó, ông Đinh La Thăng đã gay gắt chỉ trích Tổng thầu EPC là thực hiện dự án không tốt và khẳng định sẽ trình Chính phủ để có thể thay thế tổng thầu EPC trong dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông.

Đoạn tin truyền hình phát trên kênh VTC cho thấy ông Thăng chỉ mặt nhà thầu Trung Quốc và nói những câu khá mạnh mẽ.

Bài trên Hoàn cầu Thời báo nói hành động của ông Đinh La Thăng là “tìm cách khơi gợi lại tư tưởng chống Trung Quốc ở trong nước”.

Ông Tề Kiến Quốc, cựu đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam, người trực tiếp vận động cho sự tham gia của nhà thầu Trung Quốc, được dẫn lời nói ông Đinh La Thăng không nên làm như vậy.

“Sự cố công trình xây dựng có thể xảy ra ở bất cứ đâu và không nên thổi phồng quá mức.”

Hoàn cầu Thời báo cũng dẫn ý kiến một số chuyên gia, nói rằng lỗi để xảy ra tai nạn là thuộc công ty Trung Quốc, nhưng phía Việt Nam cũng có lỗi vì “không theo dõi sát”.

Sự chậm trễ trong dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông được giải thích một phần là do giải tỏa mặt bằng muộn.

Chỉ mặt mắng

Hình ảnh video thu được từ cuộc họp 4/1 cho thấy ông Đinh La Thăng chỉ vào mặt đại diện nhà thầu Trung Quốc.

Ông nói: “Cứ mỗi lần xảy ra tai nạn các ông lại nhận khuyết điểm, cứ trơ ra như vậy thôi!”

“Phải thay Tổng chỉ huy công trường, đuổi tư vấn giám sát, tư vấn giám sát để chúng tôi chỉ định… Đuổi toàn bộ thầu phụ, lấy toàn bộ thầu phụ của các nhà thầu lớn tại Việt Nam.”

“Còn các ông không chấp nhận như vậy thì chúng tôi báo cáo chính phủ, thay tổng thầu EPC vì không đủ năng lực…”

Ông bộ trưởng khẳng định ngay cả khi câu chuyện liên quan tới vốn vay “thì chúng tôi báo cáo chính phủ dừng vay vốn này”.

“…không thể đánh đổi quyền lợi của người Việt Nam, không thể đánh đổi tính mạnh của người dân Việt Nam.”

Hoàn cầu Thời báo nhắc lại thời điểm giữa năm 2014, khi tinh thần bài Trung Quốc dâng cao trong nước Việt Nam sau sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan 981 vào vùng biển mà Việt Nam nói là của mình.

Lúc đó, nhiều doanh nghiệp đã bị đập phá và Trung Quốc phải điều tàu tới sơ tán công dân của họ vì lý do an toàn.

Báo chí Việt Nam và chuyện Nguyễn Bá Thanh

Báo chí Việt Nam và chuyện Nguyễn Bá Thanh

Nguoi-viet.com
Văn Lang/Người Việt

ĐÀ NẴNG (NV) – Thông tin nổi bật trong những ngày qua trên báo chí ở Việt Nam là nhân vật Nguyễn Bá Thanh được đưa từ Mỹ về Đà Nẵng bằng một chuyến bay riêng vì bệnh ung thư máu.

Thời ông Nguyễn Bá Thanh làm bí thư Đà Nẵng, dân bán hang rong ngoài
Quảng Nam-Đà Nẵng phải dạt vô Sài Gòn để “tha phương cầu thực.”
(Hình: Văn Lang/Người Việt)

Tin tức về nhân vật trưởng Ban Nội Chính Trung Ương, phó Ban Chống Tham Nhũng của Đảng CSVN, làm “lu mờ” các tin tức khác, như giàn khoan HD 981 của Trung Cộng đang lởn vởn ngoài khu vực Biển Đông, và cả tin khai mạc Hội Nghị 10 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN chuẩn bị cho kỳ Đại Hội 12 tới.

Nhân vật Nguyễn Bá Thanh làm hao tốn giấy mực và thời gian của công luận gần đây này cũng thật “lạ.”

Là vì, nhậm chức “trưởng Ban Nội Chính” cũng tức là nhận “thượng phương bảo kiếm” được toàn quyền xử lý giống như – Bao Hắc Tử ở phủ Khai Phong ngày xưa bên Tàu.

Nhưng thượng phương bảo kiếm chưa kịp rút ra khỏi vỏ, ngoài vài câu “chém gió” mà chả chết…em ruồi nào. Nhân vật “Hắc tử” này đã vội vàng bay qua Mỹ để trị bệnh, mà lúc đầu có tin đồn lan tràn là bị…đầu độc.

Nhưng báo chí thì đưa tin, mà công luận thì không thấy ai thắc mắc về việc một tay “đỏ gốc” như Nguyễn Bá Thanh lại “cả tin” chạy qua xứ Hoa Kỳ, không sợ bị “thay máu” sao?

Chuyện chính trị thâm sâu chốn cửu trùng, “dân đen” làm sao biết.

Báo chí dẫn lời của một vị phụ trách việc bảo vệ sức khỏe cho các yếu nhân của đảng, là, “Không có chuyện đảng bỏ tiền cho cá nhân đi trị bệnh ở nước ngoài!”

Thế ai bỏ tiền? Vì ai cũng biết “đồng chí” Nguyễn Bá Thanh này nổi tiếng là “công minh liêm chính” mà xứ Mỹ thì chữa bệnh không hề rẻ chút nào, không lận lưng bạc triệu Mỹ kim thì đừng có…mơ.

Báo chí Việt Nam còn loan tin rằng, dân chúng Đà Nẵng “dầm mưa” chờ máy bay chở Nguyễn Bá Thanh trở về. Và an ninh quanh sân bay đã được “siết chặt.” Để làm gì, thì không thấy tờ báo nào nói.

Các báo cũng đưa tin là nhiều người dân lên chùa cầu nguyện cho Nguyễn Bá Thanh, thậm chí có báo còn dẫn lời một người dân “nguyện sẽ ăn chay suốt đời” nếu Nguyễn Bá Thanh khỏi bệnh.

Trên tờ Tuổi Trẻ sáng ngày 6 tháng 1, đi một “phóng sự” nhanh, đề cập tới giới xe Honda ôm, bán hàng rong đang trông ngóng chuyến bay trở về quê cha của Nguyễn Bá Thanh. Bài có dẫn lời của một ông Honda ôm, nhưng không có ai “phát ngôn” cho giới bán hàng rong cả.

Đó là vì lúc còn “trên đỉnh cao quyền lực” tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Bá Thanh nổi tiếng về việc “quét sạch” hàng rong, để Đà Nẵng cũng sạch sẽ như…Bình Nhưỡng, thủ đô đỏ của Bắc Hàn.

Vậy mà báo Tuổi Trẻ dám viết phóng sự nói những người bán hàng rong tại Đà Nẵng đang tha thiết ngóng trông ông Thanh về, chả hiểu để làm gì? Trừ khi tờ báo này có “ý đểu” với một VIP không rõ sức khỏe ra sao mà phải về quê cha trên máy bay cứu thương.

Người bán báo dạo kiếm từng đồng bạc nhỏ nhoi. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Từ đó dư luận cũng dấy lên nỗi hồ nghi lâu nay về nền “báo chí cách mạng” Việt Nam. Nhất là sau hàng loạt bài ký tên là “Người trong cuộc” tung hê lên mạng Internet về cách làm báo (ở một trong những tờ báo uy tín hàng đầu). Thay vì đưa tin,các nhà báo này đã “làm tin” hay nói đúng hơn là đã “chế tác tin” từ thô thiển cho đến “cực kỳ tinh xảo.” Điều này phụ thuộc vào tay nghề cũng như sự gian ngoan của mỗi nhà báo trong việc cơ hội với lợi-danh, với triết lý-kiếm tiền và “thờ” minh chủ.

Sau 1986, báo chí đa số thay gì phải “ngửa tay” xin tiền đảng, thì trái lại đã đóng góp cho ngân sách rất nhiều. Có những báo như Tuổi Trẻ đã trở thành một công ty truyền thông với số tài sản kếch xù, nhờ bán báo, kinh doanh, thu tiền quảng cáo, vận động từ thiện…

Giai đoạn thập niên 90, hình thành khái niệm “Tư bản đỏ” ở Việt Nam. Các cơ quan báo chí, truyền thông Việt Nam cũng không nằm ngoài cuộc chơi này. Hình thành một mối tương quan mới giữa chính trị và báo chí. Nhiều tổng biên tập báo bắt đầu “ảo tưởng” về cái gọi là “Quyền lực thứ tư” của mình.

Bất mãn và sợ. Hiệu ứng đó làn truyền trong giới báo chí. Như vậy là công cuộc “định hướng” và “bình định” đám kiêu binh-loạn bút kia đã được hoàn thành một cách xuất sắc?

Chiều 7 Tháng Giêng họp báo về sức khỏe của ông Nguyễn Bá Thanh, bên tuyên giáo yêu cầu báo chí không làm “nóng” vụ này thêm nữa,vì đây chẳng qua là chiêu trò, câu khách, giật gân của báo chí qua tin đồn…đầu độc.

Tuyên giáo “khẳng định” tin đầu độc là tin của bọn “xấu” xuyên tạc, gây hoang mang…và Tuyên giáo hỏi báo chí:

– Bằng chứng đâu mà gọi là đầu độc?

Phóng viên của một tờ báo hỏi ngược lại tuyên giáo:

– Bằng chứng đâu mà bảo là không có đầu độc?

Sư thật nằm ở đâu trong một xã hội khi trống đánh xuôi thì kèn lại thổi ngược?

Đảng ‘nên công bố ngay’ về tín nhiệm lãnh đạo

Đảng ‘nên công bố ngay’ về tín nhiệm lãnh đạo

BBC

H1

Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 10 ‘nên và cần’ công bố ngay thông tin về lấy tín nhiệm với các lãnh đạo cao cấp trong Đảng cũng như về chuẩn bị ‘nhân sự’ cho Đại hội Đảng lần thứ XII để dân được biết, mà không nên giữ kín ‘nội bộ’ như hiện nay, theo nhà quan sát từ trong nước.

Bình luận với BBC hôm 11/01/2015 từ Sài Gòn, ngay sau khi Hội nghị 10 khóa XI hôm thứ Bảy loan báo đã hoàn tất việc lấy phiếu tín nhiệm với ‘các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XI’, cựu thành viên Ban tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, bà Phạm Chi Lan nói:

“Tôi nghĩ rằng những thông tin như tín nhiệm, đặc biệt bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ cao cấp trong Đảng cũng hoàn toàn nên và cần cung cấp cho xã hội, tương tự như Quốc hội.

“Khi họ bỏ phiếu đối với một số chức vụ do Quốc hội bầu hay Hội đồng nhân dân các cấp, thì họ đều công bố ngay trên báo chí và mọi người đều có thể theo dõi và biết được mức độ tín nhiệm của các cơ quan dân cử đó.

“Đến Trung ương Đảng cũng vậy, tôi nghĩ cũng rất cần đưa ra mức độ tín nhiệm đối với các vị lãnh đạo, các vị trí lãnh đạo đã khác như thế nào.”

Chỉ là nội bộ Đảng?

Nếu Đảng đã nhận là mình có vai trò lãnh đạo và chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình, thì bộ máy lãnh đạo của Đảng cũng cần phải công bố công khai về việc trách nhiệm ở trong nội bộ Đảng được đánh giá như thế nào

Bà Phạm Chi Lan

Theo cựu Phó Chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các thông tin này cần được công khai hóa vì chúng không chỉ liên quan tới nội bộ Đảng mà còn liên quan tới lợi ích của đất nước, xã hội và toàn dân.

Bà Chi Lan nói: “Bởi vì lãnh đạo Đảng đâu có phải chỉ chuyện của nội bộ Đảng, lãnh đạo Đảng đồng thời cũng là những người lãnh đạo rất cao cấp của đất nước Việt Nam chứ và như trong Hiến pháp cũng nói Đảng là cơ quan lãnh đạo tối cao và chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình.

“Cho nên người dân cũng có quyền và cũng cần biết những thông tin về vị trí của các vị lãnh đạo cấp cao trong Đảng được Ban Chấp hành Trung ương đánh giá như thế nào…

“Tôi nghĩ rằng đối với những chức vụ quan trọng trong Đảng, thì phải nói những người được Đảng cử ra để làm các chức vụ trong chính quyền, ví dụ như từ Chủ tịch Nước đến Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội v.v… thì hoặc là ở cấp địa phương, các vị là Bí thư Thành ủy mà đồng thời giữ chức vụ nào đó trong chính quyền, hoặc là trong Hội đồng Nhân dân là đều được đưa ra để lấy phiếu tín nhiệm cả.

“Thế thì những vị còn lại mà chỉ làm chuyên trách công tác Đảng thôi, cũng nên có trách nhiệm một việc tương tự và dù phiếu tín nhiệm các vị được bỏ trong một nội bộ Đảng, nhưng cũng liên quan rất nhiều đến hoạt động của các cơ quan chính quyền.

“Và nếu Đảng đã nhận là mình có vai trò lãnh đạo và chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình, thì bộ máy lãnh đạo của Đảng cũng cần phải công bố công khai về việc trách nhiệm ở trong nội bộ Đảng được đánh giá như thế nào,” nhà phân tích kinh tế, chính trị Việt Nam nói với BBC ngay sau khi Hội nghị 10 hôm 10/01 cũng cho hay đã tiến hành ‘lấy ý kiến Trung ương Đảng’ về danh sách bổ sung nhân sự ‘quy hoạch Bộ chính trị và Ban Bí thư’.

Mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí

Mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí
Nguoi-viet.com
HÀ NỘI (NV) – Đó là thống kê của ông Nguyễn Văn Trực, tổng giám đốc tổng công ty Nông Nghiệp Sài Gòn khi tham dự buổi góp ý cho dự luật về thú y tại Sài Gòn hôm 6 tháng 1.

Tại Việt Nam, doanh nghiệp phải nộp 14 loại phí, lệ phí cho mỗi con gà. (Hình: Tiền Phong)

Tại buổi thu thập ý kiến đóng góp cho dự luật thú y do Đoàn Đại Biểu Quốc Hội của thành phố Sài Gòn tổ chức, ông Trực nhấn mạnh, đang có rất nhiều loại phí, lệ phí liên quan tới gia cầm khiến cho chi phí sản xuất và lưu thông tăng vọt. Cũng vì vậy, ông Trực đề nghị, chỉ nên thu phí kiểm dịch đầu vào và đầu ra, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp sản xuất gia cầm theo qui trình khép kín (nuôi gia cầm-giết mổ-chế biến).

Dẫu lạm thu đã là căn bệnh mãn tính và trầm kha tại Việt Nam nhưng thống kê mà ông Trực công bố vẫn khiến công chúng choáng váng.

Người ta tin rằng câu chuyện “mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí” có liên quan đến thực trạng vốn đầu tư vào nông nghiệp (so với GDP) liên tục giảm. Tuy Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp và chính quyền Việt Nam lien tục giới thiệu hang loạt chính sách được tuyên truyền là “ưu đãi” nhằm phát triển “tam nông” (nông dân-nông thôn-nông nghiệp) nhưng năm 2000, đầu tư vào nông nghiệp chỉ chiếm 4.7% GDP, đến năm 2005 giảm xuống còn 3.1%, năm 2010 còn 2.4% và năm 2012 chỉ còn 1.6%.

Bất kể chính quyền Việt Nam hứa hẹn sẽ “tái cơ cấu nông nghiệp” để cải thiện mức sống cho nông dân mà đa số đang thuộc diện nghèo khổ song tính đến năm ngoái, vốn đầu tư của ngoại quốc vào nông nghiệp chỉ chiếm 3.4% số dự án và 1.5% tổng vốn đăng ký.

Hai ngày sau khi tổng giám đốc tổng công ty Nông Nghiệp Sài Gòn tố cáo, “mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí,” hôm 8 tháng 1, ông Cao Đức Phát, bộ trưởng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam đã yêu cầu thuộc cấp kiểm tra và bãi bỏ ngay những khoản phí bất hợp lý trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Việc kiểm tra được giao cho Vụ Tài Chính của bộ trưởng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam chủ trì và Vụ Tài Chính phải báo cáo kết quả kiểm tra vào giữa tháng tới.

Thật ra chẳng riêng với gà, dân chúng Việt Nam đã từng kêu “trời” nhiều lần về vô số những chuyện bất cập trong quản lý lĩnh vực nông nghiệp-phát triển nông thôn tại Việt Nam, ví dụ như: Giấy phép kiểm dịch trứng chỉ có giá trị một ngày, kiểm dịch trứng làm giá bán trứng tăng thêm 50 đồng/trái. Việc gọi là kiểm dịch dối với mật ong và con giống trong lĩnh vực thủy sản chỉ được thực hiện theo kiểu “ngó qua, giao giấy rồi thu tiền”…

Lên tiếng sau tố cáo “mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí,” bộ trưởng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam yêu cầu lãnh đạo các ngành thú y, bảo vệ thực vật, quản lý chất lượng nông-lâm-thủy sản phải tham mưu cho Bộ Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam để hủy bỏ những qui định bất hợp lý nhằm giúp doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp-phát triển nông thôn tiết kiệm cả chi phí lẫn thời gian làm đủ thứ thủ tục rườm rà. Ông Phát nhấn mạnh, trong tháng này phải chấm dứt những chuyện phi lý như “mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí.”

Ít ai tin lời ông Phát.

Chuyện phí, lệ phí làm nông dân khánh kiệt, nông thôn bất ổn, nông nghiệp tuột dốc đã từng được nêu ra tại diễn đàn Quốc Hội Việt Nam hồi tháng 11 năm 2013.

Lúc đó, ông Phát từng thửa nhận, phong trào “người cày bỏ ruộng” bùng lên ở ngoài Bắc và miền Trung là vì nông dân bỏ nông thôn đi làm những công việc khác bởi “có lợi hơn.”

Cũng chính ông Phát thừa nhận, phong trào “người cày bỏ ruộng” phát triển còn vì nông dân phải nộp quá nhiều thứ phí, lệ phí. Dẫu đa số phí, lệ phí là do chính quyền các địa phương đặt định, không phải do ngành nông nghiệp-phát triển nông thôn đề ra nhưng viên bộ trưởng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam-một trong những nhân vật chính của việc thực thi “chính sách tam nông” không làm gì cả mà chỉ đăng đàn để giải thích với Quốc Hội. (G.Đ)

Ở Sài Gòn có những cuộc gặp gỡ như thế

Ở Sài Gòn có những cuộc gặp gỡ như thế

Chuacuuthe.com

VRNs (11.01.2015) – Sài Gòn – Đó là những cuộc gặp gỡ của các anh thương binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tại Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, số 38 đường Kỳ Đồng, Q.3, Tp. HCM.

150111001

Cuộc gặp gỡ mới nhất đã được tổ chức vào ngày 9.01.2015 với mục đích khám và chữa bệnh cho các anh thương bệnh binh. Trong suốt buổi sáng, các anh đã thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng và buổi chiều lại được các bác sĩ khám bệnh, cho những lời khuyên về chữa trị và phòng ngừa theo hoàn cảnh bệnh tật của từng người. Có cả trên 100 anh cần phải được chữa trị chuyên sâu hơn ở các bệnh viện, các anh được mời ở lại dùng cơm trưa để tiếp tục công việc khám chữa bệnh vào buổi chiều. Thế là trước và sau khi được gặp các bác sĩ, các anh đã ngồi quây quần chuyện vãn với nhau, kể cho nhau nghe những chuyện xưa ở đơn vị. Chúng tôi gặp một anh đã mất cả đôi mắt ở mặt trận Snoul (Hạ Lào), từ vùng Gia Kiệm được cô cháu nội dẫn về. Cháu bé mới chỉ khoảng 12 tuổi mà đã có thể dẫn ông trên chặng đường dài lạ lẫm này. Anh chỉ cháu gái và không ngần ngại xác nhận đây là nguồn an ủi của đời anh, còn mọi sự anh phó thác trong tay Chúa.

150111003

Trước lúc dùng cơm, 5, 10 phút sinh hoạt bỏ túi, một anh cựu chiến binh Lữ Đoàn Dù, bằng đôi chân giả, nhưng anh vẫn đứng vững vàng để hát tặng bè bạn bài “Xuân Này Con Không Về”, một anh trước đây thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh góp vui bằng bài: “Tình Cha”, anh vóc dáng trẻ trung, tóc đen láy, anh cho biết vào ngày 30.04.1975, anh mới 24 tuổi. Anh về lại cuộc sống đời thường chỉ với một con mắt.

Người dẫn chương trình đã đưa một vài tin vui, như việc các Dì Dòng Mến Thánh Giá Nha Trang đã cải táng hơn 400 ngôi mộ vô danh của các chiến sĩ VNCH được chôn vùi vội vã tại một nơi có cái tên rất nên thơ: “Đồi Hoa Sim”, với những chi tiết tỉ mỉ của từng ngôi mộ: Mộ này xác còn cuốn trong sponsor, mộ kia có cái răng vàng, mộ khác vẫn còn cái đinh niken ở ống chân…. May mắn hơn cả, là 74 ngôi mộ còn nguyên chiếc thẻ bài cùa người lính, như vậy là không còn vô danh nữa, và đã có một vài gia đình đến nhận. Chuyện vui nữa là các tử sĩ VNCH ở đồi Charlie, Đaktô, Kontum đã được các chiến hữu cải táng về Chơn Thành, Bình Phước và lập khu mộ với Bia Tưởng Niệm. (Huỳnh Công Thuận, “Dân Làm Báo” ngày 5.01.2015). Trước lúc cầm đũa, sau khi Cha Bề Trên Giám Tỉnh Vinh Sơn Phạm Trung Thành dâng lời cảm tạ Ơn Trên, các anh đã không quên cầu xin Thượng Đế đón nhận các tử sĩ chiến hữu về Cõi Phúc Muôn Đời.

150111004150111002

Tôn chỉ của Dòng Chúa Cứu Thế là đến với những người nghèo, những linh hồn tất bạt. Nghèo được hiểu không chỉ nghèo tiền bạc, nhưng nghèo về tình thương và thân phận cũng là những đối tượng của Dòng. Kể từ ngày 30.04.1975, những anh thương binh VNCH đã bị đẩy sang bên lề xã hội và trở nên người nghèo về nhiều phương diện. DCCT Việt Nam đã chọn đúng đối tượng để phục vụ.

Vũ Sinh Hiên

“Tôi trốn dưới gầm bàn”: cuộc tấn công Charlie Hebdo diễn tiến thế nào

“Tôi trốn dưới gầm bàn”: cuộc tấn công Charlie Hebdo diễn tiến thế nào

Tu Thanh Ha | DCVOnline lược dịch

Các sự kiện làm nước Pháp bàng hoàng và cả thế giới sững sờ đã bắt đầu vào sáng thứ Tư trong tòa nhà văn phòng màu xám ở trung tâm Paris, nơi tạp chí Charlie Hebdo đã dọn đến sau khi trụ sở cũ đã bị phóng hỏa trong năm 2011.

Toà soạn Charlie Hebdo. Nguồn:  www.atlantico.fr

Toà soạn Charlie Hebdo. Nguồn: www.atlantico.fr

Đó là cuộc họp ban biên tập hàng tuần tại văn phòng ở tầng hai của tạp chí trào phúng Charlie Hebdo.

Một số các nhân viên thường xuyên đã vắng mặt. Họa sĩ vẽ tranh biếm Willem không bao giờ thích tham dự các cuộc họp văn phòng. Columnist Zineb El Rhazoui đang đi nghỉ mát tại Morocco quê hương cô.

Một bỉnh bút khác của tờ Charlie Hebdo, Patrick Pelloux, còn là một bác sĩ cấp cứu, đang bận trong một cuộc họp khác, với lính cứu hỏa và nhân viên xe cứu thương của Paris, để thảo luận cách làm thế nào hầu cải thiện dịch vụ nhập viện.

Nhưng ngồi quanh bàn họp của Charlie Hebdo sáng hôm đó đã có mặt một số họa sĩ tranh biếm kỳ cựu đã làm tạp chí có nội dung nổi tiếng là ô trọc và khiêu khích: các biên tập viên chính, Stéphane Charbonnier, cũng là hoa sĩ tranh biếm dưới bút danh Charb; Georges Wolinski, Jean Cabut, còn được gọi là Cabu, và Bernard (Tignous) Verlhac.

Wolinski, Cabut, Charb và Tignous. Ảnh: AFP / Getty Images

Wolinski, Cabut, Charb và Tignous. Ảnh: AFP / Getty Images

Lúc 11:28 sáng, có người ở tạp chí tweet trên đia chỉ Twitter Charlie Hebdo Twitter, đăng một biếm họa của Philippe Honoré chế giễu lãnh đạo Nhà nước Hồi giáo Abu Bakr al-Baghdadi [Hình trắng đen với hàng chữ “Voeux al-baghdadi aussi. Et sur tout la santé.”

Ngay lúc đó, một chiếc Citroen C3 sedan màu đen xuất hiện trên con đường phố hẹp bên ngoài.

Hai người đàn ông mặc đồ đen bước ra. Khuôn mặt của họ đã được che lại bằng balaclavas và họ vũ trang bằng khẩu súng liên thanh Kalashnikov (AK).

Họ tìm trụ sở của tạp chí Charlie Hebdo nhưng, không biết chắc địa chỉ, nên đầu tiên đã vào cửa tòa nhà số 6 đường Nicolas Appert, không biết là họ đã vào sai địa chỉ.

Một người phát thơ co mặt ở khu vực đã nói với tờ Libération rằng hai người đàn ông đó hỏi cô địa chỉ của Charlie Hebdo. “Họ không biết nó ở đâu. Họ đã bắn một vài phát súng để dọa chúng tôi.”

Bản đồ đường tháo chạy của sát thủ. Nguồn:  www.independent.co.uk

Bản đồ đường tháo chạy của sát thủ. Nguồn: www.independent.co.uk

François Molins, công tố viên của Paris, cho biết hai tay súng sau đó đã tìm ra đúng địa chỉ và xông vào sảnh của tòa nhà số 10 rue Nicolas Appert, một tòa nhà ba tầng có văn phòng của một số công ty.

Hai tay súng đã hỏi hai công nhân lau dọn tòa nhà văn phòng của Charlie Hebdo ở đâu, sau đó nổ súng, giết chết một trong hai nhân viên lau dọn, Frédéric Boisseau.

Rồi họ gặp một nữ họa sĩ vẽ tranh biếm của Charlie Hebdo, Corinne Rey, khi bà vừa đón con ở nhà trẻ về.

Họa sĩ Rey nói, “Họ nói tiếng Pháp hoàn hảo … và cho biết họ cùng phe với al-Qaeda.”

Theo Le Monde, họa sĩ Rey đã cố gắng đanh lạc lối hai tay súng, đưa lên tầng sai, nhưng cuối cùng họ đã tìm thấy cánh cửa dẫn đến văn phòng Charlie Hebdo.

Trong một cuộc phỏng vấn với L’Humanité, bà Rey cho biết hai người đàn ông cầm súng đe dọa hai mẹ con, buộc bà phải bấm mã mở khóa cửa.

Và đến bên trong, họ xông vào phòng họp. Theo các nhân chứng, một người hỏi “Charb đâu?” và sau đó bắn vào ông Charbonnier, trước khi tên từng họa sĩ biếm họa khác và bắn họ. Họa sĩ Rey kể lại,

“Họ đã bắn Wolinski, Cabu … cuộc thảm sát kéo dài năm phút … Tôi trốn dưới gầm bàn.”

Một nữ nhân viên khác của Charlie Hebdo, Sigolène Vinson, nói với RFI rằng một trong hai tay súng đã nhắm súng vào bà nhưng không bắn.
Và hắn ta nói,

“Tôi không giết chết cô vì cô là một người phụ nữ và chúng tôi không giết phụ nữ nhưng cô phải chuyển sang đạo Hồi.”

Hai tay súng đã bỏ đi sau khi giết chết 10 người. Tử nạn là các ông Charbonnier, ông Wolinski, ông Cabut, ông Verlhac, ông Honoré, người viết chuyên mục Elsa Cayat và chuyên viên kinh tế Bernard Maris, người cũng có một cột chuyên mục trong tạp chí Charlie Hebdo.

Cũng thiệt mạng là Mustapha Ourad, biên tập viên soạn thảo bản gốc Algeria Kabyle, Franck Brinsolaro, một sĩ quan cảnh sát có nhiệm vụ bảo vệ ông Charbonnier, và Michel Renaud, một cựu viên chức quan chức thành phố từ thị trấn Clermont-Ferrand đến thăm tạp chí.

Những người sống sót cho biết họ nghe thấy hai tay súng hét lên “Allahu Akbar” (Allah Vĩ đại) và nói về việc “báo thù cho Thiên sứ” khi ra ta hạ sát các nhà báo.

Sát thủ chạy khỏi văn phòng của tạp chí trào phúng Charlie Hebdo của Pháp ở Paris, trong hình lấy từ video của nhân chứng.

Sát thủ chạy khỏi văn phòng của tạp chí trào phúng Charlie Hebdo của Pháp ở Paris, trong hình lấy từ video của nhân chứng.

Hai sát thủ đã chạy trở lại chiếc xe của chúng rồi quẹo sang bên phải, vào Allée Verte, thì họ bị chặn một chiếc xe tuần tra cảnh sát chặn đầu. Các nhân chứng trên tầng thượng của tòa nhà nhìn thấy hai tay súng bước ra khỏi xe, và lại hét lên “Allah Vĩ đại” và bắn nhiều phát và xe cảnh sát.

Sau đó, theo ông Molins, thi họ bắn vào một cảnh sát đi tuần bằng xe đạp trước khi lái xe đi vì viên cảnh sát yếu thế đã rút lui.

Trong một cuộc đấu súng lần thứ ba, cách đó một quãng đường, hai tay súng một lần nữa bước ra khỏi xe và bắn nhau với một nhóm cảnh sát. Trong một đoạn video của nhân chứng cho thấy hai sát thủ chạy về phía Ahmed Merabet, một sĩ quan cảnh sát đã bị thương nằm trên vỉa hè, và bắn vào đầu ông khi nạn nhân đang giơ hai tay trên đầu.

Bác sĩ Pelloux, cũng là một nười viết chuyên mục trên tạp chí Charlie Hebdo, vẫn còn tại cuộc họp của ông với các nhân viên cứu cấp cách đó khoảng 600 mét, thì điện thoại di động của anh reo.

Đó là một nhân viên của tạp chí tên là Jean-Luc người đã thoát khỏi cuộc tàn sát gọi, “Hãy đến nhanh, chúng tôi cần ông.”

Ban đầu bác sĩ Pelloux nghĩ rằng đó là một trò đùa, nhưng ông và bác sĩ trưởng của sở cứu hỏa Paris Jean-Pierre Tourtier, đã đi về phía phố Nicolas Appert.

Họ là những người đầu tiên đến trụ sở của Charlie Hebdo và đã phải chứng kiến cảnh tượng sàn gỗ đẫm máu, bàn ghế lật đổ và lỗ đạn trên tường.

Nhân viên cứu hỏa mang theo một người đàn ông bị thương trên cáng ở phía trước của văn phòng Charlie Hebdo. (Philippe Dupeyrat / AFP / Getty Images)

Nhân viên cứu hỏa đưa một người đàn ông bị thương trên cáng ở phía trước của văn phòng Charlie Hebdo đi cứu câsp. Ảnh: Philippe Dupeyrat / AFP / Getty Images.

Bác sĩ Pelloux kể lại trong cuộc phỏng vấn truyền hình đầy nước mắt, “Thât là khủng khiếp, khủng khiếp. Nhiều người đã đã chết, vì họ bị bắn theo cách xử tử. Chúng tôi lo cứu những người khác.”

Thân người ông Charbonnier còn vướng vào ghế, khiến bác sĩ Pelloux tin rằng họa sĩ Charb đã bị giết chết khi ông đứng dậy đối đầu với sát thủ.

Trong lúc hai bác sĩ bắt đầu chăm sóc những người sống sót, hai sát thủ đã lái xe về phía bắc của Paris.

Tai Công trường du Colonel Fabien, khoảng 15 phút lái xe về phía bắc của nơi vù xảy ra cuộc tàn sát, chiếc Citroen đã tông vào một chiếc xe khác, một chiếc Volkswagen Touran.

Người phụ nữ lái xe Volkswagen cho biết có ba người trên chiếc Citroen.

Citroen vẫ cố lết đi nhưng các tay súng đã bỏ nó lại sau khi đi được khoảng 700 mét, trên đường de Meaux. Họ đã cướp một chiếc Renault Clio và biến mất khi một cuộc săn người ở Paris bắt đầu.

Đến sáng hôm sau, hàng ngàn cảnh sát và và quân đội đã được đưa vào vòng đai thủ đô để tìm kiếm hai nghi phạm, anh em Said Kouachi, 34, và Cherif Kouachi, 32 tuổi.

Một người đàn ông thứ ba, 18-tuổi, tên Hamyd Mourad, đã đầu hàng cảnh sát trong đêm.

Vào sáng thứ năm, bác sĩ Pelloux vẫn đau buồn xuất hiện trên truyền hình, kể lại những gì đã xảy ra vào sáng hôm trước, ông nói trong nước mắt, “Tôi đã không thể cứu họ.”

Ông tuyên bố rằng Charlie Hebdo sẽ tiếp tục xuất bản, Bác sĩ Pelloux nói, “Bởi vì họ sẽ không thắng được.”

Bác sĩ Patrick Pelloux thuật lại cản tàn sát ở tòa soạn tạp chí Chralie Hebdo. Ảnh chụp lại từ màn ảnh truyền hình itele.

Bác sĩ Patrick Pelloux thuật lại cảnh tàn sát ở tòa soạn tạp chí Chralie Hebdo. Ảnh chụp lại từ màn ảnh truyền hình itele.

“Charb, Cabu, Wolenski, Bernard Maris, Honoré, Elsa, Tignous, Mustapha, nhân viên cảnh sát bị bắn – người đã bảo vệ chúng tôi – họ đã không chết vô ích. Không có hận thù với người Hồi giáo. Mọi người chúng ta, mỗi ngày phải duy trì các giá trị của nền cộng hòa.”