Việt Nam sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh của Trung Quốc?

Việt Nam sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh của Trung Quốc?

Đôi lời: Không rõ mức độ chính xác của thông tin trong bài này như thế nào. Nếu thông tin trong bài này đúng, có lẽ các blogger/ facebooker đóng tài khoản, đăng ký học tiếng Tàu ngay, kẻo muộn!

—-

Phạm Quế Dương

14-01-2015

Thiếu tướng Hà Thành Châu, Chính ủy Tổng cục công nghiệp Quốc phòng Việt Nam, tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ từ ngày 08-4-2013. Ở đây, ông đã nhờ một viên chức cao cấp Hoa Kỳ trao cho chủ bút Tạp chí Foreign Policy Magazine một tập tài liệu tối mật liên quan đến quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.

Tập tài liệu này xuất xứ từ anh vợ ông, là thiếu tướng chính ủy Tổng cục 2, thời trung tướng Nguyễn Chí Vịnh làm Tổng cục trưởng.

Tập tài liệu chép lại nguyên văn từ cuốn băng nhựa AKAI, mang bí số ML887 ghi âm những cuộc họp bí mật của các nhà lãnh đạo Việt Nam: Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh với các nhà lãnh đạo Trung Quốc: Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Lương Quang Liệt, Diệp Tiến Ninh, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu tại Thành Đô năm 1990.

Nội dung những cuộc họp bí mật ấy cho biết kế hoạch sáp nhập Việt Nam vào Trung Quốc dự kiến tổ chức qua ba giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: 15/7/2020         Quốc gia tự trị
  • Giai đoạn 2: 5/7/2040         Quốc gia thuộc trị
  • Giai đoạn 3:   5/7/2060         Tỉnh Âu Lạc

Tỉnh trưởng vẫn là người Việt ,đặt dưới quyền lãnh đạo của Tổng đốc Quảng Châu (Trung Quốc).

Sau khi sáp nhập ,tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ chính, tiếng Việt là ngôn ngữ phụ.

Trong hội đàm, với lời lẽ bề trên, lãnh đạo Trung Quốc, ban mật lệnh, giáo huấn, răn đe, dạy dỗ lãnh đạo Việt Nam phải làm những gì suốt 70 năm, từng bước một: “Âm thầm, lặng lẽ, từ từ như tầm ăn dâu, khéo như dệt lụa Hàng Châu;êm như thảm nhung Thẩm Quyến. Sử dụng thể thức “Diễn biến hòa bình”, làm cho người Việt Nam và dư luận quốc tế nhìn nhận rõ là Trung Quốc “không cướp nước Việt.” mà chính người Việt Nam tự mình “dâng nước” và tự ý đồng hóa vào dân tộc Trung Hoa.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thì khấu đầu trước Đặng Tiểu Bình “Nhờ Trung Quốc mà Đảng Cộng sản Việt Nam mới nắm được chính quyền, mới thắng được đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản động. Công ơn Trung Quốc to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng. Do thế, nhà nước Việt Nam đề nghị Trung Quốc bỏ qua hiểu lầm, xóa bỏ các bất đồng đã qua. Phía Việt Nam sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chủ tịch dày công xây dựng trong quá khứ. Việt Nam sẽ tuân thủ đề nghị của Trung Quốc là cho Việt Nam được hưởng ‘Quy chế tự trị trực thuộc chính quyền trung ương Bắc Kinh’ như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương, Quảng Tây”.

Tôi sửng sốt, trăn trở, không tin ở sự xác thực của sự kiện này. Những vị lãnh đạo nêu tên trên vốn là những người yêu nước trực tiếp tham gia góp phần chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chống Tàu giành độc lập tự do. Lịch sử cận hiện đại Việt Nam là nối tiếp lịch sử 4000 năm, từ đời Hùng Vương ,đã từng đánh bại các cuộc xâm lược của các triều đại lịch sử Trung Quốc:

Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Ngày nay không thể nào có những người lãnh đạo, vì bất cứ lý do gì cúi đầu xin được làm một khu tự trị của Trung Quốc, bởi vì như vậy là bán nước, phỉ báng ông cha, phản bội dân tộc.

Trước hiện tượng Trung Quốc cho xuất bản hai cuốn sách của Hồ Tuấn Hùng và Huỳnh Tâm đưa nhiều dẫn chứng rạch ròi để khẳng định Chủ Tịch Hồ Chí Minh là người Đài Loan (Trung Quốc) đã lũng đọan tinh thần nhân dân ta, gây nên những nghi vấn rất tai hại, vậy mà hệ thống tuyên huấn- thông tin của ta vẫn coi như không có trách nhiệm gì!

Không thể im lặng một cách rất tội lỗi như vậy được nữa, tôi đề nghị các cơ quan thông tấn ,báo chí của Đảng ta, nhất là báo Nhân Dân – cơ quan trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam ,tiếng nói của Đảng,Nhà nước và Nhân dân Việt Nam – hãy làm sáng tỏ vụ việc này và công khai cho nhân dân ta biết.

01/1/2015

Phạm Quế Dương

Khu tập thể 37 Lý Nam Đế – Hà Nội

ĐT: 62700002

Xây tượng anh hùng Trung Quốc… “trấn thủ” biển phía Nam?

Xây tượng anh hùng Trung Quốc… “trấn thủ” biển phía Nam?

Một Thế Giới

Phong Vũ

20-11-2015

Vĩnh Châu, nơi được đề nghị xây tượng anh hùng Trung Quốc

Vĩnh Châu, nơi được đề nghị xây tượng anh hùng Trung Quốc

Một doanh nghiệp đang đề nghị UBND tỉnh Sóc Trăng cho xây tượng vị anh hùng của Trung Quốc cao đến 36m, “trấn thủ” vùng biển phía Nam của Việt Nam.

Ông Nguyễn Trung Hiếu, Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng, cho biết: Lãnh đạo tỉnh đã có cuộc họp với đại diện Công ty CP Thương mại sản xuất bao bì Thành Lợi (có trụ sở tại TP.HCM) để bàn về Dự án xây dựng Khu Du lịch tâm linh – biển Vĩnh Châu.

Dự án có quy mô dự kiến gần 18ha tọa lạc tại đường Đê, phường 1, thị xã Vĩnh Châu, với tổng mức đầu tư 30 tỉ đồng, trong đó vốn của chủ đầu tư khoảng 6 tỉ đồng, còn lại là vốn góp từ các thành viên công ty, vốn đối ứng của đối tác.

Có nhiều hạng mục công trình quy mô để phục vụ khai thác kinh doanh như ăn uống, du lịch sinh thái dã ngoại, dịch vụ giải trí, chăm sóc sắc đẹp, thể dục thể thao… Đặc biệt là có khu riêng phục vụ nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của du khách. Thời gian xây dựng dự kiến từ 2-3 năm. Trong đó, công trình quan trọng nhất để tạo điểm nhấn, thu hút của khu du lịch là tượng Quan Thánh Đế Quân (Quan Công) với chiều cao dự kiến là 36m bằng vật liệu bê tông cốt thép.

Đại diện Sở Xây dựng giải trình khu đất quy hoạch không thuộc đất rừng phòng hộ mà chỉ nằm trong định hướng quy hoạch trồng rừng phòng hộ của UBND tỉnh (vào năm 2009). Do đó, UBND tỉnh có thẩm quyền điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới. Đại diện Sở VH-TT&DL đánh giá đây là hướng đi đúng đắn, tuy nhiên, công tác quản lý phải chặt chẽ, làm rõ sự khác biệt giữa “tính thiêng” và mê tín dị đoan trong du lịch tâm linh. Còn Sở KHĐT cho rằng dự án không vi phạm các quy định pháp luật hiện hành và thuộc thẩm quyền UBND tỉnh nên đề nghị xem xét cho phép đầu tư.

Tại cuộc họp, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Trung Hiếu kết luận: “Vĩnh Châu là thị xã biển, do đó phải tạo điều kiện để địa phương “hướng ra biển”. Tỉnh rất cần các dự án như vậy để phát triển về du lịch. Vị trí xin phép đầu tư khá “tế nhị”, nên các sở, ban ngành hữu quan vẫn khách quan hỗ trợ doanh nghiệp theo chuyên môn, thẩm quyền của mình. Đề nghị doanh nghiệp xin phép đầu tư cần thuyết trình, báo cáo cụ thể về dự án với UBND tỉnh và các sở, ban, ngành hữu quan”.

Theo ông Hiếu, nếu khu du lịch hoàn thành sẽ trở thành điểm nhấn trong hệ thống các khu du lịch tâm linh liên tỉnh khác, đồng thời tạo được việc làm cho người dân và khai thác các tiềm năng sẵn có của địa phương. Tuy nhiên, với đề xuất của đơn vị đầu tư là xây tượng Quan Công trong khu du lịch này thì Chủ tịch Hiếu không đồng ý mà gợi ý chủ đầu tư thay thế bằng các tượng khác phù hợp, có thể là tượng Phật Quan Âm.

Trước đó, Ban Tôn giáo tỉnh Sóc Trăng cũng đã có ý kiến về công trình trên, cho rằng nên xây dựng thờ Quốc tổ như Lạc Long Quân, Âu Cơ, vua Hùng hay những vị anh hùng của dân tộc, phù hợp với giá trị lịch sử, văn hóa đạo đức xã hội Việt Nam.

Theo dư luận nhân dân địa phương, đây là dự án không lớn nhưng xây dựng tượng có quy mô hoành tráng mà lại là tượng Quan Công, 1 nhân vật anh hùng thời Tam Quốc của Trung Quốc thì không phù hợp. Việc thờ cúng Quan Công là việc bình thường, nhưng xây dựng tượng Quan Công trấn thủ ở biển Vĩnh Châu, nhìn ra biển Đông trong thời điểm này là quá nhạy cảm.

Một cán bộ về hưu ở Vĩnh Châu giải bày: “Trong điều kiện chính trị xã hội và tranh chấp biển Đông đang có chiều hướng gia tăng thì việc 1 công ty xin cho xây tượng Quan Công quy mô hoành tráng tại vùng biển phía Nam tổ quốc ta lại nhìn ra biển Đông liệu có quá nhạy cảm không? Theo tôi đây là vấn đề rất tế nhị, không muốn nói là quá nhạy cảm.

Quan Công là nhân vật tâm linh, một anh hùng theo quan niệm của người Trung Quốc. Tượng Quan Công đứng trấn thủ nhìn ra biển Đông là một việc càng không nên có. Về kinh tế, dự án này chưa thể nói là sẽ mang về lợi ích khổng lồ bởi du lịch ở Sóc Trăng vẫn chưa tương xứng, chưa thể thu hút khách du lịch nhiều bằng các địa phương khác. Nếu doanh nghiệp xây dựng khu du lịch tâm linh mà họ đề nghị xây dựng tượng Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Âm hay tượng các vị Anh hùng dân tộc như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trung Trực,… thì có lẽ ai cũng ủng hộ.

 

Bãi bỏ môn lịch sử trong chương trình phổ thông trung tiểu học – bước đầu chuẩn bị cho âm mưu Hán hóa

Bãi bỏ môn lịch sử trong chương trình phổ thông trung tiểu học – bước đầu chuẩn bị cho âm mưu Hán hóa

Lê Dủ Chân (Danlambao) – Kính thưa đồng bào Việt Nam đang sống trong nước và ngoài nước.

Chúng ta, con cháu chúng ta, các thế hệ tương lai của Việt Nam sẽ căn cứ vào đâu để nói rằng “TÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM” nếu lịch sử của dân tộc Việt Nam bị xóa bỏ? Tinh thần yêu nước, yêu dân tộc của người Việt Nam hôm nay và mai sau có còn không nếu cội nguồn tổ tiên, công lao, xương máu của ông cha đổ ra trong quá trình dựng nước và giữ nước bị lãng quên?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến ải Nam Quan, mũi Cà Mau, Hoàng Sa, Trường Sa, sông Hát, sông Bạch Đằng, ải Chi Lăng, gò Đống Đa, Ngọc Hồi, Hà Hồi… mà chỉ biết Tây Sa, Nam Sa, “bên ni biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương”…?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn… mà chỉ biết đến đảng cộng sản Tàu, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, đảng cộng sản Việt Nam, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Ngụy Văn Thà… mà chỉ biết Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Tập Cận Bình, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Phú Trọng…?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta vào đời nhà Lý (*), Hội Nghị Diên Hồng, Hịch Tướng Sĩ vào đời nhà Trần, Bình Ngô Đại Cáo vào đời nhà Hậu Lê… mà chỉ biết tư tưởng Marx – Lê – Mao, “bác Hồ ta đó chính là bác Mao”, “Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan”, “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”…?

Kính thưa đồng bào,

Nếu nói rằng công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là công hàm bán nước, 2 câu thơ của Tố Hữu “Bên ni biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương” là tư tưởng tiền đề cho âm mưu sáp nhập nước Viêt Nam vào nước Tàu thì cáí gọi là “Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” của Bộ GD&ĐT/CSVN (bộ Giáo Dục Và Đào Tạo/đảng cộng sản Việt Nam) mà mục đích chính của nó là xóa bỏ lịch sử 4000 năm của dân tộc là bước đầu của đảng cọng sản/VN cố tình thực hiện để chuẩn bị cho chủ trương Hán hóa vĩnh viễn dân tộc Việt Nam trong tương lai.

Kính thưa đồn bào,

Lịch sử Việt Nam còn nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam còn.

Lịch sử Việt Nam mất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam mất.

Chúng ta không thể để đảng cộng sản Việt Nam cấu kết với đảng cộng sản Tàu từng bước xóa đi nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam trên bản đồ thế giới để vĩnh viễn trở thành một quận huyện của nước Tàu.

20/11/2015

Lê Dủ Chân

danlambaovn.blogspot.com

__________________________________

Chú thích:

(*) Nam Quốc Sơn Hà

Nam quốc sơn hà nam đế cư 

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? 

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Vụ án Ba Sàm: Xử hay thả?

Vụ án Ba Sàm: Xử hay thả?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-11-19

Untitled-1-620.jpg

Blogger “Anh Ba Sàm” Nguyễn Hữu Vinh

File photo

Your browser does not support the audio element.

Blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt ở Hà Nội đã hơn 18 tháng qua, tội danh cáo buộc là lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Vụ án này được giới luật gia mô tả là vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự. Những khả năng nào sẽ xảy đến cho Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự của ông.

Sắp hết thời hạn điều tra

Cho tới ngày 18/11/2015 chưa có thông tin khi nào tòa án sẽ xét xử vụ Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự, mặc dù đã hết ba lần gia hạn điều tra mỗi lần 4 tháng. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể đã áp dụng lần gia hạn điều tra cuối cùng thêm 4 tháng nữa với lý do đây là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp này thì ngày 5/1/2016 sẽ là thời điểm hết hạn điều tra.

Trong trường hợp không điều tra được không kết luận được, các cơ quan điều tra không chứng minh được thì về nguyên tắc đúng ra họ phải đưa điều tra bổ sung, nhưng bây giờ thời hạn điều tra bổ sung theo luật đã hết thì họ sẽ phải đình chỉ vụ án rồi trả tự do.
-LS Trần Quốc Thuận

Trả lời Nam Nguyên, Luật sư Trần Quốc Thuận thuộc nhóm các luật sư biện hộ cho blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đề cập tới những khả năng có thể xảy đến với vụ án này:

“Nếu đưa ra xét xử mà có chứng cứ, các cơ quan điều tra chứng minh được là có tội. Nếu những chứng cứ đó hợp pháp va tranh tụng rõ ràng thì họ có quyền kết án và tuyên án. Trong trường hợp không điều tra được không kết luận được, các cơ quan điều tra không chứng minh được thì về nguyên tắc đúng ra họ phải đưa điều tra bổ sung, nhưng bây giờ thời hạn điều tra bổ sung theo luật đã hết thì họ sẽ phải đình chỉ vụ án rồi trả tự do. Còn một phương án nữa là họ tuyên bố không phạm tội, có thể có ba khả năng đó.”

Trò chuyện với chúng tôi, Đại tá Nguyễn Đăng Quang cán bộ công an hiện nghỉ hưu ở Hà Nội, cũng là một nhà hoạt động có nhiều kiến nghị cải cách, cho rằng chưa có vụ án nào kéo dài như vụ này mà chưa đưa ra xét xử được. Theo lời Đại tá Quang, cơ quan điều tra chưa chứng minh được nghi phạm Nguyễn Hữu Vinh đã vi phạm luật pháp như thế nào, chưa chứng minh được những tội đã vi phạm, cho nên nó đã ảnh hưởng tới thời hạn đưa ra xét xử trước tòa. Bản kết thúc điều tra cũng như cáo trạng không có sức thuyết phục và chưa chứng minh được tội phạm mà nghi can Nguyễn Hữu Vinh đã phạm phải.

vo-ba-sam-622.jpg

Nghị sĩ Sabine Bätzing-Lichtenthäler thuộc Ủy ban Nhân quyền Quốc hội Đức gặp gỡ Bà Lê Thị Minh Hà, vợ blogger Anh Ba Sàm (giữa), hôm 31/10/2014 tại Berlin, Đức Quốc trong lúc Bà Hà đi vận động cho chồng.

Đáp câu hỏi là hiện nay Việt Nam đang nỗ lực cải cách pháp luật cho phù hợp với yêu cầu hội nhập, liệu có khả năng Blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự được trả tự do, phát xuất từ việc không đủ chứng cớ cũng như vấn đề vi phạm thủ tục tố tụng hình sự. Đại tá công an Nguyễn Đăng Quang, nhận định:

“Điều này nằm ngoài hiểu biết cũng như tưởng tượng của tôi. Trực tiếp cách đây khoảng một tuần, chính bản thân tôi đã gặp cơ quan an ninh, tôi có đề nghị rằng nếu không chứng minh được tội phạm thì tốt nhất là đình chỉ điều tra và trả tự do cho anh Nguyễn Hữu Vinh. Đấy là điều tốt nhất và các bên đều thắng. Nhưng tôi nghĩ rằng các cơ quan chức năng hiện nay không bao giờ có thể dám làm những điều đó, bởi vì quyền lực trong tay có lẽ người ta không chịu thua… rồi thì người ta sẽ đưa ra một cái cớ khác để kéo dài thời gian tạm giam tạm giữ.”

Không thể buộc tội?

Sự kiện Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự bị bắt giữ khẩn cấp ngày 5/5/2014 và truy tố như một vụ án chính trị được dư luận trong ngoài nước đặc biệt chú ý. Ông Nguyễn Hữu Vinh, 59 tuổi có bút danh Ba Sàm, ông là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Nguyễn Hữu Vinh từng là sĩ quan công an và có gốc gác lớn, thân phụ là ông Nguyễn Hữu Khiếu từng giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, Bộ trưởng Bộ Lao động, Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô.

Theo cáo trạng được Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao gởi Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội ngày 5/11/2015, thì sau 4 lần điều tra bổ sung, Viện này vẫn giữ nguyên cáo trạng, truy tố ông Nguyễn Hữu Vinh và đồng phạm về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.”

Trực tiếp cách đây khoảng một tuần, chính bản thân tôi đã gặp cơ quan an ninh, tôi có đề nghị rằng nếu không chứng minh được tội phạm thì tốt nhất là đình chỉ điều tra và trả tự do cho anh Nguyễn Hữu Vinh.
-Đại tá Nguyễn Đăng Quang

Theo kết luận điều tra của Cơ quan An ninh Điều tra, ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt vì đã đăng tổng cộng 24 bài viết trên hai trang mạng Dân Quyền và Chép Sử Việt, được cho là thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Vinh. Những bài viết này Công an cho là có nội dung xấu, thông tin sai lệch làm giảm uy tín, làm mất lòng trong nhân dân về cơ quan Nhà nước cũng như tổ chức xã hội và công dân vi phạm qui định tại Điều 258 Bộ Luật Hình sự. Khung hình phạt của tội danh này là từ 2 năm tới 7 năm tù.

Theo giới luật gia quan tâm tới vụ án, công an đã không thể chứng minh ông Nguyễn Hữu Vinh là người quản lý hai trang mạng Dân Quyền và Chép Sử Việt, dù đã phải mời chuyên gia nhà mạng FPT giúp điều tra chuyên môn. Nếu như ông Nguyễn Hữu Vinh chỉ là người vào xem những bài vở trên hai trang mạng đó, thì không thể buộc tội ông.

Việt Nam là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016, tất nhiên Hà Nội thừa nhận pháp luật nhân quyền cơ bản, không thể kết tội một người nếu không chứng minh được người đó có tội. Giới chuyên môn đưa ra một thí dụ nổi bật về vấn đề vi phạm tố tụng hình sự trong vụ án Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh. Đó là trong số 24 bài trên trang Dân Quyền và Chép Sử Việt, có bài liên quan tới Trung tướng Huỳnh Kông Tư, giới chức cao cấp của Bộ Công an và chính ông Huỳnh Kông Tư lại đứng ra điều tra vụ án có bài viết liên quan. Đây là vấn đề rất đơn giản gọi là xung đột lợi ích, người có liên quan đến một vụ án không thể tham gia tố tụng.

Hiện nay có 6 luật sư tham gia biện hộ cho anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy, gồm luật sư Trần Văn Tạo nguyên Phó Giám đốc Công an TP.HCM, luật sư Trần Quốc Thuận nguyên Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội và các luật sư Trịnh Minh Tân, Hà Huy Sơn, Nguyễn Hà Luân, Nguyễn Tiến Dũng.

Tất cả các vị luật sư đã sẵn sàng vào cuộc trong một vụ án điển hình liên quan tới quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận và tự do có chính kiến của người Việt Nam.

Hành trình tìm tự do của Yeonmi Park

Danlambao – Yeonmi Park sinh năm 1993, vượt thoát khỏi địa ngục cộng sản Bắc Hàn khi cô 14 tuổi. Hành trình của cô và mẹ cô kéo dài 2 năm – từ con sông lạnh giá, qua 3 đỉnh băng sơn để đến biên giới Hàn-Trung, rơi vào tay của bọn buôn người Tàu cộng, băng qua sa mạc Gobi để vượt thoát đến Mông Cổ và từ đó bay sang vùng trời tự do Nam Hàn vào năm 2009. Yeonmi Park đã trở thành một người tranh đấu không ngừng nghỉ cho nhân quyền và tự do của những người dân thân yêu của cô còn ở lại bên kia bờ địa ngục. Danlambao xin gửi đến các bạn trong thôn câu chuyện của Yeonmi Park.

httpv://www.youtube.com/watch?v=iwk1b1NUGSs
Bài nói chuyện trên của Yeonmi Park được trình bày trước một cử toạ 1300 đại biểu trẻ đến từ 194 quốc gia trên thế giới, tham dự Hội nghị thượng đỉnh One Young World Summit 2014, được tổ chức tại Dublin, Ireland.
Bản YouTube nguyên thuỷ đã được xem bởi hơn 2 triệu người:

Khủng bố dù ở đâu, nhân danh lý do gì, cũng bị nhân loại lên án

Khủng bố dù ở đâu, nhân danh lý do gì, cũng bị nhân loại lên án

Song Chi.

RFA

Khủng bố ở nước người

Mấy ngày nay, báo chí truyền thông thế giới tràn ngập tin tức về vụ tấn công khủng bố liên hoàn xảy ra ở Paris vào tối Thứ Sáu ngày 13 vừa qua. Có tất cả 6 dịa điểm khác nhau bị tấn công: phòng hòa nhạc Bataclan, sân vận động Stade de France, các nhà hàng, quán bar, café. Con số tử vong được công bố cho đến nay là 129 người chết, hơn 350 người bị thương. Đây được xem là vụ tấn công tồi tệ nhất ở Pháp kể từ sau Thế chiến thứ Hai và là vụ khủng bố đẫm máu nhất ở châu Âu sau vụ đánh bom xe lửa Madrid năm 2004, với 191 người chết và hơn 2.000 người khác bị thương.
Chỉ riêng trong năm nay nước Pháp đã hứng chịu ít nhất 6 vụ khủng bố, dưới những hình thức khác nhau từ bắn súng, đâm, chặt đầu, đánh bom tự sát, trong đó nổi bật là vụ tấn công nổ súng hàng loạt tại tòa soạn tờ tạp chí châm biếm Charlie Hebdo vào tháng Một ở Paris, giết chết 12 nhà báo, họa sĩ, biên tập, nhân viên của tòa soạn và làm bị thương 11 người khác. Và bây giờ là đánh bom tự sát và xả súng hàng loạt.
Paris, thủ đô xinh đẹp của nước Pháp, thành phố của văn hóa nghệ thuật, thời trang, ẩm thực, thành phố của tình yêu và sự lãng mạn, nguồn cảm hứng của biết bao thi nhân, văn sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ…qua bao nhiêu thời đại, lần này đã bị thương nặng.
Tổ chức Islamic State of Iraq and Syria (ISIS), hay đơn giản chỉ là Islamic State (IS) đã lên tiếng nhận trách nhiệm, tuyên bố lý do là để trả thù sự tham gia tích cực của Pháp bên cạnh Hoa Kỳ trong những cuộc không kích gần đây ở Syria.
Thời đại thông tin, một sự kiện gì xảy ra ở đâu là ngay lập tức cả thế giới biết ngay. Người ta cũng chứng kiến sự đoàn kết, chia sẻ của thế giới trước nỗi đau của nước Pháp.
Tổng thống Mỹ Barack Obama, Thủ tướng Anh David Cameron, thủ tướng Đức Angela Merkel, Tổng Thư ký Liên hiệp Quốc Ban Ki Moon, Giáo hoàng Francis…lập tức lên tiếng. Nhiều tòa nhà cao hoặc những công trình nổi bật, là biểu tượng ở nhiều quốc gia đã thắp sáng ba màu xanh, trắng đỏ-màu cờ Pháp đề bày tỏ sự đoàn kết và chia sẻ với nước Pháp và nhân dân Pháp. Từ Trung tâm thương mại thế giới World Trade Center ở New York-nơi từng xảy ra vụ khủng bố 11.9.2001 rúng động toàn cầu của Mỹ, tượng đài “The Angel de la Independencia” ở Mexico, tòa tháp CN (CN Tower) ở Toronto, nhà hát Opera hình con sò ở Sydney, bánh xe đu quay khổng lồ London Eye, cầu tháp (Tower Bridge) và sân vận động ở London…

Tại New York, London, Berlin, Auckland, Moscow, Sydney, Rio de Janeiro…mọi người tổ chức những cuộc tuần hành hoặc đơn giản chỉ là tập hợp cùng nhau thức trắng đêm trong im lặng hoặc cùng hát quốc ca Pháp và những bản nhạc Pháp…
Trên mạng xã hội tin tức cũng đi nhanh không kém, kèm theo đó là những phản ứng, quan điểm, cảm xúc, sự chia sẻ của từng cá nhân…Nhiều người đã nhanh chóng thay cover photo bằng những dòng chữ “Pray for Paris”, “Je suis Paris”, biểu tượng hòa bình có hình tháp Eiffel hay màu cờ Pháp… Người Việt cũng không là ngoại lệ.
Bởi, không một người có hiểu biết, có lương tri nào có thể chấp nhận hoặc tán thành những cuộc tấn công khủng bố giết hại dân thường, cho dù nhân danh niềm tin vào tôn giáo, lý tưởng, chủ nghĩa hay điều gì khác, cho dù xảy ra ở bất cứ đâu, với dân tộc nào.

Khủng bố ở nước mình

Từ sự kiện khủng bố xảy ra ở Paris nhiều người Việt nhớ và nhắc lại những hình ảnh cũng đẫm máu, tang thương không kém qua những cuộc khủng bố mà Việt Cộng đã tiến hành ở miền Nam VN trước đây. Chẳng hạn như vụ đánh bom tại rạp hát Kinh Đô năm 1964, tại khách sạn Caravelle Sài Gòn năm 1964, tại nhà hàng nổi Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn năm 1965, vụ pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy, Tiền Giang năm 1974 v.v… Chưa kể vô số những vụ đặt mìn, ném bom, pháo kích…từ các mục tiêu quân sự như trại lính, kho tàng, tàu chở trang thiết bị quân sự, cho tới các mục tiêu dân sự như nhà hát, khách sạn, cầu cống, đường xe lửa, trường học, sân vận động… xảy ra như cơm bữa ở miền Nam lúc bấy giờ, từ thành thị cho tới nông thôn.
Không chỉ khủng bố, Việt Cộng còn tổ chức một số vụ ám sát cá nhân các chính khách Mỹ và SG, trong đó nổi bật là vụ ám sát hụt Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara của Nguyễn Văn Trỗi năm 1964, vụ ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông là Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, người chuẩn bị lên làm Thủ tướng của chính quyền VNCH vào năm 1971, hay vụ ám sát ký giả Từ Chung của tờ Chính Luận năm 1965… Nhắc lại là vì cho đến giờ phút này, nhà cầm quyền VN từ sách giáo khoa cho đến báo chí, truyền thông vẫn tiếp tục ca ngợi những việc làm đó như những chiến công anh hùng; trong khi cũng chính họ, ngày nay lên án những hành động tương tự của các nhóm Hồi giáo cực đoan nhắm vào các nước phương Tây và Hoa Kỳ. Đó là chưa nói đến một khía cạnh tàn nhẫn hơn, các nhóm Hồi giáo thường tấn công giết hại người dân nước khác, còn họ trước đây, là giết chính đồng bào mình.

Thời đó thông tin chưa đi nhanh, lan rộng như bây giờ, nếu có, chắc chắn thế giới cũng sẽ lên án. Không thể viện lý do hoàn cảnh chiến tranh thì phải khác, hoặc chiến tranh thì bên nào cũng tàn ác, Mỹ cũng thả bom B52 xuống miền Bắc đó thôi v.v…Hoặc những lập luận rằng nhắc lại để làm gì, không nên khơi lại hận thù…Có nghĩa là người dân miền Nam nhắc lại những nỗi đau trong cuộc chiến thì không nên, nhưng còn nhà nước này năm nào cũng ra rả nhắc đi nhắc lại những chiến công đánh Mỹ ngụy, năm nào cũng tổ chức ăn mừng chiến thắng nhân dịp này dịp kia thì nên?
Trong giới hạn của một bài viết, không thể đi sâu tranh luận hay giải thích từ việc tại sao Mỹ phải nhảy vào VN, tại sao có những cuộc thả bom miền Bắc, sự thật về những vụ tấn công vào đô thị và nông thôn Miền Nam trong chiến tranh Việt Nam… Thế giới bây giờ có internet, tràn ngập thông tin, tư liệu, cả hồi ký của người trong cuộc, sách nghiên cứu về chiến tranh VN đầy dẫy, không chỉ do người VN tự viết mà do người nước ngoài viết dưới những góc nhìn đa chiều khác nhau. Chúng ta nên đọc, tìm hiểu và tự rút ra kết luận, đừng để cho đầu óc mình bị nhồi sọ một chiều mãi. Chỉ nói vắt tắt một điều, những hành động đánh bom, gài mìn vào những khu dân sự có đông dân cư, những vụ ám sát cá nhân các chính khách hay kể cả pháo kích bừa bãi vào làng quê… là khủng bố, dù khi đó được nhân danh lòng yêu nước.

Trong một status đăng trên facebook về vụ đánh bom ờ nhà hàng Mỹ Cảnh năm xưa, facebooker Mạnh Kim kết luận:
“Câu chuyện ở đây được nhắc không phải để gieo hận thù, không phải để bới móc nỗi đau quá khứ của một dân tộc đảo điên với nội chiến và phân chia ranh giới không chỉ ý thức hệ mà cả lòng người. Nhắc lại để thấy sự khác biệt giữa chiến tranh với khủng bố, giữa việc người lính hai bên cầm súng bắn nhau trên trận tuyến khác với việc giết thường dân ở một địa điểm không là chiến trường, giữa việc hể hả với thành tích giết người với nỗi đau tột cùng của những nạn nhân thường dân, giữa sự mưu cầu yên bình với sự thỏa mãn mục đích chính trị “gây tiếng vang”. Nhắc lại, lần này, để thấy cần phải gọi tên cho chính xác một hành vi và cần phải xem đó như là một sự phi nhân không bao giờ nên được kể lại với thái độ “chiến thắng” không đúng mực.” (facebook Manh Kim)

Khủng bố ở Little Saigon?
Một sự kiện khác gần đây cũng khiến cộng đồng người Việt ở nước ngoài, đặc biệt là cộng đồng ở Mỹ, cho tới khá nhiều người Việt trong nước chú ý đến, là việc trong chương trình Frontline của hệ thống truyền hình PBS tối thứ Ba 3.11.2015 đã chiếu phim phóng sự “Terror in Little Saigon”, được thực hiện bởi một nhóm ký giả của tổ chức ProPublica, với hai nhân vật có vai trò chính là đạo diễn Richard Rowley và phóng viên Adam Clay Thompson. Bộ phim lật lại vụ ám sát 6 nhà báo Mỹ gốc Việt trong những năm 80 của thế kỷ XX. Dù không nói rõ nhưng những người làm phim có ý ám chỉ Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, tổ chức tiền thân của đảng Việt Tân bây giờ, đứng đằng sau tất cả những vụ ám sát này.
Người của đảng Việt Tân đã lên tiếng bác bỏ và cho biết sẽ tiến hành những động thái cần thiết để phản đối những người thực hiện bộ phim.
Về chuyện này, thiết nghĩ, Mỹ là một xứ sở tự do, dân chủ, thượng tôn pháp luật, nếu đảng Việt Tân tin chắc Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam trước đây không dính líu gì đến những vụ việc này, họ hoàn toàn có thể kiện tổ chức ProPublica, đài truyền hình PBS và những người làm phim ra tòa và nếu thắng kiện, là một dịp để cho đảng Việt Tân rửa được những tiếng xấu oan, sự nghi ngờ trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài và cả với người Việt trong nước.

Trong khi đó trên trang Change.org cũng đã có lời kêu gọi mọi người ủng hộ và ký tên vào lá thư yêu cầu Bộ Tư pháp Hoa Kỳ và FBI mở lại hồ sơ các ký giả người Mỹ gốc Việt bị sát hại để nỗ lực làm sáng tỏ vụ việc sau hơn 30 năm, tìm ra thủ phạm cho dù là ai, để đem lại công lý dù muộn màng cho những người đã chết và thân nhân của họ, cũng như đem lại cho người Việt đang sống trên đất Mỹ hay sống ở bất cứ nơi nào, niềm tin vào công lý ở một quốc gia luôn đề cao những giá trị dân chủ, sự thật và công bằng cho tất cả mọi người.
Như đã nói, khủng bố dù nhân danh bất cứ lý do gì, dưới bất cứ hình thức nào, cũng đều không thể chấp nhận, nhất là trong thời đại văn minh ngày nay. Và riêng với VN, một dân tộc đã từng phải chịu đựng chiến tranh, khủng bố triền miên và vẫn đang tiếp tục chịu đựng sự khủng bố dưới mọi hình thức từ công khai đến tinh vi, giấu mặt của nhà cầm quyền để kìm giữ người dân trong sự sợ hãi, hèn nhát và vô cảm, dân tộc đó càng phải lên án mọi hành vi khủng bố với dân tộc khác và với chính dân tộc mình.

Chút nghĩa thầy cô

Chút nghĩa thầy cô

RFA

Đầu tuần này, lớp học tình thương của một nhóm thiện nguyện tại quận 3, Sài Gòn, bắt đầu ngày học của mình bằng giờ tập vẽ, làm thiệp chúc mừng ngày thầy cô giáo 20-11.

Lớp học loi nhoi tiếng hỏi han cách thức, đòi thêm giấy, viết màu của nhau. Khó khăn lớn nhất của những đứa trẻ đó là viết được lời chúc đàng hoàng để tặng cho người dạy mình. Một đứa khều khều, hỏi nhỏ “con chúc cô giáo ăn nhiều có kỳ không?”.

Hầu hết những đứa nhỏ học lớp vẽ đó đến từ những gia đình rất nghèo. Còn lại thì là những những đứa không biết một mái nhà là gì, từ lúc ra đời đến giờ. Cô giáo Sa, một trong những thiện nguyên giáo dục đường phố nói rằng nhiều đứa trẻ như vậy đã thân thuộc với vỉa hè, gầm cầu… vì khi ra đời cho đến khi lớn lên, bầu trời là mái nhà. “Nhà” đôi khi rất khủng khiếp, vì đó là những nơi chúng bị bắt về, bị buộc đóng các loại tiền gì gì đó theo chính sách… sau những đợt thu gom của chính quyền để làm “sạch đường phố”.

Nhưng với thầy cô là một chuyện rất khác. Những gương mặt đầy giận dữ, tinh ranh… ngày thường trên vỉa hè của chúng tức thì dịu lại, khi thấy thấp thoáng bóng dáng thầy hay cô xuất hiện. Có cái gì đó rất kỳ diệu trong nghĩa thầy trò vừa mong manh, vừa vĩ đại này. Những đứa trẻ Việt Nam dù ở hoàn cảnh nào, vẫn thầm lặng mang trong lòng mình một không gian kính ngưỡng dành cho người dạy dỗ mình, thậm chí còn đậm sâu hơn nhiều đứa trẻ đeo khăn quàng và được giáo dục trong mái trường xã hội chủ nghĩa.

Rất nhiều người đau đớn nói rằng thế hệ trẻ hôm nay đã hỏng tất cả, khi mỗi ngày nhìn thấy chuyện trò đánh thầy, trò vây đánh trò… mỗi lúc càng ghê sợ. Nhưng phải đi và đến những điểm tận cùng của cuộc sống, nhìn thấy của những đứa trẻ chơ vơ ấy, chứng kiến chúng khao khát được gọi tiếng “thầy-cô”, khao khát được nhìn nhận như một học trò, có thể mới hiểu rằng mọi vấn nạn đều sinh ra từ nhà trường, từ chính sách, từ xã hội… Chúng chỉ là những nạn nhân. Những nạn nhân mỏng manh của người lớn.

Một thằng bé không chịu nói tên, chăm chút vẽ ngôi trường của nó và tô toàn bộ là một màu đen. Mấy đứa bạn cười ngặt nghẽo, nói nhìn là biết ngay là trường bị cúp điện. Đứa khác nói vì hết màu nên nó tô đại màu đen. Nhưng có thể tác giả của cái thiệp thì biết rõ hơn ai hết, trường của nó chỉ là tưởng tượng, đêm đến, hết làm việc thì nó được học ở ngoài trời, khi các thầy cô thiện nguyện đến.

Những năm cuối thập niên 70, cái đói hoành hành toàn miền Nam. Nơi nơi người ta phải nấu hạt bo bo dành cho ngựa và bò, được viện trợ từ Liên Xô, để ăn ngày hai bữa. Cô giáo tiểu học của tôi, lúc đó đi dạy luôn mang theo chuối nấu và bánh kẹo để bán chịu cho học trò, nhằm có thêm chút tiền sinh sống. Cuối năm, tặng quà tết cho cô, mẹ tôi cứ đắn đo giữa việc tặng quà hay đưa tiền mặt. Cuối cùng nắm chặt bì thư nhét vào tay cô giáo kèm một lời xin lỗi, mẹ tôi về kể lại với ánh mắt buồn buồn rằng cô giáo đã ôm mẹ tôi, nói rằng cô cám ơn vì mẹ tôi đã rất thực tế giữa buổi khốn khó đó. Hôm nay thì chuyện nhét ít tiền vào túi thầy cô đã không còn lạ, rất thông tục – thậm chí không có là không xong. Nhưng tôi thì nhớ mãi phút giây mẹ tôi cứ đau đáu vì sợ làm tổn thương người dạy học, thành phần được vô cùng kính trọng trong nền văn hoá giáo dục của miền Nam cũ.

Trong tập truyện kể Những tâm hồn cao thượng (Les Grands Coeurs) của Edmond De Amicis mà mẹ tôi tặng cho tôi khi vào lớp 3, như một cẩm nang sống, câu chuyện vị tướng quân quay lại ngôi trường cũ, cúi đầu trước người thầy già luôn làm tôi cảm động rơi nước mắt. Tình người và nghĩa thầy trò mới cao đẹp làm sao.

Bơi lặn trong cuộc đời, nhìn thấy những điều quặn lòng trong đời Việt, tôi luôn nhớ câu chuyện nhỏ đó như để ủi an cho mình. Tôi đọc những câu chuyện có thật về trò giết thầy rồi nhơn nhơn tự đắc như chuyện của Vũ Quang Hùng, chuyện hiệu trưởng dụ dỗ học trò vào đường cùng như Sầm Đức Xương… cho đến nhan nhản những chuyện trò nghèo không có kịp tiền đóng học phí, bị thầy cho bêu tên làm nhục dưới cột cờ, cô giáo thẳng tay đuổi học trò vì bị mẹ phê bình… Tôi hiểu cuộc sống hôm nay không đẹp như ngày xưa nữa, nghĩa thầy trò cũng phai nhạt theo thời gian. Tôi luôn nhớ câu chuyện của Edmond De Amicis mà dặn lòng, rồi sẽ có một ngày, người Việt sẽ dựng xây lại đất nước này với những điều tốt đẹp nhất – như thế hệ tôi từng biết.

Trong học vấn kém cõi của mình, tôi chỉ có hai người thầy hiếm hoi, bao dung nổi tính cách ngang ngược của mình. Một là người thầy trong Nhạc Viện, và người thầy môn Anh Văn. Thầy dạy Anh Văn là một người uyên bác lạ kỳ, ông biết năm thứ tiếng và đặc biệt là tiếng Latin, nên thường được chính quyền cậy nhờ làm việc mỗi khi đối thoại, thư từ với Vatican trong thời cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Người thầy dạy nhạc với hơn 30 năm tuổi đảng thì dặn tôi phải lớn khôn và đừng bao giờ trở thành người cộng sản. Người thầy dạy chữ thì khó tính và lặng lẽ, nhưng lại dạy cho tôi hiểu biết rất nhiều về thế giới không cộng sản.

Tôi nhớ hoài một cánh tay của ông bị liệt, nên khi dạy luôn phải dùng tay này đỡ tay kia. Sức khoẻ ông yếu nên mỗi ngày cần phải uống một viên multivitamin. Nhưng loại thuốc đó thì rất khó tìm trong thời tôi đi học. Nhiều năm sau khi ra đời, chuyến đầu tiên ra nước ngoài, tôi đã chạy tìm mua mấy hộp multivitamin để mang về cho thầy. Nhưng về, thì thầy đã mất. Sức ông yếu, lại trãi qua nhiều năm trong trại tù – gọi là trại học tập cải tạo nên đột quỵ, gượng phục hồi sau khi bị liệt nửa người, nhưng rồi suy nhược dần.

Ngày 20/11 luôn nhắc tôi nhiều điều. Dịp đến thăm lớp học tình thương của những đứa trẻ nghèo lại càng gợi lên trong tôi nhiều kỷ niệm. Tôi không đo được nghĩa thầy cô trong lòng những đứa trẻ được giáo dục trong mái trường xã hội chủ nghĩa hôm nay như thế nào, nhưng với thế hệ tôi, đó là điều thiêng liêng khôn tả, nó giống như sự kính trọng và thương mến thầy cô mà tôi nhìn thấy ở những lớp học tình thương đó.

Nhìn tấm thiệp tô mái trường đen ngòm của đứa trẻ, tôi chợt nhận ra rằng đời khốn khó không bao giờ có thể giết chết được nghĩa thầy cô. Mà chỉ khi nghĩa thầy cô cao cả ấy bị bóp chết trong một xã hội nhiễu nhương, trong một chính quyền với nền giáo dục nhiễu nhương, ấy mới chính là lúc tất cả chúng ta và mai sau đang có một cuộc sống rất đỗi đen ngòm.

———————-
tranh minh họa: họa sỉ Lê Thiết Cương

Vợ chồng Bill Gates làm từ thiện bằng 95% gia tài

Vợ chồng Bill Gates làm từ thiện bằng 95% gia tài

11 năm sau ngày cưới, cặp vợ chồng giàu nhất thế giới này quyết định tặng 95% gia tài của họ (43,7 tỉ USD) để tận diệt bệnh sốt rét ngã nước và bệnh HIV.

Nhờ quỹ tài trợ của họ mà 43 triệu trẻ em thuộc thế giới thứ 3 đã được chích ngừa bệnh viêm gan siêu vi B.

BILL GATESTháng 1/2005, vợ chồng Gates đã chuyển 750 triệu USD cho Liên minh toàn cầu dành cho việc chích ngừa và miễn dịch. Một trong những đóng góp tư nhân lớn nhất trong lịch sử.

Melinda Gates hẳn có thể giống bất cứ người đàn bà tỉ phú nào, trừ ra 2 chi tiết: bà không thích mua sắm, và đằng sau tính tình vui vẻ ẩn giấu một tài năng kinh doanh sắc sảo.

Đậu bằng MBA về tin học tại Đại học Duke (Bắc Caroline), người phụ nữ tóc nâu xinh đẹp gia nhập Công ty Microsoft năm 1987, đã phát triển những hệ điều hành trong công ty như Encarta, Expedia và Cinnemania, và quản lý hàng trăm triệu USD.

Melinda French lớn lên trong một gia đình trung lưu tại Dallas. Là con gái của một kỹ sư ngành hàng không, cô thiếu nữ theo đạo Công giáo mở những lớp xóa mù chữ cho các em bé Mexico nhập cư. Khi đó mục tiêu của Melinda là được nhận vào học một trường đại học có uy tín, trước khi gia nhập Microsoft.

Bill Gates và Melinda, vốn tâm niệm châm ngôn của Andrew Carnegie: “Kẻ nào chết trong giàu sang, kẻ đó cũng chết trong sỉ nhục”, và bắt đầu giúp các thư viện kết nối với Internet.

Nhưng họ nhanh chóng nhận thấy sự không đúng chỗ của những chiếc máy tính xách tay trong các ngôi làng ở miền Nam Sahara, một nơi thiếu thực phẩm, thuốc men và đường xá hơn là các hệ điều hành. Do đó, Melinda nghĩ phải làm điều gì đó thiết thực hơn và ông bà đã lập ra Quỹ ủng hộ người nghèo.

Là những doanh nhân của lòng nhân ái, vợ chồng Gates đang quản lý một ngân sách 28,8 tỉ USD, và chỉ trong vài năm, họ đã đóng góp nhiều hơn cả ngân sách mà Australia dành cho trợ cấp quốc tế. Nhờ vào các chương trình mà họ tài trợ, 43 triệu trẻ em đã được chích ngừa viêm gan siêu vi B, và mục tiêu của họ là chích ngừa cho 60% dân số của những nước đang phát triển từ đây cho đến năm 2010.

Tại Mozambique, người ta đang thử nghiệm 1 loại vắcxin ngừa bệnh sốt rét ngã nước, là căn bệnh mà cứ 30 giây lại làm chết 1 đứa trẻ ở châu Phi. Tháng 5 vừa qua, bà Melinda đã thành lập một nhóm cùng với Chính phủ Zambie với một ngân sách 35 triệu USD để làm cuộc thực nghiệm đó. Mục đích là đạt đến 85% dân số và giảm 75% số tử vong do bệnh sốt rét ngã nước từ đây cho đến 3 năm nữa.

Vợ chồng Gates muốn gây ảnh hưởng sâu rộng của khoa học trong một thế giới đang chịu những tai họa mới. Họ giúp đỡ để tìm ra những loại vắcxin tạo ra những thị trường để khuyến khích các công ty dược phẩm sản xuất vắcxin và bán thật rẻ.

Họ liên kết những nhà bán thuốc lại và bảo đảm trợ cấp tài chính cho việc nghiên cứu để đổi lấy sự hạ giá thuốc cho những nước nghèo. Qua đó, họ tạo đà mới cho ngành y học ngừa bệnh của thế giới thứ 3 vốn đã bị chững lại từ những năm 90. Và rõ nét nhất là việc sáng lập Công ty Vắcxin HIV, là công ty liên kết các nhà nghiên cứu với một ngân sách 400 triệu USD.

Không chỉ là một tài năng kinh doanh, ông bà rất chú tâm đến việc nuôi dạy con cái. Melinda cho biết: “Ở trong nhà, khi chúng tôi nhắc đến gia tài là nhắc đến bổn phận về sự rộng lượng của chúng tôi. Và như trong bất cứ gia đình nào, nếu chúng muốn có một cái gì, chúng phải kiên nhẫn đợi đến ngày sinh nhật, hoặc phải tiết kiệm tiền để mua”.

Gia đình Gates sống trong một cơ ngơi trị giá 75 triệu USD. Với gia tài của mình, ông bà có thể đưa một phụ nữ lên sao Hỏa, nhưng bà thích làm giảm 39% số tử vong ở trẻ em do bệnh sởi hơn.

Theo ANTG/Marie Claire

Hầm chứa hạt giống chống tận thế dưới lớp băng Bắc Cực

 Hầm chứa hạt giống chống tận thế dưới lớp băng Bắc Cực
 
Một hầm ngầm hạt giống toàn cầu được xây dựng ở Bắc Cực để bảo vệ các loài thực vật trên thế giới tránh khỏi bị tuyệt chủng do biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên, chiến tranh.
 
 
  
Theo CNN, hàng triệu hạt giống đang được lưu trữ trong một hầm ngầm, nằm sâu bên dưới lớp băng vĩnh cửu tại Svalbard, ở giữa Na Uy và Bắc Cực. Khu vực này nằm ngoài vùng ảnh hưởng của chiến tranh và nước biển dâng nên có thể bảo vệ hạt giống tránh khỏi những thảm họa môi trường. Ngoài ra, Svalbard có yếu tố địa chất ổn định, các chuyến bay diễn ra theo lịch trình thường xuyên, khiến nó tương đối dễ tiếp cận.
“Hầm ngầm được xây dựng vì sự sống còn của nhân loại. Nó giống như một nơi linh thiêng. Mỗi lần đến đây, tôi đều cảm thấy mình dường như đang đứng ở trong nhà thờ. Địa điểm này khiến chúng ta phải dừng lại và suy nghĩ”, Michael Koch thuộc tổ chức Trust Crop, nói.
 
  
Trong khung cảnh ảm đạm, mờ tối của mùa thu Bắc Cực, cổng ra vào hầm ngầm giống như viên ngọc quý nhô ra khỏi tuyết và băng. Nó được xây dựng bằng bê tông góc cạnh. Ở cuối đường hầm là một cánh cửa kim loại có khối lượng lớn, sáng lấp lánh, đằng sau nó là chìa khóa để bảo vệ nhân loại trong một thế giới “hậu tận thế”.
 
  
Hầm ngầm chứa 837.931 mẫu vật, ước tính khoảng 556 triệu hạt giống, được lưu trữ ở nhiệt độ không đổi -18°C nhằm bảo quản chúng khỏi hư hỏng. Lớp băng vĩnh cửu tạo thành một chiếc tủ lạnh tự nhiên. Ngay cả khi không có điện, nhiệt độ trong hầm sẽ dần ổn định ở mức -8°C, đủ thấp để duy trì chất lượng hạt giống suốt nhiều thập kỷ.
Người ta sẽ đóng gói cẩn thận các hạt giống vào một túi nhôm kín, dày ba lớp và khóa kín chúng vào thùng, trước khi vận chuyển đến hầm ngầm từ Nigeria, Ấn Độ, Mỹ, Peru và gần như mọi quốc gia khác trên Trái Đất.
 
  
Tại hầm ngầm, nhiều thùng trong tổng 2.291 thùng xếp chồng lên nhau làm từ nhựa màu xám hoặc đen. Chúng được gắn thẻ và đánh mã số để xác định ngân hàng gene nơi hạt giống gửi đến. Tuy nhiên, một vài thùng trên kệ kim loại nằm nổi bật ở giữa làm từ gỗ, với các nhãn màu, có nguồn gốc từ Triều Tiên.
 
  
Chức năng của hầm ngầm giống như khoản tiền an toàn gửi vào ngân hàng. Sau khi đặt vào bên trong, các thùng không thể bị mở ra cũng như loại bỏ bởi bất kỳ ai, ngoài cơ quan 
gửi hạt giống đến khi cần thiết.
 
  
Hồi đầu tháng này, hạt giống bên trong cái gọi là “Hầm ngầm tận thế” lần đầu tiên được mở cửa và rút bỏ một số hạt giống do hậu quả của cuộc chiến tranh Syria.
Các nhà khoa học thuộc Trung tâm quốc tế nghiên cứu nông nghiệp tại Vùng Khô hạn (Dry Areas) đã phải chạy trốn khỏi căn cứ tại Aleppo, Syria tới Lebanon. Họ yêu cầu lấy lại rất nhiều hạt giống đã gửi trước đó để gieo trồng, tiếp tục những nghiên cứu quan trọng mà họ tiến hành trong nhiều thập kỷ qua.
 
  
Chủng loại hạt giống gửi đến lưu trữ ở hầm ngầm rất đa dạng, chủ yếu là cây lương thực, chẳng hạn như: ngô, lúa mì, lúa mạch, xà lách, khoai tây.
Nếu một loài bị tuyệt chủng trong tự nhiên do hạn hán, chiến tranh, lũ lụt thì đặc điểm di truyền trong hạt giống sẽ trở nên rất quan trọng. Bởi vì chúng ta có thể khôi phục lại loài này, ví dụ điển hình là loài lúa bản địa ở Australia có khả năng chống chịu sâu bệnh.

Bỏ môn học Lịch sử, một âm mưu “đốt gia phả” của dân tộc?

Bỏ môn học Lịch sử, một âm mưu “đốt gia phả” của dân tộc?

RFA

Trước thông tin Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD&ĐT dự kiến sẽ tích hợp môn Lịch sử với môn giáo dục công dân và an ninh quốc phòng thành môn mới là công dân với Tổ quốc. Điều này đã gây ra những phản ứng gay gắt của dư luận xã hội, đặc biệt là giới trí thức. Vì hầu hết mọi người đều cho rằng, Lịch sử là môn học rất quan trọng và cần phải được dành vị trí xứng đáng trong chương trình giáo dục hiện nay.

Tuy vậy, giải thích với báo chí ông Nguyễn Vinh Hiển, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng, thông tin nêu trên chưa đầy đủ và chưa phản ánh đúng bản chất việc đổi mới giáo dục lịch sử trong chương trình phổ thông. Vì theo ông Nguyễn Vinh Hiển thì, ở bậc tiểu học môn Lịch sử vẫn học giống như hiện nay, nhưng kiến thức lịch sử sẽ nằm trong một số môn học khác trong môn Tìm hiểu xã hội. Còn bậc trung học cơ sở, thì môn Lịch sử được tích hợp với Địa lý thành môn Khoa học xã hội và ở bậc trung học phổ thông, môn Lịch sử tiếp tục tích hợp với Địa lý thành môn Khoa học xã hội. Không chỉ thế, môn Lịch sử sẽ được tích hợp trong hai môn học bắt buộc, đó là môn Giáo dục công dân & Giáo dục quốc phòng và môn Công dân với Tổ quốc. Với mục đích để giáo dục học sinh về truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nghệ thuật quân sự của cha ông.

Phản ứng của dư luận

Nhà sử học Dương Trung Quốc cũng vô cùng ngạc nhiên khi Bộ GD-ĐT không hề tham khảo ý kiến của Hội khoa học Lịch sử Việt Nam khi xây dựng đề án này. Theo ông Dương Trung Quốc trong bối cảnh tình hình đất nước, láng giềng, khu vực và quốc tế diễn biến phức tạp như hiện nay cho thấy vấn đề chủ quyền, hội nhập là rất hệ trọng. Vì thế, hơn bao giờ hết, chúng ta không thể lãng quên lịch sử, đánh mất mình. Do vậy, nếu muốn thay đổi thì cần làm hết sức cẩn trọng, không thể làm đơn giản như cách đặt vấn đề của Bộ GD&ĐT vừa qua.

Theo VTC News cho biết, tại Hội thảo khoa học “Môn Lịch sử trong giáo dục phổ thông” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 15/11, nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng môn Lịch sử được tích hợp trong môn Khoa học xã hội và Công dân với Tổ quốc ở cấp trung học phổ thông (THPT) là không thỏa đáng và thiếu cơ sở khoa học và sẽ khiến học sinh càng quay lưng với môn Lịch sử.

Được biết trong cuộc hội thảo này, khi nói về tầm quan trọng của bộ môn Lịch sử GS. Phan Huy Lê thấy rằng lịch sử là cội nguồn sức sống của dân tộc Việt Nam và nếu không có sự kế thừa những truyền thống của dân tộc thì làm sao những thế hệ hiện tại có thể viết tiếp những trang sử, xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay và mai sau. Theo ông, cách làm của Bộ GD&ĐTsẽ “khai tử” môn Lịch sử trên thực tế.

Không chỉ thế, Thượng tướng, PGS, TS Võ Tiến Trung, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng khẳng định không thể đưa môn Lịch sử tích hợp với môn Giáo dục Quốc phòng. Vì theo ông Trung tích hợp môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh với các môn học khác trong cấp THPT là trái với quy định pháp luật của nước ta. Đồng thời, Giáo dục Quốc phòng – An ninh là môn học đặc thù cả về nội dung, phương pháp và hình thức, hơn 80% bài giảng mang tính trang bị kiến thức, kỹ năng thiết yếu để bảo vệ Tổ quốc, do vậy không thể tích hợp với môn học khác.

Ngày 16/11/2015, tại phiên chất vấn Chính phủ tại Quốc hội Đại biểu Lê Văn Lai (tỉnh Quảng Nam) cho rằng sai lầm về phương pháp sẽ dẫn tới sai lầm về kiến thức, nhất là kiến thức lịch sử trong thế hệ trẻ và sẽ không có chỗ cho sự khắc phục hoặc thiếu kinh nghiệm. Theo ông Lai thì cho rằng những vấn đề tưởng như nhỏ, nhưng thực chất lại không nhỏ, đã làm ảnh hưởng rất lớn đến các chủ thể liên quan. Đại biểu Lê Văn Lai khẳng định: “Theo tôi, bất cứ sự phá vỡ lớn nào cũng có nguyên nhân từ sự phá vỡ hệ thống. Chứng minh cho nhận định này là vấn đề tôi vừa chất vấn thầy Bộ trưởng về cách dạy môn Lịch sử. Vì đơn giản hóa vấn đề, chỉ chú trọng tới giấc mơ tích hợp mà quên mất hệ lụy khác”.

Chủ quyền HS-TS không được đưa vào giáo khoa Lịch sử

Theo báo Người Đô thị, tại Hội thảo môn sử trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 15.11 tại Hà Nội, GS-TS Nguyễn Quang Ngọc, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, cho biết cách đây hơn chục năm, khi được tham gia viết sách giáo khoa, ông đã tha thiết đề nghị phải đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào sách giáo khoa lịch sử phổ thông nhưng không được chấp nhận. Theo GS Ngọc, chỉ duy nhất trong sách giáo khoa lịch sử 10 (nâng cao) có một câu: “Kỹ thuật vẽ bản đồ cũng đạt được những thành tựu mới, trong đó đặc biệt là “Đại Nam nhất thống toàn đồ” được vẽ vào cuối thời Minh Mạng đã thể hiện tương đối chính xác hình ảnh nước Đại Nam thống nhất, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài Biển Đông”. Mà theo ông, đấy dường như cũng là câu duy nhất nói đến chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa trong toàn bộ bộ sách giáo khoa lịch sử phổ thông (cả chương trình chung và chương trình nâng cao) tính cho đến thời điểm này.

Cũng theo GS-TS Nguyễn Quang Ngọc cho biết, Hội Khoa học lịch sử đã nhiều lần đề nghị phải đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông nhưng từ năm 2012 cho đến nay sách giáo khoa lịch sử phổ thông vẫn giữ nguyên như cũ, chưa có thêm một dòng một chữ nào về lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa và nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo trong sách giáo khoa lịch sử phổ thông cho đến thời điểm hiện tại vẫn đang còn là con số không tròn trĩnh.

Theo GS Ngọc, trong SGK lịch sử có bảy bản lược đồ nói về lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng cả bảy bản lược đồ này đều được hoàn thành từ lần xuất bản đầu tiên, không phải là bổ sung mới và không có bất cứ một lược đồ nào trực tiếp trình bày chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông hay các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Điều đáng nói là, vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng sa (đã bị Trung quốc cưỡng chiếm toàn bộ) và Trường sa thuộc chủ quyền của Việt nam đã bị chính phía Hà nội làm ngơ, việc không đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông là bằng chứng cho thấy điều đó. Đây là hành động gián tiếp không thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, điều đó cho thấy chính quyền hiện nay đã “vô tình” tiếp tay cho giặc.

Cũng cần phải nhắc lại, vừa qua theo báo cáo của Ban Dân nguyện của Quốc hội thì cử tri của 28 tỉnh, thành phố đã kiến nghị và yêu cầu nhà nước tiến hành khởi kiện Trung quốc về chủ quyền của Việt nam đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa.

Có hay không một âm mưu “đốt gia phả” của Dân tộc?

Lịch sử của dân tộc Việt nam với hơn 4.000 năm lịch sử luôn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước, đó là những trang sử hào hùng của dân tộc với các chiến công đánh bại các cuộc xâm lăng của các thế lực bành trướng Trung Hoa. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi toàn bộ nền kinh tế và kể cả chính trị của Việt nam đã và đang gắn chặt vào Trung quốc và họ bị thao túng. Không chỉ thế, Trung quốc ngày càng tỏ ra lấn lướt và áp đảo Việt nam trong vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo hay bãi đá ngầm trên Biển Đông. Thậm chí họ không ngần ngại khi tuyên bố rằng toàn bộ chủ quyền hai Quần đảo Hoàng sa và Trường sa thuộc về Trung quốc từ thời cổ đại. Bên cạnh đó là các hành động cấm cản và đánh đập ngư dân Việt nam trong quá trình đánh bắt cá trên vùng biển truyền thống của mình. Vậy mà chính quyền Việt nam không dám ho he phản đối đích danh Trung quốc, chỉ dám gọi tên “tàu lạ” hay “nước lạ”, dù rằng đén nay có khá hơn đôi chút song vẫn không dám khởi kiện Trung quốc ra Tòa án Quốc tế như Philippine đã làm và thu được kết quả ban đầu.

Thông qua chủ trương tích hợp môn học Lịch sử đã cho thấy, đây là một chủ trương từ âm mưu của lãnh đạo cấp cao nhất của ban lãnh đạo Việt nam, núp dưới danh nghĩa Nghị quyết Số: 29-NQ/TW “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường”. Chứ cái đó có lẽ không phải là ý kiến đơn thuần của lãnh đạo Bộ GD&ĐT. Điều đó chứng tỏ ban lãnh đạo Việt nam đang bị một thế lực vô hình nào đấy ép buộc với mong muốn bức tử và thậm chí muốn xóa sổ lịch sử của dân tộc Việt nam ra khỏi chương trình giáo dục phổ thông hiện nay. Đồng nghĩa với việc họ muốn xóa bỏ truyền thống đánh giặc phương Bắc của ông cha ta trong quá khứ, điều được coi là mối nhục của thế lực bành trướng phương Bắc ngàn đời đã không xóa sạch được.

Điều này được chứng minh qua nhận định của GS.NGND Vũ Dương Ninh (ĐH Quốc gia Hà Nội), khi cho rằng: “Không phải đến thời điểm này mà một vài thập kỷ qua, môn Sử đã bị đối xử thiếu công bằng”. Mà theo GS. Ninh thì đây là những việc làm có tính toán kỹ càng và chủ đích. Theo đó, ban đầu vì lý do giảm tải, nên môn Lịch sử không còn được coi là môn thi chính thức trong chương trình thi tốt nghiệp phổ thông. Sau là tới, việc cho học sinh được phép lựa chọn thi ngoại ngữ hoặc môn Sử. Chưa hết, đến nay môn học Lịch sử lại được dạy tích hợp với các môn khác và kết quả cuối cùng thì môn Lịch sử đã dần biến mất khỏi chương trình giáo dục phổ thông. Dù rằng môn Lịch sử là một ngành khoa học có chức năng riêng biệt và vô cùng quan trọng. Theo ông, đây là điều hết sức đau xót.

Câu hỏi “Có hay không một âm mưu “đốt gia phả”?”, nghĩa là có hay không một âm mưu nhằm xóa bỏ lịch sử của dân tộc Việt nam? Đây là một câu hỏi hoàn toàn nghiêm túc, không mang tính chất cảm tính nhằm khiêu khích để kích động tinh thần chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Mà đây là điều có thật, đã và đang diễn ra một cách ráo riết hầu như để phục vụ cho một kế hoạch nào đó, sẽ diễn ra vào năm 2020 trong quan hệ Việt – Trung, mà lâu nay dư luận đang đồn thổi và nghi ngờ.

Bên lề hành lang Quốc hội, trả lời phỏng vấn báo chí nhà sử học Dương Trung Quốc đã góp ý rằng Bộ GD-ĐT cần hết sức thận trọng, nhưng theo ông dường như những người đưa ra ý tưởng và triển khai sự đổi mới này đang ấp ủ một âm mưu nào đó không rõ ràng. Vị Đại biểu Quốc hội này khẳng định: “Bộ GD-ĐT luôn lập luận không bỏ môn lịch sử nhưng theo tôi, đó chỉ là cách nói và đã khiến chúng tôi rất nghi ngờ”.

Cho dù, Đại biểu Quốc hội – nhà sử học Dương Trung Quốc không nói rõ ông nghi ngờ cái gì, vì ở thế của ông cũng không được phép nói ra một cách huỵch toẹt, nhưng ai cũng hiểu Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc muốn cảnh báo điều gì đối với dư luận xã hội?

Kết:

Nhiều người cho rằng, bỏ xem thường hoặc bỏ môn Lịch sử là tự chúng ta quay lưng với quá khứ, quay lưng với những kết quả mà cha ông ta đã dày công để xây dựng bờ cõi nước Việt Nam từ ngàn xưa đến hôm nay. Bạn nghĩ thế nào khi mà các chiến thắng lẫy lừng như Bạch Đằng giang, Chi lăng, Đồng đa… của cha ông chúng ta trước giặc bành trướng phương Bắc sẽ bị rơi vào quên lãng? Vậy mà có kẻ đang muốn tìm cách vứt bỏ những kỳ tích đó đi, họ muốn xóa bỏ quá khứ, thông qua việc xóa sổ môn học Lịch sử và coi vấn đề lịch sử của dân tộc Việt nam không có giá trị.

Trong một thời gian dài, nhà nước Việt nam luôn phát động và tổ chức các cuộc vận động họ tập theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, song có lẽ họ quên rằng ngay từ năm 1942, lúc cách mạng Việt nam còn trong trứng nước, khi nước nhà chưa được độc lập, cũng là khi ông Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đang còn hoạt động trong bóng tối. Tuy vậy, vào lúc đó ông Hồ Chí Minh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Lịch sử và coi đó là trách nhiệm của mỗi người công dân nước Nam. Ông đã từng viết trên Báo Việt Nam độc lập số 117, ngày 1-2-1942 rằng “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.” – (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia 2002).

Xin được trích lại, với hy vọng những người có trách nhiệm mở to mắt ra mà nhìn cái họa sắp đến của dân tộc Việt nam.

Ngày 18/11/2015

© Kami

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam công bố 3 người đoạt giải 2015

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam công bố 3 người đoạt giải 2015
Nguoi-viet.com

GARDEN GROVE, California (NV)Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam vừa công bố sẽ trao giải nhân quyền năm 2015 cho ba cá nhân đang sống và hoạt động trong nước, tại một cuộc họp báo ở Thư Viện Việt Nam, Garden Grove, hôm Thứ Bảy, 14 Tháng Mười Một.

Ba nhân vật được chọn trao giải năm nay là Hòa Thượng Thích Không Tánh, bà Hồ Thị Bích Khương, và bà Bùi Thị Minh Hằng.

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam công bố 3 người đoạt giải 2015

Ðại diện Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam tại cuộc họp báo, từ trái, ông Ðỗ Như Ðiện, ông Nguyễn Bá Tùng, ông Ðoàn Thanh Liêm, và ông Lê Minh Nguyên. (Hình: Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cung cấp)

Ban tổ chức cho biết, ba nhân vật này được Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam chọn từ một danh sách có 25 người được đề cử.

Theo Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, Hòa Thượng Thích Không Tánh, tục danh Phan Ngọc Ấn, trụ trì chùa Liên Trì, quận 2, Sài Gòn, hiện đảm nhiệm chức vụ phó viện trưởng Hội Ðồng Ðiều Hành Tăng Ðoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, kiêm tổng ủy viên Từ Thiện-Xã Hội. Hòa thượng cũng là một trong những thành viên sáng lập Hội Ðồng Liên Tôn Việt Nam.

Là một tu sĩ luôn quan tâm đấu tranh cho nhân quyền, và đặc biệt là quyền tự do tôn giáo, Hòa Thượng Thích Không Tánh đã bị chính quyền CSVN liên tục đàn áp và trả thù.

Năm 1976, hòa thượng bị bắt đi tù cải tạo 10 năm vì đã can đảm gửi thư đến thủ tướng chính quyền Cộng Sản phản đối việc hủy bỏ quyết định miễn nghĩa vụ quân sự cho các tăng sĩ, vốn đã có từ thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Tháng Mười, 1992, hòa thượng lại bị kết án 5 năm tù giam và 5 năm quản chế với cáo buộc “lưu hành nhiều tài liệu có nội dung chống lại nhà nước” sau khi công an lục soát phòng của hòa thượng trong chùa Liên Trì và tịch thu bản sao nhiều ghi chép của Hòa Thượng Thích Huyền Quang.

Ðược trả tự do trước thời hạn vào Tháng Mười, 1993, hòa thượng vẫn tiếp tục các hoạt động phục vụ nhân quyền và xã hội.

Tháng Mười Một, 1994, hòa thượng lại bị công an bắt giữ khi đang quyên góp và phân phát vật phẩm cứu trợ cho nạn nhân lũ lụt miền Tây.

Ðến Tháng Tám, 1995, Hòa Thượng Thích Không Tánh và Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ bị tòa án xử phạt mỗi người 5 năm tù với cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước.”

Trong nhiều năm qua, hòa thượng vẫn tiếp tục tổ chức nhiều hoạt động từ thiện, như tặng quà cho thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, cho bệnh nhi ung thư, cứu trợ các gia đình thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương, v.v… cũng như giúp đỡ cho các tổ chức xã hội dân sự trong nước có nơi sinh hoạt, hội họp, để đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền.

Những nỗ lực nối kết liên tôn của hòa thượng đã tạo nên một nguồn sinh khí mới trong cuộc đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo hiện nay. Vì những hoạt động này mà rất nhiều lần hòa thượng bị công an và chính quyền sách nhiễu, thậm chí hiện nay họ đang âm mưu cưỡng chế để thu hồi mảnh đất nơi ngôi chùa tọa lạc, nhưng hòa thượng vẫn kiên cường tranh đấu, không hề nao núng, hoặc chùn bước.

Bà Hồ Thị Bích Khương là một dân oan hai lần bị chính quyền địa phương cướp đất, phá nhà, và cơ sở làm ăn (năm 1989 và năm 1996), theo Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam.

Bà từng đi khiếu kiện một cách vô vọng nhiều năm. Do hoàn cảnh khó khăn, bà phải xin đi “xuất khẩu lao động” ở Nam Hàn. Tại đây, trước cảnh các bạn công nhân bị áp bức và bóc lột, bà đã vận động đồng nghiệp đứng lên đấu tranh với chủ và bị chủ thù ghét, đối xử tàn tệ. Bà khiếu nại với văn phòng đại diện Việt Nam tại đây, nhưng họ lại thông đồng với chủ và yêu cầu cảnh sát cưỡng bức bà về nước.

Về lại Việt Nam vào năm 1999, bà tích cực tham gia các cuộc biểu tình của dân oan từ các địa phương tập trung về Hà Nội để đòi lại đất, chống tham nhũng, và đòi chính quyền thực thi nhân quyền và dân quyền.

Ngày 11 Tháng Năm, 2005, bà bị công an bắt và giam tại Hỏa Lò và truy tố ra tòa. Tại phiên tòa, bà đã khẳng khái phản bác hội đồng xét xử.

Bà được trả tự do ngày 11 Tháng Mười Một, 2005, và đến năm sau bà lại tham gia Khối 8406.

Là một thành viên tích cực của khối, bà đã viết khoảng 30 bài có nội dung phản kháng chế độ độc tài toàn trị Cộng Sản. Bà còn in ấn nhiều tài liệu về dân chủ đem phân phát cho đồng bào nhằm nâng cao nhận thức và lôi cuốn họ vào phong trào đấu tranh. Ngoài ra, bà cũng đã giúp nhiều dân oan viết đơn khiếu nại gửi tới nhà cầm quyền hay đưa lên mạng.

Ngày 26 Tháng Năm, 2007, bà bị công an bắt tại thị trấn Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An. Trong thời gian bị giam, bà bị tra tấn rất tàn bạo, nhưng vẫn giữ vững khí tiết và tinh thần can trường hiếm thấy ở một người phụ nữ bình thường. Cuộc tranh đấu kiên cường trong lao tù đó đã được bà ghi lại trong tập hồi ký có tựa đề: “Bước đường đấu tranh cho công lý và dân chủ của tôi.”

Sau khi ra tù lần thứ hai vào ngày 26 Tháng Tư, 2009, bà vẫn tiếp tục tranh đấu. Bà bị công an quận Phú Nhuận, Sài Gòn, bắt và đánh bị thương nặng ngày 15 Tháng Sáu, 2010 khi trên đường đến thăm các bạn đấu tranh ở Sài Gòn. Ðầu năm 2011, bà lại bị bắt cùng với Mục Sư Nguyễn Trung Tôn khi hai người sao chép và phổ biến cuốn phim “Ðại họa mất nước.” Bà bị xử 5 năm tù giam và 3 năm quản chế với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước.”

Hiện nay bà Hồ Thị Bích Khương còn đang ở trong tù và vẫn tiếp tục tranh đấu không ngừng để đòi quyền được đối xử tử tế cho mình cũng như cho bạn tù. Vì thế bà thường xuyên bị cai tù đánh đập và hành hạ.

Bà Hồ Thị Bích Khương là một chiến sĩ đấu tranh cho nhân quyền chịu đựng tới ba lần tù đày và nhiều lần bắt bớ, đánh đập hết sức tàn nhẫn. Tuy thế, bà vẫn luôn giữ ý chí bất khuất cho lý tưởng tự do, dân chủ và nhân quyền. Bà được tổ chức Human Rights Watch trao tặng Giải thưởng Hellman/Hammett năm 2011.

Theo Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, tuy xuất thân từ một gia đình có chức quyền trong guồng máy chính quyền Cộng Sản, bà Bùi Thị Minh Hằng đã sớm nhận chân được bộ mặt của chế độ khi khám phá ra rằng chính các quan chức địa phương đã phi pháp tiếp tay cho đảng viên cướp đoạt ngôi nhà của thân phụ để lại cho bà.

Từ năm 2011, bà đã hăng hái tham gia các cuộc biểu tình phản đối việc Trung Quốc xâm lấn lãnh hải Việt Nam và phong trào đòi dân chủ nhân quyền.

Ngày 27 Tháng Mười Một 2011, bà bị bắt tại Sài Gòn khi tham gia xuống đường yêu cầu Quốc Hội ra luật biểu tình. Bà bị đưa vào trại cưỡng bức lao động cải tạo trong hai năm tại Thanh Hà, tỉnh Vĩnh Phúc, mà chẳng qua thủ tục xét xử nào.

Do áp lực mạnh mẽ của dư luận, bà được trả tự do sau 5 tháng bị giam giữ. Tuy nhiên công an vẫn ngày đêm theo dõi, sách nhiễu, và trả thù bà một cách hèn hạ. Mặc dù vậy, bà vẫn kiên cường mạnh mẽ đấu tranh không lùi bước. Bà từ chối đóng tiền cho quỹ an ninh quốc phòng, làm đơn khởi kiện đích danh Chủ Tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, viết thư cho ngoại trưởng Hoa Kỳ, viết thư cho Quốc Hội, tố cáo những hành động phi pháp đối với bà,…

Bà Bùi Thị Minh Hằng còn có sáng kiến mở “Quán Thông Tin” trước nhà để phổ biến những thư khiếu kiện, những thư ngỏ của bà gửi đến các cơ quan có thẩm quyền.

Nhận ra rằng bà là một cái gai nhức nhối cần phải nhổ, là một dân oan kiên cường đấu tranh cho công lý cần phải triệt hạ, nhà cầm quyền Cộng Sản đã dàn dựng một “vụ gây rối trật tự công cộng” để bắt giam bà và một số người khác tại tỉnh Ðồng Tháp, khi họ đến thăm một người đấu tranh cho nhân quyền bị bách hại.

Ngày 26 Tháng Tám, 2014, bất chấp sự phản đối của dư luận, chính quyền Cộng Sản vẫn kết án bà 3 năm tù giam. Trong tù bà vẫn không ngừng đấu tranh. Bà đã tuyệt thực hơn hai tháng (kể từ ngày 2 Tháng Tư, 2015), và thường xuyên trò chuyện với chị em nữ tù nhân để gây cho họ ý thức sâu sắc về quyền con người. Hiện nay bà vẫn đang chịu cảnh tù ngục.

Bà Bùi Thị Minh Hằng là một con người đấu tranh trên mọi mặt và có mặt khắp mọi nơi. Cần chống xâm lược, bảo vệ tổ quốc thì bà ở tuyến đầu, cả ở Sài Gòn lẫn Hà Nội. Cần chống cưỡng chế tước đoạt thì bà luôn đồng hành cùng với dân oan. Những người đấu tranh bị bắt vào đồn công an, bà liền có mặt đòi thả những người yêu nước. Bà Bùi Thị Minh Hằng là một chiến sĩ đấu tranh kiên cường và bất khuất cho nhân quyền.

Trở lại cuộc họp báo, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cho biết buổi trao giải năm nay sẽ được tổ chức tại Little Saigon, Nam California, vào ngày 11 Tháng Mười Hai, nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 67.

Giải Nhân Quyền Việt Nam do Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam thành lập vào năm 2002 và được tổ chức hàng năm nhằm tuyên dương thành tích tranh đấu bất bạo động của những người đã chấp nhận hy sinh, kể cả mạng sống của chính mình, cho lý tưởng nhân quyền và dân quyền của người dân Việt Nam. Ngoài ra, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam còn nhằm bày tỏ sự liên đới, hậu thuẫn và quyết tâm của người Việt khắp nơi trong nỗ lực đấu tranh giành lại quyền làm người cho mọi người dân Việt Nam.

Từ ngày thành lập đến nay, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đã tuyên dương và trao tặng Giải Nhân Quyền Việt Nam cho hàng chục nhà đấu tranh hàng đầu cho nhân quyền tại Việt Nam. (Ð.D.)