5 tác phẩm Việt Nam đoạt giải cuộc thi ảnh quốc tế

 5 tác phẩm Việt Nam đoạt giải cuộc thi ảnh quốc tế

Tác phẩm “Vượt qua đồi cát” của nhiếp ảnh gia Việt Nam Lê Minh Quốc giành chiến thắng tại hạng mục khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của cuộc thi ảnh CGAP 2015.

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

 Nhóm tư vấn hỗ trợ hộ nghèo (CGAP) tổ chức một cuộc thi ảnh hàng năm nhằm vinh danh các nhiếp ảnh gia giúp thúc đẩy quá trình hoà nhập tài chính cho người nghèo trên thế giới. Lê Minh Quốc, một nhiếp ảnh gia đến từ Việt Nam với tác phẩm “Vượt qua đồi cát”, đã chiến thắng tại hạng mục khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Nicole Crowde, nhiếp ảnh gia của The Washington Post và là thành viên ban tổ chức cuộc thi, nhận xét: “Bức ảnh khiến bạn tò mò và muốn biết nhiếp ảnh gia đã chụp nó bằng cách nào”. Ảnh: Lê Minh Quốc

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Nhiếp ảnh gia Lộc Mai, Việt Nam, đoạt giải khuyến khích với tác phẩm “Hành trình tiếp theo”. Những phụ nữ trong ảnh sống trong một làng chài ở Nha Trang. Họ đang sửa lưới đánh cá để chồng của họ sử dụng trong chuyến ra khơi tiếp theo. Ảnh: Lộc Mai

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Thu hoạch trứng vịt” của nhiếp ảnh gia Trần Văn Tuý ở Việt Nam đoạt giải khuyến khích. Ban tổ chức cuộc thi bình luận: “Bức ảnh khiến bạn thực sự thấy rằng chương trình tài chính có thể giúp cuộc sống của bạn trở nên tốt hơn”. Ảnh: Trần Văn Túy

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Buổi sáng” của tác giả Đỗ Hiếu Liêm, Việt Nam, đoạt giải khuyến khích. CGAP cho biết, khoảng 10% dân số thế giới sống dựa vào nghề đánh bắt, sản xuất thuỷ sản và hải sản. Ở Việt Nam, công việc này mang lại một nguồn thu nhập đáng kể. Ảnh: Đỗ Hiếu Lâm

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Ngô Quang Phúc, một nhiếp ảnh gia Việt Nam, giành giải khuyến khích với bức ảnh những người làm nghề đẩy xiệp tại thị trấn ven biển Bạc Liêu. Dù lao động rất vất vả, thu nhập của họ rất thấp. Ảnh: Ngô Quang Phúc

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Trồng lúa” của tác giả Sujan Sarkar, Ấn Độ, đoạt giải thưởng cao nhất của cuộc thi. Nó mô tả cảnh một gia đình làm việc trên ruộng lúa ở Tây Bengal, Ấn Độ. Corinne Dufka, một thành viên của ban tổ chức cuộc thi, nhận định, bức ảnh miêu tả thành công một hoạt động nông nghiệp. Ảnh: Sujan Sarkar

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Tác phẩm “Làm việc trên núi” của tác giả Tatiana Sharapova, Nga, khắc họa một bà lão người làm việc tại một cánh đồng trên núi ở Ấn Độ. Bà trồng rau để bán ở chợ. Ảnh: Tatiana Sharapova

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Giải nhì của cuộc thi thuộc về nhiếp ảnh gia Li Ming Cao của Trung Quốc với bức ảnh ngư dân quăng lưới đánh cá vào sáng sớm. Sau đó, ông lão bán cá ở chợ để kiếm tiền. Ảnh: Li Ming Cao

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

M.Yousuf Tushar, nhiếp ảnh gia người Bangladesh, giành giải khuyến khích khi chụp một người đàn ông làm hạt trầu để bán tại khu vực Teknaf, Bangladesh. Ảnh: .Yousuf Tushar

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Người đoạt giải cao nhất trong hạng mục khu vực Đông Âu và Trung Á thuộc về tác giả Bulent Suberk, Thổ Nhĩ Kỳ, với tác phẩm “Cà chua”. Ảnh mô tả một gia đình nông dân ở làng Bursa Aksu, Thổ Nhĩ Kỳ đang làm bột cà chua. Ảnh: Bulent Suberk

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Hailey Tucker, một công dân Mỹ, giành giải nhất trong hạng mục khu vực châu Phi cận sa mạc Sahara với bức ảnh người nông dân thu hoạch ngô tại Tanzania. Ảnh: Hailey Tucker

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Người phụ nữ trong ảnh đang phơi khô nguyên liệu làm mũ Panama ở Ecuador. Ảnh: Luis Sanchez Davilla

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Bức ảnh một chàng trai trẻ làm việc cùng cha trong một cửa hàng của Subhasis Sen, một người Ấn Độ, đoạt giải khuyến khích. Ảnh: Subhasis Sen

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Ảnh “Chăn gia súc vào buổi sáng” của Li Ming Cao tại Trung Quốc đoạt giải khuyến khích. Ảnh: Li Ming Cao 

 5 tác ph©m ViÇt Nam o¡t gi£i cuÙc thi £nh quÑc t¿

Trong tác phẩm đoạt giải ba của nhiếp ảnh gia Pranab Basak, Ấn Độ, một thiếu nữ đang giúp cha sản xuất đồ gốm. Ảnh: Pranab Basak

 

Xu hướng gia tăng việc chống người thi hành công vụ ở VN

Xu hướng gia tăng việc chống người thi hành công vụ ở VN

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2016-01-02

000_Hkg8090526-622.jpg

Công an đàn áp người biểu tình chống TQ ở Hà Nội hồi năm 2012.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Tình trạng chống người thi hành công vụ đang diễn ra phổ biến ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước và có xu hướng gia tăng phức tạp. Nguyên nhân do đâu và cần giải pháp nào để giảm bớt tình trạng này?

Nguyên nhân

Gần đây ở Việt Nam, tình trạng chống lại người thi hành công vụ đang có xu hướng gia tăng, với các hành vi chống đối ngày càng manh động, liều lĩnh, thể hiện sự coi thường pháp luật và kỷ cương xã hội của một bộ phận người dân.

Theo báo cáo của Chính phủ về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, tình trạng chống người thi hành công vụ, nhất là chống lại lực lượng công an ngày càng gia tăng. Đã xảy ra 922 vụ chống người thi hành công vụ, trong đó 673 vụ chống lại lực lượng công an.

Một nhân viên cảnh sát giao thông ở Hà nội, yêu cầu dấu danh tính cho biết:

“ Tình trạng chống người thi hành công vụ hiện nay ở Việt Nam đang có xu hướng gia tăng, nó thường xảy ra trong các lĩnh vực buôn lậu, buôn hàng cấm, giao thông đường bộ, đường thủy, hay việc khai thác tài nguyên khoáng sản và thu hồi đất đai. Với mức độ hết sức nghiêm trọng và xảy ra ở hầu hết các địa phương.
-LS Hà Huy Sơn”

“Trong thời gian qua, trong quá trình tuần tra kiểm soát của lực lượng CSGT đã gặp rất nhiều đối tượng tham gia giao thông nhưng không chấp hành hiệu lệnh của cảnh sát. Thậm chí có những hành vi chống lại lực lượng cảnh sát.”

Đánh giá về tình trạng chống người thi hành công vụ hiện nay, từ Hà nội LS Hà Huy Sơn – Giám đốc Cty Luật TNHH Hà Sơn nói với chúng tôi:

“Tình trạng chống người thi hành công vụ hiện nay ở Việt Nam đang có xu hướng gia tăng, nó thường xảy ra trong các lĩnh vực buôn lậu, buôn hàng cấm, giao thông đường bộ, đường thủy, hay việc khai thác tài nguyên khoáng sản và thu hồi đất đai. Với mức độ hết sức nghiêm trọng và xảy ra ở hầu hết các địa phương.”

Theo báo Pháp luật online cho biết, ngày 28/12/2015,  phát biểu tại phiên họp trực tuyến Chính phủ và các địa phương, Đại tướng Trần Đại Quang – Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, năm 2015 riêng trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông đã xảy ra 37 vụ chống CSGT khiến 9 cảnh sát bị thương, còn tính trong 5 năm (2011-2015) thì có 231 vụ khiến 1 CSGT hy sinh, 76 bị thương.

Bình luận về tình trạng chống người thi hành công vụ đang có xu hướng gia tăng hiện nay, ông Mai Dũng, một nhà hoạt động xã hội ở Hà nội nhận xét:

“Theo tôi nghĩ điều đó hoàn toàn phù hợp với logic, tình trạng chống người thi hành công vụ đang diễn ra khá nghiêm trọng. Trong điều kiện những người thi hành công vụ tỏ ra bất chấp pháp luật, còn người dân thì mất niềm tin, dù rằng họ vẫn sợ. Nhưng số có hiểu biết thì họ đã vượt qua được nỗi sợ hãi, thì họ chấp nhận đối kháng và họ sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro.”

Khi được hỏi, nguyên nhân do đâu đã khiến tính trạng chống người thi hành công vụ trở nên hết sức phổ biến?

000_Hkg5086113-600.jpg

Một vụ công an cưỡng chế nhà ở Hà Nội. Ảnh minh họa.

Có rất nhiều nguyên nhân và nhiều lý do khác nhau dẫn đến việc người dân bức xúc hay phẫn uất, song thái độ của nhân viên công vụ là nguyên nhân trực tiếp nhất. LS Hà Huy Sơn nhận định:

“Do đời sống người dân hết sức khó khăn, họ bị dồn vào con đường cùng quẫn. Thứ 2 là sự bất công, thiếu công bằng khi mà pháp luật chỉ phục vụ cho một nhóm người mà không phục vụ cho toàn xã hội. Nhiều người có quyền lực trong bộ máy nhà nước đã sử dụng quyền lực để phục vụ lợi ích của cá nhân, vì thế người dân đã phản ứng và chống lại lực lượng thi hành công vụ.”

Giải thích về các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, về các quy định xử phạt đối với hành vi chống người thi hành công vụ, LS Hà Huy Sơn cho biết: Điều 257 BLHS về tội chống người thi hành công vụ quy định: người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Nếu phạm tội có tổ chức; phạm tội nhiều lần; gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. LS Hà Huy Sơn tiếp lời:

“Khi chưa đến mức độ phải xử lý hình sự thì người ta sẽ tiến hành xử phạt hành chính, hoặc là phạt tiền, tịch thu tang vật và phương tiện. Về mặt xử lý hình sự thì tại điều 257 của Bộ Luật hình sự đã quy định rõ: người nào sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác để cản trở hoặc ép buộc người thi hành công vụ thực hiện các hành vi trái pháp luật.”

Giải pháp

Nói về các giải pháp nhằm hạn chế và giảm thiểu tình trạng chống người thi hành công vụ. LS Hà Huy Sơn đề xuất:

“ Một mặt thì chính quyền gia tăng đàn áp để đe dọa nhằm làm cho sự sợ hãi của dân chúng tăng lên. Nhưng trong một xã hội vô pháp như hiện nay thì người dân đã hết sợ hãi rồi, cho nên để giải quyết vấn đề này sẽ hết sức bế tắc. Do vậy, nếu muốn xã hội ổn định thì họ phải chấm dứt việc đàn áp.
-Ông Mai Dũng”

“Nhà nước Việt Nam phải quản lý nhà nước trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ các giá trị phổ quát của thế giới, như tôn trọng quyền công dân, tôn trọng nhân quyền. Việt Nam phải xây dựng một nhà nước pháp quyền, để có sự cân bằng giữa 3 cơ quan quyền lực, khi đó công lý mới có thể được đảm bảo và nó mới tránh được cái tình trạng như hiện nay, đó là pháp luật chỉ bênh vực cho một nhóm người thay vì toàn xã hội. Muốn thế phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ đất nước của người dân, phải có bầu cử, ứng cử tự do và thực sự.”

Theo báo Lao động online, ThS. Luật học Văn Khắc Hùng, cho rằng để hạn chế tình trạng chống người thi hành công vụ, thì ngay trong lực lượng cảnh sát, nhất là cảnh sát giao thông cũng phải thực hiện nhiều biện pháp điều chỉnh hành vi, tác phong, cách thức giao tiếp, ứng xử để có những kỹ năng giải quyết mâu thuẫn giữa người thực thi pháp luật và người vi phạm, để giảm thiểu nguy cơ gây ức chế, tránh xảy ra các hành vi chống đối.

Nguyên nhân gốc rễ của vấn đề này là do, chính sách pháp luật cũng như cách hành xử của nhân viên công vụ mang tính chất đàn áp, hòng làm cho sự sợ hãi của dân chúng tăng lên. Ông Mai Dũng khẳng định:

“Một mặt thì chính quyền gia tăng đàn áp để đe dọa nhằm làm cho sự sợ hãi của dân chúng tăng lên. Nhưng trong một xã hội vô pháp như hiện nay thì người dân đã hết sợ hãi rồi, cho nên để giải quyết vấn đề này sẽ hết sức bế tắc. Do vậy, nếu muốn xã hội ổn định thì họ phải chấm dứt việc đàn áp.”

Theo báo Pháp luật online cho biết, tình trạng chống người thi hành công vụ không chỉ trở thành nỗi lo thường trực đối với lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ, mà còn thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật và trật tự xã hội của người dân. Việc tấn công nhà ở của các quan chức, như vụ nổ mìn sập nhà Giám đốc Công an Thái nguyên cách đây chưa lâu, hay việc nhà phó trưởng công an Phủ lý bị xả đạn mới đây đã cho thấy điều đó.

Việt Nam không thể có Than Shwe, Thein Sein

Việt Nam không thể có Than Shwe, Thein Sein
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Than Shwe là vị tướng đã dám thí nghiệm dân chủ hóa nhằm thay thế chế độ độc tài quân phiệt ở Myanmar với một “lộ trình dân chủ.” Dân chúng được bỏ phiếu bầu Quốc Hội, Quốc Hội bầu tổng thống, vân vân, ít nhất là dân chủ trên hình thức. Tướng Thein Sein đắc cử tổng thống đã tiến thêm một bước thứ hai, thêm một nội dung: Trả lại các quyền tự do căn bản cho dân Miến Ðiện, cho phép đảng đối lập hoạt động và tranh cử. Sau cuộc bầu cử tự do và trong sạch ở Myanmar trong Tháng Mười Một năm 2015, mà đảng đối lập chiếm đa số cao, nhiều người Việt tự hỏi liệu có một Than Shwe hay Thein Sein ở nước ta hay không?

Xin trả lời ngay rằng: Rất khó. Chuyện gì cũng có thể xảy ra, nhưng xác suất để một nhân vật như Than Shwe hay Thein Sein xuất hiện trong đời sống chính trị Việt Nam rất thấp, dưới 10%, có thể dưới 3%.

Một chế độ độc tài chuyển sang dân chủ hóa thường xảy ra do ba động cơ. Có khi chế độ cũ sụp đổ do nguyên nhân từ bên ngoài. Dân Bồ Ðào Nha nổi lên đòi dân chủ sau khi thất trận ở Angola, các sĩ quan cấp tá đảo chính để tiến đến dân chủ hóa. Các cuộc Cách Mạng Mầu Cam và Mùa Xuân Á Rập do ảnh hưởng từ các nước láng giềng. Nhiều chế độ độc tài tan vỡ sau khi nhân dân nổi lên, như ở Phi Luật Tân, ở Ðài Loan và Nam Hàn. Và có những cuộc chuyển hóa diễn ra nhờ sự thỏa hiệp giữa chính quyền độc tài và các thế lực đối nghịch. Ba Lan, Tiệp Khắc, Chile, Brazil, Argentina đã đi theo con đường đó. Ba hình thái chuyển đổi này có thể trộn lẫn với nhau.

Myanmar là một trường hợp đặc biệt. Có một chút áp lực từ bên ngoài, là hành động cấm vận của các nước Tây phương và âm mưu thao túng của Trung Cộng làm dân Miến nổi giận. Dân bất mãn biểu tình năm này sang năm khác tạo thêm chút áp lực từ bên trong. Chính quyền quân phiệt đã trả tự do cho dân và thương thuyết với bà Aung San Suu Kyi để Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ (NLD) tham gia tranh cử, khởi động quá trình dân chủ hóa. Nhưng những áp lực bên trong cũng như bên ngoài thực ra chưa đủ mạnh khiến các tướng lãnh chịu thay đổi. Cuộc thỏa hiệp cũng diễn ra một chiều, vì khi Thein Sein gặp Suu Kyi thì phía đối lập trong thực tế không có gì để trao đổi cả.

Bà Suu Kyi đã khôn ngoan chấp nhận những nhượng bộ nhỏ nhất, Liên Minh NLD đưa người ra tranh cử trong một cuộc bỏ phiếu bổ túc chỉ chọn một số nhỏ, 40 người trong số các đại biểu Quốc Hội. Tiến trình dân chủ hóa được thực hiện nhờ Thein Sein và Than Shwe đã thuyết phục Suu Kyi tin rằng họ thực tâm muốn thay đổi. Niềm tin này có được là nhờ yếu tố văn hóa: Người Miến Ðiện tin nhau, tin rằng họ đều yêu nước, tin không người Miến nào chịu làm tay sai cho ngoại bang. Người Miến nào cũng nhớ lịch sử, vua Càn Long nhà Thanh đã từng xâm lăng Miến Ðiện hai lần chỉ để độc chiếm quyền khai thác các mỏ đá quý và ngọc, và ông ta đã thất bại. Giới lãnh đạo quân phiệt Miến Ðiện không bị ràng buộc với Trung Cộng vì một chủ nghĩa, một lý thuyết nào. Những người Miến Ðiện này có thể tin nhau được; vì sau khi quan sát các hành động, cách ứng xử của nhau, họ biết rằng tất cả vẫn cùng chia sẻ một niềm tin vào luật nhân quả; tất cả vẫn sống theo các quy tắc đạo lý chung: Tự giải thoát khỏi ba chất độc Tham, Sân và Si; đặt công ích lên trên tư lợi.

Có thể nói ngay rằng yếu tố văn hóa “Niềm Tin” này chưa thấy hy vọng được thể hiện ở nước ta trong hoàn cảnh hiện nay. Không phải vì người Việt Nam vốn không tin nhau, dân mình không đến nỗi tệ như vậy. Nhưng vì môi trường chính trị nước ta đã bị nhiễm độc sau hơn nửa thế kỷ mọi người phải sống trong không khí dối trá, với một chính quyền dùng bạo lực và dối trá như hai phương tiện cai trị quan trọng nhất. Và tới giờ họ vẫn tiếp tục như vậy.

Nhưng liệu ở nước ta có thể xuất hiện những người như Than Shwe, Thein Sein hay không?

Như đã trình bày trong bài trước, giới lãnh đạo quân phiệt ở Myanmar đã chấp nhận thay đổi khi Tướng Than Shwe còn nắm quyền, năm 2003 ông ta phát khởi bảy bước dân chủ hóa trên hình thức. Thein Sein là người được chọn để thi hành bước kế tiếp, trả lại các quyền tự do căn bản cho dân Miến. Quá trình này không phải chỉ nhờ vào hai vị tướng lãnh đó muốn mà chắc chắn phải được các tướng lãnh khác đồng ý. Một điều chúng ta phải chú ý là trong 12 năm qua không có một tướng lãnh nào tỏ ý phản đối lộ trình của Than Shwe. Nhất là trong ba năm qua Thein Sein và Suu Kyi có thể cùng tiến từng bước một mà “thái thượng hoàng” Than Shwe cũng như các tướng lãnh khác không một người nào can thiệp để ngăn cản. Sau cuộc bỏ phiếu ngày 8 Tháng Mười Một vừa qua, tất cả những người đang nắm thực quyền, từ tổng thống đến chủ tịch Quốc Hội và vị tướng tổng chỉ huy quân đội, đều công khai chấp nhận kết quả là đảng NLD đã toàn thắng. Ông Than Shwe còn gặp bà Suu Kyi để sau đó nói rõ ràng là bà xứng đáng lãnh đạo đất nước.

Liệu đảng Cộng Sản Việt Nam có thể hành động như nhóm tướng lãnh quân phiệt ở Myanmar hay không?

Ðiều này rất khó, vì hai nhóm người này khác nhau nhiều quá.

Các tướng lãnh Miến Ðiện cướp chính quyền năm 1962 vì họ không tin vào chế độ dân chủ, vì muốn giúp nước chứ không phải vì muốn thực hiện một thứ chủ nghĩa nào cả. Tướng Newin công bố theo “chủ nghĩa xã hội” vì ông tin đó là một phương tiện tốt nhất để phát triển. Ông ta chỉ theo thời thế, lúc đó tầng lớp lãnh đạo ở các nước nghèo đều mơ mộng như vậy, Ấn Ðộ, Ai Cập, Indoneisia, Cuba, vân vân. Mục đích của họ vẫn là giúp nước, khi thấy phương tiện không hữu ích thì sẵn sàng bỏ đi. Các chế độ quân phiệt dễ được chuyển hóa vì họ đặt quyền lợi tổ quốc và nhân dân trên cao hơn tất cả các phương tiện, trong đó có thể chế chính trị và phương pháp tổ chức kinh tế.

Ðảng Cộng Sản thì khác. Họ tin chủ nghĩa Marx-Lenin như tin một tôn giáo; Stalin đã biến phong trào Cộng Sản thành một thứ “giáo hội” để dễ thao túng. Ðối với một người sùng tín thì niềm tin của họ quan trọng hơn các giá trị thế tục, trong đó có cả những khái niệm như quốc gia và “Tổ quốc.” Biết người Việt nào cũng yêu nước, đảng Cộng Sản đã hô hào bắt dân phải yêu “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” chứ không phải yêu Tổ quốc nào cũng được. Chủ nghĩa Xã Hội là cứu cánh. Ngay từ căn bản đó, người Cộng Sản không thể hành động giống như các tướng lãnh quân phiệt.

Ngày nay, các đảng viên Cộng Sản cũng không còn tin vào chủ nghĩa của họ nữa. Nhưng họ vẫn cố bám lấy nhãn hiệu đó để biện minh tại sao họ phải duy trì chế độ độc tài chuyên chế. Bỏ độc quyền chuyên chế tức là bỏ chủ nghĩa Lenin, một phương cách thực hiện chủ nghĩa Marx. Ðường lối này lại rất ích lợi cho họ trong thực tế, vì những người cầm đầu đảng đã trở thành một khối quyền lợi riêng vĩ đại, cần cấu kết với nhau để bảo vệ các quyền lợi đó. Ðề cao chủ nghĩa Marx-Lenin là thủ đoạn cần thiết để duy trì guồng máy thống trị, tiếp tục hưởng các đặc quyền đặc lợi.

Các tướng lãnh ở Myanmar tự bản chất đã có địa vị trong xã hội. Dù theo thể chế chính trị nào thì nước họ vẫn cần có quân đội, nhất là ở một quốc gia luôn luôn bị đe dọa có nội chiến, với những nhóm chủng tộc khác nhau, đã từng chống lại chính quyền trung ương trong nhiều thế kỷ. Quyền của các tướng lãnh là do cấp bậc mà có, không ai phủ nhận được. Những lãnh tụ quân phiệt biết rằng dù quyền lợi của họ có giảm đi nhưng vẫn còn đó, thay đổi thể chế là một hy sinh có thể chấp nhận được.

Ngược lại, các lãnh tụ Cộng Sản, và ngay cả các cán bộ, đảng viên trung cấp, biết rằng chính họ không có một địa vị xã hội nào ở bên ngoài cái guồng máy đã áp đặt trên cả xã hội cho phép họ thao túng. Ðịa vị và tài sản của họ đều nhờ guồng máy đó mà đạt được. Trong các chế độ Cộng Sản, nghỉ hưu nghĩa là mất địa vị, mất quyền lợi. Các lãnh tụ còn giữ được chút quyền và hưởng chút lợi chỉ nhờ đã giỏi gài đặt đàn em cùng phe cánh thừa kế, sẵn sàng chia sẻ cho. Nhưng muốn vậy, điều kiện quan trọng nhất là chế độ vẫn tồn tại, nếu không sẽ mất hết.

Hơn nữa, tại Myanmar các nhân vật như Than Shwe và Thein Sein vẫn được các tướng lãnh khác kính trọng, họ sẵn sàng đi theo các thủ lãnh trên đường dân chủ hóa. Họ bảo được nhau, hòa thuận với nhau. Ở Myanmar nền luân lý cổ truyền vẫn còn mạnh, con người ăn ở với nhau bằng những quy tắc luân lý ai cũng tin theo. Ðảng Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn khác. Họ đã xóa bỏ các quy tắc luân lý cũ trong suốt 80 năm qua; quy tắc luân lý cao nhất được Hồ Chí Minh đề ra là “tuân theo lệnh đảng.” Giờ đây các lãnh tụ đang “chửi bới” nhau như hàng tôm hàng cá, cạn tàu ráo máng. Nếu không vì quyền lợi liên kết, dứt nhau ra là nguy, chắc họ có thể giết nhau rồi. Bất cứ ai muốn trở thành Than Shwe hay Thein Sein ở Việt Nam cũng sẽ bị cả khối người đang hưởng các các đặc quyền đặc lợi chống đến cùng. Vì vậy, xác suất để cho Than Shwe hay Thein Sein xuất hiện có thể chỉ dưới 2%, 3%.

Nhưng dù có người muốn đóng vai Than Shwe hay Thein Sein ở nước ta thì con đường dân chủ hóa vẫn còn khó. Bởi vì cho tới nay cả nước không có một Aung San Suu Kyi và một Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ.

Cuộc vận động dân chủ hóa không thể từ trên ban xuống mà thành, cần phải được thúc đẩy bởi những động lực từ dưới dâng lên. Muốn vậy, người Việt Nam cần một cuộc vận động đòi tự do dân chủ khắp nơi, trong tất cả các tầng lớp xã hội, để kết tụ thành một phong trào có thế mạnh và có thực chất. Nhiều nhóm người yêu nước và tỉnh thức đã bắt đầu trong hai chục năm qua. Tấm gương Myanmar có thể giúp dân Việt Nam thêm hăng hái tiến hành cuộc vận động này nhanh hơn.

Hy vọng hòa bình vừa loé lên tại Syria

Hy vọng hòa bình vừa loé lên tại Syria

Đặng Tự Do

Hôm thứ Hai 28 tháng 12, khoảng 450 chiến binh người Syria và gia đình của họ đã được di tản khỏi hai khu vực bị bao vây nhờ những thỏa thuận do Liên Hợp Quốc đứng ra làm trung gian.

 
Những người di tản được đón tiếp tại Beirut

Diễn biến này hy vọng có thể là một bước ngoặt cho một hiệp ước hòa bình rộng lớn hơn trong cuộc nội chiến đã kéo dài sang đến năm thứ 5 tại nước này.

330 chiến binh Hồi Giáo Shi’ite và thường dân trong hai thị trấn ủng hộ chính phủ ở tây bắc Syria đã được đưa an toàn tới sân bay Beirut của Li Băng. Hàng trăm ủng hộ viên Hezbollah đốt pháo hoa để ăn mừng diễn biến này. Những người được di tản đã khóc vì mừng rỡ trong khi ngồi trên những chiếc xe bus cố căng mắt nhìn xem có gặp được những người thân trong đám đông đang nồng nhiệt chào đón họ.

Việc di tản đã diễn ra an toàn theo một thỏa thuận của Liên Hiệp Quốc được sự bảo trợ và trung gian bởi các cường quốc khu vực. Đây là một phần trong nỗ lực của Liên Hiệp Quốc nhằm thiết lập lệnh ngừng bắn và đi lại an toàn.

Trong khi đó, một chiếc máy bay khác chở 126 chiến binh nổi dậy người Hồi giáo Sunni đã từng bị quân chính phủ Syria bao vây trong thị trấn Zabadani gần biên giới với Li Băng. Máy bay đã hạ cánh tại sân bay Hatay ở miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ.

Đổi lại với việc cho phép quân nổi dậy được ra đi an toàn, chính phủ của Tổng thống Bashar al-Assad được khôi phục lại quyền kiểm soát các khu vực đã nằm trong tay phiến quân trong bốn năm qua.

Zabadani đã từng là một thành phố nghỉ mát nổi tiếng của Syria. Thành phố này hiện nay chỉ còn là một đống đổ nát.

KITÔ GIÁO TẠI HÀN QUỐC

KITÔ GIÁO TẠI HÀN QUỐC

Tác giả:  Phan Vĩnh Tâm (lược dịch)

Năm 2016, chủ đề mục vụ của Giáo hội Việt Nam là “Tân phúc âm hóa đời sống xã hội”. Để có một cái nhìn cụ thể về việc này, xin giới thiệu mục từ “Kitô giáo tại Hàn Quốc” của từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, bản Anh ngữ, do Phan Vĩnh Tâm lược dịch. (Xin xem toàn bài bằng tiếng Anh và các chú thích tại https://en.wikipedia.org/wiki/Christianity_in_Korea )
Kitô giáo hiện diện tại Hàn Quốc xoay quanh hai chi nhánh lớn nhất là Tin lành và Công giáo, Tin lành chiếm 8,6 triệu [1] [2] và Công giáo 5,3 triệu [3]. Công giáo La Mã du nhập cuối thời triều đại Joseon. Vào năm 1603, Yi Gwang-jeong, nhà ngoại giao Hàn Quốc, từ Bắc Kinh trở về mang nhiều sách thần học của Matteo Ricci, một nhà truyền giáo dòng Tên đến Trung Quốc. [4] Ông phổ biến các thông tin trong sách và gieo những hạt giống đầu tiên của Kitô giáo trên đất Hàn. Năm 1758 vua Yeongjo của Joseon chính thức cấm đạo Công giáo, nhưng rồi một lần nữa, năm 1785, lại  được Yi Seung-hun cổ xúy.

Các Kitô hữu Hàn Quốc là đối tượng để đàn áp và gian khổ. [5] Nhiều người đã chịu tử đạo, đặc biệt là trong cuộc bách hại năm 1801 và sau đó. Giới quý tộc Joseon xem tôn giáo mới như một ảnh hưởng đưa tới lật đổ cho nên đã sớm bắt bớ những người theo đạo này, mà đỉnh cao là cuộc bách hại năm 1866, trong đó 8.000 người Công giáo trên khắp đất nước đã bị thiệt mạng, kể cả chín nhà truyền giáo Pháp. Việc Hàn Quốc mở cửa với thế giới bên ngoài trong những năm tiếp theo đem lại sự khoan dung tôn giáo cho những người Công giáo còn lại và đưa đạo Tin lành vào. Các nhà thờ Tin lành đầu tiên ở Hàn Quốc được Suh Sang-ryun thành lập và nhà truyền giáo Tin Lành đầu tiên vào Hàn Quốc là Horace Newton Allen, năm 1884. Horace Allen là một nhà truyền giáo hệ phái Presbyterian và là nhà ngoại giao Bắc Mỹ. Ông ở Hàn Quốc cho đến năm 1890, được nhiều người hỗ trợ. [6]

Vào năm 1945 cả hai hệ phái (Công giáo và Tin Lành) chiếm khoảng 2% dân số. Sau đó họ tăng trưởng rất nhanh: năm 1991, 18,4% dân số (8,0 triệu) là Tin Lành, và 6,7% (2,5 triệu) là Công giáo [7] Giáo Hội Công Giáo đã gia tăng thêm 70% trong vòng mười năm qua. [8] Anh Giáo ở Hàn Quốc cũng đã tăng trưởng đáng kể trong những thập kỷ gần đây…

Các Kitô hữu đã có ảnh hưởng quyết định trên nền giáo dục với 293 trường học và 40 trường đại học do họ điều hành, kể cả 3 trong số 5 tổ chức học thuật thế giá nhất. [9] Tin lành được coi là tôn giáo của tầng lớp trung lưu, thanh niên, trí thức và dân thành thị, và là nội lực giúp Hàn Quốc theo đuổi việc hiện đại hóa và chạy đua với Hoa Kỳ. [10] [11] Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự phát triển của đạo Tin lành đã chậm lại, có lẽ do những vụ bê bối liên quan đến lãnh đạo giáo hội và vì xung đột giữa các giáo phái do quá hăng say trong việc truyền giáo. [12]

Tính đến năm 2014, khoảng 30% dân số Hàn Quốc khai rõ mình là Kitô hữu. [13]

Ý NGHĨA VĂN HÓA

Nhà nghiên cứu Grayson cho rằng đạo Tin lành đã là một lực lượng năng động trong cuộc sống của Hàn Quốc, và đã có một tác động tích cực đối với các tôn giáo khác. Nó đã tạo nên một cuộc chạy đua năng động khiến người Công giáo và Phật giáo phải cạnh tranh, cũng như tạo cảm hứng cho rất nhiều hệ phái nhỏ hơn. Các hệ phái này đã tiếp nhận nhiều phương thức mà những người Tin Lành đã đi tiên phong.

Trước chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), hai phần ba Tin Lành Hàn Quốc sống ở miền Bắc, nhưng sau đó hầu hết chạy trốn vào Nam. Người ta không biết chính xác có bao nhiêu Kitô hữu hiện còn ở Bắc Triều Tiên. Được biết, vào cuối những năm 1960 đã có khoảng một triệu người Tin Lành ở Hàn Quốc, nhưng trong quá trình giai đoạn bùng nổ kết thúc vào năm 1980, số người Tin Lành tăng nhanh hơn so với bất kỳ quốc gia nào khác. Năm 2005 điều tra dân số của Hàn Quốc cho thấy 29,2 phần trăm dân số là Ki tô hữu, tăng từ 26,3 phần trăm của mười năm trước đó. [14] Các Hội thánh Presbyterian là những hệ phái Tin Lành lớn nhất tại Hàn Quốc, với gần 20.000 nhà thờ liên kết thành hai hệ phái Presbyterian lớn nhất trong đất nước. [15]

Hàn Quốc hiện đang cung cấp số lượng nhà truyền giáo Kitô lớn thứ hai trên thế giới, qua mặt cả Hoa Kỳ. [16] GMS, lực lượng truyền giáo chính của Giáo hội Presbyterian Hàn Quốc, là tổ chức truyền giáo lớn nhất Hàn Quốc. [17] [18] Các nhà truyền giáo Hàn Quốc đặc biệt nổi bật ở các quốc gia vùng “Cửa số 10/40” (Bắc vĩ tuyến 10/ Đông kinh tuyến 40) vốn ít thiện cảm với người phương Tây. Trong năm 2000, đã có 10.646 nhà truyền giáo Tin Lành Hàn Quốc ở 156 quốc gia, cùng với một số các nhà truyền giáo Công giáo tương ứng. Một bài báo năm 2004 cho biết “Theo các tổ chức truyền giáo ở Hàn Quốc và phương Tây, Hàn Quốc đã cử hơn 12.000 người truyền giáo đến hơn 160 quốc gia so với khoảng 46.000 nhà truyền giáo người Mỹ và 6.000 nhà truyền giáo người Anh”. [19] Theo một bài báo năm 2007 “Hàn Quốc có 16.000 nhà truyền giáo đang làm việc ở nước ngoài, chỉ đứng sau Mỹ”. [20] Năm 1980, Hàn Quốc gửi đi chỉ mới 93 nhà truyền giáo nhưng vào năm 2009 đã lên đến khoảng 20.000 người. [16] [21] [22] [23]

Seoul có 11 trong số 12 Cộng đồng Kitô giáo (Tin lành) lớn nhất trên thế giới.  Một số Kitô hữu Hàn Quốc, trong đó có David Yonggi Cho, mục sư cấp cao của Giáo Hội Yoido Full Gospel, đã nổi danh trên toàn thế giới. Aaron Tân, giám đốc của công ty kiến ​​trúc Hồng Kông mang tên “Nghiên cứu Thiết kế kiến ​​trúc”, mô tả rằng về đêm Seoul rực sáng “tràn ngập những thập giá Kitô giáo “. [24]

GIÁO DÂN ĐỨNG HÀNG ĐẦU

… Kitô giáo tại Hàn Quốc đã bắt đầu như một phong trào giáo dân bản địa chứ không do một nhà truyền giáo nước ngoài đưa tới. Nhà nguyện Công giáo đầu tiên tại Seoul được Yi Seung-hun, một nhà ngoại giao đã lãnh bí tích rửa tội tại Bắc Kinh, thành lập năm 1784. [29] Năm 1786, ông Yi xúc tiến thành lập một hệ thống giáo phẩm giáo dân [30], nhưng năm 1789 Vatican phán quyết rằng việc bổ nhiệm tư tế giáo dân như thế không hợp Giáo luật. Kitô giáo đã khởi đầu rộng khắp tại Hàn Quốc do nỗ lực của thường dân, cho nên nó lây lan trong dân chúng nhanh hơn là nếu nó bắt nguồn từ người ngoài mà không được sự hỗ trợ của dân chúng từ đầu.

MẪU TỰ HÀN, XÓA MÙ CHỮ VÀ GIÁO DỤC

Hangul là hệ thống chữ quốc ngữ của người Hàn, với một bảng chữ cái để ký âm tiếng Hàn, được phát minh khoảng năm 1.446 do các học giả của triều đình Sejong Đại đế, [31] [32]. Do ảnh hưởng áp đảo của học thuật cổ điển Trung Quốc (chiếm một vị trí tương tự như tiếng Latin ở châu Âu ) suốt nhiều thế kỷ thứ chữ quốc ngữ này rất ít được dùng đến. Giáo Hội Công Giáo là tổ chức Hàn Quốc đầu tiên chính thức lấy chữ quốc ngữ của Hàn làm công cụ ưu tiên. Đức Giám mục Siméon-François Berneux buộc phải dạy cho tất cả trẻ em Công giáo biết đọc nó. [31] [33] Sách vở Kitô giáo in để dùng tại Hàn Quốc, kể cả những sách vở được dùng trong các trường do các giáo sĩ Kitô giáo thành lập, chủ yếu đều dùng Hàn ngữ với bảng chữ cái dễ học của quốc ngữ Hàn. Các nhân tố ấy kết hợp với nhau khiến tỷ lệ số người biết chữ tăng nhanh, và khiến giáo lý Kitô giáo lan rộng vượt khỏi tầng lớp trí thức vốn chuyên dùng chữ Hán. Đầu thập niên 1780, các phần của sách Tin Mừng đã được xuất bản bằng quốc ngữ Hàn; sách giáo lý “Jugyo Yoji” (Giáo huấn căn bản của Chúa) được xuất bản vào những năm 1790 và một quyển thánh ca Công Giáo đã được in vào khoảng năm 1800.

John Ross, một nhà truyền giáo Presbyterian người Scotland có trụ sở tại Thẩm Dương, đã hoàn thành việc dịch Kinh Thánh sang sang tiếng Hàn vào năm 1887 [34] và các vị lãnh đạo Tin lành đã phát hành một khối lượng lớn bản dịch này. Họ cũng đã thành lập những cơ sở giáo dục hiện đại đầu tiên tại Hàn Quốc. [35] Trường Paichai của hệ phái Methodist dành cho nam sinh được thành lập năm 1885, rồi trường Ewha Methodist dành cho nữ sinh (sau này trở thành Đại học nữ giới Ewha) vào năm 1886. Những trường ấy, và những trường tương tự được thành lập tiếp sau đó, đã giúp đạo Tin Lành lan rộng trong tầng lớp dân thường, và người Tin lành đã qua mặt người Công giáo, trở thành nhóm Kitô giáo lớn nhất tại Hàn Quốc. Trước kia phụ nữ không được đến trường nhưng giờ đây số phụ nữ biết chữ đã tăng vọt. [36]

KITÔ GIÁO DƯỚI THỜI HÀN QUỐC BỊ NHẬT BẢN CHIẾM ĐÓNG, 1910-1945

Nhật đã xâm chiếm Hàn quốc năm 1910. Với chế độ cảnh sát trị, họ đã tìm cách giảm thiểu ảnh hưởng của các nhà truyền giáo, đưa tới một hệ quả đáng buồn trong những năm 1911-1919. Những tuyên bố lý tưởng của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã góp phần làm cho tinh thần quốc gia của người Hàn tăng mạnh trong những năm 1920, nhưng rồi họ vỡ mộng khi phong trào bị thất bại không đạt được một cải cách có ý nghĩa. Năm 1924, người Tin Lành thành lập Hội đồng Kitô  giáo Toàn quốc Hàn để điều phối hoạt động bằng cách chia thành các khu vực được phân công cụ thể cho các hệ phái Tin Lành khác nhau. Tin Lành Hàn Quốc cũng thành lập những nhóm truyền giáo cho người Hàn hải ngoại, cách riêng là ở Trung Quốc.

Kitô giáo tăng trưởng đều đặn, vào giữa những năm 1930, dân số Công giáo đạt tới 147.000, và Tin Lành 168.000. Những căn cứ lớn cho cả hai nhóm đều ở phía Bắc. Vào năm 1937, Giáo Hội Presbyterian của Hàn Quốc đã khá độc lập với sự hỗ trợ tài chính từ Hoa Kỳ; năm 1934 Giáo Hội Methodist đã trở thành tự trị và chọn một giám mục Hàn Quốc. Các nhà truyền giáo tích cực nhất bên phía Công giáo là các tu sĩ dòng Maryknoll, đã mở trường y khoa Maryknoll tại Pusan ​​năm 1964; nay là Đại học Công giáo Pusan. [37]

TINH THẦN DÂN TỘC CỦA NGƯỜI HÀN

Một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến sự chấp nhận Kitô giáo rộng rãi tại Hàn Quốc là nhiều Kitô hữu đã kiên quyết đứng về phía chính nghĩa của Hàn Quốc suốt thời kỳ Nhật chiếm đóng (1910-1945). Trong thời gian này, Nhật Bản đã tiến hành một chiến dịch áp đặt văn hóa Nhật lên người Hàn cách có hệ thống, đặc biệt là đòi người Hàn phải tôn thờ Nhật hoàng. Thậm chí năm 1938, việc dùng tiếng Hàn đã bị cấm. [38] Tuy nhiên, tính chất đặc biệt Triều tiên của Giáo hội Hàn quốc đã nổi rõ và được lớn mạnh thêm trong những năm ấy do biết  bao Kitô hữu đã tỏ rõ sự trung thành với quốc gia. Trong khi hiến pháp sau này của Nam Hàn đảm bảo cả tự do tôn giáo lẫn sự tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước, chính phủ Hàn Quốc đã ủng hộ Kitô giáo, coi đây như là một giáo lý có sức ngăn ngừa ảnh hưởng ý thức hệ của quốc gia anh em láng giềng.

Ngày 01 tháng 3 năm 1919, một hội đồng gồm 33 nhà lãnh đạo tôn giáo và các chuyên gia được gọi là ” Phong trào 01 Tháng Ba” thông qua một Tuyên ngôn độc lập. Mặc dù phong trào do các lãnh tụ của Thiên Đạo giáo (một tôn giáo dựa trên học thuyết Khổng Tử) đứng ra tổ chức, 15 trong số 33 người ký tên là người Tin Lành, [39] và nhiều người trong số họ đã bị bắt giam. Cũng trong năm 1919, còn xuất hiện phong trào hô hào độc lập do người Công giáo chủ xướng, mang tên “Ulmindan” [40], và một chính phủ lưu vong do một chính khách hệ phái Methodist là Syngman Rhee cầm đầu cũng đã ra đời và tồn tại được một thời. [41]

Kitô giáo còn gắn liền với phong trào yêu nước hơn nữa khi một số Kitô hữu từ chối không dự các nghi thức tôn thờ Nhật hoàng mà luật pháp năm 1930 đòi buộc. [38] [42] Mặc dù việc từ chối ấy là do niềm tin tôn giáo thúc đẩy hơn là do xác tín chính trị, nó đã khiến nhiều Kitô hữu bị bắt giam, và trong con mắt của nhiều người Hàn Quốc, điều ấy vẫn đồng nghĩa với tinh thần dân tộc chống lại sự chiếm đóng của Nhật. [43]

THẦN HỌC VỀ DÂN CHÚNG

Các khái niệm Kitô giáo về giá trị cá nhân đã được đề cao trong cuộc đấu tranh lâu dài cho nhân quyền và dân chủ ở Hàn Quốc. Trong những năm gần đây, cuộc đấu tranh này còn mang hình thức Thần học về Dân chúng.  Thần học về Dân chúng tại Hàn là một dạng thần học giải phóng, dựa trên khái niệm “hình ảnh Thiên Chúa” trong Sáng thế ký 1: 26-27, kết hợp với tâm thức “Hàn” trong truyền thống Hàn Quốc, thuật ngữ này không có từ tương  đương chính xác bằng tiếng Anh, và có nghĩa là một cảm giác đau đớn vô vọng không sao an ủi. Thần học về Dân chúng mô tả tầng lớp dân thường trong lịch sử Hàn Quốc như những người chủ chân chính của vận mệnh của mình. Hai trong số các nhà lãnh đạo chính trị nổi tiếng nhất của đất nước đã hưởng ứng Thần học về Dân chúng, là Kim Young-sam, tín hữu Presbyterian, và Kim Dae-jung, người Công giáo,. [44] Cả hai đã đấu tranh chống lại chính phủ quân sự chuyên chế ở Hàn Quốc suốt nhiều thập kỷ và đã thường xuyên bị bỏ tù nhưng rồi sau khi được phóng thích vào năm 1988, cả hai đã lần lượt trở thành Tổng thống của nước Cộng hòa dân chủ này.

Thần học về Dân chúng đã nổi bật vào những năm cuối của chế độ Park Chung-hee (1961-1979) với sự ra đời của một số phong trào xã hội Kitô giáo, như Phong trào Nông dân Công Giáo và Phong trào công nghiệp đô thị Tin Lành, vận động tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Chính phủ quân sự coi những phong trào này như một mối đe dọa cho sự ổn định xã hội, cho nên đã cầm tù nhiều lãnh tụ của họ; trong thực tế, những cuộc đấu tranh này trùng với một thời kỳ bất ổn dẫn đến đỉnh điểm là vụ ám sát Tổng thống Park Chung-hee vào ngày 26 tháng 10 năm 1979. [45]

BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

Nhiều Kitô hữu Hàn Quốc tin rằng giá trị Kitô giáo đã tác động tích cực đến các mối quan hệ khác nhau trong xã hội. Xã hội truyền thống của Hàn Quốc đã được tổ chức tôn ti trật tự theo nguyên tắc Khổng giáo dưới quyền một vị vua được xem như con Trời. Phụ nữ không có quyền lợi xã hội, [46] con cái hoàn toàn lệ thuộc vào cha mẹ, [47], cá nhân không có quyền nào khác ngoài những gì được quy định trong hệ thống xã hội. Cấu trúc ấy đã bị các giáo huấn Kitô giáo thách thức. Theo giáo huấn Kitô giáo, mọi người đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và vì thế ai cũng bình đẳng và có phẩm giá cốt yếu như nhau. [48] Theo Kim Han-sik, khái niệm ấy cũng hỗ trợ cho quan niệm quyền sở hữu tài sản là của cá nhân chứ không phải của gia đình (hay người đứng đầu gia đình).

Các Kitô hữu coi hoàng đế cũng chỉ là người và cũng ở dưới quyền của Thiên Chúa như các thần dân của ông, [49]. Các giá trị Kitô giáo ủng hộ cho việc giải phóng phụ nữ và trẻ em về mặt xã hội. [46] [47] Giáo hội cho phép các quả phụ được tái hôn (theo lời dạy của tông đồ Phaolô, ngược với truyền thống của các xã hội Đông Á vốn không cho phép),  cấm chế độ hầu thiếp và chế độ đa thê, và cấm ngược đãi vợ, cấm bỏ vợ. Bậc cha mẹ Kitô giáo được dạy phải coi con cái là quà tặng của Thiên Chúa, và phải chu toàn việc giáo dục con cái. [50] Cấm tảo hôn và cấm bỏ bê con gái (trong văn hóa Á đông, con gái thường ít được cha mẹ mong ước hơn so với con trai).

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Hàn Quốc trong những năm 1960 và 1970 thường được cho là do chủ trương của Park Chung-hee nhắm công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, nhờ các giá trị văn hóa bản địa và tinh thần làm việc nghiêm túc, nhờ liên minh vững chắc với Hoa Kỳ, và nhờ nguồn vốn đầu tư của nước ngoài. Nhiều Kitô hữu Hàn Quốc vẫn xem tôn giáo của họ đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của đất nước trong hơn ba thập kỷ qua, họ tin rằng sự thành công và thịnh vượng kinh tế là dấu hiệu sự chúc lành của Thiên Chúa. [51]

Năm 2003 hai kinh tế gia Robert J. Barro và Rachel McCleary đưa ra một Một nghiên cứu cho thấy những xã hội càng có niềm tin cao vào trời và có mức độ đi nhà thờ nhiều càng có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. [52] Luận điểm của Barro và McCleary có ảnh hưởng lớn trong giới học thức sau đó, và theo một số nhà quan sát, nó hỗ trợ cho sự tin tưởng rằng Kitô giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công kinh tế của Hàn Quốc. [53] [54] Tuy nhiên nghiên cứu ấy đã bị các học giả như Durlauf, Kortellos và Tân chỉ trích (2006). [55] Từ năm 2000 có một xu hướng xây dựng những giáo đường vĩ mô khiến một số nhà thờ phải nợ tài chính. [56]

PHÚC ÂM HÓA

“Trong những năm 1960, Giáo hội đã đến với những người bị đàn áp, như gái mại dâm và lớp người lao động công nghiệp mới. Khi nền kinh tế Hàn Quốc phát triển, việc tìm lối thoát cho giới công nhân lao động nổi bật lên như một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của công tác truyền giáo . Giáo Hội thành lập ngành tuyên úy cho công nhân trong các nhà máy. Ngoài ra, nghĩa vụ quân sự là chuyện bắt buộc đối với nam giới ở Hàn Quốc, sự hiện diện của các tuyên úy quân đội cũng trở thành quan trọng không kém. Nhiều quân nhân cải sang Kitô giáo trong thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự.” [57 ]

NIỀM TIN VỀ SÁNG TẠO

Ở Hàn Quốc, nhiều nhóm Kitô giáo đã tham gia vận động nghiên cứu về sáng tạo, đặc biệt là Hiệp hội Hàn Quốc nghiên cứu về sáng tạo (KACR) đòi phải hiểu sự sáng tạo theo sách Sáng Thế, và Hiệp hội Duyệt lại sách Giáo khoa (STR), một ủy ban thay thế cho chương trình Duyệt lại vấn đề Tiến hóa trong sách Giáo khoa (CREIT). [64] Đó là một nhánh độc lập của KACR, và đã tự tách khỏi học thuyết của KACR. [65] Đầu năm 2008, tại Seoul Land, một công viên giải trí hàng đầu, KACR đã tổ chức một triển lãm “khoa học về sáng tạo”, có hơn 116.000 lượt khách ghé thăm trong ba tháng, và đến năm 2012, họ thương lượng với công viên để tổ chức một cuộc triển lãm khác kéo dài suốt năm. [65]

Năm 2012, do áp lực từ STR, Bộ Giáo dục đã công bố duyệt lại nhiều sách giáo khoa trung học để loại bỏ một số ví dụ về tiến hóa, chẳng hạn như của ngựa và khủng long. [64] [65] [66] Người ta đã giới hạn vào việc loại bỏ hoặc sửa đổi một số ví dụ [67] hoặc do không còn được chấp nhận hoặc hiện đang tranh cãi; [64] sự thay đổi này không kéo theo việc loại bỏ sự tiến hóa hoặc đưa sự sáng tạo vào sách giáo khoa [67] Tuy nhiên, STR có kế hoạch tiếp tục đệ trình kiến nghị để loại bỏ quá trình tiến hóa của con người và sự thích ứng của mỏ chim, với mục tiêu cuối cùng là giảm thiểu vai trò của quá trình tiến hóa Darwin trong việc giảng dạy. [65]

XUNG ĐỘT TÔN GIÁO

Sự đối kháng giữa những người Tin Lành từ chương (tin rằng Kinh thánh đúng từng chữ) với Phật giáo là một vấn đề lớn cho việc hợp tác tôn giáo ở Hàn Quốc, đặc biệt là trong những năm 1990 đến cuối những năm 2000. [60] [71]

Ngược lại, người Công giáo Hàn Quốc với Phật giáo và các tôn giáo khác vẫn giữ được quan hệ hợp tác chủ yếu, một phần nhờ nhiều phong tục và triết lý Phật giáo và Nho giáo được hội nhập vào Công giáo Hàn Quốc, nổi bật nhất là việc tôn kính tổ tiên. [72]

Tác giả:  Phan Vĩnh Tâm (lược dịch)

Mười phát ngôn ấn tượng nhất Việt Nam trong năm 2015 do Bauxite Việt Nam chọn

Mười phát ngôn ấn tượng nhất Việt Nam trong năm 2015 do Bauxite Việt Nam chọn

(1) Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam” (http://vov.vn/chinh-tri/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-ky-niem-sinh-nhat-bac-401809.vov).

(2) Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nếu để xảy ra đụng độ gì [ở Biển Đông] thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không?” (http://dantri.com.vn/chinh-tri/tong-bi-thu-cong-tac-nhan-su-dang-lam-bai-ban-nhung-con-rat-kho-khan-2015120812063397.htm)

(3) Phùng Quang Thanh, Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng: “Nếu mà mất Đảng, mất chế độ thì biển đảo cũng mất.” (http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20151022/dai-tuong-phung-quang-thanh-vn-khong-dung-lech-ve-nuoc-lon-nao/989572.html)

(4) Huỳnh Ngọc Sơn, Thượng tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội: “Không lẽ bây giờ bà con bảo là đánh nhau… Nhiều lần ta cũng nghĩ tới việc lấy lại nhưng trong lúc này chưa thể lấy lại được. Để đời con đời cháu chúng ta lấy lại. Trung Quốc bây giờ họ củng cố gần như là bất khả xâm phạm rồi” (http://phapluattp.vn/thoi-su/vi-sao-quoc-hoi-chua-ra-nghi-quyet-ve-bien-dong-565566.html. Câu này sau đó bị tờ báo cắt bỏ vì quá “tế nhị” / trắng trợn)

(5) Đỗ Văn Đương, Đại biểu Quốc hội: “Quy định quyền im lặng là diễn biến hòa bình, chống lại nhân dân”. (http://phapluattp.vn/phap-luat/quy-dinh-quyen-im-lang-la-dien-bien-hoa-binh-chong-lai-nhan-dan-556493.html)

(6) Đỗ Văn Đương, Đại biểu Quốc hội: “Phạm nhân Việt Nam còn sướng hơn sinh viên thời xưa” (http://baophapluat.vn/trong-nuoc/pham-nhan-viet-nam-con-suong-hon-sinh-vien-thoi-xua-199777.html).

(7) Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng thương mại – công nghiệp Việt Nam: “Tư tưởng kinh tế của Bác Hồ là tư tưởng hàng đầu của nền kinh tế thị trường hiện đại, không hề thua kém kinh tế thị trường của Harvard hay các trường đại học nào khác!” (http://infonet.vn/90-nam-truoc-bac-ho-da-dinh-huong-nen-kinh-te-viet-nam-la-kinh-te-thi-truong-post172535.info).

(8) Nguyễn Thị Quyết Tâm, Phó bí thư Thành ủy TP.HCM: “Con lãnh đạo làm lãnh đạo là hạnh phúc của dân tộc” (http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/269501/con-lanh-dao-lam-lanh-dao-la-hanh-phuc-cua-dan-toc.html)

(9) Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội: “Giá bảo hiểm y tế dù tăng cũng chỉ bằng 2-3 bữa nhậu”. (http://vtv.vn/su-kien-va-binh-luan/gia-bao-hiem-y-te-du-tang-cung-chi-bang-2-3-bua-nhau-20151219115015875.htm)

Việt Nam: Càng ngán Trung Quốc, càng thân Hoa Kỳ

Việt Nam: Càng ngán Trung Quốc, càng thân Hoa Kỳ

Nguoi-viet.com

Thanh Phương (RFI)

Trong loạt bài nói về những nỗ lực của Trung Quốc nhằm chiêu dụ thêm bạn bè và khách hàng ở Châu Á, cũng như nhằm khẳng định vị thế ngày càng áp đảo ở châu lục này, nhật báo Mỹ The Washington Post ngày 28 Tháng Mười Hai, 2015 đã nói về quan hệ Việt-Trung. Theo tờ báo này, chính thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc nhằm xác quyết chủ quyền trên Biển Ðông đã khiến Việt Nam ngả nhiều hơn về phía cựu thù Hoa Kỳ.


Tổng Thống Barack Obama (phải) tiếp ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN tại Tòa Bạch Ốc ngày 7 Tháng Bảy, 2015. (Hình: Martin H. Simon/Getty Images)

Theo ghi nhận của The Washington Post, khi đến thăm Việt Nam vào tháng trước, Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã được đón tiếp rất trọng thể với nghi thức bắn 21 phát đại bác. Vinh dự hiếm thấy là nguyên thủ Trung Quốc được phát biểu trước Quốc Hội Việt Nam. Nhưng bài phát biểu của ông Tập Cận Bình cổ vũ tình hữu nghị Việt-Trung thắm thiết đã được đón nhận bằng một sự im lặng nặng nề và với vài tiếng vỗ tay lác đác khi ông chấm dứt bài phát biểu. Trên gương mặt cử tọa hội trường Quốc Hội hôm ấy lộ rõ vẻ chán chường, thờ ơ, thậm chí thù nghịch.

The Washington Post trích lời một quan chức Việt Nam, xin được miễn nêu tên vì đây là vấn đề “nhạy cảm,” cho biết là bầu không khí hôm ấy “rất căng thẳng.”

Tờ báo nhắc lại rằng Trung Quốc tỏ ý muốn giúp các nước láng giềng Châu Á xây những công trình cơ sở hạ tầng mà những quốc gia này đang rất cần, dưới danh nghĩa khôi phục Con đường tơ lụa xưa kia. Việt Nam cũng cần tiền, nhưng lại sợ mưu đồ ẩn giấu đằng sau.

The Washington Post trích lời ông Trần Trường Thủy, một chuyên gia ở Học Viện Ngoại Giao Việt Nam, nói rằng: “Chúng tôi rất nghi ngờ, bởi vì chúng tôi không biết mục tiêu thật sự của họ là gì. Ðằng sau dự án Con đường tơ lụa trên biển, Trung Quốc có thể đẩy mạnh tuyên truyền cho chủ quyền của họ.”

Tờ báo cũng ghi nhận sự tương phản giữa chuyến viếng thăm của ông Tập Cận Bình với chuyến công du Việt Nam của cựu Tổng Thống Bill Clinton vào năm 2000. Vào năm đó, hàng chục ngàn bạn trẻ đã đứng đợi tới khuya để đón vị tổng thống đầu tiên của Mỹ đến thăm kể từ sau chiến tranh Việt Nam, còn khi chủ tịch Trung Quốc đến thăm vào tháng trước, chẳng có đám đông nào hân hoan chào đón.

Một ví dụ cho thấy Việt Nam khó có thể tin tưởng Trung Quốc, đó là dự án đường sắt đô thị do Trung Quốc xây dựng ở Hà Nội đã bị trễ đến 3 năm so với dự kiến và tốn kém thêm 57% với với ngân sách dự trù. Chính Bộ Trưởng Giao Thông Ðinh La Thăng đã nói rằng, nhiều lần, ông muốn thay nhà thầu Trung Quốc, nhưng không thể làm được do các quy định của những khoản vay.

Ấy là chưa kể Trung Quốc thường chuyển giao những công nghệ lỗi thường cho Việt Nam, bất chấp các tiêu chuẩn về môi trường, đưa lao động của họ sang, thay vì tuyển mộ nhân công địa phương. Các công ty Trung Quốc cũng thường trúng thầu nhờ đưa giá thấp một cách vô lý, để rồi sau đó tính chi phí cao hơn.

Nhưng yếu tố khiến cho quan hệ Việt -Trung gần như gặp khủng hoảng, đó là vụ hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 gần quần đảo Hoàng Sa vào Tháng Năm, 2014, dẫn đến nhiều cuộc biểu tình bạo động chống Bắc Kinh, với nhiều nhà máy Trung Quốc và Ðài Loan bị đốt phá. Theo Giáo Sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam thuộc Học Viện Quốc Phòng Úc, vào lúc đó đã có lời kêu gọi Ban Chấp Hành Trung Ương họp khẩn cấp để thảo luận về việc thiết lập một liên minh với Hoa Kỳ. Nhưng đến Tháng Bảy, 2014, Bắc Kinh đã rút giàn khoan đi và cuộc họp khẩn cấp của Ban Chấp Hành đã không diễn ra. Tuy nhiên, việc cải thiện quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đã được thúc đẩy thêm.

The Washington Post thống kê là trong 12 tháng qua, đã có đến 8 trong số 16 ủy viên Bộ Chính Trị thăm Washington, và khoảng 6 quan chức cấp chính phủ Mỹ đã đến Việt Nam. Tổng Thống Obama lần đầu tiên cũng đã tiếp một lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam tại Nhà trắng vào Tháng Bảy, 2015 và dự kiến đi thăm Việt Nam vào năm tới.

Vào Tháng Mười, 2014, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí Việt Nam và đang giúp Hà Nội nâng cao khả năng của lực lượng tuần duyên để đối phó với Trung Quốc ở Biển Ðông.

Nhưng dấu hiệu rõ rệt của việc Hà Nội thắt chặt quan hệ với Washington, đó là việc Việt Nam gia nhập Hiệp Ðịnh Tự Do Mậu Dịch Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, do Mỹ khởi xướng. Hà Nội hy vọng là hiệp định TPP sẽ giúp họ bớt phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế.

Theo The Washington Post, mặc dù trong đảng có một phe bảo thủ thân Bắc Kinh còn rất mạnh, việc có nhiều ủy viên Bộ Chính Trị đi thăm Washington trước khi thay đổi ban lãnh đạo vào năm tới đã là điểm đáng quan tâm. Tờ báo trích lời ông Trần Trường Thủy: “Ðảng cũng phải chú ý đến công luận. Không ai muốn tỏ ra mềm yếu trong việc bảo vệ quyền lợi quốc gia hoặc không muốn tỏ ra quá nhân nhượng Trung Quốc.”

Nhưng theo tờ báo này, Việt Nam biết mình rất cần đến quan hệ tốt với Trung Quốc. Lịch sử và vị trí địa lý không cho phép Hà Nội biến Bắc Kinh thành kẻ thù. Việt Nam sẽ không bác bỏ những đầu tư của Trung Quốc, nhưng sẽ chọn lựa kỹ càng hơn và chắc chắn là sẽ không còn tin vào thiện tâm của Bắc Kinh.

Báo trong nước ‘mấp mé’ về đa đảng

Báo trong nước ‘mấp mé’ về đa đảng

Người dân trông đợi Đại hội Đảng sẽ đem lại những chuyển biến kinh tế – xã hội trong năm 2016

Vài tuần trước ngày diễn ra Đại hội Đảng 12, mạng xã hội đang chia sẻ link bài trên một tờ báo kinh tế trong nước nhấn mạnh các khía cạnh ưu việt của nền chính trị đa đảng.

Hôm 1/1, Thời báo Kinh tế Sài Gòn đã đăng bài “Thương hiệu chính trị – Khắc tinh của hoàng hôn nhiệm kỳ” mượn chuyện bầu cử ở Hoa Kỳ để gợi suy nghĩ về thời sự tại Việt Nam.

Trong bài báo, ông Võ Trí Hảo, Giám đốc Chương trình Tư vấn doanh nghiệp, Công ty Khoa & Associate, giảng viên khoa Luật, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, nhấn mạnh: “Mỗi một lựa chọn thể chế chính thức sẽ có một hệ quả thể chế phi chính thức tương ứng; pháp luật tạo độc quyền cho cô bán hàng mậu dịch, thì cái mặt “vênh” không xuất hiện mới là điều phi logic.

Thì cũng vậy với thương hiệu chính trị, xói mòn là điều xót xa không thể tránh khỏi, cho những thế hệ nào đã hy sinh xương máu, dày công tạo dựng”.

“Trong chế độ độc quyền thì bè phái sẽ làm tổn hại quyền lực của nhà vua, bởi vậy bị nhà vua khép tội chết hay chí ít là bị truất quyền bởi hành vi gây mất đoàn kết nội bộ.

Nhưng từ khi loài người bước sang thời đại dân chủ, cùng với quyền tự do lập hội, bè phái không còn bị cấm đoán; mà ngược lại được thể chế hóa, pháp luật ghi nhận, tạo điều kiện công khai hóa và kiểm soát, tránh những hậu quả xấu của nó, đồng thời khai thác ưu điểm”, tác giả bình luận.

Ông Hảo giải thích: “Việc pháp luật Hoa Kỳ bảo đảm quyền tự do đảng phái không chỉ là hiện thực hóa quyền tự do chính trị, tự do bầu cử trong Hiến pháp, mà nó còn tạo ra tám hệ quả cho một nền chính trị lành mạnh”.

Một trong số các hệ quả là: “Mỗi một sai lầm, thất hứa, tham nhũng của một đảng sẽ là cơ hội vô giá của đảng đối lập; bởi vậy, mỗi đảng phải hết sức giữ mình, và ngay lập tức yêu cầu đảng viên của mình từ chức, kể cả khi họ không vi phạm pháp luật, nhưng không làm cử tri hài lòng.

Hay nói cách khác, từ chức không phải là văn hóa tự thân, mà nó là hệ quả của việc giữ gìn thương hiệu chính trị tập thể”.

Image copyright Chinhphu Image caption Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang thủ đô cần ‘nhận thức đầy đủ’ về tình hình

‘Không để bị động bất ngờ’

Ngoài ra, bài báo còn có ý nói TP Hồ Chí Minh được cho là văn minh hơn Hà Nội là vì “Cơ chế mậu dịch quốc doanh, mà rộng hơn là cơ chế bao cấp, chỉ áp đặt lên Sài Gòn trong tròm trèm 10 năm (1975-1986), chưa kịp nhuốm phong cách bán hàng phục vụ của người Sài Gòn.

Thay vào đó, phong cách bán hàng, phục vụ của người Sài Gòn đã được định hình bởi cơ chế thị trường gần 100 năm (80 năm Nam kỳ thuộc địa trực trị áp dụng pháp luật thị trường của Pháp, 20 năm Việt Nam Cộng hòa cũng là thể chế kinh tế thị trường)”.

Hôm 31/12, trả lời phỏng vấn BBC từ Canada, Luật sư Vũ Đức Khanh nhận định 2016 là năm mang tính ‘quyết định thời cuộc Việt Nam giống như năm 1986 mở đường cho ‘đổi mới’.

“Có thể thấy, sự kiện quan trọng nhất năm 2016 của Việt Nam là kỳ Đại hội Đảng 12. Những người lạc quan thì mong đợi kỳ Đại hội này sẽ thiết lập chính phủ mới, quốc hội mới đáp ứng được những kỳ vọng của người dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, luật sư nói.

Tuy vậy, ông cũng thừa nhận: “Rủi ro lớn nhất là phe cấp tiến thân phương Tây trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng không giành thắng lợi trong Đại hội do lực cản từ phía Trung Quốc. Điều này dẫn đến hệ lụy là sẽ làm chậm tiến trình TPP, khiến Việt Nam đánh mất nhiều cơ hội cải cách xã hội và đạt mức tăng trưởng kinh tế mới”.

Ông dự báo mọi chuyển biến của Việt Nam chỉ thật sự rõ ràng khi Đại hội Đảng 12 kết thúc và đem lại kết quả ‘khiến người dân cảm thấy an lòng là Đảng Cộng sản và nhà nước quyết định chọn con đường mới để đi thay vì tiếp tục núp bóng Trung Quốc’.

Trong một diễn biến khác, Thông tấn xã Việt Nam hôm 2/1 đưa tin về buổi họp của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng – Bí thư Quân ủy Trung ương – và Bộ tư lệnh thủ đô Hà Nội.

“Tổng bí thư đề nghị cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang thủ đô cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt sắp diễn ra Đại hội Đảng 12…

Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang phải nắm chắc tình hình thực tế, có biện pháp phù hợp, kịp thời, khôn khéo, 
không để bị động bất ngờ”.

Xì dầu do TQ làm, vô chai tại VN, ghi made in France

Xì dầu do TQ làm, vô chai tại VN, ghi made in France

Posted by: Viet VungVinh

 

Cách Nhìn “Bên Dưới” Hàng Chữ In Trên Nhãn Một Sản Phẩm
Huỳnh Chiếu Đẳng

Kính thưa quí bạn, hôm nay xin gởi đến các bạn một chuyện xó bếp nhưng chắc là quan trọng vì nó ảnh hưởng tới sức khỏe của các bạn:

Đó là cách “Nhận diện Chân Dung Của Một Sản Phẩm” nói rõ hơn là chân dung thật sự của một thực phẩm Trung Quốc hay là do người Trung Quốc ở ngoài lục địa làm ra mập mờ gạt bà con ta. Tại sao gọi là gạt bà con Việt Nam ta, thưa chúng thường chỉ bán tại tiệm thực phẩm (tại Mỹ) của người Hoa và người Việt (hay trên Internet). Tôi tin là những tiệm buôn ngoại quốc không lầm. Trường hợp điển hình bên dưới.
HCD (20-Apr-2014)

Số là một bằng hữu mang ba chai nước chấm nầy đến đố tôi coi thật hay giả. Theo lời một bằng hữu nầy thì nhiều người quen biết còn cải lại là đồ thiệt chánh tông.

bây giờ mời các bạn đi mua thực phẩm cùng với tôi. Tôi được lịnh cấp trên phải nghiên cứu về thực phẩm mọi mặt cho gia đình từ mấy chục năm nay. Do vậy tuy tôi không đi chợ nhưng các bạn đưa món nào ra tôi đoán được nó có những thứ gì không nên ăn pha trong đó.

Người Tàu biết rằng hễ để nhãn hiệu Tàu hay ghi Made In China, ghi Made in P.R.C.(P.R.C=Popular Republic of China=Làm tại nước Trung Hoa (Lục Địa) thì người ta không mua, nên tìm cách ghi né hợp pháp. (Để khi nào có dịp tôi sẽ nói về hàng chữ Made In “đủ thứ chữ mập mờ” của các người Trung Hoa. Họ tìm mọi cách né chữ Made In China và tìm cách “mập mờ” để bà con ta đọc sơ qua tưởng là sản phẩm của Mỹ).

Số là một bằng hữu mang ba chai nước chấm nầy đến đố tôi coi thật hay giả làm tại đâu. Hỏi thì tôi nói theo ý tôi. Còn phần các bạn thì suy xét theo ý mình. Bây giờ chúng ta đi chợ mua nước chấm thử coi nghe. Đây chỉ là một thí dụ về cách chọn mua thực phẩm của tôi xưa nay. Chọn thôi, còn mua thì tôi ít khi tự tay mua.

 
Hình chụp nhãn phía tay trái cả ba chai
 
Hình chụp nhãn phía tay mặt cả ba chai

Hai chai hai bên thì tạm coi như không giả đi, đế tính sau. Bây giờ chúng ta chú trọng tới chai nhỏ. Tôi phóng đại nhãn nó để các bạn xem. Đã được cho biết là “không thật”, có thể nó cũng là hàng thật nhưng “mập mờ” gạt bà con. Các bạn đọc nhãn nó và nhận xét coi sao, làm y như khi các bạn lựa mua nước “tương” trong tiệm thực phẩm Việt Nam hay của người Trung Hoa.

 
Đọc thử hàng chữ dưới cùng. In chữ Paris và in hình tháp Eiffel coi ngon lành. Ghi cả tiếng Anh lẫn tiếng Tây chung.
 
Các bạn chú ý tới nơi tôi ghi mủi tên trắng, nghỉ một chút đừng đọc tiếp coi có thấy chi lạ không (trừ hai mủi tên trên cùng sẽ nói sau).

Và đây là hình phóng đại cái nhãn dán bên tay trái của chai giữa (chai nhỏ):

 

Các bạn thấy chi lạ không?

Các bạn dừng lại tính toán y như khi đi mua nó trong tiệm coi bao lâu thì các bạn quyết định được nên mua hay không.
………..chờ …
………..chờ tính coi….

Tôi đưa cái chai nầy cho con tôi coi, chỉ trong vòng một phút nó nhìn thấy sai hai thứ:

– Cái sai đầu tiên là ghi Product of French: Không đúng chữ đúng tiếng Anh.

Phải ghi là Product of France. Chữ France (danh từ) là nước Pháp, chữ French là tĩnh từ, ghi như nhãn là sai. Các bạn để ý đi ít tháng nữa chai nầy ghi lại đúng văn phạm ngay. Rồi thì cũng có thêm nhiều người lầm, mà tôi cũng e rằng sẽ sập tiệm nếu cơ quan US FDA (hay chi đó) để mắt vào. Phải ghi thế nầy: Product of France hay thế nầy:

– Cái sai thứ hai thật rõ nét

Hình trên ghi là 200ml (200cc). Hình trên nữa ghi là 13 serving và mỗi serving là 150ml (150cc). Hai cái nầy chưởi nhau.

Chai chỉ có dung tích là 200 phân khối, thế mà ăn được 13 lần, mỗi lần 150 phân khối, vị chi theo bàn toán Tàu thì ăn được tới 13×150=1950 phân khối. Sơ ý tới mức đó thì chắc không phải là do người Pháp làm ra cái nhãn đâu.

Các bạn nghĩ sao về hàng chữ: “Vegetable and salty meals are used” trên cái nhãn chánh chai giữa (nhỏ). Tiếng Anh nầy ba trợn quá chừng. Tôi đoán ý của tác giả cái nhãn nầy muốn nói “ăn chay ăn mặn gì cũng dùng được hết”. Ông Tây ơi, nếu quả cái món nầy do mấy ông làm thì tôi lấy làm buồn giùm cho nước Pháp. Buồn là sao? Thưa buồn rằng (thìa là) cho tới bây giờ nước Pháp chỉ mới đuổi theo kịp nước Tàu về tiếng Anh.

Bây giờ tôi hỏi quí bạn vậy chớ người Pháp có thể nào in cái nhãn lỗi nhiều như vậy không?

***
Tới đây mà ngưng quả là vô duyên. Tôi tiếp tục nghiên cứu cho ra xuất xứ món nước tuơng nầy. Tìm hai câu trả lời cho hai câu hỏi:

1. Nó sản xuất nơi đâu? Nó ghi là Product of French mà, bạn nào tin nó do Pháp sản xuất thì đưa tay tôi đếm coi.

2. Và do ai làm ra? Tức là do ai: thí dụ người Pháp, người Hoa, người Việt, người Nhật… làm ra.

Tôi tin là phần lớn các bạn không thể biết được. Tôi thì cũng nhìn nhãn như quí bạn mà thôi, nhưng có kinh nghiệm hơi các bạn tới 20 năm về mua thực phẩm, nên tôi biết được.

Hẳn xưa nay các bạn biết đã nhiều lần tôi nói rằng đừng có tin những gì in trên nhãn mà phải đắn đo nghi ngờ. Ngoài chữ Product Of French (ba trợn không đúng văn phạm) ra, nó còn in mập mờ gạt các bạn hay quí bạn nội trợ thuộc nhóm thấy chữ là tin liền:

Thấy chữ USA thì tin ngay là hàng hóa Mỹ, không đâu tụi nó mánh lắm, nó ghi hợp pháp là “Phân phối bởi hãng V.L. Trading, USA” tức trụ sở hãng phân phối tại USA. Đại lý tại USA thôi, đại lý không phải là hãng làm ra món hàng.

Bây giờ trở lại câu hỏi cái món nầy sản xuất nơi đâu?

Nó nói là tại Pháp, đại lý phân phối tại Mỹ,

Bây giờ thì sai lung tung như vậy, sau nầy chúng ta sẽ thấy cái nhãn được in lại đúng mà mọi chuyện được hoàn hảo tươm tất hơn và lúc đó bà con ta lầm xuất xứ sâu hơn.

Hàng chục lần tôi nới với các bạn là barcode không nói được xuất xứ với kiểu làm ăn đa quốc gia hiện giờ. Thí dụ nước mắm Trung Quốc làm dõm mang sang Phú Quốc vô chai, chở qua Mỹ ghi rên chai sản xuất tại Phú Quốc Việt Nam ai mà kiện.

Tuy nhiên với món chúng ta thấy thì cái barcode nó ghi là

 

Ba số đầu barcode là 893. Và chúng ta dò trong list barcode (đúng phần nào thôi, đừng tin hẳn) sẽ thấy sản xuất tại Việt Nam.

 

Vậy thì chai nước tương nầy làm tại Việt Nam ghi là sản xuất tại Pháp, dùng chữ Tây và chữ Mỹ trên nhãn.

Câu hỏi số 1 trả lời rồi, sang câu hỏi thứ hai là do người nước nào làm ra?

Cái nầy bí mật bật mí do kinh nghiệm. Chúng ta nhìn đáy cái chai. Mời các bạn nhìn hình chụp:

 

Nhường hàng chữ Hoa cho quí vị biết đọc, thấy chữ Vạn Lợi Trading ở đây.

Nếu người Việt Nam làm sao lại có chữ Tàu trên chai, nếu người Tàu làm thì làm tại Việt Nam là nơi cầu chứng cái nhãn.

Kết luận về chuyện ai làm: Các bạn tự suy tính theo mình, tôi không biết người nước nào sản xuất.

Xin hiểu cho rằng, tôi chỉ trình với các bạn cách tôi lựa thực phẩm. Tôi không có nói là món nước tương nầy không phải sản phẩm của Pháp. Tôi cũng không nói nó ngon hay dở, không có khuyên nên mua hay không chi hết. Quí bạn hãy tin ở chính mình, đừng có tin tôi. Cái chai bạn tôi mua còn giữ đây để làm bằng.

Huỳnh Chiếu Đẳng

Nghĩ về cuộc chiến Bắc – Nam

Nghĩ về cuộc chiến Bắc – Nam

FB Vinh Le

1-1-2016

Tôi là người lính của phía bên này, bên mà Huy Đức gọi là bên thắng cuộc, đã đi một quãng đường dài từ Quảng Trị tới Sài Gòn từ 1972 tới 1975, giai đoạn cuối của cuộc chiến thống nhất đất nước. Bàn về cái đúng cái sai của cuộc chiến này nên để cho các nhà làm sử và hậu thế phán xét. Là người lính của phía bên này nhưng tôi không nghĩ những người lính Việt phía bên kia là kẻ thù, nhất là sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 bởi chúng ta, những người lính phía bên này hay phía bên kia cùng là người Việt máu đỏ, da vàng.

Suy nghĩ của tôi thời chiến tranh, sau chiến tranh và hiện nay rất đơn giản, là công dân của thể chế nào khi đi lính thì phục vụ thể chế đó, đúng phận sự của người lính, điều này là một thực tế, muốn thay đổi cũng không được.

Có lẽ sai lầm trong cách xử lý của thời hậu chiến của các nhà lãnh đạo thời bấy giờ đã để lại vết thương lòng quá lớn cho những người lính kể cả những người đã mất phía bên kia và gia đình họ. Sau chiến tranh, mất mát nhiều nhất là những người lính cả hai phía, kể cả gia đình họ. Tôi không phải là người lính phía bên kia nên bàn về sự mất mát của họ và gia đình họ có thể thiếu chính xác. Là người trong cuộc tôi muốn giải bày những gì tôi và đồng đội tôi, những người lính của bên thắng cuộc để các bạn thấy chúng tôi được hay mất.

Khoảng giữa tháng 12 năm 1975, cánh lính sinh viên chúng tôi được giải ngũ về học tiếp. Mỗi người được cấp 93 đồng tiền giải phóng (đồng tiền được sử dụng tại miền Nam từ tháng 9 năm 1975). Tôi không biết 93 đồng giải phóng lúc bấy giờ tương đương với bao nhiêu đồng thời nay chỉ biết số tiền đó đủ để mua một con búp bê, một võng dù cho cháu, một áo phao cho em gái, tiền xe đò đi từ Bến Cát về Sài Gòn và ngược lại, còn dư 10 đồng để tiêu vặt từ Bến Cát tới Quảng Trị.

Nếu coi đây là tiền “xương máu” mà chúng tôi được trả trong bốn năm rưỡi đi lính cũng được. Khi nhập ngũ, chúng tôi được trống giọng cờ mở đưa tiễn, lúc trở về lại âm thầm lặng lẽ. Chúng tôi ở xa về muộn nên không chịu cảnh mắc võng đấu tranh ở bộ quốc phòng và bộ đại học đòi được nhập học tiếp, nhiều bạn sinh viên đồng ngũ ra quân vào tháng 7 tháng 8 năm 1975 đã làm giúp chúng tôi điều này.

Có lẽ ưu đãi lớn nhất của cánh lính sinh viên trở về học tiếp là được hưởng sinh hoạt phí 30 đồng một tháng, hơn 8 đồng so với sinh viên ngành sư phạm ngày đó. Ưu đãi thứ hai và cũng là ưu đãi cuối cùng mà nhà nước dành cho tôi và những người cùng cảnh ngộ với tôi, những người lính của bên thắng cuộc là không phải hai năm tập sự sau khi ra trường.

Tôi, một người lính có chút ít chữ nghĩa, kiếm được việc làm ổn định, ở cái thời khốn khó về kinh tế từ 1976 đến 1988. về vật chất chắc chẳng hơn gì gia cảnh của những người lính phía bên kia. Nhiều đồng ngũ của tôi, những người bỏ áo lính trở về làm xã viên hợp tác xã nông nghiệp, quản lý theo kiểu công xã còn khốn khó hơn nhiều. Những đồng ngũ thương bình với trợ cấp 20 đồng hàng tháng, đủ mua được 20 kg gạo theo giá thị trường, nếu không tự bươn chải, tự vươn lên để sống, liệu có vượt qua cái thời khốn khó đó không?

Tôi có một người bạn đồng học đồng ngũ mang trong mình 25% máu Hoa, nhà bạn tôi có ba anh em tham gia cuộc chiến thống nhất đất nước, thế mà sau cuộc chiến chống xâm lược Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, gia đình bạn tôi đã bị trục xuất ra khỏi Việt Nam mặc dù gia đình anh không muốn đi và sẵn sàng vào định cư tai Lâm Đồng để tránh xa Trung Quốc, nhưng không được chấp nhận.

Nếu các thương phế binh ở phía bên kia là nạn nhân của một cuộc chiến thì bạn tôi, một người lính của bên thắng cuộc liệu có phải là nạn nhân của hai cuộc chiến hay không? Là người Việt trực tiếp cầm súng ở phía bên này hay phía bên kia, sau chiến tranh chúng ta không thắng cũng không bại, chỉ có đất nước này, dân tộc này là chiến thắng vì đã kết thúc một cuộc chiến tranh lâu dài, nồi da xáo thịt. Nếu thật sự yêu nước, yêu dân tộc Việt, dù đang sống trong nước hay ngoài nước, dù chấp nhận ý thức hệ kiểu này hay kiểu kia lẽ nào chúng ta lại muốn khoét sâu vào vết đau của chiến tranh.

Quá khứ không phải là cái chết, nhưng đôi khi phải quên nó để mà sống để mà đi lên. Các bạn, những người lính phía bên kia nếu có mặc cảm đau lòng vì mình thuộc bên chiến bại, thì chúng tôi, những người lính thuộc bên thắng cuộc còn đau lòng hơn vì những lý tưởng tốt đẹp mà chúng tôi đã phụng thờ một thời chỉ là ảo tưởng. Còn gì đau lòng hơn khi lòng tin bị đổ vỡ, chúng tôi cảm thấy mình đã bị phản bội. Một lớp người cơ hội, phần đông đã tránh không phải tham gia chiến tranh, bằng cách này hay cách khác, leo vào bộ máy công quyền, phụng sự đất nước, phụng sự dân tộc thì ít, mưu cầu lợi ích cá nhân thì nhiều. Họ và gia đình họ, có lẽ là lớp người hưởng lợi nhiều nhất sau chiến tranh.

Đáng lên án là những kẻ dựa vào thể chế để trục lợi, vì trục lợi cho bản thân nên họ đã xem nhẹ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, làm kìm hãm sự phát triển của đất nước. Dù tôn thờ và theo đuổi thể chế chính trị nào cũng nên đặt đất nước và dân tộc lên trên tất cả, đấy mới là người Việt Nam chân chính.

Ngày đầu năm muốn chia sẻ cùng các bạn một vài cảm nghĩ của tôi về hậu quả của cuộc chiến trong quá khứ, mặc dầu cuộc chiến thống nhất đất nước đã qua hơn 40 năm, nhưng dư âm của nó vẫn còn nặng nề trong lớp người thuộc thế hệ chúng tôi, những người thuộc phía bên này hay phía bên kia.

Mong rằng các thế hệ người Việt chúng ta hãy đồng lòng vì đất nước, đấu tranh quét sạch lũ sâu mọt hại dân, hại nước. Chỉ vậy mới hy vọng người dân Việt có thể ngẩng cao đầu và không xấu hổ với bè bạn bốn phương.

Bé Canada gốc Việt cần được hiến tủy để có thể sống còn

Bé Canada gốc Việt cần được hiến tủy để có thể sống còn
Nguoi-viet.com

CANADAAaryan Ðinh, bé trai Canada gốc Việt tại Ontario, mắc bệnh hiểm nghèo về máu, đang tìm người có tế bào thích hợp để có thể nhận hiến tặng tế bào mầm.

Aaryan Ðình Ali – một cậu bé người Canada gốc Việt 10 tuổi mắc bệnh aplastic anemia, căn bệnh hiểm nghèo bẩm sinh về máu. Ðây là căn bệnh hiếm (một triệu người có 2 người bị), cơ thể luôn thiếu máu do không tạo đủ huyết cầu. Hiện khoa học không có cách điều trị, trừ giải pháp duy nhất: em cần tìm một người hợp tế bào để có thể nhận hiến tặng tế bào mầm.


Bé Aaryan Dinh. (Nguồn: FB Match4AAry)

Ngày 20 Tháng Mười Hai vừa qua, em bị xuất huyết nội, gia đình phải đưa vào bệnh viện Nhi tại Toronto.

Jenny Dinh, mẹ Aaryan cho biết: “Bệnh viện đã có thể ổn định cơ thể em trong 36 giờ.” Ðó là 36 giờ liên tục truyền máu và steroid vào cơ thể em.

Cơ hội cứu sống em là phải thực hiện ghép tế bào gốc. Nhưng huyết thống hiếm hoi của em – cha Afghanistan, mẹ Việt – đang khiến việc tìm kiếm người hiến tặng càng khó khăn hơn.

“Mỗi nhóm chủng tộc có sự khác biệt về di truyền, do đó, với cha mẹ từ tổ tiên khác nhau sẽ tạo thách thức nhiều hơn,” Dena Mercer, phát ngôn viên của OneMatch, mạng lưới về tủy và tế bào gốc của Dịch Vụ Máu Canada, nói với CBC News.

Em Aariyan nhận được hỗ trợ rất lớn của các bác sĩ, y tá, bạn bè, gia đình, tất cả đã phát động một chiến dịch tìm người thích hợp để cứu mạng sống cho em. Mọi người nỗ lực nhắm mục tiêu vào người Trung Ðông và các dân tộc Châu Á, đặc biệt là Việt Nam, Afghanistan và vùng Trung Á.

Hiện nay, các điểm thử máu tìm người đã được tổ chức ở Toronto, Vancouver và Hoa Kỳ. Gia đình và bạn bè em cũng kêu gọi rộng rãi thông qua các phương tiện truyền thông xã hội.

Cộng đồng người Việt tại Toronto hiện đang tích cực lan truyền lời kêu gọi giúp em. Tại Hội Chợ Tết được tổ chức vào ngày 16 Tháng Giêng này, Hội
Người Việt Toronto sẽ phối hợp cùng tổ chức OneMatch, thiết lập một trạm thử nghiệm mong tìm được người có tế bào thích hợp để cứu em.

Bác Sĩ Lê Thuần Kiên, phó chủ tịch Ngoại Vụ Hội Người Việt Toronto cho biết, việc thử nghiệm rất đơn giản bằng phương pháp cheek swab. Chuyên viên y tế sẽ dùng 4 que bông gòn quẹt vào 4 nơi: khu hàm trên, hàm dưới của má phải và má trái để thu thập thông tin về di truyền tế bào của người muốn hiến tặng.

Ngoài ra, những ân nhân khắp nơi muốn hiến tặng cứu Aaryan cũng có thể liên lạc với Canada Blood Service (https//www. blood.ca/en/stem-cell) để nhận một bộ swab thử nghiệm. (L.Q.T.)