Phóng viên Báo điện tử Một Thế Giới điều tra tài sản tham nhũng của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc?

Phóng viên Báo điện tử Một Thế Giới điều tra tài sản tham nhũng của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc?

Posted by adminbasam

Đôi lời: Trang Ba Sàm nhận được bài viết này gửi qua email. Trong bài có một đoạn ghi âm được cho là của ông Nguyễn Tuấn Nam, phóng viên báo điện tử Một Thế Giới, phỏng vấn ông Phạm Anh Tuấn, Phó Ban Nội Chính TW, về chuyện tham nhũng của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Không rõ nội dung nêu trong bài thực hư ra sao, xin được đăng lại đây, kính mời quý độc giả cùng đọc, cùng nghe và cùng thẩm định độ xác thực của các thông tin trong bài.

___

4-1-2016

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị, trong đó có vai trò không thể thiếu của báo chí. Thực hiện chủ trương của lãnh đạo tòa soạn, nhóm phóng viên nội chính Báo điện tử Một Thế Giới đã thực hiện việc tập hợp, chứng thực các tư liệu được quần chúng nhân dân cung cấp về khối tài sản của gia đình Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng thời thực hiện phỏng vấn lãnh đạo các cơ quan hữu quan. Tuy nhiên, việc làm đúng chức năng nhiệm vụ quy định rõ trong luật báo chí này đã bị ngăn chặn không thương tiếc bởi chính những người trong cuộc.

H1Được biết, Nguyễn Công Khế – ông chủ của báo Một Thế Giới và Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có mối quan hệ “không bình thường” từ hàng chục năm qua

Thời gian gần đây, mạng xã hội liên tục lan truyền thông tin về khối tài sản khổng lồ của gia đình Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc,… thậm chí một vị lão thành ở Tam Kỳ, Quảng Nam đã gửi đơn “Đề nghị thanh tra khối tài sản của Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc” liệt kê đầy đủ các hạng mục tài sản khủng mà gia đình ông Nguyễn Xuân Phúc đang sở hữu. Trả lời dư luận, Văn phòng Chính phủ nơi ông Nguyễn Xuân Phúc đang lãnh đạo chỉ phản ứng yếu ớt rằng “các đơn tố cáo là nặc danh, không có thực(?!). Thực hiện chức năng của báo chí trong công tác đấu tranh chống tham nhũng, nhóm phóng viên báo điện tử Một Thế Giới đã tập hợp những tư liệu mà quần chúng nhân dân cung cấp. Trong đó đáng chú ý là nhiều tài liệu scan giấy tờ sở hữu, kê khai tài sản và các giấy tờ liên quan có độ tin cậy rất cao. Trước mắt, phóng viên đã chứng thực một số khối tài sản thuộc sở hữu của gia đình ông Nguyễn Xuân Phúc:

Tiếp tục thực hiện phóng sự, phóng viên nội chính Nguyễn Tuấn Nam (0987.707.036) đã tìm hiểu tiến độ điều tra của các cơ quan chức năng bằng cuộc phỏng vấn ông Phạm Anh Tuấn (0903.411.825) – Phó Ban Nội chính Trung ương, người trong thời gian qua có nhiều phát ngôn quyết liệt về phòng, chống tham nhũng. Nội dung cuộc phỏng vấn xoay quanh thông tin dư luận về khối tài sản của Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trên blog, mạng xã hội. Tuy nhiên, ông Tuấn chỉ trả lời loanh quanh: “các thông tin trên mạng là các thông tin không chính thống”, “Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc do Bộ Chính trị quản lý nên Ban Nội chính không thể can thiệp”, “phải bảo đảm cái ổn định để tránh mất lòng tin lớn quá” và dặn đi dặn lại rằng “tốt nhất không nên có ý kiến gì”. Xin giới thiệu đến quý độc giả nguyên văn đoạn phỏng vấn:

YouTube player

Ghi âm phỏng vấn ông Phạm Anh Tuấn (0903.411.825), Phó Trưởng Ban  Nội chính Trung ương của Phóng viên Nguyễn Tuấn Nam (0987.707.036) về việc thanh tra khối tài sản khổng lồ của gia đình Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

PV: A lô, anh Tuấn ạ

Ông Tuấn: A lô, a lô

PV: Dạ em Nam, Báo điện tử Một Thế Giới ạ

Ông Tuấn: À ừ ừ ừ…

PV: Dạ vâng, liên quan những thông tin mấy trang mạng xã hội đưa về quan chức, lãnh đạo Nhà nước, những cái bất thường về khối tài sản, muốn hỏi anh tí là mình có vào cuộc xác minh hay xử lý về mặt thông tin hay không?

Ông Tuấn: Tức là thế này em này, cái thứ nhất là mình có cả một hệ thống chính trị, thứ hai là có cả một cơ chế, cả quy chế, cả quy định làm việc, đấy, chứ không phải đánh giá thấp cái trang mạng xã hội đâu! Nhưng mà đấy là những cái thông tin rất không chính thống, thông tin đúng cũng có, xây dựng cũng có nhưng ngược lại thì cũng có, đấy, những thông tin này hiện nay đang ở những mức độ, bởi vì tất cả những cái đó nếu có thì cũng chẳng ai xóa đi được, chẳng ai dấu đi được. Thế thì, hiện nay, vì nó là những thông tin từ xưa đến nay nó vẫn thế mà. Chính vì vậy nó không chính thống, cái thứ hai nữa là… là… là… là mình cũng không thể chạy theo hết các thông tin đó được. Đương nhiên là, chẳng hạn cán bộ có tài sản các thứ có vấn đề gì thì anh nghĩ là cả hệ thống chính trị với cả tổ chức đảng và nhà nước của mình hoàn toàn có đủ khả năng làm rõ. Cũng giống như đơn thư bây giờ người ta gửi đến rất là nhiều, tố cáo nhiều cái do người ta hiểu hoặc người ta nghĩ nhưng mà trên thực tế thì không đúng như thế, mình không thể chạy theo hết được nhưng cũng không bỏ qua cái đấy. Còn hiện nay thì chưa em ạ, hiện nay thì các thông tin trên mạng nó nhiều lắm, cho nên mình cứ bình tĩnh cái đấy thôi nhé. Chuyện anh trao đổi với em cũng không cần đưa lại làm gì nhé.

PV: Dạ vâng, cái đoạn nó đưa về… cụ thể anh em mình trao đổi với nhau thôi, trường hợp của bác Phúc đấy ạ, thì… thì…

Ông Tuấn: Anh hiểu rồi, anh hiểu rồi… ừ, hiện nay thì, ừ.…

PV: Ban (Nội chính Trung ương) của mình thì cũng không…?

Ông Tuấn (ngắt lời): Chưa, chưa có gì, chưa có gì hết, tức là thế này, bác ấy là Bộ Chính trị quản lý mà, cái thứ hai thông tin này trên trang mạng, tức là cái blog, mạng xã hội ấy mà, không có cái nào chính thống hết. Thế thì cái chính là mình phải bảo đảm cái ổn định để tránh mất lòng tin lớn quá. Câu chuyện tới đây, anh nghĩ là tốc độ của nó thì các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét. Nên thôi, theo anh tốt nhất mình không có ý kiến gì, bởi vì nó không có gì chính thức hết, ừ, theo anh thì như thế em nhé! Không có chính thức thì mình cũng không có ý kiến gì em nhé, ừ ừ…

H1Ông Lê Ngọc Thịnh – Tổng Biên tập báo điện tử Một Thế Giới

Chẳng may cho nhóm phóng viên Một Thế Giới, quá trình điều tra tài sản Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bị lọt đến tai Nguyễn Công Khế dẫn đến cuộc thanh trừng khốc liệt trong nội bộ tờ báo, mọi công tác liên quan bị đình chỉ tuyệt đối, toàn bộ hồ sơ liên quan bị thiêu hủy, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến Tổng biên tập Lê Ngọc Thịnh bị thất sủng.

Nhóm phóng viên Báo điện tử Một Thế Giới

VN ‘cẩn trọng xử lý đơn mạo danh’

VN ‘cẩn trọng xử lý đơn mạo danh’

 

Quốc hội Việt Nam

Tổng thanh tra Chính phủ Việt Nam nói “rất cẩn trọng trong tiếp nhận, xử lý” các loại đơn mạo danh liên quan đến nhân sự Đại hội.

Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 12 sẽ khai mạc ngày 20/1, quyết định các chức danh lãnh đạo cao nhất cho nhiệm kỳ 5 năm.

Thời gian vừa qua, trên mạng internet xuất hiện nhiều đơn thư, tài liệu tố cáo một số quan chức, kể cả Thủ tướng, Chủ tịch nước Việt Nam.

‘Tiếp nhận, xử lý’

Hôm 5/1, Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh nói với truyền thông trong nước về các loại đơn liên quan đến nhân sự ở Đại hội Đảng các cấp.

“Chúng tôi phối hợp với ủy ban kiểm tra các cấp để tiến hành chuyển đơn, xem xét theo đúng quy định pháp luật và quy định của điều lệ Đảng.”

“Đối với các loại đơn mạo danh liên quan đến nhân sự Đại hội, chúng tôi rất cẩn trọng trong tiếp nhận, xử lý.”

Ông Tranh giải thích: “Sau khi tiếp nhận thì chúng tôi trao đổi với các cơ quan chức năng, đặc biệt là ủy ban kiểm tra Trung ương là cơ quan có thẩm quyền về tư cách đại biểu đi dự Đại hội Đảng.”

Trong diễn biến liên quan các tài liệu trên mạng, báo điện tử Một Thế Giới ngày 5/1 ra thông cáo bác bỏ một đoạn ghi âm gắn tên phóng viên của họ.

Tờ báo nói: “Hôm 4/1, có trang mạng xã hội chia sẻ một đoạn file ghi âm được cho là nội dung cuộc điện thoại của một phóng viên Báo điện tử Một Thế Giới mang tên Nguyễn Tuấn Nam với một cán bộ Ban Nội chính Trung ương liên quan đến tài sản của một lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước.

Ban biên tập báo điện tử Một Thế Giới khẳng định thời gian qua không cử bất cứ phóng viên nào gọi điện phỏng vấn cán bộ Ban Nội chính Trung ương như file ghi âm lan truyền. Đồng thời, phóng viên Nguyễn Tuấn Nam cũng xác nhận không thực hiện cuộc gọi điện phỏng vấn như trên và giọng nói trong file này không phải là giọng của mình.”

Trước đó, hôm 30/12, một cán bộ ngoại giao đã nghỉ hưu ở Hà Nội, Lương Thanh Sở, đăng trên Facebook cá nhân nói ông không có bài viết nào trên mạng về Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Một bài viết đã được đăng tải lấy tên ông Sở.

Nhưng ông Sở khẳng định đây là bài viết trên trang Ba Sàm là “mạo danh”.

“Tôi không có bất cứ một bài báo nào đăng vào trang của Ba Sàm. Tôi phản đối và lưu ý người mạo danh tên tôi là vi phạm luật pháp.

Có thể người ta lợi dụng thời điểm tôi vừa nhận huy hiệu 50năm tuổi Đảng để “phong” cho tôi là đảng viên lão thành rồi gắn tên tôi thành tác giả bài báo. Tôi khẳng định đây là bài viết mạo danh.”

Đầu tháng 12/2015, mạng xã hội lan truyền đơn “Đề nghị thanh tra khối tài sản của Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc” được cho là của ‘một vị lão thành ở Tam Kỳ, Quảng Nam’ và đơn của một người tự nhận là ‘Nguyễn Đức Hạnh, cán bộ Văn phòng Chính phủ’ đề nghị thanh tra “việc 5 tháng trước khi rời chức Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc vẫn kịp ký bổ nhiệm 15 vụ trưởng, 35 vụ phó, gần 50 trưởng phòng, phó phòng, kiếm hàng chục triệu đô la”.

Hôm 30/12, báo Tuổi Trẻ thông báo một lãnh đạo Văn phòng Chính phủ mô tả điều họ gọi là đơn thư xuất hiện trên mạng internet tố cáo Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là đơn thư ‘mạo danh’ và “Văn phòng Chính phủ không có cán bộ tên Nguyễn Đức Hạnh”.

Những bức ảnh ấn tượng nhất của Reuters trong 30 năm.

Những bức ảnh ấn tượng nhất của Reuters trong 30 năm. 

Nhân dịp kỷ niệm 3 thập kỷ ra mắt dịch vụ ảnh, hãng Reuters đăng tải hàng loạt bức hình ấn tượng nhất do các phóng viên chụp tại những sự kiện lớn hay vùng chiến sự trên thế giới.

Nhiều người cùng kéo một thi thể ra khỏi đống đổ nát sau khi một quả bom nhằm vào đại sứ quán Mỹ tại Nairobi đã phát nổ tại Nairobi. Mục đích của việc kích hoạt bom là nhằm vào đại sứ quán Mỹ tại đây. Vụ việc khiến 250 người thiệt mạng và 5.000 người bị thương.

Nhiều người cùng kéo một thi thể ra khỏi đống đổ nát sau khi một quả bom nhằm vào đại sứ quán Mỹ tại Nairobi đã phát nổ. Vụ việc khiến 250 người thiệt mạng và 5.000 người bị thương.

 Phóng viên Shannon Stapleton ghi cảnh các nhân viên cứu hộ khiêng người bị thương ra khỏi đống đổ nát sau khi một trong hai tòa tháp trung tâm thương mại thế giới tại New York, Mỹ, bị khủng bố ngày 11/9/2001.

Phóng viên Shannon Stapleton ghi cảnh các nhân viên cứu hộ khiêng người bị thương ra khỏi đống đổ nát sau khi một trong hai tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới tại New York, Mỹ, bị khủng bố ngày 11/9/2001.

Adrees Latif ghi hình ảnh phóng viên Kenji Nagai của hãng AFP bị thương nhưng vẫn cố gắng chụp cảnh tượng cảnh sát và quân đội Myanmar nổ súng và đuổi người biểu tình tại trung tâm thành phố Yangon.

Adrees Latif ghi hình ảnh phóng viên Kenji Nagai của hãng AFP bị thương nhưng vẫn cố gắng chụp cảnh tượng cảnh sát và quân đội Myanmar nổ súng và đuổi người biểu tình tại trung tâm thành phố Yangon, ngày 27/9/2007. Đây là cuộc biểu tình của hàng nghìn người Myanmar nhằm phản đối chính phủ vì giá nhiên liệu tăng cao.

Nhiếp ảnh gia Juan Medina ghi lại cảnh tương phản khi một nhóm người tắm nắng trên bãi biển Gran Tarajal (Tây Ban Nha), trong khi một người da đen di cư đang dần kiệt sức sau chuyến hành trình lênh đênh trên biển. Những người di cư từ châu Phi tới châu Âu với hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Phóng viên ảnh Juan Medina ghi lại cảnh tương phản khi một nhóm người tắm nắng trên bãi biển Gran Tarajal (Tây Ban Nha), trong khi một người da đen di cư đang dần kiệt sức sau chuyến hành trình lênh đênh trên biển. Những người di cư từ châu Phi tới châu Âu với hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Lính cứu hỏa nỗ lực cắt một phần đường ống và khống chế đám cháy tại giếng dầu ở Kuwait năm 1991. Bức ảnh của nhiếp ảnh gia Russell Boyce cho thấy cảnh đám lửa cháy rực và vụ nổ đã thổi bay mũ bảo hiểm của một lính cứu hỏa.

Lính cứu hỏa nỗ lực cắt một phần đường ống và khống chế đám cháy tại giếng dầu ở Kuwait năm 1991. Bức ảnh của phóng viên Russell Boyce cho thấy cảnh đám lửa cháy rực và vụ nổ đã thổi bay mũ bảo hiểm của một lính cứu hỏa.

Cảnh tượng tan hoang tại thành phố London, Anh sau hai vụ đánh bom do nhóm khủng bố Cộng hòa Ireland (IRA) thực hiện. Vụ việc khiến hàng chục người bị thương.

Cảnh tượng tan hoang tại thành phố London, Anh sau hai vụ đánh bom do nhóm khủng bố Cộng hòa Ireland (IRA) thực hiện. Vụ việc khiến hàng chục người bị thương.

Phóng viên Robert Galbraith chụp cảnh một người đàn ông bám chặt nóc xe ô tô và chờ cơ lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ tới giải cứu sau khi cơn bão Katrina tấn công bang Louisiana, năm 2005.

Phóng viên Robert Galbraith chụp cảnh một người đàn ông bám chặt nóc ôtô và chờ cơ lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ tới giải cứu sau khi cơn bão Katrina tấn công bang Louisiana, năm 2005. . Galbraith chớp được hình ảnh ấn tượng này khi anh đang ở trên máy bay.

Lính cứu hỏa nỗ lực cắt một phần đường ống và khống chế đám cháy tại giếng dầu ở Kuwait năm 1991. Bức ảnh của nhiếp ảnh gia Russell Boyce cho thấy cảnh đám lửa cháy rực và vụ nổ đã thổi bay mũ bảo hiểm của một lính cứu hỏa.

Bức ảnh của phóng viên ảnh Yannis Behrakis cho thấy cảnh hàng chục dân tị nạn người Kurd chen chúc nhau để giành ổ bánh mỳ khi các nhân viên cứu trợ nhân đạo phân phát cho họ tại vùng núi Isikveren, biên giới giữa Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ.

 Phóng viên ảnh Viktor Korotayev ghi lại khoảnh khắc một cảnh sát Nga bế em bé trên tay và rời khỏi khu vực nguy hiểm sau cuộc khủng hoảng con tin đẫm máu tại trường học Beslan, Bắc Ossetia, tháng 9/2004. Bức ảnh sau đó xuất hiện trên trang nhất của nhiều ấn phẩm báo chí toàn cầu.

Phóng viên ảnh Viktor Korotayev ghi lại khoảnh khắc một cảnh sát Nga bế em bé trên tay và rời khỏi khu vực nguy hiểm sau cuộc khủng hoảng con tin đẫm máu tại trường học Beslan, Bắc Ossetia, tháng 9/2004. Bức ảnh sau đó xuất hiện trên trang nhất của nhiều ấn phẩm báo chí toàn cầu.

Ký ức kinh hoàng về vụ bắt cóc con tin ở Nga 10 năm trước

Tròn 10 năm sau cuộc khủng hoảng con tin trường học Beslan tại Cộng hòa Ossetia thuộc Nga, hình ảnh về vụ bắt cóc vẫn ám ảnh tâm trí nhiều người.

 Hình ảnh bé Glassa Galisou, 1 tuổi, mắc chứng suy dinh dưỡng đang đặt bàn tay gầy gò lên miệng của mẹ em tại khu vực cung cấp thức ăn khẩn cấp ở thị trấn Tahoua, phía tây bắc Niger.

Hình ảnh bé Glassa Galisou, 1 tuổi, mắc chứng suy dinh dưỡng đang đặt bàn tay gầy gò lên miệng của mẹ em tại khu vực cung cấp thức ăn khẩn cấp ở thị trấn Tahoua, phía tây bắc Niger.

 Người phụ nữ gào khóc và gọi tên chồng và con gái sau một trận động đất ở tỉnh Tứ Xuyên, tây nam Trung Quốc. Đây là bức hình của Jason Lee.

Người phụ nữ gào khóc và gọi tên chồng và con gái sau một trận động đất ở tỉnh Tứ Xuyên, tây nam Trung Quốc. Đây là bức hình của phóng viên Jason Lee.

 Phóng viên ảnh Ahmed Jadallah chụp cảnh tượng nhiều thi thể nằm giữa đường tại trại tị nạn Jabalya ở phía bắc dải Gaza sau một cuộc không kích. Bức ảnh của Jadallah đã giành giải Ảnh báo chí thế giới ở thể loại tin nóng.

Phóng viên ảnh Ahmed Jadallah chụp cảnh tượng nhiều thi thể nằm giữa đường tại trại tị nạn Jabalya ở phía bắc dải Gaza sau một cuộc không kích. Bức ảnh của Jadallah đã giành giải Ảnh báo chí thế giới ở thể loại tin nóng.

 Một người đàn ông Lebanon hét to để tìm kiếm sự giúp đỡ sau khi thấy một người bị thương nặng tại khu vực gần nơi vụ đánh bom xe xảy ra tại Beirut. Vụ nổ đã khiến cựu Thủ tướng Lebanon Rafik al-Hariri và 8 người khác thiệt mạng.

Một người đàn ông Lebanon hét to để tìm kiếm sự giúp đỡ sau khi thấy một người bị thương nặng tại khu vực gần nơi vụ đánh bom xe xảy ra tại Beirut. Vụ nổ đã khiến cựu Thủ tướng Lebanon Rafik al-Hariri và 8 người khác thiệt mạng.

 Người dân Palestine cố chạy thoát khỏi loạt hơi cay do các binh sĩ Israel bắn trong một cuộc đụng độ tại thị trấn Khan Younis, phía nam của dài Gaza.

Bức ảnh chụp cảnh người dân Palestine cố chạy thoát khỏi loạt hơi cay do các binh sĩ Israel bắn trong một cuộc đụng độ tại thị trấn Khan Younis, phía nam của dải Gaza.

Đừng ghê sợ hình ảnh này vì đó là chuyện tình yêu cổ tích giữa đời thường

Đừng ghê sợ hình ảnh này vì đó là chuyện tình yêu cổ tích giữa đời thường

 

Câu chuyện sau đây chính là minh chứng cho định nghĩa “tình yêu đích thực”, yêu nhau vì con người nhau, chấp nhận nhau, đùm bọc nhau dù cho hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.

Bạn sẽ miêu tả vẻ đẹp của người yêu bạn thế nào? Phần đông câu trả lời sẽ là người yêu tôi mắt trong xanh lắm, cái mũi của cô ấy nhỏ gọn đẹp lắm, cô ấy có mái tóc mềm mượt thích vô cùng. Những người yêu nhau cảm nhận nhau bằng ánh mắt, bằng cách chạm tay vào người, bằng cách hôn. Vậy có ai dám nói rằng người tôi yêu không có mắt, thân thể biến dạng và chằng chịt sẹo hay không?

Câu chuyện chúng tôi xin được trích dẫn từ báo Kapook (Thái Lan) sau đây chính là minh chứng cho định nghĩa “tình yêu đích thực”, yêu nhau vì con người nhau, chấp nhận nhau, đùm bọc nhau dù cho hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.

Người phụ nữ trong tấm ảnh đã gặp tai nạn tại nơi làm việc khiến cô vĩnh viễn mất đi dung nhan. 5 năm trước, cô và em trai mình từng làm việc ở một cửa hàng giày. Rồi một ngày nọ, có khách hàng tới cửa hàng giày của cô, dĩ nhiên cô mở cửa cho họ. Thế nhưng đây lại chính là khoảnh khắc hủy hoại toàn bộ cuộc sống của cô sau này. Người phụ nữ mà cô mở cửa cho ấy bất ngờ tạt thứ gì đó vào mặt cô, cô cảm thấy rất nóng, bỏng rát toàn khuôn mặt. Cả cô và em trai đều bị dính axit.

Sau vụ tạt axit, cả cô và em trai đều bị bỏng nặng, biến dạng toàn bộ khuôn mặt. Một nhân chứng tới giúp đỡ cô cho biết anh ta nhìn thấy cả hai con mắt của cô gái rơi ra ngoài. Giờ đây mặt mũi của cô thế nào cô cũng chẳng còn nhớ nổi nữa. Thời điểm ấy cô nghĩ rằng, cuộc đời chị em cô coi như là chấm hết, ước mơ kết hôn chắc cũng chẳng còn trong tầm tay.

Đừng ghê sợ hình ảnh này vì đó là chuyện tình yêu cổ tích giữa đời thường - Ảnh 2.

Cô gái bật khóc, gục đầu vào vai nam diễn viên Thái Lan Bin Bunluerit khi chia sẻ về câu chuyện đời mình.

Cô gái cũng đã đi trình báo cảnh sát về vụ việc. Thế nhưng vụ kiện cáo không thành công, kẻ tấn công cô vẫn nhẩn nhơ ngoài xã hội.

Cuộc sống tước đi của cô gương mặt, tước đi sức lao động của cô, tước đi tương lai của cô, nhưng không triệt đường sống cuối cùng của cô gái. Hai năm trôi qua, cô gặp lại người đàn ông, người đã thầm yêu cô từ khi cô vẫn đang làm ở cửa hàng giày, anh ta nói rằng anh đã yêu cô từ rất lâu rồi, anh cũng nghe về vụ tai nạn của cô, nhưng lúc ấy anh chưa có tiền. Anh làm việc quần quật trong 2 năm, có đủ tiền rồi ngay lập tức đến bên cô, anh hứa rằng anh sẽ làm mọi thứ vì cô. Cô là tất cả của anh.

Đến nay cũng đã hơn 5 năm kể từ vụ tạt axit kinh hoàng ấy. Cô và anh có với nhau một em bé vô cùng xinh xắn đáng yêu. Đứa bé yêu cô, vô tư hôn vào má mẹ nó không hề có chút sợ sệt dung nhan biến dạng của mẹ. Đến ngày hôm nay, thỉnh thoảng cô vẫn khóc vì số phận bi đát mà chị em cô phải chịu. Thế nhưng cô chẳng khóc nhiều, bởi đã có chồng bên cạnh cô, có cả con cô, đồng hành cùng với cô trên suốt chặng đường gian truân sau này.

May mắn thay cô đã có người đàn ông yêu cô bằng cả trái tim, không phải chỉ bằng mắt thường.

Gia đình cô gái được nam diễn viên Thái Lan Bin Bunluerit thăm hỏi động viên.

Cô và anh, dù vẫn phải ở nhà thuê, lương tháng cũng chẳng nhiều nhặn, thế nhưng hai người là minh chứng cho tình yêu thật sự. Yêu từ trong tim, không chỉ bằng mắt.

“Tôi buồn, giận dữ nữa nhưng vẫn cảm thấy may mắn vì có chồng ở bên” – cô gái nghẹn ngào nói.

Chúng ta cứ mải miết đi tìm những soái ca ngôn tình trong phim ảnh, có khi nào nhận ra ngôn tình thực sự là đây chứ đâu…

Theo Lương Hồng Phúc / Trí Thức Trẻ

Chứng khoán Trung Quốc sụt mạnh

Chứng khoán Trung Quốc sụt mạnh

AFP Thị trường Thượng Hải sụt mạnh

Giao dịch trên thị trường chứng khoán Thượng Hải đã bị tạm đình chỉ sau khi chỉ số Shanghai Composite sụt tới 7%.

Thoạt tiên phiên giao dịch bị đình chỉ 15 phút để điều chỉnh sau khi thị trường sụt 5%.

Tuy nhiên giá cổ phiếu tiếp tục giảm khiến các nhà điều hành phải quyết định đóng cửa sớm.

Trước đó thăm dò trong các nhà sản xuất cho thấy thêm tín hiệu xấu cho nền kinh tế.

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) do tạp chí Caixin và Markit Economics công bố giảm xuống 48,2 điểm trong tháng 12, là tháng sụt giảm thứ 10 liên tiếp trong hoạt động sản xuất.

Dưới 50 điểm có nghĩa ngành sản xuất của Trung Quốc bị suy giảm và trên 50 mới là tăng trưởng.

Chỉ số PMI, tập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, được công bố sau khi một khảo sát khác ở các công ty lớn hơn cũng cho thấy 5 tháng liền thuyên giảm hoạt động.

Chỉ số Shanghai Composite giảm 6,9% xuống 3.296,66 điểm trước khi giao dịch bị đình chỉ.

Theo quy định điều chỉnh mới được áp dụng từ 4/1, thị trường giảm 7% sẽ dẫn đến đình chỉ giao dịch.

Chỉ số Hang Seng ở Hong Kong giảm 2,8% xuống còn 21.293,13 điểm.

Toàn cảnh châu Á

Bắt đầu phiên giao dịch năm mới 2016 cả châu Á đều chung xu hướng suy giảm.

Chỉ số Nikkei 225 ở Nhật Bản giảm 3,1% xuống 18.450,98 điểm sau khi đồng yen mạnh lên gây áp lực lên các nhà xuất khẩu.

Thị trường Á châu cũng chịu ảnh hưởng từ sụt giảm ở thị trường Hoa Kỳ.

Chỉ số S&P/ASX 200 của Australia giảm 0,5% xuống 5.270,50 trong khi chỉ số Kospi của Hàn Quốc giảm 2,2% xuống 1.918,76 điểm.

Hong Kong quan ngại vụ bắt nhân viên hiệu sách

Hong Kong quan ngại vụ bắt nhân viên hiệu sách

Ông Lương Chấn Anh nói cảnh sát Trung Quốc không có quyền hoạt động tại Hong Kong

Cảnh sát Trung Quốc không có quyền hoạt động tại Hong Kong, người đứng đầu đặc khu hành chính Lương Chấn Anh nói giữa lúc đang có những lo ngại về việc một người bán sách địa phương bị giới chức ở đại lục bắt giữ.

Lý Ba là người đàn ông thứ năm có liên quan tới một cửa hàng bán sách chỉ trích chính phủ Trung Quốc bị mất tích kể từ tháng Mười tới đây.

Dân biểu địa phương Albert Ho nói rằng ông Lý, còn được biết đến với tên gọi Paul Lee, đã bị bắt cóc và đưa sang đại lục.

Sự biến mất của những người này đã làm dấy lên quan ngại về việc Trung Quốc đang làm xói mòn tính độc lập pháp lý của Hong Kong.

“Chính quyền và tôi rất quan ngại về vụ việc,” ông Lương, người từng bị chỉ trích là đã quá nương theo ý Bắc Kinh, nói.

Ông nhấn mạnh rằng “không có chỉ dấu” về việc có điệp viên Trung Quốc, nhưng nói thêm: “Nếu các nhân viên thực thi pháp luật của Trung Quốc tới làm bổn phận tại Hong Kong thì đó là điều không thể chấp nhận.”

Bộ Ngoại giao Anh nói họ đang điều tra về các tường thuật nói ông Lý có thể có hộ chiếu Anh.

Image copyright BBC Chinese Image caption Hiệu sách Causeway Bay đã đóng cửa một ngày sau khi ông Lý Ba mất tích

Ông Lý Ba biến mất hồi tuần trước.

Vợ ông nói ông đã gọi điện cho bà từ Thâm Quyến và nói với bà rằng ông đang giúp đỡ một cuộc điều tra.

Bà nói giấy phép trở về, là loại giấy tờ mà tất cả các công dân Hong Kong phải xuất trình khi vào Trung Quốc, thì vẫn ở nhà, điều mà dân biểu Albert Ho coi là bằng chứng cho thấy ông có lẽ đã bị các nhân viên an ninh buộc phải đi.

Ông Lý là người đã nêu nghi vấn báo động khi bốn đồng nghiệp của ông tại hiệu sách Causeway Bay (tên tiếng Hoa là Đồng La Loan Thư Điếm) và nhà xuất bản có liên quan, Mighty Current, bị mất tích hồi tháng Mười.

Việc ông mất tích hôm thứ Tư tuần trước khiến một số người nghi rằng vụ việc có liên quan tới một cuốn sách mà nhà xuất bản có kế hoạch tung ra, nói về những người đàn bà từng xuất hiện trong cuộc đời Chủ tịch Tập Cận Bình kể từ sau khi ông đã kết hôn với bà Bành Lệ Viện.

Nhà sách Causeway Bay đã đóng cửa một hôm sau khi ông Lý mất tích.

Hiện giới chức Trung Quốc chưa đưa ra tuyên bố chính thức gì, nhưng tờ Hoàn cầu Thời báo bản tiếng Trung gần đây đã có bài chỉ trích các cáo buộc nói mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đang bị gây phương hại.

Từ Nguyễn Hữu Đang đến Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Văn Đài

Từ Nguyễn Hữu Đang đến Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Văn Đài

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến 

RFA

Quản giáo hống hách như các “cô mậu” thời bao cấp.

Đoan Trang

Có lẽ vì tuổi đời chưa được nhiều, và vì không am hiểu rõ  về phong tục cùng tập quán của dân tộc Việt nên mới đầu năm/ đầu tháng – thay vì kiêng cữ cho nó lành – blogger Đoan Trang đã buông đôi lời không được nhã nhặn cho lắm đối với bộ công an (nói chung) và giới quản giáo coi tù (nói riêng) như sau:

Quản giáo hống hách như các “cô mậu” thời bao cấp…

Buổi sớm 2/1/2016, Hà Nội vẫn hơi lạnh và mờ mờ tối như những sáng mùa đông khác, nhưng chị Lê Thị Minh Hà (vợ blogger Ba Sàm) và chị Vũ Minh Khánh (vợ luật sư Nguyễn Văn Đài) đã dậy từ sớm để chuẩn bị đồ tiếp tế, mang vào trại B14 nuôi chồng.

Đây là lần thăm nuôi đầu tiên của họ trong năm 2016. Từ tháng 11 vừa qua, Trại tạm giam B14 (thuộc Cục An ninh Điều tra, Bộ Công an) đã lên lịch “gửi quà” cho người bị tạm giam, tạm giữ trong cả năm 2016. Theo đó, mỗi tháng Trại ấn định hai ngày cho thân nhân đến thăm nuôi người bị nhốt bên trong – nói trắng ra là NUÔI, vì chẳng ai sống nổi nếu không có đồ tiếp tế mà chỉ dựa vào trại.

Có đến đây mới thấy vô vàn cái bất cập và vô nhân đạo của hệ thống nhà tù, trại giam ở Việt Nam. Hay nói đơn giản hơn, đây là nơi mà sự chà đạp quyền con người trong xã hội được thể hiện một cách thô thiển và trêu ngươi nhất…

Cán bộ quản giáo nắm quyền xét duyệt đồ thăm nuôi, coi như có toàn quyền quản lý dạ dày của người bị giam, nên oai lắm, hống hách lắm, hét ra lửa mửa ra khói y như mậu dịch viên thời bao cấp. Ở họ, toát lên một thái độ kỳ lạ: luôn sẵn sàng ngồi lên đầu dân ngay lập tức, nếu thấy dân có vẻ run, yếu thế, dễ bị bắt nạt.

 Trong căn phòng đăng ký chật chội ở bên ngoài trại (là nơi người nhà khai báo và gửi đồ vào trong trại, cán bộ tiến hành kiểm tra, kiểm duyệt, cân đong đo đếm v.v.), luôn nghe thấy tiếng cán bộ la lối: “Chị Vinh đâu nhở?”, “Bà X. khai xong chưa? Làm cái gì lâu thế?”. Hễ viết sai một chữ là người đi thăm nuôi phải làm lại tờ khai mới, trong khi liên tục bị thúc giục, quát lác xơi xơi.

Chị Lê Thị Minh Hà đang nộp phiếu gửi đồ cho trại thì Thiếu tá Nguyễn Thị Kim Oanh, số hiệu 204-291, cao giọng: “Lần sau đi thăm nuôi thì chị đi một mình thôi. Một mình chị. Nhá”. Chị Hà hỏi có chuyện gì, cô thiếu tá này trỏ tay vào mấy bạn trẻ đi cùng (đưa chị Hà và chị Khánh đến trại): “Thì chị nhìn đấy. Họ đến đây làm mất trật tự”.

Thiếu tá Nguyễn Thiện Khánh, số hiệu 009-268, tranh thủ ngay: “Mời các anh chị ra ngoài. Đi về. Về”. Mọi người bực bội: “Chưa xong việc, về cái gì mà về?”.

Cô Kim Oanh lại hống hách: “Tôi không làm việc với các anh các chị. Tôi chỉ làm việc với chị Hà đây thôi. Nhá. Mời các anh chị về”…

Khách quan mà nói thì qúi vị quản giáo của trại giam B14 đã làm việc hoàn toàn theo “đúng qui trình,” và ngôn từ  của họ (nghe) cũng đâu đến nỗi nào:

– Chị Vinh đâu nhở?

Bà X. khai xong chưa? Làm cái gì lâu thế?

– Mời các anh chị ra ngoài. Đi về. Về.

Thì cũng ông/bà hay anh /chị đàng hoàng, chứ có phải là thằng này/ con nọ gì đâu – đúng không? Thế mà Đoan Trang vội vàng kết luận là “quản giáo hống hách như các ‘cô mậu’ thời bao cấp!”

Tôi e rằng nhà báo của chúng ta cũng chả rõ gì mấy về cái thời bao cấp này đâu. Trong lúc nóng giận cô chỉ nói (đại) thế thôi.

Muốn biết thực/hư ra sao, phải nghe qua đôi lời từ những người tù thời đó kìa. Trước hết, xin giới thiệu ông Nguyễn Hữu Đang, một người tù nổi tiếng hồi thập niên 60, nói qua (chút xíu) về nội qui của trại mình:

“Án bao nhiêu năm chẳng quan trọng, chẳng đáng kể. Không một mối liên hệ với bên ngoài, không thư từ, không thăm nom, không tiền hay quà hay lương thực gửi tới – không, anh không nhận được chút gì của bạn bè hay gia đình. Anh không có quyền nhận thăm nom, không tiếp xúc với bên ngoài. Anh chỉ sống chuyên giữa các anh với nhau, những người tù, những tù nhân chính trị. Thế giới của anh, nhân loại đối với anh là 200 người tù – không có những người đồng tổ quốc, đồng công dân; với anh, không có gì hết, chỉ có 200 người đồng ngục cùng một số phận…”

Kế tiếp là một người tù nổi tiếng (không kém) khác, cũng bị bắt giam vào năm 1959, ông Kiều Duy Vĩnh:

“Mẹ tôi đến Bộ Công An ở phố Trần Bình Trọng hỏi về anh con bị tù. Gác cửa không cho vào. Nhưng từ nhà tôi ở chợ Hôm ra hồ Thiền Quang chưa đến 1 km nên hầu như liên tục khi nào mẹ tôi đi đâu là mẹ tôi lại tạt vào Bộ Công An quấy rầy họ. Đến nỗi người thường trực cứ trông thấy mẹ tôi là tránh mặt không tiếp.

Mẹ tôi cứ đến hỏi. Hỏi mãi. Riết rồi họ phải trả lời. Nhưng cũng mất hơn 3 năm họ mới cho mẹ tôi cái địa chỉ trại tù Cổng Trời: Công Trường 75A Hà Nội. Mẹ tôi lại hỏi tiếp: Thế cái công trường này nó ở chỗ nào ở cái đất Hà Nội này? Họ bảo họ không biết…”

Đến thập niên 70 thì tình trạng ở trại giam ở Việt Nam đã được cải thiện rất đáng kể, tử tế hơn thấy rõ. Thân nhân người tù được cho biết nơi giam giữ và được cho phép vào thăm nom, và chuyện trò với phạm nhân – theo lời của người tù Bùi Ngọc Tấn:

“Hắn bước lên bậc cấp. Người đầu tiên hắn nhìn thấy là ông Thanh Vân. Vợ hắn và Bình ngồi ở phía cuối chiếc bàn hình chữ nhật to dài. Ông Thanh Vân ngồi đầu này.

– Báo cáo ông, tôi có mặt.

Ông Thanh Vân chỉ tay vào một cái ghế ở giữa:

– Anh ngồi xuống. Trại giải quyết cho anh được gặp chị ấy, nhưng anh không được nhận đồ tiếp tế.

Lại thế nữa. Nhưng thôi. Không đề nghị, không van xin. Đồ tiếp tế là những thứ cứu sống mình nhưng cũng không là gì cả. Điều quan trọng là được gặp vợ, hai vợ chồng đôí thoại. Được nhìn nhau. Được nhìn Bình, người bạn không bao giờ bỏ hắn.

Những câu đối thoại không biết bắt đầu từ đâu, luôn bị ám ảnh bởi sợ hết giờ. Những câu đối thoại có sự hiện diện của ông quản giáo, chỉ là những điều dối trá. Thì thôi, hãy nói cho nhau nghe những điều dối trá. Chúng ta đã học cách nghe những lời dối trá để qua đấy biết được sự thật. Ông Thanh Vân đã lại lúi húi vào quyển sách giáo khoa. Lần này là quyển Vật lý lớp 10. Ông là một người vừa thâm canh, vừa quảng canh trí tuệ.

Vợ hắn lên tiếng trước:

– Anh có khoẻ không?

Hắn nhìn vợ. Nhìn thẳng vào mắt vợ. Vợ hắn cũng nhìn vào mắt hắn. Hai người nhìn nhau. Họ đọc trong mắt nhau tình yêu thương, nỗi khổ cực, sự đau đớn, niềm tin, sự phẫn uất, nỗi tuyệt vọng, lòng xót thương không bờ bến, sự khao khát bên nhau và nỗi hận không làm được cả vũ trụ nổ tung lên…

Hắn thở dài.

Hắn không muốn thở dài trước những ông quản giáo, vì hắn cho rằng tiếng thở dài của người tù sẽ đem lại niềm vui cho họ. Hắn không muốn tỏ ra mềm yếu trước mặt người khác. Nhưng lúc này tiếng thở dài là cái van xả xúp-páp an toàn. Nếu không người hắn sẽ nổ tung lên mất. Cả người hắn như một quả núi lửa, nghẹn ngào…

Ngọc giàn giụa nước mắt, những dòng nước mắt lặng lẽ. Hắn nhìn vợ không bằng lòng. Cái nhìn ấy muốn nói: Đừng khóc em. Có ai thương chúng mình đâu. Những giọt nước mắt của em anh không trả được.”  (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Hoa Kỳ: 2000, 31- 34).

Đến đây – hy vọng – bà Lê Thị Minh Hà, bà Vũ Minh Khánh, cũng như nhà báo Đoan Trang, nếu không hoàn toàn hạ hoả thì cũng đã nguôi (giận) phần nào. Từ thời Nguyễn Hữu Đang đến thời của Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Văn Đài mới có hai thế hệ, hay nửa thế kỷ thôi – chỉ một cái chớp mắt của lịch sử chứ mấy – vậy mà lịch sử của hệ thống lao tù ở nước ta đã tiến một bước rất dài, gần như là nhẩy vọt (great leap forward) chứ đâu phải bỡn.

Lịch sử (vốn) tính bằng thế kỷ mà, không thể nào vội vàng được. Và cũng chả phải vội làm gì. Cứ từ từ vì  sẽ còn nhiều thế hệ người Việt vào tù nữa, nếu chế độ hiện hành vẫn còn có thể tiếp tục hoành hành ở Việt Nam.

Nỗi buồn cuối năm, nỗi buồn cuối đời

Nỗi buồn cuối năm, nỗi buồn cuối đời

Tạp ghi Huy Phương

 Nguoi-viet.com

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas, đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối Tháng Mười Hai Dương Lịch, trời đã bắt đầu se lạnh, bãi đậu xe trống vắng bóng xe, gần như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ già, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.

(Hình minh họa: Thomas Bjorkan/Wikipedia.org)

Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khỏe, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già! Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước máy điện toán, vào Facebook, hay trao đổi tin nhắn với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm cẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, niềm vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày lễ, Tết, và đầu điện thoại bên kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu nhồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều giải thưởng và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, cái ghế xích đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẽ cùng cơn gió nhẹ.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng, để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về, và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?

Cha mẹ Việt Nam tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây.

Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa Hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão. Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi, vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!

Đường cùng của lưu manh đỏ và quy luật “cùng tất biến”

Đường cùng của lưu manh đỏ và quy luật “cùng tất biến”

WEB BA SA`M

Dân Luận

Nguyễn Xích Long

Trong bộ phim Chu Nguyên Chương có một câu ông này dạy con “triều đình là nơi tập hợp những kẻ ghê gớm nhất thiên hạ”, nhưng ông ta không được sống ở thời “Đại Vệ chí dị” để hiểu rằng những kẻ tập hợp về triều đình bây giờ đã phát triển đến mức thái cực cửa sự ghê gớm trở thành “lưu manh đỏ” và sự lưu manh cũng đã đi đến bước đường cùng như nhiều người đã từng phân tích.

Trong xã hội “Đại Vệ chí dị” từ lâu người ta đã có cụm từ “lưu manh trí thức” để chỉ ra loại lưu manh cao cấp đã thâm nhập vào khắp triều đình từ cấp cao nhất đến cấp cơ sở,mức độ lưu manh thì đểu cáng vô nhân kinh khủng vượt xa loại lưu manh hạ cấp đầu đường xó chợ. Loại lưu manh này phát triển đến nay đã trở thành “lưu manh đỏ” biết dựa vào lý luận triết học để lừa bịp mị dân, nhưng do vẫn chỉ là đầu óc lưu manh nên cũng chỉ là trình độ lừa bịp mà qua những phát ngôn gần đây của cả đống “lưu manh đỏ” cấp cao trong triều đình thiên hạ đã nhìn thấy sự biến thái đến bế tắc của đường cùng.

Có thể thấy rõ sự cùng quẫn khi không còn biết cách nào để lý luận bịp bợm mà đành ăn nói bừa bãi quàng xiên một cách láo lếu kiểu của bọn lưu manh đầu đường xó chợ không coi dân chúng ra gì, thiên hạ không còn ai hiểu biết nữa. Những câu nói mà nhiều người đã đưa lên FB dưới dạng “Mỗi ngày một thằng ngu” với rất nhiều ví dụ như “Tăng giá điện toàn dân đều có lợi”, “bán vé số có thu nhập cao cần nghiên cứu phát triển”, “công khai tài sản công chức là vi hiến”, “biên cương bờ cõi biển đảo để cho con cháu đòi”, “Ngậm tăm khi giặc cướp biển dảo là đúng nếu không bây giờ chúng ta có ngồi đây mà họp hành bầu bán được không”, “trận đánh lớn của nghành giáo dục là bỏ môn sử”, “Tâm lý người dân ai cũng ghét Trung quốc rất nguy hiểm”, “luật sư bị đánh do gây bụi đường”, “Dân xem pháo hoa để quên đói nghèo”….. Sau những câu nói cùng quẫn là những chính sách cùng quẫn kiểu tận thu bóc lột đến đồng tiền cuối cùng của người dân như thu bảo hiểm y tế bắt buộc toàn dân, thu phí đường bộ xe máy, chặt cây xanh hàng loạt, tăng giá điện, nước, vô tội vạ, giảm giá xăng nhỏ giọt khi giá dầu thế giới giảm, tăng phí dịch vụ y tế vô tội vạ…. tất cả những điều này thể hiện sự bế tắc của “lưu manh đỏ” đã đến đường cùng được thấy rõ bằng các biểu hiện cạn kiệt ngân sách, nhiều địa phương đã không có tiền trả lương, nợ công tăng vọt, các công trình dự án vô bổ kém hiệu quả đua nhau mọc ra….

Theo quy luật tất yếu “cùng tắc biến” thì ta thấy sắp tới sẽ có rất nhiều biến, cuộc đại hội “lưu manh đỏ” phân chia lại quyền lực đang diễn ra khốc liệt đến mức triệt tiêu nhau sẽ có nhiều biến cố không lường, ngân sách cạn kiệt, tài nguyên cạn kiệt dẫn đến miếng ăn tham nhũng không còn đủ chia chác tất dẫn đến đánh nhau tranh giành miếng ăn quyết liệt lộ ra những sai phạm, tội lỗi nội bộ. Các phong trào đấu tranh của dân oan ngày càng phát triển rộng, sâu, các phong trào dân chủ phát triển mạnh về nhiều mặt, ý thức hệ cũng đã thay đổi sâu sắc trong xã hội đặc biệt là lớp trẻ đã có nhiều người tham gia nhiệt huyết năng nổ, hiện tượng ở Ninh Hiệp thiếu nhi cũng đã tham gia có tổ chức đông đảo chống chiếm đất đã trở thành điểm mẫu, mô hình đấu tranh có hiệu quả. Như vậy các pháp biến tất yếu sẽ xảy ra từ nội bộ “lưu manh đỏ” đến áp lực xã hội dân chúng bên ngoài và kể cả quốc tế, chắc chắn “Đại Vệ chí dị” sẽ có biến lớn trong thời gian ngắn sớm thôi. Các tổ chức dân sự và phong trào dân chủ cần chuẩn bị tinh thần, tổ chức, lực lượng để nắm bắt cơ hội thay đổi thể chế phát triển đất nước. Ai nắm bắt được đúng cơ hội sẽ trở thành lãnh đạo đất nước.

MỘT SẤM HAI TRUYỀN

MỘT SẤM HAI TRUYỀN

Web BA SA`M

Trong nhà dấy vạ: Ở lần truyền trước, hai chúa con nhà họ Trịnh tranh nhau quyền lực đến một mất một còn. Ở lần truyền này cũng hai chúa con nhà họ sản tranh nhau quyền lực lãnh đạo đến hội nghị thứ 14 chưa kết thúc, đất nước thêm tan nát đau thương. Các bạn cứ yên tâm tin tưởng vào lời sấm truyền, đại hội 12 này là đại hội cuối cùng của nhà sản, rồi chẳng phe phái nào trong Đảng giành được quyền bính, quyền bính sẽ trở về với người dân.

___

Hồ Trung Thạnh

3-1-2016

Trịnh Kiểm là kẻ chuyên bắt trộm gà của hàng xóm cho mẹ ăn, một hôm Trịnh Kiểm đi vắng, hàng xóm đem mẹ Trịnh Kiểm mà ném xuống vực. Trịnh Kiểm về khóc bên mộ mẹ. Lúc đó ông thầy bói đi qua mà truyền rằng:

Phi đế Phi bá
Quyền khuynh thiên hạ
Truyền tộ bát đại
Tiêu từng khởi vạ

Dịch là:

Chẳng đế chẳng bá
Quyền nghiên thiên hạ
Truyền được tám đời
Trong nhà dấy vạ

Nghe câu sấm trên,Trịnh Kiểm hết khóc mà hỏi lại rằng: Thầy truyền cho con à ?

Thầy bói trả lời: Cho con và một lần cho mai sau nữa!

Với Trịnh Kiểm lời truyền đó đã thành hiện thực:

Năm 1545 Trịnh lên cầm quyền, Trịnh tiếm quyền vua Lê và xây dựng sự nghiệp cho họ Trịnh, sự nghiệp nhà Chúa.

Nhà chúa danh nghĩa dưới nhà vua nhưng quyền nghiên thiên hạ, khuynh đảo nhà vua, vô cùng độc ác, giết cả người thân chiếm lấy mưu đồ, lòng dân oán hận nhưng không ai dám mở miệng nói ra vì sợ Chúa bắt.

Lúc bấy giờ dân sống một cổ hai tròng, khổ trăm bề. Nắm quyền hành trong tay nhà chúa độc đoán về chính trị, lũng đoạn kinh tế, bao che dòng họ cướp bóc của dân.

Cho đến nhà chúa đời thứ 8 chúa là Trịnh Sâm, cuộc chiến nội bộ giành quyền lực giữa hai chúa con cùng nhiều phe cánh đứng đằng sau, lúc này đất nước rối ren, kiêu binh xuất hiện, chính sự không sáng sủa.

Sau cùng xuất hiện phòng trào Tây Sơn Khởi nghĩa, vua chúa cùng chạy, đất nước đổi thay.

Sấm truyền đã đúng một lần với dòng họ Trịnh tiếm quyền làm chúa, thống lĩnh mấy mươi năm làm cho đất nước rối ren rồi sụp đổ bỡi một phong tào chính trị mới tiến bộ hơn, phong trào Tây Sơn.

Lần truyền thứ hai là truyền cho dòng họ nhà Sản, bởi họ nhà Sản có những cái trùng hợp với họ Trịnh năm xưa:

Phi Đế, phi Bá: Nhà Sản không chính danh lãnh đạo đất nước, Nhà sản không phải là Nhà nước nên không phải bậc đế vương mà người dân trao quyền bính. Nhà Sản chỉ là một số người đã tiếm quyền đất nước kể từ cuộc cách mạng cướp chính quyền năm 1945 trùng hợp với năm 1545  nhà Trịnh tiếm quyền đất nước.

Quyền nghiêng thiên hạ: Suốt 70 năm nắm lấy quyền bính, nhà Sản độc quyền lãnh đạo, lũng đoạn kinh tế chính trị gây ra bao nhiêu tan thương cho đất nước.

Truyền được tám đời: Kể từ khi tiếm quyền đất nước năm 1945, đến nay nhà Sản đã truyền ngôi cho nhau được 8 đời: (Trường Chinh, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng)

Trong nhà dấy vạ: Ở lần truyền trước, hai chúa con nhà họ Trịnh tranh nhau quyền lực đến một mất một còn. Ở lần truyền này cũng hai chúa con nhà họ sản tranh nhau quyền lực lãnh đạo đến hội nghị thứ 14 chưa kết thúc, đất nước thêm tan nát đau thương.

Các bạn cứ yên tâm tin tưởng vào lời sấm truyền, đại hội 12 này là đại hội cuối cùng của nhà sản, rồi chẳng phe phái nào trong Đảng giành được quyền bính, quyền bính sẽ trở về với người dân.

Qua đêm rồi trời lại sáng, đất nước Việt Nam chấm dứt chuỗi ngày đen tối.

Và ước mong của tôi là lời sấm ma quái ấy chỉ truyền có hai lần mà thôi!

Câu Chuyện Đầu Năm: Thoát Khỏi Sợ Hãi

Câu Chuyện Đầu Năm: Thoát Khỏi Sợ Hãi

Nguyễn Quang Dy

Không phải quyền lực làm tha hóa mà là sợ hãi. Sợ mất quyền lực làm tha hóa những người nắm quyền và sợ cái gậy quyền lực làm tha hóa nhữg người bị nó cai trị…” (Aung San Suu Kyi, diễn văn nhận giải thưởng Sakharov về Tự do Tư tưởng, 7/1991)

***

“Thóat khỏi sợ hãi” không phải là một ý tưởng mới, nhưng Aung San Suu Kyi đã làm mới và đúc kết nó lại thành một lý thuyết mới và niềm tin vững chắc, không những dựa trên triết lý Phật giáo và các tri thức phổ quát khác, mà còn dựa vào trải nghiêm của chính bản thân minh đã bị chính quyền độc tài quân sự đầy đọa suốt hai thập kỷ bằng quản thúc biệt lập. Lý thuyết này đã được Suu Kyi trình bày rõ trong bài luận “Thoát khỏi sợ hãi” (1990) và các bài viết, bài giảng, bài phỏng vấn khác trong những năm qua, để chia sẻ với người dân Miến Điện và thế giới bên ngoài, trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ vì tự do, dân chủ và nhân quyền, bằng đấu tranh bất bạo động. Muốn học hỏi kinh nghiệm của người Miến Điện (do Suu Kyi va NLD lãnh đạo) đã giành được thắng lợi to lớn trong cuộc tổng tuyển cử vừa qua, điều cần thiết là phải hiểu rõ “Thoát khỏi sợ hãi” thực sự có ý nghĩa gì, và chúng ta phải làm thế nào để ứng dụng đươc lý thuyết và kinh nghiệm đó vào thực tế của mình.

Động lực và nguồn cảm hứng

Các bậc tiền bối cách mạng Việt Nam (như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chi Minh, v.v.) đã đi tìm đường cứu nước để giành độc lập tự do bằng cách vượt biển sang Phương Tây (và Phương Đông) để tìm lối thoát “từ thế giới bên ngoài”. Ít nhất lúc đó họ còn được tự do đi lại. Nhưng Aung San Suu Kyi (cũng như Martin Luther King và Nelson Mandela) đã bị giam cầm biệt lập với thế giới bên ngoài. Nhưng họ đã không chịu khuất phục và bất lực trước hoàn cảnh, đã không bỏ phí thời gian, họ nghiền ngẫm tìm lối thoát “từ thế giới bên trong”, trước hết là giải phóng tư tưởng cho chính mình (ngay khi đang bị giam).

Suu Kyi kể lại, chính trong nhũng năm tháng bị quản thúc mà bà đã có thời gian tìm hiểu về bản chất “Sáu Nỗi khổ Lớn” (trong Đạo Phật): Sinh, lão, bệnh, tử, xa cách những người thân, và buộc phải sống chung với những người mình không thích. Chính hai điều cuối đã làm bà giác ngộ về nỗi khổ của chính bản thân mình và trách nhiệm của mình đối với nỗi khổ của người dân Miến Điện, quyết tâm dấn thân để giải thoát khỏi những nỗi khổ đó. Suu Kyi tin rằng “bất cứ nơi nào nỗi khổ bị bỏ qua thi nơi đó có mầm mống xung đột bởi vi nỗi khổ sẽ làm con người sa đọa, thù hận và bạo hành”

Không phải Suu Kyi chỉ đi tìm nguồn cảm hứng và lối thoát từ triết lý đạo Phật mà còn từ những tri thức phổ quát khác. Có lẽ bà đã tìm thấy mẫu số chung giữa triết lý đạo Phật và Tuyên ngôn Nhân quyền của LHQ. “Bỏ qua và coi thường nhân quyền đã dẫn đến những hành đông man rợ làm lương tri loài người phẫn nộ, nên LHQ tuyên bố rằng việc tạo ra một thế giới trong đó con người được tự do ngôn luận, tự do tin ngưỡng, thoát khỏi sợ hãi và thiếu thốn là nguyện vọng cao nhất của con người”. (Lời nói đầu của Tuyên ngôn Nhân quyền của LHQ)

Không thể thoát khỏi ngu dốt nếu chúng ta không được tự do đi tìm sự thật không bị khống chế bởi sợ hãi. Với mối liên quan chặt chẽ giữa sợ hãi và tham nhũng, không có gì là khó hiểu trong một xã hội mà sợ hãi bao trùm thì mọi hình thức tham nhũng sẽ ăn sâu bám rễ. Nếu chúng ta không thoát khỏi sợ hãi, chúng ta sẽ không thể để lại cho con cháu một tương lai mà chúng ta muốn chúng được hưởng.

Suu Kyi cũng tin rằng một cuộc cách mạng chỉ nhằm thay đổi chính sách và thể chế chỉ để cải thiện điều kiện vật chất thì sẽ không có cơ hội thành công thực sự. “Tầm nhìn của chúng ta về một thế giới phù hợp với loài người văn minh và có lý trí sẽ làm cho chúng ta dũng cảm chịu hy sinh để xây dưng một xã hội không thiếu thốn và không sợ hãi. Không thể coi thường những tiêu chí như sự thật, công lý và cảm thông vì những giá tri này thường là chỗ dựa duy nhất chống lai cường quyền”.

Trong số những quyền tự do cơ bản mà con người vươn tới, thì quyền thoát khỏi sợ hãi là cao nhất, vừa là phương tiện vừa là mục tiêu. Một dân tộc muốn xây dựng đất nước mình trên cơ sở những thể chế dân chủ lành mạnh được thiết lập vững chắc như một đảm bảo đối với quyền lực nhà nước, truớc tiên phải giải phóng tư tưởng cho chính mình khỏi vô cảm và sợ hãi. Muốn thoát khỏi sợ hãi, phải dũng cảm. Có người được trời phú cho “không biết sợ” (fearless), nhưng có lẽ chúng ta cần hơn cả lòng dũng cảm được tôi luyện qua thử thách, lòng dũng cảm bắt nguồn từ thói quen không chịu để sợ hãi điều khiển hành động của mình, có thể gọi đó là “sự bình thản trước thách thức”

Cơ sở lý luận

Trong bài “Thoát khỏi sợ hãi”, Suu Kyi phân tích, “Trong một chế độ phủ nhận sự tồn tại của nhân quyền, sợ hãi có xu hướng trở thành quy luật. Sợ bị bỏ tù, sợ bị tra tấn, sợ bị chết, sợ mất bạn bè, gia đình, tài sản hay phương tiện sống, sợ nghèo đói, sợ bị cô lập, sợ thất bại. Nhưng có một loại sợ khó nhận diện nhất núp dưới cái vỏ hiểu biết, thậm chí khôn ngoan, là mọi hành động dũng cảm nhỏ bé hàng ngày giúp ta duy trì lòng tự trọng và nhân cách con người thường bị lên án là dại dột, khinh suất, tầm thường, hay vô ích. Rất khó để những người bị sợ hãi khống chế theo nguyên tắc cai trị là “chân lý thuộc về kẻ mạnh” có thể tự giải phóng mình khỏi nỗi sợ ngột ngạt làm con người hèn yếu. Nhưng ngay trong bộ máy nhà nước hà khắc nhất thì lòng dũng cảm vẫn không ngừng trỗi dậy, vì sợ hãi không phải thuộc tính của con người văn minh”.

Suu Kyi chưa bao giờ nói rằng nền dân chủ là một hệ thống hoàn hảo, bởi vì con người chúng ta không hoàn hảo. Chúng ta không có khả năng sản sinh ra một hệ thống hoàn hảo. Nhưng Suu Kyi cho rằng sự không hoàn hảo đó cũng là điều hay và là một thách thức. Nếu chúng ta đều hoàn hảo cả thì thế giới này sẽ nhàm chán vô cùng. Điều quan trọng là chúng ta phải khắc phục sự không hoàn hảo của xã hội, của pháp luật và tập quán đã làm khổ chúng ta và làm xói mòn nhân phẩm.

Suu Kyi tin rằng “lòng nhân ái có thể thay đổi cuộc sống con người” và bà kêu gọi hãy “chung tay tạo ra một thế giới yên ổn trong đó mọi người có thể ngủ yên giấc và thức dậy trong hạnh phúc”. Theo Suu Kyi, lòng vị tha trong đạo Phật là tâm điểm của quá trình dân chủ hóa. Có lẽ bà chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các lãnh tụ dân quyền chủ trương bất bạo động như Martin Luther King và Mahatma Gandhi.

Ý tưởng đấu tranh bất bạo động của họ thực ra không khác tư tưởng của các bậc hiền tài trong lịch sử Việt Nam như Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại cáo” (1248), “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Suu Kyi cũng lập luận tương tự, “Khi người ta không có súng trong tay thì phải cố gắng sử dụng cái đầu của mình, phải dùng cảm xúc và trí tuệ để tìm ra giải pháp”. Có lẽ đây chính là ý tưởng “sức mạnh mềm” (hay sức mạnh thông minh).

Dường như các quan điểm chính trị này đã được giới khoa học và nghiên cứu lâu nay chia sẻ hoặc thừa nhận. Darwin nói (1872) sợ hãi là cảm xúc trầm cảm nhất trong mọi cảm xúc… Einstein cũng nói (1938) rằng mọi hành động có ý thức của chúng ta đều bắt nguồn từ ham muốn và sợ hãi… Như vậy, sợ hãi là cảm xúc nguyên thủy nhất trong mọi cảm xúc và có vai trò chính trong sự phát triển của bộ não, từ khi sinh ra cho đến suốt cuộc đời còn lại.

Trong cuốn sách “Tổ chức Không có Sợ hãi” (The Fear-free Organization, Kogan Page 2015), giáo sư Paul Brown, một nhà khoa học Anh, đã nghiên cứu yếu tố sợ hãi trong bối cảnh 8 cảm xúc cơ bản (Sợ hãi, Buồn phiền, Giận dữ, Kinh tởm, Thích thú, Vui vẻ, Yêu thương, Ngạc nhiên) để xem tại sao con người lại dễ sợ hãi và tại sao có thể vận dụng nó như một công cụ quản trị, bởi vì sợ hãi có vai trò lớn trong việc phát triển “cái tôi”. Nhưng ông cũng nói rằng tuy sợ hãi là thiết yếu để chúng ta tồn tại nhưng sợ hãi quá có thể hủy diệt chúng ta, bởi vì sợ hãi sẽ thôi thúc chiến đấu hoặc bỏ chạy…

Ông cho rằng, “Tất cả chúng ta sinh ra đã biết sợ: đó là do một phần cấu trúc thần kinh. Có một số thứ đáng sợ mà có lẽ về di truyền chúng ta đã được chuẩn bị từ trước để sợ…” Các nhà khoa học gọi đó là “thuyết chuẩn bị” (LeDoux, 1996). “Nhưng lại có những thứ chúng ta phải học mới biết sợ…” Vì vậy, chủ đề chính trong cuốn sách mà ông và các cộng sự viết là nhằm tạo ra một lý thuyết mới về con người và tổ chức, dựa trên việc sơ đồ hóa dòng chảy của năng lượng của con người trong tổ chức (thông hay tắc), để tìm cách quản trị nó một cách có lợi trong hệ thống tổ chức đó.

Paul Brown lập luận rằng những người lãnh đạo tạo ra sự khác biệt thường dũng cảm và có lòng tin, họ tin vào chính mình và tin vào những nhân sự chủ chốt trong tổ chức. Nó dựa trên sự tin cậy chứ không phải sợ hãi. Sợ hãi là trở ngại, còn quan hệ nhân ái là giải pháp. Bằng chứng nghiên cứu về thần kinh học cho thấy sợ hãi sẽ hủy diệt trong khi tin cậy sẽ sáng tạo. Ông tin rằng phát triển đột phá của khoa học trong thê kỷ 21 là từ ngành thần kinh sinh vật học (neurobiology)

Thực vậy, ngày 2/4/2013, tại Nhà Trắng, Tổng thống Barack Obama đã công bố chương trình nghiên cứu về bộ não (The BRAIN Initiative) với cam kết kinh phí ban đầu cho năm tài khóa 2014 là 110 triệu USD. Ông gọi chương trình này là “dự án lớn tiếp theo của Mỹ” (the next great American project) sau dự án nghiên cứu về “Sơ đồ Gien” (Genome Mapping project) để giúp các nhà khoa học tìm hiểu nguồn gốc và lý giải các hoạt động bí ẩn của bộ não (enigmatic brain activities).

Kinh nghiệm thực tế

Bài học Miến Điện

Miến Điện từng là thuộc địa của Anh, nhưng có lẽ người Miến Điện không căm thù và bài xích người Anh. Sau khi giành độc lập, người Miến Điện không phải chống người Anh như người Việt Nam phải chống người Pháp (vì chúng “muốn chiếm nước ta một lần nũa”). Cũng như Ấn Độ, người Miến Điện chịu ảnh hưởng nhiều của ngôn ngữ Anh và văn hóa Anh. Tuy Miến Điện có nhiều mâu thuẫn sắc tộc và tôn giáo nên cần một chính quyền trung ương và quân đội mạnh để giữ gìn an ninh trật tự, nhưng có lẽ chế độ độc tài quân sự chỉ là ngoại lệ, chứ không phải là truyền thống.

Việc hiến pháp (do quân đội soạn thảo) cấm người có vợ chồng con cái là người nước ngoài làm tổng thống chỉ là một thủ đoạn chính trị để đối phó tình huống (với Aung San Suu Kyi), chứ có lẽ không phải là truyền thống văn hóa bài ngoại. Điều khoản này chắc sẽ phải bỏ, vì sau tuyển cử thắng lợi Suu Kyi đã tuyên bố thẳng thừng là sẽ “ở trên tổng thống”. Đa số các sỹ quan cao cấp, trí thức, và doanh nhân Miến Điện đều học các trường của Anh, nên việc lấy người nước ngoài không phải hiếm.

Việc đa số lãnh đạo quân đội và phe đối lập đều là trí thức là một tiền đề quan trọng và may mắn để hai phía có thể hòa giải. Tuy lãnh đạo quân đội trở thành độc tài, tham nhũng, mất lòng dân, nhưng vì họ là trí thức có hiểu biết nên có thể nhận ra sai lầm để chấp nhận đàm phán và thỏa hiệp. Đạo Phật và trí thức là hai yếu tố thuận lợi cho đấu tranh bất bạo động và hòa giải dân tộc ở Miến Điện.

Khi đàm phán có hai tiền đề quan trọng là phải xây dựng lòng tin (không nuốt lời hứa và không trả thù) và hai bên phải theo luật chơi (dựa trên luật pháp hay quy tắc ứng xử). Nếu hai bên tiếp tục lo sợ, nghi ngờ, thù hận thì không thể có lòng tin. Nếu hai bên không ứng xử có văn hóa thì sẽ không tôn trọng luật chơi (sẽ chơi theo luật rừng). Nói cách khác, muốn hòa giải và thỏa hiệp, thì phải từ bỏ cực đoan và thù hận. Người Miến Điện có thể làm đươc, liệu người Việt Nam có làm được không?

Bài học Trung Quốc

Tâm lý lo sợ, nghi ngờ thường dẫn đến hành động cực đoan, bạo liệt. Đó không phải chỉ là đặc thù của chế độ độc tài cộng sản Trung Quốc, mà còn là hệ quả của dân trí thấp, do bị kiểm duyệt chặt chẽ bởi những người cộng sản vô học và vô đạo, luôn hành xử một cách cực đoan và cuồng tín. Tại sao họ lại tra tấn và tàn sát lẫn nhau không thương tiếc trong Cách mạng Văn hóa? Tại sao họ lại đàn áp sinh viên một cách dã man không thương tiếc tại Thiên An Môn? Họ bị xô đẩy bởi tâm trạng lo sợ và tư duy cực đoan.

Vụ đàn áp hàng loạt phái Pháp Luân Công (từ năm 1999) và chiến dịch “Thu hoạch Đẫm máu” (Bloody Harvest) mổ lấy nội tạng sống của họ đem bán lấy tiền (dưới thời Giang Trạch Dân và những kẻ khác) đã bị dư luận lên án là tội ác khủng bố chống loài người, như “quả bom nổ chậm” trong hồ sơ nhân quyền Trung Quốc. Tại sao người ta có thể đối xử mất nhân tính như vậy đối với đồng loại (như thời Trung cổ)? Có lẽ lo sợ và lòng tham đã đã xô đẩy những lãnh đạo cực đoan phạm tội ác man rợ này.

Trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc cũng bị xô đẩy bởi mối lo sợ (tiềm ẩn) và cơ hội thực dụng (trước mắt). Một lãnh đạo TQ đã nói thẳng thừng, “Phải chống đế quốc Mỹ đến cùng, nhưng cách chống tốt nhất là hợp tác với họ”. Đó là quan điểm thực dụng theo kiểu “mèo trắng mèo đen, miễn là bắt được chuột” của Đặng Tiểu Bình. Về chiến lược lâu dài, Mỹ vẫn là kẻ thù chính, nhưng về lợi ích trước mắt, Trung Quốc có thể trục lợi bằng hợp tác với Mỹ theo chính sách “tham dự một cách xây dựng” (constructive engagement) để phát triển kinh tế (nhưng không thay đổi chính trị), cho đến khi đủ mạnh để trở mặt thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ và thay đổi nguyên trạng, bằng chia sẻ hay tranh giành quyền lực.

Trong vụ Vương Lập Quân chạy vào Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô (năm 2012, vì lo sợ đến tính mạng) người Mỹ đã hợp tác với Tập Cận Bình để giúp ông ta xử lý các đối thủ chính trị (như Bac Hi Lai và Chu Vĩnh Khang cùng đồng bọn, được Giang Trạch Dân ngầm ủng hộ) trong chiến dich “đả hổ diệt ruồi”. Tập Cận Bình đã lợi dụng chống tham nhũng để củng cố quyền lực, vì lo ngại nếu không diệt đối thủ thì sẽ bị đối thủ tiêu diệt. Đấy là bản chất của đấu tranh quyền lực cực đoan.

Nay Tập Cận Bình đã củng cố xong quyền lực của mình, và Trung Quốc đã trở thành siêu cường kinh tế thứ hai trên thế giới, nên ông ta quyết định thực hiện “Giấc mộng Trung hoa” bỏ qua lời khuyên của Đặng Tiểu Bình là phải chờ thời. Ông ta cho rằng đã đến lúc trở mặt thách thức Nhật Bản (ở phía Đông) và thách thức Mỹ và ASEAN (ở phía Nam) vì tin rằng Biển Đông vừa là cơ hội tốt vừa là nguồn lợi lớn, cần dùng sức mạnh thách thức vị trí đứng đầu của Mỹ tại khu vực. Ông ta lo sợ cơ hội tốt tại Biển Đông có thể tuột mất nếu không hành động ngay (trước khi Mỹ và Việt Nam trở thành đồng minh chiến lược). Tập Cận Bình muốn kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan để rửa nỗi nhục trong quá khứ, và làm giảm áp lực căng thẳng trong nước bằng cách gây căng thẳng bên ngoài để bành trướng.

Trong thập niên 1950 và 1960 khi Việt Nam và Trung Quốc còn gắn bó như “môi với răng”, Việt Nam đã bắt chước đường lối cực đoan và quá khích của Trung Quốc trong “Cải cách Ruộng đất” và đàn áp “Phong trào Nhân văn Giai phẩm”. Việt Nam đã bị xô đẩy bởi chủ nghĩa Mao cực đoan và bạo liệt, nhầm lẫn giữa ý thức hệ và lợi ích dân tộc. Đầu năm 1979, Trung Quốc đã quyết định “dạy Viêt Nam một bài học”, xô đẩy người Việt Nam vào vòng tay người Nga (cũng như đang xô đẩy VN vào vòng tay người Mỹ hiện nay). Đến 9/1990, Viêt Nam lại bị xô đầy vào vòng tay Trung Quốc một lần nữa (tại Thành Đô), cũng bởi vì quá lo sợ và nhầm lẫn về ý thức hệ với lợi ích dân tộc. Còn bây giờ, sau vụ dàn khoan HD 981 sẽ là cái gì tiếp theo thì chưa ai biết rõ. Chỉ biết Việt Nam vẫn đang mắc kẹt ở ngã ba đường.

Bài học Việt Nam

Trong khi tại Miến Điện (hay Thái Lan) Phật giáo vẫn là quốc giáo, được cả chính quyền và người dân tôn trọng, thì tại Việt Nam (hay Trung Quốc) Phật giáo bị chính quyền thao túng để kiểm soát vì lo sợ. Kết quả là Phật giáo bị xâm nhập, phân hóa, thương mại hóa, ngày càng suy thoái trở thành “mạt pháp”. Do đó, Phật giáo không còn là nền tảng văn hóa cho tập quán và hành xử tử tế của con người trong cộng đồng, nên ngày càng nhiều người hành xử một cách vô đạo (bạo lực và dối trá)

Vì thiếu nguồn đào tạo bài bản và có nhân cách trí thức, nên giới trí thức nhỏ bé và phân tán của Viet Nam càng dễ bị vô hiệu hóa và phân hóa, có vai trò khá mờ nhạt trong xã hội. Số lượng bằng cấp và học vị thì rất nhiều và rất cao, nhưng đáng tiếc đa số đều là học dối và bằng gian, hoặc chất lượng thấp. Đặc biệt là trong giới lãnh đạo và quan chức thì điều này lại càng phổ biến, rất hiếm trí thức thực thụ. Đây là một khoảng cách trí thức (intellectual gap) giữa Việt Nam với các nước khác (kể cả Miến Điện). Nhiều người cho rằng hầu như không thể tìm được một nhân vật nào như Aung San Suu Kyi.

Vi lý do này (và những lý do khác) Viêt Nam không phải chỉ là một chế độ độc tài, mà còn là một xã hội bị phân liệt, vì cả dân thường lẫn các các thành phần chính trị ưu tú cũng không theo một chuẩn mực ứng xử nào đàng hoàng hay rõ ràng (mà như “luật rừng”). Nó phản ánh tâm lý lo sợ, bất an, nghi ngờ, xô đẩy họ ứng xử với thói quen đối phó tình huống trước mắt, chỉ để tồn tại (chứ không phải để phát triển), dẫn đến những hành động bất thường, cực đoan, và bạo liệt.

Trong quan hệ với Mỹ, mối lo “diễn biến hòa bình” khá nặng nề, vừa do Trung Quốc xúi bẩy (từ bên ngoài), vừa do “tâm trạng cố thủ” (từ bên trong), như một hệ quả của chiến tranh. Mối lo này còn tăng lên gấp đôi vì mối đe dọa (vừa thật vừa phóng đại) của “các thế lực thù địch và phản động” trong cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ và phương Tây, như “Mặt Trận” do Hoàng Cơ Minh cầm đầu (trước đây) cũng như “đảng Việt Tân” (hiện nay) mà cả hai được nói đến trong phim “Terror in Little Saigon”.

Ngay cả khi Việt Nam rất cần hợp tác với Mỹ để tham gia sân chơi TPP và nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ để tái cân bằng với Trung Quốc và đối phó với mối đe dọa ngày càng lớn tại Biển Đông, thì mối lo sợ Mỹ can thiệp vẫn còn ám ảnh. Tâm lý này được giải tỏa một phần khi Tổng Bí thư Đảng CSVN đến thăm chính thức Washington gần đây, được tổng thống Mỹ đón tiếp long trọng, với những lời đảm bảo chính thức không can thiệp vào nội bộ. Nhưng mối lo ngại về Trung Quốc và Mỹ vẫn tiếp tục làm lãnh đạo Việt Nam lúng túng, không dám quyết định dứt khoát đi theo hướng nào.

Trong nước, chính quyền lo đối phó với bất đồng và phản kháng ngày càng nhiều của người dân, do bị các nhóm lợi ích thân hữu (được độc quyền nhà nước che chở) chiếm đoạt ruộng đất và tài sản, và do kinh tế suy thoái vì quản lý yếu kém và tham nhũng tràn lan, lại bị ám ảnh bởi những thay đổi rung chuyển gần đây tại Trung Đông và Miến Điện. Tất cả tạo nên sức ép ngày càng lớn lên giới lãnh đạo và các thể chế chính trị đang bị phân hóa sâu sắc bởi lợi ích nhóm và tranh cãi về ý thức hệ, làm cho đấu tranh phe phái và tranh giành quyền lực càng bị phân hóa và trở nên cực đoan hơn trước.

Tuy đấu tranh phe phái và tranh giành quyền lực là chuyện bình thường tại các nước, nhưng nó trở nên bất bình thường tại Việt Nam vì hiểm họa Trung Quốc đã chuyển từ tiềm ẩn thành hiện thực kể từ khi họ quyết định lấn chiếm và kiểm soát Biển Đông bằng cách đem dàn khoan HD 981 vào vùng biển của Viêt Nam (nên 5/2014 là một bước ngoặt). Họ san lấp các đảo và xây dựng các công trình quân sự trên các đảo tại khu vực Trường Sa và Hoàng Sa, thách thức ASEAN, Mỹ và cộng đồng quốc tế.

Đại hội XII đứng trước một thách thức lớn vì nó diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Trung đang khủng hoảng và Biển Đông đang trở thành thùng thuốc súng. Nó đòi hỏi lãnh đạo Việt Nam phải quyết định chọn con đường nào: Đổi mới cơ bản và toàn diện vì lợi ích quốc gia để mạnh lên từng bước “thoát Trung”, hay tiếp tục mù quáng đi theo con đường mòn Thành Đô lệ thuộc vào Trung Quốc theo “định hướng XHCN”. Trong khi cương lĩnh chính trị và kinh tế của Đảng chẳng đưa ra được cái gì mới, thì lãnh đạo chỉ chúi đầu vào vấn đề nhân sự để tìm mọi cách giành giật cái ngôi báu đã mục nát. Tại hội nghị trung ương 13 (và 14) trước Đại hội Đảng (từ 20-28/1/2016) tuy họ ráo riết giành thế thượng phong nhằm chiếm vị trí cao nhất, nhưng vẫn bế tắc chưa thỏa thuận được phương án về “bộ tứ”, không biết vì yếu tố bên trong (do không thỏa hiệp được với nhau) hay vì yếu tố bên ngoài (do Trung Quốc can thiệp). Chỉ biêt rằng thù hận, lo sợ và tham lam sẽ tiếp tục đẩy họ vào ngõ cụt, nguy hiểm cho chính họ và cho đất nước.

Dù phái nào giành được thế thượng phong trong trò chơi quyền lực nhơ bẩn và cực đoan “một mất một còn” này, và dù ai trong số “bộ tứ” đang cầm quyền sẽ giành được vị trí đứng đầu tại Đại hội XII sắp tới, thì nhân dân sẽ thua và đất nước này sẽ còn khổ, nếu chẳng có ai trong số họ thực sự muốn cải cách cơ bản và “thoát Trung”. Trong khi đó, Trung Quốc một lần nữa lại đang trùm cái bóng đen lên sân khấu chính trị Việt Nam khi Chủ tịch Quốc hội VN đột ngột đi thăm Trung Quốc (21/12/2015), làm dấy lên lo ngại là Trung Quốc có thể can thiệp trực tiếp vào nội bộ Việt Nam để ủng hộ phái thân Trung Quốc khi trận đấu cuối cùng sắp diễn ra tại Hà Nội vào cuối tháng này. Một bức tranh thật ảm đạm!

Những diễn biến nguy hiểm này đang là tâm điểm thời sự, nhưng là vùng “nhạy cảm” đối với “báo chí lề phải”, ngày càng trở nên bất lực do bị kiểm duyệt chặt chẽ. Vì vậy, các phe phái đang lợi dụng cả báo chí “lề trái” để đánh nhau, vì hiệu quả hơn. Việc xuất hiện trang mạng bí ẩn “Chân dung Quyền lực” là một ví dụ. Sự phát triển nhanh chóng của truyền thông kỹ thuật số và các mạng xã hội đang trở thành mối lo đối với bộ máy tuyên giáo lạc hậu của Đảng, đang lúng túng không biết kiểm soát thế giới mạng như thế nào. Hiện nay, mối lo “tự diễn biến” là sự nối tiếp của mối lo “diễn biến hòa bình” trước đòi hỏi về dân chủ và nhân quyền đang tăng lên (sau thỏa thuận TPP) sẽ trở thành thực tế trong 2016.

Nói cách khác, người Việt Nam đã “sống trong sợ hãi” quá lâu nên sợ hãi trở thành một phần cuộc sống và họ có thể thấy khó sống nếu thiếu sợ hãi (giống như những người nghiện xem phim ma). Khi người Miến Điện bắt đầu “thoát khỏi nỗi sợ” để hòa giải, như thoát khỏi một đường hầm dài, thì người Việt nam vẫn đang mắc kẹt trong đường hầm tối đen. Hà Nội càng chìm đắm vào những mưu đồ chính trị trước Đại hội Đảng, thì nó lại càng giống “thung lũng sợ” với đủ mọi loại sợ trên đời.

Muốn chơi với Mỹ thì sợ mất lòng Trung Quốc và sợ “diễn biến hòa bình”; Muốn tham gia TPP thì sợ dân chủ và nhân quyền; Chấp nhận xã hội dân sự thì sợ “tự diễn biến”; Thích nhận kiều hối nhưng sợ “các thế lực thù địch”; Chống tham nhũng (đánh chuột) thì sợ “vỡ bình”; Phải minh bạch thì sợ “lộ bí mật nội bộ”; Tiếp dân thì sợ “dân khiếu kiện”; Kêu gọi dân góp ý thì sợ “trí thức phản biện”; Sử dụng mạng thì sợ truyền thông “lề trái”; Thích đấu đá nội bộ, nhưng lại sợ mất ghế…

Tóm lại là chúng ta sợ tất cả, sợ một cách cực đoan và tiêu cực. Không phải chỉ có người dân mà cả chính quyền vẫn đang “sống trong sợ hãi”. Vì vậy, nếu không “thoát khỏi sợ hãi” thì đất nước này không thể “thoát Trung”, dân tộc này không thể thoát khỏi nghiệp chướng “tù binh của quá khứ”, tiếp tục mắc kẹt trong đường hầm và hang tối của ý thức hệ, không có lối thoát.

Thay cho lời kết

Sợ hãi và cực đoan là bạn đồng hành, và là hệ quả của nhau, như câu chuyện “con gà và qủa trứng”, không biết cái nào có trước hay có sau. Sợ hãi và cực đoan là hai mặt của một vấn đề, như “âm bản và dương bản”, một cái phản ánh trạng thái cảm xúc, một cái phản ánh trạng thái tư duy. Cả hai luôn tương tác với nhau trở thành nguồn năng lượng tiêu cực, có khả năng phá hủy khôn lường. Cả hai kết hợp với nhau thành một tai họa kép, là nguyên nhân sâu xa của mọi tai họa trên đời.

Muốn chống cực đoan phải thoát khỏi sợ hãi, và muốn thoát khỏi sợ hãi phải chống cực đoan, không phải chỉ từ bên ngoài mà còn từ bên trong (chính mình). Muốn chống bạo lực, khủng bố, chiến tranh, và muốn hòa giải, hòa hợp, hòa bình và hợp tác, trước hết phải thoát khỏi tâm trạng sợ hãi và hận thù , phải thoát khỏi tư duy cực đoan và cuồng tín, để thực sự thay đổi trước khi quá muộn.

Hãy tự hỏi tại sao thừa nhận nỗi sợ hãi lại khó đến thế. Có lẽ còn khó hơn là thừa nhận sai lầm và thất bại. Tuy nỗi sợ hãi có thể là thuộc tính của Con người Nguyên thủy, nhưng không phải là thuộc tính của Con người Văn minh. “Thoát khỏi sợ hãi” là giải phóng mình khỏi hang động tối tăm (như “Tù binh của Qúa khứ”) để ra bên ngoài hưởng ánh sang mặt trời.

Tham khảo

“Freedom from Fear” essay, Aung San Suu Kyi, 1990
“Freedom of Thought” speech, Aung San Suu Kyi, July 1991
“Nobel prize acceptance lecture”, Aung San Suu Kyi, Oslo, June 16, 2012
“Sakharov prize acceptance speech”, Aung San Suu Kyi, Strasbourg, October 22, 2013
“Obama announces huge Brain-Mapping project, Stephanie Pappas, Live Science, April 2, 2013
“The Fear-free Organization”, Paul Brown, Joan Kingsley, Sue Paterson, July 2015

2/1/2016

N.Q.D.

Nguồn: http://viet-studies.info/kinhte/kinhte.htm

‘Khéo dư nước mắt…’

‘Khéo dư nước mắt…’
Nguoi-viet.com
Tạp ghi Huy Phương

Mới mấy tháng trước đây thôi, vào lúc nửa đêm, tại một tiệm bánh pizza Papa John’s ở thành phố Helena, Montana, một người đàn ông bịt mặt vào tiệm, tiến đến quầy thu ngân, đưa ra một mảnh giấy đòi nộp tiền. Công nhân của cửa tiệm vội vã mở hộc, hốt hết tiền đưa cho “kẻ cướp,” nhưng không, người đàn ông bịt mặt, ngần ngừ rồi bỗng bật khóc và nói rằng, ông ta chỉ cần ít thức ăn cho các con ông ở nhà đang đói, chứ ông không phải là tên ăn cướp chuyên nghiệp. Người đàn ông, sau đó rời khỏi tiệm với một hộp pizza và một ít cánh gà, cho gia đình của ông, đang không có gì ăn tối nay. Chủ tiệm đã báo cảnh sát ngay sau đó, nhưng chắc là không có ai nỡ bỏ tù một người khốn khổ như vậy.

Dân Bắc Hàn khóc khi Chủ Tịch Kim Nhật Thành qua đời năm 1994. (Hình minh họa: AFP/Getty Images)

Người ta thường lên án nạn cướp bóc, trấn lột, nhưng nghĩ sao trong trường hợp này, liệu nhân viên cửa tiệm có thể rộng lượng cho đi một ít thức ăn, nếu có một người đàn ông đói khát bất ngờ, thay vì bỏ tiền ra mua thức ăn, lại ngửa tay xin một vài cái cánh gà, hay một miếng bánh cho gia đình và chính ông ta không?

Trong tám tiếng đồng hồ chạy theo công việc, tám tiếng đồng hồ sống với gia đình và tám tiếng nghỉ ngơi hay đắm mình vào giấc ngủ, có thời gian nào chúng ta nghĩ đến những đồng loại bất hạnh đang ở gần với chúng ta đây thôi, trong nước Mỹ giàu có, hạnh phúc và cả ở trên quê hương khốn khổ đã xa bên kia của mình.

Chúng ta lên án người khác thì dễ nhưng mở lòng bao dung thì khó! Ở gần chỗ đèn xanh, đèn đỏ đầu đường phố, chúng ta thường miệt thị những kẻ không nhà đang đứng hàng giờ để ngửa bàn tay xin lòng đoái thương của kẻ qua đường. Chúng là kẻ chây lười, hút xách, nghiện ngập, lười biếng, bỏ tù chúng đi là vừa, chúng chỉ làm mất đi vẻ mỹ quan của thành phố. Trưng bảng xin tiền ra giữa đường là phạm luật, làm tiền là thương mại, phải có giấy phép của chính quyền địa phương, nhưng rồi cảnh sát cũng phải làm ngơ.

Ngoài phố Bolsa, trong những ông sư cùng mặc áo vàng đứng “khất thực” nơi đây, ai giả, ai thật, vậy tốt hơn là tôi ngoảnh mặt làm ngơ đi cho đỡ suy nghĩ. Trước một ngôi chợ ở khu Việt, vào những ngày giáp Tết, giữa dòng người tấp nập, vội vàng, tôi trông thấy một người đàn ông cầm một cái hộp quyên tiền có ghi dòng chữ: “Giúp trẻ em khuyết tật và mồ côi”. Người ta thấy ông nhưng không ai nhìn ông. Với sự nghi ngờ cố hữu, có lẽ mọi người đều có câu hỏi, “ông này thuộc cơ quan, tổ chức nào, quyên góp cho ai” hơn là đặt vào tay ông một đồng bạc lẻ.

Ai cũng cho rằng cách đây vài chục năm, ở Mỹ chúng ta có thể dừng xe lại để cho một người xin quá giang, hay là khi chúng ta gặp hoạn nạn, có thể ra dấu chặn một chiếc xe đang chạy trên đường để xin giúp đỡ. Nhưng ngày nay thì không! Thà làm ngơ đi, lương tâm nếu có cắn rứt đôi chút cũng chẳng sao, trái lại những việc qua đường có khi mang đến tai họa cho bản thân mình, mà còn bị mang tiếng là dại dột.

Bây giờ trên đất Mỹ, nơi vùng đất có nhiều sắc dân cư ngụ, thường xảy ra cướp bóc, ít khi bạn có thể hỏi một người Mỹ qua đường, chỗ ty bưu điện gần đây nhất hoặc đi đến đường Beach còn bao xa. Thường thì chúng ta được nhận một cái khoát ta hay một cái lắc đầu. Ở thời buổi này, thà làm người bất lịch sự còn hơn phải dây dưa vào những chuyện qua đường rắc rối!

Năm 1955, từ Huế vào Sài Gòn, cậu thanh niên tỉnh lẻ mới lớn, là tôi, đang đi với một người bạn học trên đường Bonard, thì một người đàn ông, ăn mặc khá tươm tất, tiến lại phía tôi, – mà không phải là bạn tôi -, mở lời:
– “Tôi đói quá! Cậu cho tôi xin một đồng để mua một nắm xôi!”
Tôi không chút ngần ngại, móc túi trao cho ông kia một đồng. Có lẽ thấy kiếm một đồng bạc đầu tiên không khó khăn gì, người đàn ông chưa cất tiền vào túi vội, nài nỉ, nói thêm:
– “Cậu cho tôi xin thêm một đồng để mua tờ báo, tối lót lưng ngủ qua đêm!”

Tôi lại cho tay lên túi áo, nhưng lần này thì thằng bạn Sài Gòn vội giật cánh tay tôi kéo đi, và chửi thẳng vào mặt tôi là “đồ ngu!” Tôi quả là ngu, vì quá tin người, giữa một Sài Gòn hỗn tạp, tập trung đủ hạng người tứ xứ!

Ở các thành phố, thỉnh thoảng chúng ta nhẹ dạ giúp đỡ, khi gặp một người than thở, là mới ở bệnh viện ra không có tiền xe về Cần Thơ. Nhưng cũng hôm sau, ở một địa điểm khác, chúng ta lại gặp người này, “mới ở bệnh viện ra,” không có tiền xe về Rạch Giá! Vậy thì chắc chúng ta không bao giờ bị mắc lừa nữa, nhưng những người thật sự “mới ở bệnh viện ra, không có tiền xe” cần sự giúp đỡ của người khác, sẽ phải chịu thiệt thòi.

Thế giới động lòng, dang tay đón tiếp những người vượt biển tị nạn vào những năm 1980, nhưng sau đó, ngày càng đông người ra đi, phương tiện cứu giúp có hạn, nhất là sau khi biết “nhà nước cộng sản” chủ trương đóng tàu bán vé, lấy vàng, thì chủ trương cứu vớt của nhiều quốc gia cũng phải xét lại. Cho đến hôm nay, “độc lập-tự do-hạnh phúc” đã 38 năm, người Việt vẫn còn đóng tàu để trực chỉ nước Úc, họ nghĩ là nơi đây, lòng trắc ẩn của người địa phương vẫn còn cao. Liệu chúng ta có sẵn lòng cứu vớt, giúp đỡ những người như thế hôm nay không?

Phải chăng, gian trá, bạo lực đã tàn phá hết tình nhân ái trong lòng chúng ta, tình thương người hầu như đã nguội lạnh qua thời gian, và hình như xã hội càng văn minh chừng nào, lòng người càng trở nên chai đá chừng ấy.

Liệu hôm nay, lỡ đường, như trong những tích truyện xa xưa, chúng ta có thể gõ cửa một ngôi chùa hay một nhà thờ để xin tá túc qua một đêm giá lạnh hay không. Chúng ta đã nghe câu chuyện cách đây hai mươi năm, một thi sĩ lang thang không nhà đã chết trong chiếc xe của ông đậu trước cửa chùa, phải chi cánh cửa chùa đêm ấy rộng mở!

Phải chăng đến lúc, lòng người đã nguội lạnh, con người đã chai đá, con tim đã trở thành vô cảm, không còn nước mắt để khóc thương cho những mảnh đời khổ, hoàn cảnh éo le của từng mỗi cá nhân hay cả mệnh nước khốn cùng nữa.

Tôi nghĩ rằng không!

Mỗi đêm trên đất Mỹ này, có bao nhiêu phụ nữ Việt Nam, già có, trẻ có, đã sụt sùi khóc cho những số phận bất hạnh của những nhân vật trong những cuốn phim bộ Ðại Hàn. Có điều nước mắt ấy chảy ra không đúng chỗ, đúng lúc thôi! Bộ cái tin hằng trăm phụ nữ, đồng bào ruột thịt của mình sang Nam Dương làm nghề “khui bia,” vụ 15 phụ nữ bị lừa sang Nga đi bán quán, để sau đó buộc phải bán dâm, một cô gái 14 tuổi bị bắt làm nghề mãi dâm khi đang có thai bốn tháng, hay người dân thứ tư bị công an cộng sản đánh chết trong mấy tháng đầu năm nay, không đáng cho chúng ta nhỏ được một giọt nước mắt hay sao?

Người cộng sản chỉ biết tập trung khóc tập thể ở ngoài công trường khi lãnh tụ qua đời để “biểu diễn” lòng trung thành của họ, nhưng hình như không còn chút mảy may xót xa, động lòng với những gì khốn khổ đang xảy ra chung quanh mình, ngay trong cuộc sống mỗi ngày bởi áp bức, bất công!