httpv://www.youtube.com/watch?v=cKSsu3aFvFs
Venezuela dãy chết – nguyễn xuân nghĩa

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Tức – Thế Giới , Việt Nam, Tin Hoa Kỳ
httpv://www.youtube.com/watch?v=cKSsu3aFvFs
Venezuela dãy chết – nguyễn xuân nghĩa
Theo CPJ thì trong thời đại công nghệ thông tin với nhiều triển vọng, các chính quyền, công ty và đối tượng không phải Nhà nước khắp thế giới thực hiện biện pháp kiểm duyệt lượng lớn thông tin bằng các chiến thuật tinh vi và phức tạp.
Ấn phẩm “Tấn công báo chí’ năm 2017 của CPJ gồm những bài viết của các ký giả Christiane Amanpour, Rukmini Callimachi, Jason Leopold, Alan Rusbridger vùng nhiều ký giả hàng đầu khác.
Ngoài ra còn có tham luận của ông David Kaye, đặc phái viên Liên Hiệp Quốc về cổ xúy và bảo vệ quyền tự do bày tỏ ý kiến, biểu đạt. Tham luận xem xét luật pháp và các định chế đang tranh đấu bảo vệ quyền tự do biểu đạt.
Ấn phẩm ‘Tấn công Báo chí’ lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1986.
Về phần Việt Nam, có ít nhất 8 nhà báo vẫn còn bị giam tù. Công bố ra vào ngày 25 tháng tư 2017, của tổ chức Bảo vệ Ký giả- CPJ có trụ sở ở Hoa Kỳ cho biết như vùa nêu.
Danh sách các nhà báo tự do, và blogger Việt Nam hiện bị giam giữ có Trần Huỳnh Duy Thức, Hồ Đức Hòa, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Thị Minh Thúy, Nguyễn Đình Ngọc, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Hồ Văn Hải, Nguyễn Văn Hóa…
Trong số này ông Trần Huỳnh Duy Thức là một trong những người sáng lập phong trào Con đường Việt Nam, đấu tranh cho dân chủ Việt Nam. Ông này bị mức án 16 năm tù giam theo điều 79 Bộ Luật Hình sự Việt Nam: ‘hoạt động âm mưu lật đổ chính quyền’ Hà Nội. Ông hiện đang thụ án tại Trại giam Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
Ông Nguyễn Hữu Vinh là người sáng lập trang mạng Ba Sàm rất được độc giả trong và ngoài nước theo dõi bị tuyên án 5 năm tù giam theo điều 258: ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ’ gây hại cho quyền lợi của Nhà nước.
Một số người khác như blogger Mẹ Nấm- Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam’ theo điều 88.
Trong tổng số 259 nhà báo bị tù tội trong năm 2016 trên toàn thế giới thì Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia chiếm số lượng nhiều nhất với 81 người, còn Trung Quốc nước láng giềng có cùng chế độ chính trị với Việt Nam là 38 người đứng hàng thứ hai. Việt Nam đứng hàng thứ sáu trong số 31 quốc gia có nhà báo bị cầm tù.

United Airlines sẽ phải đối diện với mức bồi thường hàng triệu đô mỹ .
Còn các ông . Chỉ là một đám rừng rú tham tàn ác độc , ngồi xổm trên luật pháp .
NÉM DÉP – NÁO LOẠN BUỔI XIN LỖI OAN SAI TỬ TÙ, ÔNG HÀN ĐỨC LONG
Chiều nay, tại trụ sở xã Phúc Sơn, Bắc Giang, Tòa Cấp cao tại Hà Nội (đại diện là ông Phó Chánh án) tổ chức buổi xin lỗi ông Hàn Đức Long, người ngồi tù oan hơn 11 năm trong vụ án giết và hiếp bé gái 5 tuổi xảy ra 12 năm trước tại Bắc Giang. Vụ án qua bốn lần xét xử và cả 04 lần ông Long đều bị tuyên tử hình nhưng gia đình ông cùng các luật sư đi kêu oan khắp nơi.
26/5/2005, xác bé gái 5 tuổi được phát hiện. 19/10/2005, ông Long bị Công an bắt. 31/3/2007, tòa Bắc Giang tuyên tử gình, ông Long kháng cáo. 25/6/2007, tòa phúc thẩm y án tử hình. 10/3/2009, tòa tối cao kháng nghị, hủy án và yêu cầu điều tra lại. 23/9/2011, tòa Bắc Giang xử lại vẫn tuyên tử hình. 29/11/2011, tòa phúc tối cao bác kháng cáo, y án tử hình ông Long. 9/5/2014, tòa tối cao kháng nghị lần hai.
Tháng 4/2016, Công An Bắc Giang vẫn khẳng định ông Long có tội nhưng ngày 20/12/2016, VKS Bắc Giang đình chỉ vụ án trả tự do cho ông Long vì không đủ căn cứ kết tội.
Tại buổi xin lỗi hôm nay, người nhà nạn nhân cháu bé 5 tuổi bức xúc ném dép, giật bảng hiệu, họ không đồng ý với chính quyền khi không tìm ra thủ phạm giết con họ. Nỗi đau chồng chất nỗi đau.
Còn đối với ông Hàn Đức Long, ông cũng không được “tận hưởng” trọn vẹn cho ngần ấy thời gian ngồi tù, còn gì tủi nhục và oan nghiệt hơn thế.
Do hàng trăm người bức xúc nên ông Phó Chánh án đọc xong lời xin lỗi khoảng 03 phút là bỏ đi. Thiết nghĩ, chính quyền cần phải tổ chức lại buổi xin lỗi đối với ông Hàn Đức Long.
Quảng thời gian 10 năm ấy nếu ông Long bị bị đưa đi thi hành án thì sao đây ? Chắc chắn tội ác này “trời không dung, đất không tha”. Những người như ông Hàn Đức Long, ông Nguyễn Thanh Chấn, ông Huỳnh Văn Nén (17 năm tù oan) khi trở về với gia đình, thân thể, tâm hồn không còn bình thường nữa.
P/s: Tôi không biết những người công an, viện kiểm sát, tòa án đã kết tội ông Hàn Đức Long sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy clip này.
Cuộc đời con người ai cũng có thể mắc sai lầm nhưng tôi tin, nếu không cải cách nền pháp luật và những người thực thi làm việc không có tâm, cố tìm mọi cách khép tội khi bắt giam, chắc chắn sẽ còn nhiều án oan kinh khủng hơn nữa. Những vụ án được minh oan, tất cả hồ sơ trong giai đoạn điều tra đều khớp hết. Tuy nhiên, sau khi sự thật phơi bày cho thấy, bị can/bị cáo bị ép cung, đánh đập và CQĐT bổ sung các chứng cứ hòng khép tội cho bằng được.
Nguồn Clip: Báo Vietnamnet
Cách gọi
Cứ đến tháng Tư của mỗi năm, tấm ảnh đen trắng về những đứa trẻ đứng nhìn ra ngoài ô cửa nhỏ xíu trong một chiếc phi cơ đã được tháo hết những băng ghế ngồi, trên mặt sàn máy bay thì chật kín những đứa trẻ khác đang nằm, ngồi lẫn lộn, lại xuất hiện trên các diễn đàn như một lời nhắc nhở…
42 năm, kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, sẽ là quá nửa đời người với những cậu bé cô bé trong tấm ảnh ấy. 42 năm sau, họ sẽ nhớ lại ngày đó với một ký ức mang màu sắc của “số phận”, là cách nói của một người trên mạng xã hội khi xem tấm ảnh ấy.
Để cố tình xây dựng những sự học và truyền thông dối trá để mị dân. Khi hiểu ra thì rất đau khổ, gọi là vỡ oà cảm xúc.
– Sỹ Bình
Nhưng, với những người sinh năm 80, 90, sẽ là một thời đại hoàn toàn độc lập, về tư tưởng, thể chế, chung hơn hết là ý thức hệ.
Họ là những người được tiếp nhận từ ngữ mới, văn hoá mới, phong cách xã hội mới. Họ không trải qua giai đoạn gọi là “chuyển giao chế độ”. Chính vì vậy, không ít người ở lứa tuổi này nhìn về ngày 30 tháng 4 với một tâm thế hoàn toàn trung dung.
Sao Mai, thế hệ 9X, là một trong số những người ấy. Rất đơn giản, cô gọi đó là ngày giải phóng, theo văn hoá giáo dục mà cô được truyền dạy.
“Tức là thường thì từ khi đi học đến khi lớn lên, em được biết 30 tháng 4 là ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ngày 1 tháng 5 là ngày Lễ Lao động. Nếu đi học hay đi làm thì sẽ được nghỉ hai ngày đó.”
Cụ thể hơn, nhưng cũng không kém phần đơn giản khi Sao Mai hiểu về ngày giải phóng.
“Ngày trước thì có thể là miền Bắc được giải phóng trước, không bị ách đô hộ cũng như không bị giặc ngoại xâm lấn chiếm, được hoà bình trước. Miền Nam thì vẫn phải chống chọi với giặc ngoại xâm, với kẻ thù. Ngày 30 tháng 4 là ngày đánh dấu mốc miền Nam cũng được hoà bình như miền Bắc và thống nhất đất nước.”
Không phải chỉ riêng Sao Mai, mà tất cả những ai trải qua nền giáo dục dưới mái trường Xã hội chủ nghĩa đều biết đến cách gọi của cụm từ “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.”
Nguyễn Khang, một thế hệ 9X khác, từ Sài Gòn cho biết anh không xa lạ với cách nói ấy:
“Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đó là theo quan niệm của em thời còn đi học.”
Còn cho đến bây giờ, Khang cho biết anh chỉ chấp nhận một nửa của cách gọi ấy, vì không thể phủ nhận sự thật là Nam, Bắc một nhà từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
“Còn cho tới thời điểm bây giờ, em gọi nó là ngày thống nhất đất nước. Gọi là giải phóng miền Nam thì không hợp lý vì không thể nào một thằng nghèo đi giải phóng một thằng giàu. Nhưng không thể phủ nhận được ngày đó là ngày thống nhất đất nước.”
Cũng chia ra hai thời điểm để có hai sự hiểu biết và chấp nhận, là ý kiến của Sỹ Bình, thế hệ 8X.
“Ở thời điểm ngày xưa, ngồi trên mái nhà trường đó, gọi ngày 30 tháng 4 là ngày giải phóng. Nhưng mãi sau này, hiểu ra được vấn đề, thì ngày 30 tháng 4 là ngày buồn của dân tộc Việt Nam. Là một ngày gọi là thấm máu, nhuộm máu quê hương. Người ta thường gọi là Tháng Tư đen.”
Tính chất

‘Cái sự hiểu ra vấn đề’ đó được Sỹ Bình cho biết là từ lúc internet phát triển, truyền thông nhà nước và báo chí không còn là “nhà trường thứ hai” của người dân. Thay vào đó, các bạn trẻ như Sỹ Bình nói rằng họ đã tìm thấy “sự thật khác ẩn chứa trong đó”.
“Một cái ngày gọi là người Cộng sản Bắc Việt đã vào đánh cướp giết đất quê hương của người miền Nam. Những trận đánh mà cộng sản cho là giải phóng đó thì chính là những trận đánh giúp cho Tàu Cộng và Liên Xô.”
Cho dù các bạn trẻ ấy đều nhìn nhận có hai sự hiểu đến từ hai thời điểm khác nhau, dẫn đến hai cách gọi khác nhau, thế nhưng, theo Nguyễn Khang thì có một điều mà anh cho rằng không thể phủ nhận.
“Không phủ nhận là Cộng sản đã thắng. Việt Nam Cộng hoà đã thua. Nhưng những hệ luỵ của nó thì thật sự ngày đó là một ngày đen tối, một ngày đáng buồn.”
Còn với quan điểm của Sỹ Bình, anh nói rằng khi sự thật được phơi bày, nhìn quay lại những gì đã học, tất cả hoàn toàn được tô vẽ, cùng với sự trợ giúp của những ngòi bút mà anh gọi là “dối trá”
“Để cố tình xây dựng những sự học và truyền thông dối trá để mị dân. Khi hiểu ra thì rất đau khổ, gọi là vỡ oà cảm xúc.”
Nếu với Sỹ Bình là một cảm xúc vỡ oà đau khổ thì Nguyễn Khang gọi đó là “một ngày đau thương”:
“Bởi vì em biết được hệ luỵ, hậu quả của ngày đó, những người chết trong trại cải tạo. Em biết cuộc sống sau 1975 như thế nào, nên em biết được ngày đó là một ngày đau thương. Cái ngày không tồn tại luật pháp, thậm chí họ có thể giết người công khai mà không cần chờ đợi đến pháp luật….
Nếu mà không có ngày đó thì sẽ tốt hơn.”
Tích cực và tiêu cực
Những câu chuyện về cuộc chiến được vẽ lại trong sách vở hào hùng, oanh liệt thật sự đã lấy đi khá trọn vẹn niềm tin của thế hệ trẻ khi còn ngồi trên mái trường. Hình ảnh “cô du kích nhỏ giương cao súng” và “Thằng Mỹ lom khom bước cúi đầu” hay “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” từng là những hình ảnh tự hào đi trong tâm trí của những đứa trẻ hát quốc ca vào mỗi buổi sớm.
Niềm tự hào ấy trong trí nhớ của của các bạn trẻ, nó đã được xây dựng và lớn lên từng ngày với niềm tin đất nước mình “rừng vàng, biển bạc.”

Không ít người thuộc thế hệ 8X, 9X, qua mạng internet, họ biết đến câu nói nổi tiếng của cố Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Lê Duẩn từng tuyên bố nhân dịp Têt 1976, một năm sau ngày Giải phóng:
“Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một Tivi và một tủ lạnh.”
Những thanh niên tham gia buổi nói chuyện trong bài viết này đều chưa ra đời vào thời điểm ông Lê Duẩn vạch ra tiêu chuẩn đời sống của một gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, như Nguyễn Khang đã nói, anh không chấp nhận gọi là giải phóng miền Nam vì không thể nào một thằng nghèo đi giải phóng một thằng giàu.
Có lẽ qua kho tàng internet, Khang đã tìm hiểu cuộc sống của người miền Nam trước 1975 có được tủ lạnh và radio hay chưa.
Thế nhưng, chính Khang vẫn nhận thấy những điểm tích cực của cột mốc 30 tháng 4 năm 1975. Anh đưa ra cái nhìn có tính chất khá nhân sinh quan, đó là những mất mát trong chiến tranh sẽ không còn nữa.
“Ít nhất người dân không còn hoang mang khi mỗi sáng thức dậy thấy cái chết. Những chết chóc của chiến tranh sẽ không còn nữa. Không còn chiến tranh là mặt tích cực rồi.”
Thế nhưng, cũng theo Khang, bên mặt tích cực vẫn tồn tại những tiêu cực. Khang muốn nói đến cuộc bỏ phiếu bằng chân lớn nhất lịch sử Việt Nam.
“Hệ luỵ của vấn đề không còn chiến tranh lại khác đi. Không còn tự do. Không còn quyền được sống. Có người phải bỏ quê hương, bỏ cha mẹ, con cái để ra đi.”
Tuy nhiên, nói rằng cần phải nhìn nhận khách quan, Nguyễn Khang cho biết anh vẫn thấy có điểm tích cực trong 42 năm kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.
“Sự thay đổi đến thời điểm bây giờ, giống như thời bao cấp thì không thể sống được. Hay nếu không thống nhất thì cũng giống như với Triều Tiên hay Hàn Quốc thôi.
Sự chuyển biến tốt nhất bây giờ là đã có những công ty nước ngoài vào. Việc mở cửa cho những công ty nước ngoài vào trong 42 năm vẫn là chuyển biến em cho là tốt nhất, để cho công ty nước ngoài vào đầu tư rồi dần dần cuộc sống người dân từ đó có những nhận thức khác đi.”
Còn cho tới thời điểm bây giờ, em gọi nó là ngày thống nhất đất nước. Gọi là giải phóng miền Nam thì không hợp lý vì không thể nào một thằng nghèo đi giải phóng một thằng giàu.
– Nguyễn KhangKhông đồng ý với ý kiến này, Sỹ Bình phản biện bằng cách đưa ra nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác trong xã hội hiện tại. Theo anh, không thể nhìn vào một góc phát triển của một sự vật mà có thể đưa ra đánh giá toàn diện. Sỹ Bình cho rằng cần phải nhìn thêm ở các vấn đề khác bên cạnh kinh tế.
“Không phải mình nhìn thấy xây dựng, giao thông, các quy trình kiến trúc hạ tầng đồ sộ mà nói phát triển được.
Ví dụ an ninh quốc phòng, tại sao người dân ngoài biển bị quân giặc Tàu cưới giết nhiều như vậy? Giáo dục thì học trò đánh nhau hội đồng gây tử vong hàng năm, hằng tháng. Y tế thì xuống cấp, trẻ em chết rất nhiều.
Tại sao lại có những ngôi nhà đồ sộ như vậy? thứ nhất, có thể của nhà đầu tư nào đó ở nước ngoài hoặc những nhà tham nhũng, tư bản đỏ dùng đồng tiền bất chính, lấy ngân khố của đất nước trái pháp luật để xây dựng lên những công trình cá nhân làm lợi ích riêng.”
Cuộc sống của người dân Việt Nam có thật như trong bài giảng là ‘dân giàu, nước mạnh’ hay không? Sự phát triển của xã hội Việt Nam như thế nào trong hơn 40 năm qua? Thế hệ trẻ có tự hào về một Việt Nam hùng cường từng ‘đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” hay không? Câu trả lời“Không có gì phát triển ngoài hiểu biết của người dân về sự thật lịch sử sau 42 năm”, và “phải chi đừng có ngày ấy”, là nhận định chung của những bạn trẻ thế hệ 8X, 9X, những người được sinh ra và lớn lên khi chiến tranh đã chấm dứt.
Sau 42 Năm
Nguyễn Thị Thêm
Gia đình tôi cổ hũ và tôi là đứa con gái duy nhất nên bị ràng buộc trong tầm suy nghĩ của mẹ.” Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu trao mình” Cái ông Khổng tử ở tuốt bên Tàu vậy mà uy lực ổng thật to rộng. Một người phụ nữ ít học, quê mùa như má tôi lại thuộc nằm lòng mấy câu giáo điều đó . Thuộc để ép mình vào khuôn khổ cả một đời và truyền lại cho con gái.
Chúng tôi cùng dạy tư cho một trường trung học công giáo do cha đạo mở ra. Khi ấy anh đã là lính mang lon chuẩn úy. Có nghĩa là anh cũng thuộc lính mới tò te. Một sĩ quan mới ra trường còn mang nhiều món nợ áo cơm từ cha mẹ. Nơi anh được bổ nhiệm là một quận lỵ nằm giữa những vùng xôi đậu. Ban ngày là của Quốc Gia, ban đêm Việt Cộng về thăm dân. Họ nhận tiếp tế, tuyên truyền và rải truyền đơn.
Người dân như mang mặt nạ, không dám biểu lộ tình cảm của mình với lính Quốc Gia. Xung quanh hàng xóm không biết ai là bạn, ai là Việt Cộng nằm vùng. Cuộc sống bấp bênh trong những trận càn của lính và đêm sục xạo, gỏ cửa rình mò của phía bên kia. Ấp chiến lược sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết đã không còn hiệu lực. Một con đường vô hình đã mở ra cho sự phát triển của phe đối nghịch. Đưa đẩy người dân vô tội vào hai gọng kìm Quốc Gia và Việt Cộng..
Khi những người bạn đồng minh lần lượt đổ quân vào thôn xóm thì như giọt nước đã tràn ly. Người dân càng hoảng loạn không biết đâu là chính nghĩa. Những người Mỹ, người Đại Hàn, người Thái Lan súng ống rầm rộ khắp mọi ngõ ngách xóm làng. Người dân quê sợ sệt vì lần đầu tiên thấy người ngoại quốc lùng sục khắp nơi. Đó là cái mồi lửa thật tốt châm ngòi cho phía bên kia. Họ tuyên truyền trong dân chúng để kéo chính nghĩa về phía họ.
Tôi nói điều này ra có nhiều người sẽ phản đối. Nhưng đó là sự thật khi người dân không có được một sự giáo dục rõ ràng về phía chính phủ. Họ không hiểu thế nào là Thế Giới Tự Do và thế nào là Cộng Sản. Họ không hiểu tại sao người Mỹ có mặt ở nước mình.
Nhan nhản trên đường những người lính Mỹ say sưa. Những cô gái thôn quê bỗng chốc thay da đổi thịt. Từ ăn mặc đơn giản lại lòe loẹt chói mắt. Một số biến thành gái mãi dâm mua vui cho những người lính Mỹ đen, Mỹ trắng. Những người phụ nữ bỏ quên chồng con, diêm dúa trong những bộ quần áo mini ngắn ngủn, son phấn sặc sỡ đi làm sở Mỹ. Những áp phe buôn đồ Mỹ, bán đồ quân tiếp vụ Mỹ, quán rượu mọc ra như nấm. Những đứa bé con lai ra đời, những bào thai bị vất bên đường và thỉnh thoảng phát hiện xác con gái nằm chết trong bãi rác. Những tin xấu tràn về thôn xóm, những hình ảnh xa đọa lung lay xã hội.
Đau đớn là ở chỗ chính nghĩa bị hiểu lầm và kẻ gian ngoa đã giành chiến thắng. Những người học sinh trong bộ đồng phục tới lớp buổi sáng. Nhưng sẽ là một liên lạc viên báo cáo tin tức vào buổi tối cho phía bên kia. Những em học sinh mặt thì già nhưng giấy tờ nhỏ tuổi. Có em đã có vợ , có con nhưng vẫn mang giấy tờ giả đến trường để trốn lính. Những chị ngồi trên xe lam đi chợ nói nói cười cười. Những cô gái đẹp làm người tình hờ của lính. Họ là những người nằm vùng của phía bên kia. Nhiệm vụ hoạt động mật, báo tin tức, tiếp tế lương thực,thuốc men và tiếp nhận chỉ thị của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Trong bộ ngực căng tròn của cô gái đẹp chứa đầy thuốc trụ sinh. Dưới lằn vải quần mỹ a đen mượt mà kia là những lớp nylon bó thật chặc vào đùi để tiếp tế. Trong gà mên cơm đem đi ăn một ngày, họ ém thật chặc cho 2, 3 người ăn. Sau giờ làm, họ để lại bên rừng cho người của mặt trận về lấy đem đi. Trong làng, đa số là phụ nữ. Nhưng những đứa bé không cha tiếp tục ra đời mà không ai đặt vấn đề.
Chiến tranh đã đẩy những người dân chơn chất thành những kẻ phản bội ” Ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản” Đừng trách họ, mà hãy trách nhà cầm quyền không bảo vệ được họ. Những người có nhiệm vụ tuyên truyền không dẫn giải cho dân hiểu được sự thật, đâu là bạn, đâu là thù. Những người làm công tác chiến tranh chính trị chỉ làm trên giấy tờ mà không đi vào cái gốc chính là người dân- những người dân quê an phận, hiền lành-
Trong khi đó kẻ gian rình mò trong bóng đêm. Những bộ mặt giả nhân nghĩa vừa tỉ tê dụ dỗ, vừa hù dọa khủng bố đã len lỏi vào từng gia đình Những tổ chức bí mật được thành hình, biến người dân thiệt thà thành tai mắt, những người đàn bà quê mùa thành những bà mẹ anh hùng.
Thành phố rộn rã tiếng cười, những bar rượu, những đêm vui thâu đêm suốt sáng. Thành phố không có chiến tranh cho nên thành phố đẹp, thành phố sang. Đất nước VN không phải chỉ là thành phố mà có cả thôn làng, núi, đồi, sông, biển. Thôn làng càng xa xôi nghèo nàn, Việt Cộng trà trộn càng nhiều, càng khó bảo vệ. Người dân không thương yêu gì CS nhưng sợ bị trả thù, sợ bị theo dõi, sợ bị nghi ngờ và bị giết oan. Tội nghiệp người dân, một cổ hai tròng. Dù đang sống dưới chế độ Cộng Hòa nhưng vẫn bị Mặt Trận khống chế hàng ngày, hàng đêm.
Gần gũi dân nhất là những người lính Địa Phương Quân. Họ đóng quân ngay trong làng, sống với dân và người họ sợ nhất lại chính là những người dân. Ai đã từng đi lính thì khắc biết điều tôi nói là sự thật. Chỉ một câu nói lỡ lời thì tin tức hành quân được bên kia nắm bắt. Và những chuyến phục kích kể như thất bại. hay bị đảo ngược thế cờ.
Người lính sống trong đường tơ kẻ tóc và người con gái chấp nhận lấy lính là chấp nhận mọi sự rủi may trong đời. Đám cưới đôi khi không dám tổ chức tại địa phương vì gia đình sợ bị theo dõi và trả thù. Thôn làng do chính phủ VNCH làm chủ mà người dân sợ Việt Cộng hơn Quốc Gia.
Đã trễ quá rồi khi nói đến điều này, nhưng tất cả chúng ta đều là nạn nhân của một cuộc lừa đảo. Bao nhiêu nhân mạng oan khiên đã chết một cách thảm thương cho cuộc chiến tương tàn. Bao nhiêu thanh niên của nước Mỹ giàu đẹp đã bỏ thây một cách oan uổng trên chiến trường VN. Vì sự sai lầm của cả hai phía. Tất cả tang thương đó đã đổ lên vai, lên đầu của thế hệ chúng tôi. Những người lính, những người vợ lính và những trẻ thơ vô tội.
42 năm qua rồi, nhưng mỗi khi tháng Tư Đen lại về tôi lại xoay cuồng trong suy nghĩ. Tôi khâm phục cái nhìn thật rõ ràng cốt lõi cuộc chiến VN của Tống Thống Ngô Đình Diệm. Ngài biết thật rõ ràng về Cộng Sản kể cả sách lược bảo vệ quốc gia. Ngài không muốn người Mỹ hay đồng minh đổ bộ vào Việt Nam. Ngài chỉ muốn đựợc tiếp tế vũ khí và ngân sách để bảo vệ và xây dựng đất nước. Ngài lập ra ấp chiến lược là để cắt đứt nguồn tiếp tế lương thực và thuốc men cho phía bên kia. Đồng thời xây dựng một lực lượng bảo vệ xóm làng từ người dân. Nhưng tiếc thay ngài đã bị giết chết. Chế độ Đệ nhị Cộng Hòa không xoay nỗi thế cờ chính trị. Mỹ bỏ rơi VN. Và sự thất trận đau thương xóa sổ VNCH trong ngày 30/4/75 lịch sử. Vận mạng đất nước nhược tiểu nằm trong tay của những đại cường. Một cuộc mua bán, sang nhượng chính trị. Đất nước ta là món hàng đưa lên bàn cân ngã giá. Kẻ thắng chẳng oai hùng, người thua đầy uất ức.
Bốn mươi hai năm qua rồi, nhắc lại thêm ngậm ngùi, đau đớn. Bao nhiêu mạng người đã bỏ thây trong cuộc chiến, trên con đường chạy loạn 30/4/1975. Bao nhiêu xác người tù CS bị bỏ thây trên rừng thiêng nước độc. Bao nhiêu xác người bị chết trên biển đông và trong bàn tay của hải tặc. Bao nhiêu? bao nhiêu? Một câu hỏi làm nghẹn lòng người Việt trên khắp năm châu.
Thoắt một cái đã 42 năm. những người có mặt và tham dự trong cuộc chiến ngày đó đều đã già. Những mái tóc bạc trắng hay hoa râm, những tâm hồn đầy những vết thẹo quá khứ và chiến tranh. Cố gắng xây dựng một thế hệ tiếp nối. Cố gắng sống tốt và làm sống lại một thuở hào hùng. Đôi chân đã yếu, cơ thể hao mòn. Những người cha, người ông đã tận lực mình vì hai chữ tự do. Họ thật đáng kính trọng và tự hào. Nhưng trong họ biết bao nhiêu đêm trăn trở, dằn vặt vì sức tàn, lực kiệt.
42 năm cho những người di tản. Mấy chục năm cho những người HO đang sống ở một nước khác quê hương mình. Sau 30/4 người sĩ quan VNCH bị tù đày nơi rừng thiêng nước độc. Không một bản án, không biết ngày về. Họ được thả ra với một thân thể suy nhược, một tâm hồn loang lỗ những thương đau. Trong họ mọi thứ đều đỗ vỡ, bi thương. Được thả từ nhà tù hẹp ra nhà tù lớn với vài chục đồng lộ phí và một túi hành trang nhẹ tênh. Nhưng họ lại mang quá nặng cái lý lịch đen “Ngụy Quân” đè bẹp cuộc đời và cả gia đình .Có người tìm lại được mái ấm gia đình. Có vợ, có con để dựa nương, bám víu. Có người không còn nhà cửa, vợ con thân thích.
Nếu không có chương trình HO không biết bây giờ cuộc sống của những người tù CS sẽ ra sao? Không có chương trình HO. Không có những người liều chết vượt biển tìm tự do. Chúng ta sẽ không có một thế hệ thứ hai thứ ba thành công trên đất nước Hoa kỳ hay trên thế giới. Chúng ta sẽ không bao giờ có một Little Sai Gon trên đất Mỹ. Chúng ta sẽ không thể hảnh diện giơ cao lá cờ vàng và hát Quốc ca. Chúng ta không có xe hoa diễn hành ngày tết Nguyên Đán, Chúng ta cũng không thể có những bảo tàng lịch sử “Quân lực VNCH”. Không có tượng đài Đức Trần Hưng Đạo và cũng không thể có những nghị quyết “Vinh Danh cờ vàng” tại nhiều thành phố trên nước Mỹ, Úc, Canada.
Cám ơn Bà Hạnh Nhơn. Cám ơn những ân nhân đã cứu vớt, đã mở con đường sống cho những người liều chết tìm tự do như chúng tôi.
42 năm, một thời gian quá nửa đời người. Những chứng nhân lịch sử rất nhiều người đã nằm xuống vì tuổi già, vì bệnh tật. Những văn nhân, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ nỗi danh cũng quá nửa đã ra đi. Một thế hệ VNCH lần lần đi vào quá khứ. Thế hệ tiếp nối lớn lên tại Mỹ, sinh ra tại Mỹ và chúng gia nhập vào dòng chính để làm một người Mỹ thực thụ.
Hôm tuần trước tôi đi dự một đám ma. Người chết là một bà bác 90 tuổi. Con cái, người thân quen đến viếng tang đa phần là người Việt, nói tiếng Việt. Nhưng quỳ dưới kia các cháu dâu rễ đa phần là người Mỹ. Bầy cháu cố cũng là những đứa bé Mỹ lai nói toàn tiếng Mỹ. Cả một đại gia đình nói chuyện với nhau bằng tiếng Mỹ. Người chết chắc hẳn sẽ buồn và không hiểu chúng đang nói chuyện gì. Người tham dự như tôi cũng xót xa cho ngay bản thân mình. Rồi thì cũng thế mà thôi hay sao?
Không? Chúng ta đã có những lớp dạy tiếng Việt. “Tiếng Việt còn, nước ta còn.” Chúng ta không thể không hòa nhập nhưng không thể để mất nguồn cội. Những thế hệ VNCH thứ hai thứ ba đang học hỏi để hiểu lý do tại sao chúng có mặt nơi này. Các cháu đang làm sống lại dòng sử Việt. Các cháu giương cao lá cờ vàng và các cháu tự hào về nó.
Dù muốn dù khôngchúng ta cũng đã rời khỏi VN. Mọi việc của quê hương đất nước phải do người trong nước quyết định. Có thay đổi được vận mệnh, có bảo vệ VN khỏi bàn tay xâm lược của Tàu Cộng hay không là do người trong nước thực hiện. Chúng ta chỉ có thể ủng hộ tinh thần, tiếp tay đưa mọi việc ra dư luận quốc tế để làm áp lực.
Các bạn ơi! 42 năm rồi cho một cuộc chiến, cho một đời người.Con gái tôi sinh ra 3 tháng sau ngày mất nước. Bây giờ cháu đã 42 tuổi, là một phụ nữ trung niên, con cái đã vào Trung học. Người lính VNCH trẻ nhất cũng đã ngoài 60. Những người lính già bây giờ đều đã đi gần cuối cuộc đời. Sống nơi xứ người tuy đầy đủ vật chất nhưng vẫn là nỗi khắc khoải khôn nguôi cho những giấc mơ về một VN tự do dân chủ.
Tôi yêu quê hương VN tôi lắm. Tôi nhớ gia đình, họ hàng anh em và bạn bè tôi. Tôi nhớ từng con đường, từng góc vườn kỷ niệm của tuổi thơ và tuổi trẻ. Thú thật tôi sợ lắm. Sợ một ngày nào đó tôi trở về không nhận ra đất nước của mình. Tôi sợ Trung Cộng sẽ chiếm trọn Việt Nam. Người Việt mình sẽ bị làn sóng người Tàu tràn xuống tịch thu nhà cửa, chiếm cứ ruộng vườn. Họ sẽ đày người Việt mình đi vào những nơi rừng núi hay đồng khô cỏ cháy. Họ sẽ xóa một nước VN như chính quyền hiện nay xóa sổ VNCH. Họ sẽ tàn bạo hơn, quyết liệt hơn, dã man hơn để đồng hóa chúng ta. Vì mộng bá chiếm VN ấp ủ mấy ngàn năm nay đã toại nguyện.
Một SàiGòn xưa đã mất. Một nền văn hóa nhân bản đã mất. Có thể rồi đây nước Việt Nam sẽ bị xóa sổ trên bản đồ thế giới . Chẳng ai còn nhớ đến bà Trưng, bà Triệu, Hưng Đạo Vương, vua Quang Trung….
Tôi có bi quan quá hay không? Xin nhường câu trả lời cho tất cả mọi người. Chỉ mong sẽ không bao giờ là sự thật. Chỉ mong được như vậy.
Xin các đấng tiền nhân, hương linh những anh hùng tử sĩ phò hộ cho nước Việt mình vượt qua cơn bão giông này.
42 năm đã quá đủ cho những thương đau.
Nguyễn thị Thêm
Tháng 4/2017
From facebook: Phạm Công Út
Có những người chưa từng giết người, nhưng vào ngày nọ, họ lại ra “tự thú, đầu thú” là đã cùng nhau giết người, và họ đã bị bắt giữ.
Những lời nhận tội đó không lâu sau được xác định là giả tạo, vì hung thủ thực sự là 2 cô gái khác bị bắt và trình bày câu chuyện giết người do chính mình là hung thủ chứ không phải các thanh niên vô tội kia.
Lúc đó người ta mới vỡ ra rằng, các thanh niên kia đã bị bức cung, nhục hình nên phải khai nhận những tội ác mà họ không hề phạm bằng câu chuyện hoàn hảo y như thật .
Vậy ai là những người đã từng bức cung, nhục hình, làm sai lệch hồ sơ vụ án, thiếu tinh thần trách nhiệm…?
Có cả danh sách hàng vài chục vị quan chức ở địa phương, từ điều tra viên, kiểm sát viên, thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra, Viện trưởng, Viện phó được phân công phụ trách và cả ban chuyên án cả đấy. Nhưng chẳng có ai bị truy cứu trách nhiệm hình sự ngoài hai điều tra viên và một kiểm sát viên, trong đó có một điều tra viên không hề nằm trong ban chuyên án, cũng chẳng phải là điều tra viên được phân công điều tra bị khởi tố, truy tố và xét xử về hành vi “Dùng nhục hình”.
Ai cũng căm phẩn hành vi bức cung, dùng nhục hình của những điều tra viên đồ tể mất tính người, nhưng nếu quýt làm, cam chịu thì án oan lại sẽ chồng chất án oan, bỏ lọt cả một tập thể tội phạm thì đó mới là chuyện đáng lên án hơn hết.
Để truy tố được điều tra viên ngoại phạm, người ta đã dựa vào đơn tố giác giả tạo, nhân chứng giả tạo thành một câu chuyện giả tạo, biến nhóm người có tội đứng ngoài vòng pháp luật, biến người ngoài cuộc vô tội thành kẻ chịu tội thay mình, oan ức chồng chất oan ức, xã hội làm sao có công bằng.
Cái gì có thể bẻ cong được công lý đến như vậy, nếu không phải vì tiền, vì quyền và một cơ chế tố tụng yếu ớt nhưng thừa tính thô bạo.
Sau khi Pháp Luật TP.HCM đăng bài “Đại dự án khóc ròng vì nhà thầu Trung Quốc”, nhiều bạn đọc đặt vấn đề: Vì sao đã có nhiều bài học cay đắng từ nhà thầu Trung Quốc mà ta vẫn cứ lao vào? Chúng tôi xin trích đăng một số ý kiến:
Bạn đọc Lâm Quyết Thắng đặt câu hỏi: “Tại sao các nhà quản lý, hoạch định chiến lược của Việt Nam lại bị các nhà thầu Trung Quốc làm cho điêu đứng mà vẫn còn hợp tác làm ăn hoài vậy? Tại sao không một chút cảnh giác trước những kinh nghiệm thất bại trong những phi vụ làm ăn với người Trung Quốc? Hay vẫn cho rằng chưa phải là bài học, hay vì lợi ích khác lớn hơn? Nhà nước cần làm rõ trách nhiệm, đừng để xảy ra tình trạng này nữa để cho dân nhờ.
Sau khi đánh giá rằng hàng loạt “đại dự án” của Bộ Công Thương có dính dáng đến Trung Quốc đều bị “chết”, để đến bây giờ có nguy cơ bán sắt vụn, gây thiệt hại cho đất nước nhiều không kể xiết, bạn đọc tên Trang nhấn mạnh: “Phải có kẻ phải chịu trách nhiệm về chuyện này trước nhân dân và đất nước, không phải cho doanh nghiệp phá sản là xong, là rũ phủi trách nhiệm”.
Bạn đọc này cũng thắc mắc: “Tại sao chúng ta vẫn cứ “mê” nhà thầu Trung Quốc, công nghệ Trung Quốc và thiết bị Trung Quốc đến như vậy? Họ tự đến hay có ai chỉ đạo phải để cho nhà thầu Trung Quốc làm? Đâu phải họ cho ta vay tiền là ta phải có trách nhiệm rước đồ đồng nát do họ vứt đi để đem về để lệ thuộc họ đủ thứ, để họ ngồi cười nhìn ta thua lỗ…”.
“Tại sao bên phía Việt Nam dễ dàng thua thiệt đến như vậy mà không thể làm gì họ được? Hàng chục nhà máy có nguy cơ bán sắt vụn cùng chung một kịch bản, bây giờ ngồi mổ xẻ trách nhiệm nhưng có ai dám động đến nguồn cơn của bi kịch này không?”

Dự án mở rộng khu gang thép Thái Nguyên trị giá hơn 8.000 tỉ đồng “đắp chiếu”. Ảnh: HỮU VIỆT
Bạn đọc Bùi Đức Học Đã thì rút ra bài học xương máu: “Đã cảnh báo nhiều lần đừng nên ham bỏ thầu rẻ mà mang họa nhất là đối với Trung Quốc. Lịch sử đã chứng minh”.
Tương tự, bạn Nguyễn Công Lý đúc kết “nói nhiều rồi, làm ăn với Trung Quốc nên dè chừng”. Còn bạn Long Ca thì bình luận “cái gì mà đã lệ thuộc thì phải chấp nhận tang thương!”
Nhận xét rằng nhiều dự án cứ đụng đến nhà thầu Trung Quốc là “chết” và đã có nhiều hậu quả xấu nhưng một bạn đọc không hiểu tại sao từ công trình trọng điểm đến công trình nhỏ đều có nhà thầu Trung Quốc xuất hiện.
Từ đó bạn đọc này chất vấn: “Trên thế giới không có tập đoàn, công ty nào để mình hợp tác hay sao? Hay là vì lợi ích nhóm, phết phẩy quá dễ ăn khi làm ăn với Trung Quốc?”
Trong khi bạn Trương Quang Minh đề nghị dứt khoát: “Vấn đề của chúng ta là tại sao cứ để nhà thầu Trung Quốc thắng thầu. Nếu vì đồng vốn đến từ Trung Quốc thì tại sao ta không hạn chế mà cứ nhận của họ và theo điều kiện thua thiệt mà ta cứ làm. Đây là câu hỏi mà Chính phủ phải trả lời cho người dân!”
(VNTB)
Đó là nền báo chí Việt Nam dưới sự chỉ đạo, định hướng của nhà cầm quyền cộng sản khiến những thông tin trên mặt báo lệch lạc, sai sự thật, còn người làm báo mang tiếng là dân “trí thức” nhưng lại làm việc không khác gì những người thiếu nhận thức, thiếu lương tri…
Báo chí dưới sự cai trị của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam là một nền báo chí méo mó, nửa báo chí nửa “công văn” khi đưa thông tin theo “định hướng”. Nền báo chí sống nhờ dân nhưng lại phục vụ cho nhà cầm quyền… nói đúng hơn thì đây là một nền báo chí khuyết tật, tờ báo, người làm báo chưa hiểu hết nghĩa thật sự của cụm từ Báo chí, truyền thông là gì.
Các hoạt động báo chí ở Việt Nam không phải chịu sự kiểm soát của luật pháp quốc gia, luật báo chí mà là chịu sự kiểm soát của các cơ quan đại diện cho nhà cầm quyền cộng sản đó là người đứng đầu Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ 4T), và nội dung thì do Ban Tuyên giáo Trung ương kiểm duyệt, định hướng. Điều này khiến nhiều thông tin trên mặt báo sai sự thật, còn nhận thức của người làm báo thì lệch lạc, cam chịu, thui chột về ý chí.
Một trong những nguyên tắc, yêu cầu quan trọng nhất của báo chí chính là SỰ THẬT. Thế nhưng, nhiều cơ quan báo chí ở Việt Nam đã không có được điều này. Chỉ đưa thông tin theo “định hướng”, né tránh những sự việc liên quan đến chính trị, quyền lợi của nhà cầm quyền cộng sản vì “nhạy cảm” (trừ một số thông tin được bật đèn xanh, phục vụ cho việc tranh giành quyền lực, thanh trừng nhau, mà bên có thế lực mạnh hơn sẽ chỉ đạo. Ví dụ như vụ Trịnh Xuân Thanh).
Điển hình nhất chính là vụ Fomosa, nhiều tờ báo, đặc biệt là VTV đã thông tin sai sự thật, khi chỉ thông tin một chiều ý kiến của nhà cầm quyền cộng sản. Trong khi biển đang bị đầu độc nặng, rất nhiều người dân bị nhiễm độc kim loại, nhân dân đói khổ vì thất nghiệp thì nhiều tờ báo liên tục đưa tin theo ý kiến của nhà cầm quyền là biển đã sạch, ngư dân phấn khởi ra khơi… không dừng lại đó, các tờ báo này còn vu vạ cho những ngư dân đi đòi quyền lợi chính đáng của mình là “phản động”, quá khích, gây rối an ninh trật tự…
Không một tờ báo nào dám phỏng vấn, đưa tin về những ngư dân-nạn nhân của thảm họa Fomosa, xem cảm nghĩ của họ như thế nào? Sau khi biển bị đầu độc, họ thất nghiệp và sống ra sao? Tại sao nhiều thanh niên ở vùng thảm họa lại không đạt yêu cầu về sức khỏe (bị nhiễm độc kim loại) khi tham gia đi xuất khẩu lao động? Tại sao người dân không đi làm, không ở nhà chăm lo sức khỏe của mình và gia đình mà lại hành hạ bản thân khi đi chang nắng, chang mưa để biểu tình, rồi bị đánh đập?…
Mặc dù, hơn 99% các tờ báo này đều sống bằng số lượt truy cập của bạn đọc, tức là người dân. Nhưng họ lại thờ ơ với quyền lợi, nỗi đau của nhân dân, thậm chí là vu vạ cho dân để đẩy dân vào đường cùng. Các tờ báo này đang tự giết chính mình, khi chọn con đường đối đầu với nhân dân.
Vâng, một nửa sự thật không phải là sự thật.
Phần lớn những người làm báo tại Việt Nam là những người được xem là có trình độ học vấn cao trong xã hội, được xếp vào tầng lớp trí thức. Thế nhưng họ không có tư duy độc lập, khiến nhận thức của họ bị méo mó, cam chịu và chấp nhận làm việc trong một môi trường báo chí KHUYẾT TẬT.
Một trong những yêu cầu quan trọng của báo chí chính là tính KHÁCH QUAN. Thế nhưng, báo chí Việt Nam chịu sự định hướng của nhà cầm quyền cộng sản, nên tính khách quan này trở thành một mỹ từ xa xỉ. Họ sống bằng lượt truy cập của nhân dân nhưng lại chịu sự lệ thuộc từ nhà cầm quyền một cách vô lý!
Ngay trong quy định của “Luật Báo chí” về việc cấp thẻ báo chí đã là 1 sự vô lý đến hài hước. Khi, trước đây, người được cấp thẻ nhà báo phải hoạt động báo chí liên tục tại một tờ báo từ 3 năm trở lên và phải do Bộ 4T cấp thẻ. Điều này khiến nhiều phóng viên khốn đốn trong quá trình tác nghiệp vì chưa có thẻ nhà báo, khi các cơ quan chỉ tiếp nhà báo chứ không tiếp phóng viên… Rồi Bộ 4T thích thì phạt các tờ báo, tước thẻ báo chí của nhà báo. Thích thì dọa khi ra “đề án quy hoạch báo chí” để các chủ tờ báo chạy tiền cho Bộ 4T, trong khi Bộ này vẫn vô tư cấp phép cho tờ báo khác ra đời.
Báo chí hoạt động dựa trên những nền tảng, nguyên tắc về thông tin, chịu sự quản lý của luật pháp, vậy tại sao lại phải chịu sự quản lý vô lý của Bộ 4T, Ban Tuyên giáo Trung ương? Trong khi một tờ báo sống được là nhờ vào người dân. Vậy LUẬT PHÁP đứng ở đâu trong nền báo chí Việt Nam?
Rõ ràng, nền báo chí Việt Nam đang bị cai trị một cách sâu sắc. Mà những người bị cai trị này lại là bộ phận không nhỏ tầng lớp được xem là trí thức, họ đang có rất nhiều lợi thế trong việc tác động đến xã hội. Thế nhưng, họ lại chấp nhận sự cai trị này một cách ngoan ngoãn như những con cừu.
Nhiều người làm báo cho rằng họ đang cần mẫn, họ đang dũng cảm đấu tranh chống lại cái xấu, phơi bày những sự thật của xã hội trên mặt báo, không có họ thì nhiều người dân sẽ không biết được những sự thật này (?!) Và nếu họ đấu tranh cho quyền lợi hợp pháp của mình thì sẽ bị tước giấy phép hoạt động, bị thu thẻ nhà báo… lúc này họ sẽ chẳng làm được gì?
Tôi chỉ mong các bạn tìm hiểu lại nghĩa đúng nhất của cụm từ BÁO CHÍ. Các bạn “dám” đấu tranh cho cái xấu, sự bất công của người dân, vậy tại sao các bạn không dám đấu tranh cho quyền lợi của mình? Quyền tự do báo chí của mình, để chấm dứt những vô lý trong quy định về hoạt động báo chí? Các bạn có dám đấu tranh để tờ báo, nhà cầm quyền cộng sản đưa thông tin chính xác về vụ Fomosa không? Có dám đấu tranh để chấm dứt sự cai trị vô lý không?…
Những quyền lợi, nghĩa vụ hợp pháp của các bạn mà các bạn không dám đòi, chưa đòi được thì các bạn đòi được cho ai? Các bạn có thấy mình đang tự lừa dối mình không? Nếu sự đấu tranh của các bạn không phải vì cái nghề mà mình đang mưu sinh thì các bạn dám đấu tranh không?
Rõ ràng, những người làm báo trong nền báo chí cai trị Việt Nam đã bị nhà cầm quyền cộng sản “đánh” què tư duy, làm thui chột ý chí chiến đấu.
Nền báo chí của nước Việt đã và đang là nền báo chí KHUYẾT TẬT kể cả về mặt thông tin, lẫn con người làm báo.
L.M.
Nguồn: http://www.ijavn.org/2017/04/vntb-nen-bao-chi-khuyet-tat-viet-nam.html

Buổi xin lỗi ông Hàn Đức Long, người trải qua 11 năm ngồi tù oan, đã diễn ra “không thành công”, một luật sư tham gia bào chữa cho ông Hàn Đức Long nói với BBC chiều ngày 25/4.
TAND Cấp cao tại Hà Nội tổ chức buổi xin lỗi chính thức ông Long tại UBND xã Phúc Sơn, tỉnh Bắc Giang chiều 25/4.
Buổi xin lỗi gây nhiều sự chú ý, có nhiều phóng viên và người dân địa phương đến tham gia nhưng mọi việc đã không diễn ra như mong muốn, luật sư Ngô Ngọc Trai cho biết.
“Buổi xin lỗi diễn ra không thành công vì sự thiếu chu đáo của cơ quan đứng ra tổ chức, không liệu được việc gia đình cháu bé có mặt, bức xúc và gây ra sự hỗn loạn.”
Người nhà và gia đình cháu bé bị hại lớn tiếng chỉ trích cơ quan tư pháp và yêu cầu tìm ra thủ phạm trước khi công khai xin lỗi.
Nhưng theo luật sưTrai, yêu cầu này không có cơ sở pháp lý. Ông Long đã được quyết định không phải là thủ phạm. Ông ấy đã đi tù oan 11 năm thì cơ quan tư pháp phải đứng ra xin lỗi theo quy định của pháp luật.
“Toà án nhân dân cấp cao chỉ đọc một văn bản rất chóng vánh, trong không khí lộn xộn, hỗn loạn.”
“Với tư cách là luật sư của ông Long, tôi cho rằng việc xin lỗi đã không thành công. Tôi sẽ làm việc với gia đình ông Long để yêu cầu bên Toà án thực hiện lại việc xin lỗi.”
“Rất là đáng tiếc trong khi vụ án đã gây ra tổn thương tinh thần cho ông Long và những người liên quan, khâu tổ chức lại lầm lỗi tiếp, khiến cho tổn thương tinh thần của nhiều người lại bị ảnh hưởng.”
Ông Long và vợ có mặt tại hội trường nhưng vội ra về.
Về việc bồi thường, ông Trai cho biết gia đình ông Long đang làm việc để trình ra các cơ sở căn cứ, các khoản và các mục để các bên thương lượng đàm phán.
Theo luật sư Ngô Ngọc Trai, người theo đuổi vụ án oan sai của ông Long từ năm 2011: “Vụ án oan của ông Long một phần là do lỗi yếu kém do năng lực con người.”
“Một phần khác là do sự bất cập của cơ chế tư pháp, chưa thiết lập một cách khoa học, chưa bổ trợ được khiếm khuyết của con người, còn lạc hậu, dẫn đến tình trạng oán sai mà bản thân cơ quan tư pháp cũng không mong muốn.”
“Một vấn đề quan trọng khác là có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền giam giữ, cả cơ quan điều tra, viện kiểm sát lẫn tòa án. Ở những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, chỉ có tòa án mới có quyền ra lệnh bắt giữ.”
Theo truyền thông Việt Nam, thi thể cháu bé Nguyễn Thị Yến, sinh năm 2000, được phát hiện năm 2005 sau khi mất tích.
Ông Hàn Đức Long bị bắt giam và thú nhận mình là thủ phạm trong vụ án hãm hiếp và giết cháu bé. Nhưng tại các phiên tòa ông Long kêu oan, không nhận tội và ông nói bị ép cung, bức cung.
Tuy nhiên, sau đó ông vẫn đi tù 11 năm và từng bốn lần bị tuyên án tử hình. Ông được thả vào ngày 20/12/2016 sau khi cơ quan tư pháp xác định không có đủ bằng chứng kết tội.
VIỆT-NAM (NV) – Đại diện chính quyền thành phố Đà Nẵng vừa tuyên bố sẽ đáp ứng yêu cầu “tái định cư tại chỗ” của giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu, tọa lạc tại phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ.
Tuy nhiên chưa rõ sự nhượng bộ này đã đủ để kết thúc vụ đối đầu, đòi công bằng giữa giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu với chính quyền thành phố Đà Nẵng hay chưa (?).
Cách nay tám năm (2009), chính quyền thành phố Đà Nẵng công bố kế hoạch xây dựng Khu Đô thị sinh thái Hòa Xuân, diện tích khoảng 430 héc ta. Theo kế hoạch này, khoảng 2.000 gia đình cư trú ở các khu vực: Tùng Lâm, Lỗ Giáng, Cẩm Chánh, Trung Lương và Cồn Dầu phải rời khỏi nơi “chôn nhau, cắt rốn” của họ, chưa kể 8.000 người chết phải nhường “nơi an nghỉ cuối cùng” cho một “nhà đầu tư”.
Trong khi khoảng 1.600 gia đình ở Tùng Lâm, Lỗ Giáng, Cẩm Chánh, Trung Lương ngậm đắng nuốt cay dọn đến sinh sống tại các “khu tái định cư” thì 380 gia đình của Giáo xứ Cồn Dầu kháng cự yêu cầu mà họ khẳng định là phi lý này. Ngoài việc bảo vệ nhà cửa, ruộng vườn, giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu còn cương quyết bảo vệ mồ mả của ông cha. Giáo xứ Cồn Dầu có một nghĩa trang với chừng 1.000 ngôi mộ.
Ngày 3 tháng 5 năm 2009, khi giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu đưa cụ bà Đặng Thị Tân, 91 tuổi đến an táng tại nghĩa trang của giáo xứ thì công an Đà Nẵng đổ đến ngăn chặn vì theo quy hoạch thì không được chôn cất thêm bất kỳ ai trong nghĩa trang. Công an Đà Nẵng đã thẳng tay đánh đập những người phản đối, hàng chục người trọng thương. Sau đó có thêm sáu người bị bắt, bị phạt tù vì “gây rối trật tự công cộng”, “chống người thi hành công vụ”.
Vụ đàn áp để thu hồi đất ở Cồn Dầu bị nhiều tổ chức quốc tế và chính phủ một số quốc gia chỉ trích. Đó cũng là lý do hàng chục giáo dân Cồn Dầu, trốn sang Thái Lan được Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc cho hưởng quy chế tị nạn chính trị.
Tuy không giữ được nhà cửa, ruộng vườn và mồ mả cha ông nhưng từ đó đến nay, giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu không bỏ cuộc. Họ kết thành đoàn, liên tục cùng nhau đi khiếu nại cả ở Đà Nẵng lẫn Hà Nội, bất kể khiếu nại liên tục bị bác.
Mới đây, chiều 24 tháng 4, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã tổ chức “đối thoại” với các gia đình là giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu “không đồng tình với phương án tái định cư của thành phố Đà Nẵng”. Theo tờ Tuổi Trẻ thì chính quyền thành phố Đà Nẵng đã gửi 87 thư mời đến những gia đình suốt tám năm vừa qua dứt khoát không giao đất, không làm thủ tục nhận đất trong các khu tái định cư nhưng chỉ có ba gia đình chịu quá bộ đến dự cuộc “đối thoại”.
Đáng chú ý là trong buổi “đối thoại” gần như đơn phương đó, ông Hồ Kỳ Minh, Phó Chủ tịch thành phố Đà Nẵng, vẫn tỏ ra nhẫn nại, loan báo, chính quyền thành phố này sẽ giải quyết yêu cầu “tái định cự gần nhà thờ Cồn Dầu” của giáo dân Cồn Dầu. Viên Phó Chủ tịch thành phố Đà Nẵng bảo rằng, để có đất hoán đổi, thỏa mãn yêu cầu “tái định cự gần nhà thờ Cồn Dầu” cho giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã phê duyệt kế hoạch lấy một phần công viên gần nhà thờ Cồn Dầu để phân chia thành 368 lô đất cho giáo dân “tái định cự gần nhà thờ Cồn Dầu”.
Giáo dân Giáo xứ Cồn Dầu cũng có thể hoán đổi đất đã được giao trong khu tái định cư láy một lô đất mới gần nhà thờ Cồn Dầu. Với những gia đình chưa chịu giao đất, chủ đầu tư – Công ty Tập đoàn Mặt Trời – sẽ hỗ trợ xe, chi phí để di dời tài sản… (G.Đ)
Kẻ gieo rắc sợ hãi cũng biết sợ hãi
Vũ Đông Hà (Danlambao) – Ngày 4 tháng 6 năm 1989, quảng trường Thiên An Môn nhuộm máu. Quân đội và xe tăng được lệnh của lãnh đạo đảng CSTQ xả súng vào quần chúng. Trong suốt gần 7 tuần lễ trước đó, bắt đầu từ 15 tháng 4, nửa triệu người dân Trung Hoa, phần lớn là sinh viên, đã vượt qua sợ hãi để làm người tự do đúng nghĩa tại quảng trường có hình chân dung vĩ đại của Mao. Cả ngàn thanh niên thiếu nữ đã chết. Họ đã thắng nỗi sợ hãi nhưng bị dẹp tan trong máu và nước mắt vì một điều đơn giản: họ đã đẩy một guồng máy cai trị tàn ác vào vị trí đường cùng khi thiểu số lãnh đạo và tập đoàn thừa hành của guồng máy ấy chưa biết sợ; vẫn còn những cái đầu điên cuồng tuân lệnh và những ngón tay chưa biết run bấm vào cò súng.
Cuộc cách mạng của sợ hãi không chỉ là một cuộc cách mạng một chiều: làm người dân hết sợ. Nó còn cần được thực hiện theo một tiến trình khôn ngoan, có lượng giá để từng bước: làm cho độc tài bắt đầu biết lo; chùn bước chùng tay; hãi sợ; và cuối cùng là đầu hàng.
Cách mạng chỉ nên được đẩy đến giai đoạn dứt điểm để thành công khi “cán cân sợ hãi” bắt đầu nghiêng về phía độc tài. Nếu không sẽ có nhiều xác suất dẫn đến một cuộc tắm máu vì vũ khí đang nằm trong tay kẻ thống trị. Ngay cả khi buộc phải có “sự thương lượng” với tập đoàn độc tài, cán cân sức mạnh giữa quần chúng và guồng máy lúc đó phải được tương đối cân bằng thì những đòi hỏi chính đáng và lâu dài của nhân dân mới có thể được đáp ứng. Nếu không thì “sự thương lượng” sẽ mở cho độc tài một giải pháp thoát hiểm và công cuộc đấu tranh bị rơi vào một trò chơi chính trị.
*
Câu chuyện của một cô gái xuất khẩu lao động một cán bộ công an phường
Hồng Lĩnh là một sinh viên ở một tỉnh miền Tây. Trong khi bạn bè rủ nhau trở thành cô dâu Đài Loan thì Hồng Lĩnh làm đơn xin đi lao động hợp tác. Cán bộ phường là một gã côn đồ, hống hách, xem dân như cỏ rác. Hồng Lĩnh cũng không thoát khỏi hoàn cảnh đó, vừa sợ hãi, vừa căm giận, vừa phải nhịn nhục khi đến xin chữ ký. “Cuối cùng em nghiệm ra rằng em là nô lệ cho sự sợ hãi của chính em và từ đó danh dự, nhân phẩm của em đã trở thành nô lệ cho chúng nó “ – Hồng Lĩnh tâm sự.
3 năm sau, Hồng Lĩnh về nước. Những cảm nhận ở nước ngoài làm em có một nhận thức mới về chính mình. Ngày lên phường để khai báo, cũng tên cán bộ phường đó, cũng thái độ hống hách, coi thường người dân. “Em đã đứng thẳng dậy, nhìn thẳng vào mắt nó và rất nghiêm trang nhưng rất dữ, “quạt” nó cả 10 phút không ngừng nghĩ. Anh biết gì không? Mặt mày nó tái mét, khi em dừng nói nó bối rối dữ lắm, không biết phản ứng ra sao. Cuối cùng nó lí nhí xin lỗi và bỏ tuốt vào bên trong. Từ đó đến nay, thái độ của nó đối với em khác hẳn. Em ngộ ra một điều là qua nhiều năm, tụi em vì thời thế đã tự tạo cho mình khả năng tự vệ khi bị làm khó làm dễ; ngược lại có kẻ quen tấn công người khác thì không có khả năng phản ứng khi bị tấn công vì chưa có kinh nghiệm bao giờ. Tụi nó chỉ biết núp bóng bộ đồng phục ở trên người và cái bóng của hệ thống…”
Nỗi sợ hãi của kẻ bị tách riêng để tấn công
Không riêng gì đảng CSVN, những cá nhân cầm quyền và thuộc hạ của các nước độc tài khác đều núp bóng cơ chế để vừa trốn tránh trách nhiệm vừa mang cảm giác an toàn. Những tấn công vào cơ chế không làm cho cá nhân trong tập đoàn cai trị lo sợ nhiều mà đôi khi lại gia tăng cảm giác an toàn của họ khi chúng ta vô tình kết họ vào một khối.
Viễn ảnh về ngày tàn của chế độ không phải không có trong đầu của một bộ trưởng hay bí thư tỉnh ủy hoặc một tên công an côn đồ. Hình ảnh của Muammar Gaddafi bị lôi ra khỏi ống cống và bị giết không phải không ẩn hiện trong đầu của họ. Nhưng trong viễn ảnh nhiều ác mộng đó, họ tự nhủ rằng, cùng lắm thì cả một thể chế sụp đổ, một vài “đồng chí” cao cấp nhất sẽ bị đem ra xử còn “ta” sẽ hạ cánh an toàn. Từ đó, họ “yên tâm” tiếp tục thủ ác trong khung cảnh toàn cơ chế, hệ thống bị tấn công.
Không ai có thể phản biện được với khuynh hướng lên án toàn bộ, không để sót kẻ gây ra tội ác vì đó là phán xét hợp lý và mang tính công bằng, phù hợp với chuẩn mực của công lý. Tuy nhiên, trong tiến trình tranh đấu, đôi khi cảm xúc, công bằng và công lý đành phải nhường chỗ cho nhu cầu thực tiễn của mục tiêu xóa bỏ độc tài: hiệu quả đạt được. Sẽ không mang lại nhiều hiệu quả mong đợi khi tấn công cả hệ thống tham nhũng, cả tập đoàn công an còn đảng còn mình là ác ôn, trong khi mỗi cá nhân trong tập thể xấu xa đó không có cảm giác cá nhân mình đang bị tấn công. Đối với những kẻ gieo ác, khi một tên sợ hãi sẽ dẫn đến tâm lý sợ hãi của đồng bọn. Bệnh sợ hãi là bệnh hay lây cho dù chúng là những kẻ nắm quyền. Ngược lại, khi lực chúng ta còn mỏng và còn yếu, tập trung tấn công vào một điểm vẫn mang lại nhiều kết quả hơn là tấn công cả một tảng núi.
Khi bắt đầu bằng những kế hoạch, việc nhắm vào một cá nhân, một thành phần đang bị oán ghét nhất trong bộ máy cai trị sẽ có khả năng làm nhiều người tham gia hơn. Nó sẽ tạo ảnh hưởng đến cá nhân kẻ thủ ác. Nỗi sợ hãi sẽ lây lan, ảnh hưởng và làm suy yếu guồng máy. Khi gió bắt đầu xoay chiều, chính những người phục vụ trong guồng máy sẽ xé rào và chạy về phía nhân dân – đó là trường hợp của một số đại sứ, bộ trưởng của chế độ Gaddafi trong thời điểm quyết định của cuộc cách mạng tại Lybia.
Đánh vào những tên cai ngục, nhà tù sẽ đổ.
25.04.2017
Đội tàu biển của Việt Nam được cảnh báo có thể bị đưa trở lại ‘danh sách đen’ do có nhiều tàu không bảo đảm an toàn cũng như tỷ lệ bị lưu giữ tại nước ngoài cao hơn tàu của những nước khác.
Tổ chức Chính quyền Cảng biển các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đưa ra cảnh báo như vừa nêu.
Thống kê cho thấy trong quí 1 năm nay, số tàu biển của Việt Nam chạy tuyến quốc tế bị lưu giữ ở nước ngoài khi bị kiểm tra về an toàn và phòng ngừa ô nhiễm được cho biết tăng với tỷ lệ cao nhất so với trung bình trong 3 năm qua ở mức gần 5%.
Lý do tàu Việt Nam bị lưu giữ được cho biết vì bị hư hỏng về an toàn chống cháy nổ, trang thiết bị cứu sinh, tình trạng kín nước, các hệ thống sử dụng trong trường hợp có sự cố, an toàn hàng hải, hệ thống quản lý tàu…
Đội tàu biển của Việt Nam trước năm 2014 bị Tổ chức Chính quyền Cảng biển Các nước Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương liệt vào ‘danh sách đen’.
Cục Hàng Hải Việt Nam thừa nhận từ đầu năm đến giữa tháng tư vừa qua, có hơn 300 lượt tàu biển của Việt Nam bị kiểm tra tại các cảng biểng nước ngoài.