Thiếu Tá Trịnh Lan Phương chọn cái chết thay vì đầu hàng

Thiếu Tá Trịnh Lan Phương chọn cái chết thay vì đầu hàng

Huy Phương/Người Việt

Trịnh Lan Phương, cựu sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. (Hình: Huy Phương cung cấp)

Sáng 30 Tháng Tư, 1975, sau khi Đại Tướng Dương Văn Minh lên Đài Phát Thanh Sài Gòn kêu gọi quân đội buông súng đầu hàng vô điều kiện, rất nhiều vị anh hùng của chúng ta chọn cái chết tại chỗ thay vì ra hàng với giặc.

Thất vọng, bẽ bàng, căm giận, hàng ngàn người lính miền Nam đã tự sát để khỏi rơi vào tay quân địch, tránh nỗi ô nhục của một hàng binh trước cảnh nước mất, nhà tan.

Thế giới đã biết đến những vị tướng lãnh miền Nam, tư lệnh những đại đơn vị đã tuẫn tiết khi nghe tin Sài Gòn thất thủ, nhưng đã có biết bao nhiêu anh hùng vô danh, lặng lẽ chọn cái chết về phần mình, mà không hề ai biết đến.

Thiếu Tá Trịnh Lan Phương là một trường hợp như thế!

Hoàn cảnh gia đình của ông mang những nghịch cảnh đau lòng trong chiến tranh. Gia đình bên ngoại ông là một điền chủ giàu có ở Tây Ninh, nhưng thân phụ ông lại là một chàng trai từ miền Bắc phiêu bạt vào Nam.

Sau khi ông ra đời vài năm, thân phụ ông bỏ gia đình tập kết ra Bắc, gây phật lòng cho gia đình bên ngoại của ông, vốn có lập trường kiên quyết không chấp nhận chế độ Cộng Sản.

Không được hỗ trợ của gia đình, cũng không biết tin tức của chồng, với đồng lương giáo viên ít ỏi, mẹ ông cần kiệm nuôi con khôn lớn với nỗi xót xa trong một hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ không chồng, con không cha.

Năm 1964, chiến tranh tại miền Nam bùng phát dữ dội, như hầu hết những thanh niên miền Nam, Trịnh Lan Phương tình nguyện nhập ngũ, và ông chọn trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Khóa 21.

Ra trường vào cuối năm 1966, Thiếu Úy Trịnh Lan Phương được phân phối chỉ huy một đơn vị Biệt Động Quân tham chiến tại Đắc Tô, Tân Cảnh, Kon Tum. Tháng Mười Hai, 1966, ông được thăng trung úy và giữ chức đại đội trưởng.

Từ Tháng Bảy, 1968, cho đến Tháng Tư, 1975, ông được chuyển về phục vụ tại Đội Cận Vệ Phủ Tổng Thống VNCH.

Ngày 30 Tháng Tư, 1968, ông kết hôn với cô Huỳnh Thị Kim Hoa. Năm 1970, hai vợ chồng ông sinh con gái đầu lòng là Trịnh Thiên Hương. Để giúp đỡ thêm đồng lương với chồng, vợ ông mở thêm một tiệm sách báo nhỏ trong đường hẻm gần trường tiểu học Mạc-Ty-Nho. Tháng Ba, 1975, vợ chồng ông sinh thêm con trai là Trịnh Đức Huy.

Đầu năm 1975, ông được vinh thăng thiếu tá.

Trưa 30 Tháng Tư, 1975, sau lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh, Thiếu Tá Trịnh Lan Phương từ phủ tổng thống trở về căn nhà nhỏ ở đường Nguyễn Thiện Thuật, Bàn Cờ, quận 3. Trong tình trạng hỗn loạn của Sài Gòn, ai cũng kéo cánh cửa nhà, nín lặng chờ những biến cố mới.

Thiếu Tá Trịnh Lan Phương chọn cái chết thay vì đầu hàng
Thủ bút của Trịnh Lan Phương: “Súng đạn, xương máu, chiến thắng và hy sinh.” (Hình: Huy Phương cung cấp)

Sau bữa cơm trưa qua loa, ông ôm hôn hai đứa con và lặng lẽ leo lên căn gác nhỏ để nghỉ ngơi như thường lệ. Vào khoảng 3 giờ chiều, một tiếng nổ chát chúa vang lên trên căn gác nhỏ.

Trong âm thanh hỗn tạp của một đô thị lớn như Sài Gòn, không ai để ý đến tiếng nổ ấy, nhưng gia đình Trịnh Lan Phương cảm thấy có sự bất thường. Người em trai vợ, trước tiên, rồi chị ông, cả bà mẹ già tuôn lên căn gác, thì ông đã chết. Khẩu súng Colt 45 ở trong tay, máu từ thái dương bên phải tuôn ra từng dòng.

Ông được đưa vào bệnh viện Sài Gòn ngay sau đó, để được bác sĩ khám nghiệm và ghi một dòng chữ kết luận: “Plaies par balls du crane” (Thương tích trên sọ do đạn). Giữa cảnh tên bay đạn lạc ngày ấy, ai còn để ý đến viên đạn nổ trong hộp sọ của một người lính tan hàng!

Cả một quân đội hùng mạnh tan vỡ trong chốc lát, chí nguyện của người lính chưa thành, hay hình ảnh người cha bên kia chiến tuyến đã quên mặt, trở về như một kẻ xâm lược đắc thắng, là nguyên nhân của viên đạn oan nghiệt cuối cùng.

Trong thư của Trịnh Thiên Hương, con gái đầu của ông gửi cho bạn bè ông, có ghi lại:

“Tự hào vì ba của mình, một người cha vĩ đại trong lòng cháu. Từ 5 tuổi cháu đã mồ côi cha, hình ảnh người cha trong tâm trí cháu là một người đàn ông, đẹp trai, cao lớn, hiền lành, vui tính, yêu vợ thương con, sống chân thật với những người thân xung quanh và tình yêu đẹp thật lãng mạn của ba mẹ (đây là những lời kể lại từ bà nội, bà ngoại và các dì của cháu – từ đó hình thành lên một hình ảnh người cha tuyệt vời trong tâm trí cháu).

Cháu không được nghe bất kỳ một lời nói nào của ba từ mẹ cháu cả. Ba cháu tự sát tại nhà, ngay ngày 30 Tháng Tư, 1975, cháu vẫn còn bị ám ảnh mãi trong tâm trí mình những người cậu, ôm ba từ trên gác xuống.

Mẹ cháu, bà ngoại và mọi người thì gào khóc, cháu không được nhìn thấy ba, vì bị mọi người ôm cháu lại và che đi, nhưng cháu vẫn nhớ hoài hình ảnh rối loạn chiều hôm đó. Sau đó thì cháu không gần mẹ cháu nữa, thậm chí đứa em cháu – Trịnh Đức Huy – mới tròn một tháng tuổi cũng không được gần mẹ. Mẹ cháu lúc đó không còn bình thường nữa, do cú sốc quá lớn, tinh thần không ổn định, nên mẹ cháu đã bị khủng hoảng, không chịu đến gần chị em cháu. Kể từ đó cho đến bây giờ, cháu không bao giờ nghe mẹ nhắc về ba. Hai chị em cháu lớn khôn thành người nhờ sự chăm sóc nuôi dưỡng của ông bà ngoại và các dì. Bà nội cháu cũng đi tu sau khi an táng ba cháu.

… Hiện bây giờ chỉ còn mẹ cháu là người duy nhất biết về ba, nhưng trí nhớ của mẹ cháu sau 42 năm, từ khi ba mất đã không còn như xưa nữa. Cách đây 10 năm, mẹ cháu bị tai biến, xuất huyết não, hiện tại đang bị liệt nửa người, tinh thần không còn minh mẫn nữa. Vì vậy, cháu rất buồn và cảm thấy bất lực khi đi tìm thông tin về người cha yêu quý của mình. Ba cháu luôn luôn vẫn là một người tuyệt vời trong lòng cháu, cháu luôn tự hào là đứa con gái ngoan của ba Lan Phương.

Mừng vì được gặp các bạn bè, chiến hữu của ba, được nhìn thấy sự quan tâm của mọi người đối với ba. Cháu rất cảm động về những điều tốt đẹp mà mọi người dành cho ba cháu.”

Bốn mươi hai năm trôi qua, hôm nay không khí nghẹn ngào của những ngày 30 Tháng Tư tang tóc lại đến. Bà con chúng ta chết sông, chết biển, vì phải bỏ đất nước ra đi, anh em ta chết trong cảnh tù đày trên chính quê hương của mình. Nhưng chính những anh hùng liệt nữ đã chọn cái chết hào hùng ngay trong giờ phút cuối cùng, phải buông súng là những cái chết đời đời ngời sáng, rửa mặt cho nỗi nhục của quê hương.

(*) Email của Trịnh Thiên Hương: thienhuong062000@yahoo.com. Điện thoại: 0907485656. Địa chỉ: 5/11, đường 23, phường Bình Trưng Tây, Quận 2, Sài Gòn.

42 năm-giá trị của một “chiến thắng” và những vết thương chưa thể lành

42 năm-giá trị của một “chiến thắng” và những vết thương chưa thể lành

Song Chi.

42 năm sau biến cố 30.4.1975, có vô vàn câu hỏi về cuộc chiến tranh đã qua, về thực tại đất nước, vẫn tiếp tục làm nhức nhối trái tim những ai có lòng với đất nước, dân tộc. Người viết bài này chỉ muốn đặt lại hai câu hỏi:

+Trong cuộc chiến VN, người Mỹ tất nhiên đã thua, VNCH tất nhiên đã thua, nhưng rốt cuộc đảng cộng sản VN có phải đã chiến thắng?

Đã có rất nhiều bài viết của người VN và người nước ngoài nhận định về “chiến thắng” của đảng cộng sản VN ngày 30.4.1975, nhưng nhìn lại, điều đó chả có gì đáng phải tự hào ngây ngất, tạo nên niềm “kiêu ngạo cộng sản” suốt một thời gian dài. Bởi vì đó là một “chiến thắng” dựa trên vũ khí, tài chính, sự viện trợ tối đa từ Liên Xô, Trung Cộng, và phe XHCN, đồng thời lợi dụng, khai thác lòng yêu nước của người VN để tuyên truyền dối trá, bóp méo sự thật, khiến hàng triệu con người lao vào cuộc chiến mà cứ tưởng mình đang đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam bị kềm kẹp dưới ách Mỹ ngụy và để xây dựng một đất nước công bằng, ngàn lần tốt đẹp hơn. Nếu không có sự viện trợ đó và không có sự tuyên truyền dối trá đó, đảng cộng sản có thắng không?

Chưa kể, “đánh ngoại xâm bằng ngoại nhân”, vi phạm Hiệp định Paris, quyết tâm cưỡng chiếm miền Nam bất chấp VNCH lúc đó là một thực thể quốc gia độc lập, bất chấp ý nguyện của người dân miền Nam, thực tế là một hành động xâm lược cho dù biện minh bằng lý do thống nhất đất nước (bởi vì người miền Nam có muốn thống nhất theo cách đó hay không?). Và vì vậy chả có gì để tự hào cả.

Thứ hai, thắng trong chiến tranh, nhưng bại trong hòa bình, đảng cộng sản đã thất bại trên nhiều khía cạnh. Thất bại trong việc thu phục nhân tâm, đất nước thống nhất nhưng lòng người chưa bao giờ thôi chia rẽ. Thất bại trong việc xây dựng VN trở thành một quốc gia độc lập, tự do, hạnh phúc, giàu mạnh; không những thế, VN dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản sau cuộc chiến còn tiếp tục phải lao vào hai cuộc chiến tranh khác với Khơ Me Đỏ và Trung Cộng, bị mất thêm nhiều đất đai, lãnh thổ lãnh hải vào tay Bắc Kinh.

Thất bại trong việc thực hiện và xây dựng đất nước theo mô hình thể chế chính trị và lý tưởng xã hội chủ nghĩa/cộng sản chủ nghĩa mà ban đầu họ theo đuổi. Ngược lại, họ đã lẳng lặng từ bỏ, phản bội tất cả những lý tưởng, tuyên ngôn, tuyên bố, mục tiêu ban đầu đó, điều chỉnh, chắp vá mô hình thể chế hiện tại như một sự cóp nhặt nửa vời giữa nền kinh tế tự do, thị trường của phe tư bản, nhưng vẫn giữ lại sự lãnh đạo duy nhất của đảng theo thể chế độc tài.

Thất bại trong việc tiêu diệt những giá trị của chế độ VNCH, ngược lại, theo thời gian, những giá trị, ảnh hưởng trong văn học, âm nhạc, tư tưởng tự do, nhân bản… của VNCH vẫn tiếp tục lan tỏa; hình ảnh lá cờ vàng vẫn tiếp tục tồn tại trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại nhiều quốc gia, được chính phủ nhiều nước công nhận đó là lá cờ đại diện cho cộng đồng người Việt tỵ nạn, và thậm chí, thỉnh thoảng lá cờ vàng còn xuất hiện ngay trong nước. Ngày càng ngày người dân càng mất lòng tin và ngao ngán, chán ghét chế độ, nhà cầm quyền.

Như thế có thể gọi là chiến thắng hay không?

+Vì sao người Việt vẫn tiếp tục nói về ngày 30.4.1975?

“Bên thắng cuộc” tất nhiên là vẫn tiếp tục ăn mừng hàng năm, để tiếp tục tuyên tuyền về “tính chính danh” và “công lao” thống nhất đất nước của đảng cộng sản, đặc biệt khi thực trạng đất nước ngày càng tệ hại, rối beng, lòng dân đa phần mất lòng tin vào đảng, vào nhà cầm quyền thì lại càng phải rầm rộ ăn mừng, “ăn mày dĩ vãng”.

“Bên thua cuộc” cũng có những lý do. Bởi theo thời gian, khi đảng và nhà nước cộng sản ngày càng chứng tỏ đó là một tập đoàn cai trị độc tài, yếu kém, bất lực, tham nhũng và phá hoại nặng nề đất nước; khi sự tụt hậu thê thảm về mọi mặt của VN so với các nước láng giềng trong khu vực và so với thế giới, khi độc lập-tự do-hạnh phúc chưa bao giờ thực sự có trên đất nước này và những quyền tối thiểu của con người vẫn còn bị chà đạp…thì nỗi đau, sự tiếc nuối về một cuộc chiến tranh vô nghĩa, về sự bức tử của một quốc gia dù còn nhiều khiếm khuyết nhưng đã có những nền móng của một xã hội dân chủ, văn minh và nhân bản, về những cơ hội bỏ lỡ của đất nước, những chữ “nếu” oan nghiệt được đặt ra…càng làm trái tim người Việt nhức nhối.

Người miền Nam đã chấp nhận thua. Đã giao lại cả một quốc gia VNCH thuộc vào loại phát triển so với các nước chung quanh vào thời điểm ấy cho “bên thắng cuộc”. Nhưng “bên thắng cuộc” đã không biết cách thắng. Bằng việc áp đặt một mô hình thể chế chính trị độc tài toàn trị và mô hình kinh tế quốc doanh bao cấp quan liêu học theo Liên Xô, cộng với vô số những chính sách sai lầm về văn hóa, giáo dục, tư tưởng, những chính sách trả thù, phân biệt đối xử với người miền Nam…kết quả là chỉ trong một thời gian ngắn nền kinh tế miền Nam bị phá sản, cả nước rơi vào cảnh đói nghèo, thậm chí đứng trên bờ vực của sự chết đói, và hàng triệu người bỏ nước ra đi..

Sau 42 năm, đảng và nhà nước cộng sản không những không biết nhìn lại, thành tâm hối lỗi vì những tội ác, những chính sách sai lầm, không những không thành tâm hòa hợp hòa giải mà cũng không hướng tới tương lai, dũng cảm lựa chọn con đường thay đổi thể chế chính trị lỗi thời bằng biện pháp hòa bình, như nhiều nước và mới đây là Myanmar đã thực hiện, vì quyền lợi và tương lai của đất nước, dân tộc. Ngược lại, đảng và nhà nước cộng sản vẫn quyết liệt bám giữ quyền lực bằng mọi giá, tiếp tục bám lấy mô hình thể chế chính trị độc tài toàn trị, tiếp tục phá nát đất nước bởi sự ngu dốt, tham lam, tham nhũng, về ngoại giao thì tiếp tục đưa VN vào con đường lệ thuộc lâu dài và yếu thế về mọi mặt trước Trung Cộng.

Chính vì thế mà trong lúc nhiều dân tộc khác, quốc gia khác, có thể dễ dàng khép lại quá khứ sau một cuộc nội chiến, ví dụ như nước Mỹ sau cuộc nội chiến Nam-Bắc thế kỷ XIX, Đông Đức và Tây Đức sau ngày thống nhất, còn VN thì không dễ. Chính vì thế mà người VN vẫn cứ còn tiếp tục nói về ngày 30.4-dù đã 42 năm. Lòng người vẫn chia rẽ sâu sắc. Và khi nào đảng cộng sản còn tồn tại, khi nào thể chế chính trị này còn tồn tại thì vết thương còn mãi chưa lành.

Từ lâu, sự tồn tại của nhà nước cộng sản đã trở thành lực lượng phản động, kìm hãm sự phát triển của VN, đảng cộng sản càng nằm quyền lâu dài thì khoảng cách giữa VN và các nước khác càng lớn, hệ lụy do đảng cộng sản gây ra và để lại càng nặng nề, VN càng mất nhiều thời gian để làm lại từ đầu.

Câu hỏi là người Việt chúng ta còn phải tiếp tục nói về những chuyện như thế này cho đến bao lâu nữa? Bao giờ thì một giai đoạn lịch sử đen tối sẽ thực sự khép lại và một chương mới, tươi sáng hơn cho dân tộc, sẽ mở ra?

Một mục sư bị tuyên án 5 năm về tội tổ chức vượt biên

RFA
2017-05-01
Mục sư người dân tộc ở Tây Nguyên tên A Đào, còn gọi là A Ma Dũng, bị tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tuyên phạt 5 năm tù vì tội nhiều lần tổ chức đưa người Thượng đi Thái Lan trái phép.

Phiên xử diễn ra ngày 28/4/2017, được gọi là công khai và được tờ Công Lý trong nước loan tin, cho thấy hồi tháng 8/2016 mục sư A Đào đã bị bắt quả tang khi đang tìm cách đưa 5 người dân tộc thiểu số trốn khỏi Việt Nam .

Tin nói ông A Đào khai báo là từ năm 2012 đã cấu kết với một người tên A Ga cùng sinh hoạt trong Hội thánh Tin Lành với ông ta. Đến năm 2013 ông A Ga trốn sang Thái Lan và từ đó thường xuyên liên lạc thông đồng với ông A Đào để đưa thêm nhiều người Thượng khác trốn đi Thái Lan.

Từ tháng 3 đến tháng 6/2016, mục sư A Đào đã cùng A Ga bố trí đưa 10 người ra nước ngoài trong 3 đợt.

Những người bỏ trốn khỏi nước được đưa từ Pleiku bằng xe đến cửa khẩu Mộc Bài ở Tây Ninh, sau đó đi xe ôm đến Phnom Penh, Campuchia rồi có người đón đi sang Thái Lan.

Nguyên nhân khiến người Thượng bỏ trốn cũng như hành động giúp người đi nước ngoài trái phép mà mục sư A Đào chủ mưu chỉ được báo chí trong nước tường thuật lại là do bị kẻ xấu lợi dụng và xúi giục.

Tuy nhiên theo lời khai của những người dân tộc Tây Nguyên theo đạo Tin Lành nói với Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc ở Campuchia hay Thái Lan, thì họ trốn đi vì bị chính quyền địa phương bên Việt Nam đe dọa, buộc bỏ đạo, bắt giữ đánh đập và cấm không cho nhóm họp để cầu nguyện theo đức tin.

60 Điều Để Ghét Khi Đi Du Lịch Ở Việt Nam

From facebook: Kimtrong Lam
60 Điều Để Ghét Khi Đi Du Lịch Ở Việt Nam

Vô thẳng vấn đề, không vòng vo. Sau đây là những thứ tôi và các du khách trong và ngoài nước ghét khi đi du lịch ở Việt Nam.
1. Phí visa quá cao. Nước nghèo mà chảnh.
2. Đi đâu cũng thấy rác.
3. Ý thức xếp hàng kém, luôn chen lấn. Bực bội.
4. Toilet bẩn thấy bà ra. Vô là muốn ói, mất hết tinh thần ăn uống.
5. Giao thông thì lộn xộn.
6. Thuê phòng khách sạn phải đưa hộ chiếu cho tiếp tân, mấy nước khác chỉ photo rồi trả lại.
7. Qua đường cực kỳ khó.
8. Không khí và môi trường ô nhiễm.
9. Quán ăn đa số nhỏ và dơ.
10. Đường phố thì chật hẹp.
11. Tiếng còi ở đâu cũng có. Bóp còi là một nét văn hóa ở xứ này.
12. Mua đồ thì bị chặt chém.
13. Khách nước ngoài bị chém giá. Sao phân biệt vậy chứ?
14. Tiểu thương coi du khách như con mồi để làm tiền.
15. Tổ chức thiếu chuyên nghiệp.
16. Quá thiếu thông tin tiếng Anh.
17. Hệ thống vận chuyển lạc hậu. Đi xe thì quá lâu.
18. Tiếng Việt nghe cực kỳ chói tai.
19. Đi xe đò thì mở nhạc sến và hài. Đó là một cực hình đối với du khách Tây.
20. Chẳng có cái gì đặc trưng về văn hóa để quảng bá.
21. Đi đâu cũng thấy ăn xin, bán vé số. Thấy cảnh đó thì ăn tận hưởng cho được?
22. Khách sạn bình dân không có nước nóng.
23. Nhiều khách sạn dùng hệ thống nước nóng mặt trời. Nhiều lúc chờ dài cổ cũng không có nước nóng. Bực bội.
24. Thường xuyên bị cúp điện.
25. Nhiều toilet không có giấy vệ sinh, chỉ dùng súng nước.
26. Tiếng ồn. Ra đường thì tiếng ồn của xe, vô quán thì tiếng ồn của nhạc.
27. Đồ ăn bỏ bột ngọt nhiều.
28. Người dân không biết nói cảm ơn xin lỗi là gì.
29. Cách xe máy chặn lối ra vào cửa hàng.
30. Cừa hàng tạp hóa không để giá.
31. Tài xế taxi gian dối.
32. Vietjet thường xuyên bị hoãn.
33. Vỉa hè đã bị cướp đi. Người đi bộ phải đi xuống lề đường.
34. Cách người Việt hay soi mói người Tây.
35. Không ai biết nhường đường là gì.
36. Đi đâu cũng gặp hàng rong. Bực bội.
37. Ăn cắp vặt.
38. Nghèo, đi đâu cũng thấy nghèo và người nghèo. Tận hưởng sao nổi?
39. Hải quan hay làm tiền du khách.
40. Văn hóa ăn thịt chó, đa số ở miền bắc.
41. Cái nóng và cái nực.
42. Không có hệ thông vận chuyển công cộng. Giờ đi từ quận 1 sang quận 2 thì đi sao? Google bằng cách nào?
43. Nhân viên trong mấy khách sạn 3 sao ngoại ngữ kém.
44. Thói phun nước miếng của đàn ông.
45. Đi mát xa thì không biết đi chỗ nào đàng hoàng, toàn là gái gái gái.
46. Thái độ phục vụ của nhân viên cực kỳ tồi, nhất là ở miền bắc.
47. Thu phí vặt ở các địa điểm tham quan.
48. Thiếu toilet công cộng.
49. Thói trễ giờ của người Việt.
50. Không có khái niệm không gian riêng hoặc cá nhân.
51. Thủ tục hành chính rườm rà.
52. Thiếu thùng rác. Tìm hoài không ra.
53. Mưa là đường phố bị ngập.
54. Xe lửa giá đắt và dơ, nhất là cái toilet.
55. Mạng internet thì chậm như rùa.
56. Đồ thì đắt hơn các nước khác.
57. Đi vô siêu thị phải gửi ba lô.
58. Đa số quán ăn chỉ đầu tư cơ sở vật chất, còn đồ ăn thì tạm được chứ không có gì chuyên nghiệp.
59. Du lịch tưởng rẻ nhưng thực ra không hề rẻ tí nào.
60. Và cuối cùng, đi rồi chẳng biết mua gì đặc trưng để làm quà cả, trừ mấy thứ hàng Made In China.
Nhiều đó thôi. Ai chửi cứ chửi, ai đồng ý thì cứ đồng ý. Việt Nam nó vậy đó.

 

Phá 116 ha rừng phòng hộ, lãnh đạo nhận khuyết điểm, còn cưa 12 cây tràm tự chăm sóc và hết giá trị sử dụng thì 8 người dân bị kết án tù!

From facebook:  Đáp Lời Sông Núi shared Vu Hai Tran‘s post.
 
 
Image may contain: one or more people and people sitting
Image may contain: 4 people, eyeglasses
Image may contain: 2 people, text
Image may contain: outdoor

Vu Hai Tran added 4 new photos.Follow

 

Công lý Việt nam: Phá 116 ha rừng phòng hộ, lãnh đạo nhận khuyết điểm, còn cưa 12 cây tràm tự chăm sóc và hết giá trị sử dụng thì 8 người dân bị kết án tù!

Cách đây hơn 2 năm, tôi nhận bào chữa cho 8 bị cáo trong các phiên toà sơ thẩm lẫn phúc thẩm tại tỉnh Đồng Nai, bị buộc tội về việc cưa 12 cây tràm quá lứa, và do chính họ chăm sóc nhiều năm. Kẻ đẩy họ vào vòng lao lý là một giám đốc trung tâm lâm nghiệp, tại vị hơn 20 năm. Trong số 30 ha đất được coi là diện tích trồng tràm ở thành phố Biên Hoà, chỉ vài nghìn m2 đất của những hộ dân này (nhận khoán) còn cây tràm, diện tích đất còn lại đều đã xây xưởng hay nhà từ lâu. Khi những hộ dân này cưa 12 cây tràm, vị giám đốc này kết hợp với một doanh nghiệp đang lăm le mảnh đất này tố lên công an Biên hoà. 5 người bị bắt , 3 người tại ngoại về tội huỷ hoại tài sản. Phiên toà sơ thẩm xử họ án tù treo hoặc tù giam đúng bằng số ngày họ bị tạm giam. Họ kháng cáo kêu oan. Trong phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát cho rằng không có thiệt hại trong vụ này, không thể kết tội họ được. Sau 5 ngày nghị án, toà vẫn tuyên họ có tội, y án sơ thẩm. Hiện nay họ vẫn tiếp tục kêu oan.

Mấy hôm nay, dư luận quan tâm các quan tỉnh Phú Yên cho phá 116ha rừng phòng hộ, bất chấp lệnh cấm của Thủ tướng, với lý do xây resort cho cuộc thi hoa hậu tới. Bị phát giác và phê phán, lãnh đạo tỉnh này nhận khuyết điểm, báo cáo Thủ tướng để quyết định theo hướng “trung ương cho phép thì làm”.

Không rõ các vị quan này có hiểu luật Việt nam không? Và liệu Việt nam có công lý không, khi phá 116 ha rừng phòng hộ thì bỏ qua cho các quan và đại gia, còn 12 cây tràm hết giá trị bị cưa thì kết tội cho 8 dân thường?

Mời các bạn cho ý kiến.

http://laodong.com.vn/…/mot-vu-an-ky-la-8-nguoi-bi-phat-tu-…
http://plo.vn/…/vu-pha-rung-phu-yen-nhan-khuyet-diem-truoc-…

 

Ngày 30-4-1975 Đệ Nhị Cộng Hoà VN mất đi, người VNCH ( Miền Nam VN ) mất những gì? Được những gì?

From facebook: Trần Bang
Ngày 30-4-1975 Đệ Nhị Cộng Hoà VN mất đi, người VNCH ( Miền Nam VN ) mất những gì? Được những gì?

MẤT:
– Mất tư hữu đất đai
– Mất tự do kinh doanh, làm ăn
– Mất tự do đi lại, tự do cư trú
– Mất tự do ngôn luận, mất tự do biểu tình…không còn tự do báo chí, không còn tự do xuất bản, không còn tự do học thuật…
– Mất tự do lập hội, mất tự do hội họp…
– Mất tự chủ Đại Học
– Mất tự do tôn giáo, thờ tự ( Nghĩa trang Quân đội bị quân quản, nhiều cơ sở Tu viện phải đóng cửa, tài sản đất đai thuộc các tôn giáo bị cưỡng chiếm, hay buộc phải hiến tặng, cho mượn….)
– Mất tự do giáo dục ( mọi khoa học, giáo dục… bị bắt buộc nhìn qua lăng kính nhỏ hẹp, sai lầm, ảo tưởng của học thuyết Mác Lê Mao)… đóng cửa trường học tư…
– Mất tự do công dân, mất bình đẳng, bị phân biệt lý lịch khi tìm việc làm, khi đi học, khi chữa bệnh…
– Mất nền Tư pháp độc lập… Toà Án không còn được độc lập xét xử….
– Mất tự do bầu cử, mất tự do ứng cử, mất tự do tranh cử…

ĐƯỢC:
– Được xếp hàng cả ngày (XHCN) mua vài thứ nhu yếu phẩm
– Được ( bắt buộc) học tập chính trị ( chỉ một học thuyết Mác Lê ) hàng ngày, hàng tuần…
– Được “phấn đấu” vào đoàn, đội, hội của ĐCS?
– Được vào làm công ở Tập đoàn sản xuất, được vào công nhân quốc doanh…
– Được ăn bo bo
– Được biết tem phiếu, sổ gạo là gì.
– Được suốt ngày hát bài ” như có bác trong ngày vui đại thắng” dù bố, anh, ông đang đi tù không hẹn ngày về, không biết ở đâu…
– Được (bắt buộc) đi kinh tế mới (từ thành thị lên rừng khai hoang )
– Được mạo hiểm tính mạng, tài sản để… vượt biên.
– Được đi tù không án…
– Được làm chân gỗ cho các cuộc bầu cử, và được đi bầu cử giả vờ theo quy hoạch sẵn của ĐCS.
– Được bắt buộc hiến tặng tài sản, nhà cửa, đất đai, công ty, xí nghiệp, hãng xưởng…

P/s Nội dung tham khảo những người ( cả người theo CS và không CS) sống ở VNCH trước 30-4-1975. Ảnh chôm từ FB Nguyễn Huy Hoàng

 

Bác sĩ bị đâm chết ngay tại bệnh viện

Rạng sáng nay, thấy anh trai thiệt mạng sau khi cấp cứu, nam thanh niên 19 tuổi đã dùng dao bấm đâm chết nam bác sĩ 60 tuổi, một bác sĩ khác bị trọng thương.

Trao đổi với VnExpress.net, lãnh đạo bệnh viện đa khoa huyện Vũ Thư (Thái Bình) cho biết, bác sĩ bị thiệt mạng là Phạm Đức Giàu (60 tuổi, làm việc ở khoa ngoại) còn bác sĩ bị đâm trọng thương là Ngô Duy Hoàn (30 tuổi ở khoa hồi sức cấp cứu).

Ngày 30 Tháng Tư

Ngày 30 Tháng Tư

Phạm Đình Trọng (Danlambao) – Từ mấy năm nay, cứ gần đến ngày 30 tháng tư tôi đều phải rời căn hộ dịu mát, thoáng đãng, từ đó phóng tầm mắt ôm được cả một khoảng rộng Sài Gòn bừng sáng những tòa tháp cao tầng như những tòa ánh sáng. Từ mấy năm nay, cứ đến gần ngày 30 tháng tư tôi lại phải rời bỏ nếp sinh hoạt ổn định hàng ngày rồi hấp tấp khăn gói lưu vong khỏi Sài Gòn. Từ nhiều năm nay cứ đến ngày 29, 30 tháng tư cả đám an ninh cộng sản lại đến bủa vây quanh nơi tôi ở. Tôi phải lưu vong mấy ngày đó để thoát khỏi sự giam hãm.

Những ngày cả Sài Gòn giăng cờ, kết hoa, rực rỡ đèn đuốc chào mừng ngày 30 tháng tư được những người cộng sản gọi là ngày giải phóng miền Nam thì an ninh cộng sản lại đến giam cầm tôi ngay giữa “Sài Gòn giải phóng”.

Vậy thực sự ngày 30 tháng tư, năm 1975 có phải là ngày nửa dải đất phía Nam của tổ quốc Việt Nam được giải phóng không?

Giải phóng đích thực, giải phóng có giá trị lớn lao, thiết thực nhất phải là giải phóng con người, giải phóng tư duy, giải phóng sự sáng tạo của con người và giải phóng sức phát triển của xã hội.

Ngày 30 tháng tư năm 1975 cả triệu người Việt Nam dù yêu nước cháy bỏng cũng phải bỏ nhà cửa, bỏ tài sản, bỏ cả mồ mả ông bà, bỏ nước ra đi trốn chạy những người nhân danh là người yêu nước nhưng chỉ biết có ý thức hệ cộng sản, trốn chạy những người mang chuyên chính vô sản sắt máu vay mượn từ nước ngoài về nô dịch cả dân tộc. Ngày 30 tháng tư năm 1975 mang đến mất mát uất hận lớn như vậy cho cả triệu người Việt Nam làm sao có thể gọi là ngày giải phóng!

Với biến cố 30 tháng tư năm 1975, hàng trăm ngàn người dân miền Nam trở thành người tù trong những trại tập trung cải tạo, hàng triệu người thân của họ phải bỏ nhà cửa êm ấm, bỏ cuộc sống đầy đủ tiện nghi, lếch thếch đi lưu đày nơi đầu rừng cuối bãi hoang vu, khắc nghiệt với cái tên trá hình là đi xây dựng khu kinh tế mới.

Với biến cố 30 tháng tư năm 1975, nền công nghiệp non trẻ nhưng hiện đại, đầy sức sống và đang phát triển mạnh mẽ của miền Nam bị đánh sập. Những người chủ tài năng đã dựng nên cơ nghiệp cho gia đình, tạo ra nền công nghiệp tươi sáng cho đất nước phải giao nhà máy cho nhà nước cộng sản, giao tài sản mồ hôi nước mắt cho những cán bộ vô sản không có kiến thức kinh tế, không biết quản lí, điều hành sản xuất. Từ đó nhà máy hoạt động không hiệu quả, kinh doanh thua lỗ, sản xuất đình đốn, công nhân thất nghiệp. Sự dốt nát và vô trách nhiệm của những ông chủ vô sản đã tàn phá, xóa sổ cả một nền công nghiệp hiện đại đầy triển vọng rực rỡ của miền Nam.

Từ biến cố 30 tháng tư năm 1975, người kinh doanh lớn không được hoạt động. Chỉ còn những người buôn bán cò con, mua đầu chợ bán cuối chợ. Không còn kinh tế thị trường, chỉ còn nền kinh tế tự cấp tự túc từ thời mông muội xa xưa. Nghề thủ công và nghề làm ruộng cần sự cần cù, chịu thương chịu khó và sự sáng tạo cùng kinh nghiệm cá nhân thì hai nghề này phải vào hợp tác xã, chịu sự quản lí của cán bộ cộng sản quan liêu, tham nhũng và thành quả lao động bị mang chia đều, bình quân, làm cho người sản xuất không còn gắn bó với công việc, không còn cần đến sự cần cù, sáng tạo nữa. Miền Nam từ vựa lúa xuất khẩu gạo nay chính người làm ra hạt gạo cũng không có đủ gạo ăn. Người làm ra hạt gạo còn đói thì cả nước đương nhiên phải đói.

Từ biến cố 30 tháng tư năm 1975, con người miền Nam bị quản lí theo chế độ nô dịch, nền sản xuất miền Nam bị tàn phá và kìm hãm thì không thể coi ngày 30 tháng tư là ngày giải phóng miền Nam.

Ngày 30 tháng tư hàng năm, tôi cùng hàng ngàn người Việt Nam nói tiếng nói trung thực đòi tự do dân chủ, đòi những giá trị làm người đã bị bộ máy công cụ bạo lực nhà nước cộng sản Việt Nam đến bủa vây, giam cầm tại nhà thì ngày 30 tháng tư càng không thể là ngày giải phóng.

Ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối ư? Đất nước thống nhất trước hết phải thống nhất trong lòng người. Từ 30 tháng tư năm 1975, người Việt Nam bị chia rẽ đau đớn và sâu sắc nhất chưa từng có trong lịch sử hiển hách bốn ngàn năm dựng nước của dân tộc Việt Nam. 

Ngay cả thời Pháp đô hộ Việt Nam với chính sách chia để trị, Pháp chia đất nước Việt Nam thành ba kì với ba chế độ chính trị khác nhau thì người Việt Nam ở Bắc Kì và người Việt Nam ở Nam kì vẫn thương yêu đùm bọc nhau trong tình cảm đồng bào ruột thịt. Câu ca dao thương yêu của ông bà từ ngàn xưa để lại vẫn được cả người Bắc Kì lẫn người Nam Kì mang ra dạy bảo con cháu: Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng. 

Từ khi đảng cộng sản Việt Nam ra đời, văn hóa yêu thương của ông bà để lại đã bị thay thế bằng văn hóa hận thù. Dân tộc Việt Nam yêu thương bị phân chia thành giai cấp đối kháng, phân chia thành trận tuyến ta – địch. Người dân bị đẩy vào cuộc đấu tranh giai cấp giả tạo mà đẫm máu và triền miên. Người dân nói tiếng nói yêu nước thương nòi mà động chạm đến tội của đảng cộng sản làm mất đất đai tổ tiên, động chạm đến tội của đảng cộng sản tước đoạt những giá trị làm người của người dân liền bị đảng cộng sản cầm quyền đẩy sang thế lực thù địch. 

Pháp đô hộ chia nước ta thành ba kì chỉ là vạch ranh giới trong không gian, chia địa lí hành chính trên giấy tờ. Đảng cộng sản chia dân tộc Việt Nam thành giai cấp đối kháng là chia rẽ trong lòng dân tộc, chia rẽ, li tán trong lòng người. Đặc biệt từ 30 tháng tư năm 1975 sự chia rẽ này càng độc ác, man rợ khi chuyên chính vô sản, hận thù giai cấp đã ào ạt, quyết liệt tước đoạt tự do, tước đoạt mạng sống của hàng triệu người dân miền Nam ở tầng lớp tinh hoa, những trí thức, những nhà chính trị, những quan chức nhà nước và sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Từ 30 tháng tư năm 1975, chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp đã làm cho người Việt hận thù người Việt sâu sắc, hàng triệu người Việt yêu nước thương nòi bị đẩy sang thế lực thù địch và hàng triệu người Việt yêu nước phải bỏ nước ra đi đã coi ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày quốc hận thì làm sao có thể coi ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày thống nhất lòng người.

Chia rẽ, li tán làm cho dân tộc Việt Nam suy yếu. Kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam là nhà cầm quyền bành trướng Đại Hán liền nhân cơ hội cướp hàng ngàn kilomet vuông đất biên cương của Việt Nam, cướp cả quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì không thể coi ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối như sự khoa trương, lấp liếm của bộ máy tuyên truyền nhà nước cổng sản Việt Nam.

Ngày 30 tháng tư hàng năm những người cộng sản Việt Nam vui mừng vì ngày đó năm 1975 họ đã đánh thắng cả dân tộc Việt Nam, đã nô dịch được cả dân tộc Việt Nam, họ đã mang hận thù giai cấp đánh tan tác, li tán cả dân tộc Việt Nam. Còn những người Việt Nam chân chính phải nhận lấy nỗi buồn lịch sử, phải nhận lấy trách nhiệm lịch sử: Đấu tranh đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi nô dịch cộng sản và giành lại những mảnh đất thiêng liêng của tổ tiên người Việt đã bị mất mát, sang nhượng cho bành trướng Đại Hán dưới thời cộng sản. 

29.04.2017 

Phạm Đình Trọng

danlambaovn.blogspot.com

Hành trình ‘tự diễn biến’ trong giới du học sinh Việt

Hành trình ‘tự diễn biến’ trong giới du học sinh Việt


Du học sinh thường không tránh khỏi những 'cú sốc tư tưởng' nhất định khi ra nước ngoài.

Du học sinh thường không tránh khỏi những ‘cú sốc tư tưởng’ nhất định khi ra nước ngoài.

Có một quá trình “tự diễn biến” trong giới du học sinh Việt Nam ở nước ngoài, mà ngay cả bản thân họ không phải lúc nào cũng nhận thấy.

Theo nhận xét của một chuyên viên tư vấn cho sinh viên nước ngoài ở Mỹ, khi mới bước chân ra “biển lớn,” du học sinh Việt thường khá thụ động và khép kín vì rào cản ngôn ngữ trong giao tiếp với người bản xứ. Tuy nhiên, ngay cả với cộng đồng người Việt Nam, du học sinh Việt cũng không tránh khỏi những “cú sốc tư tưởng” nhất định.

Từ ‘Cộng Sản mới sang…’

Mới đến thành phố Houston, Texas, Mỹ, học được 8 tháng, Như Quỳnh chia sẻ với VOA rằng nhiều bạn bè của cô khi mới sang thường bị cộng đồng người Việt địa phương gọi là “Cộng Sản mới sang”.

“Bạn em nói khi đi đăng ký học lái xe thì ông thầy dạy lái xe, có tư tưởng chống Cộng, nói ‘con này ở bên đó là Cộng Sản, dân Cộng Sản mới qua.’ Lời nói làm cho bạn em tủi thân, vì dù răng, Cộng Sản hay không Cộng Sản thì cũng là người Việt Nam”, Như Quỳnh kể lại.

Tự nhận “vẫn còn rất yêu quý nước Việt Nam”, Như Quỳnh nói “người Việt ở Mỹ có tư tưởng không tốt về Việt Nam là điều bình thường”, và như vậy là “sai lệch”.
… đến tự so sánh

Hầu hết du học sinh Việt Nam mà VOA phỏng vấn đều cho biết khi còn ở trong nước, họ hoàn toàn không để ý đến “ý nghĩa” của ngày 30/4 như các khẩu hiệu, tuyên truyền được lặp lại hàng năm. Họ chỉ đơn giản tập trung vào kế hoạch “ăn chơi” là chính. Nhưng khi ra khỏi Việt Nam, những cuộc biểu tình của cộng đồng gốc Việt vào ngày này lại mang đến “một góc nhìn khác” về ngày được gọi là “giải phóng”.

Mặc dù mình vẫn nói mình là xã hội dân chủ, công bằng, văn minh… Hồi đi học được học như vậy, nhưng khi sang bên này mới thấy không phải như vậy. Khi sang đây, mình thấy ở bên đây mới thực sự là dân chủ.

Quỳnh Võ, một du học sinh vừa tốt nghiệp cao học tài chánh ở Pháp, nói: “Ngày xưa thì 30/4, 1/5 là được nghỉ làm nên mừng muốn chết. Toàn là tuyên truyền không! Theo công cuộc tuyên truyền thì mình thấy nhiều cái cũng nhảm. Mình biết vậy nhưng biết nói gì hơn. Giờ qua đây lại thấy một góc khác: ngày quốc hận!”

Góc nhìn khác không chỉ dừng ở các sự kiện lịch sử, mà còn trong những sự việc hàng ngày khi người trẻ Việt Nam bỗng nhiên được đặt vào một thế giới khác và có cơ hội so sánh.

Thanh Hương, một du học sinh mới sang thành phố Brisbane, bang Queenland, Úc, học chương trình MBA được 2 năm, giải thích về kết luận “Việt Nam không thực sự tự do như mình nghĩ”:

“Mặc dù mình vẫn nói mình là xã hội dân chủ, công bằng, văn minh… Hồi đi học được học như vậy, nhưng khi sang bên này mới thấy không phải như vậy. Khi sang đây, mình thấy ở bên đây mới thực sự là dân chủ. Cái gì cũng có luật lệ rõ ràng, được quyền tự do thật sự, được bảo vệ rõ ràng, từ quyền cho phụ nữ hay tất cả về y tế, giáo dục…, nhất là về quyền con người. Bên này mọi điều đều minh bạch, rõ ràng, được xử lý nghiêm bằng luật. Còn ở Việt Nam thì không như vậy.”

Thanh Hương dẫn chứng một sự kiện điển hình trong nước mà cô theo dõi từ bờ bên kia: “Ví dụ biểu tình Formosa. Người ta chỉ biểu tình để đòi lại quyền được bồi thường do biển bị nhiễm bẩn hoặc chỉ đòi làm minh bạch tại sao lại gây ra ô nhiễm môi trường như vậy thôi, em thấy biểu tình đúng như vậy mà vẫn để xảy ra bạo loạn trong biểu tình rồi chẳng đâu vào đâu hết. Còn bên này mà một sự việc gì đó không rõ ràng là người ta phải biểu tình, và người ta sẽ được cảnh sát hỗ trợ cho việc biểu tình.”

Trong khi vẫn ngầm phản đối quan điểm của cộng đồng người Việt ở Mỹ, Như Quỳnh cũng thừa nhận Mỹ tốt hơn Việt Nam. “Giả sử như ở đây có chương trình hỗ trợ cho người già giống như bảo hiểm Medicare, Medicaid… Mình đi học, nếu mình là resident (thường trú dân), thì cũng có những chương trình hỗ trợ giảm học phí cho người dân ở đây. Nó theo mục đích của người dân nhiều hơn. Nói chung là cái gì ra cái đấy, tính toán rất kỹ nên xã hội và cuộc sống em thấy tốt hơn Việt Nam nhiều”.
Và đắn đo, không về
Cho dù xung đột tư tưởng trong giới du học sinh, những người trẻ có cơ hội được sống ở cả hai bên “chiến tuyến,” là nặng hay nhẹ, thì đa số đều không mong muốn có một “chiến tuyến” nào giữa những con người mang dòng máu Việt. Quỳnh Võ chia sẻ: “Người trẻ hoặc là nhìn với góc độ ngày chiến thắng, hoặc nhìn với góc độ ngày quốc hận, thì cuối cùng, trong lòng Việt Nam sẽ có rất nhiều nước Việt khác nhau.”

… đó là sự điều chỉnh khi bạn phải thích nghi với cái mới. Có vẻ như, đối với tôi, họ đều trải qua các giai đoạn giống nhau cho tới khi họ sẵn sàng thích nghi với văn hóa Mỹ.

Quỳnh Võ và chồng đều là du học sinh từ Việt Nam sang Pháp. Cả hai đã có công việc làm ổn định và một mái ấm hạnh phúc với hai con nhỏ. Cô tâm sự về thay đổi quyết định trở về Việt Nam của gia đình mình:

“Thật ra ai có cơ hội ở lại thì họ ở lại hết. Có ai muốn sống với Cộng Sản đâu? Chẳng qua trước đây họ không nói ra thôi. Ví dụ như em, qua bên này thấy về mặt chuyên môn được làm việc sâu hơn, về học hành cũng được học thích hơn. Ngay cả một chuyện thực tế là bây giờ con cái em, mình có con rồi, con đi học trong một môi trường trong veo như vậy, tự nhiên về mặt cá nhân mình cũng đắn đo khi quyết định về dù đó là về cho con đi nữa”.

Giải thích về những thay đổi trong tư tưởng của du học sinh, cô Camila McTighi, chuyên viên tư vấn cho học sinh nước ngoài của Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Bắc Virginia, Mỹ, đưa ra nhận xét chung: “Tôi có thể nói đó là sự điều chỉnh khi bạn phải thích nghi với cái mới. Có vẻ như, đối với tôi, họ đều trải qua các giai đoạn giống nhau cho tới khi họ sẵn sàng thích nghi với văn hóa Mỹ”.

Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng, gần đây liên tục đề cập đến mối nguy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong giới Đảng Viên, công chức chính quyền. Hồi đầu tháng 1/2017, ông Trọng yêu cầu Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác, đấu tranh chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nhưng có một hành trình “tự chuyển hóa” mà không cần có một cuộc vận động nào đang diễn ra trong giới du học sinh, trong đó có không ít người là thế hệ tiếp theo của những người Cộng Sản.

Vụ Đinh La Thăng: Ván cờ sinh-tử chỉ mới bắt đầu

Vụ Đinh La Thăng: Ván cờ sinh-tử chỉ mới bắt đầu


Đinh La Thăng (trái) và Nguyễn Phú Trọng.

Đinh La Thăng (trái) và Nguyễn Phú Trọng

Không bắn pháo hoa!

Lễ kỷ niệm 30 tháng Tư “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” năm 2017 đặc biệt chưa từng thấy: cùng vào cuối giờ chiều ngày 27/4 khi các tờ báo trong nước được Ủy ban Kiểm tra trung ương “phát lệnh nổ súng” để đăng nguyên bản kết luận kiểm tra hàng núi vụ việc bị xem là “rất nghiêm trọng” tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) cùng trách nhiệm của đương kim ủy viên bộ chính trị Đinh La Thăng, một phó chủ tịch của chính quyền TP.HCM là bà Nguyễn Thị Thu đã như ngậm ngùi thông báo với báo giới “Ban bí thư không cho phép thành phố tổ chức bắn pháo hoa 15 phút vào đêm 30/4”, dù trước đó thành phố này đã làm văn bản xin “bắn”.

Không có lời giải thích nào từ Ban bí thư của ông Đinh Thế Huynh về việc không cho bắn pháo hoa, nhưng một phó giám đốc Sở Văn hóa – thể thao của TP.HCM đã tiết lộ: tùy vào tình hình thực tế, chính trị xã hội và mỗi giai đoạn khác nhau…

Hoàn toàn không phải lý do “tiết kiệm” cho số tiền chỉ khoảng một chục tỷ đồng chi phí bắn pháo hoa – chỉ bằng 1/340 so với khoản lỗ mà Trịnh Xuân Thanh đã gây ra tại PVC – một doanh nghiệp con thuộc Petro Vietnam từ thời ông Đinh La Thăng còn là Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Có thể cho rằng đây là lần đầu tiên TP.HCM kỷ niệm lễ 30/4 mà không được bắn pháo hoa, trong khi bầu không khí trước ngày này dường như không có gì bất thường về mặt an ninh. Cũng chưa thấy dấu hiệu nào để hình thành một “làng kháng chiến Đồng Tâm” tại thành phố này…

Vậy thì sợ gì mà không “bắn”? “Nội bộ” chăng?

Có vẻ “bài học Quân khu 9” vào thời gian trước đại hội 12 cùng vụ “tướng chữa bệnh” Phùng Quang Thanh vẫn còn nguyên ám ảnh.
Chiến thắng thứ hai
Một nỗi ám ảnh khôn nguôi đã đặc cách dành cho Tổng bí thư Trọng từ sau đại hội 12, cho dù ông đã lau được nước mắt trước đối thủ chính trị số một là ông Nguyễn Tấn Dũng.

Nỗi ám ảnh ấy còn đeo đẳng ghê gớm, đã trở nên cao trào mất ngủ bằng vụ biến mất cực kỳ thách thức của Trịnh Xuân Thanh. Cho dù ông Nguyễn Tấn Dũng đã cam kết trở thành “người tử tế”, vẫn còn không thiếu kẻ luôn chực chờ gây hậu họa cho ông Trọng.

Cuộc chiến “chống tham nhũng” của tổng bí thư cũng bởi thế đã dần hóa thân vào ân oán quyền lực và thể diện.

Nhưng phải mất đến một năm một quý từ sau đại hội 12 rạng rỡ thắng lợi, Tổng bí thư Trọng mời giành được chiến thắng thứ hai.

Bài bản được lặp lại phong cách của Vương Kỳ Sơn của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung Quốc mà ông Nguyễn Phú Trọng đã dẫn đoàn “học tập” vài năm trước: dù không có được nhân chứng Trịnh Xuân Thanh, cũng chẳng trưng ra lời khai nào của Vũ Đức Thuận – nguyên trợ lý của Đinh La Thăng, vẫn còn sờ sờ ra đó một núi hậu quả bị cho là trách nhiệm của ông Thăng thời còn tại vị nơi Petro Vietnam, chưa kể một “hình án” có dấu hiệu rất rõ là 800 tỷ đồng mà Petro Vietnam góp vào Ngân hàng Đại Dương của Hà Văn Thắm đã hoàn toàn biến mất.

Không phải Bộ Công an có vẻ khá chậm chạp ngay cả khi tổng bí thư đã “tự cơ cấu” vào Thường vụ đảng ủy công an trung ương vào tháng 9 năm 2016, mà Ủy viên bộ chính trị Trần Quốc Vượng của Ủy ban kiểm tra trung ương mới bắt buộc phải nổi lên như một Vương Kỳ Sơn của Việt Nam.

Khó mà hình dung khác hơn, cử chỉ Ủy ban Kiểm tra trung ương công bố kết luận về Petro Vietnam ngay trước khi Hội nghị trung ương 5 của đảng cầm quyền diễn ra là có chủ ý. Cùng nhận định “rất nghiêm trọng” của ủy ban này đối với vụ Petro Vietnam, việc Ủy ban Kiểm tra trung ương nêu đề nghị chính thức gửi Bộ chính trị và Ban bí thư về “kỷ luật đồng chí Đinh La Thăng” tất sẽ dọn đường cho Hội nghị trung ương 5 bỏ phiếu kỷ luật Bí thư TP.HCM.

Nếu thông tin dư luận về việc Ban bí thư đã thống nhất kỷ luật ông Đinh La Thăng với mức độ “cảnh cáo về mặt đảng” là đúng, mức kỷ luật tại Ban chấp hành trung ương thông thường sẽ không nhẹ hơn. Và chỉ cần có thế, đương nhiên chức bí thư thành ủy TP.HCM sẽ một sớm một chiều bị tước khỏi tay ông Đinh La Thăng. Để trong trường hợp khả quan nhất, ông Thăng cũng chỉ nhận được một chức vụ “làng nhàng” nào đó trong bộ máy trung ương – gần giống với đương kim Trưởng ban Kinh tế trung ương Nguyễn Văn Bình, nhưng có lẽ thấp hơn ông Bình.

Còn nếu nặng hơn, đó sẽ là “cách chức về mặt đảng”, thậm chí khai trừ đảng và mở đường đến truy cứu trách nhiệm hình sự liên quan những vụ việc tại Petro Vietnam. Khi đó thì đừng có nghĩ gì đến việc tồn tại trong Bộ Chính trị, thậm chí trong Ban chấp hành trung ương.

Báo nhà nước Việt Nam, bỉ bôi thay, đang rầm rộ khởi phát một chiến dịch “xét lại Đinh La Thăng”, cho dù chỉ mới năm ngoái chính những tờ báo này đã tung hô ông Thăng lên tới mây xanh, còn gần đây nhất lại câm bặt vụ nông dân Đồng Tâm, Hà Nội phản kháng triều đình.

Nếu vụ ông Đinh La Thăng diễn ra “đúng quy trình” và theo đúng tuyên ngôn “kỷ luật vài người để cứu muôn dân” của ông Trọng, bàn cờ chính trị Việt Nam sẽ được “tái cơ cấu” thấy rõ: cùng với ông Thăng, nhân vật thứ hai đã quá mang tai tiếng là Ủy viên bộ chính trị Nguyễn Văn Bình cũng có thể bị “xét lại”. Hoặc ở vào thế “quy thuận triều đình”, ông Bình sẽ ngồi yên tại Ban Kinh tế trung ương cho đến lúc đủ tuổi hưu.
Ván cờ sinh – tử bắt đầu!
Hội nghị trung ương 5 cũng bởi thế có thể mang đến triển vọng “phục thù” cho Tổng bí thư Trọng đối với thất bại không thể cơ cấu hai nhân vật Vương Đình Huệ và Nguyễn Bá Thanh vào Bộ Chính trị tại Hội nghị trung ương 7 – diễn ra vào tháng 5/2013.

Chiến thắng thứ hai của Tổng bí thư Trọng, dù khá muộn màng, vẫn mở toang cánh cửa để ông Trọng có dịp “hội kiến” với cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Có vẻ ông Trọng không còn “đường” nào khác.

Không phải đại hội 12. Giờ đây, ván cờ quyết định sinh – tử mới bắt đầu.

Khỏi phải nói, cũng có thể hình dung ông Nguyễn Tấn Dũng và “dây” của ông đang ở vào thế nguy biến đến thế nào.

Nhưng ông Dũng sẽ làm gì?