LÝ LUẬN KIỂU AN NINH VIỆT NAM

Hoa Kim Ngo and Trần Bang shared a post.
Image may contain: one or more people and closeup

Pham Doan TrangFollow

LÝ LUẬN KIỂU AN NINH VIỆT NAM

Đây là những lý luận rất điển hình của công an Việt Nam nói chung và ngành an ninh nói riêng. Tôi đưa lên để các bạn nhận ra rằng: Không cần phải là người học luật, biết luật, chỉ cần có cảm nhận tối thiểu về công lý, với lương tri của một con người bình thường, chúng ta sẽ thấy lực lượng kiêu binh bảo vệ đảng Cộng sản sai phạm, tăm tối và đang phè phỡn trong thứ quyền lực được đảng bảo kê như thế nào. Không có lý gì chúng ta phải cúi đầu trước những kẻ như thế.

Tình huống 1: Sau khi đã sầm sập xông vào quán, quay phim từng người, chặn cửa bắt tất cả khán giả về đồn kiểm tra giấy tờ và đánh đập tàn bạo những người phản đối.

– Mời về làm việc thì không chịu, cứ thích gây rối để phải cưỡng chế. 
– Công an các anh vú to thật đấy nhỉ. Cả vú lấp miệng em. Người ta đang xem ca nhạc phòng trà, các anh vào phá, đánh, bắt người ta về đây rồi bảo người ta gây rối. Thế gọi là vú to, hay là không vú – tức là vu khống đấy. Vú to hay vu khống, các anh thích được gọi là gì hơn? 
– Chị có biết các bài hát được biểu diễn toàn là bài không được cấp phép không?
– Tôi không có danh sách các bài bị cấm, nhưng cứ cho là chúng tôi hát bài bị cấm thì các anh có thể xông vào phá và đánh chúng tôi như thế à? 
– Các anh chị là một thế giới riêng rồi, đối lập với chúng tôi. Tất nhiên là chúng tôi không thể để yên cho các anh chị được. 
– Thế giới riêng nào? Khi các anh hát nhạc đỏ, chúng tôi có phá các anh không?

Tình huống 2: Sau khi đã lục soát đồ đạc và lấy được một tờ giấy giống như là danh sách khách mời dự show ca nhạc.

– Danh sách này là thế nào?
– (Cười xoà) Các anh hỏi làm gì? Chuyện này có quan trọng không?
– Quan trọng. Danh sách này là cái gì?
– Sao lại quan trọng?
– Quan trọng chứ. Đây là buổi biểu diễn không được cấp phép. 
– Quan trọng với các anh chứ đâu quan trọng với tôi. Các anh hỏi làm gì?
– Hỏi để làm rõ, xử lý. 
– À thế à? A, để xử lý thì ngu gì tôi trả lời. (Thực ra tôi định nói thế này cơ: “Tưởng hỏi làm gì chứ hỏi để xử lý thì ngu đéo đâu mà trả lời, ơ kìa!”, nhưng kiềm chế vì rất dễ cười ầm lên). 
– (Dằn giọng) Tao hỏi, danh sách này là thế nào? Ai tổ chức?
– Anh hỏi làm gì?
– Tao có quyền hỏi. 
– Vậy mày hỏi lại đi. 
– Danh sách này là thế nào?
– Hỏi lại. 
– Danh sách này là thế nào?
– Cứ hỏi thêm 1000 lần nữa đi. Hỏi tới sáng đi vì mày có quyền hỏi mà. 
– …

Tình huống 3: Không moi được thông tin gì về người tổ chức sự kiện và khách tham dự.

– Tôi thấy chị hèn thế. Làm rồi không dám nhận. Nhục. 
– Tôi lại thấy cướp mà lại gọi tránh đi là tạm giữ mới là hèn. 
– Này chị bỏ cái giọng ấy đi nhé. Ai cướp của chị?
– Tiền này của tôi, đồ của tôi, các anh lấy mất thì gọi là gì? 
– Tiền này từ đâu ra? 
– Hay nhỉ. Tôi chưa thấy cướp nào lại hỏi nạn nhân “tiền này từ đâu ra” bao giờ. 
– Cứ làm rõ nguồn gốc đi rồi tôi trả chị. Tiền bán vé phải không? Hay là tiền này có nguồn gốc xấu nên không dám làm rõ?
– Sao cướp lại bắt nạn nhân làm rõ nguồn gốc tiền? Tôi còn chưa bắt các anh giải thích lý do bắt người thì thôi chứ. 
– Chị nói tiền của chị phải không? Chị chứng minh đi, giải thích nguồn gốc nó đi rồi chúng tôi trả. 
– Tôi giải thích rồi các anh không trả thì sao? Lấy gì bảo đảm các anh trả? Ai là người có quyền diễn giải nguồn gốc số tiền này là xấu hay tốt? Mà tại sao tôi lại phải trả lời cướp?
– Cướp? Tao cướp đéo gì ba cái đồng bạc rách của mày. 
– Đến bạc rách còn cướp nữa là bạc lành. 
– …

***

Ở đây, chỉ với tư duy logic thông thường, hẳn bạn cũng có thể thấy công an rất đuối lý, và cách đặt câu hỏi của họ bộc lộ rõ sự kém cỏi của phương pháp “điều tra” mà công an áp dụng bấy lâu nay: Thuần tuý dựa trên sự đe dọa, ép cung, mớm cung, và trò khiêu khích rất rẻ tiền.

Đó là bởi vì phương pháp luận hay là triết lý làm việc của công an Việt Nam đã sai ngay từ đầu: Họ và thứ luật pháp của họ không bảo vệ tự do của người dân hay là nhân quyền, mà chỉ là công cụ để bảo vệ một thể chế độc tài. Từ đó mới có chuyện họ đòi hỏi người dân chỉ được hát những ca khúc được cấp phép (vậy giả sử tôi hát nhạc Beatles hay ABBA thì có phải là phi pháp không?), phá bằng được một đêm nhạc phòng trà, đánh đập tàn tệ người tổ chức và ca sĩ…

Dùng bạo lực một cách thoải mái như thế, đồng thời khống chế để nạn nhân không thể nào tự vệ hay ghi lại bằng chứng, đó mới là nghiệp vụ số 1 của an ninh Việt Nam.

Tất nhiên tôi phải nói rằng, nếu vào đồn mà các bạn đối đáp với công an với những lý lẽ như trên thì chắc chắn bạn sẽ… ăn đòn. Bởi lẽ công an Việt Nam từ lâu đã quen với việc làm bố dân. “Đại diện cơ quan pháp luật” là một cái gì đó to lắm, “mời” đến gặp là công dân phải bỏ hết công việc mà lon ton “lên đồn”, hỏi là phải khai báo đầy đủ, bị “đấu tranh” là phải im lặng chịu trận… chứ ai lại cãi xơi xơi thế, láo, “tao đập chết mẹ mày” ngay. “Ôn hoà” đối với công an thực chất nghĩa là ngoan ngoãn, phục tùng, bảo gì nghe nấy, tóm lại là phải sợ họ.

Và mặc dù tôi thừa nhận rằng trong những người bị tấn công đêm đó, tôi là người “hung hãn” nhất, đã đấm một quả vào một đồng chí công an (sau đó bị đồng chí ấy đấm trả vài quả vào đầu, đạp cho vài cú vào bụng, v.v.), khi vào đồn lại bất hợp tác hoàn toàn, nhưng trong thâm tâm, tôi thừa hiểu họ đánh vì quá căm ghét tôi, mà lý do căm ghét là vì tôi không sợ họ. Ôn hoà hay bạo lực, lịch sự hay thô tục, đúng hay sai, với công an xứ độc tài điều đó không quan trọng; thực chất chúng chỉ cần bạn sợ chúng. Nếu bạn nhất định không sợ, bạn có thể phải trả giá, nhưng như thế cũng có nghĩa là chúng đã thất bại vì không đạt được điều chúng muốn.

——

Ảnh chỉ có tính minh họa. Tay mình vẫn như đang chơi đàn mới sợ chứ.

“Các án tù càng nặng thì người dân xem đó là sự giễu cợt của chế độ”

Hòa Ái, RFA
2018-08-17   

Hai cháu nội của ông Lê Đình Lượng.

Hai cháu nội của ông Lê Đình Lượng.

 Courtesy of Facebook Nguyễn Xoan

Bản án 20 năm tù giam và 5 năm quản chế đối với nhà hoạt động dân chủ và môi trường Lê Đình Lượng khiến công luận sửng sốt. Hòa Ái ghi nhận ý kiến của giới đấu tranh dân chủ tại Việt Nam xoay quanh bản án được cho là nặng nhất đối với cáo buộc tội “lật đổ chính quyền nhân dân” trong 3 thập niên qua.

Bản án “độc ác và tàn bạo”

Mạng xã hội tại Việt Nam, vào ngày 16 tháng 8 năm 2018, tràn ngập các dòng trạng thái đầy phẫn nộ, phản đối bản án 20 năm tù giam và 5 năm quản chế đối với cựu chiến binh Lê Đình Lượng mà Tòa án tỉnh Nghệ An vừa tuyên trong cùng ngày.

Anh Chu Mạnh Sơn, một cư dân mạng, ở Nghệ An, vào tối ngày 16 tháng 8, nói với Đài Á Châu Tự Do:

“Người dân ở khu vực nhà chú Lượng cũng như những người có theo dõi phiên tòa thì họ cho rằng đây là một phiên tòa rất bất công và đó là một bản án quá tàn khốc đối với chú Lượng và người ta thật sự sốc khi thấy một bản án 20 năm dành cho chú Lượng như vậy.”

Không chỉ người dân ở địa phương của ông Lê Đình Lượng mà cộng đồng cư dân mạng chỉ trích mạnh mẽ bản án mà theo họ là bất công và phi lý khi mà những việc làm của ông xuất phát từ tấm lòng của một người lính yêu nước và cống hiến không mệt mỏi cho xã hội qua việc đấu tranh chống nạn lạm quyền của cán bộ không cấp giấy khai sinh cho những hộ sinh con thứ ba và chống lại nạn lạm thu học phí để học sinh tiểu học được đến trường đầy đủ, hay đồng hành cùng các nạn nhân khiếu kiện đòi bồi thường thỏa đáng trong thảm họa môi trường biển Formosa, xảy ra tại khu vực 4 tỉnh Bắc Trung Bộ hồi tháng 4 năm 2016.

…Đây là một phiên tòa rất bất công và đó là một bản án quá tàn khốc…
-Chu Mạnh Sơn

Cựu tù nhân lương tâm-Luật sư Lê Quốc Quân, cũng là cháu của ông Lê Đình Lượng nói với RFA thay vì Chính quyền Nghệ An phải khen tặng những việc làm đóng góp cho xã hội của ông Lê Đình Lượng, mà trái lại đã tuyên một bản án phi lý vì hai nhân chứng tại tòa đã phản cung, tố cáo bị đánh đập và ép cung để đưa ra lời khai cáo buộc ông Lê Đình Lượng hoạt động lật đổ chính quyền.

Truyền thông tỉnh Nghệ An loan tin ông Lê Đình Lượng là thành viên của Đảng Việt Tân, một đảng khủng bố và Tòa án Tỉnh Nghệ An tuyên bản án lên đến 20 năm tù giam với tội danh “hoạt đồng nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, bất chấp lời kêu gọi của các tổ chức nhân quyền thế giới là ông Lê Đình Lượng vô tội và Chính phủ Hà Nội phải trả tự do ngay lập tức cho ông.

Luật sư Lê Công Định lên tiếng với RFA rằng bộ máy tuyên truyền của Việt Nam áp đặt khái niệm Việt Tân là một tổ chức khủng bố, cho nên bất kỳ ai liên quan đến Việt Tân thì mặc nhiên bị cho là ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền’. Luật sư Lê Công Định nhấn mạnh Tòa án Nghệ An đã vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng, do thiếu cơ sở pháp lý khi tuyên bản án tù 20 năm đối với ông Lê Đình Lượng mà ông đã giữ quyền im lặng của mình trong suốt thời gian điều tra cũng như tòa án hoàn toàn không trưng ra được các chứng cứ nào cho thấy ông Lượng được kết nạp vào Việt Tân và hoạt động như thế nào.

Luật sư Lê Công Định nhận định mục đích duy nhất của vụ án ông Lê Đình Lượng là Chính quyền tỉnh Nghệ An muốn gửi một thông điệp răn đe đối với những người đấu tranh dân chủ, đặc biệt ở Nghệ An, là nơi mà chính quyền cáo buộc mạng lưới của Việt Tân hoạt động rộng rãi rằng không tham gia vào Đảng Việt Tân.

Tiếp tục mạnh tay đàn áp

Luật sư Nguyễn Văn Đài, một cựu tù nhân lương tâm, bị kết án 15 năm tù giam và 5 quản chế hồi đầu tháng 4 vừa qua, cùng tội danh với ông Lê Đình Lượng, vừa bị Chính phủ Hà Nội trục xuất sang Đức vào đầu tháng 6, cho RFA biết qua sự theo dõi của ông thì bản án 20 năm tù giam đối với các tội về hoạt động chính trị là cao nhất trong vòng 30 năm qua. Luật sư Nguyễn Văn Đài cho rằng bản án mà Tòa án Nghệ An tuyên cho nhà hoạt động dân chủ Lê Đình Lượng là một bản án hết sức độc ác và tàn bạo.

Nhà hoạt động dân chủ Lê Đình Lượng.
Nhà hoạt động dân chủ Lê Đình Lượng. Courtesy of Facebook Lê Đình Hiếu

Trả lời câu hỏi của RFA rằng vì sao ông Lê Đình Lượng bị tuyên án với mức phạt cao nhất trong vòng 3 thập niên qua như vậy, Luật sư Nguyễn Văn Đài giải thích:

“Sau đợt đàn áp khốc liệt các blogger và các thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ vừa qua thì phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ ở trong nước vẫn từng bước phát triển rất mạnh, đặc biệt có thể thấy qua các cuộc biểu tình phản đối chính quyền hôm 10 tháng 6. Chính quyền Việt Nam rất lo sợ khi hoạt động chống đối không hề thuyên giảm, mặc dù họ đã nặng tay tuyên các bản án nặng nề đối với blogger và thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ. Họ muốn dùng vụ án của ông Lê Đình Lượng để một lần nữa răn đe và khủng bố tinh thần đối với các nhà hoạt động khác.”

Bên cạnh đó, Luật sư Lê Công Định chia sẻ trên trang Facebook cá nhân rằng mức án 20 năm tù giam cho thấy nhà cầm quyền Việt Nam đang hoảng loạn trước cơn sóng ngầm của toàn dân. Luật sư Lê Công Định lý giải về chia sẻ của ông:

“Rõ ràng những bản án này không đe dọa được ai hết. Bởi vì đến một giai đoạn mà nhà cầm quyền không thể nào cai trị như trước đây được nữa và người dân đã bớt sợ hãi, cho nên những bản án càng nặng thì đối với dân chúng coi như là một sự giễu cợt của chế độ. Và chính những người dân, mà chúng ta có thể đọc được các ý kiến của họ qua mạng thì ai cũng thấy mức án 10 năm thôi, chứ đừng nói chi đến mức án 20 năm của anh Lê Đình Lượng là buồn cười rồi vì người ta nghĩ chế độ này liệu có tồn tại cho đến 5, 10 năm hay không mà tuyên các bản án lâu đến 10 hay 20 năm. Chính điều đó cho thấy người dân ngày càng ý thức được quyền của mình và họ tin rằng một khi họ sử dụng các quyền của mình thì chế độ này không thể tồn tại được, dù cho 2, 3 năm chứ đừng nói đến 5 hay 10 năm.”

Một ngày trước khi phiên tòa sơ thẩm xét xử nhà hoạt động dân chủ Lê Đình Lượng diễn ra, ca sĩ Nguyễn Tín và một số thính giả là những người trong giới đấu tranh dân chủ tại Việt Nam bị công an, an ninh hành hung tại chương trình nhạc với chủ đề “Sài Gòn Kỷ Niệm”, do ca sĩ Nguyễn Tín biểu diễn vào tối 15 tháng 8. Trước đó, vào sáng ngày 9 tháng 8, Nhà hoạt động vì nữ quyền Huỳnh Thục Vy cũng bị công an tạm giữ để điều tra.

Họ muốn dùng vụ án của ông Lê Đình Lượng để một lần nữa răn đe và khủng bố tinh thần đối với các nhà hoạt động khác.
-LS. Nguyễn Văn Đài

Qua trao đổi với chúng tôi, Luật sư Nguyễn Văn Đài khẳng định Chính quyền Hà Nội tiếp tục đàn áp giới đấu tranh dân chủ tại Việt Nam càng mạnh tay, tuy rằng ít nhiều tác động đến tâm lý của những nhà hoạt động ở trong nướcnhưng ông tin rằng với những điều mà Chính quyền Cộng sản Việt Nam đang thể hiện với người dân; đó là một chế độ tham nhũng, không còn năng lực để có thể bảo vệ người dân trong vấn đề sức khỏe, môi trường cũng như vấn đề chủ quyền quốc gia thì sự đấu tranh của người dân sẽ càng ngày càng mạnh mẽ hơn. Luật sư Nguyễn Văn Đài quả quyết:

“Cho dù nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam có tuyên bản án nào đi chăng nữa thì cũng không thể ngăn cản được cuộc đấu tranh hay tiến trình đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam.”

Chúng tôi xin được kết thúc bài ghi nhận này qua chia sẻ của cư dân mạng Nguyễn Xoan, con dâu của nhà hoạt động dân chủ Lê Đình Lượng rằng “Bố chồng của tôi là người dễ mủi lòng trước tiếng khóc của hai đứa cháu nội. Nhưng ông lại hiêng ngang, ngẩng mặt tự hào về những ‘Tội’ mà mình đã gây ra. 25 năm tù phải chăng là quãng đời còn lại của ông? Ông đã vui vẻ cười mãn nguyện dùng thời gian còn lại của cuộc đời để làm nền móng cho Việt Nam. Vậy thì tại sao chúng ta không xây dựng hòa bình trên nền móng ấy?”

Thử thách gian truân 

Thử thách gian truân 

Con ơi, nếu con muốn dấn thân phụng sự Đức Chúa, thì con hãy chuẩn bị tâm hồn để đón nhận thử thách. Hãy giữ lòng cho ngay thẳng và cứ kiên trì, đừng bấn loạn khi con gặp khốn khó (Hc 2,1-2).

Thiên Chúa thấu rõ bản tính con người  mỏng dòn, yếu đuối và bất toàn nên Ngài khuyên chúng ta khi dấn thân để phụng sự Ngài, thì hãy chuẩn bị tâm hồn khi gặp những bất trắc, những bất đồng ý kiến, và điều kiện tiên quyết khi phục vụ là thành thật, ngay thẳng.

Qua những sự việc bất như ý xảy ra trên đời, nhất là trong sứ mệnh phục vụ, chắc chắn chúng ta bị chao đảo, buồn phiền, lo lắng, chán nản, mất hy vọng nhưng chúng ta cần sự khôn ngoan của Lời Chúa để biết cách xử thế với mọi người trong cộng đoàndân Chúa. Phần đông là những người chưa đủ chiều sâu đức tin để sẵn sàng đối diện với những tình huống rắc rối xảy ra.

Sẽ có nhiều xung đột, gây chia rẽ, sinh ra bè phái… nhưng chúng ta phải xác tín: „Ai làm hại được anh em, nếu anh em nhiệt thành làm điều phải“ (1Pr 3,13Chúng ta đang, sẽ phải đối đầu với những sự kiện xảy ra nhưng „hãy tin vào Người thì Người sẽ nâng đỡ con. Đường con đi, hãy giữ cho ngay thẳng và trông cậy vào Người“ (Hc2,6)

Chúng ta hãy xác tín như vậy và năng cầu nguyện với Thánh Kinh

để gắn bó với Thầy Giêsu,

hầu múc lấy sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà kiên vững trong đức tin. (Cầu nguyện là nói chuyện với Chúa, chúng ta hãy thưa hết những khúc mắc, những tình huống xảy ra với Chúa cách chân thành rồi xin Ngài một dấu hiệu để Ngài dạy chúng ta phải làm gì).

Khi chúng ta kiên vững với Chúa Kitô thì chúng ta không sợ hãi gì cả. Chúng ta hãy phó mình trong tay Đức Chúa, chứ đừng phó mình trong tay phàm nhân, bởi vì Người cao cả thế nào thì cũng lân tuất như vậy“ (Hc 2,18)

Tạ ơn Chúa dạy chúng ta như vậy, nhưng trong thực tế, khi gặp nhiều vấn đề rất phức tạp, khi đụng chạm với linh mục và anh chị em trong giáo xứ, thật ra chúng ta rất bối rối và đôi khi đã nóng nảy phản ứng theo phản xạ của con người chứ không kiên vững làm chủ được chính mình, không bình tĩnh bình tâm đủ để ứng phó cho đẹp với người và với sự việc.

 „Phải vâng Lời Thiên Chúa hơn vâng lời người ta (Cv 4, 19).

Chúng ta phải xác tín: Chỉ duy nhất làm đẹp lòng Chúa.

 Sẽ không làm đẹp lòng thế gian.

Càng không làm đẹp lòng ai khác. Chỉ có Chúa. Duy nhất, chỉ có Chúa là Đấng chúng ta phải làm đẹp lòng Ngài.

Dạ vâng, chúng con xác tín như vậy nên chúng con mới gặp nhiều rắc rối và nhiều vấn đề khó giải quyết khi đối tượng vẫn khư khư nghĩ rằng những gì họ đưa ra đều đúng và hợp lòng người trong cộng đoàn, vì họ có hậu thuẫn.

Khi phải ra trước công đường:  „Hãy giữ vững xác tín của mình, và lời con phải trước sau như một. Hãy mau mắn nghe, nhưng thong thả rồi hãy trả lời“ (Hc 5,10-11)

Hãy cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần mở miệng lưỡi, dạy chúng ta

nói những lời đem đến sự hữu ích và an hòa, nhẹ nhàng

trong thái độ tôn trọng và kính trọng.

Đó là biểu hiệu một tâm hồn khiêm nhu và phó thác.

Dạ vâng, thưa điều này đã xảy ra và huyền nhiệm của Chúa Thánh Thần đã ra tay đúng lúc, đúng thời để giải quyết mọi việc cho chúng con. Tạ Ơn Chúa.

Xin Thánh Thần Chúa giúp chúng con luôn kiên vững trong đường lối dấn thân phục vụ và xác tín:

Phúc cho các ngươi, khi thiên hạ oán ghét, khi họ khai trừ, cùng sỉ vả các ngươi, khi họ trừ khử tên các ngươi như đồ xấu xa vì cớ CON NGƯỜI.

Hãy vui sướng trong ngày ấy, hãy nhẩy mừng, vì này: phần thưởng các ngươi ở trên Trời sẽ lớn lao“ (Lc 6,22) Amen.

 Elisabeth Nguyễn

From Tramtubensuoi gởi

Tự hứa và quyết tâm làm hòa

Tự hứa và quyết tâm làm hòa

 Câu chuyện có thật rất cảm động

 Vậy nếu khi anh em sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó, trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. (Mt 5, 23-24)

Những buổi chiều tối mùa đông ở thành phố Dalat thật lạnh, càng về đêm cái lạnh càng se sắt cắt da, sương mù giăng dầy đặc… Phố xá đã lên đèn từ bao giờ, tia sáng vàng vọt của những ngọn đèn đường tỏa chiếu lung linh trên mặt đường, xuyên qua màn sương thật đẹp, thật dịu dàng… trong khi nhà mình thì vẫn tối tăm kể từ ngày đổi đời (1975).

Tôi dắt bốn đứa con nhỏ đến nhà thờ chánh tòa để tham dự Thánh Lễ đêm. Đêm nay khắp thế giới đang tưng bừng kỷ niệm mừng đón Chúa Giáng Sinh.

Hàng cây anh đào hai bên đường ủ rũ đứng lặng im trong sương đêm. Mẹ con tôi dắt díu nhau co ro đi trên phố vắng thật vắng, tự nhiên tôi rùng mình, cảm tưởng có một chút gì rờn rợn trong tâm tư thật tê tái như sợ sợ, như buồn buồn, như thảm thảm… khung cảnh sao mà buồn da diết,  tâm hồn tôi cũng da diết buồn và tủi thân tủi phận… „người buồn cảnh có vui đâu bao giờ“.

Nhìn bốn đứa con gầy guộc, hốc hác, ăn mặc không đủ ấm so với những ngày bình yên trước 1975, lòng tôi đau như cắt, nước mắt lúc nào cũng đoanh tròng chỉ chực rơi.

Mừng Chúa Giáng Sinh mà mẹ con cũng chả được một bữa ăn cho no, nói chi đến đầy đủ calorie, nói chi đến gà nướng, bánh Noel và những gói quà dưới gốc cây thông như đã từng, và v.v…

Miền Nam đổi chủ, Dalat thơ mộng của chúng tôi cùng cả miền Nam Việt Nam đón tiếp những hoảng hốt, những nghi ngờ, những hoang mang, đầy sự sợ hãi. Nhìn vẻ mặt thất thần của những em bé thơ ngây, những học sinh mới lớn đến các cụ già đều hằn sâu nét nhẫn nhục, chịu đựng, sợ sệt.

Nhất là chị em chúng tôi, những người vợ lính cô đơn cô độc, bơ vơ giữa đời lạ, ngay nơi mình được sinh ra, sống và lớn lên… Người phối nhẫu của chúng tôi  bị nhà cầm quyền ghép là „những người có tội với nhân dân“ lùa vào trại cải tạo.

Chính sách đổi tiền của nhà nước cộng thêm sự càn quét của cải ở miền Nam đem ra miền Bắc khiến dân miền Nam rơi vào cảnh đói nghèo khốn khổ. Chúng tôi cũng không ngoại lệ,

Từ ngày chồng tôi được nhà nước kêu đi trình diện mang theo lương thực cho 10 ngày. Thế mà cho đến nay đã bốn năm rồi, mẹ con tôi chờ đợi mòn mỏi, trong thất vọng rồi trong tuyệt vọng (tôi nghĩ chắc là không bao giờ còn được gặp mặt nhau nữa). Cảnh sống bữa đói, bữa lưng lửng thường trực ngự trị hằng ngày giữa mẹ con tôi. Nỗi cô đơn, bơ vơ, lẻ loi, sợ sệt luôn bao trùm cuộc sống của chúng tôi trong từng bữa ăn, từng giấc ngủ… mấy mẹ con không có chút niềm vui hay hy vọng và bình an nào.

Trong tháng 3.1975 khi cả miền Nam sôi xục hốt hoảng chạy, mẹ con chúng tôi theo đoàn người di tản về Saigon vì hy vọng chồng tôi cũng từ đơn vị đóng ở Pleiku sẽ theo đoàn quân di tản về Saigon, nên „đồ tuế nhuyễn, của riêng tây“ trong nhà bị mất sạch. Tháng 5.1975 chúng tôi trở về Dalat thì may mắn còn căn nhà trống không, đôi đũa, cái chén cũng không còn. (may mắn vì nhà ở đường hẻm) cỏ trong vườn cao ngập đầu người.

Để tồn tại, tôi cố gắng tập tành buôn thúng bán bưng nuôi 4 đứa con vị thành niên. Tôi ra chợ Dalat tìm những người quen của ba mẹ tôi xưa kia bán hàng ngoài chợ xin họ cho tôi lấy trái cây đem đi bán lẻ để kiếm chút tiền lời đong gạo nuôi con mà cũng không nên thân. Đêm về thì luôn luôn hồi hộp lo sợ, không bao giờ được ngủ yên giấc vì bụng đói cồn cào, vì lo lắng không biết sống ra sao, vì sợ nhỡ công an đang đêm đập cửa, nói là khám xét nhà, rồi vô cớ bắt tôi đi tù cải tạo nữa thì các con tôi còn quá nhỏ sẽ ra làm sao đây (vì tôi là công chức của Việt Nam Cộng Hòa), cứ nghĩ đến đó là rùng mình, rởn tóc!

Thời gian này có cô hàng xóm sống bằng nghề buôn bán rau trái, trước kia sống gần bên cạnh nông trại của ba mẹ tôi ở ấp Đa Thiện, nhìn thấy tôi khổ sở quá nên động lòng thương, rủ tôi đi buôn chung với cô.

Tôi không có một đồng xu lận lưng thì làm sao buôn chung được. Cô tự nguyện bỏ tiền ra, mỗi buổi sáng sớm tôi và cô ta, hai chị em ra chợ găp nhau, rồi cùng đi vào các làng trồng rau quả xem có gì thì mua nấy và đem ra chợ bán kiếm lời. Những nhà vườn ở Dalat rất nhân đức, khi chúng tôi không có tiền trả thì họ cho đem hàng ra chợ bán xong hôm sau đem tiền về đưa cho họ cũng được. Đây là một truyền thống của tất cả những nhà vườn trồng rau và trái cây ở Dalạt, Ba mẹ tôi thời còn nông trại cũng sống như vậy.

Ngày nào lời được chút tiền thì hai chị em được ăn phần cơm trưa, cũng có chút tiền mua gạo cho con và vài cục đường hay gói bột bích chi để dành cuối tháng đi thăm chồng trong tù cải tạo.Tạ ơn Chúa, cho thiên thần là cô bạn quý này đến giúp mẹ con tôi trong lúc khốn khổ tột cùng, kéo dài cuộc sống.

Trong lúc mẹ con tôi sống cơ cực, túng quẫn và khốn khổ như thế, mà cô bạn thân bị người tình phụ bạc quất ngựa truy phong, bây giờ mang cái bào thai oái oăm đến xin tá túc, nhờ tôi nâng đỡ. Thương bạn nhiều mà thương mình nhiều hơn nên cứ dùng dằng trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Thời buổi này nhà nước họ kiểm soát gắt gao lắm. Cứ vài ngày ông tổ trưởng dân phố và chàng công an khu vực lại ghé thăm mà mắt thì láo liên dòm từng ngõ ngách, dù nhà đã trống trơn không bàn, không ghế, không tủ… làm sao tôi dám chứa cô bạn mình ở nhà đây!?

Phần thì cơm gạo đâu mà nuôi thêm hai miệng ăn nữa chứ, trong khi mẹ con tôi còn phải hàng ngày nhịn bớt để có chút đỉnh tiền mà đi thăm nuôi chồng trong tù cải tạo.

Ôi! Gánh tôi sao mà nặng thế này!!! Bạn mình không dám về nhà vì sợ ba mẹ, sợ thiên hạ xầm xì, phỉ nhổ, cười chê gia đình nên cứ liều ở lì nhà tôi. Tôi cũng liều cưu mang bạn mình. Tôi dấu bạn tôi ở trên gác, chỉ thỉnh thoảng vào lúc đêm tối mới dám đưa bạn ra ngoài đi dạo một chút.

Vài tháng sau tôi trở thành con nợ như chúa chổm. Tối nào cũng có người đến đòi nợ, cô bạn tôi có chút tiền dành dụm cũng tiêu tan hết. Chúng tôi chả còn biết trong cậy vào đâu?

Cô bạn tôi đánh liều sai tôi đi Saigon thú thật hết mọi việc cho hai cụ thân sinh của bạn để xin viện trợ.Thế là tôi chạy vạy, vay mượn đủ tiền mua một vé xe đò đi về Saigon gặp hai cụ để ca bài „con cá nó sống vì nước“.

Sau khi trình bày ngọn ngành tình trạng khó khăn của mẹ con tôi và tình trạng đau thương của cô bạn, cụ bà liền phán một câu: „Cho nó chết đi chứ sống làm gì mà làm nhục gia phong như thế à“. Tôi chỉ biết cúi đầu và ngậm câm. „Thôi được rồi, bây giờ bác đưa cho con ít tiền để con cưu mang nó trong lúc này, con cứ để nó ở trên Dalat và dấu kỹ nó dùm cho bác, chứ nó mà chường mặt ra cho dân Dalat trông thấy hay vác cái bầu ấy về đây thì bác độn thổ con ạ“.

Thế là từ đó thỉnh thoảng cạn tiền tôi lại được sai đi Saigon. Nhờ món tiền này của mẹ bạn, tôi thanh toán một số nợ nần khi tôi mua chịu thức ăn nuôi bảy  miệng ăn trong gia đình, và nuôi sống chúng tôi trong lúc khốn quẫn quá chừng quá đỗi.

Để lo tìm người quen và tin cẩn gởi đứa bé. Tôi phải mất nhiều thời gian dò hỏi và may mắn tìm được người hàng xóm trước kia của chúng tôi. Anh chị đều là nhân viên cảnh sát, đã nhanh chân chạy về Saigon khi di tản và đổi tên, đổi họ ở lại Saigon, anh chị sống bằng cách nhận đan áo len cho các tiệm bán quần áo và sinh sống ở Tân Định.

Gần đến ngày mãn nguyệt khai hoa của bạn, tôi đưa bạn mình về Saigon và gởi ở nhà anh chị cho đến khi sanh nở. Bây giờ đến lượt anh chị săn sóc cho bạn tôi song tôi vẫn là người liên lạc với các cụ, để các cụ cứ nghĩ là tôi còn dấu con và cháu gái của cụ ở Dalat.

Khi bé gái được đầy tháng tôi về Saigon đưa bạn tôi về nhà xin lỗi hai cụ và xin hai cụ chu cấp hàng tháng cho hai mẹ con cách kín đáo. Hai cụ đồng ý chu cấp qua anh chị nuôi cháu bé, song vẫn còn giận con gái nên không cho con bước vào nhà và  không cho phép được bén mảng đến nhà. Tôi biết cụ còn giận con gái lắm chứ, nhưng thương thì vẫn thương nhiều lắm.

Nhân dịp này bà cụ đòi tôi phải đưa trả lại nửa số tiền cụ đưa cho tôi hàng tháng để lo cho con gái cụ. Trong người tôi không có một đồng xu dính túi lấy tiền đâu mà trả cho cụ. Đồng tiền như miếng chín, có thì tiêu, nhất là „tiền vào nhà khó như gió vô nhà trống“. Tôi buồn và giận lắm, không kềm chế được, tôi khóc và chào hai cụ rồi quay về Dalat ngay.

Hai cụ chỉ biết quý đồng tiền mà không hề nghĩ đến công khó cùng sự vất vả của tôi trong mấy tháng cưu mang bạn mình trong lúc hoạn nạn. Hai cụ cũng không biết thương hại mẹ con tôi trong hoàn cảnh khốn khó trong lúc đổi đời như thế này mà chồng tôi còn trong tù cải tạo.

Tôi buồn lắm, giận mình, giận bạn, giận đời và tủi cho thân phận, mà không biết tâm sự cùng ai…chỉ biết khóc… Vài tháng sau, tôi đi Saigon đem cuốn sổ ghi tất cả những chi phí cho bạn mình trong thời gian tôi giúp đỡ bạn cho đến nay, trao cho cụ. Tôi buồn giận hơn nữa là cô bạn thân từ ngày về Saigon cũng chẳng liên lạc gì với mình.

*    *     *

Đêm nay, trong ngôi Vương Cung Thánh Đường Dalat, với không khí thật trang trọng, thiêng liêng trong Thánh Lễ. Tôi lắng nghe đoạn Tin Mừng:

Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. (Mt 5,23-24).

Vị linh mục chủ tế giảng:

Đâu là bác ái của người Kitô hữu?

Anh chị em thể hiện tình bác ái thế nào với tha nhân?

Nếu mình có lỗi với anh em mà mình biết lỗi và đến xin lỗi thì chuyện rất bình thường. Nhưng Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta, cả tôi và anh chị em, con cái của Ngài phải thể hiện tình bác ái bằng cách, khi người anh em có lỗi với mình, mình đến với họ, xin lỗi họ, làm hòa với họ“,

 như thế mình mới thể hiện lòng bác ái của Chúa Kitô. (cha chủ tế nay là Đức Hồng Y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Việt Nam)

Âm vang của đoạn Phúc Âm và lời giảng của cha đánh động tâm tư tôi rất mạnh. Nhìn lại mình tôi thấy mình thật có lỗi lớn trong chuyện này. Mình đã không tế nhị, không chút khiêm nhường, không kính trọng bậc trưởng thượng như cha mẹ mình.

Tôi có lỗi đã không chịu nhẹ nhàng và tế nhị giải thích cho hai cụ hiểu mà thương đến hoàn cảnh khó khăn của hai chúng tôi, cả tôi và bạn tôi đều có lỗi bất hiếu với hai cụ và thiếu tình thương với bạn mình.

Trong tim, tôi tự hứa với mình sẽ phải đến xin lỗi hai cụ. Nhưng thật khó khăn làm sao!

Chúa ơi, xin Ngài giúp con để con can đảm thực hành việc này. Tôi đắm chìm trong cầu nguyện, tha thiết xin Chúa giúp.

Cho đến lúc rước Thánh Thể Giêsu vào lòng,

tôi tự hứa với Chúa Giêsu :

tôi sẽ nhất quyết đến làm hòa với bạn mình

và xin lỗi hai cụ.

Tuần sau đó, vào một buổi tối ở Saigon, tôi đến nhà bạn. Người ra mở cửa là cô em bạn tôi. Vừa nhìn thấy tôi, cô ta quay vào nhà la thật lớn:

Chị V. ơi, chị T…. Rồi cầm tay tôi lôi vào nhà.

Bạn tôi từ trên lầu chạy  xuống ôm chầm lấy tôi, hai đứa không nói được lời nào. Chỉ có nước mắt đã nói thay tất cả. Hai chúng tôi khóc, cô em gái khóc và ông cụ đang đau ốm, nằm trên giường bệnh đã mấy năm nay cũng khóc.

Tôi được biết cụ bà đã qua đời cách đây vài tháng vì bệnh tim.Trong khi nằm bệnh viện và trước lúc qua đời cụ cứ nhắc đến tôi với lòng thương cảm và chút ân hận.

Tạ ơn Chúa đã thêm sức cho con, đã đồng hành với con để giúp con biết làm hòa với anh chị em con như Lời Chúa dạy. Phần thưởng Chúa ban cho chúng tôi là tình thân gia đình và tình bạn của chúng tôi lại thắm thiết hơn xưa.

Cụ ông cứ nắm tay tôi thật lâu không buông và nói đi nói lại hoài một câu:

Bác thương con lắm… thương con lắm.

Tôi sung sướng tràn ngập đón nhận tình thương của gia đình bạn và tình thương này đã nâng đỡ đời sống tôi rất nhiều. Tạ ơn Chúa và Ngợi Khen Ngài.

Elisabeth Nguyễn

From: Tramtubensuoi gởi

SỰ KHAO KHÁT ÂN SỦNG

SỰ KHAO KHÁT ÂN SỦNG

 Một người nghiện rượu khám phá ra ý nghĩa mới cho sự cô đơn của mình, trong bàn tay Thiên Chúa

Ảo tưởng nguy hiểm của nhiều người nghiện rượu là khi chúng ta ở một mình thì việc uống rượu sẽ giúp chúng ta hòa nhập vào thế giới.  Ảo tưởng này đã trở thành lối sống cho tôi trước khi tôi chuyển tới thành phố New York lúc tôi hai mươi lăm tuổi.  Nhưng không phải cứ uống nhiều rượu, tình dục bất thường hay quần áo mắc tiền là có thể xoa dịu sự cô đơn nội tâm của tôi.  Trong một thành phố có tám triệu người, nơi cô đơn nhất chính là ở giữa một đám đông người.

       “Với Anh, Miễn Phí.”  Những vụ tấn công vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, xảy ra ngay sau ngày sinh nhật thứ hai mươi bảy của tôi.  Nhìn làn khói và đống tro từ vị trí của Tháp Đôi, tôi cảm thấy như thể tất cả mọi nỗi sợ hãi, lo lắng và thống khổ trong tôi cũng đang trào tràn ra.  Ký ức sống động nhất của tôi từ mùa thu năm đó là khi nhìn thấy mười hai người lính cứu hỏa trong bộ quần áo màu xanh đậm đồng phục, đang tràn vào quán rượu gần văn phòng của tôi hàng tháng.  Mỗi ngày đều có một lễ tang mới gần Nhà Thờ Chánh Tòa Thánh Patrick.  Mỗi buổi tối, tôi đều uống rượu và nhìn lên, chết lặng và mệt mỏi.

Qua năm sau, những mối tương quan bị rạn nứt, sự chán nản và những dư vị khó chịu do dùng thức uống có nồng độ cồn cao hằng ngày gia tăng.  Khi ngày sinh nhật của tôi đến, tôi quyết định dành hai ngày nghỉ phép để “tổ chức” việc uống rượu nhiều hơn.  Mặt trời phả sức nóng nguy hiểm của nó trên tôi ngày thứ nhất khi tôi đi từ quán rượu này sang quán rượu khác.  Khi tối về, tôi cảm thấy sức nặng do sự ẩm ướt của thời tiết tháng Tám đè nặng trên tôi, nó càng mạnh hơn bởi hỗn hợp rượu và thuốc chống suy nhược mà tôi đã dùng.

Trong tình trạng này, tôi bắt đầu sợ hãi cái ngày ăn bữa tối mà tôi đã sắp đặt tại một câu lạc bộ chơi nhạc jazz ở Greenwich Village.  Tuy nhiên, tôi đã đến sớm và ngồi trong quán rượu, nói cách chắc chắn với người phục vụ ở quầy rượu là tôi ở đó để tổ chức sinh nhật của tôi.  Cô ấy đặt một cái ly đầy rượu màu xanh nhạt trước mắt tôi.  Cô ấy nói: “Với anh, miễn phí.  Chúc mừng sinh nhật anh!”  Tôi nâng ly lên, nhưng khi tôi làm như vậy, có một giọng nói bên trong tôi vang lên “Đây là nó.  Đây là lần uống cuối cùng của con.”

         Giọng Nói Biết Tất Cả.  Tôi chuyển cái ly ra khỏi mặt tôi và nhìn vào nó.  Tôi mất bối rối bởi một cảm giác hy vọng lạ lùng và không thể tin được.  Tôi sẽ không còn say khướt nữa sao?  Hoặc tôi sắp chết rồi ư?  Giọng nói không rõ ràng và sự chết dễ dàng vẽ lên hơn là sự không say rượu nữa.  Tôi chiến thắng việc uống rượu chỉ trong tích tắc và rồi tôi chờ đợi.  Tôi không muốn tin giọng nói ấy.  Bất thình lình mọi sự bắt đầu đi vào bóng tối, như thể tôi đang bước vào một đường hầm.  Tôi không chết, nhưng tôi đã chạy tới phòng vệ sinh nam và ói ra.

Đó là lần uống cuối cùng của tôi.

Giọng nói mà tôi nghe làm tràn ngập trong một khao khát bất chợt là được giải phóng khỏi rượu.  Tôi đã cảm thấy rằng tôi đã được ban tặng một khởi đầu mới cho cuộc sống và tôi không muốn hoang phí nó nữa.

Một vài tuần sau, người phụ nữ mà tôi quen đã mời tôi đi nghe ca đoàn nhà thờ hát vào một sáng Chúa Nhật sau khi chúng tôi thức dậy.  Tôi quá xúc động bởi thánh ca Gregorian (thánh ca thời Trung cổ) và âm nhạc đến nỗi tôi đã trở lại vào Chúa Nhật sau đó, và sau đó nữa.  Tôi đã bắt đầu tham dự Thánh Lễ hằng tuần chỉ vì để tôi có thể nghe âm nhạc.

Dần dần, tôi đã bắt đầu nghe những gì đang diễn ra giữa những bài hát.  Rồi đến một ngày kia tôi nghe câu chuyện Chúa Giêsu cho con gái ông Jairus sống lại từ cõi chết (Mc 5,35-43).  Người bảo ông Jairus “Đừng sợ, nhưng hãy tin” (Mc 5,36).  Lúc đó, tôi biết đó là chính là giọng nói biết tất cả đã hứa với tôi rằng đó là lần uống rượu cuối cùng của tôi.  Tôi nhận ra rằng trong suốt dọc dài đời tôi, Chúa Giêsu đã đang chuẩn bị cho tôi khao khát một cái gì đó khác hẳn.

         “Linh hồn con khao khát Chúa.”  Vào Mùa Vọng năm 2003, tôi nhận ra rằng tôi phải sống trong tình trạng ân sủng khi tôi rước lễ.  Vì thế, tôi đã đi tìm một nhà thờ dòng Phanxico gần Penn Station và tôi ở đó mười phút trước khi Việc Xưng Tội kết thúc.  Tôi thưa với linh mục đang ở bên kia phiên sắt (của Tòa Giải Tội) rằng: “Lần xưng tội cuối cùng của con cách đây mười sáu năm rồi.”  Tôi nghe tiếng ngài hít vào thật sâu.  Khi tôi nói tôi không biết phải làm gì, ngài đã tử tế đề nghị tôi hãy kể thật lòng những tội lỗi của tôi bằng cách dùng Mười Điều Răn như bản hướng dẫn.

Tôi hỏi “Mười điều răn là gì ạ?”  Vị linh mục giúp tôi hiểu từng điều một và ngài giải thích rằng Chúa Giêsu đã tha thứ cho tôi cả những tội mà tôi không thể nhớ.  Sau khi tôi đọc xong Kinh Ăn Năn Tội và lãnh nhận ơn tha tội, ngài nói với tôi rằng: “Bây giờ không quá tệ, đúng không con?  Tòa nhà đã không xụp đổ xuống trên con.”  Tôi ra khỏi Tòa với một cảm giác nhẹ nhàng và hạnh phúc mới, và tôi ngước lên bầu trời để nhìn những tinh thể tuyết trắng trong đang rơi xuống.

Mùa Xuân năm ấy, tôi bắt đầu cầu nguyện Phụng vụ các Giờ Kinh.  Tôi sớm cảm nhận giá trị cấu trúc các Giờ Kinh trong ngày sống của tôi.  Tôi thích thú ngồi bên ngoài phòng thoát hiểm của tòa nhà tôi ở Queens[1], cầu nguyện bằng các thánh vịnh dưới bầu trời chiếu sáng.  Tôi bắt đầu cảm nghiệm Thiên Chúa đang nói với tôi qua những lời trong Thánh Kinh.  Đặc biệt, nhiều thánh vịnh rất cá vị hợp với tôi:  Lạy Thiên Chúa của con – chính Ngài Đấng con kiếm tìm!  Linh hồn con đã khát khao Ngài; tấm thân con mòn mỏi đợi trông (Tv 63,2).

Những đoạn trích này không còn là những từ ngữ xa xôi đã có từ hàng ngàn năm trước.  Chúng là những nền tảng của một mối tương quan mới giữa tôi và Giáo Hội qua thời gian.  Tôi không cô đơn trong kinh nghiệm tìm kiếm một sự đói khát mới về Thiên Chúa của tôi.  Tôi có vua David cùng đồng hành!

       Một Cuộc Sống Mới Trong Bàn Tay Của Chúa Giêsu.  Muốn phục hồi khỏi chứng nghiện rượu, tôi cần niềm tin mới hồi sinh của tôi.  Tình bạn mà tôi đã tìm thấy trong nhóm mười hai bước thật là quan trọng, đặc biệt các linh mục và các bạn hữu của tôi ở nhà thờ đã giúp tôi duy trì việc bỏ rượu.  Họ chỉ cho tôi thấy những con đường mới đối với ý thức trách nhiệm và sự tự xét mình.  Tôi học hỏi từ họ và từ những sách thiêng liêng nói về sự khiêm tốn, và về sự hòa giải với những người mà tôi đã làm thiệt hại.  Điều quan trọng nhất là tôi đã nhận ra giá trị cuộc sống cho những người khác, chứ không phải cho chính tôi.

Qua việc cầu nguyện hằng ngày, Thánh Lễ và tham gia vào ca đoàn, tôi bắt đầu phục vụ Giáo Hội.  Những sự diễn tả của niềm tin Công Giáo đã trở nên những yếu tố nắm giữ cuộc sống của tôi.  Chúng giúp tôi chấp nhận hoàn toàn một viễn cảnh mới về sự cô đơn, đau khổ và cả niềm vui.

Những điều này dường như luôn luôn giống như những vấn đề cá nhân biệt lập đối với tôi.  Nhưng rồi tôi nhận ra rằng Chúa Giêsu đã nhìn thấy nỗi khổ của tôi và đã làm cho nó thành mối quan tâm của Ngài.  Tiếng Ngài nói với tôi tại quán rượu ở Manhattan!  Ngài đã mời gọi tôi bằng âm nhạc tuyệt vời.  Ngài đã bước vào cuộc đời tôi trong Thánh Lễ để Ngài có thể kéo tôi vào trong Ngài.  Như Ngài đã đi tìm những người phong hủi, và những cô gái điếm cách đây hai ngàn năm, Ngài cũng đã đi tìm tôi trong khung cảnh của quán rượu ở Greebwich Village.  Vì thế cho dù thỉnh thoảng tôi vẫn cảm nghiệm sự cô đơn sâu thẳm, nhưng nó đã trở nên có ý nghĩa hơn.  Tôi đã học thế nào để dâng nỗi cô đơn ấy lên Chúa Giêsu như phần (nhỏ bé) của tôi vào cuộc sống của Ngài, vào cái chết và sự phục sinh của Ngài.

        Theo “Big Book” của nhóm những người nghiện rượu vô danh (Alcoholics Anonymous), “Trong bàn tay Thiên Chúa, bóng tối đi qua là sự sở hữu lớn nhất mà bạn có – chìa khóa cho cuộc sống và hạnh phúc đối với những người khác.”  Đó là vì trong bàn tay của Chúa Giêsu, chúng ta được tái sinh và ban tặng sự sống mới.  Tôi hy vọng rằng mỗi người trong các bạn có thể cảm nghiệm được niềm vui này và chia sẻ nó cho những người xung quanh bạn.

Colin O’Brien sống ở Hyattsville, Maryland.

Theo the Word Among usEaster 2018 Issue
Chuyển ngữ:  Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương, OP

[1] Queens: one of the five boroughs of New York City (located on Long Island).

Là người Sài Gòn từ thuở bào thai rồi, cần gì xin nhập tịch!

Là người Sài Gòn từ thuở bào thai rồi, cần gì xin nhập tịch!

Vũ Thế Thành •Thứ Sáu, 17/08/2018 •

Sinh ra, lớn lên và sống gần hết đời ở cái đất Sài Gòn này mới thấy nó chán phèo. Hồi nhỏ thì chơi tạc lon, đánh đáo, giựt cô hồn… Thả diều không được vì ông già Mười, nhà có xe hơi xách baton rượt, sợ vướng dây điện. Tụi tui lấy kẹo cao su gắn dính vô chuông cổng nhà ổng rồi bỏ chạy. Lớn hơn chút nữa thì chơi bầu cua, cát tê, xập xám,…

Mỗi tối mẹ sai tôi xách thùng rác ra gốc me ngoài đường đổ. Tối cúp điện, tôi vừa xách thùng rác vừa nghêu ngao: “…Đường về hôm nay tối thui, gập ghềnh em không thấy tui, em đụng tui, em nói tui đui…” Tội nghiệp bản “Kiếp nghèo” của Lam Phương, tôi chỉ cám cảnh a dua hát theo chứ đâu biết sửa lời. Trời nóng, để tạm thùng rác ở gốc me, chạy ra phông-tên nước gần đó, năn nỉ mấy chị ma-ri-sến gánh nước thuê, cho em thò cái đầu vô vòi nước một chút. Mát đầu có sức quậy tiếp.

Xóm nhỏ đôi khi lầy lội. Thỉnh thoảng mấy bà trong xóm cũng cãi nhau ầm ĩ. Hôm sau hai ông chồng lại ngồi khề khà nhậu với nhau, còn mấy bả đon đả tiếp mồi. Cãi nhau là chuyện nhỏ, chuyện hôm qua cho nó qua luôn. Đời sống nghèo ở Sài Gòn là vậy, có gì thơ mộng đâu?

Mà nói thiệt, tôi là dân Bắc kỳ… chín nút. Nhưng đó là chuyện của ba má tôi, dù sau này có về thăm quê nội ngoại tôi vẫn thấy hụt hẫng và hờ hững thế nào ấy. Tôi lớn lên ở Sài Gòn, không khí Sài Gòn, cơm gạo Sài Gòn, đầu Sài Gòn, tim Sài Gòn,… bao nhiêu thứ buồn vui với nó. Trong tôi cứ bám riết cái Sài Gòn chán phèo này, dù đôi lúc mặc cảm mình không phải là dân Sài Gòn.

Hồi 54, cả trăm ngàn dân di cư mang theo đủ loại kiểu sống bó trong lũy tre làng đem nhét hết vô mảnh đất nhỏ xíu này, cũng gây xáo trộn cho người ta chứ. Phong tục, tập quán, ở đất người ta mà cứ như là ở đất mình. Nhưng người Sài Gòn chỉ hiếu kỳ một chút, khó chịu một chút, rồi cũng xuề xòa đón nhận.

Lúc đầu tụi bạn ghẹo tôi là “thằng Bắc kỳ rau muống”. Con nít đổi giọng nhanh mà, trong nhà giọng Bắc, ra ngoài giọng Nam. Thế là huề hết. Rủ nhau đi oánh lộn phe nhóm là chuyện thường. Khỏi cần biết đúng sai, mày đánh bạn tao, thì tao đánh lại, oánh lộn tưng bừng. Vài ngày sau lại rủ nhau đi xem xi nê cọp. Dễ giận dễ quên. “Tao về quê sẽ mang lên cho mày ổi xá lỵ, xoài tượng…”. Tôi ngóng cổ chờ bạn, chờ quà. Thực ra, tôi thèm có quê để về.

Tết đến, thầy cô, bạn bè về quê, nhiều người Sài Gòn xôn xao về quê. Tôi ở lại Sài Gòn mà thấy hình như mình vẫn không phải là dân Sài Gòn. Vậy ai là dân Sài Gòn chính hiệu đây? Chẳng lẽ phải tính từ thời mấy ông Pétrus Ký hay Paulus Của?

Sài Gòn trẻ măng, mới chừng hơn 300 tuổi tính từ thời Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền ở đây. Sài Gòn khi cắt ra khi nhập vào, to nhỏ tùy lúc. To nhất có lẽ khi nó là huyện Tân Bình, kéo dài đến tận vùng Biên Hòa. Nhỏ nhất là vào thời Pháp mang tên Sài Gòn. Ngay trước 1975, Sài Gòn rộng chừng 70km2, có 11 quận, từ số 1 đến 11. Hồi đó Phú Nhuận, Tân Bình, Thủ Đức,… còn được xem là nhà quê (tỉnh Gia Định). Bây giờ Sài Gòn rộng tới 2.000km2.

Sài Gòn đắc địa, có cảng nối biển, là đầu mối giao thương quốc tế, tiếp cận với văn minh Tây phương sớm. Đất lành chim đậu. Người miền Nam đổ về nhiều. Dân Sài Gòn không có địa giới rõ rệt. Nói tới họ có vẻ như là nói tới phong cách của dân miền Nam. Họ là những lưu dân, khai phá, hành trang không có bờ rào lũy tre nên tính tình phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, nói năng bộc trực… Ai thành đại gia thì cứ là đại gia, ai bán hàng rong thì cứ bán. Sài Gòn không tự hào mình là người thanh lịch, không khách sáo, không mời lơi. Họ lấy bụng thiệt mà đãi nhau.

Sài Gòn có mua bán chém chặt? Có, đúng hơn là nói thách. Cứ vô chợ Bến Thành xem mấy bà bán mỹ phẩm, hột xoàn hét giá mát trời ông Địa luôn. Đối tượng nói thách của họ là khách hàng, chứ không cứ gặp khách tỉnh mới nói thách. Dân Sài Gòn lơ mơ cũng mua hớ như thường. Thuận mua vừa bán mà.

Ít nơi nào nhiều hội ái hữu, hội tương tế, hội đồng hương như ở Sài Gòn. Dân tứ xứ về đây lập nghiệp nhiều. Có máu lưu dân trong người, dân Sài Gòn thông cảm đón nhận hết, không ganh tị, không thắc mắc, không kỳ thị. Người ta kỳ thị Sài Gòn, chứ Sài Gòn chẳng kỳ thị ai. Nhiều gia đình người Bắc người Trung ngại dâu ngại rể Sài Gòn, chứ dân Sài Gòn chấp hết, miễn sao ăn ở biết phải quấy là được Dân Sài Gòn làm giàu bằng năng lực hơn là quyền lực.

Người ta nói “dân chơi Sài Gòn”. Trời đất! Sài Gòn mà “tay chơi” cái nỗi gì. Tay chơi dành cho những đại gia mới giàu lên đột xuất từ đâu đó đến. Đổi đời, Sài Gòn biết sợ. Sài Gòn a dua thì có, nhưng a dua biết chọn lọc. Coi vậy chứ dân Sài Gòn đâu đó còn chút máu “ kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”. Cứ xem dân Sài Gòn làm công tác xã hội thì biết, cứu trợ lũ lụt thấy người ta lạnh quá, cởi áo len đang mặc trên người tặng luôn. Họ làm vì cái bụng nó thế, chứ không phải vì PR, đánh bóng bộ mặt.

Biết bao văn nghệ sĩ miền Bắc, miền Trung vào đất Sài Gòn này “quậy” tưng, tạo ra cái gọi là văn học miền Nam hậu 54 coi cũng được quá chứ? Nhạc sĩ Lam Phương, quê Rạch Giá, 10 tuổi đã lưu lạc lên Sài Gòn kiếm sống. Năm 17 tuổi nổi danh với bản “Kiếp nghèo” và khá giả từ đó.

Tiếp cận văn minh phương Tây sớm, nên dân Sài Gòn có thói quen ngả mũ chào khi gặp đám ma, xe hơi không ép xe máy, xe máy không ép người đi bộ, chạy xe lỡ va quẹt vào nhau, giơ tay chào ngỏ ý xin lỗi là huề. Những thói quen này giờ đây đang mất dần, nhưng dân Sài Gòn không đổ thừa cho dân nhập cư. Họ cố gắng duy trì (dù hơi tuyệt vọng) để người mới đến bắt chước vì lợi ích chung. Chợ hoa là một chút văn hóa của Sài Gòn, có cả nửa thế kỷ nay rồi, có dân nhập cư nào “yêu” hoa mà ra đó cướp giựt hoa đâu.

Sài Gòn nhỏ tuổi nhiều tên, nhưng dù thế nào Sài Gòn vẫn là Sài Gòn. Nhiều người thành danh từ mảnh đất Sài Gòn này. Sài Gòn nhớ không hết, nhưng mấy ai nhớ đến chút tình của Sài Gòn? May ra những người xa Sài Gòn còn chút gì nhức nhối. Tôi có người bạn Bắc kỳ chín nút, xa Việt Nam cũng gần 40 năm. Tên này một đi không trở lại, vừa rồi phone về nói chuyện lăn tăn, rồi chợt hỏi: “Sài Gòn còn mưa không?”. “Đang mưa”. Đầu phone bên kia thở dài: “Tao nhớ Sài Gòn chết…mẹ!”. Sài Gòn nay buồn mai quên, nhưng cũng có nỗi buồn chẳng dễ gì quên.

Mới đây đi trong con hẻm lầy lội ở Khánh Hội, chợt nghe bài hát “Kiếp nghèo” vọng ra từ quán cà phê cóc ven đường. Tôi ghé vào gọi ly cà phê. Giọng Thanh Thúy sao da diết quá: “Thương cho kiếp sống tha hương, thân gầy gò gởi theo gió sương…” Chủ quán, ngoài 60 cầm chồng báo cũ thẩy nhẹ lên bàn “Thầy hai đọc báo…”. Hai tiếng “thầy hai” nghe quen quen… Tự nhiên tôi thấy lòng ấm lại. Sài Gòn từ tâm, Sài Gòn bao dung. Tôi chợt hiểu ra, mình đã là người Sài Gòn từ thuở bào thai rồi, cần gì xin nhập tịch…..

Tác giả: Vũ Thế Thành.

Image may contain: 6 people, people smiling, people sitting
Image may contain: 2 people, people smiling, people sitting and people eating
Image may contain: one or more people, sky and outdoor

VÌ SAO NÓI CS CHỈ CÓ THỂ BỊ THAY THẾ, KHÔNG THỂ SỬA ĐỐI?

Đỗ Ngà

VÌ SAO NÓI CS CHỈ CÓ THỂ BỊ THAY THẾ, KHÔNG THỂ SỬA ĐỐI?

Có một tên giang hồ thừa gian ác nhưng thiếu trí tuệ. Một hôm đứa con học lớp 3 của hắn không hiểu bài nên gọi hắn đến hỗ trợ. Hắn đến bàn học thằng con, nhìn ngược nhìn xuôi bài toán lớp 3 và thấy sao khó quá. Chả nhẽ thú nhận với con trai là mình bí? Hắn bèn nghĩ ra cách để không phải làm việc quá tầm nữa. Sẵn máu giang hồ, hắn đập bàn đập ghế và bợp tai thằng con một phát trời giáng và bảo “Từ nay về sau mầy mà hỏi bài tao nữa là nhừ đòn nghe con!”. Thằng bé tái mặt, và từ đó chẳng bao giờ nó dám hỏi bố nó một câu nào về vấn đề chữ nghĩa nữa.

Vâng, đấy là hình thức dùng bạo lực để che đậy cho sự bất lực của trí tuệ. Tương tự vậy, chính quyền CS cũng dùng nó để phủ đầu nhân dân thay vì đồng hành với dân trong vấn đề giải quyết những vấn đề khó khăn cho đất nước.

Để đi đến giải pháp chính trị mang đến thịnh vượng đất nước và bình yên cho nhân dân, thì trước hết phải biết lắng nghe chỉ trích. Từ lắng nghe chỉ trích, nhà nước mới tập hợp lực lượng chất xám để đưa ra biện pháp tháo gỡ nhằm thúc đẩy cho đất nước phát triển. Trong doanh nghiệp cũng thế, trong quốc gia cũng vậy, phải moi ra tiêu cực trước thì mới tìm giải pháp ứng phó sau. Nơi nào cấm moi ra tiêu cực, nơi đó lụn bại. Vì sao? Vì đơn giản dung túng tiêu cực là dung túng sự tàn phá, với doanh nghiệp cũng vậy mà với đất nước cũng vậy thôi. Hiện nay, chính quyền CS đang dung túng cho tiêu cực. Thậm chí, có thể nói nhà nước CSVN là nhà nước tội phạm cũng không ngoa.

Tại nước Mỹ, nước Nhật hay nước Pháp gì vẫn thế. Vấn đề của đất nước liên tục được phản hồi vào nhà nước qua rất nhiều kênh như, biểu tình, kiến nghị dân biểu đưa vấn đề bức xúc của dân vào nghị trường, báo chí tự do hằng ngày nêu hết mọi ngóc ngách về kinh tế – chính trị – xã hội đất nước. Từ những tác động đó, nhà nước lắng nghe và họ mới đi đến việc sửa luật, thêm luật, ra chính sách ứng phó tốt những nan giải phát sinh. Khi ứng phó được thì xem như bài toán được giải và đất nước phát triển. Vậy, sự phát triển của đất nước là chuỗi giải quyết thành công những bài toán cho đất nước mà thôi. Tất nhiên để giải được, nhà nước phải là nơi hội tụ của những bộ óc hàng đầu.

Nhưng với chính quyền CSVN thì sao? Những bài toán về kinh tế – chính trị – xã hội phát sinh là quá tầm với họ. Tựa người cha võ biền kia, chính quyền CS đã chọn dùi cui, họng súng, nhà tù hết công suất để hoặc răn đe hoặc cấm những tiếng nói chỉ trích. Khi những vấn đề hóc búa được người dân phản hồi về anh, anh bất lực trong giải quyết thì tất nhiên nó đưa đến sự lụn bại của đất nước, sự đói nghèo cho dân là điều tất yếu. Và mọi người nhìn lại kinh tế – chính trị – xã hội Việt Nam xem? Đúng như thế.

Trí tuệ không đủ, bạo lực dùng bừa bãi để che đậy cái dốt, cái bất lực nó đã trở thành Đảng Tính của CSVN. Đã bất lực về trí tuệ thì không thể sửa đổi. Đừng bảo người cha dốt nát kia giải toán, và vì thế cũng đừng hy vọng CS giải được những vấn đề về kinh tế – chính trị – xã hội của đất nước. Đó là vì sao mà kẻ từng trong BCT của ĐCS Liên Xô Boris Yelsin đã phải tuyển bố “Cộng Sản chỉ có thể thay thế chứ không thể thay đổi”. Vâng! Bởi đơn giản, CS không đủ tầm để thay đổi.

TRẢ THÙ DÂN THAY VÌ CHẤP PHÁP, CHÍNH QUYỀN CS CỰC KỲ NGUY HIỂM

Đỗ Ngà

TRẢ THÙ DÂN THAY VÌ CHẤP PHÁP, CHÍNH QUYỀN CS CỰC KỲ NGUY HIỂM

Một buổi live show mini của ca sĩ Nguyễn Tín, với nội dung là những bản bolero thông dụng. Tất nhiên Nguyễn Tín cũng mời bạn bè thân hữu. Những live show như thế này là việc rất đỗi bình thường như bao live show khác. Nhưng thật bất ngờ, công an cả sắc phục lẫn thường phục ập vào như đám cướp khống chế sòng bạc hay bắt cuộc mua bán ma tuy vậy. Không lệnh tòa án, không một chứng cứ phạm tội của bất kỳ cá nhân nào. Buổi live show không hề vì phạm pháp luật nghiêm trọng như những cuộc mua bán ma tuý hay mua bán phụ nữ và trẻ em nên không thể ập vào để “bắt quả tang” được.

Câu hỏi đặt ra là, xét mọi khía cạnh đều không phạm pháp, vậy công an ập vào bắt để làm gì?

Hỏi cũng là trả lời, chính công an Cộng Sản đã phạm pháp. Đấy là hành động của một băng cướp hoặc hành động của một nhóm giang hồ trả thù cá nhân nào đó mà thôi. Đã gọi là chấp pháp thì phải có tội thì lực lượng chức năng mới vào cuộc. Mà vô tội mà chức năng bắt bớ người ta như tội phạm thì công an phạm pháp.

Bọn tội phạm, chúng thấy hậm hực ai, thấy cay cú ai là ra tay với kẻ đó như là kẻ thù. Ví dụ, ông A thua ông B trong một lần đấu lí. Một hôm, ông A thủ dao găm, thấy ông B là A ra tay hạ sát. Đó là sự phạm pháp không thể chối cãi. Trong live show của ca sỹ Nguyễn Tín, có Phạm Đoan Trang đến dự. Phạm Đoan Trang đã làm cho chính quyền này hậm hực vì chúng thua lí của người phụ nữ này, điều này ai cũng biết. Thế là hôm nay trong buổi live show, chính quyền đã xông vào bắt bớ và ra tay trả thù Đoan Trang bằng trò đánh đập của các thằng đàn ông lực lưỡng có nghiệp vụ. Đoan Trang là hình ảnh ông B, chính quyền CS là hình ảnh ông A.

Câu hỏi là, chính quyền đã thực hiện những cuộc trả thù bẩn thỉu với dân thì làm sao nó chấp pháp? Cho nên nó phải bị loại bỏ khỏi vai trò lãnh đạo đất nước là điều vô cùng cấp thiết với nhân dân Việt Nam. Dù muốn hay không cũng phải có ngày đó. Một chính quyền mà trả thù thay cho chấp pháp thì nó rất nguy hiểm. Còn nó, sẽ đến lúc đất nước mất tất cả. Và tất nhiên, chúng ta cũng chẳng còn gì cả.

Góc suy ngẫm

No automatic alt text available.
Image may contain: sky, ocean, twilight, cloud and outdoor
Van H Pham

Muông thú trên trái đất đâu cần làm lụng, tích cóp của cải, thực phẩm, nước uống…. nhưng chúng vẫn vui sống và sống khỏe.

Bao tỷ phú giàu có trên trái đất khi ra đi cũng hai bàn tay trắng…. nhưng người đời thường chỉ nhắc nhở đến những tấm lòng vị tha, yêu thương đồng loại như Mẹ Têrêsa thành Calcutta….

Chúc ACE một ngày mới tràn ngập yêu thương cùng nhau vì Thượng đế lúc nào cũng ở bên bạn…

Chế độ CSVN đang tan rã từng mảng

Chế độ CSVN đang tan rã từng mảng

Kông Kông (Danlambao) – Trao đổi với người đang dấn thân tranh đấu cứu nước từ trí thức đến người trẻ có kiến thức thời đại và cả giới bình dân thường có chung một nhận xét. Đó là, chế độ thối rữa và phản động đến tận cùng nhưng nói đến sụp đổ thì “còn khó lắm”! “Còn khó lắm” vì “tụi nó vẫn kiểm soát được tình hình. Vẫn nắm vững công an và quân đội”. Người đang tranh đấu còn nghĩ như vậy huống gì đảng viên? Vì thế đảng viên bỏ đảng (chứ chưa nói đến dám chống đảng) cũng chỉ âm thầm. Con số phản tỉnh nầy chắc chắn không hề nhỏ. Vì họ vẫn còn ở trong đảng nên biết rõ thực trạng nội bộ hơn bên ngoài. Nhưng cũng chỉ vì nghĩ “còn khó lắm” nên chưa dám công khai. Phải đợi thời cơ khi “gió đổi chiều”.

Đó là sự thật. Là lý do đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng cảnh báo “bọn tự diễn biến”! Ông Trọng biết rõ là khi cách mạng bùng nổ thì thành phần đợi “gió đổi chiều” là một trong yếu tố chính làm đảng của ông vô phương chống đỡ. Cứ nhìn những ngày chao đảo của cộng sản Liên Sô thời điểm diễn biến cách mạng sẽ nhận ra không khó. 

Thực tế ý nghĩ “còn khó lắm” không phải chỉ có ở VN hiện tại mà đã từng là của giới truyền thông thế giới. Lúc Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan thách thức Bí thư đảng cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev, ngày 12/6/1987 tại Tây Berlin, “tear down this wall” (đập bỏ bức tường Bá Linh) cũng không mấy ai tin! 

Nhưng dấu ấn đó đã là lịch sử. Lịch sử tan rã của các chế độ cộng sản! 

Vì thế, CSVN cũng không thể khác. Do đó ý nghĩ “còn khó lắm” rất cần phải thay đổi. Nếu người đang dấn thân tin chắc chế độ hiện tại phải sụp đổ và nó sẽ đến bất ngờ (như đã xảy ra ở Liên Sô và Đông Âu) thì tinh thần lạc quan đó có tác động lớn trong xã hội, không chỉ riêng với những người còn phân vân mà với đảng viên phản tỉnh đang đợi “gió đổi chiều”! Thay đổi được tư duy “còn khó lắm” thì khí thế cách mạng tất yếu sẽ mạnh hơn hẳn. Người đang bị giam tù khỏi cần đắn đo nên chấp nhận án hay ra đi. Người sắp bị “nhập kho” sẽ coi đó chỉ là “chuyện nhỏ”. Người còn e dè sẽ can đảm và dấn thân mạnh mẽ hơn. 

Thể hiện sự tin tưởng được như vậy thì đương nhiên thành phần còn trung thành với đảng phải chao đảo. “Thanh kiếm và lá chắn” sẽ lo nghĩ đến tình cảnh gia đình vợ con họ hơn là thi hành lệnh đàn áp để gây thêm hận thù. Vì họ biết khi có biến động thì lãnh đạo sẽ bỏ rơi họ để tìm mọi cách cao bay xa chạy vì đã có sẵn cơ ngơi ở nước ngoài. 

Một ví dụ rất nhỏ, trước chính nghĩa giữ đất của người Đồng Tâm ở Hà Nội và trước sự bùng nổ biểu tình trên cả nước chống Luật An ninh mạng và Luật Đất đai ngày 10/6/2018 vừa rồi đã xảy ra hiện tượng cảnh sát cơ động miễn cưỡng thi hành lệnh và cuối cùng tự buông vũ khí để trở về với nhân dân. Riêng tại Phan Rí Cửa, Trung ương phải điều động lực lượng từ nơi khác đến đàn áp. 

Một ví dụ khác lớn hơn, đã xảy ra vào tháng Năm, 2014 thời ông Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng. Đó là vụ xuống đường bất ngờ nổ ra từ các hãng xưởng ở khu công nghiệp Sóng Thần Bình Dương, rồi đến Đồng Nai Biên Hoà và, rất nhanh, lan ra Hà Tĩnh, phía Bắc… lúc đó chế độ gần như bị tê liệt, không thấy bóng dáng công an! 

Hiện tại chế độ mục ruỗng hơn lúc đó rất nhiều. Nhiều chỉ dấu cho thấy sự hỗn loạn. Thể chế đang tan rã từng mảng. 

Mảng chính trị đang bất ổn tận gốc. Yếu tố nổi bật là phản quốc. Mảng an ninh thì có nhiều Tướng công an bị bắt giữ vì phạm pháp đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến an ninh tổ quốc… bất ổn đến nỗi phải cải tổ toàn bộ. Về quân đội thì Tướng chống Tướng (ví dụ như vụ sách Gạc Ma – Vòng Tròn Bất Tử). Mảng kinh tế thì lệ thuộc Tàu cộng mà Tàu cộng đang bị xính vính do Mỹ mở cuộc chiến tranh thương mại. Mảng tâm lý xã hội thì người dân căm thù Tàu cộng còn đảng quyết bám chặt để bảo vệ sự sống còn của đảng. 

Riêng mảng đối ngoại thì chưa bao giờ CSVN nhục nhã thê thảm như hiện tại! Mặt thật của chế độ đã bị vạch trần qua vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Đức. Những tình tiết tổ chức bắt cóc mỗi ngày một sáng tỏ hơn và lan rộng ra công luận thế giới. Một số nước Âu châu cùng hợp tác với Đức tiếp tục điều tra. Chân tướng ê kíp gián điệp xuất phát từ các Tòa đại sứ VN ở Âu châu gần như đều bị lộ diện cùng với Bộ trưởng công an Tô Lâm! 

Khái quát thực trạng VN như thế thì liệu có chế độ nào có thể tồn tại lâu hơn nữa được không? 

Vì thế, sự sụp đổ là tất yếu và sẽ đến rất bất ngờ. Vấn đề chính hiện tại là chuẩn bị như thế nào thời hậu cộng sản để sớm đưa đất nước theo kịp đà tiến của văn minh nhân loại. 

16.08.2018 

Kông Kông

danlambaovn.blogspot.com

BẠO LỰC LÀ SỰ BẤT LỰC

Luân Lê

Điều nguy hiểm và khốn tệ nhất của một chế độ độc tài toàn trị là nó không chỉ khiến cho nhân viên công quyền coi việc sử dụng bạo lực trở nên như là một nghĩa vụ cao cả mà nó còn tạo ra sự khoái lạc tột độ cho những kẻ thừa hành. Nó sẵn sàng truy bức và tàn sát những người dân hoàn toàn vô tội trước pháp luật, nhưng với chúng thì những công dân này phải bị trừng trị vì là những kẻ thù địch, bọn phản loạn.

Đó là sự bất lực của luật pháp và là sự bế tắc của quyền lực chính trị trong việc điều quản quốc gia.

Nếu là một con người bình thường, chúng ta cũng sẽ đều hiểu được một lẽ hiển nhiên, bất cứ tên tội phạm nào cũng đều được bảo vệ bất khả xâm phạm về thân thể và tính mạng, sức khoẻ. Vậy thì đối với một công dân hoàn toàn tự do, hẳn nhiên rằng, họ được bảo hộ nghiêm ngặt bởi luật pháp trước bất kỳ một ai và trong bất kể một trường hợp nào, nếu họ thực hiện hành vi phạm tội thì luật pháp sẽ cáo buộc họ theo một chu trình đã được ấn định. Chứ không thể có bất cứ chính quyền nào nhân danh những giá trị tốt đẹp thông qua vấn đề an ninh quốc gia và trật tự xã hội, tự đặt mình lên trên luật pháp để coi những con người đang với vị thế một công dân tự do là những kẻ thù nghịch để tự tiện dùng bạo lực nhằm trấn áp, bức hại họ một cách man rợ và công nhiên đến thế.

Luật pháp phải luôn nằm trong tâm tưởng và phải là phương tiện đầu tiên mà bất cứ lực lượng chức trách nào cũng phải tuân thủ, thì nay, họ lại xem thường nó trước nhất và gạt bỏ nó khỏi những suy nghĩ của mình để thực thi bất cứ biện pháp nào mà chúng có thể mường tượng ra, nhưng chủ yếu là bạo lực và sự tấn công một cách trực diện. Chính quyền đó thực chẳng khác gì nơi chứa chấp những tên côn đồ và những kẻ cướp thực sự nguy hiểm trước nhân dân.

CÓ THỂ TIN VÀ SỐNG VỚI HAI TÔN GIÁO CÙNG MỘT LÚC?

CÓ THỂ TIN VÀ SỐNG VỚI HAI TÔN GIÁO CÙNG MỘT LÚC?

Trần Mỹ Duyệt

Tôn giáo và đức tin tự nó đã là một định nghĩa rất mông lung, rất trìu tượng mang nặng tính triết học, và thần thánh.

Ở một nghĩa nào đó, nó tiềm ẩn những hình thức mê tín, dị đoan và huyền bí.

Dưới con mắt của một người vô thần thì “Tôn giáo là một cái gì nhảm nhí, nhưng lại không ai có thể dẹp bỏ được điều nhảm nhí đó”. Và cái mà những người này cho là nhảm nhí của tôn giáo chính là đức tin, niềm tin tưởng vào Thượng Đế, vào sức mạnh vô hình, và vào cõi siêu nhiên.

Vì thế, nếu có người này, người khác biểu lộ nếp sống tôn giáo của họ qua những hình thức khác nhau, những thực hành khác nhau, điều này không có gì lạ.

Tuy nhiên, khi đã đề cập đến tôn giáo, đến niềm tin, đến thiêng liêng một cách nghiêm chỉnh, thì câu hỏi cốt lõi vẫn là:

  1. Tôi sinh ra để làm gì? Mục đích của đời sống con người ở cõi tạm này là gì? Tại sao tôi lại sinh vào thế gian này?

Để trả lời câu hỏi tại sao tôi có mặt trên cõi đời này, việc này tốt hay không tốt đối với tôi, Thánh Augustine (354-430) đã có câu nói hết sức thời danh, đó là, “Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến bạn khi Ngài dựng nên bạn.” Theo thánh nhân, nguyên một việc được đưa ra từ hư vô vào cõi nhân sinh đối với ta đã là một ân huệ của Thượng Đế. Vì vậy, khi Thiên Chúa thưởng ban ơn huệ cho ta là Ngài thưởng ban do những nỗ lực của ta, chứ những việc làm của ta chẳng thêm bớt gì cho vinh quang Ngài cả.

Sách Giáo Lý Công Giáo dạy, “Thiên Chúa dựng nên ta vì sự thánh thiện của Ngài, và để chia sẻ với chúng ta hạnh phúc viên mãn của Ngài trên thiên đàng” (God made us to show forth His goodness and to share with us His everlasting happiness in heaven), 1 một hạnh phúc mà “mắt chưa hề xem, tai chưa hề nghe, lòng trí chưa hề tưởng tượng những gì mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những kẻ yêu mến Ngài” (I Cor 2:9).  

Ngay từ khi còn trên gối mẹ, mẹ tôi đã dạy tôi những lời kinh đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa này: “Tôi cám ơn Đức Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng, chẳng bỏ tôi, chẳng để tôi không đời đời, mà lại sinh ra tôi, cho tôi được làm người, cùng hằng gìn giữ tôi, hằng che chở tôi…, và cho tôi được đạo thánh Đức Chúa Trời…”

Lời kinh đơn sơ ấy có thể được diễn nghĩa theo văn chương hiện nay là:

Con cảm ơn Thiên Chúa tốt lành vô cùng, Ngài đã nghĩ đến con. Đem con từ hư vô ra hiện hữu. Ngài luôn che chở và đồng hành bên con. Nhất là ban cho con ơn huệ được nhận biết Ngài, được sống trong Hội Thánh của Ngài. 

Đối với nhân loại kể cả các Kitô hữu, quan trọng nhất vẫn là được cứu độ, được phúc lộc trường sinh, “Vì chưng, nếu không được cứu chuộc, chúng ta sinh ra có ích gì?”2

 2.Con đường nào dẫn đến vĩnh hằng?

Để đạt tới hạnh phúc viên mãn, để lên được vĩnh hằng, Niết Bàn, hay Thiên Đàng, con người dựa vào những con đường – đạo. Đạo chính là đường. Phật Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo, Anh Giáo, Tin Lành, và Công Giáo… Mỗi đạo đều có những triết lý, những giáo lý, những cách thức biểu lộ niềm tin, thực hành đạo.

Như vậy, trên hành trình dẫn về vĩnh cửu, về Thiên Đàng, về miền cực lạc, về Niết Bàn… Trên con đường tìm gặp Thượng Đế, Đấng Toàn Năn, Thiên Chúa, mỗi người hoặc nhiều người sẽ đi trên những con đường đạo giáo phù hợp với môi trường, hoàn cảnh, kiến thức và tâm linh mà mình có.

Từ cái nhìn này, một số người vẫn thường quan niệm đạo nào cũng là đạo, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành, đạo nào cũng tốt. Và dẫn đến việc là trong thực hành, có những người không theo đạo nào, ngược lại, có những người không chỉ theo một đạo mà nhiều đạo.

Giáo Hội Công Giáo trong quá khứ đã không dễ dàng chấp nhận, cũng như tôn trọng những giá trị tinh thần của nhiều tôn giáo.

Quan niệm và lối nhìn ấy có thể đến từ việc hiểu và cắt nghĩa một cách hẹp hòi lời của Thiên Chúa: “Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu rỗi. Còn ai không tin sẽ bị luận phạt” (Mc 16: 16).

Như thế, chỉ những ai may mắn được tiếp nhận giáo lý Công Giáo, nghe và học hỏi rồi được rửa tội theo nghi thức Công Giáo mới được cứu rỗi, mới được lên Thiên Đàng..

Nhưng con số những người được rửa tội theo nghi thức Công Giáo, tính đến nay vẫn chỉ là một con số ít ỏi so với toàn thể nhân loại. Sau hơn 2000 năm được thành lập, theo tài liệu của Wikipedia, the free encyclopedia, hiện nay trên toàn thế giới, Giáo Hội Công Giáo dưới sự cai trị của Đức Giáo Hoàng Phanxicô mới chỉ có:

640 Tổng Giáo Phận.

2.851 Giáo Phận.

221.700 Giáo Xứ.

1.299 tỷ tín đồ, 3 với:

5.304 Giám Mục.

415.656 Linh Mục.

42.255 Phó Tế.

Vậy thì so với con số thống kê toàn thế giới tính đến tháng 5 năm 2018 là 7.6 tỷ người, liệu đã được bao nhiêu người nghe tới Phúa Âm, biết về Thiên Chúa, và được rửa tội?

Những người này sẽ đi về đâu sau khi chết?!

Có lẽ vì nhận thấy mình quá khép kín, quá lạc lõng, quá bảo thủ giữa thế giới hiện đại nên Công Đồng Vaticano II mới được triệu tập, và sau Công Đồng này cái nhìn về các tôn giáo khác, về ơn cứu độ, và về con người của Giáo Hội Công Giáo đã có những đổi mới, cũng như đã có những canh tân về giáo lý, tín lý, và cơ cấu của Giáo Hội.

Cái nhìn thần học mới về ơn cứu độ sau Công Đồng, đó là mặc dù vẫn khẳng định ơn cứu độ có được do bởi Đức Kitô, bởi đức tin và bởi Bí tích Rửa tội, và thuộc về Giáo Hội, nhưng người ngoài Công Giáo cũng có thể được cứu độ, do họ có liên kết với Giáo Hội, thí dụ, thuộc hẳn về Giáo Hội như các tín hữu đã chịu phép Rửa Tội, hoặc hiệp thông với Giáo Hội nếu là những người ngoài Công Giáo.

Trong số những người thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, dưới cái nhìn của Vaticano II lúc này thì họ là những người thuộc về các tôn giáo ngoài Công Giáo. Họ là những người không do lỗi của họ chưa biết Thiên Chúa. Hoặc họ là những người vẫn sống một cuộc đời tốt lành theo lương tâm ngay thẳng, tuy không thuộc về bất cứ một tôn giáo nào, mà chỉ là những người thành tâm tìm kiếm chân lý.  

Công Đồng Vaticano II tuy không trả lời rõ ràng những người không Công Giáo có thể được cứu độ ngoài hay trong chính tôn giáo của họ, hoặc các tôn giáo này tự nó có những giá trị cứu độ hay không, nhưng thừa nhận rằng mặc dù Giáo Hội là Bí Tích phổ quát của ơn cứu độ 4, các tôn giáo khác cũng có những giá trị tích cực, vì mọi tôn giáo đều tìm kiếm câu trả lời cho những khắc khoải của kiếp người, vấn đề nhân sinh.

Tất cả mọi dân tộc làm nên một cộng đồng, chia sẻ một định mệnh chung, ở đó có những “hạt giống của Lời Chúa” 5 “những tia chân lý soi sáng con người” 6 và có hoa trái của Chúa Thánh Thần. Công Đồng cũng cho rằng nơi các tôn giáo này có chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, ngay cả đức tin cứu độ. Bỏ qua những giới hạn, sai lầm và tội lỗi của con người, các tôn giáo này là một chuẩn bị cho Tin mừng.

  1. Các vị Giáo Hoàng của thế kỷ.

 Vấn đề đối thoại liên tôn, vấn nhìn nhận những giá trị Kitô Giáo, và sự hiệp nhất giữa các tôn giáo có cùng một niềm tin vào Thiên Chúa, cùng nguồn gốc như Công Giáo, Anh Giáo, Chính Thống Giáo, và Tin Lành được trình bày bàng bạc trong tài liệu Công Đồng Vaticano II. Ở đây xin dẫn chứng các vị Giáo Hoàng của Công Đồng và sau Công Đồng với những suy nghĩ và tầm nhìn liên quan đến những vấn đề trên:   

– Giáo Hoàng Phaolô VI (1963-1978), vị Giáo Hoàng của “đối thoại”. Ngài là người đã có những cái nhìn mới và thiện cảm với các tôn giáo bạn. Ngài sẽ được tuyên phong hiển thánh ngày 14 tháng Mười, 2018.

 Kế vị Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963), đấng triệu tập và khai mạc Công Đồng, Đức Phaolô VI đã điều khiển và bế mạc Công Đồng Vaticano II, và ngài đã có một tầm nhìn phong phú, sâu sắc về các tôn giáo khác như sau:

 “Thiên Chúa đến cho nhân loại. Giáo Hội phải đối thoại với 1) toàn thế giới, 2) các phần tử của các tôn giáo khác, 3) các giáo hội Kitô khác, và 4) ngay chính trong lòng Giáo Hội.”

 “Cần phải tôn trọng các gía trị luân lý và tâm linh nơi các tôn giáo khác.” Ngài viết trong thông điệp của mình: “Giáo Hội kính trọng và đánh gía cao các tôn giáo Không-Kitô giáo, bởi vì các tôn giáo đó là cách diễn tả sống động tâm hồn của vô số các nhóm dân tộc. Chúng mang trong mình tiếng vang vọng cuộc tìm kiếm Thiên Chúa từ hàng ngàn năm nay, một cuộc tìm kiếm tuy bất toàn nhưng được thực hiện với thành tâm thiện ý…. Chúng có vô số “các hạt giống của Lời Chúa” và do đó, hình thành một “chuẩn bị đích thực cho Tin Mừng” 7 .

 – Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1978-2005), bằng một tầm nhìn của một triết gia, ngài đã khẳng định tư tưởng của mình trong thông điệp Redemptoris Missio (Sứ Vụ Đấng Cứu Chuộc): “Giáo Hội cần cho ơn cứu độ vì Giáo Hội được thiết lập do ý muốn của Thiên Chúa và Giáo Hội tham dự vào kế hoạch cứu độ của Người. Ơn cứu độ không chỉ ban cho những ai là thành viên của Hội Thánh, minh nhiên tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu Kitô, nhưng cũng được ban cho những ai sống ngoài ranh giới của Giáo Hội” 8  

 Vẫn theo ngài, cần phải có sự kính trọng đối với mọi điều đã được Thánh Thần thổi bất cứ nơi đâu Người muốn.

Qua đối thoại, Giáo Hội muốn khám phá “hạt giống Lời Chúa” nơi các tôn giáo khác. Tuy nhiên, đối thoại không thể thay thế cho sứ vụ rao giảng Tin mừng của Giáo Hội, vì đối thoại liên tôn là một phần của sứ vụ Giáo Hội. Đối thoại là con đường hiểu biết lẫn nhau và làm phong phú lẫn nhau. Đối thoại và sứ vụ rao giảng Tin mừng liên hệ mật thiết với nhau nhưng không hoán vị nhau. 

– Là nhà thần học lỗi lạc của thế kỷ và cũng là Giáo Hoàng của Giáo Hội Công Giáo, Đức Bênêđíctô XVI (2005-2013) “không tin rằng hằng triệu triệu sinh linh bị luận phạt đời đời do một Thiên Chúa tình yêu chỉ vì cũng một Thiên Chúa tình yêu và toàn năng đã an bài cho họ được sinh ra tại những quốc gia mà ở đó không phải là Kitô Giáo.” (He can’t believe that untold millions are being tormented forever by a loving God just because the same loving and omnipotent God arranged for them to be born in countries that are not Christian). 9

Trong buổi triều yết chung, ngày 30 tháng 11, 2005, nhận định về bài suy niệm của Thánh Augustine (354-430), ngài đã nói: “Bất cứ những ai tìm kiếm sự bình an và thiện hảo của tôn giáo với một lương tâm tinh tuyền, và tuân giữ sống động ước muốn về sự hoàn thiện, sẽ được cứu độ mặc dù họ thiếu hiểu biết về niềm tin của Thánh Kinh.” Whoever seeks peace and the good of the community with a pure conscience, and keeps alive the desire for the transcendent, will be saved even if he lacks biblical faith, says Benedict XVI. 10     

– Sau cùng là Đức Giáo Hoàng Phanxicô (2013 – ) đang điều khiển Giáo Hội. Ngài không ngừng hô hào, cổ võ đối thoại, hiệp thông với các tôn giáo, kể cả Hồi Giáo.

Hiện ngài còn hướng đến việc đối thoại và hiệp thông với cả những giám mục quốc doanh, với giáo hội quốc doanh Trung Hoa nữa. Điều này đang nổi lên những phê bình, những quan tâm từ phía các giáo phẩm, những nhà chuyên môn, những chính khách lỗi lạc, cũng như những trí thức Công Giáo.   

Tóm lại, có thể kết luận: “Giáo Hội là phương tiện mang lại ơn cứu độ cho nhân loại theo như dự án của Thiên Chúa. Chỉ có một lịch sử là lịch sử cứu độ, qua lịch sử này, Thiên Chúa mạc khải dần dần chương trình cứu độ của Người. Đỉnh cao của lịch sử, ơn cứu độ tuyệt đối và mạc khải là chính Đức Giêsu Kitô.” 11

Tuy nhiên, bên cạnh đạo Công Giáo, vẫn có những con đường khác mở ra cho những ai đang nỗ lực tìm kiếm cho mình một lối đi an toàn dẫn đến gặp gỡ Thiên Chúa.    

4. “Ta là đường, là sự thật, và là sự sống” (Gioan 14:6). 

Giải thích cho thiếu phụ Samarita bên bờ giếng Giacob về tôn giáo, và cách thức thể hiện niềm tin, Chúa Giêsu đã nói với chị: “Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Gioan 4:23-24).  

Chúng ta chỉ có thể tìm được thần khí ấy, sự thật ấy nơi Đấng đã tự xưng: “Ta là đường, là sự thật, và là sự sống” (Gioan 14:6).

Do đó, cũng trong niềm tin vào Thiên Chúa, dưới ánh sáng thần linh của Ngài khởi dẫn, nếu như ai đó phát hiện, nhận ra niềm xác tín của mình qua đức tin Công Giáo, đòi hỏi họ phải suy niệm, phải sống, và thực hành theo đúng ý nghĩa là một tôn giáo.

Tóm lại, khi chưa biết Thiên Chúa, chưa nghe về Ngài, và chưa được học hỏi về Ngài, người ta có thể tìm kiếm, thay đổi, hoặc tin theo đạo này, đạo khác.

Nhưng khi lời mặc khải đã đến, và khi đã tìm được Ngài, thì không có lý do gì để cho phép chúng ta chọn lựa và hành động như người không có niềm tin.  

Mátthêu đã ghi lại sự chọn lựa cuối cùng của chúng ta trên con đường đi tìm chân lý.  Thánh sử viết: “Nước Trời cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quí, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy”. (Mat 13: 45-46)

________

Tài liệu tra cứu:

1.Lesson 1 from the Baltimore Cathechism

2.Công bố Nến Phục Sinh

3.“Presentazione dell’Annuario Pontificio 2018 e dell’ “Annuarium Statisticum Ecclesiae” 2016″ (in Italian). Sala Stampa della Santa Sede. 13 June 2018. Retrieved 13 June 2018.

4.Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng số 45

5.Nostra Aetate số 11

6.Lumen Gentium số 17

7.Evangelii Nuntiandi 53  

8.Redemptoris Missio số 10

9.Andrew Brown, “If a former pope says non-Catholics can go to heaven, why be Catholic?”, THE GUARDIAN. Tue 22 Mar 2016 09.46 EDT Last modified on Wed 23 Mar 2016 04.09 EDT

  1. VATICAN CITY , NOV. 30, 2005 (Zenit.org)

11.Nguồn tin: Học Viện Đaminh

 Lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời

15 tháng 8 năm 2018

From: Tamlinhvaodoi