CẦU NGUYỆN – HƠI THỞ CỦA ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

CẦU NGUYỆN – HƠI THỞ CỦA ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

 Cuộc sống luôn đặt con người vào những suy tư bất tận về ý nghĩa cuộc đời và các mối tương quan.  Những tâm tư sâu thẳm của con người, những vấn nạn gai góc cuộc đời, những trăn trở bế tắc về cuộc sống thường đưa đẩy người ta đến một hành vi đặc thù, điều mà người ta quen gọi là “cầu nguyện”.  Phải chăng cầu nguyện giúp họ giải quyết được tất cả những gì người ta cần?  Một tác giả thiêng liêng sau những trải nghiệm của mình về đời sống nội tâm đã phải thừa nhận rằng “Cầu nguyện là nhịp cầu nối kết cuộc sống vô thức với cuộc sống ý thức.  Cầu nguyện liên kết tâm trí ta với tâm hồn ta, ý chí với những đam mê của ta, khối óc với cái bụng ta.”[1]  Quả thế, cầu nguyện thực sự đưa ta đến một cảnh vực sâu xa hơn, là sống tương quan với Thượng Đế.  Kitô giáo mang trong mình mạc khải tuyệt hảo về cầu nguyện: sống tương quan thiết thân với Thiên Chúa.

Người ta thật khó có thể tìm ra một tôn giáo nào mà cầu nguyện không đóng một vai trò gì trong đời sống của họ.  Cầu nguyện được coi là mối dây liên kết giữa họ và Đấng Siêu Việt mà họ đang hướng tới.  Đối với người Kitô hữu, đời sống cầu nguyện được ví như hơi thở của cuộc sống hay là dòng máu chuyển lưu trong cơ thể.  Cầu nguyện là cách thế để hiện thực hoá tất cả chân lý đức tin đầy phong phú mà họ được lãnh nhận.  Sống trong tâm tình cầu nguyện là sống mật thiết với Thiên Chúa và được lớn lên trong tương quan với Người.  Vì thế, cầu nguyện không chỉ dừng lại ở nơi mình nhưng còn trải rộng mình ra với mọi chiều kích, mọi mối tương quan của cuộc sống.  Tương quan cốt yếu là với Thiên Chúa, Đấng đã thông chia cho con người tất cả và mời gọi họ đi vào mầu nhiệm của chính Người.  Dĩ nhiên, tác giả thiêng liêng đã dẫn trên đây không dừng lại ở khía cạnh tâm lý đơn thuần của con người, dẫu rằng đời sống con người nói chung và tinh thần của con người nói riêng gắn liền với niềm tin tôn giáo.  Quả thế: “Cầu nguyện là cách để cho Thần Khí trao ban sự sống xuyên thấu mọi ngóc ngách của hữu thể ta.  Cầu nguyện là công cụ Thiên Chúa dùng để làm cho ta nên toàn diện, hợp nhất và bình an.”  Như vậy, vai trò cầu nguyện là điều không còn bàn cãi.

“Địa hạt” của đời sống cầu nguyện là gì?  Đây là những câu hỏi thường nảy sinh trong những người đi vào đời sống cầu nguyện.  Lẽ thường, người ta đến với Thiên Chúa để nài xin những điều thuộc nhu cầu hiện tại của mình.  Nhưng vấn đề đặt ra là có hay không việc chúng ta đã quá thực dụng trong đời sống cầu nguyện?  Ít nhiều điều này gây nên bối rối khi ta đến với Thiên Chúa.  Dĩ nhiên, những điều rất thiết yếu đối với cuộc sống của họ là phần nào nói lên sự cậy dựa vào Thiên Chúa.  Nhưng nếu bản chất cầu nguyện là một sự thông truyền bản tính của Thiên Chúa cho ta, thì hành vi cầu nguyện cũng phải xuất phát từ chính con tim khát khao Ngài để trở nên giống Ngài.  Và vì thế, khi đi vào tương quan với Chúa trong cầu nguyện, những điều mà ta ao ước cũng nên thiện hảo hơn vì nhu cầu của ta liên kết với sự lôi cuốn của Người.  Vươn lên cùng Thiên Chúa trong cầu nguyện giúp kéo ta ra khỏi những bận tâm về chính mình, khuyến khích ta rời bỏ vùng đất quen thuộc, thách thức ta bước vào một thế giới mới, thế giới không thể bị gồm tóm trong những ranh giới nhỏ bé của tâm trí và tâm hồn ta.  Vì vậy, cầu nguyện, một mặt, là một cuộc phiêu lưu trong Thế giới của Thiên Chúa rộng lớn bát ngát vô tận, đầy thú vị và mới mẻ đang chờ đợi ta khám phá.  Chính trong sự kết hợp thâm sâu với Người, ta không chỉ được mạc khải để biết thêm về Thiên Chúa nhưng về chính mình nữa.  Mặc khác, bước vào một vùng đất rộng hơn với những trải nghiệm mới có nghĩa là đi vào mối tương quan sâu xa với Thiên Chúa với con người mới.  Khi đấy, việc cầu nguyện của ta cũng trở nên phong phú và dồi dào hơn.  Như vậy, “địa hạt” của cầu nguyện hay giới hạn của việc cầu xin không còn dừng lại ở những nhu cầu riêng ta nữa, nhưng trải rộng ra mọi chiều kích, mọi mối tương quan và mọi nhu cầu thiết thực khác.  “Địa hạt” của đời sống cầu nguyện sẽ là không biên giới.

Ở lại trong Đức Giêsu, đó là tất cả ý nghĩa của việc cầu nguyện (x. Ga 15).  Khẳng định này khởi đi từ kinh nghiệm kết hợp mật thiết với con người Đức Giêsu và cầu xin Người với bản tính Thiên Chúa hiện diện.  Lời cầu nguyện đích thực bao giờ cũng ôm trọn thế giới này chứ không phải chỉ nơi ta đang sống.  Quả vậy, hàng ngày chúng ta đối diện với biết bao những vấn đề mang tính nhân sinh mà thường là những nan đề (khủng bố, bất công…).  Tuy nhiên, chúng sẽ trở nên vô cùng nặng nề nếu như ta chỉ tìm sự an toàn cho mình mà không để cho Đức Kitô đi vào trong đó.  Cơ sở của điều này chính là sự nhập thể và nhập thế của Đức Giêsu – Con Thiên Chúa một cách trọn vẹn.  Người đã trải qua kiếp sống nhân sinh với những quy luật của một con người vì thế, Người đồng cảm với từng người và với những ưu tư trong cuộc sống.  Như vậy, cầu nguyện là kết hợp đời sống của mình với đời sống và giáo huấn của Đức Giêsu, chính là việc đi vào tương quan mật thiết với Thiên Chúa là Cha.  Vì Đức Giêsu một mặt mạc khải cho ta về Cha, mặt khác, Người chia sẻ cho ta kinh nghiệm gặp gỡ và sống tương quan với Người.

Kiếp sống làm người không ai có thể đứng ngoài kinh nghiệm về những ưu tư và trăn trở của cuộc sống hàng ngày trong các mối liên hệ của đời sống.  Sống tương quan với Thiên Chúa trong cầu nguyện có thể không làm giảm đi những khó nhọc thể xác và những vấn nạn của cuộc đời.  Tuy nhiên, sức mạnh vạn năng của cầu nguyện chính là được kết hợp với Thiên Chúa ngang qua tất cả những biến cố, biến những đau khổ và vấn nạn ấy trở nên những trải nghiệm có ý nghĩa trong cuộc đời.  Cầu nguyện giúp ta đi vào những biến cố với tâm thế của lòng cậy trông và tín thác vào Thiên Chúa Quan Phòng, Đấng luôn yêu thương và chăm sóc từng người.  “Địa hạt” của Người không phải giới hạn chỉ trong sự hạn hẹp của những nhu cầu trước mắt, nhưng đi xa hơn; Ngài mời gọi con người kết hiệp với Ngài trong vinh quang thực sự và bình an vĩnh cửu.  Cuộc sống của con người sẽ phong nhiêu là điều mà cầu nguyện (một đời sống thân thiết với Chúa) sẽ hứa hẹn.  Hãy cầu nguyện với cả con người mình, xuất phát từ trái tim chân thành, cởi mở… điều kỳ diệu của cuộc sống sẽ đến.

Joseph Trần Ngọc Huynh S.J

[1] Henry M.Nouwen.

From Langthangchieutim

Tổng thống nước Cộng hòa Croatia: Kollinda Grabar Kitarovics.

Hảo Võ Thị shared a post.
Image may contain: 1 person, smiling
Tran Ngoc Diep

GƯƠNG MẶT CHÍNH KHÁCH

Tổng thống nước Cộng hòa Croatia: Kollinda Grabar Kitarovics.
– Đã bán phi cơ riêng của tổng thống, bán 35 xe Mercedes Benz của văn phòng tổng thống đưa vào ngân sách quốc gia.
– Đã giảm 50% lương của mình và các bộ trưởng.
– Đã giảm 40% lương các đại sứ, các tổng lãnh sự quán.
– Đã xóa quỹ hưu trí dành riêng cho các đại biểu quốc hội.
– Biết và nói 7 ngoại ngữ và sống bình dị như tất cả mọi người.
– Từ khi bà giữ chức tổng thống, GDP của Croatia tăng 24%.
Một nữ chính khách xinh đẹp, trẻ trung, thông minh tài giỏi, tận tụy như một bà nội trợ hoàn hảo của chính Tổ quốc mình.
Ngưỡng mộ.

Về tính nhân văn

Giáo dục con người kiểu vô tôn giáo của cộng sản, chết là hết,  cho nên:
Thiếu vắng đời sống tâm linh, đời sống nội tâm của con người bị khô cằn, con người trở nên tham lam, vị kỷ, tàn bạo
David Le
Thấy bài viết này quá hay nên David Lee mạo mụội đăng lại lên đây cho các bạn đọc và tham khảo. Tuy bài này được đăng đã lâu, nhưng mình nghĩ có nhiều bạn chưa có cơ hội đọc.

18 Tháng 10 2006 – Cập nhật 13h34 GMT
Bài của thính giả Nguyễn Hoàng

Về tính nhân văn

Ông Fujiwara Masahiko, nhà nghiên cứu toán học Nhật, cho rằng trong xã hội, típ người đáng sợ là loại người thông minh nhưng không được giáo dục tính nhân văn [Kokka no Hinlkaku].

Ông đưa ra ví dụ: Đối với những người thiếu sự giáo dục về năng lực tình cảm (EQ) mà tin là mình thông minh thì một khi đã lập luận một vấn đề gì thì người đó hoàn toàn tự tin, thẳng đường mà tiến đến kết luận cuối cùng, không cần biết kết luận này sẽ gây ra những hệ luỵ gì, có ảnh hưởng đến những người xung quanh như thế nào.

Ông Bo Buringham, một nhà báo Mỹ nổi tiếng thì cho rằng không thể truyền thụ sự cảm thông hoặc sự quan tâm đến người khác cho những người không có phẩm chất nhân văn [Small Giant].
Vậy tính nhân văn hay phẩm chất nhân văn là gì? Và làm thế nào để có được phẩm chất này?

Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt, phẩm chất nhân văn là những giá trị và tính chất tốt đẹp thuộc về văn hóa con người trong sự phân biệt với con vật hoặc đồ vật.

Giáo dục hình thành nếp sống

Để có được phẩm chất này, đòi hỏi con người phải được sống và giáo dục trong môi trường hướng thiện, nơi cái tốt, sự tử tế, chu đáo, sự cảm thông trong cư xử với người khác được xã hội đánh giá cao, được xem trọng.
Ở mức độ cao hơn, không chỉ là cách hành xử giữa con người với con người mà còn là cách hành xử của con người với tự nhiên, với môi trường xung quanh.
Sống trong một xã hội xem trọng tính nhân văn thì cách hành xử của con người cũng phần nào được điều chỉnh tốt theo chuẩn mực đạo đức chung.
Nhưng sống trong xã hội mà cái ưu tiên nhất là nhằm bảo vệ hệ thống chính trị, bảo vệ đặc quyền đặc lợi của một tầng lớp nào đó thì việc gíá trị nhân văn bị hạ xuống hàng thứ yếu gần như là điều tất yếu.

Do bản tính vị kỷ, lại hay quên, nên con người nói chung cần được giáo dục, nhắc nhở, rèn luyện thường xuyên mới mong hình thành được nếp sống mang tính nhân văn.

Nếp sống này thể hiện từ những việc nhỏ nhặt nhất như biết quan tâm, nhường nhịn người khác, thấy vui khi làm người khác vui; hay làm việc trong tinh thần tôn trọng lợi ích của người như lợi ích của mình.

Đời sống tâm linh

Hệ thống pháp luật như một tấm khiên nhằm ngăn chặn những hành vi trái chuẩn mực chung của đạo đức, của xã hội, Còn trong vai trò giáo dục, nhắc nhở con người sống tốt, hợp đạo lý, có thể nói tôn giáo là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng đời sống tâm linh cho con người, cái nền tảng của tính nhân văn .

Nhưng ở những đất nước không may rơi vào hệ thống CSCN, với tham vọng muốn kiểm soát tư tưởng con người, bắt nó phát tirển chỉ theo một hướng duy nhất, hướng có lợi cho sự tồn tại của chế độ, Đảng cầm quyền ở các nước cộng sản nỗ lực triệt tiêu mọi ảnh hưởng tôn giáo.

Họ dựng nên một xã hội vô thần, thực chất là muốn thay thế tôn giáo bằng các giáo điều do họ tạo ra, nhằm mục đích quản lý, nhào nặn tư tưởng mọi người theo đúng một cái khuôn đã định sẵn: tất cả vì đặc quyền, đặc lợi của một ý thức hệ duy nhất, ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa.

Sự ngược đãi tôn giáo trước mắt giúp cho nhà cầm quyền cảm thấy được độc quyền trong lĩnh vực tư tưởng. Nhưng tác hại của nó về mặt xã hội, về tính người rất đáng kể.

Thiếu vắng đời sống tâm linh, đời sống nội tâm của con người bị khô cằn, con người trở nên tham lam, vị kỷ, tàn bạo. Khi cái tốt, sự tử tế, chu đáo, sự cảm thông trong ứng xử đối với người khác không được xem trọng, không được giáo dục, thì người ta biết làm gì hơn ngoài việc thủ lợi cho mình và chà đạp người khác.

Thính giả Nguyễn Hoàng viết cho BBCvietnamese.com

Thiên đình náo loạn: Bá ngọ sư ông bé cái nhầm

Thiên đình náo loạn: Bá ngọ sư ông bé cái nhầm

FB J.B Nguyễn Hữu Vinh

Tại Thiên đình, sáng nay 24/9/2018, một nhóm người lố nhố đứng chờ Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Một thanh niên xuất hiện, người quản lý hỏi:

– Anh tên là Trần Đại Quang?

– Vâng.

– Anh là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam?

– Không, tôi là kẻ giết người. Tôi giết con gái người tình già trong vụ việc ở vùng ven Hồ Chí Minh. Xét xử tử hình ngày 3/2/2015, Báo Lao động đã đưa tin các ông không đọc à?

– Vậy sao mày lên được đây? Tội mày phải đày xuống địa ngục cho quỷ xé thịt chứ lên đây được à?

– Vâng, tôi đã bị đày dưới địa ngục, nhưng bỗng dưng hôm qua thấy sạch hết tội lỗi và được đưa lên đây. Tôi hỏi lại thì mới biết có một đám sư hết sức đông đảo cầu siêu cho tôi . Nhờ đám đó mà tôi được siêu thoát đấy. Tôi chưa kịp về cảm ơn họ.

– Đâu có, người ta cầu siêu cho Chủ tịch nước Trần Đại Quang chứ đâu cầu cho mày? Nhố nhăng, mày định gian lận nơi cửa Thiên đình à?

– Thưa không, rõ ràng là họ cầu siêu cho tôi, sư ông còn réo tên tôi cả ngày hôm qua. Đúng tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ mà. Tôi có biết thằng cha chủ tịch nước là thằng nào đâu.

Cả Thiên đình náo loạn, người nọ hỏi người kia, bộ phận lưu trữ tài liệu sổ sách và Nam Tào được kêu đến.

Nam Tào hỏi:

– Mày tên tuổi gì, sinh ngày tháng năm nào?

– Tôi tên Trần Đại Quang, sinh ngày 12/10/1956 tại Hồ Chí Minh. Giết con gái người tình ngày 8.8.2013. Bị xét xử tử hình ngày 3/2/2015 tại Tòa án Hồ Chí Minh.

Nam Tào tra sổ một hồi lâu quay lại bảo:

– Bỏ mẹ, đúng là thằng này rồi, nó sinh ở Hồ Chí Minh, giết người ở Hồ Chí Minh và xử tử ở Hồ Chí Minh. Nó bị đày ở tầng địa ngục thứ 2, không được xét đặc xá.

Hôm qua 500 sư sãi tại Hồ Chí Minh cầu siêu cho Trần Đại Quang sinh ngày 12/10/1956 nên nó thoát tội được lên đây. Đúng nó rồi chứ không ai khác. Vào chỗ đi.

Đám đông nhao nhao hỏi:

– Vậy thì Chủ tịch nước của chúng tôi chờ từ sáng đến giờ đâu?

– Ở đây không có thằng nào là chủ tịch nước nhé. Chủ tịch ở đây gọi là Ngọc Hoàng nhé.

– Nhưng ông ta mới chết hôm 21/9 đây cơ mà. Trần Đại Quang cơ mà? Hôm qua hàng trăm sư sãi cầu siêu cho Chủ tịch cơ mà.

– À, Trần Đại Quang mới chết hôm 21/9 à? Sổ Nam Tào ghi rõ là nó sinh 12/10/1950. Vậy thì hôm qua bọn nó cầu siêu cho thằng kia, nó đúng tên và sinh đúng ngày 12 tháng 10 năm 1956, nó lại ở Hồ Chí Minh nên đám sư Hồ Chí Minh mới cầu siêu cho nó chứ.

Còn Trần Đại Quang sinh năm 1950 kia thì đang ở dưới tầng cuối của địa ngục. Tội của nó thì phải tập trung cả chục sư đoàn sư may ra mới cầu siêu nổi.

Thôi, giải tán, không được tập trung người trái phép nơi công cộng.

Chợt thấy nữ sĩ Hồ Xuân Hương đứng đằng xa ngâm lên câu thơ: Bá ngọ sư ông, bé cái nhầm.

Chỉ vẽ lại bản đồ Thủ Thiêm các quan chức đã chia nhau 12 tỷ USD

Chỉ vẽ lại bản đồ Thủ Thiêm các quan chức đã chia nhau 12 tỷ USD

Một người Pháp kể chuyện gặp một ông VN ở Thụy sĩ. Ông này quê mùa, ăn uống nhồm nhoàm, nói lớn như giữa chợ, trong một khách sạn sang trọng khiến mọi người khó chịu, nhưng khách sạn hết sức chiều chuộng. Vì là khách sộp, uống rượu đắt tiền như uống nước lã. Mua sắm loạn cào cào, thí dụ mua một cái đồng hồ Philippe Patek gần 200 ngàn dollars, như ta mua một ký khoai tây. Anh bạn hỏi: nghe nói VN là một xứ nghèo, tiền bạc đâu ra khủng khiếp như vậy? Rất khó giải thích cho những người bình thường chuyện VN.

Hồi Eltsine nắm quyền, tư hữu hoá nước Nga, bán đổ bán tháo các cơ sở quốc doanh cho bè đảng, người ta kể chuyện một ông mafia đỏ, mua được một khu thương mại, băng qua đường, bán lại cho người khác đang chờ sẵn, với giá gấp 100 lần giá mua. Và mua bằng tiền lèo, do ngân hàng… nhân dân, cũng là phe cánh ký giấy, hứa cho vay. Nghe chuyện, bán tín bán nghi, nghĩ chắc người ta cũng phóng đại đôi chút. Ngày nay, thấy VN còn bỏ xa chuyện làm ăn vặt ở Nga. Đúng là “top” thế giới, như các quan chức vẫn khoe khoang.

Nguyễn Văn Đua bị “tố” là đã ký một quyết định về quy hoạch Thủ Thiêm mà đã vượt quyền khi phủ nhận cả quyết định trước đó của thủ tướng chính phủ. (Hình: Youtube)

Lấy thí dụ Thủ Thiêm. Chỉ cần quen thằng vẽ bản đồ, mua vài mảnh đất (bà Ngân nói dân… hiến đất), hôm trước hôm sau có thể mua vài cái Philippe Patek tặng bạn bè.

Một thước vuông đất xây cất, gọi là đất đô thị, bồi thường 2 triệu đồng, bán giá thị trường 70 triệu, gấp 35 lần giá vốn. Một thước vuông đất nông nghiệp, mua 200 ngàn, bán 28 triệu, gần 150 lần giá vốn. Ngon nhất là được dân thương, “hiến” với giá nông nghiệp, bán với giá đô thị, 350 lần giá vốn.

Để so sánh, bạn để tiền trong quỹ tiết kiệm, mỗi năm lời trên dưới 1%. Đầu tư có thể lời hơn, 5 hay 6,7 % nhưng cũng có thể mất cả chì lẫn chài.

Chỉ vẽ lại bản đồ Thủ Thiêm các quan chức đã chia nhau 12 tỷ USD

Một tờ báo tính chỉ cần vẽ lại bản đồ, các quan chức Thủ Thiêm đã chia nhau 12.000.000.000 (12 tỷ) dollars. Bạn có tưởng tượng nổi 12 tỷ dollars mặt mũi nó như thế nào không? Chỉ tưởng tượng, chúng ta cũng không làm nổi, trong khi họ thực sự chia nhau. Có những người sống ở một thế giới khác với thế giới của người thường. Một xã hội thiên đường như vậy, quả thực rất đáng hy sinh hàng triệu sinh mạng để xây dựng và bảo vệ.

Một cuộc thăm dò cho biết đa số người Pháp không hình dung nổi một triệu Euros nó như thế nào. Nếu thăm dò ở VN, chắc con số đó rút xuống, còn 100 ngàn hay 10 ngàn dollars. Mười hai tỷ…

Tôi loay hoay tính mãi chưa ra: 12 tỷ dollars mua được bao nhiêu cái đồng hồ Philippe Patek. Chưa nói tới sửa được bao nhiêu cái trường học chuồng bò, mua được bao nhiêu sợi dây cho các cháu lội qua sông đi học.

(Nguồn FB Từ Thức)

LĂNG TẨM LÀM GÌ KHI BẢN THÂN LÀM TOÀN NHỮNG ĐIỀU Ô DANH?

LĂNG TẨM LÀM GÌ KHI BẢN THÂN LÀM TOÀN NHỮNG ĐIỀU Ô DANH?

Phong kiến là gì? Phong là phong tước, kiến là kiến địa. Từ phong kiến xuất phát từ đó. Thời kì sơ khai của xã hội loài người, khi một ông vua khai quốc lên ngôi, ông ta sẽ phong tước cho con cháu dòng họ và công thần. Đi kèm với phong tước sẽ là việc chia chác đất đai cho những người ấy, điều này người ta gọi là “phân phong”.

Việc chia chác này xem như mỗi người được phong sẽ là vua trên vùng đất của mình. Chính việc phân phong đó mà quyền lực của vua ở trung ương bị mất dần qua nhiều đời sau. Thế là một quốc gia to lớn và hùng mạnh ban đầu trở thành những quốc gia nhỏ và chúng đánh nhau liên miên. Thời kì nhà Chu trước Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa cổ đại là dạng nhà nước đó – nhà nước phong kiến phân quyền cát cứ. Loại phong kiến này đã đưa đất nước Trung Hoa bị xé nát thành từng mảnh nhỏ và kéo theo đó chiến tranh xâm chiếm suốt thời Xuân Thu – Chiến Quốc kéo dài hơn 500 năm.

Doanh Chính – Tần Thủy Hoàng là một ông vua nước Tần, chỉ là một nuớc trong rất nhiều nước thời Chiến Quốc. Ông ta có tài quân sự, đã đưa nước Tần thành một quốc gia thống nhất Trung Quốc kết thúc thời Chiến Quốc đầy chiến tranh loạn lạc. Đấy là công lớn đầu tiên của ông ta. Nhưng đó chưa phải là công lao to lớn duy nhất, ông ta còn có công xoá bỏ phong kiến phân quyền cát cứ thời Xuân Thu – Chiến Quốc và lập nên phong kiến tập quyền về sau. Thời ông chỉ có phong tước mà không kiến địa cho công thần và con cháu dòng họ. Tất cả không ai là vua con ở lãnh địa của mình, mà chỉ là thay vua quản một khu vực địa lý. Vua có thể bổ quan đi bất cứ nơi đâu chứ không phải quan là lãnh chúa ở một chỗ làm vua con như thời phong kiến phân quyền.

Từ chỗ xoá phong kiến phân quyền thiết lập phong kiến tập quyền, nước Trung Hoa mạnh lên và bắt đầu đi xâm chiếm lân bang để mở rộng bờ cõi thành nước Trung Hoa rộng lớn như hôm nay.

Tần Thủy Hoàng công lao lớn thế, nhưng ông ta rất tàn bạo. Bắt dân xây Vạn Lý Trường Thành và rất nhiều trong họ phải chết vì lao lực. Ông cũng nổi tiếng đốt sách và chôn sống những nho sĩ đương thời. Và người đời sau chỉ nhớ đến Tần Thủy Hoàng như ông vua bạo chúa mà quên đi công lao to lớn của ông ta. Mua danh ba vạn bán danh ba đồng, gây tiếng thơm cho hậu thế quả thật không dễ.

Sau nhà Tần sụp đổ, Trung Hoa loạn thời gian ngắn thì triều đại nhà Hán thay thế. Hán Cao Tổ – Lưu Bang cho xây dựng nhà nước Trung Hoa theo mô hình phong kiến tập quyền do Tần Thủy Hoàng sáng lập. Nhờ mô hình này mà nhà Hán tồn tại và phát triển hơn 400 năm (206TCN-220CN) đến thời Tam Quốc mới kết thúc. Thời cực thịnh, nhà Hán đã mở rộng và sáp nhập rất nhiều lãnh thổ về cho Trung Hoa, đến nỗi dân tộc Trung Hoa tự nhận mình là người Hán. Và tư tưởng đại Hán cũng từ đó mà hình thành. Tính đến nay, tư tưởng Đại Hán đã thấm vào dân tộc này hơn 2000 năm, nó cùng với hệ tư tưởng Khổng Giáo là thứ gần như không thể xoá được với người Trung Hoa. Ngày nay, hệ tư tưởng đó sẽ trói dân tộc Trung Hoa khó theo kịp văn minh và nó cũng là mối nguy cho khu vực.

Quay trở lại con người của Doanh Chính – Tần Thủy Hoàng. Rõ ràng ông ta là một tài năng kiệt xuất, vì bạo tàn xem thường mạng dân nên mọi công lao to lớn ấy bị người đời xem nhẹ. Và những thứ đó được Lưu Bang hưởng trọn. Cho dù ông ta – Tần Thủy Hoàng có cho xây lăng tẩm vĩ đại để mong người đời sau ghi nhớ công lao. Nhưng không! Người đời sau chỉ nhớ đến sự bạo tàn của ông ta mà thôi. Đó là lẽ thường.

Đấy là nói đến Tần Thủy Hoàng, người đầu tiên thống nhất Trung Hoa và xoá bỏ phong kiến phân quyền. Còn lãnh tụ CS thì sao? Chỉ là kẻ mang chủ thuyết lạc hậu để áp vào đất nước chả có công gì mà chỉ là tội đồ. Để mất một phần chủ quyền về tay ngoại bang làm lãnh thổ mà tổ tiên để lại bị thu hẹp. Gây chiến tranh tương tàn đẫm máu làm chết từ 2 – 4 triệu đồng bào cũng là tội ác. Một chế độ cai trị sau 1975 dù không chiến tranh nhưng rất hà khắc với nhân dân, ý đồ giáo dục ngu dân để trị, và liên tục nhượng lãnh thổ cho giặc. Duy trì sự đói nghèo và thù hằn những người đòi hỏi cải tổ chính trị cũng là điều đáng nguyền rủa. Như vậy có xây lăng tẩm to đùng thì thì dân cũng phỉ nhổ mà thôi. Đến đại công như Tần Thủy Hoàng còn không cứu nổi ô danh chứ đừng nói chẳng có công gì cho đất nước như mấy lãnh đạo CS.

Vua thời nay làm lăng mộ giữa cánh đồng lại còn to gấp 11 lần thời phong kiến

Thuong Phan and Ngo Trinh shared a post.
No automatic alt text available.
Image may contain: outdoor and nature

Hao Nguyen Dinh

“Theo một cán bộ xã Quang Thiện, khu vực dự kiến an táng thi hài cố Chủ tịch Trần Đại Quang trước đây là cánh đồng lúa của người dân nhưng đã được hợp thửa sau đó san ủi, đổ đất đá làm nền và trồng cây xanh từ mấy năm trước. Giáp với khu nghĩa trang này có một dòng sông nông giang nhỏ, nước trong xanh. Hai bờ sông (dài khoảng hơn 500 m) đã được kè đá hộc và làm ba cây cầu đá kiên cố bắc qua. Các tuyến đường gom bao quanh khu đất đều trải nhựa, lát vỉa hè bằng đá xanh. — Trích từ VN.Express.
— Với chiều dài là 500m,
— Chiều rộng bằng 1/4 chiều dài ( theo hình ảnh) sẽ là 125m.
— Diện tích khu lăng mộ là 62.000m2. Tức là 6.2 héc ta.( hình trên) Rộng gấp 11 lần diện tích lăng Khải Định là : 5.674m2.(hình dưới)
– Vua thời xưa lên tận núi làm lăng.
– Vua thời nay làm lăng mộ giữa cánh đồng lại còn to gấp 11 lần thời phong kiến

ĐỢI NƯỚC LŨ ĐẾN CHÂN, NHẢY SAO KỊP?

ĐỢI NƯỚC LŨ ĐẾN CHÂN, NHẢY SAO KỊP?

Đại ca Mẽo là người tử tế, sức mạnh toàn điện. Đại ca Chệch là tên lưu manh chuyên nghiệp, và cũng là một tay mới nổi. Thằng nhóc Việt luôn nịnh nọt đại ca Chệch nhằm tìm kiếm chỗ dựa. Đại ca Mẽo thấy nhóc Việt nghèo khó nên ưu ái. Nhưng Việt không biết trân trọng, hắn ngu ngốc nghe lời thằng lưu manh Chệch cầm dao găm thọc sườn Mẽo. Vì có võ, Mẽo phát hiện bợp tai Việt một cái cảnh cáo và đấm thằng lưu manh Chệch một phát trời giáng. Giờ tìm đâu ra sự ưu ái của Mẽo nữa hả Việt?

Đã bao nhiêu năm, Việt Nam đã buông lỏng cho doanh nghiệp Trung Cộng vào với rất nhiều ưu ái. Với dự án gọi thầu quốc tế vốn ngân sách Tàu trúng thầu đến trên 90% gói thầu EPC (thiết kế, cung cấp thiết bị, vật tư xây lắp). Điều này có nghĩa là những gói thầu công nghiệp, Trung Quốc đã trúng đến trên 90%. Như thế thì xem như nền sản xuất Việt Nam là bãi rác cho Tàu. Rất nhiều nhà máy, xí nghiệp vừa được xây lắp xong thì đắp chiếu chờ bán sắt vụn, bởi vì khâu lập dự án bọn họ không tính tới hiệu quả kinh tế mà chỉ tính đến phần lại quả để chia chác nên rước các cục nợ này về. Điều này làm cho ngân sách cạn kiệt, chính phủ tăng thuế dân bù vào cái hoang phí có tính phá hoại của đám làm kinh tế nhà nước. Đấy là hậu quả của vấn đề lệ thuộc kinh tế Trung Cộng theo định hướng chính trị của BCT.

Đã vậy, các doanh nghiệp Trung Quốc còn mượn đường Việt Nam để đi đường vòng xuất khẩu sang Mỹ tìm kiếm ưu đãi thuế. Nhưng Mỹ là Mỹ, một cường quốc kinh tế số 1 thế giới sao để nhóc con Việt Nam qua mặt? Thế là Mỹ áp thuế cao cho tất cả các mặt hàng mà họ nghi Trung Quốc mượn đường Việt Nam vào Mỹ. Điều này thể hiện một đường lối dại dột của thằng láu cá Việt Cộng. Một sự yếu kém trong quản lý vĩ mô của chính phủ ông Phúc. Kết quả, tất cả các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất mặt hàng cùng loại đều bị hoạ lây. Thế đường vào Mỹ ngày một khó khăn. Như vậy kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ có nguy cơ tóp lại làm giảm nguồn ngoại tệ chảy về Việt Nam. Điều nay kéo theo nhiều hệ lụy khác mà chính phủ bắt dân phải gánh.

Còn làm ăn với Trung Quốc được lợi gì? Có thể người Việt được hưởng hàng hóa rẻ bèo. Nhưng trong cái rẻ bèo ấy không có lợi. Vì sao?

Như ta biết, hàng công nghiệp của Tàu đã được chứng minh là xài không kinh tế. Chiếc xe Tàu mua thì rẻ, nhưng đi không an toàn, và tổng chi phí sửa chữa hết vòng đời sản phẩm có khi cao hơn xe Nhật cùng loại. Còn máy móc công nghiệp Tàu thì khỏi nói, Việt Nam nhận quả đắng rất nhiều. Cái rẻ bèo là cái nhìn thấy trước mắt, hậu quả về sau rất nặng nề. Như vậy, sự làm ăn với Trung Quốc cứ mở toang cho họ vào mà không dùng rào cản thuế hoặc các tiêu chuẩn khắc khe, sự quản lý chặc chẽ để chặn phần rác rến lại thì Việt Nam chẳng có lợi gì cả. Hãy buộc hàng Trung Cộng đúng tiêu chuẩn thì mới cho nhập vào và không được thả nổi. Việc này sẽ không khả thi, vì BCT đã chỉ đạo mở toang thì chính phủ cũng bó tay thôi.

Nói về hàng nông sản thì ngoài giá rẻ bèo, người Việt được gì? Chẳng được gì cả. Nông nghiệp nước nhà bị khốn khổ, kéo theo ngày càng phụ thuộc hàng Tàu. Khi nông nghiệp Việt không sống nổi trên đất Việt thì điều gì xảy ra? Việt Nam lại thành bãi rác tiêu thụ nông sản kém chất lượng và độc hại của Tàu mà thôi.

Chơi với Trung Cộng, không tự khắc khe thì hậu quả sẽ khó lường. Cho Tàu mượn đường xuất sang Mỹ thì bị Mỹ phạt, mở toang cửa cho Tàu thì Việt Nam cũng chết, nó giết cả công nghiệp và nông nghiệp Việt. Vậy nên, đứng giữa cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ mấy ông phải làm gì? Đã quá muộn rồi. Lẽ ra mấy ông nên chơi sòng phẳng với Tàu từ lâu thì nay không bị kẹt như vậy. Còn bây giờ không khéo, thằng Mỹ nó bợp tai thêm mấy cái vì dại dột làm tay sai cho Tàu thì hết đường gỡ. Giờ này mới nói đã muộn rồi anh Niểng.

Image may contain: 1 person

Cho đi là nhận lại.

 Cho đi là nhận lại.

Để thấy cuộc sống trên trần gian này tràn đầy ý nghĩa cao đẹp tình người, mỗi khi bạn có cơ hội được phục vụ tha nhân vô vụ lợi, bạn sẽ nhận lại nhiều được hơn những gì bạn đã cho đi. 

Câu chuyện bắt đầu từ một người nông dân nghèo tên Fleming ở Scotland. Một ngày nọ ông đang làm việc để nuôi gia đình thì bỗng nghe tiếng kêu cứu từ cái đầm lầy gần đó. Ông vội chạy đến nơi thì nhìn thấy một cậu bé bị sa lầy trong ao, sình ngập đến đầu. Cậu bé đang giãy giụa gào khóc. Người nông dân liền lập tức cứu cậu bé lên bờ.

Hôm sau, một cỗ xe sang trọng đi tới căn lều của Fleming. Một người đàn ông ăn mặc sang trọng bước ra, tự giới thiệu mình là Randolph Henry Spencer Churchill, cha của cậu bé được ông cứu sống ngày hôm qua.

Ông ta nói: “Tôi đến để cảm ơn và hậu tạ anh đã cứu mạng con trai tôi!”

Ông Fleming đáp: “Không có chi. Đây là chuyện nên làm và ông không cần phải hậu tạ, thưởng công. Tôi quyết không nhận đâu.”

Ngay lúc đó, cậu con trai khoảng 10 tuổi của Fleming bước vào lều. 

Ông nhà giàu hỏi: “Đây là con trai anh phải không?”.  “Vâng.”  Ông Fleming trả lời đầy vẻ tự hào.

Nhà quý tộc ân cần hỏi cậu bé: “Khi lớn lên, cháu muốn làm gì?” Cậu bé nhỏ nhẹ thưa: “Thưa ông, chắc cháu sẽ tiếp tục nghề làm ruộng của cha cháu.” Nhà quý tộc lại gặng hỏi: “Thế cháu không còn ước mơ nào lớn hơn nữa sao?”

Cậu bé im lặng cúi đầu một lúc rồi mới trả lời: “Dạ thưa ông, nhà cháu nghèo thế này thì cháu còn biết ước mơ điều gì nữa đây?”

Lại tiếp tục một câu hỏi chân tình: “Nhưng bác muốn biết, nếu cháu được phép mơ ước thì cháu sẽ ước mơ điều gì”

Và lần này cũng lại là một câu trả lời thật thà:  “Thưa ông, cháu muốn được đi học, cháu muốn trở thành một bác sĩ!”

Vậy thì cho phép tôi đề nghị như thế này anh Fleming: “Hãy để tôi chu cấp việc học cho con trai anh hệt như tôi đã lo cho con trai mình. Nếu con trai anh mà giống tính cha nó thì tôi tin rằng ngày sau này cậu ấy sẽ trở thành một người mà cả hai chúng ta đều hãnh diện.”

Ông Fleming nhà nghèo nghe vậy thì đồng ý.

Thế là từ đó cậu con trai của Fleming được theo học tại những trường danh tiếng và tốt nghiệp đại học Y khoa Stainte-Marie ở London. Nhờ có hoài bão lớn lao, không ngừng phấn đấu, cuối cùng tài năng của cậu cũng được cả thế giới công nhận. 

Cậu chính là bác sĩ lừng danh Alexander Fleming. 

Vào năm 1927, bác sĩ Alexander Fleming sáng chế ra thuốc kháng sinh Penicillin cứu mạng được không biết bao nhiêu người trên thế giới. Năm 1945, ông được trao giải Nobel về y học.

Vài năm sau, người con trai của ông được cứu sống khỏi đầm lầy ngày xưa bị bệnh viêm phổi. May nhờ  thuốc Pénicillin này đã cứu cậu thoát chết. Tên cậu là Winston Churchill. Sau này cậu trở thành một vĩ nhân, là người mà cả nước Anh đều tự hào và hãnh diện. Đó chính là Thủ tướng trứ danh của nước Anh — Thủ Tướng Winston Churchill.

Điều thú vị là Ngài Winston Churchill và bác sĩ tài danh Alexander Fleming là đôi bạn rất thân của nhau trong suốt cuộc đời. 

Bác sĩ Alexander Fleming mất năm 1955 tại London ở tuổi 74 và Thủ tướng Winston Churchill mất năm 1965 ở tuổi 91 tại London. Cả hai ông đều yên nghỉ trong cùng một nghĩa trang.

Điều này chứng minh rằng hành thiện nhất định sẽ gặp thiện báo. Tất cả những gì ta cho ra đều sẽ được nhận lại; những gì bạn đã cho, tặng cho người khác bằng cả trái tim thì nhất định sẽ không mất. 

S.T. 

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Có Những Sự Thật Không Cãi Được 

5 hrs

No automatic alt text available.
No automatic alt text available.
Image may contain: 2 people, people smiling, text
Image may contain: 2 people
Image may contain: 1 person, eyeglasses and text

Van H Pham

Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đau lòng, đừng mang ảo tưởng quê hương giàu đẹp, văn minh, trí tuệ, có ai đụng vào thì giãy lên như đỉa phải vôi, kêu la là “chống phá tổ quốc, tay sai ngoại bang, thù nghịch với nhân dân !”
**************

Có Những Sự Thật Không Cãi Được 

Tạp ghi Huy Phương

Càng sống lâu trong xã hội chủ nghĩa, con người càng thiếu đạo đức.

“Trăm năm trồng người…”

Một bản tin ngắn, rất tầm thường ở Việt Nam, không chắc làm cho bạn quan tâm, đau lòng, đó là bản tin từ Hà Nội, cho biết nạn bẻ kính chiếu hậu xe hơi bắt đầu tràn lan. Chỉ với một chiếc Porsch Panamera giá $200,000 đã được quân gian chiếu cố, chỉ trong hai năm, đã bị bẻ kính bảy lần. Ngay một sinh viên trường Cao Đẳng Văn Hóa-Thể Thao Hà Nội, Đặng Huy Việt, trước đây cũng từng là thủ phạm loại ăn cắp vặt này. Theo tôi, trong cái thời buổi tệ mạt này, rõ ràng là chuyện “trăm năm trồng người” đã có kết quả hay hậu quả đau lòng.

“Trăm năm trồng người…”

Một trong những “ranh ngôn” của Hồ Chí Minh được CSVN ca tụng nhất là câu: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người,” nhưng trẻ em“quàng khăn đỏ” ít đứa nào biết tới ông Quản Trọng bên Tàu là tác giả chính hiệu danh ngôn này, đã bị “bác” bứng nguyên cây về trồng trong vườn nhà“bác.”

Câu này lấy từ ý của Quản Trọng trong sách Quản Tử, nguyên văn là: “Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc, thập niên chi kế, mạc như thụ mộc, chung thân chi kế, mạc như thụ nhân.” (Kế sách cho một năm, lấy việc trồng lúa làm đầu; kế sách cho mười năm, lấy việc trồng cây làm đầu; kế sách cho trăm năm, lấy việc trồng người làm đầu).

Những gì “bác” đã gieo giống, chăm sóc, tưới nước bón phân, ngày nay rõ ràng là đã có kết quả. Sách Minh Tâm Bảo Giám, chương Kế Thiện, có câu: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. (Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu). Không ai gieo hạt chanh chua mà lại hái được giống cam ngọt, nói đơn giản, gieo nhân nào thì gặt quả nấy! Hạt giống độc địa ấy từ ngày được Hồ Chí Minh mang về gieo trong khu vườn nhà đã như là “loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh; là loài trùng độc, sinh sôi nảy nở trên rác rưới của cuộc đời” như câu nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Tây Tạng, khi nhận xét về chủ nghĩa cộng sản.

Sau ngày cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, nơi Bắc Việt gọi là vùng tạm chiếm, tệ nạn xã hội càng ngày càng gia tăng, làm băng hoại đạo đức xã hội, luân thường đạo lý, như những chuyện băng đảng nhóm xã hội đen, cướp của giết người, mại dâm, ma túy, cờ bạc, hiếp dâm trẻ em, loạn luân, lừa gạt, chiếm đoạt tài sản.

Lúc đầu, nói về tình hình trật tự xã hội, đề cập đến những điều xấu xa đầy rẫy này, đảng cộng sản tránh né trách nhiệm, đổ lỗi cho đó là hậu quả, tàn dư của chế độ cũ để lại, chỉ đích danh là Mỹ, Ngụy, nhưng rõ ràng là sau hơn 39 năm “làm chủ” đất nước, thực tế ngày nay không thể còn đổ lỗi cho ai. Sau nữa là cả nước từ 60 năm nay, dưới sự cai trị của đảng, do chủ trương của đảng, là “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!” Vậy thì những gì được ghi nhận hôm nay là thành quả chiếu sáng từ tấm gương ấy, đó là chân lý, mà chân lý này không bao giờ thay đổi. Không ai dám hỏi Hồ Chí Minh thực sự có đạo đức hay không, và cả đất nước mù quáng tin theo những gì đảng nhồi nhét từ những đứa trẻ, làm đông đặc đầu óc thanh niên, bắt người ta tin vào những chuyện không có thật.

Hậu quả là ngày nay cả nước nói dối như cuội.
Hậu quả là ngày nay cả nước ai cũng gian dối để sống.
Hậu quả là ngày nay, lý tưởng của cuộc sống là đồng tiền.

-Ở xã hội ấy cái gì cũng mua được bằng tiền, cái gì cũng được đem bán, và người ta sẵn sàng bán đi cả những gì quý nhất.

– Ở xã hội ấy, người ta không biết hổ thẹn vì nhân cách, nhưng cảm thấy hổ thẹn khi thua sút những người chung quanh vì cái nhà, cái xe, cái điện thoại, cái xách tay…

– Ở xã hội ấy, ai cũng muốn bỏ đi, những ai còn ở lại vì không đi được, hay đang còn kiếm tiền để chuẩn bị đi hay lo cho những người đã đi.

– Con người là vốn quý như ai đó đã từng nói, nhưng một mạng người không đáng giá bằng một con chó!

– Con người là vốn quý, nhưng người ta coi rẻ sinh mạng của nhau, cầm dao giết nhau chỉ vì một cái nhìn, một chuyện tranh cãi hay để cướp đoạt tài sản của người khác.

– Con người là vốn quý, nhưng công an, thế lực của chế độ, sẵn sàng đánh chết dân vì dân không chịu nhận tội mình không làm.

– Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người, nhưng người vá xe sẵn sàng rải đinh trên đường để cho tiệm mình đông khách, thêm lợi nhuận.

-Xã hội chủ trương mình sống vì mọi người nhưng bọn phục vụ cho dân, ăn gian, làm dối, sống chết mặc bay.

– Cộng sản đã từng ca tụng: “Chủ Nghĩa Xã Hội là đỉnh cao trí tuệ loài người!” Hà Nội là lương tri của nhân loại! Báo Quân Đội Nhân Dân đã ca tụng “đỉnh cao của khí phách và trí tuệ Việt Nam,”nhưng ngày nay nhân dân Việt Nam đi đến đâu đều được mọi quốc gia có những cái nhìn thiếu thiện cảm.

Nhật, Thái Lan, Nam Hàn, Singapore… kết án người Việt trộm cắp, ăn tham, xả rác, bán dâm… khiến hình ảnh Việt Nam đang dần trở nên xấu xa. Cả nhân viên nhà nước cũng buôn lậu, ăn cắp, hối lộ, vậy người Việt ra nước ngoài còn dám ngẩng mặt nhìn ai?

– Ở trong nước dân Việt đã bày tỏ dân trí bằng cách ẩu đả, chửi bới nhau để chen lấn mua bánh Trung Thu ở Hà Nội, giành giật đạp lên nhau để giành được một miếng sushi miễn phí ở một cửa hàng mới khai trương, hỗn loạn trèo lên đầu nhau để mua bằng được lá ấn trong lễ khai ấn đền Trần, hôi của khi có tai nạn qua đường như rơi tiền, đổ bia…

Người ngoại quốc và các tòa đại sứ ở Việt Nam thì bắt đầu “sợ” dân Việt khi những cây anh đào được đem từ Nhật đến bị đám đông nhào đến vặt sạch, chính phủ Hòa Lan tổ chức phát 3,000 chiếc áo mưa cho dân chúng để tỏ tình hữu nghị thì đám đông ào ạt, hung dữ nhào lên sân khấu cướp từ tay các tình nguyện viên và nhân viên đại sứ quán.

– Chính giới trí thức trong nước, như Giáo Sư Nguyễn Thanh Giang đã viết rằng,“Phải nói rằng kể từ khi đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam thì con người Việt Nam bấy giờ còn tha hóa hơn con người Việt Nam hồi thời phong kiến. Và tư chất, đạo lý của con người Việt Nam bây giờ còn thua cái thời Pháp thuộc. Cho nên điều đó là do ảnh hưởng của chế độ chính trị và của tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội mà chủ yếu đẩy con người vào tình trạng không cạnh tranh lành mạnh, không cạnh tranh dựa trên đạo lý, không dựa trên pháp luật, mà bằng phe nhóm, ỷ thế, ỷ quyền, ỷ vào giai cấp, ỷ vào thành phần lý lịch, ỷ vào con ông cháu cha. Hơn nữa, kể từ khi đưa cái Chủ Nghĩa Mác vào, lấy chuyên chính vô sản vào, thì người ta không tôn trọng pháp luật nữa. Cho nên người ta sẵn sang giẫm đạp lên pháp luật, lên đạo lý, từ đấy ảnh hưởng đến tâm tính của con người Việt Nam. Rồi đời sống không cần đạo lý, không cần pháp luật. Thì đó là cái tội của chế độ chính trị và tổ chức xã hội này.”

Ai đưa Chủ Nghĩa Mác vào Việt Nam, phải chăng là công ơn “bác Hồ” cho nên hôm nay, chưa đến một trăm năm, mà việc trồng người của “bác” đã có kết quả “khả quan,” đưa đất nước vào chỗ lụn bại, tha hóa.

Muốn gieo lại hạt giống tốt thì phải quét sạch, khai quang, đào xới lại cả khu vườn, thay đất mới, và phải mất trăm năm nữa, con người hôm nay mới trở lại được cái tử tế, văn hóa, chỉ mong được tương đối như người miền Nam trước 1975, hay nói xa hơn là cả cái thời Pháp thuộc.

Chúng ta phải thẳng thắn nhìn vào sự thật đau lòng, đừng mang ảo tưởng quê hương giàu đẹp, văn minh, trí tuệ, có ai đụng vào thì giãy lên như đỉa phải vôi, kêu la là “chống phá tổ quốc, tay sai ngoại bang, thù nghịch với nhân dân !”

CHUYỆN “KHẨU NGHIỆP” TRONG PHẬT GIÁO

Trần Bang shared a post.

Chuyện “ Khẩu nghiệp” trong Phật giáo.

Pham Doan Trang

CHUYỆN “KHẨU NGHIỆP” TRONG PHẬT GIÁO

Thầy Thích Viên Lý, trụ trì chùa Điều Ngự (Westminster, California), giải thích với tôi về chuyện “nghiệp” trong giáo lý nhà Phật, tại một cuộc phỏng vấn vào cuối tháng 12/2014.

– HỎI: Nhà nước Việt Nam hay tuyên truyền rằng người tu hành thì cứ lo việc tu thôi chứ lo làm gì việc đời; sư sãi chống lại chủ trương của nhà nước tức là ủng hộ bạo lực và tạo nghiệp xấu… Thầy nghĩ sao về luận điểm đó?

– ĐÁP: Tạo nghiệp là gì? Trước hết phải hiểu nghiệp xuất phát từ đâu. Từ ba nơi, thứ nhất là tâm, tức là ý. Thứ hai là khẩu, tức là lời nói. Thứ ba là hành động.

Mình không muốn những người cướp đất chùa tạo ra những nghiệp bất thiện, sẽ đọa vào cảnh giới khổ đau. Vì từ bi, thương họ, nên mình phải chặn đứng những hành động tạo ra ác nghiệp. Cái đó (chống cướp đất) là tâm từ bi. Còn mình nói từ bi mà thấy người khác phạm pháp, làm việc tội lỗi, chuốc lấy hậu quả khổ đau, mình không ngăn chặn, thì mình đâu phải là người đang hành giáo lý từ bi?

Tôi lấy ví dụ, thấy một sát thủ cầm súng chuẩn bị sát hại những học sinh vô tội mà mình cứ ngồi “Nam Mô A Di Đà Phật”, chứ không tước lấy khẩu súng đó hoặc không kêu cảnh sát đến cứu các học sinh, thì mình có từ bi hay không? Từ bi nguyên nghĩa là “từ năng dữ lạc, bi năng bạt khổ”. Mình dâng hiến lòng yêu thương đích thực cho tất cả muôn loài chớ không phải là gieo khổ đau, tạo thù oán. Đó là nghĩa của “từ”. Còn “bi”, tức là mình nhổ sạch cội rễ của khổ đau, chứ không phải chỉ trên ngọn. Thấy người khác lâm vào tình cảnh bất công thì mình phải ra tay hành động để cứu thế.

Dường như người cộng sản không hiểu từ bi là gì, sứ mệnh thiêng liêng cao cả của những tu sĩ Phật giáo như thế nào, tôn giáo có nhiệm vụ ra sao đối với xã hội, đất nước. Hoặc giả họ hiểu đấy, nhưng họ cố ý định hướng sai lạc để dễ bề thao túng quần chúng cho họ muốn làm gì thì làm.

– HỎI: Nếu có thể dành cho chính quyền một lời khuyên thì thầy khuyên gì nhà nước Việt Nam?

– ĐÁP: Họ cần ý thức rõ rằng bạo lực không thể chặn đứng cái ác. Nhưng tôn giáo thì có thể. Ở tình trạng lý tưởng, khi con người ý thức rõ được về luật nhân-quả thì không cần có cảnh sát, pháp luật. Tôi lấy thí dụ: Ở Mỹ, dân chúng chạy xe trên xa lộ thường không đi quá tốc độ hay vượt đèn đỏ, vì sợ cảnh sát phạt tiền. Vấn đề là nếu không có vé phạt thì ai nấy có thể tha hồ chạy xe, tạo ra vô số nguy hiểm. Nhưng nếu chúng ta ý thức được hiểm nạn xảy ra đối với bản thân và với người khác thì chúng ta sẽ tự chế. Dù có hay không có cảnh sát nhưng khi đã ý thức được luật nhân-quả, ý thức được nhân là lái xe quá tốc độ, quả là tai nạn, thì chúng ta sẽ đều cố gắng làm sao để bảo vệ chính mình và mọi người.

Nếu mọi người dân đều hiểu được luật nhân-quả thì họ sẽ không làm điều ác, và như vậy thì xã hội sẽ thái bình, đất nước sẽ ổn định.

Nếu chính quyền Việt Nam để cho các tôn giáo chăm sóc đời sống tâm linh đạo đức của dân chúng thì xã hội đâu loạn lạc như ngày nay? Nhà nước không tốn gì cho tôn giáo mà lợi ích tôn giáo mang lại cho đất nước rất lớn lao.

Chúng tôi khuyên họ cố gắng thấy được điều này: Chỉ dùng bạo lực để trấn áp và xem quần chúng như kẻ thù chứ không phải người thân thì họ không thể an ổn được đâu. Nên họ phải tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến, tôn trọng truyền thống văn hóa, tâm linh của dân. Họ mà làm được như vậy thì các tôn giáo đâu có lý do gì để chống họ? Đằng này, làm mất lòng dân, đàn áp tôn giáo, để tạo sự bất mãn lớn lao thì chắc chắn chế độ không thể nào đứng vững được.

Chính quyền phải hiểu rằng họ có thể che đậy nhiều việc nhưng không che đậy được sự thật, họ có thể trốn tránh nhiều thứ nhưng không thể tránh được luật nhân-quả.

Hãy nhìn Tổng thống Saddam Hussein ở Iraq. Đã có thời đến những cái bồn rửa mặt của ông ta cũng dát vàng, ông ta sống trong nhung lụa, quyền lực. Nhưng do tham vọng và tinh thần chấp ngã, ông ta phải trốn chui trốn lủi mà cuối cùng bị treo cổ. Mạng mất, tài sản tích lũy nhiều chục năm cũng tiêu luôn. Đó là tấm gương nhãn tiền cho những người cộng sản không tin luật nhân-quả mà liên tục làm điều ác. Mình thấy mà thương thay cho họ, cho những kẻ vô minh.

Lưới trời vẫn sẵn…. ĐỖ MƯỜI/LÊ ĐỨC ANH

Lưới trời vẫn sẵn….

ĐỖ MƯỜI/LÊ ĐỨC ANH

Đỗ Mười có hỗn danh là Hoạn lợn, một phần vì ông làm nghể thiến heo trước khi tham gia cách mạng, một phần vì đầu óc ông không vượt được giới hạn của nghể nghiệp nên người dân nhớ tên ông kèm theo cái nghề rất ít người làm.

Cuộc tấn công đánh tư sản Miền Nam do Đỗ Mười chỉ đạo từ trên xuống dưới không cấp nào được vượt quyền ông, cho thấy một tay thất phu khi có quyền hành sẽ trở nên nguy hiểm đến mức nào. Nó làm cả Miền Nam kiệt sức vì mọi công ty xương sống của quốc gia, mọi nhà máy công nghiệp nặng nhẹ, mọi cơ sở thủ công nhỏ lẻ của người dân có chút máy móc trợ lực đều bị phá bỏ.

Gần 30 ngàn chủ nhân những cơ sở ấy hoặc tự tử vì uất ức, hoặc trốn chạy bằng đường vượt biển hay bị áp giải lên rừng sâu nước độc được gọi là kinh tế mới. Lòng người than oán còn hơn trong thời kỳ chiến tranh. Sự hận thù ấy bồi đắp lên cái tên Đỗ Mười như ông bình vôi, mỗi ngày ruột một đặc lại vì sự oán ghét của dân chúng như vôi nhét vào bình, chiếc bình vôi Đỗ Mười đang nằm chỏng gọng chờ ngày phán xét trong sự phấn khởi ngày càng lớn của người dân.

Nếu Đỗ Mười tàn bạo vì tin vào sự tích Xã hội Chủ nghĩa, mông muội và xem thường xương máu nhân dân thì Lê Đức Anh lại xem trọng vai trò đàn anh của Đảng cộng sản Trung Quốc bất kể người đàn anh ấy giết dân chúng, bộ đội Việt Nam như giết ngóe.

Sau sự sụp đổ của Liên sô và khối Đông Âu, Lê Đức Anh trong cương vị Bộ trưởng Quốc Phòng đã tham mưu cho BCT bằng mọi giá phải lập lại quan hệ hữu nghị với Trung Quốc nếu không muốn bị xóa sổ như Liên sô. Là Bộ trường Quốc phòng, Lê Đức Anh đưa ra những con số âm về sức chiến đấu của bộ đội, về vũ khí quân dụng, về địa thế của Việt Nam đối với Trung Quốc và nhất là đồng minh đầy tiềm năng là Liên sô đã không còn nữa.

Bộ Chính Trị bị ông ta dắt mũi vì nỗi ám ảnh Trung Quốc để từ đó Hội Nghị Thành Đô ra đời kéo theo hệ lụy cho đến ngày nay khi Trung Quốc nghiễm nhiên trở thành ông chủ thực sự của BCT Đảng Cộng sản Việt Nam hết đời TBT này sang đời TBT khác.

Lê Đức Anh còn một tội ác khó dung tha nữa là ra lệnh bộ đội binh chủng công binh không được nổ súng vào lính Trung Quốc trong trận chiến Gạc Ma năm 1988 để kết quả là 64 chiến sĩ làm bia sống cho bọn côn đồ phương Bắc. Nỗi oan ức của họ vẫn chưa được bạch hóa cho tới ngày nay sau khi cuốn sách “Gạc Ma, vòng tròn bất tử” ra đời chỉ rõ những sai trái của Lê Đức Anh nhưng không ai trong chính quyền này làm tới nơi tới chốn một tội đồ dân tộc với tội danh không thể nào rõ ràng hơn: Phản quốc.

Tội ác của Lê Đức Anh không phải vì tin vào Chủ nghĩa Xã hội mù quáng như Đỗ Mười mà vì hèn nhát sợ chiến đấu với Trung Quốc.

Trong cương vị Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh đã rất sợ hãi khi nghĩ lại cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 và những trận chiến dai dẳng trên khắp biên giới phía Bắc sau đó. Ông ta biết chống Trung Quốc thì sẽ mất ghế và mất cả Đảng, mà mất Đảng thì rất nhiều kẻ như ông ta lo sợ, vì thế những đồng chí sát sườn ông ta đã không ngần ngại ủng hộ cho giải pháp đem con bỏ chợ nhằm lấy lòng bọn bất lương miễn sao giữ được Đảng, mà Đảng là nồi cơm là vinh hoa, quyền lực của họ.

Bất kể có sự trừng phạt ở bên kia thế giới cho những kẻ ác ôn hay không, thì Đỗ Mười và Lê Đức Anh đã và đang bị trừng phạt ở cõi này bằng hằng hà phỉ nhổ, nguyển rủa của gia đình nạn nhân chết dưới tay họ. Làm sao kẻ thủ ác thoát được lưới trời cho dù cái lưới ấy chỉ là nước bọt ngày ngày bắn vào hai ngôi mộ hoành tráng được hai dòng họ cố công xây dựng?

Mặc Lâm 
22 tháng 9