ĐẤT & NGƯỜI SÀI GÒN…

ĐẤT & NGƯỜI SÀI GÒN…

Đất Sài Gòn có đủ người tứ xứ, người Hoa, người miền Tây, miền Bắc, miền Trung, Cao Nguyên…ai cũng sống được, ai cũng sống thoải mái với cách sống và tư duy nguyên bản của mình hay của quê hương mình, mà không ngại đụng chạm hay phải nhập gia tùy tục gì cả.

Người Sài Gòn hay lắm, họ không quan tâm ai từ đâu đến, giàu nghèo, lý lịch ra sao, mà họ quan tâm đến cách sống thế nào.

Chính cuộc sống phiêu bạt của người đi khai hoang thuở xưa, tự nó giải thoát khỏi khuôn phép tôn ti dòng họ, làng xã để vươn đến tự do, khai phóng.Đó là lý do người Nam tiếp nhận rất nhanh các nền văn hóa khác nhau, văn hóa Chàm, văn hóa Khmer đặc biệt là văn hóa Âu Mỹ để hội nhập và phát triển.

Sài Gòn luôn đón nhận và dung nạp mọi luồng nhập cư lẫn tinh hoa văn hóa, ẩm thực và đồng hóa nó.Các cư dân tứ xứ hòa quyện vào nhau dần dà thay đổi, thay đổi lớn nhất là họ sẽ yêu Sài Gòn và từ từ trở thành Người Sài Gòn lúc nào không hay.

Rồng chầu xứ Huế, ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong đổ lộn sông ngoài
Thương người xa xứ lạc loài đến đây
Tới đây thì ở lại đây
Bao giờ bén rể xanh cây mới về.

TRẦN KHẮC TƯỜNG

Image may contain: one or more people, people standing, crowd and flower

CHẾT CHO ĐÚNG

CHẾT CHO ĐÚNG

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Tôi không muốn chết vì bệnh, tôi muốn chết vì chết!

Ivan Illich đã viết thế. Vậy nghĩa là gì? Chẳng phải ta đều chết vì chết sao? Dĩ nhiên, thực sự chúng ta đều chết vì chết, nhưng trong quan niệm của chúng ta, thường chúng ta chết vì bệnh, hay vì xấu số, do ung thư, bệnh tim, tiểu đường hay do tai nạn. Đôi khi do cách nghĩ của mình, mà chúng ta thấy ta chết vì bệnh.

Đó là điều mà Ivan Illich đang cố nhấn mạnh. Phải đối diện và tôn trọng cái chết như một cảm nghiệm nhân sinh bình thường, chứ không phải như một thất bại về mặt y khoa. Chết là chuyện không thể nào tránh và phải hiểu đó là một mốc trưởng thành cần thiết, một sự mà chúng ta được định về mặt hữu cơ và tinh thần, chứ không phải là sự bừa bãi sai sót trong vòng đời, không phải là một sự bất thường có thể tránh được. Chúng ta cần hiểu cái chết như người phụ nữ đang lâm bồn chờ đứa con ra đời, không phải một chuyện bất thường hay một can thiệp y khoa nguy hiểm mà là như một sự triển nở trọn vẹn của tiến trình sống.

Chúng ta trả giá cho quan niệm sai lầm của mình về cái chết, một cái giá đắt hơn chúng ta tưởng. Khi xem cái chết là sự thất bại của y khoa hay một vận rủi, thì nó biến thành một bóng ma đe dọa, và một bóng tối đáng sợ mà chúng ta không dám đương đầu cách ý thức và không dám tìm hiểu nó.

Ernest Becker có nói về một thứ mà ông gọi là “chối bỏ cái chết” và cho rằng khi từ chối đối diện, và tôn trọng cái chết như một tiến trình tự nhiên thay vì một chuyện bất thường, là chúng ta đang tự bần cùng hóa mình vô cùng.  Khi sợ hãi một cách sai lầm đối với cái chết, thì ý thức mơ hồ về sự khả tử của chúng ta trở thành một góc tối mà chúng ta tránh xa.  Chúng ta phải trả giá cho điều này, ngược đời thay, khi sợ cái chết là chúng ta không thể sống cho đúng đắn.

Trong nhận thức về sự sống, Martin Heidegger cũng xác nhận như thế. Ông cho rằng mỗi chúng ta là “hữu thể hướng đến cái chết”, nghĩa là từ lúc sinh ra chúng ta đã có một tình trạng mãn tính gọi là cuộc đời, và chúng ta chỉ có thể gạt đi nỗi sợ sai lầm kia nếu mình sống đời mình với sự thật không thể bàn cãi đó. Chúng ta đang chết. Cách nói của ông có thể khiến ta thấy phức tạp, nhưng như Illich, ông nêu ra một điểm tích cực. Với Heidegger, xét cho cùng, chúng ta không chết vì bệnh hay vì vận rủi. Chúng ta chết vì tự nhiên có tiến trình của nó, và tự nhiên điều hành tiến trình đó, và chúng ta sẽ tận hưởng cuộc sống của mình hơn nếu như biết tôn trọng tiến trình tự nhiên đó, vì khi chấp nhận là mình biết trân quý hơn các thời khắc sống và yêu.

Mỉa mai thay, việc trợ tử, với mọi luận điệu phức tạp của nó cho rằng nó giúp chúng ta kiểm soát cái chết, lại là thứ khiến chúng ta chết vì bệnh chứ không phải chết vì chết.

Dĩ nhiên, muốn chết vì chết chứ không phải vì bệnh, không có nghĩa là chúng ta không xem trọng y khoa, và tác dụng của nó với sức khỏe và cứu mạng cho mình. Chúng ta bị cưỡng bách bởi bản chất, bởi những người thân yêu, bởi thường thức, và bởi một nguyên tắc không thể thay đổi trong luân lý, đòi chúng ta phải thực hiện mọi biện pháp y khoa thông thường có thể để gìn giữ sức khỏe. Y khoa hiện đại thật tuyệt vời, và nhiều người trong chúng ta, kể cả tôi, được sống đến hôm nay chính là nhờ y khoa hiện đại. Nhưng chúng ta cũng phải làm rõ rằng khi chúng ta chết, không phải vì thất bại y khoa, mà vì cái chết là cùng đích tự nhiên của chúng ta. Khi vừa sinh ra khỏi lòng mẹ, là đã xác định sẽ có một lúc chúng ta cần được sinh ra lần nữa từ lòng đất.

Hơn nữa, đón nhận cái chết như thế không phải là kiểu khắc kỷ, tiêu cực xóa bỏ mọi vui thú trong đời. Ngược lại, như bất kỳ ai từng rơi vào tình trạng cận tử, họ sẽ cho chúng ta biết cái chết sẽ làm cho mọi thứ trong đời càng quý giá hơn bao giờ hết, bởi họ không còn xem chúng là thứ mặc nhiên.

Cần chú ý điểm này. Không cần nói chuyện này với giới trẻ, những người chối bỏ cái chết dữ dội, và với nguyên do tốt. Dù người trẻ không nên cố ý lờ đi sự khả tử hoặc sống như thể mình sẽ không bao giờ chết, nhưng người trẻ chưa nên tập trung vào cái chết. Việc của họ là xây dựng tương lai cho mình và cho thế giới. Họ có thể đối diện với cái chết sau. Nói một cách ẩn dụ, là họ cần tập trung hơn vào việc nuôi dưỡng bào thai hơn là lo chuyện lâm bồn.

Và trong những lời dạy của Chúa Giêsu có một điều nghịch lý vô cùng. Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, và ai thí mạng sống mình thì sẽ tìm được nó. Hẳn Ivan Illich sẽ đồng ý như thế.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

Hòa thượng THÍCH TRÍ QUANG – Một con người quỷ quyệt đã chết!

Hòa thượng THÍCH TRÍ QUANG – Một con người quỷ quyệt đã chết!

Hòa Thượng Thích Trí Quang, một nhân vật quan trọng trong Phật Giáo Việt Nam cận đại, đặc biệt giai đoạn chiến tranh Việt Nam, viên tịch lúc 21 giờ 45 phút (giờ Việt Nam), ngày 8 tháng 11, 2019, theo thông báo phát đi vào ngày 8 tháng 11 từ chùa Từ Đàm, đứng tên Tỳ Kheo Thích Hải Ấn.

Thập niên 60 của thế kỷ trước, khi còn là thượng tọa, Hòa Thượng Thích Trí Quang là một lãnh đạo Phật giáo đầy quyền lực vào lúc mà sức mạnh của giáo hội Phật Giáo lên cao nhất. Ông đã là “người đã làm lung lay nước Mỹ”.

Ông là một con người làm kinh hoàng cho nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa.

Ông là một thiên tài bẩm sinh lãnh đạo chính trị, một con người tài giỏi vô song, ông đóng vai một thượng tọa phật giáo khổ hạnh, nhưng tâm của ông nham hiểm và độc ác khôn lường.

Xin tỏ lòng vô cùng khâm phục ông và cũng vô cùng khinh ghét ông. Nhưng tôi thật tâm công nhận ông là một nhân tài quý hiếm mà hồn thiêng sông núi đã un đúc cho dân tộc Việt Nam.

Rất tiếc! Nữa thế kỷ cuối cuộc đời ông đã tỏ ra MỘT CON NGƯỜI HÈN MẶC.

Image may contain: text

GIỜ LÂM CHUNG CỦA ALEXANDER ĐẠI ĐẾ

Tu Phung and Bòn Bon shared a post.
Image may contain: one or more people and people sitting
Anh Thư to Những câu chuyện thú vị

GIỜ LÂM CHUNG CỦA ALEXANDER ĐẠI ĐẾ

Trong giờ phút lâm chung, Alexander Đại đế triệu tập các cận thần của mình và nói với họ 3 điều ước cuối cùng của ông:

1. MỘT LÀ: Hãy để các ngự y giỏi nhất khiêng quan tài của ta.
2. HAI LÀ: Hãy rải tài sản của ta, bao gồm tất cả tiền, vàng, kim cương, đá quý trên đường đến nghĩa trang.
3. BA LÀ: Hãy để đôi bàn tay của ta được thả lỏng và để nó bên ngoài cho tất cả mọi người thấy.

Một trong những vị tướng của ông đã rất bất ngờ trước những yêu cầu bất thường này nên đã yêu cầu Alexander giải thích.

Alexander Đại đế đáp lại:

Ta muốn các ngự y giỏi nhất khiêng quan tài của ta để chứng minh rằng, khi đối mặt với cái chết, ngay cả những ngự y giỏi nhất trên thế giới cũng không có sức mạnh cải tử hoàn sinh.

Ta muốn rải hết tiền vàng trên đường để muốn mọi người biết rằng, sự giàu có về vật chất có được trên Trái Đất này thì sẽ phải ở lại Trái Đất.
Ta muốn bàn tay ta đung đưa trong gió, để muốn mọi người hiểu rằng, chúng ta đến với thế giới này bằng hai bàn tay trắng, thì chúng ta rời thế giới này cũng với hai bàn tay trắng.

Chúng ta sẽ không còn gì, sau khi tài sản quý giá nhất của chúng ta đã cạn kiệt đó là SỨC KHOẺ và THỜI GIAN

-ST-

Việt Nam hỗn loạn!

Lê Vi

Việt Nam hỗn loạn!

Tin nóng tại VN xảy ra liên tục, có khi trong một ngày cái sau chồng cái trước, cho nên những vụ việc mà nếu ở một nước dân chủ, yên bình thì nó có thể khiến dư luận, báo chí theo dõi rốt ráo lại nhanh chóng chìm xuống, ví dụ cái chết mờ ám của ông thứ trưởng Bộ GD, tòa nhà 7 tầng không phép mọc lên sừng sững trên đỉnh đèo Mã Pí Lèng…

Các vụ việc nghiêm trọng như thầy giáo sắp về hưu quan hệ tình dục khiến nữ sinh lớp 10 mang thai, cha dượng và vợ hờ cùng say ma túy bạo hành, dí thuốc lá vào vùng kín bé gái 6 tuổi, vụ “đầu độc” nguồn nước sinh hoạt của cư dân Hà Nội… đã mau chóng bị trôi đi!

Sự kiện bi thảm như 39 người nghi tất cả là VN chết trên đường nhập cư lậu, chỉ cần so sánh dư luận thế giới và dư luận chính người Việt sẽ thấy người Việt chạy theo cảm tính, không đi sâu vào nguyên nhân và do vậy phản ứng sẽ nhanh chóng bị khỏa lấp nếu có sự kiện tiếp theo.

Ngay cả vấn đề an ninh quốc gia, như vụ tàu HD Trung cộng cày nát vùng đặc quyền kinh tế, khi nó tạm rút đi, thì cũng không thấy ai nhắc đến nữa!

Và sự kiện nối tiếp sự kiện, toàn chuyện kinh thiên động địa, chứng tỏ thượng tầng kiến trúc rối ren, xã hội đang trong vòng xoáy hỗn loạn!

Nguyễn Đình Bổn

Vụ bà nội sát hại cháu ở Yên Thành – Nghệ An: “Mâu thuẫn âm ỉ từ miếng thịt trong bữa cơm”.

No photo description available.

Trinh Quoc Hau

Vụ bà nội sát hại cháu ở Yên Thành – Nghệ An: Theo tướng Cầu, GĐ công an Nghệ An “Mâu thuẫn âm ỉ từ miếng thịt trong bữa cơm”.

……”Khi dọn cơm ra thì bà có gắp cho ông một miếng thịt nhưng người con trai chửi, lấy lại miếng thịt ấy bỏ sang cho cháu T., người ông khóc và bảo thế này thì ông tự tử, nên bà rất tức giận”, ông Cầu cho biết.

Quá cay đắng ! Bi đát! Chúng ta đi qua thời kỳ đồ đá ,đồ đồng và giờ là thời kỳ đồ đểu, bi đát hơn cả thời chị Dậu!

KHỐN NẠN!

Lê Vi
 

KHỐN NẠN!

-Ngô Trường An

Theo phân tích của báo Dân Trí về những người buôn bán ở vỉa hè, đây là một hình thức kinh doanh siêu lợi nhuận.

Với lãi suất 2.000% như báo nói, thì có nghĩa rằng, người buôn bán ở vỉa hè, chỉ cần bỏ ra 100 ngàn tiền vốn thì lợi nhuận họ thu về được 2 triệu. Ngoài ra, những người bán xôi, bán trứng lộn dạo cũng kiếm tiền triệu mỗi ngày, vì, đây là kiểu kinh doanh 1 vốn 4 lời (báo DT). Không những người buôn bán ở vỉa hè kiếm được tiền triệu, mà trông (giữ) xe cũng thu nhập được 50triệu/tháng. (báo DT).

Dựa vào định hướng này, ĐBQH đề nghị chính phủ thu thuế những người bán hàng rong và buôn bán ở vỉa hè. ĐBQH cho rằng, đây là những doanh nghiệp siêu nhỏ, và, đã là doanh nghiệp thì phải đóng thuế?!

Nếu, đúng như báo chí định hướng để quốc hội đề nghị chính phủ thu thuế “các doanh nghiệp siêu nhỏ” ở trên. Thì, rõ ràng, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang bị một đám lưu manh, tham lam, dốt nát lãnh đạo!

Tại sao những người dân không có vốn liếng, không có mặt bằng ổn định, chỉ có một cái dù che nắng che mưa mà họ kiếm được tiền triệu mỗi ngày. Còn tổng công ty, tập đoàn nhà nước đều được trang bị tận răng; cơ quan, nhà khách, kho bãi…toàn được bố trí nơi những khu đất vàng; ngân sách được đầu tư lút mũi, được chính phủ bảo lãnh vay nước ngoài; Và, chính phủ, quốc hội mỗi khi ra nước ngoài còn ưu tiên cho lãnh đạo, trợ lý tập đoàn, công ty đi miễn phí ra nước ngoài tìm kiếm đối tác; Được nhà nước quảng cáo không công, được ưu ái tăng giá, giảm thuế cơ cấu đủ kiểu…Thế mà, các tập đoàn, tổng công ty đó không những không kiếm được một đồng lời nào cho nhà nước mà ngược lại, càng lỗ nặng?

Nếu buôn bán ở vỉa hè, bán xôi dạo lãi suất khủng như thế, sao quốc hội không bảo mấy tên lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ra vỉa hè mà buôn? Nợ của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay lên tới 1.500.000 tỷ có khả năng không trả nỗi? Quốc hội định hút máu của những người buôn bán ở đầu đường xó chợ này, để trả nợ thay cho doanh nghiệp nhà nước hay sao?

Khốn nạn vừa vừa thôi chứ!

No photo description available.
Image may contain: text

Nước Mỹ trong tôi

Nước Mỹ trong tôi

September 14, 2012

Tạp ghi Huy Phương

Theo bản thống kê dân số của nước Mỹ năm 2010, hiện nay có 1,737,433 người Việt đang sinh sống trên nước Mỹ. Chúng ta những ai hiện nay đang sống, học hành, làm việc hay dưỡng già ở đây, đều đã trải qua một phần đời mình trên mảnh đất này, thường gọi là “tạm dung,” nhưng thực tế là vĩnh viễn.

Bức tường đá đen ở Washington, D.C. (Hình: Huy Phương)

Từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975, những đứa trẻ sinh ra lớn lên ở đây, ngoài huyết thống ra, chúng không khác gì những đứa trẻ Mỹ. Những người trung niên còn mang theo cả một thời thơ ấu và những kỷ niệm không quên từ nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng vẫn lăn lộn với cuộc đời trên đất khách này để mưu sinh, có người thời gian sống với quê hương ngắn ngủi hơn là ở nơi quê người.

Tiểu bang California, nơi có nhiều người Việt sinh sống nhất đã rộng lớn bằng diện tích cả nước Việt Nam, nên cũng chưa có ai trong chúng ta tự hào đã đặt chân đến hết 50 tiểu bang của nước Mỹ, cũng như không ai dám nghĩ rằng mình hiểu hết những gì về nước Mỹ, dù đây chỉ là một nơi mới lập quốc hơn 300 năm. Có người cho Mỹ là anh chàng trẻ tuổi, xốc nổi, dại khờ, nhưng cũng có người công nhận nước Mỹ là ông cụ thâm trầm thường triển khai những bước đi tính toán trước cả trăm năm.

Ðối với những người già đã đến nơi này muộn màng, nhưng cả cuộc đời còn lại coi như sống chết với nước Mỹ, thường gọi là quê hương thứ hai, mà không bao giờ còn cơ hội trở về nằm trong lòng đất quê mẹ, nếu sự thực khốn nạn, chế độ Cộng Sản còn tồn tại trên quê hương vài ba mươi năm nữa.

Một người Việt về thăm lại quê hương, nơi họ đã từ bỏ tất cả để ra đi, lúc đặt chân trở lại nước Mỹ, cho rằng tâm hồn lại cảm thấy an toàn, nhẹ nhàng hơn như lúc về nhà. Một người Việt xa quê hương đã lâu trở về Sài Gòn, có dịp vào Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, ông thú nhận khi nhìn những hình ảnh tổng thống hay ngoại trưởng của Hoa Kỳ, ông lại có cảm giác quen thuộc, an toàn hơn là những lúc lang thang ở Hà Nội nhìn hình lãnh tụ và quốc kỳ Cộng Sản. Ðó không phải là vong bản, mất gốc mà chế độ này đã nhân danh đất nước, tạo hận thù, kỳ thị, xô đẩy biết bao nhiêu người xuống biển, bỏ quê hương ra đi. Gần như chúng ta không còn lệ thuộc gì với đời sống nơi quê nhà, ngoài những tình cảm sâu đậm trong máu huyết, làm cho chúng ta gần gũi với ngôn ngữ, đời sống Việt Nam, mà chúng ta có cảm tưởng đang dần dần tách rời, cho đến một lúc nào đó trở thành xa lạ. Phải chăng vì vậy, mà đã có những đứa con ngày trước trở về, xót xa nhận ra rằng, họ đang đi, đứng trên một đất nước xa lạ, không còn là của họ nữa.

Quê hương ngày nay chỉ còn là nơi thăm viếng mà không phải là nơi để trở về. Nước Mỹ đã là nơi quen thuộc chúng ta đang sống, có gia đình, nhà cửa, công việc, bà con, bạn bè, thì làm sao chúng ta lại không có những suy nghĩ, có những câu chuyện buồn vui, hay những trăn trở về nước Mỹ. Cách đây 38 năm, chưa lúc nào, chúng ta, những người dân ở một đất nước xa xôi bên vùng trời Ðông Nam Á, cách biệt nơi này đến nửa vòng trái đất, lại có ý nghĩ rằng, một ngày kia chúng ta sẽ đến đây, sống lâu dài nơi đây, sinh con đẻ cháu nơi này, để tạo ra một nhánh người Việt lưu vong. Ðời sau, còn giữ được ngôn ngữ, phong tục hay không, lại là một điều mà nhiều người khác đang trăn trở, lo âu làm sao để duy trì, gìn giữ!

Trong cái cộng đồng gần gũi, thân mật gắn bó này, với sách vở, báo chí, truyền thông, quán xá, chợ búa, tiệm buôn, món ăn thức uống, cả cái tên vùng đất hay bảng hiệu Saigon chúng ta mang theo, đôi khi gần như quên hẳn là chúng ta đang sống trên đất Mỹ. Cả cái bữa cơm, cá mắm, canh rau, đôi đũa, chén nước mắm ớt, có khác gì ở Việt Nam. Cả cái bàn thờ nhang khói, hình ảnh tổ tiên, ông bà, cành mai, chậu lan, những cô thiếu nữ, trẻ em mặc quốc phục lên chùa ngày Tết, hồi trống, tiếng pháo Mùa Xuân làm chúng ta quên mất là chúng ta đang sống thật xa quê nhà.

Ðiều tôi muốn nói ở đây là chúng ta thường quên chúng ta đang sống trên đất Mỹ.

Ông Khổng Tử của nước Trung Hoa có ví von: “Ở chung với người thiện như vào nhà có cỏ chi lan, lâu mà mà chẳng thấy mùi thơm, tức là mình cũng đã hóa ra thơm vậy.” Một kẻ vào vườn hoa lan đầy hương thơm, lúc đầu còn nhận ra mùi hương nhưng dần dà trở thành quen thuộc, trở thành bình thường, không còn thấy hương thơm, như kẻ tiểu nhân sống với người quân tử dần dần được cảm hóa lúc nào mà không hay biết. Nước Mỹ có nhiều hương thơm như thế mà cảm giác chúng ta bị dung hòa lúc nào không hay đến nỗi không còn cảm nhận được mùi thơm nữa. Hương thơm đó là những điều tốt lành, thấm nhập vào con người chúng ta lúc nào chúng ta cũng không biết, không hề quan tâm hay nhận ra được sự khác biệt trước và sau.

Chúng ta học hỏi được ở nước Mỹ tính bảo vệ đời sống riêng tư, tôn trọng luật pháp, sống an hòa, sự tử tế và mối tương quan giữa con người và con người trong xã hội. Ðiều này không chỉ có ông Bá Dương (1920-2008), sau khi đi New York, Las Vegas hay San Francisco về, đã tường thuật lại trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí,” mà bất cứ người Việt Nam nào khi đi du lịch nước Mỹ về cũng nhận ra. Có người thắc mắc sao lái xe trên đường vắng vào một hai giờ sáng, gặp bảng “stop” cũng phải đừng lại, sao một đứa bé phải đi tìm cái thùng rác để vứt cái giấy kẹo nhỏ chỉ bằng hai ngón tay, sao ở đây xe hơi nhiều như thế mà không nghe một tiếng còi? Trong cái không khí dễ chịu, thanh thản, an lạc người ta cảm nhận ra khi bước chân trở lại một nơi, có một chút mỉa mai, không phải là quê nhà của mình.

Chúng ta bước đi từ môi trường tử tế, trong lành của miền Nam qua giai đoạn “thống nhất” để bước đến một xã hội hỗn loạn như hôm nay, khi mà con người tốt đẹp dần dà trở thành vô cảm, lừa lọc, gian trá, đạp lên nhau mà sống, để mưu tìm một đời sống ích kỷ cho riêng mình, mà không thấy đó là bất thường, bất nhân và vô loại.

Thì chúng ta, trong xã hội này, cũng theo lời ông Khổng Tử: “ Ở chung với người bất lương, như vào trong chợ cá ươn, lâu mà chẳng biết mùi hôi, vì mình cũng hóa ra hôi vậy!” Như người mới vào chợ cá, lúc đầu còn nghe mùi hôi tanh, dần dà quen thuộc, không còn nghe mùi tanh tưởi khó chịu nữa, như người quân tử sống với kẻ tiểu nhân, dần dần đồng hóa bởi cái xấu mà mình không hay biết. Thử hỏi một viên chức trong chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay, xem những chuyện cường quyền áp bức, mạng sống của người dân xuống hàng súc vật, con người chỉ biết có đồng tiền và dục vọng, tráo trở, vô đạo lý hiện nay có là điều gì làm cho con người lạ lùng, khó chịu không? Hay đó là chuyện bình thường, thấy đã quen mắt, nghe đã quen tai, đầu óc đã xơ cứng, chai đá như khứu giác của con người ở lâu trong chợ cá, còn đâu phân biệt được mùi hôi nữa!

Ðiều cuối cùng chúng tôi muốn nói là sự may mắn đã giúp ta có cơ hội không phải chỉ cho riêng mình mà cả con cháu đời sau, tránh khỏi được kiếp oan nghiệt, ra khỏi được cái chợ cá ấy, được sống trong cái “chi lan, chi thất” cái vườn lan thơm ngát, mà qua một thời gian chúng ta không còn cảm nhận được mùi thơm nữa, nhưng trên thực tế, mùi thơm đó vẫn hiện hữu.

Nhiều kẻ hãnh tiến vẫn cho rằng nước Mỹ nợ chúng ta mà quên rằng, món nợ của chúng ta, và cả con cháu đời sau đối với nước Mỹ thật khó lòng trả nổi.

Huy Phương

Bao năm giải phóng như thế này phải không em?

Bao năm giải phóng như thế này phải không em?

Trần Văn Giang (Danlambao) – Ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân dân miền Nam bị bức tử, bị cộng sản truy đuổi thật thảm thương. Trong cảnh tuyệt vọng đó, có trường hợp lính và người dân miền Nam đành liều thân đu càng trực thăng dù không biết có cơ hội sống sót để ra được đến nơi an toàn, hay hải phận quốc tế; để làm thân tị nạn lưu vong, thuyền nhân tên xứ người… 

Sau đó, cộng sản kịch liệt lên án tư bản và “tàn dư Mỹ Ngụy”. Bất cứ cái gì có chút liên quan đến tư bản, đến Mỹ, đến “Ngụy” đều thối nát, đồi trụy, xấu xa phải triệt để hủy diệt. 

Từ “Đu càng trực thăng” đến “Chui thùng xe hàng” 

Hôm nay, sau hơn 44 năm “giải phóng” và “hủy diệt,” những con người của thời đại “sinh Bắc tử Nam” dù không hề bị Mỹ hay Ngụy quân Ngụy quyền nào truy đuổi, dù đã sinh ra ở Việt Nam nhưng bất chấp tính mạng để “đu đủ thứ”, đu dưới mọi hình thức: đu thuyền, đu “chuyên cơ,” đu thùng xe tải, đu hôn nhân giả… để lại mong được ra đi một cách bất hợp pháp đến các xứ sở mà đảng và nhà nước cs đã gọi là “đang giẫy chết” và “đứng bên bờ vực thẳm?!” 

Sự kiện “đu đủ thứ” chính là trả lời cho câu hỏi “Bao năm giải phóng như thế này phải không em?” (trích lời bài nhạc “Chiều Tây Đô” của Lam Phương). 

Xem lại một trường hợp điển hình: Cô Cao Thị Nhíp. “Cô Nhíp” với “hình tượng kiên cường, gan góc” đã dẫn xe tăng của “quân đoàn 3 cộng sản” tiến vào Sài gòn. Bẵng đi một thời gian; cô Nhíp im lỉm chém vè, tự khép lại cái “quá khứ hào hùng đã được cộng sản bốc gần tới trời, đã quay thành phim ‘Cô Nhíp.’ ” không hiểu sao (?) cô có thể tìm cách nào, ở đâu ra được một cái ba-toong của anh Việt kiều nào đó (cái mẻ này còn “hay hơn cả tuyệt vời?”) hồi nào; và rồi đu cái ba-toong đó một cái rẹc sang định cư tại Mỹ, vào thẳng quốc tịch Mỹ và đường hoàng thành “Người Mỹ gốc Việt” y như dân tị nạn đu càng; và cô cứ tà tà lãnh “eo-phe” dạo phố “sốp-ping” xem hoa ở “little Sè Goòng” hổng ai hay? 

Cô Nhíp Ngày Xưa – Cô Nhíp Ngày Nay 

Bác Mich Long (?) có mần một bài thơ đặc biệt dành riêng cho tài đu ba-toong của cô Nhíp mà tôi xin phép chép lại theo trí nhớ như sau: 

Xưa cô Cao Nhíp tai bèo 

Tưng tửng “giải phóng” cô theo… mán rừng 

Tám năm, vừa hết tưng tưng 

Quy mã “giẫy chết” cô mừng như điên 

Giờ Cô giẫy giẫy… liên miên 

Giẫy giường, giẫy chợ, ai phiền cô đâu? 

Quá phê, cô giẫy thật lâu! 

(“Xưa Tai Bèo Nay Giẫy Dụa” by Mr. Mich Long) 

Hết sức ngược ngạo. Chả riêng gì cô Cao Thị Nhíp tai bèo, mà cán bộ cao cấp cộng sản không thấy đứa nào còn lớn tiếng say máu hô hào chuyện chống Mỹ cứu nước nữa; ngược lại rủ nhau bỏ tiền mua sẵn “thẻ xanh” lận lưng chờ “đáp an toàn…” sau khi vơ vét, “sở hữu” một lô thẻ đỏ; và ùn ùn gởi con cháu sang “du học cách bóc lột” bên Mỹ chứ nhất định không chịu sang Tàu, sang Nga hay các nước thiên đường cộng sản. Tôi nghiệp người dân Việt cứ bị cộng sản phỉnh lừa, lường gạt trắng mặt hết thế hệ này qua thế hệ khác. 

Vượt biên qua xứ “giãy chết” từ trong thùng sắt xe hàng 

Người Bắc vượt biên trong thùng sắt xe hàng. Thật đau xót!!! Tôi chắc không ai nén nổi nỗi ngậm ngùi và thấy như đang “ôn lại” cái thảm cảnh của người Việt miền Nam sau khi quân cướp Bắc Cộng tràn vô sau 30 tháng 4 năm 1975. 

Hoá ra ngay những kẻ mà chúng ta vẫn cứ tưởng là người của “cái nôi” giặc Cộng sản – như dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh của bác Hù – nay cũng chính là nạn nhân của quân ăn cướp cộng sản! 

Có điều những “nạn nhân” này có nhiều cái “khác” với người miền Nam vượt biên trước đây. Dù họ có “khác” nhưng xét cho cùng, họ cùng là nạn nhân bi thảm của một chế độ thô bỉ nhất hành tinh. 

Chúng ta đã từng nghe cộng sản hát vang lừng là “Chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi…” (trích lời một bài nhạc đỏ đang được hát như “cuồng” trong nước). Nhưng mà đi đâu kia kìa? Mang theo hành trang gì vậy? 

Hơn 20 năm, họ đã từng đi theo kiểu “Sinh Bắc Tử Nam,” vai vác AK, B40, gạo Trung cộng, chân đi dép râu… hăm hở đi giật mìn, công đồn, đào đường, đắp mô, phá cầu, đốt chợ, pháo kích vào chỗ đông dân cư trường học, bắn giết, “cắt mạng” sống biết bao nhiêu dân lành bằng súng đạn “nước ngoài!” 

Hôm nay họ lại hăm hở ra đi; nhưng hành trang thay vì là súng AK, B40… lại được trang bị bằng tinh thần “trồng cần sa”, “làm móng”, “ở đợ (osin)”, làm “cô dâu”, “làm điếm”… Miễn sao kiếm được nhiều tiền. 

Ôi trời cao đất dày! Xã hội chủ nghĩa Chó Ngựa sinh ra lớp người dám khơi khơi hy sinh tính mạng mình, hăm hở “bức xúc” ra đi… để đem trồng cấy, gây tai họa cho nước khác, đem tệ nạn XHCN đến cho đất nước người khác? Nếu họ đi để quảng bá văn minh văn hóa Việt; hay gieo trồng điều tốt lành cho nhân loại thì bỉ nhân cũng xin thành khẩn chúc họ đi nhanh và đi thật nhiều, đi cho “chân cứng đá mềm.” (cũng là lời nhạc đỏ?!) Nhưng trái ngược lại, họ ra đi để sống chui, sống nhủi như ma quỷ sợ ánh sáng; đi để sống kiếp chuột bọ chui trong lỗ, trong thùng chở hàng… sống kiếp “người rơm!” thì có ai ở đâu đó rảnh để “ngăn nổi bước chân ta!” 

Gieo rắc tệ nạn trên đất nước người? Nếu có chút nghĩa khí của “kẻ thắng cuộc” thì họ nên ở lại để xây dựng và chết tại nơi họ sinh ra. Đừng xuất cảng hạt giống xấu xí của cộng sản từ Bắc vô Nam; rồi nay từ Bắc tới mọi nước văn minh đang yên ổn sống thanh bình trên thế giới!!! 

Nhưng chí đã quyết và tiền đã chung (cho công an và băng đảng dẫn đường) đủ số; tay vỗ bình bịch vào “hồ trường” rồi chui thẳng vào thùng sắt lạnh: 

Trời nam nghìn dặm thẳm

Non nước một mầu sương

Chí chưa thành, danh chưa đạt

Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc

Trăm năm thân thế bóng tà dương 

(“Hồ Trường” – Nguyễn Bá Trạc) 

Với một lời nguyền: “Thà chết trong thùng xe tải lạnh nơi xứ đang giẫy chết; chứ nhất định không ở lại chịu sống đời ‘Hạnh phúc, Tự lo Độc lập’ trong thiên đường cộng sản.” Nói cách khác, đây cũng là một hình thức của “phong trào cách mạng” loại “Ra đi tìm đường cứu nước” mà dân Nghệ An Hà Tĩnh đã “quán triệt” từ bài học “cắt mệnh” của bác Hù. Thiệt tình! Bác Hù xứng đáng được tôn vinh là “Thủy tổ của phong trào ra đi tìm đường cứu… đói.” Chỉ khác là bác Hù lần đó khôn ngoan hơn, ra đi bằng tàu hàng (cargo ship) và lon ton làm một chân bồi tầu, có cơm ăn ngày ba bữa, có quần áo mặc suốt ngày chứ không như đồng hương Nghệ An, Hà Tĩnh của bác đã ra đi bằng thùng hàng lạnh (Hard top cargo box/container) phải chết ngạt, chết co quắp cong queo thê thảm… 

Nên biết thêm. Một thùng sắt chở hàng (Hard-top container) dài 12.2m, rộng 2.44m và cao 2.6m có thể chứa một số sinh mạng từ 15 đến 50 người để đi môt quảng đường dài từ nước này qua nước khác. 

Hard Top Container 

Sở Di trú (Custom Services) của các quốc gia Tây phương văn minh có sẵn “Máy tầm nhiệt” (Heat Scanner/Sensor) để “soi” hơi nóng của đám Thùng Nhân và phát giác người di dân lậu trốn bên trong. Giới buôn người (Human Traffickers) nghĩ ra cách cho nhét Thùng Nhân nằm chen giữa các thùng gà đông lạnh để tránh bị phát giác bởi máy tầm nhiệt như vừa nói. Kết quả mới nhất đưa đến sự việc 39 Thùng Nhân người Việt chết ngạt và chết cóng trong thùng đông lạnh ở Essex Anh quốc vào ngày 23 tháng 10 năm 2019. 

Qua tin tức điều tra cùng với các lời khai của nhân chứng, tất cả 39 Thùng Nhân, từ 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Việt Nam, rõ ràng họ không phải là lớp dân nghèo khố rách áo ôm, không đủ ăn đủ mặc. Họ phải trả từ 20,000 đô la đến 60,000 đô la trên mỗi đầu người cho đường dây buôn người này – khởi đầu từ băng đảng tội ác và công an ở Việt Nam – để có “ân huệ” (privilege) sống trong thùng sắt lạnh suốt hai tuần lể. Trước đây, đường dây buôn người thường dùng thùng có trần bằng vải dầy (canvas roof) để Thùng Nhân có đủ dưỡng khí và có thể vượt thoát khỏi nhân viên sở Di trú trong trường hợp vượt biên bị đổ bể. Nhưng thùng sắt có mái cứng (Hard top) đã được sử dụng thay thế vì sự vận chuyển rất khắc nghiệt qua nhiều giai đoạn ở bến cảng… Như vậy, Thùng Nhân trong thùng sắt kín (Hard top Containers) có cơ hội chết rất cao bởi vì trong trường hợp nếu có bất cứ chuyện gì xẩy ra, Thùng Nhân không có cách gì để thoát thân ra ngoài; đành phải chịu chết một cách thê thảm bên trong đó. 

Sau vụ 39 người chết ở Essex Anh quốc lần này, tôi nghĩ là các tay buôn người đang làm việc “overtime” để nghiên cứu ra một phương cách khác cho Thùng Nhân có thể thở mạnh giỏi. Nếu được như vậy thì vấn đề buôn người bằng thùng từ Á châu qua Âu châu và Hoa kỳ sẽ phát triển như nấm mọc sau cơn mưa… 

Thực ra, dưỡng khí (Oxygen) vẫn có thể len lỏi qua các khe hở của thùng hàng để đi vào bên trong; nhưng vì số Thùng Nhân đông quá, nằm chen chúc nhau (xem ảnh) cùng với đồ ăn đồ uống hư thối, cứt đái, chất thải từ cơ thể. Số dưỡng khí này không đủ để hàng chục nhân mạng tranh nhau hít thở trên một chặng đường di chuyển dài… 

Các Kiểm soát viên của Sở Di trú (Custom Services Inspectors) tin rằng là các công ty chuyển hàng không trực tiếp can dự vào việc buôn người. Việc buôn người cầm chịch bởi băng đảng tội ác và nhân viên an ninh của các chính quyền thối nát. Phần lớn các thùng hàng được chuyển tại bến cảng đã được niêm phong từ trước rồi. Có nghĩa là Thùng Nhân đã được sắp xếp và nhét vào trong thùng hẳn hoi trước khi thùng ra đến bến. 

Qua vụ 39 người Việt gốc Nghệ An và Hà Tĩnh chết ở Essex Anh quốc ngày 23 tháng 10 2019 này, nhiều người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại phải ngao ngán kêu trời: “Có những nỗi xót xa không thể nói thành lời.” 

07.11.2019

 Trần Văn Giang

 danlambaovn.blogspot.com

Từ thảm nạn Essex: Công quyền Anh và công quyền Việt khác nhau

Từ thảm nạn Essex: Công quyền Anh và công quyền Việt khác nhau

Blog VOA

Trân Văn

7-11-2019

Thủ tướng Anh đặt hoa viếng tại Thurrock, phía Đông London, ngày 28 tháng 10. Ảnh: AFP

Tim Smith – một trong những sĩ quan cảnh sát phụ trách cuộc điều tra về thảm nạn Essex – vừa thay mặt cảnh sát Anh, khẳng định: Ưu tiên hàng đầu của cảnh sát Anh là điều tra kỹ lưỡng về tội ác khiến các nạn nhân thiệt mạng, nhằm bảo vệ danh dự của những người đã khuất và hỗ trợ gia đình, thân nhân của họ (1).

Từ khi thảm nạn Essex được phơi bày, người Việt đã vài lần nghe các viên chức Anh, từ Thủ tướng trở xuống, đề cập đến việc phải tôn trọng nhân phẩm của các nạn nhân, phải kính trọng nỗi đau mà thân nhân của họ đang gánh chịu. Cảnh sát Anh hết sức dè dặt trong việc công bố danh tính và những chi tiết liên quan đến nạn nhân…

Bởi quan niệm của hệ thống công quyền Anh khác xa hệ thống công quyền Việt Nam, cách hành xử của cảnh sát Anh khác xa cách hành xử của công an Việt Nam nên ông Nguyễn Xuân Phúc mới… hố khi tuyên bố: Chiều ngày 5 hoặc sáng ngày 6, Đoàn công tác Việt Nam phối hợp phía Anh sẽ công bố danh tính các nạn nhân (2).

Sau tuyên bố này, VOA đã liên lạc với cảnh sát Anh để phối kiểm. Thông cáo báo chí do cảnh sát Anh phổ biến có nội dung “danh tính của các nạn nhân hiện vẫn chưa được xác định”. Điều này biến ông Thủ Tướng Việt Nam thành kẻ… tung tin đồn nhảm!

Thảm nạn Essex phơi bày nhiều vấn đề cho thấy, so với thiên hạ, nhận thức và cách hành xử của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam là một chuỗi… nhảm nhí!

***

Nửa tháng sau khi thảm nạn Essex được phơi bày (23 tháng 10), bất kể cộng đồng quốc tế vẫn còn choáng váng vì hậu quả thảm khốc do tệ nạn buôn người gây ra, hôm 4 tháng 11, ông Nguyễn Hữu Cầu (Thiếu tướng, Giám đốc Công an Nghệ An), vẫn khẳng định: Không có buôn người, các nạn nhân nộp tiền ra nước ngoài… làm ăn (3)!

Chẳng phải ông Cầu, nhiều viên chức hữu trách của Việt Nam chia sẻ quan niệm: Không ai bỏ ra hàng tỉ để người ta buôn mình cả! Trong mắt thiên hạ, đó là một suy nghĩ… nhảm nhí. Cho dù trước nay, nhiều triệu người đã cũng như đang trả tiền để được đưa vào quốc gia nào đó bất hợp pháp nhưng thiên hạ luôn xem họ là nạn nhân của buôn người!

Trong mắt thiên hạ, “mưu cầu hạnh phúc” là một trong những quyền tối thượng. Thành ra khai thác khát vọng được ăn no, mặc ấm, sống ổn định, có cơ hội thăng tiến đúng với phẩm giá con người, bằng cách sử dụng những phương thức bất hợp pháp, biến con người thành hàng hóa, vận chuyển họ đến nơi họ ao ước để trục lợi sẽ bị thiên hạ xem là… buôn người!

Do ông Cầu và các đồng chí của ông không xem “mưu cầu hạnh phúc” là quyền tối thượng của đồng bào, làm cho đồng bào cảm thấy hạnh phúc trên xứ sở của mình là nghĩa vụ mà các ông cần phải chu toàn, nên chuyện tìm đủ mọi cách, từ hợp pháp đến bất hợp pháp để được… ra nước ngoài làm thuê, được cư trú ở bên ngoài Việt Nam, mới được xem như và thật sự đã trở thành sinh lộ cho nhiều cá nhân và gia đình ở Việt Nam! Đó cũng là lý do, từ thập niên 2000 đến nay, trong mắt nhiều tổ chức quốc tế hoạt động cho nhân quyền, Việt Nam là một trong những quốc gia dẫn đầu về tệ nạn buôn người! Còn trong mắt ông Cầu và các đồng chí của ông, đó là những nhận định… nhảm nhí!

Với thiên hạ, sử dụng “giấy phép xuất khẩu lao động” để làm giàu nhanh bằng “phí xuất khẩu lao động”, khiến nhiều người phải vay – trả lãi cao, phải thế chấp nhà cửa, ruộng vườn để có sinh lộ bên ngoài Việt Nam, rồi bất chấp “phí xuất khẩu lao động” vừa đẩy người Việt vào những môi trường làm việc hết sức khắc nghiệt bên ngoài Việt Nam, vừa khống chế họ thoát ra (giữ hộ chiếu, giấy phép làm việc,…), tiếp tục thu thêm những khoản gọi là “phí quản lý”, nặng nề tới mức ép nhiều người Việt ra nước ngoài làm thuê phải bỏ trốn, trở thành cư trú bất hợp pháp trên xứ người,… tuy hoàn toàn hợp pháp tại Việt Nam nhưng là tội ác trong cách nhìn nhận, đánh giá của thiên hạ!

Cho đến nay, Việt Nam vẫn khăng khăng, “bảo vệ, thăng tiến nhân quyền” tại Việt Nam có “đặc điểm riêng” so với phần còn lại của thế giới, thay vì cải tổ chính trị, nỗ lực phát triển kinh tế – xã hội tới mức người Việt tự thấy không cần phải tìm đường ra nước ngoài làm thuê thì “xuất khẩu lao động” được xác định là “nhiệm vụ chính trị”!

Quan niệm “buôn người” của thiên hạ là… nhảm nhí nên ai đó mà người Việt chưa biết và có thể sẽ chẳng bao giờ biết là ai hoặc những ai mới dám biến chuyến thăm Nam Hàn của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam thành cơ hội kiếm tiền, biến “chuyên cơ” thành phương tiện vận chuyển, thực hiện kế hoạch giúp chín người Việt có thể nhập cảnh, cư trú và làm việc bất hợp pháp tại Nam Hàn chỉ là chuyện… đáng tiếc, chỉ cần không cho “quá giang” nữa là… xong!

***

Trở lại chuyện Thủ tướng Việt Nam bị… hố khi tuyên bố về thời điểm công bố danh tính các nạn nhân trong thảm nạn Essex. Ông Phúc hố vì dựa vào thông tin từ “Đoàn công tác” mà chính phủ Việt Nam cử qua Anh để phối hợp với Anh điều tra – giải quyết thảm nạn Essex. “Đoàn công tác” hố vì nhận thức và hành xử theo kiểu… Việt Nam!

Tại Việt Nam, do “nhân quyền” có “đặc điểm riêng” nên nhận thức, cách hành xử đối với những vấn đề liên quan đến danh dự, phẩm giá con người, kể cả nạn nhân của các tai nạn, thảm nạn hoàn toàn khác với thiên hạ. Trước nay, giới hữu trách tại Việt Nam vẫn xem việc loan báo ngay lập tức, rộng rãi, từ danh tính tới lai lịch người tử nạn là chuyện tất nhiên vì đó là bằng chứng, chứng minh… khả năng quản lý, ứng phó của hệ thống công quyền nói chung và lực lượng bảo vệ pháp luật nói riêng.

Thiên hạ thì khác. Với thiên hạ, hệ thống công quyền nói chung và lực lượng bảo vệ pháp luật nói riêng chỉ được phép công bố danh tính nạn nhân sau khi đã báo tin cho thân nhân của họ đủ 24 giờ. Bất kể tính chất của tai nan, thảm nạn, thân nhân của nạn nhân có quyền yêu cầu hệ thống công quyền nói chung và lực lượng bảo vệ pháp luật nói riêng giới hạn phạm vi tiết lộ thông tin để bảo vệ quyền riêng tư của cả người đã khuất lẫn người còn sống.

Do không có những “đặc điểm riêng” như Việt Nam, thiên hạ còn đặt định những giải pháp hết sức cụ thể vừa để thể hiện sự tôn kính với người đã khuất, vừa bảo đảm yêu cầu tôn trọng danh dự, phẩm giá của cả người đã khuất lẫn người còn sống. Ví dụ, nhân viên y tế, viên chức bảo vệ pháp luật,… phải được huấn luyện từ thái độ, đến cách nói,… khi đảm nhận vai trò thông báo tin dữ cho thân nhân nạn nhân. Có thể tham khảo thêm về vấn đề này tại mục “Death Notification” trên Wikipedia (4).

Cũng vì không có những “đặc điểm riêng” như Việt Nam về “bảo vệ, thăng tiến nhân quyền”, tuy 39 nạn nhân trong thảm nạn Essex tử nạn vì tìm cách xâm nhập Anh Quốc bất hợp pháp, dân Anh mà đại diện là Thủ tướng Anh không xem họ là những người phải trả giá cho việc… nộp tiền ra nước ngoài làm ăn như ông Cầu và các đồng chí của ông. Dân Anh mà đại diện là Thủ tướng Anh chỉ bày tỏ sự xót xa khi 39 nạn nhân này thảm tử chỉ vì hi vọng có được một cuộc sống tốt đẹp (5)!

Thảm nạn Essex xảy ra trên lãnh thổ Anh, thẩm quyền điều tra những gì đã xảy ra, liên quan đến những ai đang hiện diện tại Anh, trong đó có cả việc xác định danh tính của các nạn nhân tất nhiên thuộc về hệ thống thực thi, bảo vệ pháp luật của Anh. Sự phối hợp giữa Anh và Việt Nam chắc chắn chỉ là chia sẻ thông tin để mở rộng hoạt động điều tra trong phạm vi lãnh thổ của mình nhằm xác định sự thật. Nói cách khác, công tác chính của “Đoàn công tác” mà chính phủ Việt Nam cử sang Anh là… chờ thông tin chính thức từ phía Anh để chính phủ Việt Nam loan báo – chứng minh có quan tâm đến việc “bảo hộ công dân”.

Sau khi thu thập được một số thông tin có thể sử dụng vào việc phục vụ cho công tác chứng tỏ sự quan tâm đến việc “bảo hộ công dân”, do quen với lối nhận thức, cách hành xử đối với con người kiểu… Việt Nam, “Đoàn công tác” vội vã báo tin về… nhà và đẩy Thủ tướng Việt Nam đến chỗ trở thành kẻ… tung tin đồn nhảm.

Từ khi có tin một số hoặc có thể là toàn bộ nạn nhân trong thảm nạn Essex là người Việt, “bảo hộ công dân” trở thành cụm từ phổ biến trên môi, miệng của nhiều viên chức hữu trách ở Việt Nam. Muốn biết “bảo hộ công dân” là thật hay do… hoàn cảnh, hãy vào trang “Tôi và Sứ quán” trên facebook, xem những công dân Việt Nam cư trú, học hành, làm việc trên xứ người đang rên siết ra sao khi vẫn bị các cơ quan ngoại giao đại diện chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hành hạ, dùng đủ mọi cách để ép phải ói ra tiền nếu muốn đổi hộ chiếu, hay có một số loại giấy tờ như khai sinh, hôn thú,… (6).

Bao giờ thì “đảng ta” suy nghĩ, hành xử như phần còn lại của loài người, thôi xem những điều thiên hạ cho rằng cần nghiêm túc là… nhảm nhí và thôi đòi bảo lưu, khăng khăng duy trì những “đặc điểm riêng” theo kiểu Việt Nam trong “bảo vệ, thăng tiến nhân quyền”, tự biến mình thành nhảm nhí trong mắt thiên hạ?

Chú thích

(1) https://www.voatiengviet.com/a/vụ-39-người-chết-cảnh-sát-anh-muốn-bảo-vệ-danh-dự-của-nạn-nhân/5154721.html

(2) https://www.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/co-the-chieu-nay-hoac-sang-mai-cong-bo-danh-tinh-cac-nan-nhan-chet-o-anh-c46a1097459.html

(3) https://news.zing.vn/tuong-cau-khong-ai-bo-ra-1-ty-de-nguoi-ta-buon-minh-ca-post1009537.html

(4) https://en.wikipedia.org/wiki/Death_notification

(5) https://tuoitre.vn/thu-tuong-anh-danh-mot-phut-mac-niem-39-thi-the-trong-container-20191029080146688.htm

(6) https://www.facebook.com/groups/toivasuquan/