

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)

BÀI 053: BÀI PHÁT BIỂU CỦA THỦ TƯỚNG ISRAEL
(Benjamin Netanyahu: “Chúng tôi làm cho sa mạc nở hoa”)
* Chỉ 70 năm trước, người Do Thái bị bắt làm thịt như cừu.
* 60 năm trước, không có quốc gia, không có quân đội. Đất nước mà Liên Hiệp Quốc cho chúng tôi là một sa mạc 65 %.
* 35 năm trước! Chúng tôi đã chiến đấu với 3 quân đội hùng mạnh nhất ở Trung Đông, 7 nước Ả-rập tuyên chiến với nhà nước Do Thái nhỏ bé chỉ vài giờ sau khi thành lập. Chúng tôi là 650.000 người Do Thái chống lại hàng triệu người trong thế giới Ả-rập – nơi có quân đội hiện đại và nhiều vũ khí của Liên Xô – Không có lực lượng quốc phòng mạnh – Không có lực lượng không quân hùng mạnh để cứu chúng tôi mà chỉ có những người Do Thái dũng cảm không còn nơi nào để đi. Và chúng tôi đã quét sạch chúng trong 6 ngày.
* NGÀY HÔM NAY CHÚNG TÔI CÓ:
– Một quốc gia
– Một đội quân
– Một lực lượng không quân hùng cường
– Một nền kinh tế tiên tiến với xuất khẩu trị giá hàng tỉ đô la.
– Intel – Microsoft – IBM và nhiều công ty công nghệ cao phát triển các sản phẩm tiên tiến ở Israel.
– Các bác sĩ của chúng tôi nhận được nhiều giải thường cho nghiên cứu y học.
– Chúng tôi làm cho sa mạc nở hoa, và cung cấp cam, hoa, rau trên khắp thế giới.
– Israel đã gửi các vệ tinh của riêng mình vào không gian, 3 vệ tinh cùng một lúc!
* CHÚNG TÔI TỰ HÀO ĐƯỢC XẾP ĐỒNG HẠNG VỚI:
– Hoa Kỳ, nơi có hơn 300 triệu dân
– Nga, nơi có hơn 140 triệu dân
– Tàu cộng, nơi có hơn 1,4 tỉ dân
– Châu âu – Pháp, Anh, Đức – với hơn 350 triệu dân
– Đây là các quốc gia duy nhất trên thế giới có vệ tinh gửi vào không gian!
* Chúng tôi đã xây dựng “đế chế” nhỏ bé của mình từ không có gì.
Lễ Vượt Qua vẫn luôn có ý nghĩa rất lớn với chúng tôi:
– Chúng tôi đã sống sót khỏi Pha-ra-ôn,
– Chúng tôi đã sống sót khỏi người Hy Lạp, người La Mã
– Chúng tôi đã sống sót khỏi tòa án dị giáo tại Tây Ban Nha,
– Chúng tôi bị tàn sát tại Nga, nhưng chúng tôi đã sống sót khỏi Hít-le, Đức Quốc Xã, nạn diệt chủng,
– Chúng tôi đã sống sót khỏi 7 nước Ả-rập,
– Chúng tôi đã sống sót khỏi Saddam (Cựu Tổng thống I-rắc).
– Và chúng tôi sẽ tiếp tục sống sót trước kẻ thù.
* Hãy nhìn vào lịch sử thế giới để thấy rằng tất cả các dân tộc, đế chế các nền văn hóa nơi có những con người từng cố gắng tiêu diệt chúng tôi.
Họ đã không còn tồn tại nữa rồi – trong khi đó chúng tôi vẫn sống!
– Ê-díp-tô?
– Ba-by-lôn?
– Hy Lạp?
– A-lếch-xan-đơ của Macedonia?
– Người La Mã? (Còn ai nói tiếng La-tin nữa không?)
– Đệ tam Quốc Xã?
* Và nhìn vào chúng tôi:
– Những nô lệ của Ai Cập
– Dân sự của Môi-se
– Dân tộc của Kinh Thánh
– Chúng tôi vẫn ở đây! Tiếng Hê-bơ-rơ vẫn là ngôn ngữ chính thức của Nhà nước Do Thái ngày nay, từ thời Kinh Thánh cho đến hiện tại!
* Người Ả-rập vẫn chưa biết, nhưng họ sẽ học được rằng có một Đức Chúa Trời.
– Chừng nào chúng tôi còn đức tin của mình, chúng tôi sẽ còn đến đời đời.
– Đức Chúa Trời của Israel đã tạo nên trời và đất.
– Đấng gìn giữ Israel không hề nháy mắt hay buồn ngủ!
– Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, I-sác, Gia-cốp.
Hãy chuyển tiếp bài phát biểu này tới cộng đồng, và mọi người trên thế giới!
Vì họ là một phần sức mạnh của chúng tôi !
(Via Babu Sagar – Trích dẫn trong một bài phát biểu của Thủ tướng Benjamin Netanyahu)


Ông Trịnh khai rằng dự định khi về nước sẽ gửi các bản mẫu này đến Bệnh viện Kỷ niệm Trung Sơn và công bố kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc dưới tên riêng của mình để phát triển sự nghiệp nghiên cứu.
Khi chuẩn bị lên chuyến bay từ Boston đến Bắc Kinh, môt nhà khoa học Trung Cộng, tên Zheng Zaosong bị nhân viên quan thuế cản bước và kéo anh sang một bên. Bên trong hành lý ký gửi của anh Zheng, các nhân viên tìm thấy 21 lọ chất lỏng màu nâu được bọc trong một túi nhựa và sau đó nhét vào trong một chiếc vớ, và các lọ hóa chất này có chứa tế bào ung thư.

Năm 2004, một cuộc khảo sát mức độ quốc gia tiến hành với 1.100 bác sĩ, được thực hiện bởi Công ty HCD Research, Viện Tôn giáo và Xã hội học Louis Finkelstein thuộc Chủng viện Thần học Do Thái (Jewish Theological Seminary) tại thành phố New York, Mỹ đã phát hiện 74% bác sĩ tin rằng phép lạ từng xảy ra trong quá khứ, 73% tin rằng những điều kỳ diệu đó vẫn diễn ra trong thời buổi hiện nay.

Cuộc thăm dò cũng chỉ ra rằng các bác sĩ Mỹ có niềm tin vào tín ngưỡng đáng kinh ngạc, với 72% cho thấy họ tin rằng tôn giáo mang đến một định hướng đáng tin cậy và cần thiết cho cuộc sống.
Những người được khảo sát có tín ngưỡng rất đa dạng: Cơ đốc giáo (Công giáo La Mã, Tin lành, Cơ đốc giáo chính thống…), Do Thái (Chính thống, Bảo thủ, Cải cách và thế tục) và các tôn giáo khác như Hồi giáo, Ấn Độ giáo và Phật giáo.
“Khảo sát cho thấy các bác sĩ, mặc dù có lẽ có trình độ học vấn trung bình cao hơn so với bệnh nhân, nhưng không nhất thiết phải khác biệt hơn hoặc hoàn toàn khác biệt so với bệnh nhân về quan điểm tôn giáo,” Tiến sĩ Alan Mittleman, Viện trưởng Viện Finkelstein cho biết.
“Công việc của chúng tôi là xác định nhu cầu và yêu cầu của bác sĩ phù hợp với môi trường chăm sóc sức khỏe; nghiên cứu này là cơ hội tuyệt vời để chúng tôi sử dụng phương pháp của mình để khám phá tâm linh và niềm tin cá nhân của bác sĩ”, Glenn Kessler, Đồng sáng lập và người quản lý các đối tác của HCD Research ở Flemington, NJ, Hoa Kỳ cho biết. Nghiên cứu đã khẳng định các cuộc thăm dò trước đó được thực hiện bởi HCD cho thấy mối tương quan giữa niềm tin tâm linh và sự bảo thủ chính trị của bác sĩ.
Các phát hiện cho thấy:
– 58% các bác sĩ được khảo sát tham dự các hoạt động tôn giáo ít nhất một lần mỗi tháng.
– 46% các bác sĩ tin rằng cầu nguyện là rất quan trọng trong cuộc sống của họ.
Có vẻ như niềm tin tôn giáo, đặc biệt là niềm tin vào phép lạ, giảm đi khi trình độ giáo dục tăng lên. Nhưng điều này dường như không đúng với các bác sĩ. Có lẽ vì liên quan thường xuyên đến các vấn đề của sự sống và cái chết, các bác sĩ cho thấy sự cởi mở đáng kể đối với tôn giáo.

– 37% bác sĩ tin rằng những câu chuyện thần kỳ của Kinh thánh là đúng theo nghĩa đen trong khi 50% tin rằng chúng là ẩn dụ. 12% cho biết họ không tin vào mô tả phép lạ của Kinh thánh
– 9% tin rằng Kinh thánh được viết bởi Thiên Chúa, 58% tin rằng Kinh thánh được Thiên Chúa truyền cảm hứng và 34% coi đó là văn học cổ đại của con người.
– 55% tin rằng thực hành y tế nên được hướng dẫn bởi giáo lý tôn giáo (44% không đồng ý)
Có lẽ kết quả đáng ngạc nhiên nhất của cuộc khảo sát là phần lớn các bác sĩ (55%) nói rằng họ đã từng chứng kiến điều kỳ diệu xảy đến với kết quả điều trị cho bệnh nhân. Có nhiều bác sĩ cầu nguyện cho nhóm các bệnh nhân của họ (51%). Thậm chí, 59% bác sĩ từng cầu nguyện cho từng bệnh nhân riêng lẻ.
67% bác sĩ khuyến khích bệnh nhân của họ cầu nguyện. Trong số các bác sĩ đó, 5% tin rằng Chúa sẽ đáp ứng lời thỉnh cầu của họ, 32% thấy có lợi ích tâm lý và 63% tin vào cả hai lý do trên. 33% bác sĩ không khuyến khích bệnh nhân của họ cầu nguyện.

Các bác sĩ có nhận thức khác nhau về ảnh hưởng đối với kết quả điều trị bệnh bởi các phương pháp y học so với sự tác động của các hiện tượng siêu nhiên hoặc hành vi của Thiên Chúa.
35% người Công giáo tin rằng toàn bộ hoặc rất nhiều kết quả điều trị là do những những tác động phi y học này, 46% người Tin lành đồng tình trong khi chỉ có 20% người Do Thái cho rằng kết quả có ảnh hưởng bởi sự tác động phi y học.
Một nghiên cứu khác năm 2005 của Đại học Chicago, Hoa Kỳ cho thấy có đến 76% các bác sĩ tin vào Chúa, trong khi đó chỉ có 39% các nhà khoa học và khoảng 70% dân chúng tin vào Chúa.
Báo cáo cũng chỉ ra rằng những người có thu nhập cao thường có ít niềm tin vào tín ngưỡng. Tuy nhiên, sự tương quan này không đúng với các bác sĩ, những người có thu nhập nằm trong top 5% của xã hội.
Báo cáo cho thấy các tỷ lệ các bác sĩ tin vào Chúa nhiều hơn các nhóm khác có cùng mức thu nhập. Có lẽ do thường xuyên đối diện với những tử vong và cái chết không thể đoán trước, các bác sĩ luôn nhớ rằng một bệnh nhân không thể dùng tiền mua lối thoát khỏi những bệnh nan y, và an ninh về tài chính cũng không nhất định giúp được họ thoát khỏi những nguy cơ đó.
Báo cáo của Đại học Chicago có một điểm thú vị rằng môi trường làm việc khiến các bác sĩ luôn phải chứng kiến những sự kiện kinh khủng mà hầu hết người khác đều cho rằng không công bằng, như người tốt bụng luôn đau yếu, những đứa trẻ mất cha mẹ, hay những đứa trẻ ngây thơ phải chịu bệnh tật… Nhiều người đặt câu hỏi rằng chứng kiến những hoàn cảnh như vậy có thể khiến các bác sĩ mất đi niềm tin vào Chúa. Nhưng, nghiên cứu đã chứng minh rằng hầu hết họ vẫn tin vào Chúa.
Điều này rất khó giải thích, nhưng có lẽ là do sự yên bình và thanh thản đến bất ngờ mà các bệnh nhân khi tử vong thể hiện ra hoặc do quan sát nhiều sự kiện tưởng là “xấu” lại không nhất định đơn giản như những điều “tốt hay xấu” theo cái lý thông thường, khiến các bác sĩ vẫn đặt niềm tin lớn hơn vào các sức mạnh của Thượng đế cho dù bất kể lý do bất hạnh của con người là gì.


CƠ ĐỒ
Về cái câu tự sướng mà các báo quốc doanh đang tung hô, rằng “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ như hôm nay”, chúng ta cần thấy:
-Đó cũng chỉ là dạng tư duy cùn mòn, kiểu như so với trước cách mạng tháng 8 thì nông thôn bây giờ có nhiều nhà ngói hơn, thậm chí có cả nhà mái bằng, nhà 2 tầng.
-Chỉ nhìn vào thực tế trong nước rồi tự bảo ta đã tiến được thế này thế nọ, sao không thấy trong cùng thời gian ấy xứ người ta đã có cơ đồ bằng mấy mình. Nói đâu xa, chỉ sang Thái Lan là biết, chứ chưa cần Hàn, Nhật.
-Sao không tự hiểu, nếu không có các vị, cơ đồ của đất nước bây giờ có khi còn lớn gấp bao nhiêu lần cái cơ đồ đang có.
-Suốt mấy chục năm, cụ thể là 44 năm sau chiến tranh, tức là gần nửa thế kỷ, nay mới chỉ đạt được cơ đồ thế này, đáng nhẽ phải thấy nhục chứ không phải là vênh vang đắc chí. Lãng phí tiêu phí của cả dân tộc biết bao là thời gian, còn khoe mẽ nỗi gì.
– Nguyễn Thông
Đất nước cần tiềm lực tự nhiên hay tiềm lực nhân văn?
Đề thi môn văn tốt nghiệp phổ thông trung học năm học 2017-2018 là bài thơ Đánh Thúc Tiềm Lực được Nguyễn Duy viết vào năm 1980-1982 trong thời kỳ đất nước quá nghèo khổ, được xếp vào hàng 5 nước nghèo khổ nhất thế giới vào thời điểm đó. Nhưng, cần phải nhận thức chính xác rằng, đất nước vào thời kỳ ấy có nhiều tiềm lực vật chất để không nghèo đói: Rừng vẫn vàng, biển vẫn bạc, tài nguyên thiên nhiên vẫn chưa được khai thác nhiều, đất đai vẫn mênh mông. Thế nhưng, vào thời điểm ấy cơ chế quan liêu bao cấp chính là dây thòng lòng bóp nghẹt tất cả.
Trong nhận thức non trẻ của các em học sinh phổ thông, có lẽ hầu hết các em tin rằng Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm lực vật chất- tài nguyên khoáng sản để đánh thức, để phát triển như nhà thơ Nguyễn Duy. Nhưng, nếu có em nào đó viết đúng sự thật rằng, tiềm lực tự nhiên của đất nước không còn nữa, bài thi của em đó có bị điểm o không? Nếu chịu khó suy xét, có thể thấy rằng, Việt Nam không còn tiềm lực vật chất để phát triển nữa. Rừng- về cơ bản đã bị quan chức và những chính sách sai lầm phá hết. Biển- về cơ bản đã chết khi nguồn lợi hải sản đã bị khai cùng thác tận, và bị đầu độc ô nhiễm nặng nề. Dầu khí biển- về cơ bản cũng đã hết, và quan trọng nhất là 67 lô dầu khí biển đang mất dần vào tay bạn vàng bốn tốt Trung Hoa. “ Rừng đã hết và biển thì đang chết” có lẽ là câu thơ đau xót nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Đất đai- về cơ bản đã nằm trong tay các thương gia trục lợi và các nhóm tư bản thân hữu. Tài nguyên khoáng sản- về cơ bản đã hết. Việt Nam có tiềm lực vật chất nào nữa để mà đánh thức, để mà phát triển? Có nên trách người ra đề không có nhận thức về những thực tiễn đau lòng? Có nên xem xét rằng, người ra đề thi đã chính trị hóa sâu sắc bài thơ để tuyên truyền, mị dân về sự giàu có tài nguyên của đất nước? Nếu đặt ra những câu hỏi này, cần phải có thái độ cảm thông với các em học sinh vì các em đã bị cung cấp một ngộ nhận.
Thế giới đã qua rồi cái thời phát triển bằng tài nguyên khoáng sản, họ thấu hiểu “lời nguyền tài nguyên” là gì(Lời nguyền tài nguyên là một thuật ngữ chỉ việc khai thác tài nguyên chỉ làm lợi cho một nhóm người, không có lợi cho cộng đồng và đất nước, tàn phá môi trường…). Nước Nga của hoàng đế đỏ Putin đầy rẫy tài nguyên khoáng sản quý hiếm, đất hiếm và tồn tại bằng khai khoáng nhưng có giàu mạnh chút nào đâu. Lục địa đen cũng đầy rẫy tài nguyên khoáng sản nhưng vẫn đắm chìm vào đói nghèo và lạc hậu. Trong khi đó, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và hàng chục quốc gia khác không có tài nguyên khoáng sản, hoặc kiên quyết không khai thác tài nguyên khoáng sản vẫn phát triển như vũ bão, vẫn giàu có, thịnh vượng và hạnh phúc. Từ cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, Mỹ, Anh và nhiều quốc gia khác đã kiên quyến nói không với khai thác mỏ để phát triển bằng kinh tế tri thức, bằng sáng tạo. Nước Mỹ dồi dào khoáng sản nhưng Mỹ không khai thác. Nước Mỹ nhập nguyên liệu phôi thép từ Liên xô cũ và nay là CHLB Nga về và chỉ sau vài tuần nước Mỹ đã có những sản phẩm thép đặc hữu có giá trị cao ngất. Giá trị cao ngất đó đến từ trí tuệ và sáng tạo chứ không đến từ khai thác và luyện thô. Nước Mỹ có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt vào hàng cao nhất thế giới, nhưng nước Mỹ chỉ khai thác nhỏ giọt, chủ yếu nhập khẩu. Trí tuệ và sức sáng tạo không ngưng nghỉ của nước Mỹ đã giúp cho nước Mỹ kiên định với con đường “giọt dầu cuối cùng của thế giới là giọt dầu của nước Mỹ”. Kiên định con đường ấy, nước Mỹ đã sản sinh ra công nghệ khai thác dầu đá phiến với hệ số thu hồi dầu cao gấp đôi các công nghệ hiện có, qua đó giảm giá thành, nâng cao sản lượng. Chính công nghệ này đã giúp giá dầu xuống thấp trong 4 năm nay. Với nước Mỹ, trí tuệ và sáng tạo làm nên thành tựu chứ không phải là tiềm lực tự nhiên.
Câu chuyện thành công- thất bại của các quốc gia không phải là câu chuyện tiềm lực tự nhiên, tài nhiên khoáng sán, mà chính là câu chuyện của các tiềm lực nhân văn, mà cụ thể là thể chế chính trị ưu việt hay thể chế chính trị tồi tệ, câu chuyện của tự do hay nô lệ, câu chuyện tôn trọng nhân quyền hay chà đạp nhân quyền.
Các quốc gia tự do, dân chủ và tôn trọng nhân quyền đều là những quốc gia giàu có, thịnh vượng và hạnh phúc như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, New Zealand, Úc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc……Ở đó, họ có đa nguyên và đa nguyên chính trị, có tự do bầu cử, có tam quyền phân lập để giám sát quyền lực, để chống tha hóa quyền lực. Ở đó có tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do học thuật, tự do xuất bản, tự do biểu diễn, tự do sáng tác… Tự do là nền móng của sáng tạo, mà sáng tạo lại là nền tảng của phát triển và thịnh vượng, và họ giàu có là điều tất nhiên. Ở các quốc gia đó, quyền con người- nhân quyền được nhà nước và cộng đồng tôn trọng tuyệt đối. Khi nhân quyền được coi trọng và tôn trọng, con người luôn có hứng khởi để sống, để làm việc, để sáng tạo và cống hiến.
Nếu soi chiếu đơn giản các đặc trưng cơ bản của tự do- dân chủ- nhân quyền, hãy can đảm đặt câu hỏi: Việt Nam đã có tự do- dân chủ -nhân quyền hay chưa? Câu trả lời chính xác là, đó là mặt hàng xa xỉ mà nhân dân Việt Nam đang mong mỏi. Và khi chưa có mặt hàng xa xỉ đó, Việt Nam vẫn cứ phải lầm lũi trong đói nghèo, khổ đau và bất hạnh như những quốc gia thiếu vắng tự do- dân chủ- nhân quyền khác!
Việt Nam không còn tiềm lực tự nhiên để đánh thức, để phát triển, vậy cần gì để phát triển? Câu trả lời thật đơn giản: Việt Nam đang rất cần tiềm lực nhân văn đặc biệt Tự Do- Dân Chủ- Nhân Quyền. Đó là giải pháp vạn năng để sửa chữa những sai lầm của quá khứ, để phát triển trong hiện tại và thịnh vượng- hạnh phúc trong tương lai.

Một trong những nguyên nhân khiến cộng sản thành công là: Hứa hẹn, hứa hẹn và hứa hẹn. Và đó là những hứa hẹn không bao giờ đến. Chế Lan Viên với sự thông minh hiếm có, với những cảm nhận tinh tế của một nhà thơ tài năng, đã cho rằng, ông cũng như hàng triệu người dân Việt Nam khác đã bị chiếc BÁNH VẼ của cộng sản mê hoặc.Những năm cuối đời, ông đã viết bài thơ Bánh Vẽ nói về nỗi đau bị lường gạt, bị dụ dỗ và bị tha hóa. Vì bài thơ Bánh Vẽ này mà tuyệt phẩm Di Cảo của ông đã bị thu hồi và cấm.
BÁNH VẼ
Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp.
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Ðêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…
Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi,
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm…

Một số hiểu lầm về Kinh Thánh
Cho tới nay dường như vẫn có nhiều người nghĩ rằng Kinh Thánh là sách nói về giáo lý của đạo Ki-tô, thuần tuý là sách tôn giáo, chỉ dùng cho các tín đồ Ki-tô giáo mà thôi – mà tôn giáo lại là lĩnh vực nhạy cảm, ở ta quen gọi là “thuốc phiện của nhân dân”, chớ có dại mà đụng chạm tới – vì vậy ai không theo Ki-tô giáo thì chẳng cần và chớ nên đọc Kinh Thánh. Cuốn sách gối đầu giường của hơn một tỷ tín đồ và được cả thế giới không ngừng xuất bản với số lượng nhiều nhất này chưa từng thấy bán tại các hiệu sách ở ta. Báo in, báo điện tử ngại đăng các bài viết liên quan tới Kinh Thánh.
Thực ra cách hiểu như vậy là lệch lạc và bất lợi cho mọi người trong việc tìm hiểu văn hóa nhân loại và văn hóa phương Tây nói chung cũng như văn hóa Ki-tô giáo nói riêng.
Hiểu lầm nói trên có thể bắt nguồn từ bản thân tên “Kinh Thánh” đem lại ấn tượng “thần thánh”, thần bí. Đây là cái tên không chính xác, dễ gây hiểu nhầm. Thực ra sách này vốn dĩ có hai tên gốc: 1) Tên tiếng Hy Lạp là Biblia, nghĩa là “sách”; 2) Tên tiếng La Tinh là Scriptura, nghĩa là “trước tác” “bài viết”, “bản thảo” – nói cách khác, nó hoàn toàn không có chút nào ý nghĩa thần thánh. Tiếng Anh đầu tiên gọi là Biblelh, về sau thống nhất gọi là The Bible, nghĩa là sách kinh điển.
Tên sai là do ta dùng từ hoàn toàn theo Trung Quốc. Ngày xưa, khi dịch Cựu Ước toàn thư và Tân Ước toàn thư ra chữ Hán, người Trung Quốc gán cho hai cuốn sách này cái tên “Thần thánh điển phạm” (Mẫu mực thiêng liêng) và “Thiên kinh địa nghĩa” (Đạo nghĩa muôn thủa); về sau, khi in gộp Cựu Ước và Tân Ước thành một bộ sách, người Trung Quốc ghép hai chữ thứ hai lại thành “Thánh Kinh”, nghe nặng tính thần thánh, khiến người ta dễ hiểu lầm sách này chỉ là sách kinh điển của Ki-tô giáo. Quả thật, cái tên đó khi dịch sang tiếng Việt là Kinh Thánh đã nhuốm đậm màu sắc tôn giáo, thánh thần, trở nên xa lạ với cộng đồng người không theo tôn giáo.
Đây thật là một sai lầm lịch sử đáng tiếc nhưng không thể sửa được vì đã quen dùng và cảm thấy thiêng liêng. Vì thế rất ít người Việt Nam thực sự biết Kinh Thánh là gì, nội dung ra sao, có ý nghĩa thế nào đối với chúng ta. Đây là một thiệt thòi lớn về tri thức cho mọi người, nhất là thanh thiếu niên.
Sơ lược nội dung Kinh Thánh
Kinh Thánh gồm hai phần: Cựu Ước (Old Testament) và Tân Ước (New Testament), do hơn 40 tác giả viết trong suốt hơn 1.600 năm từ thế kỷ 12 trước CN cho tới thế kỷ 2 sau CN, là một tác phẩm đồ sộ, bản tiếng Việt dày tới 1.400 trang chữ khổ nhỏ.
Cựu Ước – Giao ước cũ của người Hebrew (nay gọi là Do Thái) với Thượng Đế, là Kinh điển của người Hebrew, thực tế là bộ sử của một dân tộc dẫn đầu nền văn hoá nhân loại. Từ 5.000 năm trước, người Hebrew đã sáng suốt chỉ tin một đấng tối cao duy nhất họ gọi là Jehovah tức Thượng Đế (God), được hiểu là một sức mạnh siêu nhiên sáng tạo ra tất cả (Tạo Hóa, the Creator) – khái niệm ấy ngày nay ta chưa hiểu rõ song lại chưa thể phủ nhận – chứ không thờ một thần thánh nào có nguồn gốc từ người hoặc vật.
Cựu Ước gồm 39 cuốn chia 4 phần: sách Luật pháp (5 cuốn đầu của Moses); sách Lịch sử (12 cuốn); sách Tiên tri (16 cuốn); sách Văn thơ (6 cuốn). Cựu Ước rất ít màu sắc tôn giáo, nó chứa đựng vũ trụ quan, nhân sinh quan cổ xưa nhất của nhân loại, là tài liệu vô cùng quý giá rất đáng nghiên cứu. Sách Cựu Ước nguyên văn viết hầu hết bằng tiếng Hebrew và một phần bằng tiếng Aramaic (tiếng của người Aram, tức Syria cổ), do nhiều người viết suốt từ năm 1.200 đến năm 100 trước CN và được truyền miệng từ rất lâu trước khi viết thành văn. Tuy cổ xưa như thế nhưng Cựu Ước là một văn bản có thực và tồn tại cho tới ngày nay. Chứng cớ là thời gian 1947–1956, người ta phát hiện trong các hang động gần Biển Chết (Dead Sea, ở Israel) chứa hơn 900 “sách” có viết chữ (chữ Hebrew, Hy Lạp, Aramaic) bằng dùi nung trên da cừu, gọi là Sách Cuộn Biển Chết (Dead Sea scrolls), đựng trong các bình gốm cao. Giám định cho thấy số sách này được làm vào khoảng từ năm 100 trước CN tới 70 sau CN, là những bản sao cổ xưa nhất còn tồn tại của Cựu Ước (nội dung hoàn toàn như Kinh Cựu Ước hiện sử dụng) và một số kinh điển khác của người Hebrew. Phát hiện Sách Cuộn Biển Chết có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Tân Ước – Giao ước mới của các tín đồ Ki-tô giáo với Thượng Đế, nguyên văn viết bằng tiếng Hy Lạp, ra đời một thế kỷ sau khi xuất hiện đạo Ki-tô, tức rất muộn so với Cựu Ước, và nặng mầu sắc tôn giáo hơn; nó trình bày cuộc đời và học thuyết của Chúa Jesus. Tân Ước gồm 27 cuốn, chia 3 phần: sách Phúc Âm (5 cuốn); sách giáo lý (21 cuốn); sách Khải Huyền (1 cuốn). Số trang của Tân Ước chỉ bằng khoảng gần 1/3 Cựu Ước. Các học giả cho rằng Tân Ước được viết xong vào khoảng năm 382 sau CN.
Kinh Thánh là một bộ sách có tính tổng hợp, một bách khoa toàn thư rất hữu ích trong việc nghiên cứu nhân loại cổ đại về các mặt lịch sử, chính trị, quân sự, pháp luật, luân lý đạo đức, kinh tế, khoa học kỹ thuật, y học, văn hoá … Chưa dân tộc nào viết được bộ sử của mình một cách khái quát, hữu ích như Cựu Ước. Bộ sử này không viết nhiều về đời sống, hành vi của các vua chúa (như Sử Ký của Tư Mã Thiên), nhưng viết rất kỹ về quá trình di chuyển, các tai họa dân tộc (chiến tranh, đói kém …), các kinh nghiệm và đời sống của dân tộc này, qua đó đời sau có thể học được nhiều điều bổ ích.
Cựu Ước ghi lại đời sống mọi mặt của người Hebrew, từ việc lớn của quốc gia, dân tộc cho tới những chi tiết rất nhỏ nhặt trong ăn ở, đối nhân xử thế, thậm chí cả trong sinh hoạt tình dục, nhờ thế giúp hậu thế hiểu chính xác, chi tiết về đời sống tinh thần vật chất của họ cách đây mấy nghìn năm. Một thí dụ: phương pháp tránh thai phổ biến nhất, cổ nhất xưa nay là xuất tinh ngoài âm đạo – phương Tây gọi là Onanism – từ này có nguồn gốc trong Kinh Thánh, chương 38 “Sáng thế ký (Genesis)” “Giuđa và con dâu là Tama”.[1]
Chưa dân tộc nào biên soạn và còn lưu giữ được một tác phẩm kinh điển có giá trị như Kinh Thánh phần Cựu Ước. Thí dụ “Kinh thánh” của văn minh Trung Hoa là sách Luận Ngữ hoàn toàn không có được tính tổng hợp như vậy, chưa kể còn ra đời sau 7 thế kỷ.
Kinh Thánh còn là một tác phẩm văn học đồ sộ, di sản quý báu của nhân loại. Trong Cựu Ước có các tác phẩm văn học trí tuệ, văn học tiên tri và văn học khải huyền, là những sáng tạo của người Hebrew.
Tính chất quan trọng của Kinh Thánh
Kinh Thánh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của dân tộc Do Thái. Cựu Ước là kinh điển của đạo Do Thái, nhờ tôn giáo này mà người Do Thái dù hai nghìn năm mất tổ quốc, sống lưu vong phân tán ở khắp nơi trên thế giới, bị hắt hủi, xua đuổi, thậm chí hãm hại, tàn sát nhưng vẫn giữ nguyên vẹn được nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa và nhất là họ luôn dẫn đầu thế giới trong các hoạt động trí tuệ. Ngày ngày cầu kinh, ôn lại lịch sử khốn khổ của dân tộc mình, là cách nhắc nhở người Do Thái luôn nhớ quá khứ gian nan của mình để cố gắng vươn lên thoát khỏi nghịch cảnh. Dân tộc nhỏ bé này có đóng góp cho nhân loại nhiều hơn mọi dân tộc khác. Một thí dụ: người Do Thái chỉ chiếm 0,25% số dân thế giới nhưng họ chiếm 22% tổng số giải Nobel các loại đã trao trong thời gian 1901-2007; trong đó có 41% giải Kinh tế, 26% giải Vật lý, 19% giải Hóa học, 28% giải Y học, 13% giải Văn học, 9% giải Hòa bình.
Đối với loài người, tính chất quan trọng của Kinh Thánh không chỉ thể hiện ở chỗ nó được in đi in lại với số lượng nhiều nhất thế giới, mà còn ở chỗ được người ta quan tâm đọc và trích dẫn nhiều nhất – đây là tiêu chuẩn định lượng đánh giá một tác phẩm. Cho tới nay, Kinh Thánh đã lưu truyền mấy nghìn năm chưa bao giờ ngừng, được dịch ra 1.800 ngôn ngữ của khắp thế giới, có ảnh hưởng tới hàng tỉ người kể cả người không theo tôn giáo nào. Riêng nước Mỹ hàng năm in khoảng 9 triệu bản Kinh Thánh. Trung Quốc đã in hơn 40 triệu bản.
Kinh Thánh là nguồn cảm hứng và trích dẫn của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, lịch sử, triết học v.v… trên toàn thế giới. Từ bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng của Leonard de Vinci, tập thơ Thần khúc của Dante, các vở kịch của Shakespeare (vở Hamlet trích dẫn Kinh Thánh nhiều nhất), cho tới tiểu thuyết Sống lại của Tolstoy, …vô số tác phẩm văn học nghệ thuật đều lấy nguồn từ Kinh Thánh. Các trước tác của Karl Marx và Engels trích dẫn Kinh Thánh hơn 300 lần, liên quan tới hơn 80 nhân vật trong đó. Tại Trung Quốc, Lỗ Tấn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn … đều trích dẫn Kinh Thánh. Ở Việt Nam, chúng ta thường xuyên kỷ niệm lễ Phục sinh, Giáng sinh …, tiểu thuyết, sách báo ta thường nói A-đam, Ê-va, Chúa,… tất cả đều có nguồn gốc từ Kinh Thánh.
Bởi vậy nếu không hiểu Kinh Thánh thì sẽ rất khó tìm hiểu văn minh phương Tây – nền móng của văn minh hiện đại, cũng rất khó hiểu về dân tộc Do Thái. Không đọc Kinh Thánh thì tất nhiên sẽ dễ nói, viết sai về các điển tích đó. Rõ ràng tất cả mọi người, nhất là người làm công tác văn hóa văn nghệ, giáo dục, xã hội … đều nên đọc Kinh Thánh.
Kinh Thánh ở Việt Nam
Có lẽ vì nghĩ rằng Kinh Thánh là sách riêng của Ki-tô giáo, tuyên truyền cho tôn giáo, nên ở ta không thấy hiệu sách nào có bán Kinh Thánh do nhà xuất bản của nhà nước chính thức phát hành rộng rãi như một tác phẩm văn hóa bình thường.
Thực ra các giáo hữu ở ta đều có cuốn Kinh Thánh do Toà Tổng Giám mục Hà Nội kết hợp Nhà Xuất bản Hà Nội in và xuất bản với số lượng lớn nhưng chỉ phát hành nội bộ giáo hữu. Cuốn Kinh này chỉ in Tân Ước nặng tính tôn giáo; Cựu Ước quan trọng hơn thì lại không được in, thật đáng tiếc. Sách khổ nhỏ cỡ bàn tay in trên giấy tốt, bìa ni lông. Ngoài ra các giáo hữu còn có sách “Kinh Thánh bằng hình” (phụ bản của báo “Công giáo và Dân tộc” in tại TP Hồ Chí Minh năm 1991, lượng in 25.000 cuốn); đáng tiếc là hệ thống phát hành của nhà nước cũng không phát hành cuốn này.
Lùng các hiệu sách cũ, người viết bài này mua được một bản Kinh Thánh toàn tập tiếng Việt, dày 1.400 trang giấy mỏng, bìa giả da, do United Bible Societies in tại Hàn Quốc năm 1995. Sách dùng cách hành văn và từ ngữ cổ, khó hiểu; phần Tân Ước dịch khác nhiều so với bản in của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.
Thiết nghĩ hệ thống xuất bản phát hành của nhà nước nên xuất bản phát hành Kinh Thánh như một tác phẩm văn hoá nghệ thuật nhằm khai thác kho tàng văn hóa vô giá này của nhân loại. Nên đưa việc học Kinh Thánh (nhất là Cựu Ước) vào chương trình giảng dạy phổ thông trung học. Cũng nên biên soạn các sách hướng dẫn tìm hiểu giá trị văn hoá lịch sử, khảo cổ … của Kinh Thánh. Việc tìm hiểu Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta hiểu đúng đắn, toàn diện về văn minh phương Tây nói riêng và văn minh nhân loại nói chung, giúp chúng ta hoà vào dòng chảy chung của văn minh toàn cầu, đồng thời thể hiện chúng ta biết tôn trọng văn hoá tôn giáo – một thành phần rất quan trọng của văn hoá thế giới.
Đây là một việc cần làm khi Việt Nam đã gia nhập WTO, hòa vào nhịp sống chung của toàn cầu, trong đó có đời sống văn hóa-tâm linh.
(Tác giả-Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và là nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội , bài đăng trên NGHIENCUUQUOCTE.ORG )