BÁNH VẼ

Image may contain: 1 person, text
Hai Chu Vinh

Một trong những nguyên nhân khiến cộng sản thành công là: Hứa hẹn, hứa hẹn và hứa hẹn. Và đó là những hứa hẹn không bao giờ đến. Chế Lan Viên với sự thông minh hiếm có, với những cảm nhận tinh tế của một nhà thơ tài năng, đã cho rằng, ông cũng như hàng triệu người dân Việt Nam khác đã bị chiếc BÁNH VẼ của cộng sản mê hoặc.Những năm cuối đời, ông đã viết bài thơ Bánh Vẽ nói về nỗi đau bị lường gạt, bị dụ dỗ và bị tha hóa. Vì bài thơ Bánh Vẽ này mà tuyệt phẩm Di Cảo của ông đã bị thu hồi và cấm.

BÁNH VẼ

Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp.
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Ðêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…
Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi,
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm…

Một số hiểu lầm về Kinh Thánh

No photo description available.
Trần Bang

Một số hiểu lầm về Kinh Thánh

Cho tới nay dường như vẫn có nhiều người nghĩ rằng Kinh Thánh là sách nói về giáo lý của đạo Ki-tô, thuần tuý là sách tôn giáo, chỉ dùng cho các tín đồ Ki-tô giáo mà thôi – mà tôn giáo lại là lĩnh vực nhạy cảm, ở ta quen gọi là “thuốc phiện của nhân dân”, chớ có dại mà đụng chạm tới – vì vậy ai không theo Ki-tô giáo thì chẳng cần và chớ nên đọc Kinh Thánh. Cuốn sách gối đầu giường của hơn một tỷ tín đồ và được cả thế giới không ngừng xuất bản với số lượng nhiều nhất này chưa từng thấy bán tại các hiệu sách ở ta. Báo in, báo điện tử ngại đăng các bài viết liên quan tới Kinh Thánh.

Thực ra cách hiểu như vậy là lệch lạc và bất lợi cho mọi người trong việc tìm hiểu văn hóa nhân loại và văn hóa phương Tây nói chung cũng như văn hóa Ki-tô giáo nói riêng.

Hiểu lầm nói trên có thể bắt nguồn từ bản thân tên “Kinh Thánh” đem lại ấn tượng “thần thánh”, thần bí. Đây là cái tên không chính xác, dễ gây hiểu nhầm. Thực ra sách này vốn dĩ có hai tên gốc: 1) Tên tiếng Hy Lạp là Biblia, nghĩa là “sách”; 2) Tên tiếng La Tinh là Scriptura, nghĩa là “trước tác” “bài viết”, “bản thảo” – nói cách khác, nó hoàn toàn không có chút nào ý nghĩa thần thánh. Tiếng Anh đầu tiên gọi là Biblelh, về sau thống nhất gọi là The Bible, nghĩa là sách kinh điển.

Tên sai là do ta dùng từ hoàn toàn theo Trung Quốc. Ngày xưa, khi dịch Cựu Ước toàn thư và Tân Ước toàn thư ra chữ Hán, người Trung Quốc gán cho hai cuốn sách này cái tên “Thần thánh điển phạm” (Mẫu mực thiêng liêng) và “Thiên kinh địa nghĩa” (Đạo nghĩa muôn thủa); về sau, khi in gộp Cựu Ước và Tân Ước thành một bộ sách, người Trung Quốc ghép hai chữ thứ hai lại thành “Thánh Kinh”, nghe nặng tính thần thánh, khiến người ta dễ hiểu lầm sách này chỉ là sách kinh điển của Ki-tô giáo. Quả thật, cái tên đó khi dịch sang tiếng Việt là Kinh Thánh đã nhuốm đậm màu sắc tôn giáo, thánh thần, trở nên xa lạ với cộng đồng người không theo tôn giáo.

Đây thật là một sai lầm lịch sử đáng tiếc nhưng không thể sửa được vì đã quen dùng và cảm thấy thiêng liêng. Vì thế rất ít người Việt Nam thực sự biết Kinh Thánh là gì, nội dung ra sao, có ý nghĩa thế nào đối với chúng ta. Đây là một thiệt thòi lớn về tri thức cho mọi người, nhất là thanh thiếu niên.

Sơ lược nội dung Kinh Thánh

Kinh Thánh gồm hai phần: Cựu Ước (Old Testament) và Tân Ước (New Testament), do hơn 40 tác giả viết trong suốt hơn 1.600 năm từ thế kỷ 12 trước CN cho tới thế kỷ 2 sau CN, là một tác phẩm đồ sộ, bản tiếng Việt dày tới 1.400 trang chữ khổ nhỏ.

Cựu Ước – Giao ước cũ của người Hebrew (nay gọi là Do Thái) với Thượng Đế, là Kinh điển của người Hebrew, thực tế là bộ sử của một dân tộc dẫn đầu nền văn hoá nhân loại. Từ 5.000 năm trước, người Hebrew đã sáng suốt chỉ tin một đấng tối cao duy nhất họ gọi là Jehovah tức Thượng Đế (God), được hiểu là một sức mạnh siêu nhiên sáng tạo ra tất cả (Tạo Hóa, the Creator) – khái niệm ấy ngày nay ta chưa hiểu rõ song lại chưa thể phủ nhận – chứ không thờ một thần thánh nào có nguồn gốc từ người hoặc vật.

Cựu Ước gồm 39 cuốn chia 4 phần: sách Luật pháp (5 cuốn đầu của Moses); sách Lịch sử (12 cuốn); sách Tiên tri (16 cuốn); sách Văn thơ (6 cuốn). Cựu Ước rất ít màu sắc tôn giáo, nó chứa đựng vũ trụ quan, nhân sinh quan cổ xưa nhất của nhân loại, là tài liệu vô cùng quý giá rất đáng nghiên cứu. Sách Cựu Ước nguyên văn viết hầu hết bằng tiếng Hebrew và một phần bằng tiếng Aramaic (tiếng của người Aram, tức Syria cổ), do nhiều người viết suốt từ năm 1.200 đến năm 100 trước CN và được truyền miệng từ rất lâu trước khi viết thành văn. Tuy cổ xưa như thế nhưng Cựu Ước là một văn bản có thực và tồn tại cho tới ngày nay. Chứng cớ là thời gian 1947–1956, người ta phát hiện trong các hang động gần Biển Chết (Dead Sea, ở Israel) chứa hơn 900 “sách” có viết chữ (chữ Hebrew, Hy Lạp, Aramaic) bằng dùi nung trên da cừu, gọi là Sách Cuộn Biển Chết (Dead Sea scrolls), đựng trong các bình gốm cao. Giám định cho thấy số sách này được làm vào khoảng từ năm 100 trước CN tới 70 sau CN, là những bản sao cổ xưa nhất còn tồn tại của Cựu Ước (nội dung hoàn toàn như Kinh Cựu Ước hiện sử dụng) và một số kinh điển khác của người Hebrew. Phát hiện Sách Cuộn Biển Chết có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

Tân Ước – Giao ước mới của các tín đồ Ki-tô giáo với Thượng Đế, nguyên văn viết bằng tiếng Hy Lạp, ra đời một thế kỷ sau khi xuất hiện đạo Ki-tô, tức rất muộn so với Cựu Ước, và nặng mầu sắc tôn giáo hơn; nó trình bày cuộc đời và học thuyết của Chúa Jesus. Tân Ước gồm 27 cuốn, chia 3 phần: sách Phúc Âm (5 cuốn); sách giáo lý (21 cuốn); sách Khải Huyền (1 cuốn). Số trang của Tân Ước chỉ bằng khoảng gần 1/3 Cựu Ước. Các học giả cho rằng Tân Ước được viết xong vào khoảng năm 382 sau CN.

Kinh Thánh là một bộ sách có tính tổng hợp, một bách khoa toàn thư rất hữu ích trong việc nghiên cứu nhân loại cổ đại về các mặt lịch sử, chính trị, quân sự, pháp luật, luân lý đạo đức, kinh tế, khoa học kỹ thuật, y học, văn hoá … Chưa dân tộc nào viết được bộ sử của mình một cách khái quát, hữu ích như Cựu Ước. Bộ sử này không viết nhiều về đời sống, hành vi của các vua chúa (như Sử Ký của Tư Mã Thiên), nhưng viết rất kỹ về quá trình di chuyển, các tai họa dân tộc (chiến tranh, đói kém …), các kinh nghiệm và đời sống của dân tộc này, qua đó đời sau có thể học được nhiều điều bổ ích.

Cựu Ước ghi lại đời sống mọi mặt của người Hebrew, từ việc lớn của quốc gia, dân tộc cho tới những chi tiết rất nhỏ nhặt trong ăn ở, đối nhân xử thế, thậm chí cả trong sinh hoạt tình dục, nhờ thế giúp hậu thế hiểu chính xác, chi tiết về đời sống tinh thần vật chất của họ cách đây mấy nghìn năm. Một thí dụ: phương pháp tránh thai phổ biến nhất, cổ nhất xưa nay là xuất tinh ngoài âm đạo – phương Tây gọi là Onanism – từ này có nguồn gốc trong Kinh Thánh, chương 38 “Sáng thế ký (Genesis)” “Giuđa và con dâu là Tama”.[1]

Chưa dân tộc nào biên soạn và còn lưu giữ được một tác phẩm kinh điển có giá trị như Kinh Thánh phần Cựu Ước. Thí dụ “Kinh thánh” của văn minh Trung Hoa là sách Luận Ngữ hoàn toàn không có được tính tổng hợp như vậy, chưa kể còn ra đời sau 7 thế kỷ.

Kinh Thánh còn là một tác phẩm văn học đồ sộ, di sản quý báu của nhân loại. Trong Cựu Ước có các tác phẩm văn học trí tuệ, văn học tiên tri và văn học khải huyền, là những sáng tạo của người Hebrew.

Tính chất quan trọng của Kinh Thánh

Kinh Thánh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của dân tộc Do Thái. Cựu Ước là kinh điển của đạo Do Thái, nhờ tôn giáo này mà người Do Thái dù hai nghìn năm mất tổ quốc, sống lưu vong phân tán ở khắp nơi trên thế giới, bị hắt hủi, xua đuổi, thậm chí hãm hại, tàn sát nhưng vẫn giữ nguyên vẹn được nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa và nhất là họ luôn dẫn đầu thế giới trong các hoạt động trí tuệ. Ngày ngày cầu kinh, ôn lại lịch sử khốn khổ của dân tộc mình, là cách nhắc nhở người Do Thái luôn nhớ quá khứ gian nan của mình để cố gắng vươn lên thoát khỏi nghịch cảnh. Dân tộc nhỏ bé này có đóng góp cho nhân loại nhiều hơn mọi dân tộc khác. Một thí dụ: người Do Thái chỉ chiếm 0,25% số dân thế giới nhưng họ chiếm 22% tổng số giải Nobel các loại đã trao trong thời gian 1901-2007; trong đó có 41% giải Kinh tế, 26% giải Vật lý, 19% giải Hóa học, 28% giải Y học, 13% giải Văn học, 9% giải Hòa bình.

Đối với loài người, tính chất quan trọng của Kinh Thánh không chỉ thể hiện ở chỗ nó được in đi in lại với số lượng nhiều nhất thế giới, mà còn ở chỗ được người ta quan tâm đọc và trích dẫn nhiều nhất – đây là tiêu chuẩn định lượng đánh giá một tác phẩm. Cho tới nay, Kinh Thánh đã lưu truyền mấy nghìn năm chưa bao giờ ngừng, được dịch ra 1.800 ngôn ngữ của khắp thế giới, có ảnh hưởng tới hàng tỉ người kể cả người không theo tôn giáo nào. Riêng nước Mỹ hàng năm in khoảng 9 triệu bản Kinh Thánh. Trung Quốc đã in hơn 40 triệu bản.

Kinh Thánh là nguồn cảm hứng và trích dẫn của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, lịch sử, triết học v.v… trên toàn thế giới. Từ bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng của Leonard de Vinci, tập thơ Thần khúc của Dante, các vở kịch của Shakespeare (vở Hamlet trích dẫn Kinh Thánh nhiều nhất), cho tới tiểu thuyết Sống lại của Tolstoy, …vô số tác phẩm văn học nghệ thuật đều lấy nguồn từ Kinh Thánh. Các trước tác của Karl Marx và Engels trích dẫn Kinh Thánh hơn 300 lần, liên quan tới hơn 80 nhân vật trong đó. Tại Trung Quốc, Lỗ Tấn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn … đều trích dẫn Kinh Thánh. Ở Việt Nam, chúng ta thường xuyên kỷ niệm lễ Phục sinh, Giáng sinh …, tiểu thuyết, sách báo ta thường nói A-đam, Ê-va, Chúa,… tất cả đều có nguồn gốc từ Kinh Thánh.

Bởi vậy nếu không hiểu Kinh Thánh thì sẽ rất khó tìm hiểu văn minh phương Tây – nền móng của văn minh hiện đại, cũng rất khó hiểu về dân tộc Do Thái. Không đọc Kinh Thánh thì tất nhiên sẽ dễ nói, viết sai về các điển tích đó. Rõ ràng tất cả mọi người, nhất là người làm công tác văn hóa văn nghệ, giáo dục, xã hội … đều nên đọc Kinh Thánh.

Kinh Thánh ở Việt Nam

Có lẽ vì nghĩ rằng Kinh Thánh là sách riêng của Ki-tô giáo, tuyên truyền cho tôn giáo, nên ở ta không thấy hiệu sách nào có bán Kinh Thánh do nhà xuất bản của nhà nước chính thức phát hành rộng rãi như một tác phẩm văn hóa bình thường.

Thực ra các giáo hữu ở ta đều có cuốn Kinh Thánh do Toà Tổng Giám mục Hà Nội kết hợp Nhà Xuất bản Hà Nội in và xuất bản với số lượng lớn nhưng chỉ phát hành nội bộ giáo hữu. Cuốn Kinh này chỉ in Tân Ước nặng tính tôn giáo; Cựu Ước quan trọng hơn thì lại không được in, thật đáng tiếc. Sách khổ nhỏ cỡ bàn tay in trên giấy tốt, bìa ni lông. Ngoài ra các giáo hữu còn có sách “Kinh Thánh bằng hình” (phụ bản của báo “Công giáo và Dân tộc” in tại TP Hồ Chí Minh năm 1991, lượng in 25.000 cuốn); đáng tiếc là hệ thống phát hành của nhà nước cũng không phát hành cuốn này.

Lùng các hiệu sách cũ, người viết bài này mua được một bản Kinh Thánh toàn tập tiếng Việt, dày 1.400 trang giấy mỏng, bìa giả da, do United Bible Societies in tại Hàn Quốc năm 1995. Sách dùng cách hành văn và từ ngữ cổ, khó hiểu; phần Tân Ước dịch khác nhiều so với bản in của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.

Thiết nghĩ hệ thống xuất bản phát hành của nhà nước nên xuất bản phát hành Kinh Thánh như một tác phẩm văn hoá nghệ thuật nhằm khai thác kho tàng văn hóa vô giá này của nhân loại. Nên đưa việc học Kinh Thánh (nhất là Cựu Ước) vào chương trình giảng dạy phổ thông trung học. Cũng nên biên soạn các sách hướng dẫn tìm hiểu giá trị văn hoá lịch sử, khảo cổ … của Kinh Thánh. Việc tìm hiểu Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta hiểu đúng đắn, toàn diện về văn minh phương Tây nói riêng và văn minh nhân loại nói chung, giúp chúng ta hoà vào dòng chảy chung của văn minh toàn cầu, đồng thời thể hiện chúng ta biết tôn trọng văn hoá tôn giáo – một thành phần rất quan trọng của văn hoá thế giới.

Đây là một việc cần làm khi Việt Nam đã gia nhập WTO, hòa vào nhịp sống chung của toàn cầu, trong đó có đời sống văn hóa-tâm linh.

(Tác giả-Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và là nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội , bài đăng trên NGHIENCUUQUOCTE.ORG )

Thế lực nào đánh sập chế độ cộng sản?

 
About this website

Thế lực nào đánh sập chế độ cộng sản?

Thanh Trúc-RFA
2020-01-01

Nhân sự trong đảng!

Mạng Infonet.vn trích dẫn nguyên văn lời ông Trần Quốc Vượng rằng “Kiên quyết sàng lọc, không để lọt vào cấp ủy khóa mới những người bản lĩnh chính trị không vững vàng; phẩm chất, năng lực, uy tín giảm sút; thiếu gương mẫu, mất đoàn kết, cục bộ, bè phái, cơ hội, chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm”; bản thân hoặc vợ, chồng, con vi phạm.”

Đến ngày 30 tháng Mười Hai, bài viết tựa đề “ Ba Điều Sáng Tỏ Từ Bài Phát Biểu Của Ông Trần Quốc Vượng”  của tác giả Nguyễn Ngọc Chu được đưa lên trang baotiengdan.com, nêu bật 3 điều mà người viết cho rằng ông Trần Quốc Vượng đã xác định đúng. Thứ nhất là  “Cơ đồ xây dựng 75 năm có nguy cơ sụp đỗ”. Thứ hai, “ Không ai mang máy bay, đại bác đền để lật đổ ta, ta không làm tốt thì ta tự lật đổ ta, chẳng phải do kẻ thù đâu”.

Vẫn theo tác giả Nguyễn Ngọc Chu trên baotiengdan.com, ông Trần Quốc Vượng đang chỉ ra rằng thế lực thù địch phản động, thường bị Nhà Nước xử phạt theo Điều 117 Bộ Luật Hình Sự, chừng như không đến từ bên ngoài chính quyền mà ngay trong nội bộ, và chừng như trước giờ nhiều người trong chính quyền đã định nghĩa sai thế nào là ‘thù địch” là ‘phản động’.

Đây là ý kiến của một nhà phản biện trên một trang mạng độc lập, còn ý kiến của người dân, người quan sát thời cuộc, hoặc người hoạt động chính trị thì sao?

Một nhà quan sát và hoạt động chính trị từ Paris, ông Nguyễn Gia Kiểng, cho biết sau khi tham khảo bài nói chuyện của ông Trần Quốc Vượng hôm 25 tháng Mười Hai thì cảm nghĩ của ông là đang có sự khó khăn trong công tác chuẩn bị tư tưởng cũng như chọn lựa nhân sự trước thềm Đại Hội Đảng lần thứ 13 tới đây:

“Sau đại Hội Đảng 12 họ đã lấy quyết định nhất thể hóa, rập khuôn theo công thức tổ chức của Trung Quốc, là thống nhất Nhà Nước với Đảng, thâu gồm hai chức vụ tổng bí thư và chủ tịch nước trong Hiến Pháp đã được sửa đổi năm 2013, cho chủ tịch nước những quyền rất lớn, đặc biệt quyền đứng đầu quân đội. Họ đã tập trung quyền lực đó vào trong tay ông Nguyễn Phú Trọng. Nhưng ông Nguyễn Phú Trọng đột nhiên bị tai biến và chắc chắn không thể tiếp tục cầm quyền được nữa”.

“Cho nên vấn đề đặt ra là phải chọn người thay thế ông Nguyễn Phú Trọng, và người có nhiều khả năng mà ông Nguyễn Phú Trọng và thân cận của ông Trọng muốn đặt vào chức vị thế ông Nguyễn Phú Trọng không ai khác hơn là ông Trần Quốc Vượng. Cho nên ông Trần Quốc Vượng là người lo lắng vấn đề cơ cấu nhân sự cho Đại Hội Đảng 13”.

Vẫn theo lời ông Nguyễn Gia Kiểng, tổ chức gọi là bộ máy sàng lọc của đảng, trong đó kỷ luật là trên hết, đã loại trừ hầu  như gần hết những người có tư kiến, có nhân cách, chỉ để lại những con người mà khả năng lớn nhất là giữ im lặng trong suốt thời gian qua:

“Họ cũng không có những con người để mà giải quyết cùng một lúc nhiều vấn đề phúc tạp, cho nên ông Trần Quốc Vượng có lý, lần này đảng cộng sản sẽ rất lúng túng trong việc chuẩn bị Đại Hội 13, sẽ rất chia rẽ, sẽ có tranh cãi gay gắt bởi không có người thay thế ông Nguyễn Phú Trọng. Năm 2020 sẽ là một năm khó khăn, đòi hỏi một nhân sự lãnh đạo vừa có thiện chí vừa có tài ba mà điều đó thì đảng cộng sản không có. Cho nên đảng cộng sản lúng túng về nhân sự, lúng túng vì bị đe dọa, lúng túng vì chia  rẽ trong chọn lựa và quản lý”.

Đấu đá nội bộ!

Cô Nguyễn Hoàng Vi, thành viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam, bày tỏ:

“ Khi nghe ông Trần Quốc Vượng thì điều đầu tiên trong đầu tôi là một dấu hỏi. Nếu như trong thời điểm bình thường mà không phải là trước Đại Hội Đảng thì tôi cho rằng đó là những lời thật lòng của ông ấy. Nhưng mà trước Đại Hội Đảng mà ông phát biểu như vậy thì tôi nghĩ nó mang tính chất đấu đá, phe phái với nhau hơn là sự trung thực của ông”

“Ông Trần Quốc Vượng muốn dùng lá bài “chính ta lật đổ ta” có thể là đề thanh trừng nội bô, ghế này ghế nọ trong đảng với nhau. Tôi không chắc rằng sau này ông ấy có quay lại đỗ thừa cho dân, đỗ thừa cho thế lực thù địch thế này thế kia”

Dù muốn dù không, cô Nguyễn Hoàng Vi vẫn cho rằng lời nói của ông Trần Quốc Vượng có sức tác động nhất định đến tư duy phải thay đổi, phải cải thiện mà đảng cộng sản biết rõ nhưng không chịu thực hiện:

“ Gốc rễ của vấn đề, đúng như lời phát biểu của ông, sự sụp đổ, sự phát triển của đất nước và của đảng cộng sản nói chung không phải từ chính thế lực thù địch như Ban Tuyên Giáo của đảng cộng sản tuyên truyền bấy lâu nay. Người dân biết điều đó hơn ai hết và bây giờ ông Vượng chỉ muốn mượn cái điều mà ai cũng biết nhưng không dám nói để làm tăng uy tín của ông lên mà thôi”.

“ Gốc rễ của vấn đề, đúng như lời phát biểu của ông, sự sụp đổ, sự phát triển của đất nước và của đảng cộng sản nói chung không phải từ chính thế lực thù địch như Ban Tuyên Giáo của đảng cộng sản tuyên truyền bấy lâu nay. Người dân biết điều đó hơn ai hết và bây giờ ông Vượng chỉ muốn mượn cái điều mà ai cũng biết nhưng không dám nói để làm tăng uy tín của ông lên mà thôi”, Nguyễn Hoàng Vi

Đồng tình với ông Trần Quốc Vượng, rằng kẻ thù làm hại ta chính là ta chứ không ai khác, là ý kiến của phó  giáo sư tiến sĩ, chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, cựu giám đốc Học Viện Hải Quân Nhân Dân Việt Nam:

Từ xa xưa chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói cán bộ phải thật sự vì nước, vì dân, vì đảng. Thế thì cán bộ chọn ra mà trước thì tốt sau đó biến chất thì trở lại là phản dân, phản nước. Câu nói “chọn cán bộ hết sức quan trọng” của vị lãnh đạo đó tôi hoàn toàn đồng ý, vì nếu chúng ta làm sai thì nó dẫn đến hậu quả hết sức nặng nề, đi đến chuyện dân mất tin. Trong quá trình xây dựng đất nước Việt Nam từ xưa đến nay, khi cán bộ làm cho dân mất tin rồi thì rõ ràng rất nguy hiểm cho việc duy trì quyền lực của Nhà Nước và quyền lực của nhân dân. Tôi thấy câu nói rất đúng thôi”.

“Kinh nghiệm và bài học đau đớn vừa qua ví dụ như vụ xét xử AVG, rồi gần đây vụ xử ông Nguyễn Trung Tín, nguyên phó chủ tịch thành phố Hồ Chí Minh, rồi một loạt các vụ xử khác nữa, là những bài học phải nói là thấm thía và đau đớn cho quá trình chọn cán bộ ở nước Việt Nam chúng tôi”.

Người dân giám sát!

Nhằm minh chứng cho câu nói “ Ta không làm tốt thì tự ta lật đổ ta” mà ông Trần Quốc Vượng tuyên bố mới rồi, chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm nhấn mạnh không chỉ cán bộ tốt là quan trọng mà  vai trò của nhân dân cũng quan trọng không kém: 

“Tới đây, Đại Hội Đảng thứ 13, có chọn cán bộ tất nhiên phải cán bộ tốt. Nhưng tôi cũng có đề nghị là chọn xong rồi, bố trí xong rồi, Đại Hội Đảng xong rồi phải tăng cường công tác kiểm tra giám sát quyền lực. Phải kiểm soát quyền lực khi cán bộ được đưa vào vị trí quyền lực rồi, và tôi nói cái giám sát quyền lực tốt nhất là nhân dân. Nhân dân là người giám sát quyền lực một cách chặt chẽ nhất và trung thực nhất”

Thường trực Ban Bí Thư Trần Quốc Vượng đã dám đưa ra tín hiệu quan trọng về nhân lực và nhân sự trong đảng cộng sản  những ngày tới đây,  nguyên Vụ truởng Vụ Nghiên cứu, Ban Dân Vận Trung ương, ông Nguyễn Khắc Mai, nhận định như vậy:

“ Trần Quốc Vượng đáng khen vì dám nói là nếu đảng cộng sản không thay đổi thì nguy cơ bị lật đổ là hiện thực. Ít ra Trần Quốc Vượng đã dám nói lên điều này”

“Chỉ coi trọng cái yếu tố cán bộ không thì không đủ. Bây giờ cho là họ có sàng lọc, chọn lựa tử tế đi nhưng mà đường lối vẫn như cũ, vẫn tiến lên chủ nghĩa xã hội và kinh tế nhà nước, vẫn là đảng độc quyền toàn trị cả đường lối phát triển đất nước, thể chế chính trị không phù  hợp, không dân chủ, không tam quyền phân lập thì tất cả những yếu tố ấy mới thật sự là nguyên nhân tổng hợp làm cho sụp đổ đảng cộng sản”, Ông Nguyễn Khắc Mai

Rõ là đảng cộng sản bắt đầu nhận thức ra vấn đề, ông Nguyễn Khắc Mai phân tích, đó là đội ngũ đảng viên cán bộ thiếu năng lực và thối nát. Có điều nhận thức này chừng như thiếu một yếu tố cần thiết là lấy dân làm gốc:

“Chỉ coi trọng cái yếu tố cán bộ không thì không đủ. Bây giờ cho là họ có sàng lọc, chọn lựa tử tế đi nhưng mà đường lối vẫn như cũ, vẫn tiến lên chủ nghĩa xã hội và kinh tế nhà nước, vẫn là đảng độc quyền toàn trị cả đường lối phát triển đất nước, thể chế chính trị không phù  hợp, không dân chủ, không tam quyền phân lập thì tất cả những yếu tố ấy mới thật sự là nguyên nhân tổng hợp làm cho sụp đổ đảng cộng sản”.

Tóm lại, theo nhà lý luận Nguyễn Khắc Mai, kẻ thù là ta, ta tự lật đổ ta,  là nhận thức quan trọng mà mỗi cán bộ đảng viên đang giữ trọng trách trong bộ máy Nhà Nước phải ghi tâm khắc cốt để không biến mình thành những con sâu đục khoét một chế độ đã quá nhiều tai tiếng:

“ Lời ông Trần Quốc Vượng có thể coi như một nhận thức mới, không còn đổ riệt cho “thế lực thù địch nữa”. Cái  nhân tố nội bộ làm cho chế độ này sụp đổ, làm cho đảng cộng sản này sụp đổ nằm ngay trong lòng của họ”.

RFA.ORG
Ông Trần Quốc Vượng, Thường Trực Ban Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam, hôm 25 tháng Mười Hai vừa qua tại Hội Nghị Toàn Quốc Tổng Kết Công Tác Tổ Chức Xây Dựng Đảng năm 2019, Triển Khai Nhiệm Vụ năm 2020, nhấn mạnh rằng “ Phải h…..

Tội ác của Tố Hữu đối với cái chết của nhà thơ Vũ Hoàng Chương

Image may contain: 1 person, closeup

Liên Trà is with Van Tuan Vo.

Fb:Ngọc Tuyên Đàm

Tội ác của Tố Hữu đối với cái chết của nhà thơ Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương (5 tháng 5 năm 1916 – 6 tháng 9 năm 1976) là một nhà thơ người Việt Nam, với văn phong được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông Phương. Ông sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.

Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937.

Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm.

Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến ruồng bắt cả nhà, ông bỏ miền quê, hồi cư về Hà Nội nơi dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975. Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam, tiếp tục dạy học và sáng tác ở Sài Gòn.

Vũ hoàng Chương với Tố Hữu là bạn nhưng Vũ Hoàng Chương lớn hơn Tố Hữu vài tuổi. Năm 1946 Huy Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ bác và đảng, được sủng ái nên đã leo lên đến chức Thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ Hoàng Chương không theo kháng chiến, sau hiệp định Genève năm 1954 di cư vào Saigon tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.

Năm 1976, Huy Cận được cộng sản cử vào Saigon cùng với một phái đoàn gồm có Tố Hữu, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Vũ Đình Liên, …, với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.

Phái đoàn được Thanh Nghị ký giả (một cộng sản nằm vùng) tiếp đón và tổ chức một đêm “họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ Hoàng Chương đã được mời và ông đã tham dự.

Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố Hữu đã làm để khóc Stalin chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp với Tố Hữu:
“Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười”.

Hoài Thanh mời Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ của Miền Nam góp ý. Vũ Hoàng Chương đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái “sáng giá” của đêm họp “văn nghệ đặc biệt” này. Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương:

“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.

Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được “đóng khung” tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao… Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép…

Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việtnam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việtnam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca. Nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việtnam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?

Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài “Đời Đời Nhớ Ông”, Tố Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:
“Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin”

Chắc chắn là không có một bà mẹ Việtnam nào, kể cả Bà Tố Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ. Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm. Đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtnam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm”.

Lời phê bình của Vũ Hoàng Chương đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ Hoàng Chương, có người đã yêu cầu Ông nói về thơ để hòng bắt bẻ này nọ, nhưng Ông vẫn ôn tồn phát biểu:

“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.

“Tôi xin nhắc, sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca. Vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống”.

Tố Hữu không ngờ bị Vũ Hoàng Chương chê bai là nịnh hót Stalin nên bực tức. Sau đêm đó, Vũ Hoàng Chương đã bị công an nửa đêm ngày 3/4/1976, tràn vào nhà bắt giam tại khám Chí Hoà nhốt chung với BS Phan Huy Quát (cựu Thủ Tướng VNCH).

Trong nhà tù bị hành hạ, ăn uống thiếu thốn, bệnh không có thuốc uống nên ông kiệt sức, cộng sản biết ông sắp chết nên thả về. Chỉ 5 ngày sau đó, ngày 6/9/1976 thì ông qua đời… Việt Nam đã mất đi một thi nhân tài hoa, bởi bàn tay sắt máu của Tố Hữu.

SỰ TÍCH CON HẾN

Liên Trà
SỰ TÍCH CON HẾN

Ngày xửa ngày xưa có vương quốc nọ nổi tiếng là nước có nền dân chủ gấp vạn lần các nước tây phương. Và cũng trong vương quốc đó, luật định cho phép toàn dân được tự do ngôn luận…

Thế rồi, trên tinh thần tự do ngôn luận đó, người ta đưa ra một bộ luật cấm ngôn luận phơi bày những điều xấu xa của bá quan văn võ. Song song với ngôn luận xấu xa thì họ cho ra một chỉ thị cấm ngôn luận tâng bốc, xu nịnh. Như vậy thì nói xấu cũng không được, nói tốt cũng không xong. Toàn dân hoang mang nín thở, im lặng.

Để phát huy tinh thần dân chủ, vương quốc đó cho phép toàn dân giám sát các hành vi của quân vương. Và kèm theo điều kiện giám sát này thì tất cả không được phép quay phim, ghi âm, chụp hình… các bề tôi của triều đình !
Có một thần dân thấy điều luật này cởi cổ điều luật kia, điều luật kia ỉa lên đầu điều luật nọ, nên rất lo sợ phạm huý thành ra cả đời cứ ngậm miệng mà vẫn không dám nói.

Khi chết xuống âm phủ, qủy sứ dẫn hắn đến trước điện Diêm Vương để lấy lời khai. Nhưng, Diêm Vương hỏi gì nó cũng không chịu mở miệng. Ngạc nhiên, Diêm Vương cho qủy sứ lên trần điều tra, và khi biết được sự tình, Diêm Vương thở dài phán:

Ta cho ngươi biến thành loài Hến! Tội nghiệp, suốt đời ngươi bạc nhược sợ chết mà không dám mở miệng. Nay ta cho phép ngươi mở miệng, và chỉ được mở miệng khi đã chết, nghe chưa?

Do đó, loài Hến cho đến nay khi chết mới được mở miệng. Là thế!
Ngô Trường An

Image may contain: food

Làm cha mẹ cần biết: Nói cho con điều gì quan trọng nhất trong đời – Trí Thức VN

Trí thức Việt Nam
10 câu dưới đây là món quà tuyệt vời hơn cả nhà cao cửa rộng, của cải tích cóp mà phụ huynh cần nói với con cái mình. Rất tốt cho hành trình sinh mệnh của các con!

Từ khi một đứa trẻ oa oa cất tiếng khóc chào đời, tới khi trưởng thành nên người, có quá nhiều điều các bậc làm cha mẹ cần biết để nuôi dạy con mình nên người. Nhưng dẫu làm gì, vĩ đại hay bình thường, điều quan trọng nhất vẫn là quá trình của sinh mệnh. 10 câu dưới đây là món quà tuyệt vời hơn cả nhà cao cửa rộng, của cải tích cóp mà phụ huynh cần dành cho con cái mình.

1. Đi học quan trọng hơn trò chơi điện tử

Làm cha mẹ cần dạy con những điều này
Làm cha mẹ cần biết nói cho trẻ về các tác hại của trò chơi điện tử (Ảnh: zhang kaiyv / Pexels)

Rất nhiều đứa trẻ không biết ABCD là gì, nhưng lại biết thế nào là liên minh anh hùng. Rất nhiều đứa trẻ không quan tâm tới thành tích học tập tốt xấu, nhưng lại để tâm xem chiến tích có huy hoàng không.

Nhưng con à, có một điểm hy vọng con nhớ kỹ: Con trả tiền để chơi điện tử, nhưng trò chơi điện tử lại không trang trải cuộc sống cho con. Con trả tiền để đi học, việc học hành sẽ mang lại những điều bất ngờ trên cả mong đợi.

Được đi học là người may mắn, học giỏi là người hạnh phúc. Những kiến thức con học được chính là người bạn đồng hành cùng con suốt cuộc đời. Con người có thể tay trắng dựng nghiệp, nhưng không thể tay không tấc sắt. Đi học là một hành trình rất dài, bước đi sẽ mệt, nhưng nếu không đi chắc chắn con sẽ phải hối hận.

2. Chủ kiến quan trọng hơn phục tùng

Con à, dẫu người khác nói hay thế nào thì suy nghĩ của con vẫn là điều quan trọng nhất. Có người hỏi: “Một đứa trẻ có chủ kiến, rốt cuộc là như thế nào?”

Câu trả lời được nhiều người đồng tình nhất là: “Có thể xử lý tốt những chuyện vụn vặt trong cuộc sống, dàn xếp ổn thỏa mối quan hệ giữa bạn bè, chuyện học hành, khiến cha mẹ có thể yên tâm.”

Cần phải biết rằng “nước nổi bèo trôi” là một hiện tượng đáng sợ. Khi con người gia nhập vào một đoàn thể nào đó, trí thông minh của họ sẽ sụt giảm nghiêm trọng. Vì muốn được mọi người công nhận, nên cá nhân đó nguyện ý vứt bỏ đúng sai, đổi trí huệ lấy cảm giác an toàn tìm được chốn đi về.

Làm cha mẹ cần dạy con những điều này
Làm cha mẹ cần biết dạy trẻ có chủ kiến riêng (Ảnh: Shutterstock)

Rất nhiều người sẽ làm vậy, nhưng những đứa trẻ có chủ kiến sẽ không như vậy.

Vậy nên con phải luôn là chính mình và can đảm là chính mình. Con cần biết mình muốn nói gì, có nguyện vọng gì. Có câu hỏi rằng: “tuyết tan thì biến thành thứ gì?” Đáp án chuẩn sẽ là “tuyết tan sẽ biến thành nước”. Nhưng những đứa trẻ có chủ kiến sẽ đáp: “tuyết tan hóa thành mùa xuân”, lẽ nào lại sai hay sao?

3. Hứng thú quan trọng hơn thành tích

Con à, thành tích rất quan trọng, nhưng hứng thú còn quan trọng hơn.

Khi còn nhỏ, trẻ con thường ham vui, đến tuổi trung niên ham học hỏi, tới khi về già thường thích thưởng trà.

Con người dẫu ở độ tuổi nào, cũng cần có chí hướng của bản thân. Hứng thú và yêu thích mới thể hiện tính cách thực của một người. Thành tích không nên là tiêu chuẩn duy nhất để bình xét về sự tốt xấu của một học sinh.

Gotthold Ephraim Lessing, nhà triết học, nhà văn người Đức, từng nói: “Ánh mắt tò mò thường có thể nhìn thấy nhiều thứ hơn họ mong đợi.” Một người trường kỳ chú tâm vào sở thích của bản thân, ắt sẽ xuất sắc hơn người trong một vài lĩnh vực nào đó. Nhưng đây chẳng phải là ý nghĩa của việc học hay sao?

Con à, thời này là thời đại trọng thành tích, nhưng so với thành tích, điều ba mẹ quan tâm hơn là sở thích, là thiên tính của con: Điều con yêu mến vĩnh viễn vượt xa thứ mà thành tích có thể đong đếm.

4. Nhân phẩm quan trọng hơn năng lực

Người không có nhân phẩm chẳng thể có chỗ đứng trong xã hội.

Thời gian trước, một kỹ sư, thạc sĩ họ Dương người Thượng Hải hơn một năm đã trốn vé 480 lần, với số tiền 2 vạn tệ (hơn 65 triệu VNĐ), bị cảnh sát đường sắt Thượng Hải bắt giữ. Cư dân mạng cảm thán rằng: “Nhân phẩm thấp kém, thì học lực cao nữa cũng vô dụng.”

Người có nhân phẩm không tốt, hoặc ngụy quân tử chẳng thể bền lâu, bởi “cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra.” Những người có nhân phẩm tốt thường khiến người khác cảm phục. Có câu rằng: “Chiêm ngưỡng một người, bắt đầu từ dung nhan, tôn kính bởi tài hoa, hòa hợp nhờ tính cách, lâu bền vì thiện lương, thủy chung vì nhân phẩm.”

Dẫu trong thời đại nào thì nhân phẩm cũng sẽ vượt xa năng lực của con. Năng lực tốt, nhân phẩm tốt là người hữu dụng. Năng lực rất tốt, nhân phẩm rất tệ chẳng khác chi thứ độc dược hại người.

Vậy nên con ạ, dù khi nào, con cũng không được đánh mất nhân cách của mình.

tổ chức cuộc sống, nền tảng gia đình, dạy con học đi đứng, Đầu tư cho con, đặt niềm tin vào con, trường mẫu giáo Nhật Bản, tự trọng
Làm cha mẹ cần biết nói cho trẻ tầm quan trọng của nhân phẩm (Ảnh: Shutterstock)

5. Hạnh phúc quan trọng hơn sự hoàn mỹ

Ai ai cũng mong muốn có được một cuộc sống viên mãn, nhưng thực tế lại không có sự hoàn mỹ thực thụ.

Một vị thái hậu dốc tâm chuẩn bị nhiều năm cho tiệc mừng thọ nhưng đến ngày kế hoạch lại bị hủy. Trong tâm bà rầu rĩ chẳng vui. Nha hoàn bèn hỏi thái hậu rằng: “Vì sao trên đầu của Thọ Thần lại có một cục bướu?” Thái hậu không hiểu, nha hoàn bèn tiếp lời: “Trên đầu có một cục bướu mới có thể chứa được phúc thọ ạ! Mẹ con nói rằng, mọi sự không nên quá đầy, cần phải lưu lại một chút tiếc nuối. Quá đầy thì sẽ hưởng hết phúc.”

Thái hậu nghe xong bừng tỉnh: “Dẫu là trên đầu Thọ Thần cũng có một cục bướu, huống một kẻ phàm nhân như ta?

Dẫu chỉ là một câu chuyện vui, nhưng nói lên rằng dưới ánh nắng cũng có bóng râm, cuộc sống sao có thể hoàn thiện hoàn mỹ. Hạnh phúc là bởi biết đủ, nuối tiếc là điều thường thấy trong đời.

Con à, ba mẹ hy vọng con hãy nỗ lực thay đổi, hoặc nỗ lực tiếp nhận. Cảm nhận về hạnh phúc của con quan trọng hơn sự hoàn mỹ mà con theo đuổi.

6. Tín ngưỡng quan trọng hơn sự sùng bái

Con à, so với việc sùng bái những minh tinh, ba mẹ hy vọng con có tín ngưỡng của riêng mình.

Có người từng nói: “Đây là thời đại thiếu hụt tín ngưỡng.” Có người lại nói: “Đây là thời đại chết vì giải trí.” Rất nhiều người sùng bái giới giải trí, thần tượng các minh tinh, trong số đó những người trẻ chiếm tuyệt đại đa số. Họ quan tâm tới từng buổi diễn, từng đĩa CD, từng bộ phim của minh tinh mà mình ái mộ. Thậm chí là từng ly từng tý trong cuộc sống của họ.

Trong thời đại ngày nay, theo đuổi các ngôi sao đã trở thành cuộc sống của rất nhiều người. Điều này bản thân nó cũng không có gì đúng sai. Nhưng con ạ, quan trọng hơn điều đó, ba mẹ hy vọng con có tín ngưỡng của mình.

Con người có thể ngưỡng vọng trời sao, nhưng con đường trước mắt chúng ta vẫn phải tiến về phía trước. Có người từng hỏi rằng: “Nếu cho bạn tự do, cho bạn tài hoa, cho bạn tuổi xuân, bạn có làm không?”

Câu trả lời thường là: “Tôi nhất định sẽ giống như những cái tên trong sách, như châu ngọc trong thiên hạ, như ánh sáng trên thế gian.”

Ngôi sao sáng rồi cũng tắt, lòng người sẽ có khi đổi thay, nhưng sự thiện lương và đạo lý làm người trong những tín ngưỡng chân chính mới là bất biến.

Con à, con không cần phải có những lý tưởng xa vời như vậy, nhưng cần có tín ngưỡng soi đường dẫn lối trên hành trình nhân sinh của mình.

Làm cha mẹ cần biết khuyến khích trẻ có tín ngưỡng để có sự ước thúc về mặt đạo đức (Ảnh: internet)

7. Hành trình quan trọng hơn kết quả

Hành trình nhân sinh thú vị hơn kết quả rất nhiều.

Có người nói rằng: “Thành công là một quá trình chứ không phải là đích đến. Quá trình thực hiện quan trọng hơn kết quả. Đời người cũng như vậy.”

Trước kia có một chàng trai trẻ tự xưng rằng mình đã thấu hiểu cõi hồng trần. Hàng ngày cậu ta không làm gì cả, lười nhác ngồi dưới gốc cây phơi nắng.

Một vị trí giả đi ngang qua, hỏi: “Chàng trai, thời cơ tốt thế này, sao cậu không đi kiếm tiền?”
Chàng trai đáp: “Chẳng có gì thú vị, kiếm tiền rồi lại phải tiêu.”
Vị trí giả lại hỏi: “Sao cậu không kết hôn?”
Chàng trai đáp: “Chẳng có gì thú vị, biết đâu lại phải ly hôn?”
Vị trí giả nói: “Sao cậu không kết bạn?”
Chàng trai đáp: “Chẳng có gì thú vị, kết bạn biết đâu lại trở mặt thành thù.”
Vị trí giả đưa cho chàng trai một sợi dây thừng nói: “Thế thì cậu treo cổ đi, dẫu sao cũng chết, chi bằng bây giờ chết quách đi cho xong.

Chàng trai đáp: “Tôi không muốn chết.”
Vị trí giả tiếp lời: “Cuộc sống là một hành trình, không phải là kết quả.”

Sinh mệnh giống như một cuốn sách hay. Tin rằng những người đọc được nó, chắc chắn sẽ dừng lại lần giở từng chương mục, chứ không phải là mở ngay tới trang cuối, nóng lòng muốn biết kết cục ra sao.

Con à, sự mỹ hảo trong đời người nằm ở từng nụ hoa, từng phong cảnh, từng nụ cười. Hãy dừng lại và thưởng thức chúng.

Làm cha mẹ cần biết nói cho trẻ quá trình quan trọng hơn kết quả (Ảnh: Shutterstock)

8. Xét mình quan trọng hơn soi người

Con à, so với việc yêu cầu người khác, ba mẹ hy vọng con có thể tìm kiếm nguyên nhân từ chính bản thân mình. Người giỏi xét mình thường sống có phẩm vị.

Epicurus, một nhà triết học Hy Lạp cổ đại từng nói: “Nhận ra sai lầm là bước đầu tiên cứu vớt bản thân.”

Con người khó tránh khỏi sai sót, sai sót không đáng sợ, điều đáng sợ là không biết phản tỉnh bản thân, sửa đổi lỗi lầm. Như vậy rất dễ đánh mất bản thân.

Con à, oán trách chẳng thể giải quyết được sự việc, nhưng cảm ơn thì có thể. Thay đổi người khác cũng không thể thay đổi thực trạng, nhưng thay đổi bản thân lại có thể. Phàm là mọi việc đều tìm nguyên nhân từ chính mình, con mới trở nên ưu tú hơn.

9. Sức khỏe quan trọng hơn công việc

Con à, không có việc gì xứng đáng để con trả giá bằng cả sinh mệnh.

Theo “Báo cáo về tình hình sức khỏe nhân viên công chức thành thị tại Trung Quốc” cho biết: Tỷ lệ sức khỏe dưới mức tối ưu của giới cổ cồn trắng đạt 76%, 70% có nguy cơ làm việc quá sức; hàng năm số người đột tử lên đến 550.000 người; mỗi ngày có 10.000 người bị chẩn đoán mắc ung thư…

Con người có thể làm nhiều công việc, nhưng chỉ được sống một lần trên đời. Con à, đứng trước sinh mệnh, cha mẹ hy vọng con luôn đặt sức khỏe lên vị trí hàng đầu. Đừng coi tuổi trẻ như quân bài, chớ đặt cược sức khỏe vì ngày mai, có sức khỏe mới có tất cả.

đau lưng
Làm cha mẹ cần nói cho con mình biết sức khỏe quan trọng hơn công việc (Ảnh: pxhere.com)

10. Hạnh phúc bền lâu quan trọng hơn vui thú nhất thời

Đi học rất vất vả, nhưng không đi học lại càng khổ hơn. Nỗ lực rất mệt, nhưng chỉ khi bây giờ dốc toàn lực, sau này mới có quyền lựa chọn. Buông bỏ một thứ hay một người nào đó rất khó, nhưng chỉ khi quá khứ qua đi, tương lai mới gõ cửa.

Trong đời có rất nhiều việc khó, nhưng dư vị đắng chát cuối cùng cũng ngọt ngào.

Con à, so với vui thú nhất thời, ba mẹ hy vọng con có được hạnh phúc bền lâu. Có lẽ cuộc sống sẽ chẳng như con mong muốn, có lẽ thật bất công, những chuyện không may cũng có thể xảy đến, nhưng nơi mà con muốn đến, hãy kiên trì bước tới cùng.

Lê Minh (biên dịch)

NGƯỜI NGHÈO Ở MỸ

Le Tu Ngoc

– Dương Hoài Linh

– 43% số gia đình nghèo ở Mỹ có nhà ở sở hữu riêng (tức không ở nhờ nhà từ thiện do nhà nước hoặc xã hội cung cấp), tính đổ đồng mỗi nhà có 3 phòng ngủ, 1 phòng sinh hoạt chung, 1 phòng khách và 1 phòng ăn kiêm bếp; trung bình mỗi nhà có 1,5 phòng vệ sinh (tức 1 phòng vệ sinh có bồn tắm và 1 phòng vệ sinh không bồn tắm). Điều tra tình hình nhà ở tại Mỹ cho thấy người Mỹ quan tâm nhiều nhất là nhà có bao nhiêu phòng vệ sinh.

– Bình quân mỗi gia đình nghèo ở Mỹ có 1 ga-ra ô tô. Phần lớn nhà ở của người nghèo đều có sân, vườn. 66,2% gia đình nghèo bình quân mỗi người có 2 phòng ngủ; 28,2% gia đình nghèo bình quân mỗi người có 1 phòng ngủ. 5,6% hộ nghèo thuộc diện nhà ở chật chội, tức mỗi phòng ngủ có hơn 1 người, trong đó 4,3% gia đình nghèo bình quân mỗi phòng có 1,5 người; 1,3% số gia đình nghèo bình quân mỗi phòng có trên 1,5 người.

– Thống kê của Bộ Năng lượng Mỹ cho thấy nước này đứng đầu thế giới về bình quân diện tích nhà ở của một hộ gia đình. Không gian sinh hoạt gia đình của mỗi người Mỹ bình quân là 71 m2, ở các gia đình nghèo là 43 m2. Nói cách khác, điều kiện nhà ở của người nghèo Mỹ còn cao hơn nhiều so với mức trung bình về không gian sinh hoạt gia đình của mỗi người tại các nước giàu như Anh, Pháp, Đức, Nhật (37 m2). Ngay tại các nước có mức thu nhập trên trung bình như Hy Lạp, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, bình quân mỗi người chỉ có 23 m2 không gian sinh hoạt gia đình. Điều kiện nhà ở của người nghèo Mỹ cao gấp hơn 2 lần các gia đình thu nhập trung bình tại Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, và gấp 6 lần mức trung bình của người dân đô thị tại Ấn Độ.

– 79,7% các gia đình nghèo có máy lạnh (năm 1970 cả nước Mỹ chỉ 36% hộ có máy lạnh). 99,2% hộ nghèo có tủ lạnh, 64,3% có máy giặt, 56,7% có máy xấy quần áo; 89% có lò vi sóng và lò nướng thức ăn; hơn 1/3 có máy rửa bát.
Ba phần tư các gia đình nghèo Mỹ có ít nhất 1 xe ô tô; 31% có từ 2 xe trở lên. Đời sống tinh thần của các hộ nghèo cũng không tồi. 97% hộ nghèo có ít nhất 1 ti-vi màu; hơn 50% hộ có 2 ti-vi màu; 25,3% có ti-vi màn hình rộng. 75% hộ nghèo có máy DVD; 62% dùng truyền hình cáp hoặc truyền hình vệ tinh; hơn 50% có thiết bị âm thanh stereo; 91,3% có điện thoại cố định; 32,5% có cả điện thoại cố định và điện thoại di động. Một phần ba số gia đình nghèo có máy tính.

Trong điều tra số dân, 70% gia đình nghèo nói họ có đủ khả năng chi trả các khoản chi phí như tiền mua nhà trả dần hoặc tiền thuê nhà, tiền điện, nước, gas. Dĩ nhiên như thế vẫn là nghèo vì không có dư dật. 1/3 gia đình nghèo có hiện tượng chậm trả các khoản chi đó.

Trong bài báo dưới đây CSVN cố tình không biết về chuẩn nghèo đói của Mỹ. GDP bình quân đầu người $62 .000 , thu nhập bình quân của 1 gia đình $53.657.Chuẩn người nghèo hưởng trợ cấp xã hội của Mỹ là :
-1 người, $ 11,770;
– 2 người $ 15,930;
– 3 người $ 20,090;
– 4 người $ 24,250.
Trong khi đó thu nhập GDP đầu người VN là $2.740. Chỉ bằng 1/4 thu nhập người nghèo của Mỹ.
Theo chuẩn nghèo của Mỹ thì 99% dân Việt đều nghèo đói và trên 2/3 dân số thế giới đều nghèo đói.

Nguồn: Fb Hoai Linh Ngoc Duong

Image may contain: text

BÁNH VẼ!

Hoang Le Thanh and Nguyễn Hữu Vinh shared a post.
Image may contain: 1 person, standing and text
Image may contain: 1 person, text
Image may contain: 1 person, text
Image may contain: train and text
Image may contain: 1 person, sitting and text
Ngô Trường An is with Tịnh Nguyễn Thanh.

BÁNH VẼ!

Hôm nay ngày 01.01.2020, ngày chính thức nói lên sự thất bại của đảng csVn trong kế hoạch đưa đất nước trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại.

Cách đây 14 năm (28.4.2006). Ông Nông Đức Mạnh khẳng định đến năm 2020 VN là một quốc gia công nghiệp? Như vậy, đây là chiêu trò cho dân ăn bánh vẽ của lãnh đạo nhà nước hay kế hoạch xây dựng quốc gia công nghiệp bị thất bại?

Chúng ta tìm xem trong suốt 2 nhiệm kỳ của ông Mạnh và ông Trọng, có thấy họ đầu tư chuẩn bị gì để hình thành một đất nước công nghiệp không? Với chủ trương của đảng, liên tục đưa công dân đi XKLĐ trên khắp thế giới, thì làm sao nói họ có thiện chí xây dựng đất nước thành nước công nghiệp? Một đất nước mà lãnh đạo chỉ chú tâm vào xây tượng đài, xây chùa, xây nghĩa trang cấp cao… thì làm sao tiến lên quốc gia công nghiệp?

Như vậy, lãnh đạo cho toàn dân ăn bánh vẽ để hy vọng theo thời gian và để suy nghĩ rằng, giới lãnh đạo cũng quyết tâm xây dựng đất nước! Đảng cũng có phương án, cũng đưa ra kế hoạch, cũng xây dựng các đề án, cũng triển khai những mô hình… Nhưng thật ra, tất cả đều là trò lừa đảo, mỵ dân của giới cầm quyền!

Nói về chiêu trò cho dân ăn bánh vẽ thì không ai giỏi hơn lãnh đạo đảng, nhà nước VN. Đây không phải là lần đầu tiên ông Nông Đức Mạnh vẽ ra miếng bánh quốc gia công nghiệp, mà trước đây gần nửa thế kỷ, ông TBT Lê Duẫn cũng hùng hồn tuyên bố trước đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 4 diễn ra ngày 12.12.1976, rằng: “trong vòng 10 năm nữa, kinh tế ta sẽ đuổi kịp Nhật, khoảng 15 năm nữa ta sẽ vượt qua Nhật. Lúc đó, nhân dân ta sẽ đi trên thảm vàng”.

Những chiếc bánh vẽ được lãnh đạo vẽ ra để lừa dân hết lần này đến lần khác.

– Ông Nguyễn Thiện Nhân: “giải quyết dứt điểm vụ Thủ Thiêm trong năm 2019”.

– Ông Nguyễn Đức Chung: “tàu Cát Linh – Hà Đông chạy vào cuối tháng 12.2019”

– Ông Nguyễn Mạnh Hùng: “năm 2020 sẽ có 90 triệu người dùng Mạng Xã Hội Việt Nam”.
…………..

Đó, là những chiếc bánh vẽ mà lãnh đạo cộng sản đã cho chúng ta gặm trong gần nửa thế kỷ qua. Và hiện nay, ông Nguyễn Xuân Phúc đang đưa ra chiếc bánh mà đến năm 2045 nếu chưa tắt thở thì chúng ta sẽ thưởng thức tiếp, còn không, thì nhường cho thế hệ mai sau. Bởi, sống với cộng sản, thì ai ai cũng có cơ hội ăn bánh vẽ và thế hệ nào cũng đều có phần. Ơn đảng!

*p/s: Năm mới, cầu chúc tất cả bạn bè, anh chị em làng fây được dồi dào sức khỏe, an lạc, thịnh vượng.

Happy new year!

Tô Huy Rứa – Chân dung quyền lực (Kỳ 3)

Tô Huy Rứa – Chân dung quyền lực (Kỳ 3)

24-12-2019

Tiếp theo kỳ 1 và kỳ 2

Tái cử Bộ Chính trị, chiếm được ghế Trưởng ban Tổ chức Trung ương, quyền hạn của Tô Huy Rứa cực kỳ lớn:

– Tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư các chính sách về tổ chức cán bộ, đoàn thể, nội chính, Mặt trận.

– Đánh giá, tham mưu điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, phê chuẩn, đình chỉ chức vụ cán bộ.

– Giới thiệu ứng cử, quy hoạch các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị, Ban bí thư quản lý.

– Thường trực Tiểu ban nhân sư Đại hôi đảng.

Và Tô Huy Rứa đã “phát huy” hết sức mạnh quyền lực ấy như thế nào?

Quay lại những năm về trước, Tô Huy Rứa có một mối tình sâu nặng với một phụ nữ gốc Nghệ An lên Yên Bái dạy học, có tên Phạm Thị Thanh Trà, sinh 1964. Khi ấy Trà vừa qua tuổi bốn mươi, da trắng ngần, cao ráo và xinh đẹp. Giới quan chức Yên Bái gọi cô là “đoá hoa rừng”.

Năm 2006, khi là Trưởng Ban tuyên giáo Trung ương, Rứa đưa “người tình” Phạm Thị Thanh Trà vốn xuất thân là một giáo viên cấp 2 Trường PTCS thị trấn Cổ Phúc – Trấn Yên – Yên Bái, vượt qua một số chức vụ để ngồi vào ghế Ủy viên Ban Thường vụ (khóa XVI), Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Yên Bái. Từ đó leo lên Phó chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư Thành uỷ TP Yên Bái, Phó bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái.

Tô Huy Rứa và Phạm Thị Thanh Trà. Photo Courtesy

Năm 2016, với vị thế Ủy viên BCT, Bí thư Trung ương, Trưởng Ban tuyên giáo, Rứa đã giúp Phạm Thanh Trà dễ dàng kiếm một suất Uỷ viên Trung ương khoá XII và làm Phó Bí thư, kiêm Chủ tịch UBND tỉnh.

Sáng 18/7/2016, Chi cục trưởng kiểm lâm Đỗ Cường Minh nổ súng K59 bắn chết Bí thư tỉnh uỷ Phạm Duy Cường và Chủ tịch HĐND Ngô Ngọc Tuấn. Phạm Thị Thanh Trà được ngồi vào ghế Bí thư tỉnh uỷ Yên Bái.

Phạm Thị Thanh Trà là chị ruột Phạm Sĩ Quý, cựu Giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường, xây biệt phủ ngàn tỷ bằng tiền “chạy xe ôm” và “buôn chổi đót”.

Về phần Nguyễn Phú Trọng, sau khi đắc cử Tổng Bí thư, ông cùng Chủ tịch nước Trương Tấn Sang quyết tâm tuyên chiến với phe nhóm Nguyễn Tấn Dũng.

Ngày 31/12/2011, bế mạc Hội nghị trung ương 4 khóa XI. Ngày 16/1/2012, Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, tức NQTW 4: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng.

Văn bản nêu rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…

Và sau đó là một đợt rầm rộ kiểm điểm, phê bình và tự phê tất cả đảng viên trên cả nước. Đích đến chủ yếu vẫn là Nguyễn Tấn Dũng và các đồ đệ, bị gọi là “nhóm lợi ích”.

Sau đó là Hội nghị trung ương 5, “seri đòn” được phe Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đưa ra, để cân bằng quyền lực, ghìm cương “con ngựa bất kham” và khống chế sự lộng quyền, tàn phá kinh khủng của Nguyễn Tấn Dũng và “nhóm lợi ích”.

Ông Trọng kích hoạt phương châm “nhốt quyền lực vào lồng luật pháp”. Hàng loạt văn bản của đảng được tung ra, như:

Quyết định số 68-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát trong Đảng (ngày 21/03/2012).

– Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí (25/05/2012).

– Quyết định số 158-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc thành lập Ban Nội chính Trung ương (28/12/2012).

– Quyết định số 160-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc thành lập Ban Kinh tế Trung ương (28/12/2012).

– Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (01/02/2013).

Tiếp theo là chỉ đạo QH ra nghị quyết 35, lần đầu tiên trong lịch sử VN, lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do QH bầu và phê chuẩn, tại kỳ họp 5, khoá 13, khai mạc vào ngày 20/5/2013.

Chưa hết, phe ông Trọng yêu cầu và thực hiện sửa đổi Hiến pháp 1992, tăng quyền hạn chủ tịch nước, rút quyền phong tướng của Nguyễn Tấn Dũng… tại kỳ họp 6, QH khoá 13, tháng 11/2013.

Tuy nhiên, “nhóm lợi ích” vẫn bảo đảm thành trì. Hội nghị 6 tháng 10/2012 không kỷ luật được Nguyễn Tấn Dũng, những giọt nước mắt phẫn uất đã lăn dài trên má ông Trọng. Mặc dù vậy, phe Trọng cũng buộc được Dũng đã cúi đầu nhận trách nhiệm của người đứng đầu Chính phủ và nhận lỗi trước Quốc hội, toàn Đảng, toàn dân về tất cả những yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành,  trong phiên khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 13, ngay sau đó.

Ông Nguyễn Phú Trọng khóc tại bế mạc Hội nghị trung ương 6 và Nguyễn Tấn Dũng nhận lỗi trước QH.

Phần mình, Tô Huy Rứa cùng với Trần Đại Quang vận động và giới thiệu Nguyễn Bá Thanh với nhóm ông Trọng – Sang, để Thanh ngồi vào ghế Trưởng ban Nội chính, hòng giúp Nguyễn Bá Thanh kiếm một suất bổ sung Bộ Chính trị, nhưng thất bại tại Hội nghị 7, tháng 5/2013, khi cả Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ đều “out”.

Có điều, thế và lực bắt đầu nghiêng về nhóm hai ông Nguyễn Phú Trọng – Trương Tấn Sang. Tô Huy Rứa rất nhanh, ngả về bên mạnh hơn. Để lập công, Tô Huy Rứa cũng góp công giúp ông Trọng thực thi chủ trương và quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về luân chuyển cán bộ. Dịp này Rứa cũng nhanh chân đưa Trịnh Xuân Thanh về Hậu Giang, qua Văn bản số 6149, ngày 20/1/2014 của Ban Tổ chức Trung ương do Trần Lưu Hải, Phó Trưởng ban Thường trực nhiệm kỳ 2010-2015, ký. Toàn bộ là do chỉ đạo của Rứa, nhưng người “lãnh đạn” sau này là Trần Lưu Hải.

Việc luân chuyển 44 cán bộ Trung ương về địa phương, nằm trong kế hoạch xoay chuyển “bàn cờ” chính trị của ông Trọng.

Có người cho rằng Tô Huy Rứa là tác giả của Quy chế 244, ra đời tháng 6/2014. Nhận định thế là không đúng. Các “bộ não” cận thần tham mưu cho hai ông Trọng – Sang mới chính là tác giả của Quy chế 244, ra đời tháng 6/2914. Vì quá chủ quan, Nguyễn Tấn Dũng đã bị hạ “knoc-out” ngay trước thềm đại hội XII diễn ra tháng 1/2016, bởi “thiên la địa võng” mà bên tấn công giăng ra, và cũng bởi Quy chế lạnh lùng và tàn khốc mang bí số 244.

Bốn ngày trước khi khai mạc Hội nghị Trung ương 13, Nguyễn Tấn Dũng viết đơn gởi Nguyễn Phú Trọng, xin KHÔNG TÁI CỬ và rút lui khỏi cuộc đua quyền lực.

Là “kiến trúc sư” trong công tác nhân sự, cuối năm 2014, để đưa đàn em Trịnh Văn Chiến vào Uỷ viên Trung ương, Tô Huy Rứa kéo Mai Văn Ninh, Bí thư tỉnh uỷ Thanh Hóa ra Hà Nội để thay Cao Đức Phát làm Bộ trưởng. Sắp hết tuổi, nhưng Phát không chịu nghỉ, Rứa phải đưa Ninh về làm Phó Ban tuyên giáo nằm chờ. Tại đại hội XII, Ninh nằm trong danh sách tái cử Uỷ viên Trung ương, nhưng khi bầu lại rớt. Chỉ có Trịnh Văn Chiến, người tình của “hotgirl” Quỳnh Anh, vào BCH Trung ương. Mai Văn Ninh ngậm đắng nuốt cay, rời chính trường.

Còn nữa, trong  suốt thời gian chuẩn bị đại hội 12, Tô Huy Rứa đã tiếp một tay, giúp Nguyễn Văn Bình, Đinh La Thăng, Hoàng Trung Hải lách qua khe cửa hẹp, để ngồi chung “ngai” với ông Trọng, trong Bộ Chính trị.

Với gia đình, Tô Huy Rứa sắp đặt vẹn toàn. Phu nhân Trương Thị Tuyết Nhung, sau khi rời chức vụ Trưởng phòng đào tạo Học viện Báo chí tuyên truyền, thì lập ngay “Quỹ từ thiện Bầu ơi” từ tháng 4/2913 để hoạt động. Quỹ của phu nhân Trưởng ban Tổ chức Trung ương tiền không bao giờ cạn. Hàng trăm doanh nghiệp nhà nước đổ tiền vào ủng hộ Quỹ.

Vợ chồng Tô Huy Rứa

Con trai cả của Rứa là Tô Huy Vũ, trong ba năm đổi hai chức. Từ Vụ trưởng Thống kê, nhảy sang Vụ trưởng Hợp tác Quốc tế Ngân hàng Nhà nước.

Con trai kế Tô Tử Hà, Bí thư đoàn thanh niên Vietnam Airlines, Trưởng phòng Tổ chức – Nhân sự Cảng HKQT Nội Bài.

Con gái út Tô Linh Hương, “công chúa” sinh ngày 14/2/1988 từng khuấy động dư luận khi về làm Chủ tịch HĐQT Cty Vinaconex-PVC, một cty liên doanh của “người tình” thành đạt Trịnh Xuân Thanh, vào tháng 4/2012 và rút lui sau đó hai tháng, vì cty này đang ngập nợ nần.

Các con của Rứa

Tô Linh Hương nhanh chóng được bố Rứa đưa về Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch, làm Ủy viên Ban chấp hành Đảng ủy Bộ VHTTDL, Ủy viên Ban thường vụ Đoàn khối các cơ quan trung ương, Bí thư Đoàn bộ VHTTDL. Rồi Hương làm Nghiên cứu sinh theo QĐ số 3204/QĐ- ĐHKT ngày 8/11/2013 của Hiệu trưởng Đại học Kinh tế- ĐHQG với đề tài “Chuỗi giá trị toàn cầu ngành hàng chè và sự tham gia của Việt Nam”, do đích thân Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ làm cán bộ hướng dẫn khoa học. Chiều ngày 7/2/2018, tại Phòng 801 nhà E4, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, trước hội đồng giáo sư chấm, Tô Linh Hương đã bảo vệ luận án tiến sĩ với số điểm tuyệt đối (!)

Hy vọng các “thiên tài” họ Tô đời thứ 14, sẽ thay bố Tô Huy Rứa, làm rạng danh “làng ăn mày” Đồn Điền, Quảng Thái.

Gần đây, báo chí và dư luận lại xôn xao với video clip xe Mercedes E250 có bảng số 30F-462.75 của bà Trương Tuyết Nhung, đăng ký năm 2018 lại mang thêm bảng số xe màu xanh 80B-4329 đăng ký năm 2009 trực thuộc Ban Tuyên giáo trung ương, để được hưởng những đặc quyền khi tham gia giao thông. Điều đó cho thấy rằng, dù nghỉ hưu đã 4 năm, máu đam mê công danh và uy vũ vẫn nóng hổi như ngày nào, trong huyết quản một chân dung quyền lực như Tô Huy Rứa.

Xe 2 biển số của gia đình Tô Huy Rứa
BAOTIENGDAN.COM
Tô Huy Rứa – Chân dung quyền lực (Kỳ 3) Bởi AdminTD – 27/12/2019 Hồng Hà 24-12-2019 Tiếp theo kỳ 1 và kỳ 2 Tái cử Bộ Chính trị, chiếm được ghế Trưởng ban Tổ chức Trung ương, quyền hạn của Tô Huy Rứa cực kỳ lớn: – Tham mưu cho Bộ Ch…

Điều con xin hôm nay là ơn tha thứ.

Đêm nay là đêm giao thừa từ năm cũ 2019 bước sang năm mới 2020. Trong giờ linh thiêng nhất trong năm, với suy nghĩ làm sao cho đời sống của mỗi người chúng ta được BÌNH AN, VUI TƯƠI, HẠNH PHÚC, để trong cõi đời trần thế hiện tại này được nhẹ nhàng, thư thái, khoan dung, yêu thương và được yêu thương. Để sau này, lúc ra đi, linh hồn ta cũng nhẹ nhàng, êm ái, tràn đầy tình cảm yêu thương, thần thái vui tươi, hạnh phúc trong nước Trời.

Trong suy tư đó, xin gởi đến tất cả những người thân yêu lời kinh dưới đây. Mời đọc và suy ngẫm.

Phùng Văn Phụng

Kinh Tha Thứ

 Lạy Chúa Giêsu, điều con xin hôm nay là ơn tha thứ.

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho chính con: những tội lỗi của con, những lỗi lầm của con, những sa ngã của con, những điều xấu trong con, những mê tín dị đoan của con, cầu cơ lên đồng, xem tử vi, coi chiêm tinh gia, coi thầy bói, đeo những bùa may mắn hộ mạng. Con từ bỏ tất cả những dị đoan đó. Con tin nhận Chúa là Chúa cứu thế duy nhất của con. Xin hãy ban Thánh Thần Chúa trên con. Con tha thứ cho con vì: đã làm đau khổ cha mẹ con, chè chén say sưa, sử dụng ma tuý, đeo đuổi hành động thiếu trong sạch, ngoại tình, những hành động tình dục về đồng tình luyến ái. Như Chúa đã tha thứ cho con, hôm nay con cũng tha thứ cho con. Ðồng thời những tội khác như: phá thai, ăn cắp, nói dối, lừa đảo… Con tha thứ cho chính con.

Con tha thứ cho người mẹ con qua những lần mẹ con: làm đau đớn con, phẫn nộ với con, giận dữ với con, trừng phạt con, thanh lọc con ra khỏi anh chị em, nói con đần độn, xấu xí, ngu dốt, hư hỏng nhất, hao tốn tiền của gia đình. Cho con là đứa con không được thừa nhận, là thiếu xót, là đứa con không được như ý muốn…

Con tha thứ cho cha con là người cha: thiếu nâng đỡ con, thiếu tình thương, thiếu cảm tình, thiếu sự trông nom, thiếu thời giờ, thiếu sự cảm thông dành cho con. Con tha thứ cho cha con là: người nghiện ngập, ẩu đả với mẹ con, ẩu đả với những người con khác, những sự trừng phạt nghiêm khắc, những bỏ bê, bỏ nhà ra đi, ly dị mẹ con, đi lang thang…

Con cũng xin tha thứ cho anh chị em con: những người xua đuổi con, nói dối con, ghét con, tranh dành tình yêu của cha mẹ con, ám hại con, nghiêm khắc với con, làm cho đời sống con khổ sở…

Lạy Chúa con xin tha thứ cho người phối ngẫu của con về: sự thiếu tình thương, thiếu cảm tình, thiếu thông cảm, thiếu sự chăm sóc, thiếu liên lạc trò chuyện với con. Con xin tha thứ cho những thiếu xót, vất ngã, yếu đuối, những lời nói hay hành động làm tổn thương và khó chịu cho con…

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho con cái của con: Thiếu kính trọng, Thiếu vâng lời, Thiếu yêu thương, Thiếu trông nom, Thiếu âu yếm, Thiếu hiểu biết, Những thói hư tật xấu, Bỏ đi nhà thờ, Những hành động làm phiền hà con…

Lạy Chúa con xin tha thứ cho gia đình bên vợ/chồng con, nhất là cha mẹ, anh chị em, bà con bên vợ/chồng con đã làm tổn thương đến gia đình con…

Lạy Chúa con xin tha thứ cho những họ hàng thân thiết của con, ông bà nội ngoại, cô cậu chú dì, những người đã can thiệp vào nội bộ gia đình con, cố gắng gây ảnh hưởng trên cha mẹ con, gây ra những hiểu lầm, xúi cha mẹ này đến cha mẹ khác…

Lạy Chúa, xin giúp con tha thứ cho người bạn cùng sở của con về những sự bất đồng ý kiến, là con phải sầu khổ, bắt con phải làm việc của họ, trêu trọc con, muốn dành công việc của con.

Lạy Chúa, những người hàng xóm của con cũng cần được tha thứ về: Những sự ồn ào, Những tiệc tùng về khuya, chó sủa làm con thức giấc, làm cho khu xóm mất giá trị…

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho những linh mục, cha sở họ đạo con, cộng đoàn con, Ðức Giám mục, Giáo Hoàng, Giáo hội công giáo về: Thiếu nâng đỡ, Nhàm chán, phục vụ tồi tệ, Thiếu niềm nở, Không xác nhận, Chẳng có điều gì khuyến khích con, Không sử dụng con vào những chức vụ chủ yếu, Không mời con phục vụ trong những tổ chức đông người, những đau đớn giáng xuống trên con, con thực sự tha thứ…

Con tha thứ cho những người trí thức (professionals) về những tổn thương xảy đến con như bác sĩ, ý tá, luật sư, quan tòa, chính trị gia, dân biểu…

Lạy Chúa con tha thứ cho những người phục vụ công quyền (service people): cảnh sát, nhân viên cứu hỏa, tài xế xe bus, nhân viên nhà thương và những nhân viên khác.

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho chủ hãng con về không trả xứng lương cho con, không biết ơn việc con làm, có thái độ thiếu lịch sự, thiếu công bình, nóng giận, thiếu hòa nhã, không thăng chức cho con…

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho thầy cô giáo, huấn luyện viên trong quá khứ và hiện tại, nhất là những người đã trừng phạt con, những người đã hăm dọa con, những người đã sĩ nhục con, đối xử thiếu công bình, những người chế diễu con, những người nói con là đồ ngu ngốc, dốt nát, những người phạt con ở lại sau giờ học.

Lạy Chúa, con xin tha thứ cho bạn bè con về: Những người chà đạp con xuống, Những người không liên lạc với con trong lúc con cần sự giúp đỡ, mượn tiền mà không trả lại, tán gẫu về con…

Lạy Chúa Giêsu, con khẩn thiết cầu xin ơn tha thứ, cho một người trong cuộc sống của con đã làm con đau khổ nhất; cho những người là kẻ thù không đội trời chung của con; cho người rất khó tha thứ; cho người con thề không thể tha thứ cho họ. Lạy Chúa, con xin tha thứ những người này, cho những đau đớn con đã gây ra cho họ, đặc biệt là cha mẹ của con, người phối ngẫu của con. Con cám ơn Chúa về tất cả tình thương của Chúa đã đến trong cuộc đời con qua họ.

Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã cho con có sức mạnh, can đảm để con tha thứ cho anh em con. Xin Cha tha thứ cho con và chúc lành cho đời sống mới của con. Amen.

LM DeGrandis

 Nguồn: https://www.conggiao.org/kinh-tha-thu/

Phạm Tín An Ninh – Con đường giải oan cho một cuộc bể dâu

Phạm Tín An Ninh – Con đường giải oan cho một cuộc bể dâu

Đỗ Trường (Danlambao) – Sau chiến tranh, tuy bị bức tử, nhưng Văn học miền Nam vẫn hồi sinh, phát triển, để bước sang một trang sử mới. Văn học Hải ngoại, một hình thức, hay tên gọi văn chương tị nạn, là sự nối dài của nền Văn học ấy. Và từ đó, ngoài các nhà văn tên tuổi, ta thấy, xuất hiện một loạt các cây viết mới. Họ xuất thân từ những người lính, tù nhân, thuyền nhân tị nạn, như: Cao Xuân Huy, Song Vũ, hay Phạm Tín An Ninh… Chiến tranh, con đường giải oan cho cuộc bể dâu ấy, là đề tài đã được các nhà văn đào sâu, tìm kiếm làm sáng tỏ một cách chân thực, sinh động. Và khi đi sâu vào nghiên cứu, ta có thể thấy, Phạm Tín An Ninh là một trong những nhà văn tiểu biểu nhất viết về đề tài này.

Nếu bút ký Phan Nhật Nam sắc nhọn, hừng hực khói lửa, thì vẫn nơi chiến trường ấy, ngòi bút, lời văn Phạm Tín An Ninh nhẹ nhàng, sâu lắng và trong sáng. Có thể nói, ngoài sự tài hoa, với bút pháp hiện thực, Phạm Tín An Ninh còn là một nhà văn đức độ, có sự cảm thông và tình yêu sâu sắc đối với tha nhân. Văn thơ Phạm Tín An Ninh như một luồng gió mới thổi vào hồn không chỉ những người lính đồng đội, bạn bè ông, mà còn cho cả những người lính một thời ở bên kia của chiến tuyến. Phải nói, ông là một trong những nhà văn mà tôi đã học được nhiều điều, khi đọc. Bút pháp, và tư tưởng ấy, Phạm Tín An Ninh đã gieo vào nhiều thế người hệ đọc, từ hải ngoại về đến quốc nội, dù cho đến nay, ông mới cho in ấn, phát hành 4 tác phẩm: Ở Cuối Hai Con Đường, Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân, Vẫn Còn Vương Tơ, và Sau Cuộc Bể Dâu. Bốn tập truyện ngắn, bút ký này, tôi đã đọc nhiều lần. Có thể nói, truyện nào của Phạm Tín An Ninh cũng sâu sắc, và cảm động. Kể cả truyện viết đầu tay. Một đặc điểm nổi bật nhất trong văn thơ Phạm Tín An Ninh ta có thể nhận thấy, không chỉ trong tư tưởng, bút pháp, mà lối hành văn, câu cú, chính tả cũng sáng, đẹp và chuẩn mực. Dường như, cho đến nay, không có nhiều nhà văn, trang sách hội đủ những đặc điểm này. 

Nhà văn Phạm Tín An Ninh sinh năm 1943 tại Khánh Hòa. Thi đậu tú tài, ông nhập ngũ, khóa 18 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Mười một năm lính chiến, để rồi sau tháng 4-1975, Phạm Tín An Ninh bị cải tạo, tù đày từ Nam ra đến Bắc. Năm 1984 ra tù, ông vượt biển, xin tị nạn ở Nauy. Hiện ông sống và viết văn tại Cali, Hoa Kỳ. 

Chiến tranh với cái nhìn chân thực của người lính

Có thể nói, sau mười một năm cầm súng, và gần chục năm cải tạo tù đày, cùng những tháng ngày trốn chạy, tị nạn nơi đất khách, quê người, Phạm Tín An Ninh có đủ độ lùi thời gian để nhìn lại cuộc chiến đã qua, một cách sâu sắc và trung thực nhất. Và chỉ có cầm bút người lính Phạm Tín An Ninh mới có thể tìm lại linh hồn đồng đội và chính mình. Sự trả tính chất cuộc chiến về đúng vị trí, tên gọi của nó, như một món nợ đối với người lính, tù nhân, tị nạn còn sống sót vậy. Do đó, về mặt tâm lý, Phạm Tín An Ninh hoàn toàn không có sự chuẩn bị để trở thành nhà văn. Tuy nhiên, chính những điều không tưởng này, cho Phạm Tín An Ninh một tâm lý thoải mái, tự nhiên khi viết, và sáng tạo. Từ những đặc tính riêng biệt ấy, (hiển nhiên) làm nên tên tuổi nhà văn Phạm Tín An Ninh. 

Cũng như Song Vũ, nhà văn Phạm Tín An Ninh đi lên từ một sĩ quan trẻ chỉ huy cấp trung đội. Mười một năm dài đằng đẵng lăn lộn khắp các chiến trường miền Trung, Cao Nguyên và ông trở thành một vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm chiến trường. Những ngày tháng gian khổ, bi thương ấy, như nhát dao đâm nát hồn người. Bởi, hằng ngày, hằng giờ ông phải chứng kiến cái chết, không chỉ của những người lính (trẻ cùng một dòng máu) ở bên kia chiến tuyến, mà còn phải vuốt mắt cho đồng đội, người thân của mình. Nỗi ám ảnh ấy, thường trực đeo bám ông. Và chỉ khi ngồi đối diện với ngòi bút và trang sách, thì dường như gánh nặng tâm hồn ông mới trút bỏ. Do vậy, ta có thể thấy, tính hiện thực xuyên suốt những tác phẩm của Phạm Tín An Ninh. 

Rời quân trường, Phạm Tín An Ninh ra đơn vị tác chiến, phải thế chỗ cho một trung đội trưởng vừa tử trận. Hiện thực ấy, tác động đến tâm lý, làm cho người sĩ quan trẻ không khỏi bùi ngùi giao động. Những Mùa Mưa Trong Ký Ức, tuy không phải là bút ký hay của Phạm Tín An Ninh, song đã nói lên phần nào cái không khí, cục diện mới của chiến tranh, cũng như tâm trạng chung của người lính lúc đó: 

“Nghi thức ra mắt vừa xong, tất cả tháp tùng ông tiểu đoàn trưởng đến Quân Y Viện Nguyễn Huệ để dự tang lễ của một ông thượng sĩ vừa qua đời do bị trọng thương trong cuộc hành quân tại Lâm Đồng tuần trước. Tôi bất ngờ và có cảm giác xốn xang khi biết ông thượng sĩ này là Trung đội trưởng Trung Đội 3/3 mà tôi là người đến thay thế ông…ngày đầu ra nhận đơn vị lại là ngày phải tiễn đưa người tiền nhiệm mà mình chưa hề biết mặt ra nghĩa trang, nên ít nhiều nghĩ tới phần số của mình trong nay mai và sớm bị ám ảnh bởi tiếng khóc than của người góa phụ”. 

Nếu ta đã đọc bút ký, truyện ngắn nơi chiến trường của những: Phan Nhật Nam, Cao Xuân Huy, hay Song Vũ… thì thấy được trước cái chết, sự hy sinh tình đồng chí, đồng đội, mới dừng lại ở sự miêu tả cái khoắc khoải, tàn khốc, đớn đau. Song đến Phạm Tín An Ninh đã có sự liên tưởng. Với phương thức liên tưởng này, cùng những ca khúc trữ tình, lãng mạn ấy, làm cho hình ảnh người lính dường như đi vào bất tử, và cái chết của họ nhẹ nhàng, dịu bớt nỗi đau trong lòng người đọc chăng?. Vẫn trích đoạn trong bút ký, Những Mùa Mưa Trong Ký Ức dưới đây, không chỉ chứng minh cho điều đó, mà còn cho ta thấy, nỗi đau và tình đồng đội của người lính: 

“Người tôi ướt đẫm máu, nước mưa, và cả nước mắt (cho người đồng đội thương binh không có chút hy vọng sống còn)… Khuya hôm ấy, anh lính bị trọng thương của tôi, vốn là một tân binh quân dịch, quê tận Gò Công, đã trút hơi thở cuối cùng trên tay tôi, sau khi giao cho tôi cái bóp có hai tháng tiền lương và thì thào lời trối trăng đứt đoạn, nhờ chuyển lại cho vợ và đứa con gái đầu lòng chưa đầy một tuổi, mà anh chỉ mới về phép thăm cháu một lần. Đó là người lính đầu tiên dưới quyền đã chết, trên tay tôi. Anh có cái tên rất dân dã mà tôi không bao giờ quên được: Nguyễn văn Tý. Trùng tên người nhạc sĩ sáng tác bài Dư Âm mà tôi thường hay hát. Và sau này, cứ mỗi lần nghe bản nhạc này, tôi lại nhớ đến anh…” 

Có thể nói, Chuyện Người Lính Trinh Sát là một trong những truyện ký hay nhất của Phạm Tín An Ninh. Đọc nó, tôi cứ bị ám ảnh mãi, bởi câu kết: “Trong cuộc chiến này, quả thật, có những điều mà người ta không thể nào hiểu được”. Dường như, đó là câu hỏi, một vấn đề buộc nhà văn, người lính Phạm Tín An Ninh phải đi tìm. Có lẽ, không một ai hiểu được tâm trạng của một người vợ có chồng theo Cộng sản, bị lính Việt Nam Cộng Hòa bắn chết, và người con trai duy nhất đi lính VNCH lại bị bộ đội giết?. Sự đau đớn ấy, không thể làm một phép tính so sánh, song cái giằng xé, đau đớn, âm thầm của bà nhân lên gấp bội, bởi không người xẻ chia, cảm thông. Thật vậy, thông qua bà, nhà văn Phạm Tín An Ninh đã cho ta thấy rõ, hình ảnh thu nhỏ của cuộc chiến hai mươi năm, anh em tương tàn này. Tuy nhiên, hơi bị tiếc, bởi tác giả dường như, chưa khai thác hết mâu thuẫn nội tâm của người vợ, người mẹ đau khổ này. Nếu tác giả khoét sâu vào khía cạnh này, tôi tin rằng, truyện hay lên gấp nhiều lần, và câu chuyện không dừng lại chỉ một người lính trinh sát can trường. Có thể, tác giả phải đặt lại tên “Chuyện Về Mẹ” thay cho truyện “Chuyện Người Lính Trinh Sát” không chừng. 

Vâng! Và cuộc chiến hai mươi năm được đặt lên đôi vai gầy của mẹ. Có cái đau nào bằng nỗi đau nhìn chồng chết mà không dám nhận, không dám khóc, không dám vấn khăn tang? Và có những nỗi đau chồng lên nỗi đau, khi bà mẹ nhìn con trẻ chết tan xác, bởi hỏa tiễn đồng đội của chồng, khi nỗi đau mất chồng chưa kịp nguôi ngoai? Đọc xong Chuyện Người Lính Trinh Sát, tôi cứ phân vân tự hỏi: Nếu có ghi tên vào Trang sử của chiến tranh, người vợ, người mẹ này thuộc về những người lính chiến VNCH, hay là của những anh Bộ đội? Và có phải đó là nỗi đau chung, nỗi đau khó xóa nhòa?. Ta hãy đọc lại những lời thoại, với sự cảm thông, chia sẻ giữa người lính VNCH và người đàn bà trong: Chuyện Người Lính Trinh Sát dưới đây, để thấy rõ cái trớ trêu, cũng như bản chất của cuộc chiến, và nỗi đau tận cùng của con người, hay của cả một dân tộc này: 

“Chờ cho người mẹ thắp hương và bớt xúc động, tôi hỏi nhỏ: 

– Ở làng Long Giang, chị có biết bà Lê Thị Đúng, có người con chỉ huy du kích, bị chết cách nay khoảng tám năm? 

Người mẹ ngạc nhiên nhìn tôi, thoáng dò xét rồi cúi xuống, nói thật nhỏ chỉ đủ tôi nghe: 

– Bà là mẹ chồng tôi, và con tôi đây là đích tôn, cháu nội duy nhất của bà. Vừa nói chị vừa đưa tay chỉ vào nấm mồ mới toanh trước mặt. 

Khi về lại đơn vị, tôi xin Ban Tài Chánh ứng trước nửa tháng lương. Trích ra một phần, bỏ vào bì thơ, tôi tìm đến đại đội trinh sát gặp và biếu cho bà mẹ của người lính trẻ vừa mới lẫm liệt hy sinh. Bà thoáng một chút xúc động ngạc nhiên nhìn tôi, nói lời cám ơn…Chia tay bà, trên đường trở về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn, tôi suy nghĩ mông lung. Trong cuộc chiến này, quả thật, có những điều mà người ta không thể nào hiểu được.” 

Tôi không nghĩ, ngòi bút của nhà văn Phạm Tín An Ninh đại diện chung cho người lính VNCH. Nhưng tư tưởng, sự cảm thông mang tính nhân văn có được trên những trang sách, bởi ông đã nhận ra bản chất của cuộc chiến này. Thật vậy, đọc Người Góa Phụ Giờ Thứ 25, ta có thể thấy, ngoài sự dũng cảm với những cái chết tang thương của người lính, cùng sự cảm thông, kính phục, nhà văn Phạm Tín An Ninh còn chỉ ra, bàn cờ chính trị bẩn thỉu đã quyết định số phận người lính ở nơi chiến trường. Tôi đã đọc nhiều bút ký, hồi ký của những nhà văn từ cả hai phía viết cuộc chiến này, song phải nói, rất ít gặp được những nhận định rạch ròi, mang tư tưởng sâu sắc như Phạm Tín An Ninh: 

“Sau khi Mỹ bất chấp những phản đối của VNCH, đã tự cho mình ngồi ngang hàng với Cộng Sản Bắc Việt và đơn phương nhượng bộ quá nhiều điều trong Hiệp Định Paris ký kết ngày 27.1.1973, chứng tỏ ý định sớm bỏ rơi đồng minh, phủi tay cuộc chiến. Lợi dụng điều này, Cộng quân đã ồ ạt tung nhiều sư đoàn với lực lượng chiến xa, từ miền Bắc và Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh xâm nhập Nam Việt Nam, đồng loạt mở các cuộc tấn công qui mô vào các đơn vị phòng thủ của ta. Phước Long là tỉnh đầu tiên bị thất thủ vào ngày 6 tháng 1/1975 nhưng không có bất cứ dấu hiệu nào từ phía Hoa Kỳ can thiệp hay phản đối CSBV vi phạm hiệp định. Điều này đã báo hiệu cho số phận của VNCH.” (Người góa phụ giờ thứ 25) 

Có thể nói, đọc Phạm Tín An Ninh mở ra cho tôi nhiều kiến thức, cái nhìn (đa chiều) về cuộc chiến tàn khốc nhất của dân tộc mà ông, thế hệ ông đã đi qua. Tôi nghĩ, với lăng kính, cái nhìn khách quan như vậy, trang viết của ông không chỉ giá trị về mặt văn học, mà còn có giá trị về lịch sử. Đây là một trong những yếu tố quan trọng làm nên chân dung nhà văn Phạm Tín An Ninh. 

Tính nhân bản, lòng vị tha vượt lên trên ngục tối tù đày 

Đi sâu vào đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy, truyện của Phạm Tín An Ninh luôn mang tính điện ảnh, kịch tính với mâu thuẫn, tình tiết éo le được đẩy lên cao độ, và bất ngờ. Tuy thắt nút được mở, cái kết vỡ òa có hậu, song làm cho nguời đọc không khỏi bùi ngùi, xót xa. Đà Lạt Trời Mưa là một truyện hay, tiêu biểu cho đặc tính này trong truyện ký, văn xuôi của ông. Thật vậy! Chiến tranh kết thúc, nhà tù, cải tạo là nơi người lính thất trận phải đi đến. Ở địa ngục trần gian này, cái chết chưa phải là điều đáng sợ nhất đối với người lính cải tạo tù đày, mà cực nhọc, đói khát, đày đọa về vật chất, giam hãm tinh thần mới là nỗi ám ảnh thường trực, kể cả khi họ đã thoát ra khỏi nơi địa ngục ấy. Ta hãy đọc lại trích đoạn trong Đà Lạt Trời Mưa dưới đây, để thấy rõ, cái chết rẻ mạt và bất ngờ của họ, dẫn đến những bi kịch của con người ở một xã hội luật pháp, đạo lý đảo lộn tùng phèo này: 

“Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ…Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc… Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.” 

Tuy viết về chiến tranh, người lính, và cải tạo tù đày, song chất trữ tình là nghệ thuật đặc trưng nhất xuyên suốt truyện ngắn, văn xuôi của Phạm Tín An Ninh. Do vậy, đọc ông luôn cho ta cảm giác nhẹ nhàng, sâu lắng ăm ắp tình người. Ta có thể thấy, cùng với, Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ, Ở Cuối Hai Con Đường là truyện ngắn hay nhất về tình người, lòng nhân đạo cao cả, sâu sắc của Phạm Tín An Ninh. Nếu ở, Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ, sự cảm thông của người mẹ, người dân miền Bắc đối với những người lính cải tạo tù đày, thì Ở Cuối Hai Con Đường, thì cái tình người ấy, thể hiện ngay trong tình cảm, hành động của người quản giáo (một cựu tù binh ở chiến trường Kontum, đã được những người lính VNCH đối xử nhân đạo). Có thể nói, tôi đã đọc rất nhiều bút ký, hồi ký của những cựu cải tạo, tù nhân từ Nam ra đến Bắc, song có rất ít nhà văn, người viết tìm ra khía cạnh này. Tôi nghĩ, đây là cái nhìn công bình, không mang tính định kiến, hận thù của một nhà văn có tình yêu và lòng vị tha cao cả. Cho nên, trong một lần điện đàm, bàn luận về nhà văn Phạm Tín An Ninh, nhà thơ Trần Trung Đạo cho rằng: Phạm Tín An Ninh chinh phục được độc giả như vậy, vì khi viết anh có cái tâm trong sáng. 

Thật vậy, đoạn văn miêu tả tình cảm, tình người dưới đây, sẽ chứng minh cho chúng ta điều đó: 

“Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng: 

– Tôi để một giỏ cá đằng sau lán. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết. 

Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động. 

Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên. Rồi đào mấy cái bếp “Hoàng Cầm” để luộc sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luộc sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác. Nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh “chuẩn bị đi về”, anh em tức khắc giấu hết “tang vật” xuống một cái hố đã đào sẵn.” (Ở Cuối Hai Con Đường) 

Nghỉ Hè Ở Mallorca là một truyện ký, tôi cho rằng, hay, và toàn bích nhất của Phạm Tín An Ninh. Cùng với Ra Biển Gọi Thầm của Trần Hoài Thư, Nghỉ Hè Ở Mallorca là truyện độc đáo nhất về tình yêu ở nơi cải tạo tù đày. Tính chất trữ tình tựa như cơn mưa đầu làm dịu mát cái nắng nóng hừng hực giữa hè của văn chương về chiến tranh, tù đày sau 1975, ở hải ngoại vậy. Vâng! Vẫn thủ pháp nghệ thuật hồi tưởng, chập chờn ký ức của nhân vật lồng vào tác giả, Phạm Tín An Ninh đã đưa người đọc trở về với những ngày tù tội, nơi có mối tình cao thượng tuyệt đẹp, giữa một nữ kỹ sư lâm trường và người tù cải tạo. Tình yêu, và sự cao thượng trong hoàn cảnh ấy, tuy nghiệt ngã, song nó đã mở ra một lối thoát, một nghị lực sống của con người: 

“Tội nghiệp, em yêu anh Đôn trong một hoàn cảnh quá nghiệt ngã. Điều duy nhất mà em có thể làm được cho người yêu của mình là giúp anh trốn trại, vượt ra khỏi khung cảnh đày ải man rợ, để anh ấy luôn được xứng đáng với những điều anh đang có. Bởi vì chính những điều ấy đã làm cho trái tim em rung động, để em biết thế nào là một tình yêu, mà nếu không gặp anh ấy, có lẽ suốt cả đời em không có được. Quan trọng hơn, đó lại là thứ vũ khí tốt nhất, hiệu quả nhất giúp em đủ can đảm và nghị lực để chống lại số phận, mà trước đó em nghĩ là tới một ngày em sẽ phải đầu hàng, buông xuôi, bất lực.” (Nghỉ Hè Ở Mallorca) 

Dường như, càng bị đọa đày, thì Phạm Tín An Ninh càng tĩnh tâm hơn. Nhất là khi ông bước vào nghiệp viết. Lòng nhân bản, tình người giúp ông bước ra khỏi hận thù. Cho nên, mỗi trang viết của ông như một liều thuốc, lời ru làm xoa dịu nỗi đau của con người vậy. 

Quê hương với nỗi đau và mất mát 

Bước ra khỏi nhà tù nhỏ, nhưng con đường trước mặt Phạm Tín An Ninh còn bế tắc hơn nữa. Nỗi đau của đất nước, và gia đình như đám mây đen bao kín cả bầu trời. Và đi hết biển, con đường duy nhất, là nơi ông phải đến. Tâm trạng ấy, được Phạm Tín An Ninh ủ vào bài viết, mà tôi không thể gọi thành tên. Bởi, ông trộn tất cả các thể loại văn học vào trong đó. Vâng! Những Đám Mây Trên Đỉnh Núi Phổ Đà là bài viết như vậy. Có thể nói, đây là một trong những bài văn cảm động nhất của Phạm Tín An Ninh. Vẫn lối viết giản dị, lời văn mộc mạc, nhưng giàu hình tượng làm cho người đọc phải rưng rưng ngấn lệ. Những hình tượng so sánh ấy, trải ra, rồi cuộn tròn thành nỗi đau, nỗi u hoài trong lòng tác giả, trong lòng người đọc. Thành thử, tôi không thể lược bỏ bất cứ từ ngữ, câu cú nào trong đoạn trích dưới đây, dù có thể khá dài: 

“Chỉ có dãy núi Phổ Đà vẫn còn đứng nguyên ở đó. Hôm đầu tiên ra cổng nhìn lên, tôi không còn thấy cánh đại bàng hùng vĩ ngày xưa. Cả đỉnh núi bị bao phủ bởi những đám mây đen buồn thảm, làm tối cả một vùng trời ảm đạm. Tôi hình dung đến cha mẹ tôi, hai ông chú và cả những đồng đội bạn bè, trong đó có Phan. Tất cả như đang ẩn hiện trong các đám mây mù buồn thảm ấy. Lòng tôi đau đớn như đang có trăm ngàn vết chém. Tôi thắp hương, nhắm mắt tưởng nhớ và cầu nguyện cho tất cả được siêu thoát trong một thế giới bình an, không còn có đau khổ, hận thù. Nghe tiếng sấm chớp, tôi giật mình mở mắt ra. Trời đang vần vũ một cơn mưa. Nhìn mưa trút nước từ những đám mây đen trên đỉnh núi Phổ Đà, tôi có cảm giác như suối nước mắt của bao nhiêu người thân bất hạnh. Mưa dứt. Những đám mây đen biến mất. Tôi cũng vừa nhìn thấy cánh chim đại bàng trên vách núi vỗ cánh bay đi. Mất hút cuối chân trời.” 

Và Phạm Tín An Ninh đã đi gần hết biển. Xứ lạnh Na Uy là nơi ông cập bến đỗ. Cuộc sống yên bình, hạnh phúc nơi đây càng làm cho ông day dứt khôn nguôi. Với đồng đội, với quê hương, một món nợ, buộc ông phải trả. Như một cánh chim biệt xứ, ông biết về đâu, khi thành phố xưa đã thực sự không còn, và những dấu tích, kỷ niệm xưa chỉ còn là cổ tích. Một nỗi đau, không thể giãi bày. Hoàn cảnh ấy, chỉ có trang viết mới làm ông nguôi ngoai nỗi nhớ thương. Và khi viết Chim Bay Về Biển, dường như Phạm Tín An Ninh đã vắt hết nỗi đau, và niềm nhớ thương nơi quê nhà vào trong đó. Thật vậy, Chim Bay Về Biển là những trang văn đẹp nhất, và cũng buồn nhất, mà tôi đã được đọc trong thời gian gần đây. Ta hãy đọc lại một trích đoạn trích dưới đây, để thấy rõ điều đó: 

“Bỗng lòng tôi chợt thoáng lên một chút băn khoăn. Những cánh chim di xứ ấy sẽ bay trở về đâu, khi Nha Trang ngày xưa của họ đã thực sự không còn. Thành phố đã cho họ một thời tuổi thơ đẹp đẽ hoa mộng, nhưng cũng đã để lại trong lòng họ quá nhiều đớn đau, mất mát sau cuộc đổi đời. Những hang động tuổi thơ và dấu tích của những cuộc tình ngày xưa, tất cả giờ chỉ còn là cổ tích. Tôi nhớ lời thằng bạn còn ở lại Nha Trang, nhớ tới thầy tôi, nhà văn Cung Giũ Nguyên và tác phẩm Le Domaine Maudit viết từ năm 1961, như là một tiên tri của Thầy.” 

Có lẽ, thời gian đẹp, nhiều kỷ niệm nhất của Phạm Tín An Ninh là lúc mặc áo lính, nên truyện của ông chủ yếu viết về lính, viết về chiến tranh. Có điều đặc biệt, trên trang sách của ông, tôi ngửi thấy mùi khét của bom, nghe thấy tiếng súng, nhưng tôi không thấy có địch, có ta, không có hận thù và những cảnh khát máu giết người, mà chỉ thấy ngun ngút tình người trong đó. Và ước nguyện của Phạm Tín An Ninh, dường như cũng là ước nguyện chung cho tất cả những người lính đã đi qua cuộc bể dâu này. Chính vì vậy, tôi xin mượn một đoạn văn trong truyện ký: Tháng 4 Nhớ Bạn (của ông) nhằm làm sáng tỏ thêm chân dung nhà văn Phạm Tín An Ninh, cũng như để kết thúc bài viết này: 

“Lịch sử dân tộc nhất định sẽ có ngày viết lại những chiến công vinh quang hiển hách, và cả những hy sinh, đau đớn, khổ nhục mà thế hệ chúng tôi đã từng đạt được, trải qua, trong một giai đoạn bất hạnh và đau thương nhất của dân tộc.” 

Leipzig ngày 27-12-2019 

 Đỗ Trường

 danlambaovn.blogspot.com