Coronavirus: Hệ Quả Lâu Dài – Vũ Linh

Coronavirus: Hệ Quả Lâu Dài – Vũ Linh

Bệnh dịch coronavirus chỉ mới ở giai đoạn đầu trong khi các chuyên gia cho rằng vi khuẩn này sẽ còn tấn công mạnh trong vài ba tháng tới là ít. Có thể sẽ suy giảm phần nào trong mùa hè nhưng rất có thể sẽ tấn công mạnh lại vào mùa thu khi mát trời hơn. Thiên hạ chỉ hy vọng trong những tháng tới, thế giới sẽ tìm ra cách trị vi khuẩn này.

Dù còn quá sớm, nhưng ngay bây giờ, qua các biện pháp mãnh liệt chống vi khuẩn, người ta đã nhận thấy vi khuẩn corona này sẽ thay đổi cả thế giới sau khi nó đã bị diệt.

      Thay đổi như thế nào là đề tài tranh cãi bất tận hiện nay.

Vì dĩ nhiên chẳng ai đoán được tương lai hết. Nghề thầy bói hiện nay đã không còn kiếm ra tiền được nữa rồi. Dù vậy, diễn đàn này cũng muốn ‘thử lửa’, đoán mò xem thế giới này sẽ thay đổi như thế nào.

Tất nhiên, đi vào chi tiết thì hoàn toàn vô bổ vì sẽ chẳng ai đoán được cái gì hết, nhưng ta có thể có cái nhìn chung. Trong cái nhìn này thì tất cả các chuyên gia kinh tế, xã hội, chính trị đều nhìn nhận thế giới sẽ thay đổi rất nhiều sau khi vi khuẫn corona đã bị diệt. Thay đổi một cách quy mô, nghiêm trọng và lâu dài. Hơn xa đại nạn 9/11.

Corona không phải là vi khuẩn đầu tiên tấn công nhân loại, cũng không phải là vi khuẩn tai hại nhất, ít nhất là cho đến ngày hôm nay. Nhưng nhìn vào những biện pháp vĩ đại chưa từng thấy mà tất cả các nước trên thế giới đã lấy để cản vi khuẩn, một phần không nhỏ vì nhu cầu chính trị qua nhiều biện pháp có tính trấn an nhưng thực tế không hữu hiệu gì lắm, cũng như nhìn vào thái độ sợ hãi kinh hoàng của dân cả thế giới, thì ai cũng thấy con vi khuẩn này sẽ để lại dấu ấn khổng lồ và lâu dài trên thế giới này.

Sẽ thay đổi hết. Thay đổi tư duy, thay đổi lối sống, thay đổi nhân sinh quan một cách quy mô và toàn diện như chưa từng thấy. Tất cả mọi chuyện, kể cả những khái niệm đối nghịch mà thiên hạ đánh nhau chết bỏ như tư bản-cộng sản, giàu-nghèo, da trắng-da-đen-da vàng, công danh-tiền bạc,…  sẽ trở thành chuyện nhỏ hết, nhỏ hơn con vi khuẩn corona mà mắt trần không thể thấy được. Sẽ bắt các vị lãnh đạo thế giới, từ lãnh đạo chính trị đến lãnh đạo kinh tế, xã hội, tôn giáo, triết học,… phải đặt lại mọi vấn đề, tìm những hướng đi mới cho nhân loại.

Trước hết là chuyện thế giới sẽ nhìn dân Á Đông bằng con mắt khác.

Trước đây, thế giới nhìn dân Á Đông qua người Nhật, thường nghĩ người Á Đông là thông minh, cần mẫn, kỷ luật, sạch sẽ, có danh dự, triết lý cao và lối sống tốt. Hàng hoá do các xứ Á Châu sản xuất vừa rẻ, vừa tốt, vừa bền, tiêu biểu bởi xe Nhật, máy móc điện tử Hàn Quốc,… Thế giới nghiên cứu rất kỹ những mô thức phát triển của các nước ‘cọp con’, ‘rồng con’ từ Tân Gia Ba đến Đài Loan tới Nam Hàn, chưa kể Nhật đã là gương sáng cho cả thế giới từ sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, để làm bài học phát triển kinh tế và phát minh khoa học. Đại khái phần lớn là những đức tính tốt đáng nể.

Bây giờ, sau cả loạt bệnh dịch xuất phát từ Trung Cộng, từ cúm heo, cúm gà đến cúm dơi,  thế giới nhìn dân Á Đông qua những hình ảnh khác hẳn. Dân Á Đông bây giờ đã trở thành những người tuy vẫn thông minh nhưng láu cá chứ không khôn, không còn đáng tin cậy nữa vì chuyên nói láo, chuyên làm hàng nhái, hàng giả, rẻ tiền mà vô giá trị, ăn uống bậy bạ, dơ bẩn, suốt ngày khạc nhổ tứ tung, những khái niệm cơ bản về vệ sinh hoàn toàn không có, đẻ ra đủ loại bệnh mới. Đại khái phần lớn là những đặc điểm không tốt, đáng coi thường.

Sau corona, dân Âu Mỹ nhìn người da vàng Á Châu nói chung với con mắt hoàn toàn khác. Thậm chí, đáng sợ nữa. Nẩy ra tệ nạn mới là nghi kỵ hay sợ dân da vàng, Tầu hay không.

Ở đây, kẻ này xin lưu ý những dân tỵ nạn muốn gọi vi khuẩn corona là vi khuẩn Tầu hay vi khuẩn Vũ Hán. TT Trump gọi là “chinese virus” để phản bác xuyên tạc của TC cho rằng lính Mỹ đã mang corona vào Tầu. Người Mỹ da trắng hay da đen hay da nâu gọi như vậy không sao, mà lại chính xác về xuất xứ. Nhưng người Việt ta thì khác. Tuy thỏa mãn được tính thù ghét Tầu hay Trung Cộng của dân Việt ta, nhưng sẽ có cái hại lớn là củng cố trong đầu óc dân Âu Mỹ cái tính nghi kỵ hay sợ, muốn tránh né dân Tầu, mà người Việt chúng ta cũng sẽ là nạn nhân vì dân Âu Mỹ không có cách nào phân biệt được dân Tầu với dân Việt khi gặp ngoài đường. Dân Việt tỵ nạn và nhất là con cháu sẽ là nạn nhân của nghi kỵ và sợ hãi, từ ngoài đường đến sở làm đến trường học. Kẻ này sẽ không dùng cách gọi này, và kêu gọi quý độc giả nên thận trọng trong các phát ngôn bài bác dân Tầu.

Khó ai có thể chối cãi những thói hư tật xấu của dân Tầu ngày nay là kết quả rõ nét nhất của các kế hoạch ‘trăm năm trồng người’ của các chế độ ‘đỉnh cao’ cộng sản Á Châu, từ TC đến đám con cháu Việt Cộng và Hàn Cộng.

Dưới một khiá cạnh khác, chính trị, thì mộng bá quyền của các lãnh tụ CSTC sẽ gặp trở ngại vĩ đại. Các chương trình, kế hoạch bành trướng ảnh hưởng chính trị qua các chính sách kinh tế và mậu dịch đã từng thành công lớn từ mấy thập niên qua, sẽ bị khựng lại khi các quốc gia đang phát triển trên thế giới, nhất là Phi Châu và Nam Mỹ, bắt đầu nhìn thấy mối nguy cụ thể của TC và đâm ra dè dặt hơn.

Nhìn vào kinh nghiệm của Ý thì ai cũng phải sợ. Dân số Mỹ lớn gấp 5 lần dân số Ý, nhưng số ca nhiễm corona ở Ý lớn gấp 4 lần ở Mỹ, số tử vong lớn hơn 20 lần. Ý là xứ Tây Âu có thiện cảm với TC nhất, và có chính sách kinh tế cởi mở nhất đối với TC. Ý mở toang cửa cho doanh nghiệp TC vào, mang theo cả vạn doanh gia, nhân công và chuyên gia, cũng như sinh viên vào đất Ý. Tính theo tỷ lệ, Ý có nhiều dân Tầu nhất trong Âu Châu. Chính sách này đã giúp Ý như thế nào trên phương diện phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm thì chưa biết rõ, nhưng cái mà cả thế giới đang thấy là Ý đã là ổ lớn nhất của vi khuẩn corona trên thế giới ngoài TC vì cả vạn dân Tầu ở Ý về quê ăn Tết, mang theo về Ý cả tỷ vi khuẩn corona cũng như không biết bao nhiêu vi khuẩn khác. Đại đa số dân Tầu sống và làm việc trong vùng kỹ nghệ bắc Ý, khu tam giác Milan-Florence-Venice, cũng là vùng bị corona đánh mạnh nhất.

Cả thế giới sẽ có cái nhìn khác về hàng hoá xuất phát từ TC. Hàng hóa Tầu, thực phẩm Tầu,…  tất cả bây giờ đã thành những mối nguy lớn đe dọa cả thế giới. Các món ăn Tầu từ ngon nhất đã trở thành nguy hại nhất. Dịch vụ nhà hàng ăn Tầu, là khu vực kinh doanh lớn nhất của các ‘chinatown’ trên khắp thế giới, sẽ bị thiệt hại nặng nề nhất.

Các hàng phát minh từ Âu Mỹ nhưng sản xuất tại TC, các hàng nhái, hàng giả TC, cả thực phẩm, đồ ăn nước uống, thuốc lang thuốc tễ, ngay cả thuốc Âu Mỹ chế xuất tại TC,… tất cả đều sẽ bị thiên hạ nhìn dưới con mắt khác, dè dặt hơn nếu không muốn nói là sợ hãi hơn. Ngay từ khi tranh cử năm 2016, ông Trump đã cảnh giác cả nước về mối nguy nước Mỹ nhập cảng quá nhiều hàng hóa từ TC, tức là lệ thuộc quá nhiều vào một nước không phải là đồng minh thân thiện hay đáng tin cậy gì. Cán cân mậu dịch Mỹ-TC bị thâm thủng leo thang không ngừng tới xấp xỉ 500 tỷ đô một năm mà vẫn không ai nghĩ đến mối nguy lâu dài hết. Một tai hại đến mức cả Đấng Tiên Tri cũng mù tịt không tiên đoán được, khi ông khoanh tay ngồi nhìn, lại còn khuyên dân Mỹ đó là “thực tế của thời đại, những công việc trong ngành sản xuất sẽ không bao giờ trở lại, nhân công Mỹ nên đi học nghề khác”.

Trong tình trạng corona tấn công hiện nay, vô hình chung có thể sách lược của TT Trump tăng thuế quan hàng nhập cảng từ TC vào Mỹ sẽ không cần thiết nữa vì cả thế giới sẽ tự động tránh né bớt hàng Tầu.

Các công ty thì chỉ nhìn thấy mối lợi lớn cuối năm khi tung ra sách lược ‘gia công’ -outsourcing- tức là đóng cửa hãng xưởng ở Mỹ để trao việc sản xuất, lắp ráp cho các xứ chậm tiến mà chi phí lao động rẻ hơn như TC, Ấn Độ và các xứ Đông Nam Á. Ít ai tin vào mối nguy gia công, coi như chuyện buôn bán bình thường thôi. Bây giờ dịch corona đưa ra ánh sáng cái tai hại vĩ đại của sách lược gia công Mỹ hoàn toàn lệ thuộc TC về việc sản xuất đủ loại sản phẩm, nhất là thuốc dù là do Mỹ sáng chế.

Các chính khách Mỹ thì phần lớn bị TC nhét tiền vào miệng, tiêu biểu là Al Gore và vợ chồng Clinton, nên á khẩu hết.

Sau cơn dịch này, các nhà làm chính sách Mỹ sẽ phải bóp trán tìm cách thoát khỏi cái vòng lệ thuộc này. Lãnh đạo chính trị Mỹ, tức là tổng thống và quốc hội nếu còn lương tâm không bị đồng tiền Tầu bịt miệng che mắt, sẽ cần phải nghĩ đến một giải pháp lâu dài nào đó. Một thử thách lớn cho Mỹ trong tương lai.

Nếu muốn nhìn vấn đề dưới con mắt tích cực hơn, thì vi khuẩn corona chính là một thứ ‘cứu tinh’ cho cả thế giới có dịp nhìn thấy và chặn đứng hiểm họa Tầu cộng đang dùng chiêu trò gọi là ‘diễn biến hòa bình ma-dzê in China’, lẳng lặng xâm chiếm cả thế giới, từ Mỹ đến Tây Âu, Phi Châu và Nam Mỹ. Corona cuối cùng đã hiệu quả gấp vạn lần cuốn sách Death By China của ông Navarro mà ít người chịu đọc.

Biết đâu đây cũng là dịp để dân Tầu nói chung thay đổi lối sống, bớt ăn bậy, ở dơ, bớt mánh mung bịp bợm? Như chính quyền TC mới ra lệnh cấm ăn và mua bán thịt dã thú. Âu cũng là chuyện tốt thôi.

Một hệ quả khổng lồ khác là việc corona đã giết giấc mộng đẹp lớn nhất của khối thiên tả trên khắp thế giới: thế giới đại đồng toàn cầu hóa đã thành ác mộng lớn nhất của cả nhân loại.

Globalization nếu chưa chết ngắc hẳn thì cũng coi như đang hấp hối trên giường bệnh. Hay ít nhất thì cũng đang nằm trên bàn mổ để các triết gia và chính trị gia mổ xẻ, nghiên cứu lại. Việc bệnh dịch lan tràn mau chóng trên thế giới chẳng qua đã là hậu quả rõ rệt nhất của chính sách toàn cầu hóa, phản ảnh bởi việc mở toang cửa biên giới kinh tế như trường hợp của Ý, cho dân chúng và hàng hoá tự do lưu thông trên khắp thế giới, chưa kể đến những phó sản kiểu như những cái gọi là ‘giao lưu văn hóa’ cũng sẽ cuốn theo chiều gió corona hết.

Những liên minh không biên giới theo mô thức của Liên Âu sẽ bị đặt lại vấn đề một cách quy mô nếu không muốn nói là xóa bỏ. Nước Anh với chính sách Brexit có thể là mô thức mới, sau mô thức ‘America First’ của TT Trump. Liên Âu chưa tan vỡ nhưng các trạm biên giới Âu Châu đã được tái lập lại để kiểm soát dân đi qua lại.

Về phiá nước Mỹ, vi khuẩn corona sẽ có dấu ấn không nhỏ, phần lớn có thể nói có hại cho khuynh hướng thiên tả của đảng DC hơn.

Một cách cụ thể là các chính sách của TT Trump đã mạc nhiên được vi khuẩn corona gián tiếp giúp sức rất mạnh.

Thứ nhất, chính sách chống toàn cầu hóa của TT Trump dường như đã được xác nhận là chính sách cần phải được nhìn lại với con mắt thực tế là có thể đã là chính sách đúng chứ không mang tính phản văn minh, phản tiến hoá như phe thiên tả đã tố giác. Ở đây, người ta có thể đặt câu hỏi chính sách tương đối cô lập đó của TT Trump, đi ngược lại khuynh hướng toàn cầu hoá, có phải đã mang tính ‘viễn kiến’, nhìn thấy những hệ quả bất lợi cho nước Mỹ và cả thế giới trong tương lai xa không?

Thứ nhì, những cố gắng cản sự bành trướng của ảnh hưởng của Trung Cộng, ảnh hưởng chính trị cũng như ảnh hưởng ‘tàng hình’ kinh tế, thương mại của TC, điển hình là việc ngăn cản bớt xâm lăng của hàng hóa tai hại của Tầu vào Mỹ đã được vi khuẩn corona vô hình chung xác nhận là việc cần phải làm hơn bao giờ hết. Sau dịch corona, sẽ có không ít công ty Mỹ cứu xét lại việc gia công qua TC để mở lại hãng xưởng ở Mỹ.

Thứ ba, tuy đảng DC và đồng minh TTDC không dám hó hé bàn tới vì chuyện ‘phải đạo chính trị’, nhưng ai cũng thấy chính sách mở toang cửa biên giới cho di dân tứ xứ vào Mỹ coi bộ ngày càng bớt ăn khách. Vi khuẩn corona đã gióng tiếng chuông báo động lớn về mối nguy của một quốc gia không biên giới. Để rồi chính sách thắng bớt di dân, bất kể lậu hay hợp pháp, sẽ có được hậu thuẫn nhiều hơn trong quần chúng Mỹ. TT Trump sẽ có dịp cổ võ mạnh hơn và có tính thuyết phục hơn chính sách giới hạn di dân của ông.

Kinh tế và đời sống kinh doanh Mỹ cũng sẽ thay đổi từ trong ra ngoài.

Việc đi chợ búa mua hàng sẽ là nạn nhân đầu tiên và lớn nhất. Trong thời gian qua, dịch vụ mua hàng qua trang mạng đã nẩy sinh ra nhờ sáng kiến của Jeff Bezos, qua công ty bán hàng qua trang mạng Amazon. Ông này mới đây đã mua chuỗi cửa tiệm bán thực phẩm Whole Foods. Có thể nói quyết định của ông như là trúng số: không thể nào đúng thời điểm hơn. Trong thời gian tới, với dịch corona đe dọa khắp nơi, rất nhiều người sẽ ngồi nhà đặt mua thực phẩm trên mạng, giao đến tận nhà. Với phương tiện đã có sẵn cũng như kinh nghiệm từ lâu, cũng như sự tiếp tay hù dọa của Washington Post của ông, Bezos, người giàu nhất thế giới sẽ giàu thêm tới cả chục lần nữa. Amazon mới thông báo cần tuyển thêm cỡ 100.000 nhân viên mới. Các siêu thị lớn như WalMart, Target, Kroger, Publix, HEB,… sẽ phải sửa sách lược, chạy theo việc bán hàng qua mạng hết. Các nhà hàng ăn với drive-in, to go,… sẽ nở rộ, bớt được cái nạn cuối tuần đi ăn tiệm phải chờ cả tiếng đồng hồ như đi ăn xin.

Trang mạng internet cũng sẽ thay đổi cấu trúc lao động và cả nền tảng gia đình luôn. Hàng loạt việc văn phòng có thể được thực hiện tại gia, không cần đi đến sở làm, khỏi lo chuyện kẹt xe tốn hao xăng nhớt và thời giờ của thiên hạ. Lại còn giúp bố mẹ vừa đi làm vừa chu toàn được các trách nhiệm gia đình với con cái, nhất là các gia đình trẻ. Thiên hạ bớt đi lang thang shopping để dành thời giờ đi ra biển hay đi công viên, hay ngồi ôm computers ở nhà.

Hiện nay, đã có nhiều công ty cho phép nhân viên làm tại gia hoặc toàn thời, hoặc bán thời, nhưng trong tương lai cách này sẽ được phổ biến mạnh, tuy chưa ai biết rõ sẽ có hậu quả cụ thể như thế nào trên năng xuất.

Ngay cả đến các trường học cũng sẽ phải nghiên cứu lại cách dạy dỗ khi học sinh và sinh viên đều có thể dễ dàng học và ngay cả thi cử tại gia qua computers, điện thoại gọi là thông minh.

Một việc mà dịch corona đã bắt buộc phải phát triển nhanh và mạnh là cái gọi là ‘telehealth’, tức là khám và chữa bệnh qua internet. Vì không phải là bác sĩ chuyên môn nên kẻ này không hiểu rõ chi tiết, nhưng đại khái, bệnh nhân có thể liên lạc với nhà thương và bác sĩ từ ngay tại nhà mà không cần phải đi đến phòng mạch hay nhà thương. Bác sĩ điện thoại cho tiệm thuốc, giao thuộc tận nhà bệnh nhân luôn. Việc này hiện nay cần thiết và đang được phát huy mạnh mẽ vì nhu cầu bảo vệ bác sĩ, y tá và cả những người bệnh khác.

Trong cơn hoảng loạn và tuyệt vọng, thiên hạ đổ xô tìm về đông y, hy vọng thuốc cụ Hoa Đà chế ra cách đây mấy ngàn năm hữu hiệu hơn thuốc khoa học gia của thế kỷ này phát minh. Thậm chí, các ‘thầy thuốc’ lang băm sanh ra như nấm, giới thiệu đủ thuốc loại ‘bí kíp gia truyền’.

Một yếu tố quan trọng là tôn giáo. Rất có thể khi gặp đại nạn mà con người bó tay, sẽ có rất nhiều người phải bám vào niềm tin tôn giáo lại, bất kể thiên chúa giáo hay phật giáo hay hồi giáo, hay ngay cả đạo thờ ông bà? Biết đâu các chuyện lên đồng lên bóng, hồn cô hồn cậu gì đó sẽ có giá lại?

Quan hệ gia đình, bằng hữu tự nhiên được quý trọng hơn. Họ hàng, bạn bè bây giờ có nhiều thời giờ liên lạc với nhau nhiều hơn qua emails, điện thoại, whatapps, facetime, viber,…

Cuối cùng, vấn đề thời sự đáng bàn là hậu quả gần: vi khuẩn corona sẽ ảnh hưởng như thế nào trên cuộc bầu cử tổng thống tới đây. Như đã có dịp bàn qua tuần rồi, yếu tố lớn là vi khuẩn corona sẽ còn tấn công Mỹ tới bao lâu.

Nếu còn hùng hổ đánh phá cho tới ngày bầu cử thì có nhiều, rất nhiều triển vọng dân Mỹ sẽ muốn đổi lãnh đạo để thử nghiệm cách chống vi khuẩn mới. Đó là tâm lý chính trị tiêu biểu của dân Mỹ. Dân Mỹ luôn luôn sẵn sàng xoá bỏ hết để làm lại nếu thấy việc đang làm không có kết quả như mong đợi. Dân Mỹ là loại dân ‘liều mạng’ sẵn sàng thử lửa đủ kiểu. Như đã từng bác bỏ các chính trị gia chuyên nghiệp của thời Nixon để bầu cho ông ‘cố đạo’ trồng đậu phộng Jimmy Carter lên lãnh đạo. Hay bác bỏ các chế độ ‘gia đình trị muôn năm’ Clinton và Bush để thử lửa với một doanh gia chẳng kinh nghiệm chính trị gì là ông Trump.

Trước nguy cơ tàn phá của vi khuẩn corona nếu không kềm chế được, có thể dân Mỹ muốn đi tìm phương thuốc mới. Họ lý luận kiểu Trump đã không cản được corona thì cứ thử bác sĩ mới, đâu mất mát gì, đi tìm sự ổn định qua một cụ già tuy lẩm cẩm nhưng có vẻ nhiều kinh nghiệm vì đã lăn lộn trong chính trường gần nửa thế kỷ là cụ Biden? Mất 4 năm là cùng.

Nếu TT Trump bằng cách nào đó, thành công diệt được vi khuẩn corona sớm cũng như giảm thiểu được những tai hại mà corona để lại, thì ta sẽ thấy TT Trump hiên ngang ở lại Tòa Bạch Ốc và đi vào lịch sử như một trong những tổng thống vĩ đại nhất, mà không còn ai dám đặt vấn đề chính danh hay không, có thông đồng với xứ nào không nữa. Ngoại trừ trường hợp phe DC tố Trump thông đồng với TC tung corona ra để Trump tái đắc cử.

Cô Vy sẽ là động cơ quan trọng nhất khiến TT Trump sẽ phải bằng mọi giá, kể cả sửa đổi cái tính hung hãn quá mức của ông ta, tìm ra cách chặn đứng cô cũng như tìm cách giảm thiểu thiệt hại kinh tế, cho dù phải nhún nhường hợp tác với đối lập và TTDC.

Các chính sách của TT Trump như vừa nêu ở trên, từ chống toàn cầu hóa đến chống chính sách bành trướng của TC và đóng cửa biên giới cản di dân sẽ được tung hô như là những viên thuốc ngừa mà con bệnh Mỹ cần hơn bao giờ hết. Và cụ Biden sẽ đi vào lịch sử như chính khách nhiều kinh nghiệm nhất những cũng tệ nhất lịch sử Mỹ. Ba lần ra trận, ba lần đại bại.

Tin mừng cho TT Trump là ít người nghĩ vi khuẩn corona sẽ kéo dài tới lúc đó. Hiện nay, đang có cả trăm viện bào chế thuốc và cả chục ngàn bác sĩ khắp thế giới đang làm việc 24/24 để tìm thuốc trị, và theo tin mới nhất, đã có vài ba loại thuốc được khám phá ra rồi tuy chưa phổ biến ra được vì còn cần thử nghiệm.

Vi khuẩn corona cũng sẽ có hệ quả lớn và lâu dài trong chính trị Mỹ.

Những tư tưởng cực đoan có nhiều triển vọng bị gạt qua một bên. Bên CH luôn chủ trương một Nhà Nước càng nhỏ càng tốt, bây giờ lại thấy TT Trump và đảng CH cổ võ cho một sự can thiệp rộng lớn và mạnh tay nhất của Nhà Nước. Bên DC luôn chủ trương thế giới đại đồng vô biên giới dưới Nhà Nước Vú Em, bây giờ thì cũng phải chấp nhận đóng cửa biên giới, đưa tiền vào tay người dân chứ không còn trông cậy vào các quan văn phòng làm kế hoạch cho dân nữa. Phân hoá chính trị may ra sẽ giảm nhiều?

Để đối phó với mối nguy corona, chính phủ Mỹ, từ cấp liên bang đến tiểu bang, đã lấy nhiều quyết định mà nhiều người đã công kích là đi quá xa, trắng trợn vi phạm nhiều quyền tự do căn bản của dân Mỹ, như vi phạm Hiến Pháp, vi phạm quyền tự do đi lại, tự do hội họp, tự do kinh doanh của người dân, trong khi lại mang hơi hám của một chính sách kỳ thị hay bài ngoại, theo chủ thuyết quốc gia quá khích nhất.

Bỏ qua tính phe phái, những chỉ trích này không phải hoàn toàn vô giá trị. Nó đặt lại toàn diện nguyên tắc quyền hành của chính quyền có giới hạn hay không, xa tới đâu trong trường hợp khẩn trương, có mối nguy nào đó đe dọa an ninh hay an toàn cả nước trong cái thành đồng của tự do tuyệt đối này?

Tất cả những chuyển biến lớn trên đều là những tiến bộ tốt. Nhìn dưới khiá cạnh tích cực, vi khuẩn corona cũng có những hệ quả tốt, sẽ giúp cả thế giới học được kinh nghiệm phòng ngừa và đối phó với những bệnh dịch khác không thể tránh được trong tương lai. Đi xa hơn nữa, có thể xã hội và chính trị sẽ có nhiều thay đổi theo chiều hướng tốt hơn.

Một tiên đoán ‘vui’ để làm nhẹ bớt không khí: sẽ có rất nhiều bà … đập bầu cuối năm nay. Corona baby boomer!

Vũ Linh

Nỗi lo về chất lượng thiết bị y tế từ Trung Quốc

Nguyễn Đình Ngọc

Ông Nguyễn Đình Ngọc từ Sài Gòn cho rằng, sản phẩm tiêu dùng từ Trung Quốc đã không tin được. Trong tình hình dịch bệnh như bây giờ mà nhập những sản phẩm y tế kém chất lượng thì hậu quả khôn lường. Ông nêu quan điểm của mình với RFA:

“Dù cho đó là bán hay viện trợ thì với tư cách là một người Việt Nam đang sống tại Sài Gòn, thú thật là tôi không tin vô chất lượng những món hàng từ Trung Quốc. Thực tế Tây Ban Nha và Séc đã phải trả lại những bộ kit xét nghiệm mua từ Trung Quốc do nó không đạt chuẩn. Còn về lịch sử Trung Quốc thì hầu như ai cũng biết họ là vua xài độc dược. Thứ hai, Trung Quốc là bậc thầy về hàng giả. Thứ ba, trong tình hình hiện nay dịch bệnh lan truyền khủng khiếp trên thế giới, Trung Quốc là người phải chịu trách nhiệm mà họ còn trốn tránh thì làm sao tôi có thể đặt niềm tin vào chuyện viện trợ của họ?”…

Hôm 28 tháng 3, AFP dẫn một thông cáo của Bộ Y tế Hà Lan cho hay, Hà Lan mua 1.300.000 khẩu trang từ Trung Quốc và nay phải thu hồi 600.000 chiếc đã được phân phát đến các bệnh viện vì phát hiện lô hàng này không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng.

Cũng trong tháng 3, Tây Ban Nha đã đặt mua tại Trung Quốc một số thiết bị, vật tư y tế trị giá tổng cộng 467 triệu đô la, bao gồm 5.500.000 triệu bộ xét nghiệm, 950 máy trợ thở, 11 triệu đôi găng tay và 500 triệu khẩu trang. Sau đó, giới y tế nước này đã báo động là gần 70% bộ xét nghiệm mua từ Trung Quốc đã cho kết quả không chính xác. Chính phủ Trung Quốc đổ lỗi cho một công ty không được chính quyền Trung Quốc cấp phép.

Cộng hòa Séc cũng nhập những bộ kit xét nghiệm từ Trung Quốc và một quan chức y tế địa phương của nước này đã tố cáo kết quả xét nghiệm từ các bộ kit nhanh của Trung Quốc cho kết quả sai đến 80%.

Cuối tháng 3, Thứ trưởng Y tế Philippines thông báo kit thử Covid-19 của Trung Quốc có độ nhạy chỉ 40%. Bộ Y tế nước này sau đó phải xin lỗi khi Bắc Kinh nổi giận.

Tiến sĩ – Bác sĩ Võ Xuân Sơn làm việc tại Phòng Khám Quốc Tế EXSON ở Sài Gòn nhận định:

“Cá nhân tôi thì không tin vào những sản phẩm từ Trung Quốc. Trên thực tế thì gần đây có một số nước đã phản ánh chất lượng các bộ kit xét nghiệm nhập từ Trung Quốc. Do đó Việt Nam cũng phải xem xét kỹ về chất lượng hàng viện trợ từ Trung Quốc. Nếu chất lượng thật sự tốt thì mới xài còn không thì không nên xài. Nếu đã bỏ tiền mua thì phải mua loại nào chất lượng tốt, độ tin cậy cao. Đồ Trung Quốc thì độ tin cậy thấp.”

Bác sĩ Phạm Nhật An, nguyên Phó Giám đốc Bệnh Viện Nhi Trung Ương kiêm trưởng Khoa Truyền Nhiễm Bệnh Viện Nhi Trung Ương, thì có cái nhìn khác. Ông cho rằng nếu Trung Quốc viện trợ thì cũng tốt và ông tin rằng Việt Nam sẽ kiểm tra lại chất lượng sản phẩm trước khi dùng. Việt Nam có khả năng làm việc này. Ông nói thêm:

“Với những sản phẩm trong ngành y tế, đặc biệt là những kít xét nghiệm thì phải có độ chuẩn xác nhất định mới bảo đảm an toàn cho người bệnh cũng như cho việc chống dịch bệnh.

Mình không hiểu thực chất độ nhạy, độ đặc hiệu của những test thử nghiệm từ Trung Quốc thì Việt Nam phải kiểm định chất lượng chứ không thể chỉ tin vào thông tin của nhà sản xuất.”…

Tin Trung Quốc sẽ cung cấp và viện trợ thiết bị y tế phòng chống dịch COVID-19 cho Việt Nam không làm cho nhiều người Việt Nam vui; mà trái lại nhắc họ nhớ đến bài học của một số nước nhận phải sản phẩm kém chất lượng.

RFA.ORG
Tin Trung Quốc sẽ cung cấp và viện trợ thiết bị y tế phòng chống dịch COVID-19 cho Việt Nam không làm cho nhiều người Việt Nam vui; mà trái lại nhắc họ nhớ đến bài học của một số nước nhận phải sản phẩm kém chất lượng.

Sự khác nhau… là do con người

Image may contain: sky, outdoor and nature
Image may contain: sky, mountain, nature and outdoor

Chau Nguyen Thi

Sa mạc ở Israel và các nước Jordan, Ai Cập… là giống nhau ở chỗ là toàn cát, khoan hàng trăm mét vẫn không có giọt nước nào. Thổ nhưỡng khí hậu giống nhau, chỉ có con người là khác.

Trên sa mạc này, người Do Thái đã trồng chà là (tiếng Anh là DATE) và thu được tiền rất nhiều từ xuất khẩu loại quả này đi khắp thế giới trong khi người Ai Cập vẫn tập trung trồng dọc theo con sông Nile (sông Nin) và vài ốc đảo có sẵn nước. Cùng điều kiện lịch sử địa lý, nhưng thu nhập của Israel đã đạt mức 40,000 đô la Mỹ/người/năm so với 2,500 đô la Mỹ/người/năm của người láng giềng Ai Cập. Nghèo là do đầu óc dở quá dở, không chịu tính toán làm ăn, không chịu đi xa học hỏi, không chịu hành động gì. Với người có đầu óc, tiền không phải là mục tiêu của làm việc. Mục tiêu là có thành tựu lớn để lại cho đời. Ai ai cũng tâm niệm vậy nên có tiền là đầu tư, nhỏ đầu tư nhỏ, lớn đầu tư lớn, sản xuất làm ăn và làm ăn. Ở Israel, người ta chỉ mua đất để sản xuất, không có đầu cơ chờ tăng giá. Còn ở thì chỉ 1 diện tích rất nhỏ, gọi là nhà ở, không lãng phí tài nguyên vì tham, vì tiền.

Một chuyên gia nông nghiệp Israel đã từng sang Phan Rang, Ninh Thuận và thốt lên, khí hậu và đất đai ở đây sao tốt vậy mà các bạn không trồng gì? Tôi vẫn thấy vài bụi cây trên đất chứ bên tôi là chẳng có cây nào mọc tự nhiên nổi. Đất các bạn cứ khoan 100-200 mét có nước, cách vài chục km có con sông hay hồ thuỷ điện thì đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt, đảm bảo mọi sa mạc sẽ nở hoa. Ông nói nếu tỉnh này chủ động sang Israel tiếp thị đầu tư, mời Israel quy hoạch và làm tất cả thành khu nông nghiệp công nghệ cao Israel ở Ninh Thuận, đảm bảo tỉnh này sẽ số 1 Việt Nam về thu nhập. Chỉ xuất cho Trung, Hàn, Nhật….những trái cây nhiệt đới mà 3 nước kia không trồng được, thì chúng ta thật sự không đủ nhân công làm, thậm chí phải nhập công nhân nông nghiệp từ Campuchia, Indonesia, Băng La Đét….Cứ có nắng thì sẽ làm nông nghiệp tốt. Các nước ôn đới họ thèm nắng kinh khủng mà không có….

UBND tỉnh Ninh Thuận, Quảng Trị,…nên chủ động liên hệ Đại Sứ Quán Israel tại VN để hẹn đi xúc tiến đầu tư, nhờ họ làm 1 tiểu Israel tại Việt Nam vì khí hậu tương đồng. Còn không thì mỗi cá nhân tự đầu tư cũng được. Còn trẻ thì đi Israel nghiên cứu học tập để về làm.

Đi du học là nghiên cứu học tập nước ngoài để bắt chước về làm, không phải vì mấy đồng lương của đầu óc nhỏ. Đầu óc nhỏ thì sẽ nghèo vĩnh viễn….

Không biết làm thế nào để giới trẻ VN có được đầu óc lớn nữa. Cha mẹ thầy cô xã hội nhồi nhét toàn chắc ăn, an toàn, ổn định, nghĩ nhỏ, nghĩ ngắn…từ bé, nhiều bạn không thoát ra được. Không chịu làm, cái gì cũng sợ, rồi ngửa tay xin việc hoặc xin tiền mẹ cha. Có tiền thì cũng chỉ biết chi tiêu, mua đất mua nhà mua xe chứ không đầu tư làm ăn gì ở quê hương. Ngán ngẩm với những mái đầu chim sẻ lúc nhúc trên phố.

“Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con
Hạnh phúc đựng chỉ trong 1 tà áo đẹp
Một mái nhà yên, rủ bóng xuống tâm hồn….”

Nguồn Ăn Trưa Cùng Tony

Ý nghĩa của cuộc sống không phải ở chỗ nhìn thấu mà chính là trải nghiệm

Ý nghĩa của cuộc sống không phải ở chỗ nhìn thấu mà chính là trải nghiệm.

Cuộc sống có ngọt bùi, có đắng cay. Ngọt bùi có cảm giác của ngọt bùi, đắng cay có dư vị của đắng cay. Sẵn sàng cho đi, phúc báo càng nhiều, lòng đầy cảm ân, đường càng thuận lợi, vui thích giúp đỡ, quý nhân càng gần…

Cuộc sống có ngọt bùi, có đắng cay

Ngọt bùi có cảm giác của ngọt bùi, đắng cay có dư vị của đắng cay. Trải nghiệm cuộc sống khiến bạn vừa có thể thản nhiên đối mặt với khổ nạn, vừa có thể bình thản hưởng thụ những niềm vui.

Học cách trải nghiệm mới có thể chân thành đối diện với thế giới bằng tâm thái bình hoà. Hãy cứ trải nghiệm sự giàu có và nghèo khó, mỹ lệ và xấu xí, khổ đau và hạnh phúc trong cuộc đời.

Khi đối diện với cuộc sống, bạn thích điều gì, không thích điều gì, đặc biệt là bạn có để tâm tới những mối quan hệ nhân quả xuyên suốt bên trong nó hay không sẽ quyết định bạn có hạnh phúc hay không.

Sẵn sàng cho đi, phúc báo càng nhiều, lòng đầy cảm ân, đường càng thuận lợi, vui thích giúp đỡ, quý nhân càng gần.

Người thích báo oán, trong tâm phiền não. Người thích biết đủ, hạnh phúc đong đầy. Người thích trốn tránh, thất bại ê chề. Người thích chia sẻ, bạn bè sum họp. Người hay nổi giận, bệnh tật giày vò.

Người thích tranh đoạt, càng thêm nghèo túng. Người thích bố thí, phú quý đợi chờ. Người thích hưởng phúc, thống khổ càng nhiều. Người ham học hỏi, trí huệ minh tường.

Sự sống và cái chết cách nhau bao xa? Chỉ cách nhau một hơi thở mà thôi

Từ mê đến ngộ là bao xa? Là khoảng cách trong một ý niệm.

Từ yêu đến hận là bao xa? Là khoảng cách trong sự vô thường.

Từ cổ chí kim là bao xa? Là khoảng cách khi nói nói cười cười.

Từ bạn đến tôi là bao xa? Là khoảng cách của sự thiện giải.

Từ tâm đến tâm là bao xa? Là khoảng cách giữa trời và đất.

Từ người đến Thần là bao xa? Là khoảng cách của sự giác ngộ.

Mơ, thì đừng mơ sâu quá, mơ quá sâu khó có thể tỉnh giấc

Lời: Đừng nói hưng phấn quá, hưng phấn quá khó được viên mãn.

Giọng: Đừng nên cất cao quá, cao quá khó có thể hoà thanh.

Việc: Đừng có tuyệt tình quá, tuyệt tình quá khó có đường thoái lui.

Tình: Đừng có mê đắm quá, mê đắm quá khó có thể vượt qua.

Lợi: Đừng nên xem trọng quá, xem trọng quá khó giữ được sáng suốt.

Người: Đừng nên giả dối quá, giả dối quá khó có thể quay đầu.

Hãy luôn nhắc nhở bản thân từng thời từng khắc rằng, nhân duyên là sự tiếp nối, nhân quả báo ứng là lẽ công bình trong cõi thế gian.

Hãy nhắc nhở bản thân từng phút từng giây rằng, đừng làm những chuyện mà cái được chẳng thể bù cho cái mất.

Cuộc sống luôn trao lên thân bạn một chiếc cân tiểu ly, trên đó có thể đo lường thiện ác.

Cuộc sống chính là để hiểu được giá trị của bản thân, làm những gì mình có thể và những gì mình cần phải làm…

From: TU-PHUNG

Nhìn lại lịch sử đốt sách trên thế giới

“Chỉ có một lý do cấm sách, đó là cho rằng cuốn sách đó truyền tải ‘tư tưởng nguy hiểm’. Nhưng lịch sử đã nhiều lần chứng minh, hôm nay có thể xem là tư tưởng nguy hiểm, ngày mai lại trở thành bình thường…”

Nhìn lại lịch sử đốt sách trên thế giới

  • Hiểu Huy
  • Chủ Nhật, 02/04/2017 25.4k Lượt Xem   
  • Trong lịch sử loài người đã từng nhiều lần xảy ra thảm họa đốt sách. Với Trung Quốc, chuyện này khiến người ta liên tưởng ngay đến “đốt sách chôn Nho” của Hoàng đế Tần Thủy Hoàng, phá hoại lịch sử và văn hóa một cách bạo ngược. Nhưng trải qua hàng ngàn năm lịch sử, đến thế kỷ 20 thì thảm kịch đốt sách lại tái diễn ở Đức, Liên Xô và Trung Quốc với mức độ trầm trọng hơn.

Hồng Vệ binh Trung Quốc đốt sách trong thời Cách mạng Văn hóa. (Ảnh: internet)

Gần đây giới nghiên cứu đã chỉ ra, sách bị Tần Thủy Hoàng tiêu hủy chỉ là sử ký các triều đại trước nhà Tần và loại «Thi», «Thư» cùng tác phẩm của bách gia chư tử (những học giả trước nhà Tần) được dân chúng cất giữ riêng. Còn sách sử nhà Tần, các loại sách được các quan Tiến sĩ cất giữ và sách y dược, bốc phệ, trồng trọt được dân chúng cất giữ thì không bị tiêu hủy, Tần Thủy Hoàng chỉ ra lệnh đốt sách trong dân chúng, còn sách trong triều đình vẫn được giữ lại nguyên vẹn, vì thế mà nhà Hán không cảm thấy sách vở bị thiếu mất. Còn “chôn Nho”, trên thực tế không phải nhà Nho mà là giới phương sĩ (người cầu tiên học đạo), họ không chỉ đi lừa mị thiên hạ bằng phương thuật mà còn chửi rủa chính quyền mới khiến Tần Thủy Hoàng tức giận.

Vì thế, nếu so sánh thảm kịch đốt sách của Tần Thủy Hoàng với các thảm kịch đốt sách quy mô lớn sau này, tội của Tần Thủy Hoàng có lẽ cũng không sánh kịp.

Phát xít Đức làm sạch “tà thuyết dị đoan”

Tháng 4/1933 Đức quốc xã lên nắm quyền, để “thống nhất tư tưởng” gìn giữ “tính thuần khiết của tinh thần Đức”, Hitler đã quyết định thực hiện chế độ chuyên chế văn hóa khắc nghiệt, quyết định “làm sạch” tất cả “tà thuyết dị đoan”.

Buổi tối ngày 10/5, dưới hiệu lệnh của Bộ trưởng Tuyên truyền phát xít Joseph Goebbels, nhiều sinh viên Đức đã cầm đuốc và hát vang bài “Ý chí Đức cao hơn tất cả” tiến về quảng trường nhà hát trung tâm Berlin.

Tại quảng trường, sách tiêu hủy đã được chất thành từng đống cao như núi. Theo hiệu lệnh của đội viên xung kích Đức Quốc xã, các sinh viên và học sinh hăng máu cầm đuốc ném vào những đống sách, lửa bùng cháy dữ dội tiêu hủy hàng chục ngàn cuốn sách, trong đó có những kiệt tác của Heine, Freud, Zweig…

Ngoài Berlin, hoạt động đốt sách cũng được triển khai tại một số thành phố và trường đại học. Một số học giả, nhà văn, nhà thơ cũng tham dự các hoạt động đốt sách, trong đó có cả các nhà triết học nổi tiếng ủng hộ Phát xít là Martin Heidegger. Theo tuyên truyền của Đức Quốc xã, đốt sách là theo “ý dân”, phạm vi và quy mô cũng theo đó phát triển ngày càng rộng. Nhiều nhà văn Do Thái và nhà khoa học không cam chịu đã bỏ chạy ra nước ngoài.

Dưới tuyên truyền của Đức Quốc xã, hoạt động đốt sách ngày càng được hưởng ứng, từ đó Đức Quốc xã ngày càng tàn bạo: Quẳng người Do Thái vào lò thiêu. Từ đốt sách đến đốt người tưởng đâu rất xa vời, nhưng thực tế lại rất gần: cùng việc nhiều người hưởng ứng đốt sách là hưởng ứng bức hại người Do Thái; khi hưởng ứng bức hại người Do Thái thì hưởng ứng đốt sách không còn gì khó khăn.

Liên Xô loại bỏ “kẻ thù của nhân dân”

Theo «Lịch sử đốt sách trên thế giới» của tác giả Lý Bác Trùng (Li Baichong), sau khi đảng Cộng sản Liên Xô thành lập năm 1917, để bảo vệ cái gọi là “tính thuần khiết của chủ nghĩa xã hội”, họ đã tiêu hủy “sách độc hại về chính trị”, “kẻ thù nhân dân”.

Ngày 6/6/1922, Liên Xô chính thức thành lập Tổng cục Quản lý văn học và xuất bản quốc gia và liệt kê bản danh sách sách cấm, những sách bị liệt vào sách cấm, dù là tác phẩm trong nước hay nước ngoài, đều bị tịch thu. Nếu sách cấm được in với số lượng quá nhiều thì sẽ bị tiêu hủy hàng loạt. Vì thế, một số lượng khổng lồ sách đã bị tiêu hủy trong phong trào “đốt sách” này.

Vào năm 1938, số sách bị cho là sách chính trị phản động là 10.375.706 quyển, 223.751 bức tranh tuyên truyền, 55.514 báo chí nước ngoài đã bị đưa đi tiêu hủy. Trong thời gian 1938 – 1939 có hơn 24 triệu “sách độc hại” bị tiêu hủy.

Đi cùng phong trào đốt sách, đảng Cộng sản Liên Xô còn tổ chức khủng bố giới trí thức: Nhiều giáo sư, bác sĩ, nhà nông học bị điều đi đến các tỉnh phía bắc, một số khác thì bị trục xuất ra nước ngoài và bắt ký kết không được trở về nước, nếu không sẽ bị tử hình.

Lịch sử đốt sách của đảng Cộng sản Trung Quốc

Sau khi đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) xây dựng chính quyền, việc quan trọng trước tiên là cải tạo tư tưởng của trí thức, loại bỏ quan điểm sùng bái dân chủ Tây phương, quan trọng hơn nữa là tiêu hủy những giá trị tinh túy thừa kế từ văn hóa truyền thống Trung Quốc. So với Cách mạng Văn hóa sau này thì giai đoạn đầu chủ yếu áp dụng cách “giáo dục thuyết phục”.

Lúc này ĐCSTQ còn chưa tiêu hủy rầm rộ sách vở, chủ yếu chỉ nhẹ nhàng thu gom lại hoặc cấm xuất bản, phát hành, ví dụ như sách Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Giáo trình khoa học và kỹ thuật cho sinh viên bị thay đổi từ phiên bản Anh-Mỹ sang phiên bản của Liên Xô. Do không có tự do truyền thông nên mọi người chỉ biết tin theo tuyên truyền của giới cầm quyền. Còn tác phẩm văn chương thì giương ngọn cờ phục vụ giai cấp vô sản, vì thế mà từ đó Trung Quốc khó xuất hiện nhà văn và tác phẩm kiệt xuất.

Sau khi cuộc nổi dậy vũ trang ở Hungary năm 1956 bị quân Liên Xô đàn áp, ông Mao Trạch Đông và ĐCSTQ càng thêm lo ngại, vì trong cuộc nổi dậy tại Hungary có vai trò quan trọng của giới trí thức. Từ bài học kinh nghiệm này, năm 1957 chính quyền đảng Cộng sản Trung Quốc hiệu triệu xin ý kiến của giới trí thức. Nhiều trí thức bản tính chân thật nên đã thành thật đề xuất ý kiến với Mao và chính quyền, hệ quả sau đó là toàn bộ vài chục ngàn trí thức bị quy kết “phái hữu”.

Nhưng tội ác đốt sách trên quy mô lớn lần đầu tiên của ĐCSTQ là sau khi nổ ra Cách mạng Văn hóa. Ngày 22/8/1966, Đài Phát thanh Trung ương Trung Quốc phát thông tin “phá tứ cựu” trong giờ vàng. Nhật báo Nhân dân đăng bài xã luận với nội dung “Hoan hô tinh thần cách mạng giai cấp vô sản tạo phản của các tiểu tướng Hồng Vệ binh Bắc Kinh chúng ta!… Các tiểu tướng Hồng Vệ binh dùng tư tưởng Mao Trạch Đông làm vũ khí, đang quét sạch tư tưởng cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ, thói quen cũ của giai cấp bóc lột.”

Dưới khẩu hiệu “phá tứ cựu”, Hồng Vệ binh không chỉ trắng trợn đi cướp bóc vàng bạc châu báu mà còn phá hủy thư tịch được cho là di sản của phong kiến, tư bản. Trong sách «Lịch sử đốt sách trên thế giới» ghi lại, ngoài những loại sách kể trên, đa số sách được xuất bản trong 17 năm từ 1949 – 1966 đã không thể thoát khỏi kiếp nạn bị thiêu hủy. Ngoài một số ít sách về chủ nghĩa Mác-Lênin, của Mao, và tác phẩm của Lỗ Tấn, hàng loạt sách phổ biến khoa học do giới trí thức khoa học làm và thể loại văn chương bị xem là “độc hại” đều không thể tránh khỏi kiếp nạn.

Tháng 8 – 9/1966 là thời điểm cao trào đốt sách. Hồng Vệ binh Bắc Kinh tổ chức hoạt động đốt sách quy mô lớn tại sân thể thao Đông Đơn, hàng “núi sách” to nhỏ đã được mang về chất đống để tiêu hủy.

Ngày 23/8/1966, hơn 200 Hồng Vệ binh của Trường Trung cấp nữ số 8 Bắc Kinh và Trường in Bắc Kinh đến trước miếu Khổng Tử tại Quốc tử giám và tiêu hủy trang phục biểu diễn của các đoàn kịch thuộc Sở Văn hóa Bắc Kinh, trong đó có cả sách. Ngày 24/8/1966, nhà của giáo sư Đại học Bắc Kinh Lương Thấu Minh (Liang Shuming, 1893 – 1988) bị tịch thu, theo đó nhiều sách quý, tranh chữ và vật dụng cổ của ông bị mang ra ngoài sân tiêu hủy. Ngày 25/8/1966, Hồng Vệ binh lại tiếp tục đến nhà sử gia Cố Hiệt Cương (1893- 1980) tiêu hủy hàng ngàn tranh ảnh và thư từ.

Nhà văn Thẩm Tòng Văn (1902 – 1988) khi đó làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Trung Quốc. Khi chỉ huy ban cưỡng chế quân sự chỉ vào kho sách trong nhà ông hỏi: “Tôi giúp ông tiêu hủy thứ độc hại, ông có phục không?” Thẩm Tòng Văn hốt hoảng trả lời: “Không có gì không phục”. Thế là vô số sách quý của ông bị ném ra ngoài sân đốt thành tro bụi.

Chuyên gia làm khung tranh chữ Hồng Thu Thanh được xem là “thần tài” tranh chữ cổ, đã trang hoàng vô số tác phẩm tuyệt kỹ, toàn bộ số tranh chữ mà ông khổ công sưu tầm lưu giữ trong hàng chục năm làm nghề đã bị tiêu hủy hết.

Tình trạng như vậy không chỉ xảy ra ở Bắc Kinh mà diễn ra trên toàn quốc.

Tại phủ Khổng Tử ở Khúc Phụ, từ ngày 9/11 – 7/12/1966, hơn 6000 loại văn vật bị phá hủy, hơn 2700 sách cổ bị đốt, số tranh chữ là hơn 900 bản, hơn 1000 bia đá cùng nhiều bảo vật quốc gia xếp vào loại cần bảo tồn cấp 1 đã bị phá hủy.

Chị Kiều Hải Yến (Qiao haiyan), một trong số sinh viên từng tham gia phong trào “đốt sách” đã kể lại: Khi vào thư viện, các sinh viên thấy vô số “sản phẩm độc hại”, mọi người đua nhau ném ra ngoài sân chất thành đống để tiêu hủy. Thầy quản lý thư viện trông tình cảnh mà sắc mặt vàng như nghệ, đứng ngây người sững sờ…

Nghe nói, ngoài tác phẩm của Mao Trạch Đông và Mác – Lê-nin, tất cả sách văn học nghệ thuật, khoa học xã hội, đều bị xem là sản phẩm của phong kiến phải tiêu hủy. Hệ quả là trên toàn quốc dường như chỉ còn lại tác phẩm của Mao Trạch Đông, trong tay người nào cũng có một cuốn của Mao, không cần phải đi nhà sách mua, những nhân viên làm việc tại các nhà sách khi đó được cho là nhàn nhã nhất.

Cùng với phong trào đốt sách là hoạt động khủng bố giới trí thức, nhiều người tài bị bắt giam, tra tấn, độ tàn bạo của ĐCSTQ thậm chí vượt ra cả Đức Quốc xã và Liên Xô.

Sau khi Cách mạng Văn hóa kết thúc, đến thập niên 80 của thế kỷ trước, nhờ chính sách mở mang của ông Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương mà Trung Quốc có được một giai đoạn khá tự do trong hoạt động xuất bản, nhiều sách phương Tây trước đây bị cho là sách cấm đã được xuất bản, nhiều sách khí công được bày bán trong các nhà sách. Đến thập niên 90 có sách «Pháp Luân Công Trung Quốc» bán khá chạy, vào năm 1996 được Báo Thanh niên Trung Quốc bình chọn nằm trong 10 cuốn sách bán chạy nhất toàn quốc.

Nhưng đến tháng 7/1999, cựu Tổng Bí thư ĐCSTQ Giang Trạch Dân đã ra chính sách nghiêm cấm đối với Pháp Luân Công, theo đó vô số sách báo liên quan đến Pháp Luân Công bị tiêu hủy, những người theo Pháp Luân Công bị đàn áp, bắt bớ, tịch thu gia sản, tội ác khủng bố đối với Pháp Luân Công của ĐCSTQ không thua gì thời Cách mạng Văn hóa. Đây cũng có thể xem là tội ác đốt sách quy mô lớn lần thứ hai của ĐCSTQ.

Kết luận

Trong tác phẩm Best seller «Vừa đi đường vừa đọc sách» (Nhất lộ tẩu lai nhất lộ đậu), nhà văn Lâm Đạt (Lin Da) viết:

“Chỉ có một lý do cấm sách, đó là cho rằng cuốn sách đó truyền tải ‘tư tưởng nguy hiểm’… Nhưng lịch sử đã nhiều lần chứng minh, hôm nay có thể xem là tư tưởng nguy hiểm, ngày mai lại trở thành bình thường. Sách nguy hiểm do một số nhân vật có quyền lực phán định nhưng lại có thể là sách được đông đảo công chúng đón nhận…”

Quả thật, những hành vi triệt hạ sản phẩm sáng tạo của nhân loại kiểu khủng bố sẽ bị lịch sử phán xét: Sau khi Đức Quốc xã sụp đổ, người ta đã cho xây dựng “đài kỷ niệm bảo tàng không có sách” tại quảng trường Bebelplatz Berlin; ngày nay Liên Xô cũng đã bị giải thể; phong trào đốt sách của ĐCSTQ cũng đã được lịch sử ghi lại như những thất bại của tội ác.

Hiểu Huy

M.TRITHUCVN.NET

Trong lịch sử loài người đã từng nhiều lần xảy ra thảm họa đốt sách. Với Trung Quốc, chuyện này khiến người ta liên tưởng ngay đến “đốt sách chôn Nho” của Hoàng đế Tần Thủy Hoàng, phá hoại lịch sử và văn hóa một cách bạo…

TẠI SAO LÚC NÀO CŨNG LẢM NHẢM “THẾ LỰC THÙ ĐỊCH”?

Bang Uong and Nhung Pham shared a post.
Image may contain: 1 person
Image may contain: 1 person, smiling, suit
Phạm Văn Lý

TẠI SAO LÚC NÀO CŨNG LẢM NHẢM “THẾ LỰC THÙ ĐỊCH”?

Cựu Tổng thống Israel nói 1 câu khiến tổng thống Putin lặng người
Nội dung cuộc nói chuyện tại buổi gặp mặt cuối cùng giữa cựu Tổng thống Israel Shimon Peres và Vladimir Putin gần đây đã được công bố. Ông Peres đã chân thành giải thích cho Putin, rằng tất cả sẽ mất hết và không còn gì có thể cứu vãn được, vì tất cả các nỗ lực hiện nay của ông Putin đang trở nên vô ích vì sẽ không thể đạt được bất cứ điều gì.
Ông Peres nói với ông Putin: “Anh đang ở độ tuổi 63, còn tôi đã 93 rồi, thế anh muốn đạt được điều gì trong 30 năm tới? Anh đang đấu tranh vì điều gì? Vì dân tộc anh hay vì muốn là kẻ thù của người Mỹ chăng?”
Ông Putin nói: “Không phải”.
Ông Peres nói tiếp: “Nước Mỹ muốn chiếm một phần nước Nga chăng? Không, giữa anh và Obama có những vấn đề không hiểu nhau chăng?”
Ông Putin hỏi lại: “Tại sao ông lại nói vậy?”
Ông Peres trả lời: “Hãy nghe tôi đi, tôi không phải là gián điệp, anh có thể tâm sự với tôi về tất cả”.
Ông Putin hỏi tiếp: “Thế ông nghĩ sao?”
Và ông Peres liền trả lời: “Hoàn toàn không phụ thuộc vào những gì anh gây ra, nước Mỹ sẽ vẫn chiến thắng”.
Ông Putin hỏi: “Tại sao?”
Ông Peres trả lời: “Vì họ là những người hạnh phúc, còn anh thì không”.
Ông Putin cười … Và ông Peres nói tiếp: “Khi một người Mỹ tỉnh dậy vào buổi sáng, anh ta nhìn thấy gì? Đất nước Mexico ở miền Nam, và họ đón nhận những người Mexico ở đất nước mình. Nước Canada ở miền Bắc, người Canada chẳng phải là những người bạn tốt nhất trong thế giới này” … “Vậy thì Obama còn phải lo lắng gì nữa?”
“Còn anh, khi anh thức dậy vào buổi sáng, anh có biết rằng ai là hàng xóm của anh không?”
“Trung quốc, Afganistan, Nhật Bản? Lạy Chúa! Họ biết rõ rằng anh có rất nhiều đất đai, và anh không chia cho họ một tấc nào. Anh sở hữu tới 20% nước ngọt, nhưng lại không cho ai một giọt nào. Bởi vậy, khi tuyết tan ở vùng Siberia, điều đầu tiên mà anh sẽ nhìn thấy đó là những người Trung Quốc. Bởi vì hiện ở Viễn đông họ có mặt rất nhiều nhưng lại có rất ít người Nga”.
Ông Peres cũng đề cập vấn đề thứ hai với ông Putin:
“Nước Mỹ là đất nước có sự phân bổ hợp lý nhất giữa diện tích đất đai và dân số. Ở nước Nga sự phân bổ đó là tồi nhất. Hai mươi triệu cây số vuông. Ôi, lạy Chúa!”
“Nhưng đất nước của anh không có đủ ngần ấy người. Người Nga sẽ chết dần. Đừng ảo tưởng trước những điều nịnh nọt và tán dương. Không ai không tha thứ cho anh đâu. Tại sao người Nga chỉ sống có 62 năm, trong khi người Mỹ thọ đến 82 tuổi?”
Ông Peres lạnh lùng nói tiếp: “Anh hành xử như một vị Sa Hoàng”.
“Các vị Sa Hoàng đã làm gì? Họ đã xây dựng hai thành phố, St. Petersburg và Moscow, như một cái tủ kính trưng bày. Dù anh muốn hay không, anh sẽ thấy điều đó. Những phần còn lại của Nga chẳng khác nào đất nước Nigeria, nhưng phủ đầy tuyết. Những người dân đang hấp hối. Anh không cho họ cuộc sống tốt đẹp hơn. Anh có nghĩ rằng họ liệu sẽ tha thứ chăng?”
Ông Peres ngưng lại rồi hỏi: “Tại sao nước Mỹ tươi đẹp?”
Ông Putin trả lời: “Bởi vì họ là những người hay viện trợ”.
Ông Peres lại hỏi tiếp: “Tại sao Châu Âu có nhiều vấn đề?”
Ông Putin trả lời: “Bởi vì họ thủ cựu”
Ông Peres tiếp tục giải thích: Nước Mỹ hay đem cho, mọi người nghĩ rằng đó là vì họ hào phóng. Tôi nghĩ rằng đó là bởi vì họ là những người khôn ngoan.
Nếu anh hay đem cho, anh tạo ra bạn bè. Việc đầu tư hữu ích nhất đó là gây dựng nhiều bạn bè.
Người Mỹ có can đảm chấp nhận kế hoạch Marshall, đem một lượng lớn GDP của họ để cho một Châu Âu đang hấp hối. Và như vậy, họ đã chỉ ra rằng đó là sự đầu tư tốt nhất trên thế giới.
Không có một quốc gia Châu Âu nào mà không trải qua thời kỳ đế chế, Sa Hoàng. Người Pháp và người Anh, người Bồ Đào Nha… và tất cả. Và điều gì đã xảy ra? Họ đã bị ném ra ngoài và không còn gì.
Nước Anh, một đế quốc lớn nhất, nơi mà mặt trời từng chưa bao giờ lặn, có tất cả các đại dương, và rồi người thổ dân da đỏ tốt bụng đã đuổi họ đi và không để lại gì cho họ, ngoài ba hòn đảo nhỏ, để rồi người Anh không biết phải làm gì.
Cuối cùng ông Peres chốt hạ một câu khiến ông Putin lặng người: “Tin tôi đi, kẻ thù và hận thù là tổn thất lớn nhất trong cuộc đời. Anh đang đầu tư vào sự ngu ngốc”.

*. Câu chuyện của hai Chính trị gia. Và hình như đó là người cha nói với con; một sự so sánh; một cái nhìn sắc bén nhưng rất giản dị của cựu TT Itsrael ! Bài học cho các Chính trị gia. Chúng ta hãy nhìn Thụy sĩ; Thụ Điển; Hungarian … chả mấy khi báo chí nói về họ; song đất nước họ yên bình; dân họ tự do hạnh phúc. Chúng ta chỉ cần vậy thôi. Bài này chắc dịch giả Thái Bá Tân dịch mới có được. Cảm ơn Dịch giả!

THẬP GIÁ THẤM ĐẪM NƯỚC MẮT TRỜI CAO

THẬP GIÁ THẤM ĐẪM NƯỚC MẮT TRỜI CAO

Chiều hôm qua, lúc 18h thứ Sáu, 27.03.2020, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử hành nghi thức ban phép lành Urbi et Orbi cho toàn thế giới trong cơn mưa chiều buồn bã của thành Rôma.

Tuy nhiên, chính trong khung cảnh có vẻ lạnh lẽo ấy, một “hình ảnh sống động” được trang Vaticannews ngay sau đó đưa bản tin với tiêu đề: “Il Crocifisso bagnato dalle lacrime del Cielo” – tạm dịch: THẬP GIÁ THẤM ĐẪM NƯỚC MẮT TRỜI CAO.

Phải chăng, Trời cao đã khóc?

Vâng, có lẽ thế!

–   Trời cao đã khóc vì một thế giới đang khổ đau đối mặt với tai ương, dịch bệnh.

–   Trời cao đã khóc cho một nhân loại đang oằn mình chiến đấu với hậu quả từ lỗi lầm của một ai đó, hay từ những bất toàn của thế gian này.

–   Trời cao đã khóc như một lời đáp trả của Cha Nhân Từ với lời van xin thống thiết của người đứng đầu Dân Ngài là Đức Thánh Cha Phanxicô, và của hàng triệu tín hữu gần xa tham dự trực tuyến: “LẠY CHÚA, XIN HÃY THỨC DẬY.”

–   Trời cao đã khóc như một lời nhắn nhủ của Đức Kitô với mọi người và từng người rằng: “CỨ YÊN TÂM, CÓ THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ” (x. Ga 6,20).

Vâng, Trời cao đã khóc!

–   Nước mắt Trời cao hòa lẫn với nước mắt của những bệnh nhân vẫn đang gồng mình chống chọi tìm sự sống trong cô đơn, hay trong những khoảnh khắc hấp hối cuối đời, mà không có một cái nắm tay an ủi của người thân kề cạnh.

–   Nước mắt Trời cao tuôn chảy cùng biết bao con người sắp mất đi người thân yêu, mà thậm chí không thể gặp gỡ lần cuối để nói một lời từ biệt.

–   Nước mắt Trời cao chan hòa trên bờ mi đẫm lệ của những người còn ở lại, bất lực nhìn những chiếc xe quân đội chở quan tài người thân của mình đi chôn cất qua ống kính truyền hình, mà không thể chạm vào, tiễn đưa, đồng hành, đặt một nhành hoa hay thắp một ngọn nến từ biệt.

–   Nước mắt Trời cao vẫn luôn chực tràn trên đôi mắt của những người không biết người thân mình giờ đang ở đâu, hay trong tình trạng thế nào, chỉ thấy được qua vài hình ảnh lượm lặt, hay trong một video clip nào đó trôi nổi trên mạng; bởi có một người con sống tại Bergamo – Italia, khi thấy đoàn xe tang đi qua nhà mình, cô ấy đã thốt lên rằng: “Có lẽ, Bố tôi giờ đang nằm trong những chiếc xe tải đó.  Cả một đời ông ấy đã sống cho tôi, vậy mà giờ ông ấy phải ra đi lạnh lẽo một mình”.

– Nước mắt Trời cao cảm thấu với hy sinh cao cả của biết bao con người, đang trực tiếp dấn thân chống chọi đại dịch; trong đó, không thể không nhắc đến những anh hùng đã tử nạn vì hy sinh phục vụ người khác: Linh mục người Ý Berardelli, – 72 tuổi đã chết vì nhường máy thở cho bệnh nhân trẻ tuổi hơn.

–   Nước mắt Trời cao cũng đã hòa lẫn với nước mắt của các Kitô hữu trong Thánh lễ cuối cùng, trước khi lệnh tạm ngưng các Thánh lễ với đông người tham dự chính thức có hiệu lực.

–   Nước mắt Trời cao cũng cuộn trào trong lòng các Linh mục khi cử hành Thánh lễ không còn giáo dân như một Linh mục chia sẻ: “Khi giang tay đọc: Chúa ở cùng anh chị em, không một lời thưa, chẳng một lời đáp… mà lòng muốn khóc!”

–   Nước mắt Trời cao hẳn như đang muốn xóa nhòa nỗi lo sợ của biết bao con người: Lo sợ vì thấy những con số ca nhiễm, người chết cứ tăng dần đều trên màn ảnh; lo sợ vì nghe tiếng còi xe cấp cứu ngoài kia cứ khoảng dăm mười phút lại ầm ĩ một lần; lo sợ vì không biết người mình đang giao tiếp có nhiễm bệnh hay không…

–   Nước mắt Trời cao chắc chắn vẫn đang lặng lẽ chảy trong lòng chúng ta – những con người đang trăn trở về một điều gì đó: những người trẻ lo cho ông bà, ông bà lo cho các cháu, chính phủ lo cho công dân, người chủ gia đình lo về cái ăn cái mặc ngày mai không biết thế nào, các chủ doanh nghiệp lo không biết lấy gì để trả lương cho nhân viên, các mục tử lo cho phần thiêng liêng của các tâm hồn tín hữu khi mọi cử hành phụng vụ phải tạm dừng…  Những ngày dài vô tận, những đêm dài thức trắng, những con đường trống vắng, những quảng trường, chợ búa, quán ăn tấp nập ngày nào nay không bóng người qua lại…; và, tất cả mơ về những điều bình thường của cuộc sống trước đây.

Vâng, ngày hôm qua,

THẬP GIÁ ĐÃ THẤM ĐẪM NƯỚC MẮT TRỜI CAO

Nước mắt từ Trời cao rơi xuống như hòa lẫn với dòng máu chảy ra từ cạnh sườn của Đấng vì yêu nên đã làm người.

Và điều đó chứng tỏ rằng:

–   Dù thế nào, Chúa vẫn ở đó – nước mắt của Ngài hòa lẫn với nước mắt thống khổ của nhân loại này.

–   Dù thế nào, Thập Giá đồi Calvê vẫn ở đó – lặng lẽ nhưng hiên ngang, âm thầm mà sống động, nhỏ bé nhưng vẫn đủ sức gánh đỡ những gánh nặng khổ đau của nhân loại này.

Vậy,

–  Nếu một Thiên Chúa làm người đã tự nguyện vác lấy cây Thập Giá, để gánh đỡ những gánh nặng của ta… thì ta được khích lệ đón lấy những thập giá đời mình trong bình an.

–   Và, nếu nước mắt từ Trời cao đã hòa lẫn với nước mắt thống khổ của nhân loại này, thì nếu có phải khóc, hãy cứ tiếp tục khóc, nhưng khóc trong niềm tin tưởng, và khóc với niềm hy vọng… tất cả rồi sẽ ổn thôi, vì “Cứ yên tâm, có Thầy đây, đừng sợ” (x. Ga 6,20)

Đaminh Thứ Trưởng

Rôma 28.03.2020

Nguồn https://dongten.net/2020/03/28/thap-gia-tham-dam-nuoc-mat-troi-cao/

From: Langthangchieutim

Corona – Biến cố của thế kỷ * Nguyễn Tường Bách

1-
Khi tác giả viết những dòng này, đại dịch Corona đang tiếp diễn khốc liệt trên thế giới. Châu Âu đang ở cao điểm của dịch bệnh, số tử vong tại Ý đã cao hơn so với Trung Quốc. Tại các nước Tây Âu khác như Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Anh… số ca lây nhiễm vẫn đang tăng theo cấp số nhân. Tại Mỹ, người ta tiên liệu dịch còn bùng phát mạnh mẽ lên đến hàng chục triệu người. Châu Phi đã có trên 27 quốc gia bị nhiễm và không khó để đoán rằng, một khi dịch bệnh lan tỏa tại châu lục này thì số người mắc bệnh và tử vong sẽ tăng nhanh hơn các nơi khác trên thế giới

Không ai nghi ngờ gì, rõ ràng đây là một nạn dịch lịch sử, xảy ra thình lình như một trận sóng thần giữa trời quang mây tạnh. Thế giới hoảng loạn chưa từng thấy, ta có thể nhắc lại lời Thủ tướng Đức Angela Merkel, biến cố này phải được xem là kinh hoàng nhất kể từ ngày chấm dứt Thế chiến thứ hai vào năm 1945.

Về độ nguy hiểm của dịch bệnh

Tới nay người ta tính khoảng 250.000 người nhiễm bệnh và con số tử vong ở khoảng trên 10.000*. Nếu ta dùng một phép tính đơn giản từ hai con số đó thì xác suất tử vong khoảng 4%. Tỷ lệ tử vong tại Vũ Hán được nêu chính thức trong tạp chí Nature Medicine ngày 9-3-2020 là 1,4%. Các tỷ lệ này thực ra không hề chính xác, vì con số người chết tương đối rõ ràng, nhưng số lượng thực sự người bị nhiễm thì lại rất mơ hồ. Khoảng 80% người bị nhiễm chỉ có triệu chứng rất nhẹ nên không mấy ai chịu thử. Đó là chưa kể nhiều nước trên thế giới khuyên dân chúng không nên vội thử vì sợ các trung tâm y tế quá tải như tại Anh hay Đức.

Vì lý do đó số ca bị nhiễm được cho là cao gấp 6 đến 10 lần so với con số được thông báo, tùy theo quốc gia. Trên cơ sở này, ta có thể nói tỷ lệ tử vong của Covid-19 tối đa là 1%. Con số nghe qua thì nhỏ, nhưng 1% của một triệu người là 10.000 nạn nhân và mỗi người chết là một thảm cảnh, một số phận, không ai được phép coi nhẹ.

So với bệnh cúm mùa với tỷ lệ tử vong chỉ 0,1% thì bệnh Covid-19 nguy hiểm hơn, nhất là cho những ai có tiền sử bệnh án hay suy yếu đường hô hấp. Bệnh cúm mùa là bệnh của mùa đông. Tại Đức, mỗi năm có khoảng 850.000 người chết, trong đó khoảng 15.000-20.000 là nạn nhân trực tiếp của bệnh cúm mùa. So với số tử vong của bệnh cúm mùa thì số nạn nhân của Covid-19 rất nhỏ. Thế thì tại sao cả xã hội hoảng loạn?

Toàn thế giới rúng động vì hai lý do. Một, dịch bệnh lây lan quá nhanh, theo cấp số nhân. Hai, chưa có thuốc chữa, chưa có vắc-xin phòng bệnh. Xưa nay mọi lo ngại của ngành y tế trong mọi cơn dịch vốn đều vì hai lý do đó. Đó là nguyên nhân đích thực của cơn khủng hoảng toàn cầu hiện nay.

Thực ra, nhìn một cách toàn thể, thì dịch bệnh là một loại rủi ro tự nhiên của đời sống, nhất là trong một thời kỳ mà con người đi du lịch, tiếp xúc dễ dàng và nhanh chóng trên khắp thế giới như hiện nay. Đối với các nhà quản lý y tế vĩ mô thì một trong những giải pháp đối trị là cứ để dịch lan rộng nhưng trong vòng kiểm soát và hạn chế tử vong.

Một khi dịch lan đến khoảng 60-70% quần chúng thì dịch tự ngưng vì con người đã miễn dịch. Giải pháp “mềm” này đã được bước đầu áp dụng tại Anh và Hà Lan trong những tuần qua nhưng nay đã bị bác bỏ vì thiếu hiệu quả và áp lực dư luận.

Hạ tuần tháng 3 năm 2020, thế giới áp dụng phương pháp “cứng” nhằm đối trị nạn dịch. Toàn cầu đang đứng trước một cơn khủng hoảng chưa từng có. Ngày 20-3, con số tử vong nằm ở mức 10.000 nhưng sự hoảng loạn đã lên cao ngang tầm của một cuộc chiến tranh quân sự.

Sự hoảng loạn bất ngờ này mang nhiều nét kỳ lạ, nằm xa một vấn nạn thuần túy y tế. Xã hội rối loạn chưa từng có.

2-

Nước Anh đã từ bỏ thái độ phớt tỉnh trong việc đối trị dịch bệnh, họ thừa nhận sai lầm. Nước Đức đã bắt đầu phong tỏa một vài thành phố và khả năng lớn là họ sẽ phong tỏa toàn quốc. Các nước châu Âu khác như Ý, Tây Ban Nha, Pháp, Áo… đã dùng mệnh lệnh hành chánh, cấm dân chúng ra khỏi nhà trừ phi có lý do chính đáng. Tại Mỹ, tiểu bang California với khoảng 40 triệu dân cũng đã ra lệnh phong tỏa từ ngày 20-3.

Những ai đã sống tại châu Âu và Mỹ mấy mươi năm qua cũng đều ngơ ngác trước những cảnh tượng kỳ lạ của phố phường. Đó là những thành phố xem như đã chết, tê liệt, câm lặng. Thảng hoặc vài nơi bán hàng thì người mua đứng xa nhau cả mét, nhìn nhau bằng cặp mắt lo ngại. Họ vơ vét những món hàng xem ra chẳng thật cần thiết, xuất phát từ một nỗi lo vô cớ. Con virus Corona chưa lan đến nhưng sự sợ hãi đã tới trước.

Thế nhưng cái đảo lộn lớn nhất không nằm ngoài đường mà trong mọi gia đình. Trường học đóng cửa, trẻ con ở nhà và cần người trông giữ. Phụ nữ phải ở nhà trông con, trong đó có nhiều người làm trong ngành y tế, bệnh viện, nơi đang cần nhân lực. Một số người phải làm việc ở nhà, một số khác bắt đầu thất nghiệp, nỗi lo lắng và phẫn nộ ngày càng tăng. Vài nhà xã hội tiên liệu bạo lực trong gia đình sẽ tăng nếu vợ chồng con cái bị nhốt giữa bốn bức tường.

Điều đáng nói trong đại dịch này là, tuy số tử vong chưa gọi là cao, nhưng nó đã “thấm” vào mọi tế bào của đời sống, kể cả trong những góc cạnh vô danh nhất. Người ta kể đến với giọng bùi ngùi về những thảm cảnh trong viện dưỡng lão, nơi mà vợ chồng săn sóc nhau trong tuổi già, nay bị cấm gặp gỡ. Tài xế xe tải kẹt biên giới ròng rã vài ngày, phải cần tiếp tế thức ăn. Kiều dân cố “chạy” về quê hương trốn dịch bị kẹt trên đường. Những kẻ buôn bán lẻ, phục vụ công nhật trong ngành du lịch, khách sạn hay tiệm ăn, nay không còn thu nhập. Thậm chí người ăn xin nay cũng không còn “khách”.

Điều kỳ lạ trong trận dịch này so với SARS hay Ebola nhiều năm trước là toàn thể xã hội, từ tầng lớp cao cấp nhất đến góc tối nhất của đời sống, đều đang bị chao đảo và thiệt hại. Phải chăng tính chất đó báo hiệu một chuyển biến vĩ mô?

Kinh tế đảo lộn và suy thoái

Khoảng giữa tháng 2-2020 ta còn chứng kiến chỉ số Dow Jones của Mỹ nằm ở khoảng 29.400. Chưa đầy 6 tuần qua chỉ số này chỉ còn 19.000. Đó là một sự sụp đổ khoảng hơn 1/3 trị giá cổ phiếu. Các chỉ số tại thị trường chứng khoán châu Âu cũng thiệt hại tương tự. Sự mất giá này chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Không khó để biết rằng thế giới đang đứng trước một sự suy thoái nặng nề và lâu dài. Các đại công ty như Boeing tại Mỹ hay Lufthansa tại Đức phải cần hỗ trợ vốn của Nhà nước.

Một số lớn xí nghiệp toàn cầu phải ngừng sản xuất, thậm chí phá sản. Vô số các công ty hạng trung lâm vào khủng hoảng vì thị trường tiêu thụ bất ngờ biến mất. Một số công ty khác bị đình trệ sản xuất vì thiếu nguồn cung ứng vật tư từ quốc gia bị dịch trước đó là Trung Quốc. Trong bối cảnh này, tính chất toàn cầu hóa lần đầu tiên cho thấy mặt trái của nó, đó là sự lệ thuộc quá nhiều vào các đối tác châu Á.

Sau công nghiệp thì ngành dịch vụ liên quan đến vận chuyển, du lịch, khách sạn hoàn toàn bị đình trệ vì dịch bệnh. Người ta dự đoán một số lớn hãng hàng không, tàu biển sẽ phá sản. Các ngành này vốn lớn mạnh nhờ tính chất toàn cầu hóa trong những thập niên vừa qua, trong đó yêu cầu chuyên chở hành khách và hàng hóa xuyên lục địa tăng cao hơn bao giờ hết

Một mặt khác của nền kinh tế các nước là thành phần kinh tế gia đình, thành phần hành nghề tự do, họ cũng lâm vào cảnh túng quẫn. Đó là các loại kinh doanh tuy nhỏ, nhưng họ phải thuê nhân công, phải thuê mặt bằng. Một khi các thành phố bị phong tỏa, nguồn thu nhập của họ lập tức bị cắt. Họ đành sa thải nhân công và thường phải tiếp tục chi trả phí mặt bằng. Tỷ lệ thành phần đó nằm khoảng 5-10% trong một quốc gia. Tại một nước dân số hơn 80 triệu dân như Đức, thành phần đó lên đến khoảng 5 triệu người

Trước tình hình kinh tế vô cùng bi đát, các chính phủ của Mỹ, Tây Âu và cộng đồng châu Âu dự kiến sẽ tung những gói hỗ trợ tài chánh khổng lồ để giải cứu. Nhưng “giải cứu” cũng chỉ là cho vay, làm sao có chuyện tặng không. Thường thì các công ty then chốt mới có khả năng thụ hưởng các chương trình này, trong đó một trong những giải pháp đáng chú ý là Nhà nước sẽ tham gia cổ phần, nói khác đi là công ty được “quốc hữu hóa”. Đây sẽ là một nét đáng chú ý về mặt kinh tế trong thời kỳ “hậu Corona”.

Dịch Corona – những điều có thể

Bên trên là những dòng miêu tả sơ lược về đại dịch Corona trong thời kỳ đầu của nó tại châu Âu và Mỹ. Thời gian còn lại của tháng 3 và hết tháng 4-2020 sẽ là sáu tuần quyết định sự phát triển của bệnh, tổn thất nhân mạng, tổn thất kinh tế và xáo trộn xã hội. Không ai biết được điều gì chắc chắn sẽ xảy ra.

Thế nhưng ngay trong thời gian này ta đã thấy đại dịch Corona biểu lộ nhiều điều đáng chú ý.

Một, nền kinh tế thế giới suy sụp trầm trọng, các chính phủ đã cạn kiệt đòn bẩy ứng cứu. Lãi suất là một trong những đòn bẩy quan trọng nhất của nhà nước, nay đã lùi về số không. Thời kỳ phồn vinh và phát triển của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, trong thời kỳ toàn cầu hóa nay đã qua. Ngược lại, nền kinh tế suy thoái này sẽ cần cả chục năm mới hồi phục, nó sẽ cần một sự tái cấu trúc. Nhiều công ty sẽ chết, một số khác ra đời. Nhiều ngành nghề biến mất, một số khác phát sinh.

Hai, sự toàn cầu hóa như mô hình hiện nay đã lộ ra những nhược điểm trầm trọng. Đó là sự lệ thuộc quá mức vào “cơ xưởng thế giới” Trung Quốc. Khi Trung Quốc ngưng sản xuất thì nhiều công ty Âu Mỹ phải chịu bó tay, chờ nguồn tiếp tế. Qua trận dịch này người ta bừng tỉnh về cái giá phải trả nếu mãi lệ thuộc vào một nguồn hàng và vào một quốc gia nhiều tham vọng. Hiệu ứng hiển nhiên của tình trạng này là người ta sẽ đa phương hóa các nguồn cung cấp trên thế giới.

Ba, nền y tế và an sinh xã hội trên thế giới và tại phương Tây đã lộ các nhược điểm chết người. Tại châu Âu và Mỹ, nền y tế chủ yếu là một hệ thống săn sóc sức khỏe, kéo dài tuổi thọ hơn là công cụ đối trị dịch bệnh bất ngờ. Tệ hại hơn nữa, nền y tế bị thương mại hóa trầm trọng, nhất là tại Mỹ. Đó là nơi người ta kinh doanh kiếm tiền, bệnh nhân trở thành khách hàng mua bán, ai không có tiền sẽ bị bỏ rơi. Đức là quốc gia mà mật độ giường bệnh cao nhất châu Âu, thế nhưng mặt trái của nó là các bệnh viện “khuyên” bệnh nhân mổ xẻ hơn mức cần thiết để làm kín chỗ giường bệnh.

Bốn, tâm thức xã hội của dân chúng phương Tây trở nên đáng lo ngại sau nhiều thập kỷ sống trong hòa bình và phồn vinh. Khi đại dịch đã hoành hành tại Trung Quốc và bắt đầu tràn đến châu Âu, con người vẫn coi nhẹ mối hiểm nguy này, cho rằng sẽ không chạm đến mình. Khi các cơ quan công quyền ban hành lệnh phong tỏa, nhiều người trẻ vẫn ngông nghênh xem thường, hoàn toàn không ý thức trách nhiệm mình trong xã hội. Một số khác thì có những hành động bất thường, như tàng trữ thức ăn, xăng dầu, thậm chí mua thêm súng đạn như tại Mỹ. Ý thức cộng đồng lẽ ra phải có thì nay nhường chỗ cho một dạng mới của bạo lực và vô cảm.

Năm, về mặt chính trị, đây là ý chính của bài này. Sau đại dịch Covid-19, nền chính trị trên thế giới có lẽ sẽ có những thay đổi to lớn. Chủ trương toàn cầu hóa, vốn đã bị các biến cố di dân ngăn chặn trong thời gian qua, nay sẽ quay đầu sau trận đại dịch này, như dự đoán của nhiều nhà quan sát. Cộng đồng châu Âu vốn đã bị chính sách của Tổng thống Mỹ cũng như biến cố Brexit của Anh làm suy yếu. Thêm vào đó, chính sách di dân và thái độ đóng cửa các nước Đông Âu làm phân hóa thêm cộng đồng gồm 27 nước này.

Nay, trong đại dịch Covid-19, khi các quốc gia ai lo phần nấy, rút lui, tự phong tỏa và đóng cửa biên giới, cộng đồng châu Âu tự chấm dứt vai trò của mình, ít ra trong một thời gian nhất định. Trên phạm vi thế giới, thế đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc càng căng thẳng. Nước Nga đang tổn thương nặng nề về giá dầu và kinh tế. Iran khủng hoảng toàn bộ thể chế và xã hội. Những điều kể trên có thể tăng cường độ từng ngày, ta không thể loại bỏ khả năng chiến tranh xảy ra bằng một mồi lửa nào đó. Khi khó khăn nội bộ chồng chất thì hiềm khích bên ngoài dễ phát sinh chiến tranh, lịch sử thế giới đã chỉ rõ.

3-

Phải chăng đại dịch này là bài dạo đầu cho một sự sắp xếp lại, một cuộc tái cấu trúc vĩ đại?

Thay lời kết

Thế giới luôn chuyển biến và mọi chuyển biến đều có nhiều nguyên nhân, kể cả các nguyên nhân khó thấy. Đó là quy luật Duyên khởi về đời sống. Chúng ta không thể biết hết tất cả các yếu tố tác động lên một hệ thống vĩ đại, trong đó chúng ta đang sống. Nhưng điều rõ nét nhất là phần lớn nguyên nhân đều do con người gây nên. Dịch bệnh không phải là thiên tai như sóng thần hay động đất mà con người là tác nhân trực tiếp. Còn hệ thống chính trị và kinh tế xã hội thì quá hiển nhiên, con người đã xây dựng lên nó.

Thiên nhiên vốn rộng lòng. Một điều thú vị hiếm hoi trong thời kỳ này là thông tin về bầu không khí tại Vũ Hán và dòng nước xanh tại Venise (Ý). Chỉ sau vài tuần vắng bóng công nghiệp, bầu trời Vũ Hán vô cùng trong xanh như không ảnh cho thấy, so sánh với thời gian trước đó đen kịt một màu. Tại Venise, thủ đô du lịch của Ý, nơi mà du khách chê trách chất nước ngầu đục hôi hám trong các kênh rạch, cũng sau vài tuần vắng người, dòng nước xanh trong đã hiện ra, nhìn đến đáy, với cơ man nào là cá.

Những ai có tâm cần phải động lòng suy nghĩ trong đại dịch. Có lẽ chúng ta đã quá tàn phá thiên nhiên, sinh hoạt đã quá vô độ. Về mặt chính trị, các quốc gia đều quá ích kỷ, cho quyền lợi quốc gia mình là trên hết. Về mặt kinh tế, chúng ta đều quá chạy theo lợi nhuận, lấy con số tăng trưởng để làm thành tích, bất kể môi trường. Về mặt xã hội, chúng ta đều lấy tự do cá nhân làm chuẩn mực, coi thường cộng đồng và tha nhân.

Tất cả những thứ đó đã sinh ra các nhà lãnh đạo kỳ dị, các chủ trương bất thường, các phong trào theo chủ nghĩa dân tộc đang phát triển mạnh. Dù vậy, nhiều năm qua, thế giới vẫn chưa thức tỉnh.

Thế thì phải chăng đại dịch này là bài dạo đầu cho một sự sắp xếp lại, một cuộc tái cấu trúc vĩ đại?

Nguyễn Tường Bách