Nguy hiểm: “Có sai sót về tố tụng nhưng không thay đổi bản chất vụ án”

Image may contain: 1 person, eyeglasses and suit
Image may contain: 2 people
Image may contain: 2 people

Nguyễn TuấnFollow

Nguy hiểm: “Có sai sót về tố tụng nhưng không thay đổi bản chất vụ án” [1]

Tôi nghĩ đọc câu phát biểu trên của TAND Tối Cao thì có lẽ tất cả chúng ta — dù không am hiểu về tư pháp, — vẫn thấy phát biểu đó sai một cách nguy hiểm. Công chúng sẽ hỏi “vậy thì đề ra luật tố tụng làm gì?” Nhưng câu ‘sai sót tố tụng’ làm tôi liên tưởng đến vụ án liên quan đến Đức Hồng Y George Pell bên Úc, người mới được Toà án Tối cao Úc trả tự do vì sai sót trong tố tụng.

Vụ án George Pell

Ở Úc có một vụ án gây ra nhiều tranh cãi và công lí cuối cùng thì cũng đến với nạn nhân. Nạn nhân là Đức Hồng Y George Pell, nhân vật số 3 ở Toà thánh Vatican. Ông nổi tiếng là một nhân vật bảo thủ trong Giáo hội Công giáo (như không chấp nhận hôn nhân của người đồng tính), nên ông có rất nhiều ‘kẻ thù’. Ông bị toà án bang Victoria kết tội rằng ông dung túng những linh mục lạm dụng tình dục thiếu niên và chính ông cũng phạm tội tày trời đó. Vụ án này được rất nhiều người quan tâm, vì tình tiết li kì và nhân chứng có vấn đề. Trước sau như một ông kêu oan. Hai cựu thủ tướng Úc và rất nhiều quan chức cao cấp (bộ trưởng, nhân sĩ elite, nhà khoa bảng, v.v.) viết thư bảo chứng nhân cách của ông. Thế nhưng ông vẫn bị toà án Victoria phạt tù giam.

Ông kháng án. Vài tuần trước, Toà án Tối cao của Úc xem xét chứng cớ và quá trình kết tội ở bang Victoria. Chỉ một thời gian ngắn, Toà án Tối cao bác bỏ những chứng cớ và cáo buộc của toà án Victoria. Tất cả 26 cáo buộc của cảnh sát Victoria đều bị bác bỏ — không một chứng cớ nào được xem là có giá trị chứng cớ trước tòa. Chẳng hạn như cáo buộc rằng ông đã hãm hiếp một cậu lễ sinh (choirboy), nhưng người tố cáo không có mặt vào ngày đó và Đức Hồng Y Pell cũng không có mặt trong buổi lễ! Chỉ cần một chứng cớ ‘tào lao’ như vậy là đủ bác bỏ bản án. Do đó, tất cả quan toà (7/7) thuộc Toà án Tối cao đều đồng ý rằng Đức Hồng Y Pell vô tội, và ra lệnh trả tự do cho ông ngay lập tức.

Tính ra ông đã ngồi tù suốt 405 ngày. Bây giờ, các luật sư và nhân sĩ ủng hộ Đức Hồng Y Pell đang vận động phải có cuộc điều tra những kẻ đã đưa ông vào tù. Những kẻ đó là cảnh sát Victoria, truyền thông (đặc biệt là đài ABC của Nhà nước Úc), vài nhân vật trong chánh phủ bang Victoria, và những nhóm chống đối ông. Vụ án làm chia rẽ nước Úc, vì người ủng hộ ông và những người chống ông không nhìn mặt nhau. Có thể đọc về vụ án lịch sử này trong bài trên ‘The Spectator’ [2].

Vụ án Hồ Duy Hải

Vụ án Hồ Duy Hải dĩ nhiên là rất khác với vụ án của Đức Hồng Y George Pell, nhưng có một điểm giống nhau: sai sót trong tố tụng. Không cần trích đâu xa, Viện Kiểm Sát nói rõ:

” … các cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng; bỏ sót những chứng cứ vụ án, không trưng cầu giám định vết máu, không đưa một số lời khai của Hồ Duy Hải và người làm chứng vào hồ sơ vụ án dẫn đến sai lầm trong việc giải quyết vụ án.”

Ngược lại, nhân vật được xem là nghi can số 1 là Nguyễn Văn Nghị [3] thì toà bỏ qua! Qui luật gần như bất biến là trong các vụ tội phạm có liên quan đến quan hệ tình cảm, người bị giết thường là nữ và kẻ sát hại thường là người yêu hay chồng. Nhân vật Nghị có quan hệ tình cảm với nạn nhân, nhưng toà án lại bỏ qua nhân vật này là điều khó chấp nhận.

Có người thống kê 40 sai sót trong vụ việc kết án Hồ Duy Hải! Chỉ dấu vân tay tại hiện trường không phải là dấu vân tay của Hồ Duy Hải cũng đủ để huỷ bỏ vụ án. Thêm vụ mua tang vật để kết tội là biết công lí đã bị hư hỏng như thế nào. Thậm chí, không xác định được Hồ Duy Hải có mặt tại hiện trường trong vụ giết người!

Ấy vậy mà 17 người chánh án và thẩm phán toà án tối cao cho rằng sai phạm tố tụng không ảnh hưởng đến bản chất của vụ an! Thật không hiểu nỗi logic của họ như thế nào.

Ngay cả tỉ lệ 100% (17/17) đồng thuận trên tất cả 4 vấn đề cũng là một câu hỏi về tính độc lập trong phán xét. (Ở Mĩ, các quan toà cấp tối cao chỉ đồng thận với nhau chừng 90%).

Thử tưởng tượng nếu Hồ Duy Hải sống ở Úc. Xác suất rất cao là vụ án đã không diễn ra vì sai phạm trong tố tụng ngay từ lúc đầu. Nếu bị kết án, anh ta có thể cầu khẩn đến Toà án Tối cao, và xác suất rất cao là anh ta được trả tự do lập tức.

Hai quan điểm

Kết cục những phiên toà cung cấp nhiều bài học rất quan trọng để nhìn lại nền công pháp và tư pháp giữa các nước. Ở Việt Nam, các chánh án thường xuất thân từ ngành công an hay bên đảng, và họ thường có bằng cấp tiến sĩ (10/17 chánh án và thẩm phán TAND Tối cao có bằng tiến sĩ). Ở Úc, cũng như ở bất cứ xã hội theo thể chế dân chủ nào, quan toà chẳng dính dáng gì đến cảnh sát. Họ xuất thân từ trường luật và trải qua nhiều năm trong ngành tư pháp, nhưng rất rất hiếm ai có bằng tiến sĩ. Đa số quan toà và chánh án từng là luật sư cao cấp với những thành tích sáng chói và uy tín cao nhứt trước khi được bổ nhiệm làm chánh án.

Ở các nước dân chủ và pháp trị, luật và qui trình tố tụng ưu tiên nhận dạng đúng phạm nhân hơn là phạm sai lầm công lí. Ở Tàu, luật và qui trình tố tụng dựa trên suy nghĩ thà sai lầm công lí hơn là bắt đúng phạm nhân. Điều này giải thích tại sao tỉ lệ phá án ở bên Tàu lên đến 99.9% [4].

Và, đó cũng chính là lí do tại sao bên Tàu có rất nhiều án sai và án oan. Chẳng hạn như năm 1995, một thanh niên Tàu tên Nie (thuộc tỉnh Hồ Bắc) bị cáo buộc hãm hiếp và giết người, và anh ta bị tử hình; nhưng 21 năm sau Toà án Nhân dân Tối cao của Tàu tuyên bố rằng Nie vô tội vì họ tìm ra thủ phạm là Wang Shyjin! Nhưng Nie đã chết [4]. Sai lầm như thế đã cướp đi biết bao mạng người bên Tàu.

Câu nói “Có sai sót về tố tụng nhưng không thay đổi bản chất vụ án” phản ảnh rất đúng quan điểm thà để cán cân công lí bị lệch (hơn là nhận ra đúng thủ phạm), y như bên Tàu. Đúng ra phải dùng chữ “VI PHẠM”, chớ không phải “sai sót” như ông chánh án nói.

Nếu nền tư pháp Tàu đã gây ra nhiều oan khiên thì Việt Nam chắc không thoát khỏi tình trạng đó (vì cùng hệ thống). Và, vụ án Hồ Duy Hải có thể đi vào lịch sử tư pháp quốc tế như là một ca oan khiên tiêu biểu của một hệ thống tư pháp được xây dựng trên nền tảng thiếu tính độc lập [5] và chuyên nghiệp [6].

===

[1] https://tuoitre.vn/hoi-dong-tham-phan-bieu-quyet-bac-khang-…

[2] https://www.spectator.co.uk/…/Cardinal-George-Pell-is-the-v…

[3] https://motthegioi.vn/…/vu-an-ho-duy-hai-nhung-dau-hieu-pha…

[4] https://www.scmp.com/…/no-sign-change-chinas-deeply-flawed-…

[5] http://quochoi.vn/hoatdongdbqh/Pages/home.aspx?ItemID=44610

[6] https://www.tienphong.vn/…/nganh-toa-an-se-moi-giao-vien-de…

NGÀY LỄ CỦA MẸ

NGÀY LỄ CỦA MẸ

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong nhiều năm qua, tôi có thành kiến với Ngày lễ của Mẹ.  Tôi không chống lại tư tưởng đó, đây chỉ là mối bực bội cá nhân.  Mẹ tôi qua đời cách đây 40 năm, nên chuyện tôi làm ngơ trước Ngày lễ của Mẹ từ trước đến giờ chỉ là thái độ của tôi trước bất công của vũ trụ mà tôi cảm thấy: Mọi người cứ ăn mừng, trừ tôi!

Nhưng thời gian đã chữa lành vết thương và đôi khi làm chúng ta khôn ngoan hơn.  Bây giờ, vào Ngày lễ của Mẹ, tôi luôn luôn ý thức về mẹ và tìm thấy các lý do rất hay để ăn mừng.  Bạn không cần phải còn sống mới nuôi nấng được một người nào đó, và đó chính là trường hợp mẹ tôi.  Chúa Giêsu đã chẳng bảo rằng, chúng ta chỉ tiếp nhận cách tinh tuyền tinh thần của một người nào đó sau khi họ ra đi và tôi biết điều đó đúng.  Bốn mươi năm sau cái chết của bà, tôi ý thức mẹ tôi là ai và những gì bà đã cho tôi một cách rõ ràng hơn so với suốt thời thơ ấu của tôi khi bà còn sống và tình mẫu tử của bà như đang hiển hiện ôm tôi.

Những gì anh chị em tôi và tôi giờ đây ý thức rõ ràng hơn so với khi bà còn sống, là chúng tôi rất may mắn.  Chúng tôi có được một bà mẹ tốt lành.  Đơn giản là như vậy.  Trong những điều thiết yếu, bà đã cho chúng tôi những thứ quan trọng: An toàn, bảo bọc, cảm thấy được người khác mong muốn, cảm thấy mình là quý giá, được ăn no, mặc ấm, một cảm nhận rằng cuộc đời là đẹp, và trên hết thảy, cảm thấy chúng tôi luôn luôn ở trong vòng tay của một Thiên Chúa đáng tin cậy. 

Dĩ nhiên, chẳng có điều nào trong số đó hoàn hảo.  Mẹ tôi không phải là Chúa.  Bà có những giới hạn, nguồn năng lượng và nguồn lực nhờ đó bà nuôi dưỡng chúng tôi cũng giới hạn.  Gia đình đông người và lúc nào cũng thiếu tiền.  Chúng tôi có đủ, nhưng chỉ là đủ mà thôi, không hơn.  Chưa bao giờ có dư.  Nó cũng đúng nếu nói về sự quan tâm và tình thương bà dành cho mỗi anh chị em chúng tôi.  Bà không có thì giờ, năng lực hay niềm vui sướng xa xỉ nào để tuôn tràn lên bất cứ riêng ai trong chúng tôi, dù không ai trong chúng tôi nghĩ rằng bà thương mình như đứa con độc nhất.  Tuy vậy, tất cả chúng tôi đều thấy các giới hạn của bà và sống với hệ quả của chúng cho tới hôm nay. 

Nhưng các nỗ lực quá mức thường xuyên của bà cũng là một năng khiếu đặc biệt của bà: Giống như Chúa Giê-su, bà nhân bánh mì và cá lên gấp bội lần.  Cách nào đó bà luôn luôn tìm được đủ mọi thứ, thức ăn, áo quần, sách vở, thêm một cái bánh, một dây ruy-băng, hay bất cứ cái gì cho một dịp đặc biệt.  Cách nào đó chúng tôi luôn luôn có những thứ chúng tôi cần, cũng giống như cách nào đó bà đã làm cho cái bàn ăn gia đình dài thêm đủ để mọi người cùng ngồi – hàng xóm, giáo viên, linh mục, người bán hàng, hoặc một ông chú sa cơ lỡ vận – người mà cứ tình cờ đến chơi nhà khi gần bữa ăn.  Bà tin tưởng rằng rồi lúc nào cũng sẽ đủ, và đúng vậy thật. 

Và bà là một bổ sung hoàn hảo cho cha tôi.  Phim trường Hollywood hay dịch vụ hẹn hò Công giáo không thể nào sắp xếp được một cuộc hôn nhân tốt đẹp hơn thế.  Họ đã tìm thấy nhau, hai người tri âm tri kỷ, tại một cuộc đi chơi ngoài trời của giáo xứ, tình thương yêu và tôn trọng lẫn nhau của họ là điều mà, có lẽ hơn bất kỳ điều gì khác, đã đem lại cho chúng tôi, những người con của họ, một cảm thức mạnh nhất về sự an toàn, vững chãi, và đức tin.  Cha tôi là kim chỉ nam về đạo đức, bà là trái tim; nhưng họ có thể hoán đổi vai trò này cho nhau và bà có thể đưa ra những thách thức về luân lý còn ông đem đến sự nhạy cảm.  Dù cách nào đi nữa, họ đều làm cùng nhau, và khi họ chết, họ để lại đằng sau một gia đình còn quá non trẻ để có thể tự xoay xở một mình, họ đã cho chúng tôi những gì họ cần phải cho, tất cả những công cụ cơ bản để xây dựng cuộc sống của riêng mình và sống một cách sôi nổi, vui vẻ. 

Bà chết vì căn bệnh viêm tụy tạng và đau tim, chỉ ba tháng sau khi bà đã chăm sóc cha tôi trong trận quyết chiến cả năm trời nhưng thất bại với căn bệnh ung thư.  Khi cha tôi sắp chết, một người em của tôi và tôi đưa bà ra hiệu để mua một bộ áo mặc cho dịp tang lễ.  Bà đã quyết định vung tay mua bộ áo đắt tiền nhất bà chưa từng mua.  Khi mặc thử bộ áo, người bán hàng nói: “Bà mặc áo này trông thật tuyệt!  Tôi hy vọng bà thích mặc nó!”  Mẹ tôi chỉ mặc nó có hai lần, một lần trong đám tang ba tôi, và một lần trong đám tang của bà.  Nhận xét trớ trêu của người bán hàng vậy mà đúng. 

Không biết lý do gì, mẹ tôi không thích tên Mathida của mình.  Các bà bạn gọi ngắn là Tilly lại càng làm bà không thích!  Tôi không biết khi thân mật, ba tôi gọi bà tên gì nhưng tôi nghi là chẳng phải tên nào trong số hai tên này.

Các nhà nhân chủng học cho rằng mẹ của mình là mối dây cộng sinh của chúng ta với cuộc sống.  Các bà mẹ phải cho chúng ta biết rằng vũ trụ này muốn có chúng ta, và chúng ta đáng yêu chỉ đơn giản chúng ta là chúng ta, rằng tình yêu thương là không cần gắng gỗ mới có được.  Mẹ tôi đôi khi quá bận rộn nên không thể nuôi nấng riêng từng đứa một với cảm giác rằng chúng tôi là duy nhất, là xinh đẹp, là quý giá; nhưng bà đã làm mẹ chúng tôi theo một cách mà chính cuộc sống và vị Chúa tạo dựng cuộc sống đó đã đem lại cho chúng tôi món quà quý giá đó.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Vụ 2 nhân viên bưu điện bị giết: Nghi can là bạn trai của nạn nhân

CHÚNG TÔI TỐ CÁO TRƯỚC CÔNG LUẬN THẾ GIỚI VÀ NHÂN DÂN VIỆT NAM – HỆ THỐNG TƯ PHÁP XHCNVN LÀ MỘT HỆ THỐNG THỐI NÁT, TỒI BẠI, ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN – HÃY ĐỌC LẠI TƯỜNG THUẬT CỦA BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN SỐ RA NGÀY 16/01/2008…

*******

Vụ 2 nhân viên bưu điện bị giết: Nghi can là bạn trai của nạn nhân

📷

NGHI CAN CHÍNH LÀ NGUYỄN VĂN NGHỊ, NGỤ TẠI HUYỆN CAI LẬY (TIỀN GIANG), CÓ DẤU HIỆU NGHIỆN MA TÚY. NGHỊ LÀ MỘT TRONG HAI BẠN TRAI CỦA NẠN NHÂN NGUYỄN THỊ ÁNH HỒNG. VÀO ĐÊM XẢY RA VỤ ÁN, NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG THẤY NGHỊ ĐI XE MÁY ĐẾN BƯU ĐIỆN CẦU VOI GẶP HỒNG VÀ VÂN.

Ngày 15/1, cơ quan điều tra Công an tỉnh Long An tiến hành lấy lời khai ba thanh niên quê ở tỉnh Vĩnh Long, tạm trú tại ấp 5, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa (Long An) do có mối quan hệ với hai nạn nhân bị giết tại Bưu điện thị tứ Cầu Voi hôm 13/1. Sau đó, cơ quan điều tra tiếp tục câu lưu một thanh niên được xác định là nghi can chính trong vụ án.

Nghi can chính là đối tượng nghiện ma túy

Ba thanh niên không bị câu lưu là Nguyễn Văn S.; Nguyễn Tuấn A., Trần Văn Ch., thợ bạc tiệm vàng K.L. khu vực thị tứ Cầu Voi, thuộc ấp 5, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa (Long An).

Cả ba người này từng có mối quan hệ với hai nạn nhân bị giết chết đêm 13/1 là Nguyễn Thị Ánh Hồng và Nguyễn Thị Thu Vân.

Bước đầu, cả ba thanh niên này đưa ra được chứng cứ ngoại phạm. Đối tượng đang bị câu lưu là Nguyễn Văn Nghị, ngụ tại huyện Cai Lậy (Tiền Giang), là bạn của ba thợ bạc tiệm vàng K.L., có dấu hiệu nghiện ma túy. Nghị là một trong hai bạn trai của nạn nhân Nguyễn Thị Ánh Hồng.

Vào đêm xảy ra vụ án, người dân địa phương thấy Nghị đi xe máy đến Bưu điện Cầu Voi gặp Hồng và Vân. Người dân địa phương còn miêu tả Nghị mặc quần Jean, khoác bên ngoài chiếc áo gió rộng.

Ngay trong ngày 14/1, cơ quan điều tra đã cử trinh sát đến tất cả những địa chỉ mà Nghị thường xuyên lui tới nhưng không gặp anh ta. Sau đó, cơ quan điều tra cử trinh sát mai phục tại nhà cha mẹ của Nghị ở Cai Lậy (Tiền Giang) đến nửa đêm thì nghi can xuất hiện, các trinh sát thực hiện biện pháp áp giải về cơ quan điều tra lấy lời khai.

Theo tin ban đầu, Nghị cố tình đưa ra chứng cứ ngoại phạm nhưng không có cơ sở thuyết phục nên cơ quan điều tra quyết định câu lưu để làm rõ.

Cả hai nạn nhân đều bị cắt cổ

Theo kết quả khám nghiệm hiện trường, hung thủ giết chết Hồng và Vân từ khoảng 20h đến 20h30′ ngày 13/1.

Nguyễn Thị Ánh Hồng chết trong tư thế bị một vật bén cắt đứt cuống họng, chiếc áo nạn nhân bị kéo ngược lên tận cổ, nằm khuất trong cầu thang.

Thi thể Nguyễn Thị Thu Vân được cơ quan chức năng xác định bị đập đầu chết trước, sau đó hung thủ dùng dao cắt cổ như đã làm với Hồng. Trước bên cạnh xác hai nạn nhân còn một chiếc xe gắn máy hiệu Ware, phía trước bàn khách vẫn còn một bịch trái cây (quýt và bưởi) chưa ăn. Chiếc xe máy này là của một trong hai nạn nhân.

Cả hai nạn nhân chết khi trên người vẫn còn đang mặc quần áo đồng phục của ngành bưu điện. Theo nhận định ban đầu, hung thủ chuẩn bị gây án từ trước, do đó ngay khi đến Bưu điện Cầu Voi y đưa tiền cho Vân ra ngoài mua trái cây để có thời gian giết chết Hồng.

Sau khi sát hại Hồng, hung thủ còn đủ thời gian dọn dẹp hiện trường, kéo xác nạn nhân giấu ở chân cầu thang rồi nép mình trong một chỗ khuất chờ Vân quay về giết chết cô để bịt đầu mối.

Sau khi thực hiện tội ác, hung thủ đến quầy thu tiền lấy đi 10 triệu đồng và 10 sim card điện thoại di động có mệnh giá sử dụng từ 100.000 đến 300.000 đồng rồi trốn thoát ra cửa trước.

Theo nhiều nhân chứng cho biết, trước đây, Hồng và anh thợ bạc tên S. có quen nhau. Hai người dự định đi đến hôn nhân nhưng gia đình hai bên không đồng ý với lý do nhà S. quá xa. Sau đó, Nguyễn Văn Nghị là bạn của S. đến Cầu Voi chơi và làm quen với Hồng. Nghị thường hay đến Bưu điện Cầu Voi dắt Hồng và Vân đi chơi.

Tuy quen với Nghị nhưng Hồng vẫn còn quan hệ với S., dẫn đến tình bạn giữa S. và Nghị bị sứt mẻ. Đôi khi hai người bạn này chạm trán nhau tai Bưu điệu Cầu Voi. Nghị cũng nhiều lần lên tiếng yêu cầu Hồng chấm dứt quan hệ với S.

Gần đây, S. không còn làm thợ bạc cho tiệm vàng K.L., mà lên TP HCM kiếm sống bằng nghề chính của mình. Vào ngày cuối tuần, S. mới về Cầu Voi thăm bạn bè, trong đó có Hồng. Có tin cho hay, buổi tối hôm xảy ra vụ án, S. cũng về Cầu Voi nhưng không vào Bưu điện thăm Hồng vì biết có Nghị ở đó.

Chị Nguyễn Thị Phượng, người bán trái cây ở Cầu Voi cũng cho biết, đêm đó Vân có nói là tiền mua trái cây là do bồ của Hồng tài trợ. Người này đến từ Tiền Giang.

Các nhận định đều tập trung vào nghi can Nguyễn Văn Nghị, vì anh này nổi ghen do thấy S. có mặt ở Cầu Voi, hơn nữa Hồng không nghe lời anh ta mà đoạn tuyệt với S.

Cũng có nguồn tin cho hay, trước đó, đêm 12/1, Hồng và Vân đi hát karaoke với hai thanh niên, đó chính là S. và Nghị. Hiện trường để lại cho thấy không có dấu hiệu nạn nhân bị cưỡng hiếp, mà thể hiện rõ một sự xung đột cao độ giữa nạn nhân và hung thủ.

Người dân xung quanh cho biết có nghe cả tiếng la của cô gái, nhưng nghĩ đó là sự đùa giỡn thường tình của những cặp tình nhân trẻ nên không đến xem rõ thực hư.

Đến cuối ngày 15/1, cơ quan điều tra tiếp tục đấu tranh với nghi can Nguyễn Văn Nghị.

http://m.cand.com.vn/Ban-tin-113/Vu-2-nhan-vien-buu-dien-bi-giet-Nghi-can-la-ban-trai-cua-nan-nhan-120348/?fbclid=IwAR1gJNhAszMNcprImU8M7GXLIvYcovtUwNZXN_FwTm7u6OUYr0AWRVk8bgQ

ĐẰNG SAU MỘT BẢN ÁN TỬ

Bài này ngắn, nhưng đầy đủ ý nghĩa. Nên đọc.

Ban Biên Tập Kẻ đi tìm

Lâm Thu Hiền

ĐẰNG SAU MỘT BẢN ÁN TỬ
(Bùi Chí Vinh)

Đằng sau bản án tử của Hồ Duy Hải là sự an toàn của một sát-thủ-thiếu-gia
Đằng sau sự an toàn của một sát thủ thiếu gia là sự bất khả xâm phạm của một đại-gia-chính-trị
Đằng sau sự bất khả xâm phạm của đại gia chính trị là sự điều hành của tập đoàn ma quỷ

Không chốn nương thân cho những sinh vật gọi là người

Đằng sau bản án tử của Hồ Duy Hải là cái chết được nhân đôi
Nhân đôi cho suối lệ bà mẹ cạn khô 12 năm và nhân đôi cho cô gái tuổi 30 còn thiếu nữ
Đằng sau một gia đình nước mất nhà tan là cả một quê hương trong vòng vây quân dữ
Mỗi tiếng ho tiếng sủa từ Bắc Kinh là 1000 năm nô lệ phải giật mình

Đằng sau bản án tử của Hồ Duy Hải là sự mục nát của triều đình
Đằng sau sự mục nát của triều đình là sự tái lập vòng quay lịch sử
Bọn phản quốc, bọn hôn quân vô đạo phải chết đi thì Đinh, Lê, Lý, Trần mới thấy được nhân dân làm chủ
Mới thấy được hào khí đại đế Quang Trung trên đất Thăng Long thành

Đằng sau bản án của bóng đêm, đất sẽ nứt chồi xanh..

8-5-2020

—-
Tôi ám ảnh với một comment rằng; nếu biết/cảm nhận con mình là kẻ có tội không người mẹ nào bán cả gia sản, ròng rã 12 năm trời đi kêu oan cho con…

Như vụ việc mới xảy ra ở HN; mẹ và bố dượng hành hạ cháu bé 3t đến chết đó. Bà ngoại cháu bé khóc bên bàn thờ cháu, nói; tội của nó (con gái bà) phải tử hình, tôi chỉ xin khi tử hình nó, cho tôi chứng kiến.

Image may contain: text

VNTB – Hoan hô sự sáng suốt của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao   

VNTB – Hoan hô sự sáng suốt của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao   

 09/05/2020

Nguyễn Nam

(VNTB) – Phiên giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải đã khép lại với quyết định bác kháng nghị. Mạng xã hội đã phẫn uất réo tên 17 vị thẩm phán áo đỏ ra nguyền rủa. Với tôi, rõ ràng đây là một nhầm lẫn với đối tượng phải chịu gạch đá, vì chủ tọa phiên giám đốc là ông Nguyễn Hòa Bình, người đang giữ chức vụ tầm cỡ: Bí thư Trung ương Đảng; mà như ai cũng biết, Đảng luôn đúng!

Nói luôn về lý do cần vỗ tay khen ngợi sự sáng suốt của cả 17 vị trong hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ở lần làm án giám đốc này, đó là vì Việt Nam nhiều lần khẳng định không áp dụng cơ chế tam quyền phân lập; bởi vậy, phân tích diễn biến xét xử, và quy kết trách nhiệm không nên qua lăng kính pháp quyền thông thường, mà phải đặt vào bối cảnh chính trị đặc thù của Việt Nam. là “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện”.

Từ góc quan sát đó, thiết nghĩ một vị đảng viên được sự tín nhiệm của Đảng để giữ vị trí Bí thư Trung ương Đảng, thì ắt hẳn ông phải là người cực kỳ sáng suốt, mẫn tiệp và luôn hiểu cần phải làm gì để phụng sự tốt nhất cho Đảng của ông.

Trong Bộ Chính trị, vị trí của những người giữ chức Bí thư Trung ương Đảng chỉ ‘lép vế’ mỗi Tổng bí thư. Nói thêm, tiền nhiệm Bí thư Trung ương Đảng trước đó cũng tên Bình – Trương Hòa Bình, người đang giữ chức phó thủ tướng thường trực.

Ông Nguyễn Hòa Bình với vai trò Bí thư Trung ương Đảng, tin rằng ông chẳng dại dột gì khiến dân chúng thêm hố sâu bất mãn với Đảng, chỉ vì đã đưa ra quyết định kẻ thủ ác vẫn là tử tù Hồ Duy Hải.

Đúng là diễn biến phiên giám đốc cho thấy có dấu hiệu vi phạm tố tụng rõ rệt trong thu thập vật chứng, việc cán bộ điều tra đã ngụy tạo hung khí được cho là gây án, cố tình bỏ lọt nghi phạm…, song với bản lĩnh chính trị của một Bí thư Trung ương Đảng; đồng thời từng là phó Thủ trưởng cơ quan điều tra của Bộ Công an, cũng như từng là người kế nhiệm ông Trần Quốc Vượng chức danh Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chắc chắn ông Nguyễn Hòa Bình hiểu rất rõ đến từng câu chữ, khi quyết định bác kháng án từ những cựu đồng nghiệp kiểm sát trong huyết án ở Bưu cục Cầu Voi, tỉnh Long An, tháng 1-2008.

Theo tôi, một khi Bí thư Trung ương Đảng ngồi ghế chủ tọa phiên giám đốc thẩm và tuyên ‘có tội’, thì người đó dứt khoát không thể vô tội.

Có thể củng cố niềm tin đó vì vào sáng ngày 3-2-2020 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2020) – tại buổi lễ này, Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có diễn văn phát biểu, trong đó có đoạn khẳng định cho một cảnh báo:

Các thế lực thù địch vẫn đang tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; chúng ra sức xuyên tạc, vu cáo Đảng ta, Nhà nước ta, đánh thẳng vào hệ tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm”. (*)

Từng là một tướng công an, ông Nguyễn Hòa Bình tất luôn ý thức cảnh giác trước “chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm”, nếu như ông có sai sót gì đó khi ‘dũng cảm’ ngồi vào ghế chủ tọa phiên giám đốc thẩm ở vụ án mà giới luật sư từ Bắc đến Nam, đều chung quan điểm là quá nhiều vi phạm tố tụng – Sở dĩ gọi là ‘dũng cảm’ vì ông Nguyễn Hòa Bình chưa là thẩm phán chuyên nghiệp!.

Khi tuyên ‘bác kháng nghị’, có nghĩa ‘y án’, cho thấy chắc hẳn vị Bí thư Trung ương Đảng lường được việc gạch đá công luận, song ông vẫn chẳng nao núng, thì rất có thể đây là một sáng suốt chuyện hậu trường mà chỉ ở tầm trong Bộ Chính trị mới thấu rõ – “Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt”, thi sĩ Tố Hữu từng ví von như thế trong “Ba mươi năm đời ta có Đảng”, huống hồ là bây giờ vừa ‘sinh nhật’ tuổi 90 xong.

Vụ án Hồ Duy Hải: Công lý XHCN đã có biểu tượng!

 

Chúng ta không biết rõ ai là thủ phạm nhưng 17 vị tối cao thẩm phán biết rõ bằng chứng để buộc tội Hồ Duy Hải có rất nhiều điểm khá mù mờ. Nhiều bằng chứng được thu thập theo cách vi phạm nghiêm trọng…

  Vụ án Hồ Duy Hải: Công lý XHCN đã có biểu tượng!

08/05/2020

Trân Văn

Hội đồng thẩm phán của Tòa án Tối cao tại Việt Nam vừa công bố phán quyết phiên giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải “giết người” và “cướp tài sản”…

12 năm trước – tháng 1 năm 2008, tại Bưu điện Cầu Voi, tọa lạc ở xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xảy ra án mạng: Hai nữ nhân viên của bưu điện này bị giết. Ba tháng sau, Hồ Duy Hải bị bắt với cáo buộc đã giết và cướp tài sản của hai nạn nhân. Cuối năm 2008, trong phiên xử sơ thẩm vụ án này, Tòa án tỉnh Long An tuyên bố dành cho Hải hình phạt tử hình. Thêm bốn tháng nữa, vào tháng 4 năm 2009, khi phúc thẩm vụ án, Tòa Tối cao bác kháng cáo của Hải, tuyên y án sơ thẩm…

Tuy nhiên hệ thống tư pháp Việt Nam không thể đóng hồ sơ vụ án này vì cả dư luận lẫn công luận đều không đồng tình bởi quá trình điều tra, truy tố có quá nhiều sai sót kỳ quái: Kết quả điều tra hiện trường thu được nhiều dấu tay nhưng không có dấu tay của Hải. Hiện trường có nhiều vết máu nhưng việc thu thập, phân tích những vết máu này cũng bị bỏ qua. Thời điểm mà cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát xác định nạn nhân bị giết mâu thuẫn với kết quả giám định pháp y, nếu theo kết quả này thì rõ ràng Hải là ngoại phạm.

Đó là chưa kể song song với vô số mâu thuẫn của các tài liệu trong hồ sơ vụ án, việc sửa chữa nhiều tài liệu một cách tùy tiện để chứng minh Hải là hung thủ, còn có chuyện cơ quan điều tra không thu được hung khí (dao để cắt cổ, thớt để đập đầu các nạn nhân) nên đã cử người đi… mua các hung khí này về làm tang vật cho khớp với kết luận điều tra, cáo trạng. Người ta còn phát giác cơ quan điều tra đã bỏ đi nhiều tài liệu và làm ngơ không đào bới sâu hơn trong khi vụ án còn có nghi can khác…

Chẳng phải chỉ có công an, kiểm sát mắc những sai sót vừa phi lý, vừa phi pháp, không thể chấp nhận được khi điều tra, giám sát điều tra, truy tố, lúc xét xử, tòa án các cấp cũng tự biến hệ thống tài phán trở thành đáng ngờ khi bỏ qua tất cả những sai sót kỳ quái như đã kể, thậm chí bỏ luôn, không thèm triệu tập một số nhân chứng mà lời khai của họ có thể vô hiệu hóa Kết luận điều tra, Cáo trạng và Hội đồng xét xử khó mà thản nhiên xác định Hồ Duy Hải “giết người”, “cướp tài sản” để phạt tử hình…

Dư luận từ công chúng, báo giới, nhiều luật sư, chuyên gia pháp lý, một số viên chức hữu trách của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền đã khiến hệ thống tư pháp chựng lại trong việc thi hành án tử hình Hồ Duy Hải nhưng đó chỉ là chựng lại. Tháng 5 năm 2011, Tòa án Tối cao tuyên bố không kháng nghị (không yêu cầu xem lại) bản án chung thẩm. Tháng 10 năm 2011, tới lượt Viện Kiểm sát Tối cao đưa ra tuyên bố tương tự, mở đường cho Chủ tịch Nhà nước bác đơn xin ân xá của Hồ Duy Hải vào tháng 5 năm 2012…

Tháng 11 năm 2014, Hội đồng Thi hành án tử hình của tỉnh Long An quyết đinh tử hình Hồ Duy Hải vào ngày 5 tháng 12 năm 2014. Thêm một lần nữa, dư luận, công luận lại dậy lên thành bão… Một ngày trước khi bản án được thi hành, Chủ tịch Nhà nước đề nghị Tòa án Tối cao tạm hoãn thi hành án. Hồ Duy Hải tạm thời thoát chết để chờ hệ thống tư pháp xem xét số phận của mình. Chẳng riêng thân nhân của Hải, nhiều người ở nhiều nơi đã tìm đủ cách để tác động đến việc xem lại bản án bằng nhiều cách…

Thế rồi tháng 11 năm ngoái – sau năm năm im lặng từ lúc án tử hình được tạm hoãn, Viện Kiểm sát Tối cao đột nhiên loan báo kháng nghị bản án tử hình Hồ Duy Hải theo hình thức giám đốc thẩm. Cơ quan này khẳng định, có đủ căn cứ để kháng nghị hai bản án (sơ thẩm, phúc thẩm) nhằm làm rõ những mâu thuẫn, thiếu sót trong tố tụng và điều tra lại là thật sự cần thiết (1). Tòa án Tối cao đã tổ chức phiên xét xử theo hình thức giám đốc thẩm trong ba ngày và bác kháng nghị, tuyên y án (2)!

***

Tin Tòa án Tối cao xem lại vụ án Hồ Duy Hải “giết người” và “cướp tài sản” theo hình thức giám đốc thẩm đã từng tạo ra sự hứng khởi nơi nhiều giới. Trong mắt nhiều người, diện mạo công lý tại Việt Nam tuy nhơ nhuốc nhưng ít nhất lần này cũng sẽ được tẩy rửa một phần để trong chừng mực nào đó còn có thể yên tâm vì tư pháp xã hội chủ nghĩa không man rợ tới mức, thản nhiên giết một cá nhân mà quá trình điều tra, truy tố, xét xử từng bộc lộ vô số dấu hiệu cho thấy hết sức vô nhân.

Đó cũng là lý do phán quyết của Hội đồng Thẩm phán với 17 thành viên của Tòa án Tối cao về vụ án Hồ Duy Hải làm người ta chưng hửng, phẫn nộ. Nguyễn Lân Thắng mỉa mai: Có sai sót nhưng không làm thay đổi bản chất khốn nạn của nền tư pháp xứ Đông Lào… Y án tử hình Hồ Duy Hải! Đồng bào đã sáng mắt chưa (3). Nghiêm Việt Anh ngao ngán nhận xét về phiên giám đốc thẩm là “trò hề” (4). Còn Phùng Chí Kiên thì vừa thấy tên mình trong danh sách tử tù dự bị nếu vẫn tuân theo nền tư pháp mọi rợ này (5).

Trương Huy San nhận xét: Công lý và số phận của Hồ Duy Hải có phải đã là ưu tiên quan trọng nhất? “Y án” không đơn giản chỉ để cứu uy tín chính trị của Chánh án Nguyễn Hòa Bình (khi còn là Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao ông đã từ chối kháng nghị). Bằng phán quyết này, thành tích “phá trọng án” của cơ quan điều tra 12 năm trước được bảo vệ, nền tư pháp không phải ghi thêm một án oan vào sổ đen…

Trong lịch sử tố tụng của nước ta, hung thủ của các vụ án mạng nghiêm trọng gần như đều nhanh chóng bị bắt. Tiền thưởng, huân chương, sao gạch… nhanh chóng được ban phát. Oan sai gần như chỉ được phát hiện khi “nạn nhân” từ “cõi chết trở về” (trường hợp em Tỏ ở Tiền Giang) hoặc hung thủ thật ra đầu thú ([như trong vụ Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang và “bảy thanh niên nhận tội giết người ở Sóc Trăng” gần mười năm trước).

Chúng ta không biết rõ ai là thủ phạm nhưng 17 vị tối cao thẩm phán biết rõ bằng chứng để buộc tội Hồ Duy Hải có rất nhiều điểm khá mù mờ. Nhiều bằng chứng được thu thập theo cách vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Một khi có thể mua một con dao ngoài chợ thay thế tang vật, việc khiến cho một bị can cung khai trôi chảy một kịch bản giết người chẳng phải khó khăn gì.

Giá như các vị đừng ngồi trên cái ghế có nhiều hệ lụy như thế mà thử đặt mình trong vị trí của các dự thẩm, tôi nghĩ, các vị sẽ không dám tuyên như vậy. Các vị đã đưa ra một phán quyết rất có giá trị chính trị nội bộ nhưng đêm nay, nếu không đi uống rượu, các vị thử gác tay lên trán, tự hỏi xem đó có phải là một phán quyết dựa trên pháp luật và niềm tin nội tâm của quý vị không?

Chúng tôi không đủ cơ sở để nói Hồ Duy Hải là vô tội. Nhưng chúng tôi cần được chứng kiến một phiên tòa công khai, nơi, công tố viên thuyết phục hội đồng xét xử bằng những chứng cứ thuyết phục. Thuyết phục trong trường hợp Hải được tuyên vô tội, thuyết phục ngay cả trong trường hợp Hải bị tuyên có tội.

Hủy án khi không đủ bằng chứng để kết tội ai đó không phải là sự thất bại của một nền tư pháp mà là sự chiến thắng của công lý. Ngay cả trong các nền tư pháp trưởng thành không phải mọi trọng án đều tìm ra được hung thủ. Tuyên bố vô tội cho một nghi phạm không có có nghĩa là các cơ quan tố tụng tuyên bố đầu hàng. Bởi tuyên bố đó xác nhận hung thủ vẫn ngoài vòng pháp luật và các cơ quan tố tụng vẫn tiếp tục thi hành phận sự.

Mười năm ngồi tù oan của những bị án oan như ông Nguyễn Thanh Chấn là 10 năm tự do có thể gây án của những hung thủ thật. Các vị có còn để cho niềm tin nội tâm của mình vận hành không. Một phán quyết như vụ Hồ Duy Hải, nếu oan, không chỉ làm tan nát một gia đình mà còn cấp thủ tục pháp lý cho hung thủ thật (nếu có) tự do gây án ngoài xã hội. Một phán quyết như vụ Hồ Duy Hải không những không có khả năng chấm dứt tranh cãi mà còn xói mòn hơn niềm tin của dân chúng vào khả năng cung cấp công lý của nền tư pháp vốn có rất nhiều khiếm khuyết này (6).

***

Trước khi tiến hành xét xử vụ án Hồ Duy Hải “giết người” và “cướp tài sản” theo hình thức giám đốc thẩm, Tòa án Tối cao từng giới thiệu rộng rãi kế hoạch dựng “biểu tượng công lý” ở trụ sở các tòa án trên toàn Việt Nam và tạc tượng các Chánh án Tòa Tối cao. “Sáng kiến” này đã bị công chúng chỉ trích kịch liệt và có thể sẽ phải xếp xó. Tuy nhiên, dù muốn hay không, tuyên bố bác kháng nghị, y án đối với Hồ Duy Hải đã tạo ra một biểu tượng cho công lý ở Việt Nam.

Hao-Nhien Q. Vu vừa gọi 17 Thẩm phán trong Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao vừa nhất trí đưa ra phán quyết đã kể là 17 bù nhìn giống như các bù nhìn khác của chế độ. Theo facebooker này, điểm khác biệt của 17 bù nhìn đó, khiến cho họ có thành tích đặc biệt là thí mạng người dân để bảo toàn thành tích bù nhìn của mình, nên có bị nguyền rủa đặc biệt nhiều hơn các bù nhìn khác thì cũng đáng đời (7). Bên cạnh sự khinh miệt đang được bày tỏ rộng rãi trên mạng xã hội như Hao-Nhien Q. Vu, còn có sự căm phẫn.

Đang có không ít người như Thùy Linh, công khai khẳng định về sự nguyền rủa đời đời dành cho Nguyễn Hoà Bình cùng đồng đảng của ông ta. Một lũ khát máu người vô tội. Quyền lực và sự giàu có của bọn họ xây trên sự nghèo đói, oan khuất của dân đen… Thùy Linh nhấn mạnh: Hãy nhớ ngày này. Máu kêu trả máu (8). Sáu năm trước, một số viên chức hữu trách ở Long An từng công khai càm ràm về việc chần chừ tử hình Hồ Duy Hải nguy hại cho “ổn định chính trị”. Nay, số phận nghiệt ngã của Hồ Duy Hải góp thêm lý do khiến nhiều người như Quách Gia sực tỉnh: Cộng sản sống bằng dối trá và bạo lực. Đó là điều chắc chắn (9).

BẢN ÁN GĐT VỤ HỒ DUY HẢI DZÙ HUỶ ÁN HAY Y ÁN…THÌ ĐỀU VI PHẠM PHÁP LUẬT.

BẢN ÁN GĐT VỤ HỒ DUY HẢI DZÙ HUỶ ÁN HAY Y ÁN…THÌ ĐỀU VI PHẠM PHÁP LUẬT.

Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, luật sư,…mấy ai không nắm được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự:

– Nếu bản án sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm,…mà bị bản án có hiệu lực cao hơn tuyên huỷ; thì Hội đồng xét xử của bản án bị tuyên huỷ không được tham gia Hội đồng xét xử lại vụ án đó.

– Nếu có bằng chứng chứng minh ĐTV, KSV, Thẩm phán không vô tư khách quan khi tiến hành tố tụng của vụ án thì phải bị thay thế.

Như vậy, ông Nguyễn Hoà Bình khi đương nhiệm là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã khẳng định và có văn bản không chấp nhận kháng nghị đối với vụ án Hồ Duy Hải. Nhưng hiện tại, ông Nguyễn Hoà Bình, với tư cách thẩm phán, thành viên Hội đồng thẩm phán, Chánh án TANDTC làm Chủ toạ phiên toà Giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải do có kháng nghị của Viện trưởng VKSND tối cao, sẽ không vô tư khách quan, không được tham gia Hội đồng xét xử vụ án này, đó là việc vi phạm nghiêm trọng pháp luật.

Điều tối thiểu như vậy mà còn không hiểu, tôi định nêu vấn đề này sau khi bản án Giám đốc thẩm được tuyên, nhưng nếu như vậy thì buồn và tốn kém cho nhà nước, mất thời gian và dư luận sẽ như thế nào về Hội đồng TPTANDTC?. Vì vậy, tôi cân nhắc và nêu lên vấn đề này để Hội đồng thẩm phán (17 vị) đang ngồi xét xử vụ án này kịp thời điều chỉnh để nhân dân còn chút tin tưởng vào Toà án NDTC.

Tôi là luật sư và nếu được tham gia phiên toà này, thì lời đầu tiên tôi sẽ đề nghị là mời ông Nguyễn Hoà Bình ra khỏi thành phần Hội đồng xét xử vì lý do nêu trên.

(Ts,Ls. Trần Đình Triển)”

Image may contain: 1 person, standing
Image may contain: 1 person, outdoor

TOÀ GIẤY

Từ Thức
TOÀ GIẤY

Cũng cờ, cũng biển cũng cân đai
Cũng gọi ông toà có kém ai
Mảnh giấy làm nên thân thẩm phán
Nét son điểm rõ mặt tôi đòi
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá hư danh ấy mới hời
Áo đỏ, ghế cao ngồi bảnh choẹ
Tưởng rằng đồ thực hoá đồ chơi

( nhại thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909). Tiến sĩ giấy)

(tuthuc-paris-blog.com)

Tâm sự ông toà:
https://www.tuthuc-paris-blog.com/post/tâm-sự-quan-tòa-1

Image may contain: one or more people, people sitting, table and indoor

ĐƯỜNG GIÊSU, ĐƯỜNG CON ĐI

ĐƯỜNG GIÊSU, ĐƯỜNG CON ĐI

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

Trong những ngày đầu tháng 02 năm 1990, có một con đường ở huyện ngoại thành đã được báo chí làm cho nổi tiếng.  Con đường ấy một đầu là giăng ngang biểu ngữ khai trương phòng vật lý trị liệu trá hình, còn đầu kia là sừng sững một khách sạn mini sang trọng làm nhà riêng của người biển thủ, chức danh là giám đốc.  Con đường ấy chợt nổi tiếng vì những vụ tai tiếng.

Từ hai mươi thế kỷ nay, trong Giáo Hội, người ta biết có một con đường thật danh tiếng và luôn luôn nổi tiếng.  Con đường ấy mở ra bằng một tình thương và kết thúc bằng một hạnh phúc.  Con đường ấy trải dài tin yêu để lâng lâng vươn lên sự sống.  Con đường ấy thấp sáng hy vọng để dẫn tới Nhà Cha trên trời.  Đường mở về miên viễn, Đường dẫn đến vĩnh hằng.  Đó là đường mang tên Chúa Giêsu.

  1. Đường hy vọng tin yêu.

Nếu có một câu hỏi được các Tông đồ đặt ra nhiều nhất thì đó phải là câu hỏi thuộc về nơi chốn.  “Thầy ở đâu?” là câu hỏi của Gioan đặt ra trong lần đầu gặp gỡ, để được gọi đến xem và bước vào ơn gọi; “Thầy muốn chúng con dọn lễ Vượt Qua ở đâu?” là câu hỏi của các Tông đồ đặt ra để có được địa chỉ chính xác cho Bữa Tiệc Ly; và hôm nay lại là Tôma nôn nóng bật ra câu hỏi “Thầy đi đâu?” trước một tương lai vẫn còn ẩn khuất.

Bận tâm về nơi chốn là bởi vì trong đời theo Chúa, các ông luôn được dẫn vào những cuộc hành trình, mà cuộc hành trình cuối cùng là tiến về Giêrusalem để chứng kiến Thầy mình chịu chết.  Có khối ông đã coi đây là con đường thất bại của Chúa để trở thành con đường thất vọng của mình.  Mấy năm dài miệt mài theo Chúa những mong có ngày tả hữu vinh quang, nào ngờ Người lại bị đóng đinh như tên tử tội.  Công dã tràng!  Khi mọi vốn liếng hy vọng đặt cả vào canh bạc cuộc đời, rồi bỗng dưng lật ngửa trắng tay, người ta như rớt từ trên cao quay cuồng chao đảo.  Thế mới hay ước vọng thì rộng lớn nhưng khung đời lại chật hẹp mà thực tế lại phũ phàng!

“Thầy đi đâu?” Ẩn sâu dưới câu hỏi ấy là một tâm trạng hoang mang trước một quá khứ vừa mới khép lại mà tương lai chưa kịp mở ra.  Tương lai ấy mới mẻ hay chỉ là quá khứ đươc lặp lại ở thì sẽ đến?  Đã một lần vỡ mộng, các Tông đồ băn khoăn là chuyện thường tình.  Giống như đứa trẻ lỡ một lần phải bỏng, hễ thấy lửa là tự nhiên rụt tay lại.  Vì thế, nghe trong câu hỏi “Thầy đi đâu?” có âm hưởng lo âu tự hỏi “mình đi đâu?”

Thất vọng về quá khứ và hoang mang trước tương lai, đó là những con đường các Tông đồ đã nếm trải.  Nhưng mở đầu Tin Mừng hôm nay lại là lời của Chúa Giêsu: “Các con đừng xao xuyến.”  Đó là lời an ủi vỗ về, đồng thời cũng là lời cắt băng khai mở một con đường mới trong hy vọng tin yêu.

  1. Đường mang tên Giêsu.

“Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.”  Trả lời cho Tôma, cùng lúc Chúa Giêsu để lộ cho biết từ nay chỉ có một con đường duy nhất được mở ra trong ơn cứu độ, và tên gọi con đường ấy lại chính là Người.

Người là Đường Sự Thật bởi Người là Chân Lý, một chân lý sống động khả tín làm nền tảng và hướng đi cho mọi cuộc đời, một thực tại năng động đầy Thần Khí làm sức mạnh giải thoát cho mọi kẻ tin.  Đường Sự Thật không phải là một hệ thống tín điều do Chúa Giêsu thiết định, nhưng là toàn thể cuộc sống lời nói việc làm của Người trong ý nghĩa cứu độ.  Nhưng đâu phải ai cũng nhận ra?  Giữa phiên tòa dịp lễ Vượt Qua, trước mặt Chúa Giêsu, Philatô đã hỏi một câu ngớ ngẩn: “Sự Thật là chi? – Quid est Veritas?”  Chúa Giêsu không trả lời, vì Sự Thật hiện thân chính là Người đứng đó.  Có biết đâu hỏi là đã trả lời, chỉ cần sắp xếp lại thứ tự các mẫu tự sẽ thành hàng chữ: “Est Vir qui adest” (x. Tihamet Toth, Chúa Cứu Thế Với Thanh Niên, p. 95).

Người là Đường Sự Sống bởi Người là Sự Sống thượng nguồn phát sinh các sự sống khác trong công trình sáng tạo, và là Sự Sống cội nguồn mà mọi sự sống khác phải tìm về trong công cuộc tái tạo của ơn cứu độ.  Người thông ban sự sống cho mọi sinh linh, và luôn đi bước trước để lôi kéo mọi người về với Sự Sống của Thiên Chúa.  Người chịu chết để nhân loại được sống, và Người sống lại để mãi mãi mở ra nẻo đường dẫn vào cõi sống.  Mọi sự sống trần gian có thể đổi thay tan biến, nhưng Sự Sống Người là vĩnh cữu trường tồn.  Người hằng sống hằng trị muôn đời.

Người là Đường dẫn tới Nhà Cha bởi Người và Cha không thể tách lìa: Chúa Con ẩn mình trong Chúa Cha, và Chúa Cha tỏ hiện trong Chúa Con.  Vẫn là Một từ ngàn xưa và mãi là Một tới ngàn sau.  Thế nên Đường mang tên Giêsu tất yếu cũng là địa chỉ Nhà Cha, và ngược lại tìm đến Nhà Cha cũng là hành trình vào Đường Sự Thật và Sự Sống.

  1. Đường con đi.

Dẹp bỏ con đường cũ của thất vọng hoang mang để khai mở con đường mới bằng toàn diện con người mình, Chúa Giêsu muốn truyền lại cho các Tông đồ cái kinh nghiệm hiện sinh phong phú liên kết với Cha qua Chân Lý và Sự Sống; đồng thời đó cũng chính là lời mời gọi Giáo Hội cất bước lên đường với những hành trang đi về hạnh phúc.

Đi trên Đường Giêsu là đi bằng cả niềm tin gắn bó hiệp thông của những con người biết mình có một lý tưởng để theo đuổi, và sẵn sàng hy sinh tất cả để đạt được lý tưởng ấy.  Trút bỏ những hành trang cồng kềnh của danh lợi thú, đoạn tuyệt với những ngõ cụt lối mòn sao gợn sỏi đá của cuộc sống khô khan, chấp nhận canh tân để có được bước đi vừa thanh thót vừa thanh thản của đời nhân đức chính là hát lên khúc ca mới trên con đường mới.  Vì lý tưởng ấy chính là lẽ sống, cũng chính là vinh dự một đời: “Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là chủng tộc thánh thiện, Dân riêng của Chúa…” (bài đọc thứ hai).

Đi trên Đường Giêsu cũng là đi bằng niềm hy vọng bền vững.  “Thầy đi dọn chổ cho các con.”  Vận mệnh tương lai đã mở ra.  Không còn xa xôi tít tắp, nhưng đã châm rễ từ cuộc đời này.  Sống hôm nay là chuẩn bị sống ngày mai, và ngày mai tại Nhà Cha đã được định hình ngay từ bây giờ trong bước đường lữ thứ của Hội Thánh ở giữa lòng đời.  Đi trong hy vọng là nhận ra rằng con người được tạo dựng để hướng về một cứu cánh, được tái sinh trong giới hạn nhưng không ngừng hướng về vô hạn.  Thiết tưởng lời kinh của Thánh Augustinô có thể là tóm kết của bước đi hy vọng đã biến thành khát vọng: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con để cho Chúa, nên con mãi khắc khoải cho tới khi được nghỉ ngơi trong Ngài.”

Đi trên Đường Giêsu còn là đi bằng cả tình yêu chan hòa phục vụ.  Bài đọc thứ nhất là hình ảnh đẹp về một Giáo Hội trẻ đang cựa mình vươn vai tiến tới.  Có những phân công khác biệt: kẻ phục vụ bàn thánh, người phục vụ bàn ăn; kẻ chuyên chăm rao giảng Lời Chúa, người chuyên lo hạnh phúc anh em.  Nhưng vẫn là nhịp bước đồng hành.  Có thể nói được rằng tình yêu và phục vụ là đôi chân của Giáo Hội lữ hành đặt bước chân mình trong dấu chân Chúa.  Và cũng có thể hiểu được rằng cách nhìn “con người là con đường của Giáo Hội” (Gioan Phaolô II) chính là tốc độ mới của tình yêu chan hòa phục vụ trên Đường Giêsu hôm nay.

Và lời cuối cùng sẽ là một lời kinh, dệt nên khúc hát hy vọng cho những ai đang băn khoăn tìm kiếm một con đường sống, và biến nên hành khúc tin yêu cho những ai đã một lần cất bước hành trình: “Chúa muốn nhận con đường con đi, nên Ngài đã sinh xuống dương gian.  Chúa đã nhận đôi bàn tay con, dìu từng bước, bước đi trên đường.  Chúa ôi, khi nhìn đời con, con không hiểu từng giọt lệ sầu.  Chúa ôi, khi nhìn đời Ngài, con đã gặp đường hướng con đi.”

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống (trích trong “Với Cả Tâm Tình”)

Lòng nhân ái, khoan dung ‘chó đẻ’!

Lòng nhân ái, khoan dung ‘chó đẻ’!

HUY PHƯƠNG

Lòng nhân ái, khoan dung ‘chó đẻ’!

HUY PHƯƠNG

Biết nhau qua một thời gian khá dài, trong và ngoài nước, chắc bạn đọc và bằng hữu của chúng tôi công nhận là tôi có thói quen dùng loại văn chương tử tế, chưa bao giờ phải nổi giận, dùng loại văn chương chì chiết, dung tục và thô bạo để diễn tả ý nghĩ của mình.

Nhưng hôm nay, xin tất cả bỏ qua, vì trong trường hợp này, Phật trên tòa sen cũng phải nổi giận, Chúa cũng phải cau mày vì một câu nói hỗn xược, ngang ngược của một viên tướng CSVN tên là Nguyễn Chí Vịnh. Câu nói đó lại được thốt ra trong ngày 30 Tháng Tư năm nay là: “Bảo là không có kẻ thắng người thua là không đúng. Thắng rồi nhưng tôi không có trả thù. Thắng rồi tôi khoan dung. Thắng rồi tôi tạo điều kiện cho anh quay trở lại cuộc sống bình thường. Đó là tấm lòng nhân ái của đảng và nhà nước mình.”

Câu nói này na ná phát biểu của tên tướng “đồ tể” Lê Đức Anh mấy chục năm về trước: “Lòng nhân ái làm nên ngày 30 Tháng Tư, 1975!”

Cả triệu triệu người Việt Nam còn ở trong nước hay đã ra hải ngoại, có mắt thấy tai nghe, đã biết những kinh nghiệm xương máu, thực tế phũ phàng, đã trải qua những ngày dở chết dở sống từ khi quân Bắc Việt tiến chiếm Sài Gòn, như là một đại họa cho dân tộc, như cơn đại hồng thủy nhấn chìm số phận bi thảm của con người, đã cho chúng ta thấy cái đại ác mang mặt nạ “nhân ái, khoan dung,” mà bọn xâm lược Hà Nội dành cho những người thua trận, được Nguyễn Chí Vịnh và Lê Đức Anh ca tụng, chính là thứ nhân ái, khoan dung “chó đẻ,” không hơn không kém.

Nguyễn Chí Vịnh là con trai của Nguyễn Chí Thanh, năm 1975 còn là học sinh trường cấp 3 Lý Thường Kiệt.

Trước hết câu nói của Nguyễn Chí Vịnh là hỗn xược, đã tạt gáo nước lạnh vào mặt những giới chức đi trước, cao cấp, tiền bối của y, là không nhập nhằng gì cả, phải có kẻ thắng người thua.

Trước đó, tướng của Vịnh là Trần Văn Trà đã từng phát biểu: “Đối với chúng ta không có kẻ Thua người Thắng, mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta Thắng Mỹ.”

Võ Văn Kiệt cũng đã từng nói: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu…”

Từ đó đến nay, CSVN luôn luôn hô hào hòa hợp, hoà giải, kêu gọi người Việt hải ngoại xóa bỏ hận thù, quên quá khứ, để cùng nhau bắt tay xây đựng đất nước. Bộ Ngoại Giao CSVN đã lập ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, Hà Nội đã thường xuyên tổ chức Hội Nghị người Việt ở nước ngoài, Sài Gòn tổ chức đoàn văn nghệ phục vụ kiều bào nhân dịp Tết, vinh danh những người bỏ nước ra đi vì chế độ là … “khúc ruột ngàn dặm…,” “máu thịt của tổ quốc,” tất cả đều vì đồng đô la, nghe là lợm giọng! Chúng ca tụng “Những nghĩa cử cao đẹp, trân quý của kiều bào ta thể hiện tinh thần “tương thân tương ái” – vốn là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam!” Gần đây, ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, đã động viên và khen ngợi việc ủng hộ, đóng góp cho công tác phòng, chống dịch COVID-19 của đồng bào nước ngoài. Mặt khác, còn tư duy hận thù, đắc thắng, Nguyễn Xuân Phúc lại kêu gọi “chống dịch phải tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam.”

Trước hết câu nói ngụy biện để bệnh vực cho chế độ của tướng Phát-Xít quân phiệt, Nguyễn Chí Vịnh là “không có trả thù!” Bắn giết, chôn sống, dội nước sôi xuống đầu (*) ngay cả những người đầu hàng, san bằng nghĩa trang của phe thua trận, giam cầm gần một triệu người đối đầu và khác chính kiến vào trại tập trung! Điều này không phải là trả thù và được gọi là khoan dung sao?

Kỳ thị kẻ mới người cũ, phân biệt “gia đình có công với Cách Mạng” với “tàn dư Mỹ Ngụy,” “có nợ máu,” hạn chế con em miền Nam không có cơ hội học hành. Điều này không phải là trả thù và được gọi là khoan dung sao?

Nói đến Cộng Sản Việt Nam là nói đến cái ác. Biểu tượng của lòng nhân ái, khoan dung chính là một cây búa hiện nay đang được trưng bày tại ở bảo tàng quân đội Việt Nam, Hà Nội, được chú thích như sau: “BÚA. Đồng chí Nguyễn Văn Thắng, huyện đội phó huyện Mỏ Cày (Bến Tre) đã dùng để bổ chết 10 tên ác ôn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.”

Một cây búa lừng danh “nhân ái” khác là cây búa “khảo cổ” mà đàn em Lê Duẫn đã dùng để đập đầu Giáo Sư Nghiêm Thẩm, giám đốc Bảo Tàng Viện Sài Gòn, chỉ vì vị giáo sư anh hùng này không chịu hoàn thành đơn đặt hàng của bí thư Lê Duẩn, chứng minh “dân Việt Nam là thủy tổ các dân tộc Đông-Nam Á-Châu!”

Ngay đối với những người dân thường không có “nợ máu,” Bắc Việt với chính sách trả thù nhắm vào nhân dân miền Nam vì “chúng” quá tự do, quá giàu sang, quá sung sướng bằng chính sách tịch thu nhà cửa, cướp cạn tài sản của người giàu, hai lần ăn cướp công khai bằng thủ đoạn đổi tiền, đày ải dân lành đi vùng kinh tế mới. CSVN dùng chính sách hộ khẩu, phân bố lương thực, dân không kiếm ra công ăn việc làm, xô đẩy người miền Nam vào bước đường cùng, phải rời nước ra đi, bỏ thây trên biển cả. Điều này Nguyễn Chí Vịnh chắc không đến nỗi ngu đần mà không nhận ra, nhưng chẳng qua vì tham vọng mà bỏ lương tri, nói cương để được lòng chế độ.

Bây giờ là lúc Nguyễn Chí Vịnh nói huỵch toẹt ra, là không hòa hợp, hòa giải gì cả, là tao thắng là mày thua.

– “Thắng rồi, tôi tạo điều kiện cho anh quay trở lại cuộc sống bình thường.”

Nguyễn Chí Vịnh nếu có đủ trí khôn của thời niên thiếu, hay có đông đủ họ hàng, bạn bè nói lại cho nghe thì cũng biết rằng miền Nam thua trận có hằng trăm ngàn chuyên viên đủ mọi ngành nghề cấp cao, nhiều cán sự lành nghề… nhưng tất cả đều chỉ có một con đường đi cuốc đất, đạp xích lô, bán thuốc lá lẻ, xăng lẻ, vá xe vệ đường hay bôn ba chốn chợ Trời… Nếu không, cũng tìm đường ra đi, để công sở, trường học, nhà máy, công trường… lại cho bọn lợn lòi từ hang động trở về. Chính sách “hồng hơn chuyên” cố chấp, đầu đặc đã là tiêu hao bao nhiêu tài nguyên của đất nước, khi chúng quan niệm “chất xám” trí tuệ không giá trị bằng một nắm phân nơi “vùng kinh tế mới!” Đó là “tạo điều kiện cho anh quay trở lại cuộc sống bình thường” đó ư?

Đúng là “không có kẻ thắng người thua là không đúng,” nhưng bất hạnh cho miền Nam thất trận, không may mắn thất trận vào tay một kẻ hào hiệp để có được một Hiệp Ước Của Người Quân Tử – The Gentlemen’s Agreement- mà mất nước vào tay thảo khấu, lục lâm, mới ra cớ sự “dãi thây trăm họ,” oán hận ngút trời, như sau cuộc chiến tương tàn Việt Nam…

Hôm nay đến ngày 30 Tháng Tư lần thứ 45, người dân miền Nam ai cũng mang một vết thương chưa lành. Bao nhiêu năm qua, chúng ta đã quá hiểu nhau tính cách của nhau. Đây không phải là lúc dùng những luận điệu tuyên truyền trẻ con và xảo trá ấy nữa! 45 năm trôi qua, thời buổi này mà kẻ côn đồ, dao búa còn nói chuyện trịch thượng tha thứ hay cho rằng mình là kẻ khoan dung, nhân ái, thì đây đúng là thứ khoan dung, nhân ái loại “bà Tú Để,” loại “chó đẻ” mà chẳng ai muốn nghe.

Một lần nữa, xin bạn đọc tha thứ nếu chúng tôi đã làm bẩn mắt quý vị, nhưng với loại người ấy, chúng ta không thể dùng một loại từ ngữ nào đúng hơn! Hồn ông Bùi Bảo Trúc có linh thiêng xin về chứng giám!

 
*** 

HÌNH:Các Thương Phế Binh VNCH, những người bị phân biệt đối xử sau 30 Tháng Tư, 1975, đang chờ đợi nhận quà từ thiện tại Chùa Liên Trì, thành phố Sài Gòn ngày 9 Tháng Tư, 2015. Hơn 40 năm sau cuộc chiến Việt Nam, CSVN vẫn cai trị đất nước bằng bàn tay sắt. Nhưng với chủ nghĩa tư bản hoang dã, tham nhũng và bất bình đẳng xã hội, lời tuyên bố “chiến thắng” chỉ là sự trống rỗng. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images).

Image may contain: 1 person, sitting and indoor

Bài học nghiêm khắc từ Covid – 19

Bài học nghiêm khắc từ Covid – 19

Một lần nữa bài học về đạo lý tình người và sự lương thiện đang dần giúp con người chiêm nghiệm và tỉnh ngộ ra. Một trận đại dịch lại có thể phơi bày cùng lúc cả hai hình thái đối lập nhau: Cao cả, nhân văn và phi nhân tính của con người một cách rõ ràng.

Trong thế kỷ 21, khi văn minh đạt đến đỉnh cao, nhất là công nghệ hiện đại và tiện nghi vật chất gần như hoàn hảo, nhu cầu hưởng thụ lại quá đầy đủ, ít ai nghĩ đến có một lúc con người phải đối diện với một thảm cảnh nghiệt ngã như hôm nay – Covid 19, trận dịch lớn nhất lịch sử trong thế kỷ qua, chợt khởi như một cơn ác mộng đã khiến cho nhân loại phải kinh hoàng. Trước khi diễn ra đại dịch toàn cầu, chúng ta tự cho mình là cái rốn của vũ trụ. Chúng ta luôn ảo giác trái đất này như tên nô lệ để phục vụ những yêu cầu của mình một cách bất tận. Lúc bình an và sung túc nhiều người trong chúng ta dễ sanh ra sự ỷ lại, tự mãn, luôn sống trong sự hối hả mà chưa từng nhìn lại, kiểm thảo và chiêm nghiệm cuộc sống, bởi họ xem việc đó là triết lý của thầy tu, của những kẻ bi quan hay những người không đủ khả năng tạo ra đồng tiền.

Vì quá say mê trong sự hưởng thụ xa hoa đã làm cho chúng ta quên đi mình là ai trên hành tinh này? Chân thành mà nói, chúng ta không có gì đáng để kiêu ngạo và tự hào khi mình chỉ là một con nợ – nợ xã hội và nợ ngân hàng thiên nhiên rất lớn. Và cái gì vay mượn thì một lúc nào đó chúng ta cũng phải trả, trả sòng phẳng cả vốn lẫn lời. Đây là quy luật công bằng của vũ trụ, một sự thanh lọc có điều kiện không hề thiên vị. Chỉ cần con vi rút Corona nhỏ bé xuất hiện, nó bắt đầu trở thành phép thử khắc nghiệt cho lòng can đảm, đức hy sinh, tình yêu thương, sự chia sẻ, tính lương thiện hay những thói hư tật xấu, ích kỷ, tham lam, của mỗi con người trong xã hội. Một trận dịch xảy ra, nó vừa là một nguy cơ nhưng cũng vừa là cơ hội để nhắc nhở cho con người thức tỉnh lại, biết nhìn lại mình, biết sống hợp đạo lý, tình người, biết tôn trọng người khác, không còn sống hối hả, mù quáng và bất chấp tất cả nữa.

Khi khó khăn bất ngờ xảy đến chúng ta dễ dàng bộc lộ bản năng. Nhiều hình ảnh rất hiếm thấy ở một số quốc gia trong giai đoạn trước khi dịch Covid – 19 lan tràn, như: một vài người Nhật sẵn sàng đấm đá nhau khi giành mua khẩu trang; hay tại Úc người ta có thể đánh nhau trong siêu thị chỉ vì giành giấy vệ sinh; một cụ già ở thành phố Melbourne nhìn chằm chằm vào kệ siêu thị trống trơn rồi bật khóc sau khi hàng hóa đã bị vơ vét hết; một số người Mỹ cực đoan sẵn sàng đe dọa, mắng chửi, kỳ thị  những người bị nghi ngờ nhiễm virut hay những ai nghiêm túc đeo khẩu trang; một số nước châu Âu có những nhóm người lo sợ thái quá, mất kiểm soát nên kỳ thị và đánh đuổi những người trở về quê hương từ tâm dịch…Trước những hình ảnh đó, hào quang của những đất nước được xem là văn minh, lịch sự đáng ngưỡng mộ đã có dấu hiệu bị lu mờ.

Khi trận dịch toàn cầu diễn ra, nó phá vỡ rất nhiều trật tự trong cái mác văn minh  mà con người đã tự dựng lên và tô vẽ rất mỹ miều. Điều đó cho chúng ta thấy rằng, nếu không xuất phát từ cái tâm có tu tập và đạo đức vốn có thì mọi thứ lịch sự, văn minh đó có vẻ hào nhoáng hơn là giá trị thực, nó được duy trì khi cuộc sống an lành. Lịch sự và nồng hậu trong các dịch vụ khách sạn hay những nơi vui chơi giải trí, đều phải được trả bằng tiền, càng lịch sự bao nhiêu thì người được phục vụ phải trả giá càng cao bấy nhiêu. Nếu không có tiền chúng ta có nhận được sự đãi ngộ như thế không? Những thứ mặt trái luôn tiềm ẩn trong tâm con người chỉ vì chưa có dịp để biểu lộ mà thôi.

Thế giới nói chung hay một xã hội nói riêng cần nương tựa nhau để tồn tại. Con người là một thành phần trong một đại thể, theo triết lý Phật giáo gọi đó là Nhân duyên sinh. Bạn không thể tồn tại độc lập, sự có mặt và tồn tại của người này là điều kiện cần và đủ cho sự có mặt và tồn tại của người kia và ngược lại, kể cả muôn loài. Một đất nước vô cảm, thiếu trách nhiệm, cả thế giới chịu ảnh hưởng. Một người vô cảm, thiếu trách nhiệm, đương nhiên sẽ làm hại nhiều người khác. Thế giới này không phải của riêng ai và không phải để phục vụ cho cá nhân nào (Nothing belong to anyone). Vì vậy, bạn đừng cho rằng mọi thứ trên cuộc đời này chỉ để phục vụ cho sự hưởng thụ của bạn, hay những quốc gia có quyền, có tiền mới đáng sống, còn những quốc gia nghèo nàn, lạc hậu trên thế giới này thì không cần thiết để có mặt . Sự độc quyền của đồng tiền một thời đã đến lúc phải nhường chỗ lại cho cuộc sống cộng đồng, tình thương và đạo lý (Money is not everything). Những cường quốc số một thế giới, với đủ các loại vũ khí sẽ làm được gì trước sự tấn công không khoan nhượng của một con vi rút bé tí; những quốc gia lắm tiền nhiều của thì đang dần kiệt quệ và khủng hoảng trước đối thủ dường như không hề cân sức.

Bạn nên biết rằng, mọi chúng sanh trên cuộc đời, dù là cây cỏ, con kiến, con cá… đều có vai trò bình đẳng cho sự tồn tại trong một trật tự của vũ trụ, không một ai  được sự ưu đãi đặc biệt trong quy luật đó. Vạn vật sinh ra trong tự nhiên để nương tựa vào nhau, cùng sanh cùng diệt cộng hưởng nhau, không thừa không thiếu trong một mắc xích dây chuyền. Hủy hoại một mắc xích cũng là hủy hoại chính mình. Con người cũng chỉ là một mắc xích bình đẳng trong chuỗi trật tự đó. Và, chúng ta cũng sẽ bị phản công một cách tan tác như những gì mà mình đã từng gây ra cho vạn vật trong thế giới này. Con người đã ăn tận diệt những loại ăn côn trùng thì con người phải chịu hậu quả côn trùng độc hại sinh sôi nảy nở lan tràn tấn công. Chính con người đã khiến vô số loài đã tuyệt chủng, đang nguy cơ tiệt chủng thì số phận của chủ nhân gây ra cũng có muôn vàn lý do để đối mặt với sự tiệt chủng tương tự. Biến đối khí hậu môi trường đã khiến loài khủng long từng là vua trên trái đất một thời, bây giờ chỉ còn là những hóa thạch thì con người đang là, nếu không có một kế hoạch dừng hay kìm hãm sự hủy hoại môi trường thì việc tiệt chủng sự sống sẽ được lặp lại trên trái đất này là điều khó tránh khỏi. Đừng than trời trách đất mà chỉ cần bình tĩnh nhìn lại mình thì mới thấy chính con người là một thủ phạm đáng sợ nhất hành tinh!

Vì tham vọng làm giàu và phục vụ nhu cầu hưởng thụ của loài người mà các quốc gia trên thế giới cạnh tranh phát triển ngành công nghiệp đáng kinh ngạc. Hệ quả tất yếu của nó là từ không khí cho đến nguồn nước hầu như đều bị ô nhiễm nặng, hiệu ứng nhà kính báo động từng ngày và mọi hiện tượng bất thường của thiên nhiên xảy đến liên tục, dù có sợ hãi nhưng dường như không mấy ai bận tâm. Loài người chưa từng cám ơn thiên nhiên đã tạo đủ yếu tốt tốt đẹp để mình được tồn tại, trái lại chúng ta khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hủy diệt và trả lại thiên nhiên bằng những chất thải độc hại. Chưa ai trong chúng ta cám ơn những chúng sinh đã nằm xuống cho bữa ăn của mình mà trái lại chúng ta tận diệt chim trời cá nước không chừa bất cứ một chủng loài nào, kể cả trứng và con non. Vì không tôn trọng sự sống của muôn loài, giết chóc bừa bãi và vô nhân đạo thì có lúc chúng ta phải trả giá cho sự lạnh lùng và vô tâm đó. Chúng ta đang hủy diệt sự sống của mình từng ngày trên hành tinh này mà cử ảo tưởng rằng mình đang tận hưởng.  

Lời nhận định của một nhà báo mà tôi rất tâm đắc: “Khi thiên tai địch họa xảy ra, con người thường xót xa coi mình là nạn nhân của tự nhiên, số phận. Mấy ai nghĩ được sâu xa, hàng ngày chính họ cũng góp phần để trở thành hung thủ?”. Đây là lời nhận định rất chính xác, nhằm phản ánh cho tự ngã của con người. Chính  cái “tôi” quá lớn, nên nó đã che mờ cả lý trí để chúng ta không còn nhận ra những khuyết điểm của mình, và mọi thứ cản trở cái “tôi” điều trở thành cái khả ố, đáng ghét, đáng phải bị loại trừ.

Thông thường, con người cứ tưởng mình là loài khôn ngoan và rất mạnh, nhưng thật ra chúng ta chỉ là những sinh vật nhỏ bé, rất mong manh và dễ vỡ trên hành tinh này. Thực tế là chúng ta có thể bỏ mạng một cách dễ dàng chỉ vì một con vi rút rất nhỏ đến độ không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Nếu so với vũ trụ, chúng ta chỉ bằng một con vi rút đang ngo ngoe dưới kính hiển vi. Mọi hành vi và tính chất của chúng ta, vũ trụ đều giám sát và phân tích như một nhà bác học y khoa đang phân tích vi trùng trong từng giây một.

Xác thân của người vốn được nâng niu, tâng bốc, tôn trọng trước và sau khi chết như một đạo lý truyền thống ở mỗi quốc gia. Khi trận dịch xảy ra, vi rút Covid có sự lây lan khó lường nên hầu như ai cũng sợ hãi, kể cả người trực tiếp làm nhiệm vụ thì nỗi sợ hãi lại càng lớn hơn vì có nguy cơ lây nhiễm cao hơn. Thông qua báo đài, chúng ta có dịp chứng kiến nhiều hình ảnh thương tâm xảy ra nhiều nơi trên thế giời: Tại Tây Ban Nha, các bệnh viện đều quá tải, nơi phòng cấp cứu, các Bác sĩ phải chọn để bệnh nhân nào chết, vì có quá nhiều người đang hấp hối cùng lúc, và ưu tiên cho người trẻ bởi họ có cơ hội sống sót cao hơn. Một số người già nhiễm bệnh bị bỏ mặc tại nhà đến chết. Một vài quốc gia xử lý thi thể của người nhiễm bệnh qua đời một cách nhanh gọn không còn được tổ chức nghi lễ trang nghiêm, không còn ai đưa tiễn bằng những lời khóc than hay kèn trống nhạc. Họ ra đi trong sự lạnh lùng, sợ hãi trên những chiếc xe tải quân đội chở tử thi đi hỏa thiêu hoặc những hố chôn xác tập thể trước sự bất lực, vô vọng của người thân. Nhiều bệnh nhân nhiễm vi rút Corona cảm nhận được họ sắp ra đi, họ khẩn cầu Bác sĩ cho họ được trò chuyện với con cháu lần cuối, nhìn mặt người thân để trăn trối hay nói lời vĩnh biệt. Tuy đau nhói tim can nhưng Bác sĩ đành bất lực! Họ cô độc đi từ giường bệnh đến lò thiêu. Họ có mang theo được những gì mà họ đã từng lao nhọc kiếm tiềm đi theo bên mình để làm hành trang hay chỉ mang bao nỗi niềm hối tiếc, ân hận, đau khổ và sợ hãi. Lúc đó chúng ta mới thấm thía đạo lý gia đình, sự yêu thương, quan tâm chăm sóc cho nhau nó thiêng liêng và quan trọng thế nào trong kiếp nhơn sinh tạm bợ này!

Một lần nữa  bài học về đạo lý tình người và sự lương thiện đang dần giúp con người chiêm nghiệm và tỉnh ngộ ra. Một trận đại dịch lại có thể phơi bày cùng lúc cả hai hình thái đối lập nhau: Cao cả, nhân văn và phi nhân tính của con người một cách rõ ràng. Chúng ta có thêm nhiều bài học sâu sắc về tình yêu thương nhân loại, sự giúp đỡ nhau trong một cộng đồng, lòng hy sinh trong những hoạn nạn luôn là điểm son quý báu nhất, là thước đo chính xác nhất cho giá trị đạo đức nơi mỗi con người.

Lời Phật dạy luôn là chân lý: Nhận thức được triết lý Vô thường để không chủ quan cho sự vĩnh cửu của mọi thứ trên cuộc đời, nhất là mạng sống; nhận thức được Nhân duyên sinh để không hoang tưởng mình là cái rốn của vũ trụ; nhận thức Nhân quả để không sống liều lĩnh, mù quáng; thực tập từ bi để có tình thương yêu, tôn trọng sự sống của muôn loài và cùng chia sẻ nỗi thống khổ của chúng sanh; và tu tập để đạt đến Giác ngộ là đỉnh cao trí tuệ, vượt trên tất cả mọi thứ tri thức thông thường và vật chất tạm bợ trên thế gian này. 

Mọi việc rồi cũng sẽ qua đi nhưng vết thương của nó để lại không hề nhỏ. Nó sẽ là một dấu ấn khó phai của một kiếp người khi một lần đối mặt và trải qua. Và chính lúc này đây, chúng ta thấy rằng, sự chia rẽ, hận thù hay ích kỷ, độc tài dựa trên tiền bạc và vũ lực là cái yếu, chỉ có đạo đức, lòng nhân ái, tình bao dung và tính lương thiện của con người mới là sức mạnh, mới có đủ yếu tố và năng lượng tích cực để nối kết con người gần lại với nhau, giúp nhau tồn tại, vượt qua mọi thách thức để sống trong hòa bình và hạnh phúc.

Phước Tiến

From:TU PHUNG