Thảm trạng cuộc đời – Chết trong Chúa

Thảm trạng cuộc đời – Chết trong Chúa

 Thanh Quảng sdb

 16/May/2020

Đứng trước nhiều cái chết kinh hoàng của cơn đại dịch hiện nay, con số nhiễm đã lên quá 4 triệu rưỡi và con số tử vong hơn 300 ngàn, tại nhiều nơi!

Những hình ảnh người nhiễm bệnh bị cách ly không được gặp gỡ người thân và rồi chết trong cô quạnh một mình, không một lời từ biệt trăn trối…

Nhiều hình ảnh cho thấy để giải quyết số người chết quá nhiều, người đã tận dụng tối đa các lò thiêu mà không giải quyết được, đành phải cho xe ủi đất, đào các hố chôn tập thể…

Và rồi ngay cả trước cái chết bình thường của người thân của chúng ta, nhưng vì hoàn cảnh, chúng ta không thể hiện diện vì không gian trắc trở, vì lệnh đóng cửa biên giới và các chuyến vận hành du lịch đều bị hủy hoãn vô thời hạn…

Hoặc trong hoàn cảnh quy luật giới hạn các cuộc tu họp đông người dưới bất cứ hình thức hay lý do nào, chẳng hạn đám cưới hay ma chay số người tham dự bị giới hạn… Làm sao không đau lòng cho những người con, người cháu, chắt hay thân bằng quyến thuộc không thể tham dự các nghi lễ mừng vui trong đám cưới; đặc biệt tiễn đưa người thân trong các tang lễ…

Trước những hoàn cảnh bi thương hiện nay, chúng tôi xin gửi tới quí vị bài viết “Không ai chết mà bị lãng quên trong Chúa Kitô” của linh mục Federico Lombardi, hầu tìm ra một lối vươn lên, một đường tiến tới và một sự an bình cho cuộc sống…

Chết trong Chúa…

Bài viết thứ tư với nhan đề: “Không ai chết mà bị lãng quên trong Chúa Kitô” trong loạt bài “Cuộc sống siêu vượt trên cơn đại dịch” của cha Federico Lombardi.

Một trong những gia sản tinh thần quí báu của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II để lại là Ngài làm hồi sinh và sống lại những mẫu gương của các anh hùng tử đạo trong thế kỷ 20 này.

Chắc chắn khi cầu nguyện với Chúa, chúng ta nhớ đến số phận của vô số các nạn nhân, cả nam lẫn nữ thuộc mọi chủng tộc, thời gian và không gian đã hiến mạng sống qua nhiều thảm trạng cuộc đời như bỏ mình trên rừng sâu hay trong biển cả bao la, qua các cuộc giao tranh, hay trong lúc thanh bình. Nhiều người đã chết trong cô đơn, chết vì bạo lực hoặc vì một thảm họa nào đó…

Có những tiếng kêu than đau đớn thét lên trong cõi thinh lặng từ đất mẹ ở khắp mọi nơi trên thế giới mà những người có tai tinh tế sẽ nghe và nhận ra hàng triệu, thậm chí hàng tỷ người đã bị lãng quên – tiếng khóc than của bao người bị lãng quên! Nhân danh họ và với họ, chúng ta muốn cất lên tiếng kêu cầu lòng thương xót bao la của Chúa.

Hình ảnh những cỗ quan tài xếp đầy trong các nhà thờ ở Bologna, Ý hay những ngôi mộ tập thể gần New York, Hoa kỳ làm chúng ta suy nghĩ… có rất nhiều người, đặc biệt những người già, đã chết trong sự cô đơn, cô độc trong những tháng qua, đã chạm tới tâm lòng chúng ta một các sâu sắc. Không chỉ trên phương diện cảm tính tự nhiên thương cảm như của những người thân trong gia đình, đã mất những người thân; mà còn trong mầu nhiệm hiệp thông thân mình huyền nhiệm của Chúa Kitô với tha nhân nữa…

Tất cả những thực trạng trên giúp chúng ta, một lần nữa hiểu và trân quí những liên đới gần gũi quý giá và tình cảm chân thành trong những lúc ốm đau, trong tuổi già và bệnh hoạn… Nhưng nó cũng giúp chúng ta nhận chân ra được một thực tại, đó là đứng trước cái chết của chính mình hay của bất luận ai thì chiều kích cô đơn cô độc luôn có đó… Vào cuối đời, giữa lúc cô đơn, thì sự gần gũi của những người thân là điều vô cùng quan yếu!

Làm thế nào chúng ta có thể chuẩn bị giây phút đó, cho chính chúng ta hay cho người thân yêu của chúng ta? Làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi nỗi thống khổ nếu bị rơi vào thảm trạng này?

May mắn thay, chỉ vài tuần trước đây, chúng ta mới cử hành lễ Phục sinh của Chúa Giêsu. Chắc chắn, chúng ta có thể sống mầu nhiệm phục sinh đó hằng ngày bằng cách kết hợp một cách bí tích và thiêng liêng với Chúa Giêsu qua việc rước lễ thiêng liêng; đó là sống mầu nhiệm Thứ Sáu Tuần Thánh và Thứ Bảy tuần Thánh một cách đặc biệt. Cái chết ê chề nhuốc khổ của Chúa Giêsu nói lên cái cảm nghiệm của một con người bị bội phản, bị Thiên Chúa bỏ rơi, như chúng ta thấy lời Thánh vịnh mà Chúa Giêsu đã kêu lên từ cây Thánh Giá “Lạy Cha, sao Cha lại bỏ con!” Rồi những phút giây thân xác đó được chôn vùi cách vội vã trong huyệt mộ! Chúa Giêsu đã xuống xuống ngục tổ tông cho thấy Ngài đã sống trọn kiếp người, liên đới với anh chị em đồng loại qua cái chết. Chúa như nhắn gửi chúng ta một điều là ‘không ai chết, bất kể ở đâu và lúc nào, trong cảnh trạng nào đi nữa như trong cơn đại dịch, sẽ không bị lãng quên. Chúa Giêsu thực sự đã chết, giống như họ, và Ngài chết với họ…

Nhưng sau cái chết, Chúa được mai táng và phục sinh, thì cái chết không còn như trước nữa như thánh Phaolô đã kêu lên: “Hỡi tử thần, nọc độc của ngươi ở đâu?”. Chúa Giêsu đã chiến thắng tử thần, Chúa cho thế gian biết: Tình yêu của Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn sự chết. Và điều này đã thắng vượt mọi nỗi cô đơn cô độc. Cho nên trước cái chết, chúng ta hãy tín thác và trao phó mọi sự vào vòng tay yêu thương của Cha chúng ta.

Vài ngày trước đây, một trong các Thánh lễ tại nguyện đường thánh Marta, Đức Phanxicô đã suy niệm về cuộc đàm đạo giữa Chúa Giêsu với ông Nicodemô và Đức Thánh Cha mời gọi mọi người hãy nhìn lên Đấng bị đóng đinh, chính Ngài là trung tâm của đức tin và của đời sống Kitô hữu chúng ta.

Những ai đã từng nhìn thấy hình ảnh Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đứng ôm cây gậy Thánh giá trong Vương cung thánh đường vài ngày trước khi Ngài qua đời, hay trong các cuộc đi đàng Thánh giá tại hí trường Colosseum, hay trong các nghi thức suy tôn Thánh giá vào các ngày Thứ Sáu Tuần Thánh thì không thể quên được các hình ảnh đó. Không có cách nào chuẩn bị cho mình sống chết tốt đẹp hơn là nhìn vào Đấng bị đóng đinh, Người chết vì chúng ta và cho chúng ta. Với trọn vẹn trái tim, chúng ta hãy phó thác mọi sự trong vòng tay nhân ái của Thiên Chúa. Vì vậy, dù sống hay chết, với Chúa Giêsu chúng ta không còn lo sợ, vì chúng ta được tháp nhập vào mầu nhiệm tình yêu và lòng thương xót của Chúa… Có thế chúng ta mới cảm nghiệm được như thánh Phanxicô, không còn run sợ trước cái chết, mà còn coi cái chết như người em gái rất thân thương của cuộc đời mình.

Trong cơn đại dịch coronavirus hay bất luận cảnh trạng nào, sự chết có đến với chúng ta, chúng ta đừng quên rằng, nhờ Chúa Giêsu mà sự chết không phải là phán quyết cuối cùng… Mọi sự trong cuộc sống chúng ta, ngay cả giây phút biệt ly tang tóc và cái chết ê chề đi nữa… Tất cả sẽ không bị quên lãng và không bị rơi vào hư vô, nhưng tất cả đều nằm trong vòng tay từ ái của Thiên Chúa, Cha chúng ta.

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa | Tiếng Dân

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa

Bởi  AdminTD

Đào Tăng Dực

18-5-2020

Việt Nam không phải là một quốc gia có một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên như các quốc gia dân chủ trên thế giới. Chính vì thế hệ thống pháp lý của Việt Nam là “Pháp chế xã hội chủ nghĩa”, không phải là chế độ pháp trị bình thường như tại các quốc gia dân chủ.

Lý do pháp chế xã hội chủ nghĩa khác biệt với chế độ pháp trị bình thường là vì sự vắng bóng của yếu tố hiến định (tức là tính tối cao của một hiến pháp nghiêm chỉnh, thay vì tính tối cao của điều lệ đảng CSVN) và sự vắng bóng của yếu tố đa nguyên (tức sự hiện diện của đối lập chính trị hầu giám sát hoạt động của đảng CSVN).

Sự vắng bóng của hai yếu tố này đưa đến sự lệ thuộc của hệ thống tư pháp, gồm các tòa án vào sự lãnh đạo chính trị của đảng và từ đó, thiếu yếu tính độc lập và công lý có thể bị bức tử dễ dàng.

Chính vì thế, không những anh Hồ Duy Hải mà bất cứ công dân Việt Nam nào khác, đứng trước vành móng ngựa của một tòa án theo pháp chế xã hội chủ nghĩa này, cũng có xác xuất chịu một số phận như nhau.

Tuy nhiên, lý do chúng ta chú tâm nhiều đến vụ án này, ngoài tính nghiêm trọng của nó vì liên quan đến tội cố sát và án tử hình, là vì những vi phạm không những các nguyên tắc luật pháp bình thường tại các quốc gia dân chủ, mà nó còn vi phạm ngay cả những thủ tục pháp lý của pháp chế xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam nữa.

Trước khi phân tích và đánh giá vụ án này, chúng ta xác định các sự kiện như sau, theo Wikipedia Việt Ngữ:

“1. Thảm sát xảy ra ngày 13/01/2008:

Tại Bưu điện Cầu Voi, ấp 5, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Trong đó, hai nữ nhân viên bưu điện tên Nguyễn Thị Ánh Hồng (sinh năm 1985) và Nguyễn Thị Thu Vân (sinh năm 1987) bị giết bằng cách cắt cổ.

  1. Ngày 21 tháng 3 năm 2008, nghi phạm Hồ Duy Hải sinh năm 1985 bị bắt
  2. Qua hai lần xét xử sơ thẩm (năm 2008 tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An) và phúc thẩm (năm 2009 tại Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh), Hồ Duy Hải bị kết án tử hình về tội giết người, 5 năm tù về tội cướp tài sản, tổng hợp hình phạt là tử hình. Tuy nhiên, gia đình Hồ Duy Hải liên tục kêu oan.
  3. Năm 2011, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình quyết định không kháng nghị vụ án.
  4. Năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bác đơn xin ân xá của Hồ Duy Hải. Sau đó, trước sự phản đối mạnh mẽ của dư luận trong nước và quốc tế cũng như Quốc hội Việt Nam, năm 2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ra lệnh tạm dừng thi hành án tử hình đối với Hồ Duy Hải.
  5. Ngày 22 tháng 11 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam Lê Minh Trí kháng nghị giám đốc thẩm vụ án, sau khi nhận được đề nghị xem xét giải quyết đảm bảo đúng pháp luật vụ án từ Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2019
  6. Ngày 8 tháng 5 năm 2020, sau 3 ngày xét xử giám đốc thẩm vụ án, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua bỏ phiếu công khai, quyết định không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  7. Đây là một vụ án có nhiều vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án như:
  8. Thay đổi vật chứng;
  9. Bỏ sót các chứng cứ pháp y như vân tay, vết máu tại hiện trường;
  10. Bỏ qua một số bản khai cung không nhận tội của bị cáo
  11. Tuy nhiên Tòa án nhân dân tối cao nhận định những vi phạm pháp luật này không làm thay đổi bản chất của vụ án nên không cần thiết phải hủy các bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra lại theo kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
  12. Tại thời điểm xảy ra vụ án, nạn nhân Nguyễn Thị Ánh Hồng đang có mối quan hệ tình cảm với ba người đàn ông: Nguyễn Mi Sol (người yêu cũ), Nguyễn Văn Nghị (người yêu mới) và một kĩ sư tên Trung (bạn mới quen). Trần Văn Chiến và Nguyễn Tuấn Anh đang theo đuổi Hồng.”

Thành viên Hội Đồng Thẩm Phán gồm 17 người và chủ tịch Hội Đồng là thẩm phán Nguyễn Hòa Bình, người mà năm 2011, trong chức vụ viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, đã quyết định không kháng cáo vụ án này.

Một các tổng quát thế giới đương đại có hai hệ thống tư pháp thịnh hành, một là hệ thống tư pháp phát xuất từ Anh Quốc theo truyền thống Common Law căn cứ nhiều trên án lệ và hai là hệ thống phát xuất từ Pháp gọi là Code Napoleon hay Civil Code, chịu ảnh hưởng của cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, căn cứ nhiều trên luật thành văn.

Hệ thống luật pháp Cộng Sản tuy gọi là pháp chế xã hội chủ nghĩa, và không còn yếu tố độc lập và vô tư của Civil code hiện hành tại Pháp hoặc phần lớn các quốc gia lục địa Âu Châu, nhưng chịu ảnh hưởng của Liên Xô cũ và qua Liên Xô cũ, chịu ảnh hưởng của Civil Code nhiều hơn.

Tuy nhiên cả Common Law (Anh Quốc, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Tân Tây Lan…) lẫn Civil Code (Pháp, các nước lục địa Âu Châu, các cựu thuộc địa các quốc gia trên) đều tôn trọng những nguyên tắc nền tảng sau đây:

  1. Các khái niệm giả định vô tội (presumption of innocence) và trách nhiệm chứng minh (onus of proof):

Một bị cáo tự thể được giả định là vô tội (presumption of innocence) và trách nhiệm chứng minh (onus of proof) một bị cáo có tội hầu kết án về hình sự là trách nhiệm của Công Tố Viện (Prosecutor’s Office), trong trường hợp của Việt Nam là Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, không phải trách nhiệm của bị cáo.

Tuy bị cáo có thể nêu ra chứng cớ phản bác những chứng cớ của Viện Kiểm Sát và chứng minh sự vô tội của mình, nhưng chỉ cần VKS bày tỏ nghi vấn về phẩm chất của chứng cứ đã trình tòa, hoặc minh thị rút lại chứng cứ, thì nguyên tắc “giả định vô tội” lập tức được kích hoạt và tòa án không còn sự chọn lựa nào ngoài hủy án, tái xét hoặc tha bổng cho bị cáo.

Trong trường hợp của Hồ Duy Hải, một khi vào “ngày 22 tháng 11 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam Lê Minh Trí kháng nghị giám đốc thẩm vụ án, sau khi nhận được đề nghị xem xét giải quyết đảm bảo đúng pháp luật vụ án từ Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2019” thì điều này chứng minh có nhiều khiếm khuyết về phẩm chất cũng như số lượng chứng cứ đưa đến việc kết án,và Ông Nguyễn Hòa Bình cũng như 16 vị thẩm phán TANDTC còn lại không có sự chọn lựa nào ngoài chấp nhận kháng nghị của VKS, hủy bỏ bản án, tái điều tra và tái xử hoặc tuyên bố Hồ Duy Hải vô tội.

  1. Cấp độ chứng minh (standard of proof):

Vấn đề chứng cứ trong một phiên tòa, dù là những phiên tòa dân sự hay hình sự cũng vô cùng quan trọng, nhất là về hình sự thì lại càng nghiêm khắc hơn.

Phiên xử Hồ Duy Hải cho thấy nhiều khuyết điểm về chứng cứ như:

  1. Thay đổi vật chứng;
  2. Bỏ sót các chứng cứ pháp y như vân tay, vết máu tại hiện trường;
  3. Bỏ qua một số bản khai cung không nhận tội của bị cáo

Trong hệ thống hình sự Common Law có 2 cấp độ chứng cứ rõ rệt trước khi tòa tuyên phán. Cấp độ chứng minh trong các phiên tranh tụng dân sự là “có xác xuất phải chăng” (On the balance of probability) có thể đồng nghĩa với xác xuất một sự kiện xảy ra trên 50% là thắng kiện. Tuy nhiên trong một phiên tòa hình sự thì cấp độ chứng minh phải là “Không còn lý do chính đáng để nghi ngờ” (Beyond Reasonable Doubt) có nghĩa một người phải chăng (reasonable person) không còn lý do để nghi ngờ tội phạm của một bị cáo. Hầu như xác xuất là 90% hay hơn nữa.

Hệ thống tư pháp Civil Code tại Pháp và Âu Châu khác với Anh Quốc và Hoa Kỳ ở điểm then chốt này. Trong cả dân sự lẫn hình sự, cơ quan hoặc cá nhân trách nhiệm phải thuyết phục quan tòa đến mức độ quan tòa đạt đến một “sự thuyết phục thâm tâm” (intime conviction) trước khi phán quyết. Ý niệm “thuyết phục thâm tâm” này buộc quan tòa phải xét đến tất cả mọi chứng cứ từ lời nói, văn kiện, khoa học, tâm lý v.v… và quyết định trong khi ý thức hoàn toàn tính chủ quan của chính vị thẩm phán.

Tuy về dân sự, cấp độ quan tòa phán xét một vụ tranh chấp căn cứ trên nguyên tắc “sự nổi bật của chứng cứ” (preponderance des preuves). Nhưng sự nổi bật của chứng cứ này không phải tương xứng với ý niệm “có xác xuất phải chăng” trong Common Law mà đòi hỏi một cấp bực chứng cứ tương đối cao hơn. Chính vì thế tranh tụng về dân sự tại Pháp đòi hỏi nhiều chứng cứ hiển nhiên hơn tại Anh hay Hoa Kỳ như giao kèo thành văn chẳng hạn.

Trong khi đó, trong một phiên xử hình sự, tuy mức độ “thuyết phục thâm tâm” áp dụng, nhưng dĩ nhiên vì hình sự liên hệ đến sự tự do và đôi khi tính mạng của một công dân nên, trong thực tế, yếu tố “nổi bật của chứng cứ” sẽ cao hơn và tương tự với “beyond reasonable doubt”.

Chính vì thế trong trường hợp của Hồ Duy Hải, nếu đứng trước một pháp đình nghiêm chỉnh trong truyền thống Common Law lẫn Civil Code, Hồ Duy Hải đều vô tội vì những chứng cứ nhiều khuyết điểm như thế sẽ không đủ sức thuyết phục một Bồi Thẩm Đoàn “beyond reasonable doubt” tại Anh Quốc hay Hoa Kỳ và cũng sẽ không thể thuyết phục một Thẩm Phán hay Thẩm Phán Đoàn tại Pháp đến mức độ “intime conviction” và Hồ Duy Hải sẽ được tuyên bố vô tội tại cả 2 pháp đình.

Thêm vào đó, vì cấp độ chứng minh của cả 2 khái niệm “beyond reasonable doubt” hoặc “intime conviction” trong án hình sự rất cao, nên sự hiện hữu của những nghi can khác (như Nguyễn Mi Sol (người yêu cũ), Nguyễn Văn Nghị (người yêu mới) và một kĩ sư tên Trung (bạn mới quen). Trần Văn Chiến và Nguyễn Tuấn Anh đang theo đuổi Hồng) hầu như chắc chắn sẽ làm các vị thẩm phán vô cùng nghi ngờ phẩm chất các chứng cớ về tính tội phạm (criminality) của Hồ Duy Hải và xác xuất trắng án của bị cáo lại càng cao hơn nữa.

  1. Khái niệm xung đột quyền lợi (conflict of interests)

Đây là một khái niệm then chốt của công lý nhân loại đương đại, phát xuất từ một phiên tòa tại Anh Quốc năm 1924 và xuất xứ của một câu châm ngôn lừng danh trong giới luật sư và thẩm phán thời đại.

Đó là câu:

“Justice must not only be done, but must be seen to be done” dịch ra tiếng Việt là “Công lý không những phải được thực thi, mà phải làm sao cho mọi người nhìn thấy nó được thực thi” của Chánh Thẩm Phán Lord Chief Justice Hewart trong phiên xử R v Sessex Justices, ex parte McCarthy, năm 1924.

Phiên xử này quy định những nguyên tắc nền tảng liên hệ đến tính vô tư và sự vắng mặt cần thiết của các thẩm phán khi có xung đột quyền lợi.

Chính vì thế thẩm phán Nguyễn Hòa Bình và 16 vị Thẩm Phán trong phiên xử Hồ Duy Hải cần học hỏi phiên xử này.

Theo Wikipedia Anh ngữ, thì phiên xử được tóm lược như sau:

“Năm 1923 một người đi xe gắn máy là McCarthy dính vào một tai nạn xe cộ và bị truy tố trước tòa về tội lái xe gây nguy hiểm (dangerous driving). Cả bị cáo lẫn luật sư của ông đều không biết thư ký của các chánh án là thành viên của một cong ty luật đại diện trong một phiên xử dân sự chống lại McCarthy đòi bồi thường thiệt hại liên hệ tới tai nạn xe cộ này. Các quan tòa kết tội McCarthy sau đó. Sau khi biết được quan hệ trên của thư ký này thì McCarthy kháng cáo yêu cầu hủy án. Các quan tòa nộp một văn kiện hữu thệ xác định họ đã phán quyết kết án bị cáo nhưng không hề tham khảo người thư ký này”.

Theo chánh thẩm phán Lord Chief Justice Hewart này thì tuy các thẩm phán xử án thực sự vô tư, nhưng chỉ cần hình thức bề ngoài có vẻ không vô tư thì công lý đã không được thực thi rồi.

Chính vì thế ngài đã phải hủy bản kết án và phán xét này đã đi vào lịch sử.

Khi nguyên tắc này áp dụng cho Hồ Duy Hải thì 2 sự kiện:

  1. Một là ông Nguyễn Hòa Bình vào năm 2011 làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quyết định không kháng nghị vụ án và;
  2. Hai là ông ngang nhiên trở thành Chánh Thẩm Phán trong phiên xử ngày 8 tháng 5, 2020, đã vi phạm trầm trọng nguyên tắc xung đột quyền lợi (conflict of interests) vô cùng hiển nhiên và cũng vì thế sự phán xét của tòa bị hoen ố toàn diện khi ông làm chánh thẩm.
  3. Tương quan nghiêm chỉnh giữa Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (BLTTHS) và Bộ Luật Hình Sự (BLHS).

Một trong những lập luận rất lạ lùng của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao là những vi phạm pháp luật liên hệ đến Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, khi truy tìm chứng cứ của Công An không làm thay đổi bản chất của vụ án nên không cần thiết phải hủy các bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra lại theo kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Khi lập luận như thế 17 vị thẩm phán này đã lập luận không phải như những luật gia, mà như những đảng viên trung kiên của ý thức hệ Mác Lê.

Trong khi tương quan giữa BLTTHS và BLHS không những là một tương quan có tính phương tiện và cứu cánh (means and end), mà kèm theo đó là một tương quan có tính nhân quả (cause and effect).

Một mặt BLTTHS cần phải được tuân thủ nghiêm cẩn hầu bảo đảm phẩm chất của chứng cớ (phương tiện) và đạt đến mục tiêu công lý của BLHS (cứu cánh).

Mặt khác nếu không có chứng cớ phẩm chất cao qua tuân thủ BLTTHS (nguyên nhân) thì công lý như quy định trong BLHS sẽ không được thực thi (hậu quả).

Không những trong chế độ pháp trị dân chủ chân chính mà ngay cả dưới chế độ pháp chế xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, nguyên tắc này phải được mọi luật gia đả thông.

Chính vì thế, điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

Lập luận nêu trên của 17 vị thẩm phán là lập luận cố hữu của các đảng viên CS giáo điều tức “cứu cánh biện minh cho phương tiện”.

Vì họ đã cả quyết Hồ Duy Hải là có tội thì BLTTHS chỉ là một phương tiện, nếu không cần thiết thì vứt đi, vì mục tiêu đã đạt được.

Câu hỏi chúng ta đặt ra là:

Tại sao những quan tòa tối cao của đất nước lại có thể quan niệm về luật pháp lạ lùng như thế?

Câu trả lời đơn giản là dưới trật tự chính trị Mác Lê và pháp chế xã hội chủ nghĩa, các thẩm phán, thay vì là những luật gia uyên bác và vô tư thì chỉ là những đảng viên thuộc các phe nhóm, được gài ghép vào những vị trí hầu ban thưởng hoặc củng cố quyền lực, hoàn toàn không đủ phẩm chất của những thẩm phán nghiêm chỉnh như tại các quốc gia pháp trị nghiêm minh.

Ngay cả trong trường hợp Hồ Duy Hải được tái thẩm đúng theo công lý hoặc phán xét vô tội, thì số phận của nhân dân Việt vẫn không được cải thiện, trừ khi một hệ thống pháp lý nghiêm chỉnh được hình thành tại Việt Nam trong phạm trù của một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính.

BAOTIENGDAN.COM

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa | Tiếng Dân

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa Bởi AdminTD – 18/05/2020 Đào Tăng Dực 18-5-2020 Việt Nam không phải là một quốc gia có một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên như các quốc gia dân ch…

TÌNH BẠN TRONG ĐỜI

TÌNH BẠN TRONG ĐỜI

Dù đã sẵn sàng hay còn chưa chuẩn bị, nhưng rồi một ngày kia, chúng ta cũng phải chia tay thế giới này.

Tiền bạc, danh vọng, quyền lực, tất cả với ta cuối cùng cũng sẽ trở thành vô nghĩa. Còn ý nghĩa chăng là những gì ta tạo ra đối với thế giới này. Vậy điều gì là thật sự quan trọng lưu lại dấu ấn của ta trong cuộc sống?

Quan trọng không phải là những thứ bạn mang theo, mà là những gì bạn đã chân thành đóng góp cho tha nhân.

Quan trọng không phải là những thứ bạn nhận được mà là những gì bạn đã cho đi.

Quan trọng không phải là những thành công bạn đã có được trong cuộc đời, mà là ý nghĩa thanh cao của chúng.

Quan trọng không phải là những thứ bạn học được, mà là những gì bạn đã truyền lại cho người khác.

Quan trọng không còn là năng lực của bạn, mà chính là những gì mà bạn đã cư xử với mọi người xung quanh.

Quan trọng là những khoảnh khắc cử chỉ, thái độ mà bạn đã vô tình hay cố ý khắc ghi trong lòng người khác, khi cùng chia sẻ với họ những lo âu, phiền muộn, khi bạn an ủi và làm yên lòng họ bằng cách riêng nào đó của mình, hay chỉ đơn giản là một nụ cười hoan hỹ hay một cái nắm tay, đỡ cho một người khỏi ngã.

Quan trọng không chỉ là những ký ức, mà phải là ký ức về những người đã yêu thương bạn.

Quan trọng đâu chỉ là bạn sẽ được mọi người nhớ đến trong bao lâu, mà là họ nhớ GÌ về bạn (tốt hay xấu).

Quan trọng không phải là bạn quen biết thật nhiều người, mà là bao nhiêu người sẽ đau xót khi mất bạn trong đời.

Vậy thì, bạn ơi, hãy nhìn cuộc sống bằng ánh mắt yêu thương và hiểu biết. Bởi vì, chỉ có tình yêu thương, sự hiểu biết mới đem lại những điều kỳ diệu cho cuộc sống, bạn ạ.

From: TU-PHUNG

Đầy tớ của nhân dân như thế đấy…

Đầy tớ của nhân dân như thế đấy …

Hình ảnh đẹp của đàn ông American

Nghe nói bức ảnh này, phía sau bức tường lửa trong Trung Quốc Đại Lục đang bị nhanh chóng xóa bỏ

Bởi vì ông Mike Pompeo đang đứng rửa bát, còn phu nhân là bà Susan đang ngồi tại bàn bên cạnh chơi bài, hình ảnh này khiến cho người Trung Quốc vô cùng kinh ngạc, hóa ra một người chức cao vọng trọng như vậy lại đích thân làm việc nhà, không như những quan chức cấp cao của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa phải có bảo mẫu lo.

Ông Ngoại trưởng còn là học viên Học viện quân sự West Point đầu tiên tốt nghiệp Tiến sĩ Harvard, chứ không giống như ông Tập Cận Bình “vác 100 cân lúa mì mà không cần đổi vai.”

KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT…

* Tổng thống Cộng hòa Croatia: Kolinda Grabar – Kitarovics:

– Đã bán phi cơ riêng của tổng thống, bán 35 xe Mercedes Benz của văn phòng tổng thống đưa vào ngân sách quốc gia.

– Đã giảm 50% lương của mình và các bộ trưởng.

– Đã giảm 40% lương các đại sứ, các tổng lãnh sự quán.

– Đã xóa quỹ hưu trí dành riêng cho các đại biểu quốc hội.

– Biết và nói 7 ngoại ngữ và sống bình dị như tất cả mọi người.

– Từ khi bà giữ chức tổng thống, GDP của Croatia tăng 24%.

Một nữ chính khách xinh đẹp, trẻ trung, thông minh tài giỏi, tận tụy như một bà nội trợ hoàn hảo cho chính Tổ quốc mình.

* Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu:

– Ông được hỏa táng vì “không có vạn mét vuông nào làm lăng mộ”.

– Đoàn linh xa của ông chỉ có 7 chiếc đưa ông tới đài hóa thân.

– Ông chỉ có một ngôi nhà cũ và dặn bán đi sau khi ông mất.

– Ông không có tượng đài xi măng nào ngoài tượng đài trong lòng dân.

Ông không để lại gì đáng kể ngoài: Một Đất nước phát triển hàng đầu thế giới.

* Cựu Thủ tướng Nhật Bản Murayama:

– Ông sống giản dị, đạp xe đi chợ mua đồ ăn cho vợ, khi biết danh tính của ông, ai nấy khâm phục.

Người ta thường nói, khi lãnh đạo của một nước về hưu mà cuộc sống trở nên bình dị thì chứng tỏ tỷ lệ tham nhũng của nước đó thấp và ngược lại.

Gần như tất cả các cựu thủ tướng của nước Nhật đều có cuộc sống khá giản dị nếu không nói là nghèo khó sau khi nghỉ hưu.

Ngài Murayama sau khi mãn nhiệm vị trí thủ tướng Nhật Bản không lâu cũng từ bỏ vị trí trong Quốc hội đất nước, cả nhà già trẻ lớn bé đưa nhau về quê hương ở Oita, thuộc đảo Kyushu, Nhật Bản sinh sống.

Ông nói: “Bà nhà dạo này hay bị đau lưng, nên tôi đạp xe ra chợ mua ít đồ ăn”.

Vậy đấy, bạn có nghĩ đến một người đàn ông già lại còn là một cựu thủ tướng đạp xe đạp hằng sáng ra chợ mua đồ ăn không?.

* Bà Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn, xuất thân trong một gia đình giàu có, nền nếp.

Năm 1980 đỗ Thạc sĩ Luật tại Đại học Cornell, năm 1984 đỗ Tiến sĩ tại Đại học Kinh tế London; sử dụng thành thạo tiếng Anh, Pháp và Đức. Là người phụ nữ quyền lực cao nhất nước, đủ điều kiện tạo dựng cuộc sống giàu sang nhưng bà đã chọn nếp sinh hoạt giản dị. Chỗ ở là một căn hộ chung cư tại Đài Bắc, tự lái xe đi làm, không cần vệ sĩ, ăn mặc như dân thường; chỉ khi tiếp khách hoặc công cán nước ngoài bà mới khoác bộ vét tối màu, không đẹp nhưng nhã nhặn lịch lãm. Bà được người dân trong nước kính trọng, bạn bè quốc tế nể phục về sự lãnh đạo tài tình và quả cảm.

* Tổng thống Mỹ Donald Trump sau khi nhậm chức đã giảm nhân sự tòa NHÀ TRẮNG còn tất cả là 377 nhân viên. (Giảm 144 nhân viên so với thời Obama). Tổng số tiền lương cho nhân viên của toà NHÀ TRẮNG là 35,8 triệu $USD (so với 60,9 triệu $USD dưới thời TT Obama). TT TRUMP đã tiết kiệm cho ngân sách quốc gia 25,1 triệu $USD. TT Trump cũng tặng $400.000 USD lương của mình, giao cho Bộ Nội Vụ sử dụng xây dựng và sửa chữa lại NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI – nghĩa trang của những người đã hy sinh vì nước Mỹ!

Thế mới biết:

“Sự vĩ đại không nằm trong tài sản, quyền lực, danh vọng hay sự bơm thổi. Nó được nằm ngay trong lòng tốt, sự khiêm nhường, trách nhiệm và trên hết chính là nhân cách.”

(Sưu tầm tổng hợp)

LÊ KHẮC ÁI

Tên đồ tể văn hóa Tố Hữu

Image may contain: text
Ngô Thứ

Fb Lâm Mạnh Di

Tên đồ tể văn hóa Tố Hữu

Nhớ đến tên đồ tể này với bài thơ ca ngợi Stalin của hắn là lại nhớ đến cái chết tức tưởi của nhà thơ lớn Vũ Hoàng Chương 😢..

Năm 1976 TH vào Nam xem tình hình văn hóa ở đây như thế nào.
Hắn biết Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn của Miền Nam. Hắn mở cuộc hội thoại và mời nhà thơ đến dự.

Cuộc hội thoại bàn về bài thơ rừng rú ca ngợi Stalin của hắn. Hắn mời Vũ Hoàng Chương lên bình luận và hy vọng nhà thơ sẽ ca ngợi hắn như loài bút nô miền bắc..

Vũ Hoàng Chương lên nói rất khiêm tốn thế nào là thơ. Ông nói không một bà mẹ nào trên thế giới, ngay cả vợ của TH, lại muốn con mình vừa chào đời đã gọi 2 tiếng Stalin.

TH có thể ca ngợi Stalin thì cứ việc ca ngợi, nhưng đừng bỏ chữ vào miệng các bà mẹ Việt Nam.

Tên đồ tể TH tím cả mặt. Những người hiện diện rất ngưỡng mộ ông nhưng vì sợ nên chỉ biết im lặng.. 😢😢

Hôm sau, nửa đêm CA đến bắt nhà thơ vào đồn Phan Đăng Lưu.
Hắn đánh tiếng, nếu nhà thơ hối hận và xin lỗi, thì ông được trả tự do. Ông nhất định không chịu, và bị nhục hình bỏ đói đến chết.
Một cài chết thảm thương nhưng bi hùng, để lại tiếng nhục muôn đời cho tên đồ tể văn hóa Tố Hữu 😢😢😢

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2984842581610054&id=100002530235916

AI MỚI LÀ TỘI PHẠM?

Minh Phuong Nguyen

Đỗ Ngà

Một đoạn clip dài 12 phút được đăng mới đây trên đài RFA về việc công an điều tra trả lời chất vấn về con dao, cái thớt, và cái ghế trong vụ án Hồ Duy Hải. Chưa đọc hồ sơ vụ án, chỉ xem clip này chúng ta thấy hình ảnh tên tội phạm chính là công an điều tra chứ không phải là Hồ Duy Hải. Từ những lập luận lóng ngóng của họ, không đủ cơ sở để buộc tội Hồ Duy Hải đã đành, mà ngược lại nó cho thấy chính những công an điều tra đó đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng khi thực hiện công tác điều tra.

Ngay từ phút thứ 2’16 đến 2’48 trên đoạn clip, một ông công an nói rằng “Việc cơ quan cảnh sát điều tra yêu cầu nhân chứng mua dao, thớt xác định không phải là để làm công cụ vật chứng vụ án, mà đây mua để xác định làm vật đồng dạng để bổ sung cho việc thực hiện điều tra vụ án chứ không phải coi đây là vật chứng”(hết trích)

Như vậy câu hỏi thứ nhất đặt ra là, luật nào cho phép máy ảnh dùng vật đồng dạng với vật chứng để buộc từ hình người ta? Giá sử như A và B là anh em sinh đôi, nếu A gây án, B vô tội. Vậy là người ta có thể xử án tử với B vì B đồng dạng với A thì cũng được à? Hay nếu đồng chí của anh phạm tội giết người, vậy người ta bắt anh xử án tử vì phép “đồng dạng” cũng được à? Đồng dạng về nghề nghiệp ấy! Hỏi cũng là trả lời, chẳng có phép “đồng dạng” nào trong luật pháp cả. Hãy xem đoạn clip từ phút thứ 3’29’’ đến 3’31’’, khi chủ tọa hỏi “Luật có cho phép không? Luật có cho phép mua cái ấy không?” thì ông công an đó đã không trả lời được.

Cùng nói về con dao, nhưng 2 công an nói 2 ý khác nhau hoàn toàn. Chú ý đoạn clip từ phút thứ 5’28’’ đến 5’45’’, thì một ông công an đã nói rằng “Sau khi Hồ Duy Hải khai nhận tội thì khai ra sau khi dùng con dao rồi rửa dao nhét vào cửa sách phù hợp với nhân chứng Thu, nhân chứng Hùng thu để dọn dẹp hiện trường phát hiện con dao trong đó.”(hết trích). Và sau đó, đoạn clip từ phút thứ 8’01’’ đến 8’13’’ thì ông công an thứ 2 lại nói nói rằng “Hồ Duy Hải nó ra lavobo nước ở nhà vệ sinh nó vặn vòi nước nó rửa dao sạch. Xong nó đi vào trong bưu cục nó nhét con dao vào giữa tấm bảng, và tấm bảng này dựng đứng đặt trên tấm vách tường bên phải bưu cục hướng từ ngoài quốc lộ 1A nhìn vào bưu cục” (hết trích)

Như vậy câu hỏi thứ 2 là, tại sao cả 2 ông công an trong đội điều tra cùng nói về con dao mà ông thì bảo “nhét vào cửa sách”, còn ông khác thì bảo “nhét con dao vào giữa tấm bảng”? Như ta biết, nếu đó là sự thật thì tất 2 ông này sẽ nói một ý thống nhất, còn nếu cùng một sự việc mà 2 ông này nói khác ý nhau thì chắc chắn là ngụy tạo vì mỗi ông vẽ một cách. Không cần đọc hồ sơ, chỉ cần đem 2 lời phát biểu này so sánh thì chúng ta đã thấy công an ngụy tạo chứng cứ rồi. Mà ngụy tạo nhưng không học thuộc bài nên mỗi ông mới nói một kiểu.

Theo như công an cho biết Hồ Duy Hải dùng 3 hung khí chính gây án đó là chiếc ghế hiệu Hòa Phát, một cái thớt gỗ, và 1 con dao. Mà như ta biết, ghế Hòa Phát là ghế khung kim loại. Nếu đem cả 3 thứ này đốt thì chả nhẽ lưỡi dao cũng thành tro? Chả nhẽ khung thép của chiếc ghế cũng thành tro? Cứ cho là 3 vật dụng đó bị đem đi đốt, thì cũng còn lại lưỡi dao và khung ghế chứ? Đến lưỡi dao và khung ghế sau khi cháy còn không có thì công an lấy gì bảo những thứ đó là hung khí đây? Đến một “tế bào” trên vật chứng cũng không trưng ra được thì lấy cơ sở gì để chứng minh Hồ Duy Hải có tội đây?

Như vậy chưa cần đọc hồ sơ vụ án, chỉ cần xem clip 12 phút này thì cũng cho ta thấy công an đã phạm vào 3 điều, thứ nhất tùy tiện dùng phương pháp mà luật pháp không quy định (nói thẳng ra là vi phạm pháp luật), thứ nhì dựng chuyện con dao để nhằm mục đích vu khống bị can, thứ 3 ngụy tạo 100% vật chứng. Những nhân viên điều tra vi phạm cả 3 điều này thì đã đủ cơ sở cấu thành tội chưa?

-Đỗ Ngà-

 

 

YOUTUBE.COM

Đoạn video clip được đăng tải trên Facebook Trương Châu Hữu Danh về phần trả lời của công an trong phiên Giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải cho thấy, tình tiết phát… 

45 năm Việt Nam vẫn chưa có hòa bình.

45 năm Việt Nam vẫn chưa có hòa bình.

Nguyễn Quang Duy

Báo chí trong nước hôm 12/5/2020 đưa tin Bộ Công an cho hay dự luật biểu tình chưa thể được trình lên Quốc hội vì “cần phải được nghiên cứu kỹ, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng”.

45 năm qua dường như đảng Cộng sản Việt Nam chưa có được một ngày hòa bình, trong tâm trí họ xung quanh lúc nào cũng có những “thế lực thù địch” đe dọa sự tồn vong của thể chế.

Câu chuyện “hòa hợp hòa giải dân tộc” đã được nói đến ngay từ khi Chiến tranh kết thúc năm 1975, nhưng đến nay nhà cầm quyền vẫn đề cao lịch sử của “bên thắng cuộc” và tiếp tục coi mọi tiếng nói khác biệt là thù địch.

Mục tiêu của cuộc chiến là gì?

Ngày 30/4/2020, trên VTC News, Thượng tướng Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, ông Nguyễn Chí Vịnh từ góc nhìn của “bên thắng cuộc” cho rằng “Hoà hợp, hoà giải dân tộc đã thành công”, ông nhấn mạnh:

“…chiến thắng này đem lại lợi ích cho cả người thắng lẫn kẻ thua và thời gian đã chứng minh điều ấy.”

Sau 30/4/1975, miền Nam từ một xã hội đa nguyên gồm nhiều sinh hoạt dân sự, có cả những sinh hoạt thân cộng sản, đã được miền Bắc “hợp” nhất thành một mối, từ người công an khu vực, phường đội, quận đội, mọi cơ quan hành chính miền Nam đều do người miền Bắc nắm giữ hoặc chỉ đạo.

Những người miền Nam thân cộng hay theo cộng sản là những người đầu tiên bất “hòa” với việc “thống nhất” theo mô hình lạc hậu của miền Bắc.

Những người này tin rằng theo Hiệp định Paris miền Nam sẽ có vài năm chuyển tiếp, người miền Nam được hòa giải với nhau và sau đó sẽ được quyền tự quyết dân tộc.

Mới đây, nhân dịp 30/4/2020, câu chuyện của Bác sĩ Bùi Quỳnh Hoa con gái Đại tá Quân đội Bắc Việt Bùi Văn Tùng kể trên BBC tiếng Việt có những điểm đáng được quan tâm.

Ông Bùi Văn Tùng là Trung Tá Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203, cấp chỉ huy cao nhất vào tiếp thu Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975, ông Tùng đã soạn Tuyên Bố Đầu Hàng cho Đại Tướng Dương Văn Minh và chính ông đã đọc lời Chấp Nhận Đầu Hàng trên Đài Phát Thanh Sài Gòn.

Trong vai trò Chính ủy trước đây ông Tùng phải tuyên truyền để bộ đội Bắc Việt “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, nhưng theo lời kể của Bác sĩ Quỳnh Hoa cho đến chết ông vẫn hỏi bà: “Tại sao Mỹ lại đánh nhau với mình thế hả con?”

Rõ ràng cho đến cuối đời ông Bùi Văn Tùng vẫn chưa có được một lời giải thích thỏa đáng nguyên nhân của cuộc chiến tại Việt Nam, lịch sử với cộng sản chỉ để tuyên truyền nên không thể thuyết phục ngay cả những chứng nhân “bên thắng cuộc”.

Khi được mở lòng trên BBC tiếng Việt, Bác sĩ Bùi Quỳnh Hoa đã hòa giải tâm lý bị đè nén bấy lâu nay, bà cũng đã hòa giải giúp cho cha bà ông Bùi Văn Tùng.

Thân phận của Điệp viên Phạm Xuân Ẩn, của ký giả Lý Chánh Chung và của nhiều nhân vật miền Nam khác cũng cần được cặn kẽ xem xét để xem họ nghĩ gì về chiến thắng của Quân Đội Bắc Việt.

Khác với nhiều ỵ́ kiến cho rằng vấn đề hòa giải đã xong, hoặc chỉ là chuyện của chính quyền với dân, ở Việt Nam dường như chưa có những cuộc nghiên cứu để tìm hiểu tâm lý của những bộ đội cộng sản trong chiến tranh Việt Nam để xem mức độ “hòa giải tâm lý” của binh sĩ bên thắng cuộc.

Bởi thế không ai có thể kết luận: “hòa hợp và hòa giải đã thành công” đối với bên thắng cuộc.

Bên thua cuộc thì sao?

Còn người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” thì khăn gói 10 ngày “học tập cải tạo”, có người 17 năm mới rời khỏi nhà tù, nhiều người chết trong tù.

Một số nhân viên miền Nam cấp thấp không bị tù, được giữ lại làm việc ít lâu, nhưng khi người miền Bắc đã nắm được chuyên môn, thì họ bị sa thải vì là người của chế độ cũ.

Nền tảng chính trị, kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, xã hội, báo chí, văn nghệ, nghệ thuật, của miền Nam bị xóa bỏ để xây dựng xã hội mới và con người mới xã hội chủ nghĩa.

Những trận đánh tư sản, đánh văn hóa, cưỡng bức dân đi kinh tế mới, cưỡng bức dân vào hợp tác xã, ngăn sông cách chợ, phân biệt đối xử giữa người cũ với người mới đã buộc người miền Nam phải bỏ nước ra đi, nhiều người chết trên đường tìm tự do.

Đến nay tại Việt Nam từ giáo dục, báo chí, văn nghệ, nghệ thuật đến cuộc sống hằng ngày, mọi thứ vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm của “cách mạng”, của “chiến thắng 30/4/1975”, của người thắng kẻ thua.

Những người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” còn ở lại Việt Nam, 45 năm qua chưa một ngày được đối xử công bằng, thậm chí đến đời con, đời cháu của họ vẫn bị đối xử kỳ thị vì cha ông đã phục vụ cho miền Nam tự do.

Những người sống ở nước ngoài và con cháu họ vẫn bị kỳ thị về chế độ thị thực, bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam nếu nhà cầm quyền cho họ vào “sổ đen”.

Chấm dứt chiến tranh bộ máy cầm quyền thay vì xóa bỏ xung đột để tiến đến hòa hợp và hòa giải dân tộc thực sự, thì hố cách biệt giữa những người Việt với nhau càng sâu hơn, một lịch sử có “hợp” nhưng không có “hòa”.

Không “hòa” không “giải”

Không có “hòa” thì không thể nào giải quyết được những xung đột về văn hóa, về niềm tin, về chính trị, về lịch sử, giữa đảng Cộng sản và những người thuộc “bên thua cuộc”.

Người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” vẫn luyến tiếc và giữ niềm tin vững mạnh là họ sẽ phục hồi lại văn hóa, lại giáo dục, lại kinh tế, lại công bằng, tự do và dân chủ cho Việt Nam.

Ý tưởng này vẫn tồn tại và phát triển trong sinh hoạt của những người miền Nam yêu chuộng tự do trong và ngoài nước.

Cùng lúc, những người Việt ra hải ngoại du lịch và du học, những người Việt về nước du lịch hay làm việc, và không gian mạng toàn cầu, đã tạo cơ hội người Việt trong và ngoài nước, người Việt thuộc nhiều thế hệ khác nhau, người Việt thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau, người Việt thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, cùng hòa hợp với nhau, từng bước hòa giải, xóa bỏ những mâu thuẫn, những xung đột cùng hướng về tương lai.

Mặc dù không còn đất nước, không còn chính phủ nhưng bài học “hợp” nhưng không “hòa” không “giải”, không cho phép người Việt hải ngoại tái phạm sai lầm đã xảy ra, nên không hề có chuyện người Việt tự do có nhu cầu phải đối thoại với giới chức cộng sản.

Sau 45 năm người Việt hải ngoại không còn suy nghĩ thắng thua hay không có nhu cầu phải hòa hợp hay hòa giải với nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.

Các xung khắc mới…

Miền Bắc sau 30/4/1975 lúc đầu đời sống kinh tế có phần tốt hơn, nhưng về lâu dài cả hai miền Bắc Nam đều cùng chung số phận và sau 45 năm “thống nhất”, xung đột đã từng bước chuyển sang những hình thức mới.

Xung đột giữa người cầm quyền với người bị trị, với những nông dân mất đất, xung đột giữa người dân làm không đủ ăn với những nhóm tư bản thân hữu phân chia lợi ích quốc gia, xung đột giữa những trí thức ưu tư về vận mệnh quốc gia và những người kiên định con đường cộng sản, và nhiều xung đột khác do thể chế chính trị gây ra.

Những xung đột này thay vì được giải quyết một cách dân chủ trong vòng luật pháp, nhà cầm quyền cộng sản lại khép cho những người bị thua thiệt là “thế lực thù địch”, rồi thẳng tay đàn áp, bắt bớ, bỏ tù.

45 năm qua dường như đảng Cộng sản chưa có được một ngày hòa bình, chung quanh họ lúc nào cũng có những “thế lực thù địch” đe dọa sự tồn vong của thể chế Cộng sản.

Trở lại với cách suy nghĩ ông Nguyễn Chí Vịnh cho thấy những người cộng sản 45 năm nay vẫn không hề thay đổi, vẫn còn nghĩ thắng thua, chưa nghĩ đến chuyện “hòa” thì đừng mong nghĩ đến chuyện “giải” để có được kết luận “Hoà hợp, hoà giải dân tộc đã thành công”.

Bài học từ 30/4/1975

Ở thời điểm 30/4/1975 mấy ai nghĩ rằng cho đến năm 2020, nghĩa là 45 năm trôi qua, việc hoà hợp và hoà giải dân tộc vẫn chưa được nhà cầm quyền cộng sản thực hiện.

Hai năm trước mấy ai nghĩ đến chiến tranh thương mãi Trung Mỹ, chỉ vài tháng trước mấy ai nghĩ đại dịch viêm phổi xảy ra khắp toàn cầu, và mấy ai nghĩ đến việc Trung cộng đang phải đối đầu với suy thoái kinh tế, với nạn thất nghiệp, với việc thay đổi cấu trúc kinh tế toàn cầu và rất có thể Trung cộng sẽ phải thay đổi chính trị: “thay đổi không thì chết”.

Môi Bắc Kinh hở, thì răng Hà Nội lạnh, nhiều thay đổi ắt sẽ xảy ra tại Việt Nam trong những ngày sắp tới.

Bài học của 30/4/1975 cho thấy hòa hợp và hòa giải dân tộc không thể xảy ra trong thể chế độc tài, đảng trị, mà chỉ có thể có nhờ môi trường dân chủ, đa nguyên, đa đảng với bầu cử thực sự tự do.

Việc hoãn lại luật biểu tình cho thấy Hà Nội vẫn xem dân là “kẻ thù”, chứng tỏ trong suốt 45 năm qua họ đã thất bại không hòa giải được như mong muốn của người dân hai miền Bắc Nam.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại lợi

14/5/2020

Đằng sau bản án của bóng đêm, đất sẽ nứt chồi xanh..

BÙI CHÍ VINH

ĐẰNG SAU MỘT BẢN ÁN TỬ

Đằng sau bản án tử của Hồ Duy Hải là sự an toàn của một sát-thủ-thiếu-gia
Đằng sau sự an toàn của một sát thủ thiếu gia là sự bất khả xâm phạm của một đại-gia-chính-trị
Đằng sau sự bất khả xâm phạm của đại gia chính trị là sự điều hành của tập đoàn ma quỷ
Không chốn nương thân cho những sinh vật gọi là người

Đằng sau bản án tử của Hồ Duy Hải là cái chết được nhân đôi
Nhân đôi cho suối lệ bà mẹ cạn khô 12 năm và nhân đôi cho cô gái tuổi 30 còn thiếu nữ
Đằng sau một gia đình nước mất nhà tan là cả một quê hương trong vòng vây quân dữ
Mỗi tiếng ho tiếng sủa từ Bắc Kinh là 1000 năm nô lệ phải giật mình

Đằng sau bản án tử của Hồ Duy Hải là sự mục nát của triều đình
Đằng sau sự mục nát của triều đình là sự tái lập vòng quay lịch sử
Bọn phản quốc, bọn hôn quân vô đạo phải chết đi thì Đinh, Lê, Lý, Trần mới thấy được nhân dân làm chủ
Mới thấy được hào khí đại đế Quang Trung trên đất Thăng Long thành

Đằng sau bản án của bóng đêm, đất sẽ nứt chồi xanh..
8-5-2020

Nước & Dân

Nước & Dân

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Đúng 9 giờ sáng ngày 10 tháng 10 năm 1972, tôi có mặt tại Trung Tâm Xã Hội Sài Gòn để trình diện nhập ngũ. Tới trưa, tôi được đưa vào Nguyễn Tri Phương. Đây là nơi tiếp nhận tân binh để đưa đi huấn luyện. Những thằng trong hạn tuổi quân dịch như tôi, theo luật Tổng Động Viên (sau Mùa Hè Đỏ Lửa) thì nhiều vô số nên cả đống phải nằm chờ khá lâu ở cái trại chuyển tiếp này.

Tôi ghét tất cả các trại lính và mọi thứ quân trường (Quang Trung, Thủ Đức, Lam Sơn…) mà mình đã trải qua nhưng riêng Nguyễn Tri Phương thì có một “điểm son” đáng được ghi nhận: nơi đây có một cửa hàng cho mướn sách truyện, và không thiếu một tác phẩm nào của Erich Maria Remarque. Tất cả đều được những dịch giả tài hoa của miền Nam (Huỳnh Phan Anh, Cô Liêu, Tâm Nguyễn, Vũ Kim Thư…) chuyển sang Việt ngữ:

– All Quiet on the Western Front (Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh) 

– Three Comrades (Chiến Hữu) 

– Arch of Triumph (Tình Yêu Bên Bờ Vực Thẳm) 

– Spark of Life (Lửa Thương Yêu Lửa Ngục Tù) 

– A Time to Love and a Time to Die (Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Chết) 

– The Black Obelisk (Bia Mộ Đen)…

Tâm cảm phản chiến của Remarque rất hạp với cái “tạng” ngại chuyện súng đạn của tôi. Nước Đức bất an và tan hoang qua của ông cũng rất gần với không khí ngột ngạt mà tôi đang hít thở, ngay ở quê hương của chính mình. Tôi lại đang không có chuyện chi để giết thời giờ trong khi nằm chờ khoá nên truyện của Remarque tôi đều đọc đi đọc lại (vài lần) và trở thành “rành rẽ” về nước Đức hơn nhiều quốc gia khác ở Âu Châu.

Duyên nợ của tôi với Đức Quốc không chỉ ngừng ngang đó. Tuy chưa bao giờ có dịp được đặt chân đến xứ sở này nhưng người Việt thì sống ở nơi đây không ít, và họ có lắm nỗi băn khoăn . FB Đặng Đình Mạnh vừa đặt ra nhiều câu hỏi: Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao họ không đặt ra vấn đề buộc những người cộng tác với chính quyền Đông Đức cũ phải đi học tập cải tạo như đất nước ta?

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không hiểu tại sao người dân Đông Đức cũ đã không chọn con đường đào thoát, tỵ nạn ra nước ngoài như người dân đất nước ta? 

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao và như thế nào mà họ lại có thể chấp nhận một người vốn xuất thân từ một đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Đức thuộc Đông Đức cũ, nhưng chỉ 15 năm sau khi thống nhất, thì người này đã có thể trở thành người phụ nữ đầu tiên và trẻ nhất đắc cử vào chức vụ Thủ tướng đầy quyền lực của nước Đức thống nhất? 

Tại sao và tại sao?

Những “thắc mắc” vừa nêu có thể được giải đáp, phần nào, qua lời của FB Nguyễn Thọ“Trong những vấn đề dân tộc, người dân Đông Đức XHCN chỉ biết đến nước Đức. Thời tôi ở Đông Đức cuối những năm 1960, đội tuyển bóng đá Đông Đức chỉ là loại trung bình ở châu Âu, trong khi đội tuyển Tây Đức là một trong những đội đứng đầu thế giới. Các trận đấu của đội tuyển Tây Đức ngày đó luôn là những tuyệt tác nghệ thuật của các danh thủ Gerd Müller, Beckenbauer, Overrath, Netzer… Dân Đông Đức hay rủ nhau xem các trận này qua TV. Mặc dù đội Tây Đức luôn được ký hiệu trên TV là RFA hay FRG[1], dân Đông Đức chỉ hét cổ vũ “Deutschland, Deutschland” (nước Đức, nước Đức). Đó là dân trí lành mạnh!” 

Đoạn văn thượng dẫn khiến tôi chợt nhớ đến một trận đá bóng (khác) không được “lành mạnh” gì cho lắm, hay nói chính xác là “kinh hoàng” hơn nhiều – theo như “nguyên văn” cách dùng từ của người thuật chuyện: 

“Khi Việt Nam kịch liệt lên án Liên Xô, chị Nona người Nga, giáo sư đại học ở ta, vợ Nguyễn Tài Cẩn, mấy lần mếu máo bảo tôi là đi đường chị vẫn bị người lớn trẻ con ném đá, và chửi ‘đ. mẹ con xét lại!’ Dân Việt Nam say mê chính trị lắm, mà thể hiện chủ yếu bằng gạch đá và chửi tục, chị nói.

Nhân Nona nói đến gạch đá tham gia chống xét lại, tôi hỏi chị có biết quân đội 12 nước xã hội chủ nghĩa đá bóng với nhau ở Hà Nội hồi sắp ra Nghị quyết 9 không. Nona nói có, có nghe. Bảo kinh hoàng lắm. 

Tôi nói chính tôi chứng kiến. Tôi cùng ngồi xem với Trần Đức Hinh cục trưởng điện ảnh và Khánh Căn, báo Nhân Dân, sau này thông gia với Tố Hữu. Hôm ấy quân đội Liên Xô đấu với ai đó, tôi không nhớ – hình như Anbani,,, Dần lại thấy có những bị cói và sọt đan kín phủ báo ở chân mấy người xem gần chỗ chúng tôi. Thì ra đựng đầy đá củ đậu. Trận đấu bắt đầu được chừng mười lăm phút, người xem ở khắp bốn phía sân vân động thình lình nhất tề nhè vào cầu thủ Liên Xô ném đá tới tấp. Ba chúng tôi kinh ngạc. Khánh Căn nói phong trào quăng đá này nhất định là phải có tổ chức từ trên rồi.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù II, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Ôi, tưởng đâu chứ trên thì còn có lắm chuyện tiểu nhân và bất nhân hơn thế rất nhiều:

“Sáng sớm ngày 9 tháng 4 năm 1979, phòng tổ chức mời vợ tôi lên. Cuộc gặp mặt gồm Bùi Đình Phảng, bí thư đảng ủy, Nguyễn Đình Mão, phó bí thư kiêm bệnh viện phó, Nguyễn Gia Hòa, đảng ủy viên, trưởng phòng Tổ Chức Hành Chính cùng một số nhân viên…

Sau vài lời rào đón, Nguyễn Đình Mão bảo vợ tôi: “Việt Nam và Trung Quốc đã xảy ra chiến sự, Chúng ta đang chống quân bá quyền, bành trướng Trung Quốc. Chị là người Việt, nhưng chồng chị là người Hoa. Chúng tôi đang giải quyết anh ấy nghỉ chế độ mất sức. Còn chị muốn tiếp tục công tác, chị phải làm đơn ly dị và trả lại 3 cháu cho anh ấy, nộp cho chúng tôi. Vợ tôi bàng hoàng… Thấy vợ tôi im lặng, trưởng phòng tổ chức Nguyễn Gia Hòa an ủi: Chúng tôi muốn giúp đỡ, cho chị lối thoát chứ không có ý gì khác.” (Lâm Hoàng Mạnh. Vui Buồn Đời Thuyền Nhân, Tiếng Quê Hương, Falls Church, VA: 2011).

Khi thù Nga, lúc oán Tàu. Nay thế này, mai thế khác, bao giờ cũng với thái độ quá khích, rồi giận cá chém thớt, trút hết mọi oán hận vào những lương dân vô tội. Đất nước “được” dẫn dắt bởi một đám người nông nổi, tiểu tâm, ngu tối (và thiển cận) đến thế nên đã tạo ra một “cái nền dân trí luôn là mảnh đất cho hận thù, ngờ vực và chia rẽ” – theo như nhận xét của FB Nguyễn Thọ:

“Chúng ta chưa có một nền dân trí mạnh vì còn rất ít người có thói quen suy nghĩ độc lập, tự đi tìm sự thật. Đa số người Việt trên mạng chỉ có một hình ảnh kẻ thù cố định hoặc một anh hùng vĩnh cửu. Khi coi Trung Quốc là kẻ thù thì mọi thứ của Trung Quốc đều xấu, đều đáng bị tiêu diệt. Ai chửi Trung Quốc thì là bạn, ai phê phán người chửi Trung Quốc là kẻ thù. Có lẽ không ở đâu mà Fake news có đất sống và phát tán nhanh như mạng Việt ngữ.

Cách đơn giản hóa vấn đề, chỉ biết có trắng và đen đang làm cho người Việt trở nên cực đoan. Người ta chửi nhau, hủy bạn bè vì những chuyện nhỏ như dùng Chloroquine chữa bệnh Covid-19, vì Bill Gates, vì Greta Thunberg hay vì Mẹ Nấm. Lên đến mức độ Trump thì đã có những cặp vợ chồng tan vỡ. Cái nền dân trí đó luôn là mảnh đất cho hận thù, ngờ vực và chia rẽ.”

“Cái nền dân trí luôn là mảnh đất cho hận thù, ngờ vực và chia rẽ” nếu chỉ giới hạn trong lãnh thổ VN thì có thể tìm ngay ra thủ phạm: Chủ Nghĩa Toàn Trị và học thuyết Marx – Lenin! Vấn đề là không ít người Việt đang sống ở nước ngoài, chả có liên quan (hay ảnh hưởng chi nhiều) với cái chế độ thổ tả hiện hành mà vẫn sẵn sàng chửi nhau, hủy bạn bè vì những chuyện nhỏ (như con thỏ) như thường. Vì cái nước mình nó thế nên dân mình không thể khác được chăng? 

14.05.2020

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

 danlambaovn.blogspot.com

Vụ án Bưu cục Cầu Voi: Tôi biết Nguyễn Văn Nghị đang ở đâu

Vụ án Bưu cục Cầu Voi: Tôi biết Nguyễn Văn Nghị đang ở đâu

Chu Mộng Long

Dân mạng share thông tin mới nhất từ báo Dân Việt về “nghi can số 1” Nguyễn Văn Nghị trong vụ án Cầu Voi. Phóng viên báo Dân Việt cho biết đã phối hợp với chính quyền xã Tân Hội, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo thông tin báo chí trước đó, nhưng không hề thấy tung tích. Có nghĩa là Nguyễn Văn Nghị có tồn tại ngoài đời nhưng không tồn tại ở địa chỉ mà điều tra viên đã xác định.

Tôi phán đoán địa chỉ xã Tân Hội, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nơi cơ quan điều tra cung cấp cho báo chí về thường trú của Nghị là thông tin giả để đánh lạc hướng sự truy tìm Nguyễn Văn Nghị và ngăn chặn hậu họa nếu các mưu đồ thực thi không trót lọt.

Tôi chắc chắn Nguyễn Văn Nghị biến mất cũng tương đương như cái thớt gỗ, con dao và cái ghế inox đã biến mất sau khám nghiệm hiện trường. Mất dụng cụ gây án, tức mất dấu vết gây án, bây giờ là mất luôn cả nghi phạm. Mất có hệ thống thì không thể là sai sót nghiệp vụ một cách vô tình. Chỉ có thể là cố tình phi tang để che giấu sự thật!

Đừng nói Nguyễn Văn Nghị là nhân vật ảo mà công an tạo ra nhằm đánh lừa dư luận hay đánh lạc hướng thủ phạm để dễ dàng bắt “hung thủ” Hồ Duy Hải. Nguyễn Văn Nghị hoàn toàn có thật. Có thật từ lời khai của các nhân chứng là những người sống quanh bưu cục Cầu Voi. Có thật trong hồ sơ vụ án qua hai văn bản chính thống: Kháng nghị giám đốc thẩm của Viện Kiểm sát Tối cao đòi đưa Nghị vào diện điều tra lại, và Phán quyết giám đốc thẩm trả lời Kháng nghị giám đốc thẩm. Tôi chỉ cần dẫn bản Phán quyết giám đốc thẩm:

Quá trình xác minh, Cơ quan điều tra đã xác minh nhiều đối tượng nghi vấn, trong đó có Nguyễn Văn Nghị và Nguyễn Mi Sol, nhưng đã làm rõ những đối tượng này không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan điều tra không đưa vào hồ sơ vụ án mà được lưu trong hồ sơ nghiệp vụ của Cơ quan Công an“. (Trích trang 19, 20).

Vậy thì, theo chỉ dẫn của Phán quyết giám đốc thẩm, đề nghị phóng viên Dân Việt, một là đến tại Cơ quan Công an Long An xin xác minh từ “hồ sơ nghiệp vụ” đã lưu; hai là gặp 2 điều tra viên Lê Thành Trung và Nguyễn Văn Minh hỏi cho rõ. Lưu ý là mới chỉ có hai công an viên xã chết (Nguyễn Văn Hải và Huỳnh Văn Minh tham gia dọn dẹp và tiêu hủy hiện trường), còn hai điều tra viên chính này chưa chết.

Nếu Cơ quan Công an Long An trả lời những gì liên quan đến Nguyễn Văn Nghị đã bị tiêu hủy chứ không lưu “hồ sơ nghiệp vụ” thì 17 thẩm phán trong Hội đồng giám đốc thẩm đã bị lừa hoặc nói dối. Mà nếu đã hủy thì thêm một bằng chứng Công an Long An đã hủy tang chứng, vật chứng cho đến nghi phạm một cách có hệ thống, tức có chủ ý hay bộc lộ rõ động cơ che giấu tội phạm.

Việc còn lại là khởi tố bị can Lê Thành Trung và Nguyễn Văn Minh tội làm sai lệch hồ sơ vụ án để điều tra vì sao tang chứng, vật chứng và nghi phạm biến mất. Lê Thành Trung, Nguyễn Văn Minh chắc chắn sẽ biết Nguyễn Văn Nghị được giấu ở đâu.

Có thể Nguyễn Văn Nghị không phải là thủ phạm, nhưng ít ra cũng có thể là nhân chứng, vì Nguyễn Văn Nghị được xác định là có mặt tại hiện trường đêm 13 tháng 1. Nếu Nguyễn Văn Nghị bị nghi oan thì cũng phải được minh oan chứ không chỉ Hồ Duy Hải,

Khi các cơ quan đại diện của nhân dân không phá án được thì nhân dân sẽ thực thi trách nhiệm phá án. Cụ Hồ từng dạy, chắc là công an thuộc nằm lòng: Công an chỉ có 2 con mắt, còn nhân dân có hàng triệu đôi mắt. Không lo giải quyết sớm vụ án này thì oan hồn còn báo oán tất cả những người có liên can chứ không thế lực thù địch, phản động nào lợi dụng được cả.

Ảnh chụp màn hình các tài liệu, bài báo liên quan tới bài viết

Kiến nghị đòi công lý cho Hồ Duy Hải và cho cả nền tư pháp Việt Nam!

Kiến nghị đòi công lý cho Hồ Duy Hải và cho cả nền tư pháp Việt Nam!

Diễm Thi, RFA

2020-05-14

RFA.ORG
Một bản kiến nghị đòi công lý cho Hồ Duy Hải vừa được công khai trên mạng xã hội tối 14/5/2020. Bản kiến nghị không chỉ lên tiếng cho sinh mạng một con người, mà còn lên tiếng cho cả nền tư pháp Việt Nam hiện nay.

 AFP

Kiến nghị đòi công lý cho Hồ Duy Hải và cho cả nền tư pháp Việt Nam

Một bản kiến nghị đòi công lý cho Hồ Duy Hải vừa được công khai trên mạng xã hội tối 14/5/2020. Bản kiến nghị không chỉ lên tiếng cho sinh mạng một con người, mà còn lên tiếng cho cả nền tư pháp Việt Nam hiện nay.

Lên tiếng cho Hồ Duy Hải…

Kiến nghị được gởi đến ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước; bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội; bà Lê Thị Nga, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội cùng các Đại biểu Quốc hội.

Ngoài ra, kiến nghị được gửi đến đại diện nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế cũng như các vị đại sứ nước ngoài tại Việt Nam.

PGS-TS Hoàng Dũng, một trong những người tham gia soạn thảo kiến nghị cho biết, bản kiến nghị được gửi tới tay các vị lãnh đạo cùng lúc bằng email và bản cứng qua đường bưu điện. Ngoài ra, bản kiến nghị được công bố trên không gian mạng kèm đường link ký tên để đánh động dư luận, để mọi người bày tỏ thái độ của mình. Đây chính là sức mạnh của xã hội dân sự. Ông nói thêm:

“Chúng tôi gửi như vậy vì Việt Nam bây giờ mở cửa, mà việc mở cửa làm ăn với các nước khác, đặc biệt ở Âu Mỹ thì việc tuân thủ pháp luật không chỉ trong nước mà còn những nguyên tắc luật pháp phổ quát là hết sức quan trọng. Chúng tôi nhìn vụ án Hồ Duy Hải trong chiều hướng như vậy. Do đó, đối tượng để chúng tôi gửi kiến nghị đến rộng hơn rất nhiều.

Trước đây đã có một kiến nghị và tôi cũng đã ký, nhưng kiến nghị đó thực chất chỉ phản đối bản án mà thấy là không tuân thủ pháp luật nhưng không đề ra cách giải quyết. Kiến nghị ấy chỉ gửi đến Nhà nước Việt Nam.”

Những người soạn thảo và ký tên trên kiến nghị kêu gọi sự chú ý đặc biệt và hành động khẩn cấp về một án tử hình đang diễn ra tại Việt Nam, vụ án Hồ Duy Hải, bởi quá trình điều tra và xét xử vụ án đã đặt ra nhiều nghi vấn và gây quan ngại sâu sắc trong cộng đồng người Việt trong và ngoài nước.

Phải bầu chánh án mới, phê chuẩn các thẩm phán mới thì phiên tòa mới thoát khỏi cái ám ảnh của vụ cũ. Họ mới có đủ điều kiện khách quan để cân nhắc chứng cứ và xử lại.  – PGS-TS Hoàng Dũng

Sau khi trình bày các mốc chính vụ án Hồ Duy Hải từ năm 2008 đến nay, kiến nghị nêu ra bốn đề nghị. Trong đó hai đề nghị đầu tiên gồm: Thứ nhất, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam quyết định tạm dừng thi hành án tử hình đối với Hồ Duy Hải; thứ hai, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thành lập Ủy ban giám sát vụ án để đánh giá lại tính khách quan và chính xác của phiên giám đốc thẩm. Nếu phát hiện sai sót nghiêm trọng, Quốc hội tiến hành bãi nhiệm Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và các thành viên Hội đồng thẩm phán, bầu chánh án và phê chuẩn các thẩm phán mới.

  1. Hoàng Dũng giải thích:

“Nếu theo khuôn khổ luật pháp Việt Nam thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền yêu cầu tòa tối cao xử lại. Nhưng thế thì cũng triệu tập mấy ông cũ xử lại. Khó mà tưởng tượng mấy ông đó thay đổi quan điểm trong một sớm một chiều.

Phải bầu chánh án mới, phê chuẩn các thẩm phán mới thì phiên tòa mới mới thoát khỏi cái ám ảnh của vụ cũ. Họ mới có đủ điều kiện khách quan để cân nhắc chứng cứ và xử lại.

Để làm chuyện đó thì đầu tiên chúng tôi kiến nghị Chủ Tịch nước cho tạm dừng thi hành án tử hình với Hồ Duy Hải. Điều đó nằm trong quyền hạn của Chủ tịch nước, sau đó thì xử lại.

Xin lưu ý, chúng tôi không hề nói Hồ Duy Hải có tội hay vô tội mà là do họ vi phạm rõ ràng các nguyên tắc tố tụng hình sự, tức là pháp luật hình thức.”

Bà Nguyễn Thị Loan, mẹ Hồ Duy Hải Photo: Nguoiviet

Năm 2014, chỉ một ngày trước khi bản án tử hình được thi hành, Chủ tịch nước khi đó là ông Trương Tấn Sang đã ra lệnh tạm dừng tử hình Hồ Duy Hải. Dư luận cho rằng đó là do áp lực từ cả công chúng ở Việt Nam và các tổ chức quốc tế.

Tối 14 tháng 5 năm 2020, chị Nguyễn Hoàng Ánh, một người trong nhóm lên tiếng cho Hồ Duy Hải lúc đó, cũng là một trong những người nêu ý tưởng thành lập kiến nghị lần này nói với RFA từ Hà Nội:

“Lúc đó bọn mình có làm cái petition online. Mình cũng có một số liên lạc với các cơ quan bảo vệ nhân quyền để yêu cầu giúp đỡ. Lần trước chúng tôi cũng yêu cầu là ngưng án tử hình và phải xử lại. Chúng tôi không chấp nhận phiên tòa đấy.

Lúc đó không hẳn chỉ có nhóm bọn tôi. Có khá nhiều nhóm lên tiếng. Chúng tôi chỉ khác là có ‘yếu tố nước ngoài’, tức là có sự tham gia của  các Việt kiều và chúng tôi có gửi đến Ân xá Quốc tế, đại diện EU ở Việt Nam…

Chúng tôi nghĩ chắc chắn lúc đó có tác động của dư luận. Nếu không thì không có kết quả như vậy.”

… cũng là cho nền tư pháp Việt Nam

Ngay sau phiên giám đốc thẩm, dư luận trong và ngoài nước lên tiếng không chỉ vì sinh mạng Hồ Duy Hải mà còn vì nền tư pháp Việt Nam.

Hôm 14 tháng 5, Đại biểu quốc hội Lưu Bình Nhưỡng, Phó trưởng ban Dân nguyện và đại biểu Lê Thanh Vân đã gửi báo cáo kiến nghị Quốc hội giám sát tối cao vụ án Hồ Duy Hải.

Theo ông Nhưỡng, việc làm của ông là nhằm giữ nghiêm kỷ cương phép nước, giữ gìn uy tín của đảng, Nhà nước và hoạt động xét xử, bảo đảm công lý, quyền con người, quyền công dân và quán triệt quan điểm, thái độ của tòa án nhân dân, các cơ quan hoạt động tư pháp đối với việc thực hiện quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Phía chính quyền chỉ cần lắng nghe thì sẽ có những động thái nhất định nào đó. Tức là chúng tôi muốn góp ý để cho hệ thống tư pháp phải sửa sai. – Chị Nguyễn Hoàng Ánh 

PGS-TS. Hoàng Dũng nêu nhận định của mình:

“Trong những vị ĐBQH lên tiếng thì ông Lưu Bình Nhưỡng là luật sư, ông Trương Trọng Nghĩa cũng là luật sư. Họ lên tiếng phản đối tức họ đứng không chỉ với nhiệm vụ ĐBQH mà họ còn đứng ở góc độ luật sư, họ hiểu chuyên môn. Pháp luật văn minh phải là “thà tha lầm còn hơn giết oan”.

Nếu vụ xử này mà họ bất chấp pháp luật, bất chấp luật tố tụng hình sự mà kết án tử hình một người như thế, có nghĩa mọi người dân Việt Nam đều là những tử tù dự bị. Nhận thức vấn đề như vậy mà chúng ta cần phải lên tiếng.

Lên tiếng cho sinh mạng một người đã đành mà là cả nền tư pháp Việt Nam tác động đến toàn dân thì càng cần phải lên tiếng”

Ông nói thêm rằng, với hệ thống tư pháp hiện nay, muốn xét xử lại vụ án Hồ Duy Hải một cách công minh thì phải bãi nhiệm các vị trong Hội đồng thẩm phán để thay các vị khác. Đó là suy luận logic. Nhưng trong tình hình chính trị Việt Nam hiện nay thì đó là chuyện kinh thiên động địa chứ không dễ.

Cũng với quan điểm phải thay đổi nền tư pháp Việt Nam hiện nay với những phiên tòa bị coi như trò hề, như vở kịch tồi…chị Nguyễn Hoàng Ánh nhận xét:

“Chúng tôi nghĩ rằng nền tư pháp của Việt Nam đang cần rất nhiều sự cải tiến. Phía chính quyền chỉ cần lắng nghe thì sẽ có những động thái nhất định nào đó. Tức là chúng tôi muốn góp ý để cho hệ thống tư pháp phải sửa sai. Những bản án khác thì có cơ hội sửa sai chứ án tử hình thì không có cơ hội sửa sai nữa.

Tòa án xử vậy chúng tôi thấy có bất công, không hẳn chỉ vì số phận của Hải mà nó vì nền tư pháp nói chung của Việt Nam. Mình chỉ muốn một phiên tòa công bằng cho trường hợp này cũng như những trường hợp sau này.”

Chị cho biết nhóm của chị khá kỳ vọng với kết quả của bản kiến nghị lần này, ít nhất là với đề nghị tạm dừng thi hành án tử hình đối với Hồ Duy Hải, như năm 2014. Theo chị, chính quyền Việt Nam hiện nay cũng khá là nghe dân. Những vấn đề không liên quan đến chính trị thì ý kiến của người dân được lắng nghe hơn so với trước.

[Link để ký tên vào Kiến nghị: https://tinyurl.com/petitionhoduyhai]

Quanh việc tòa án VN nói bức xúc vụ Hồ Duy Hải là do ‘truyền thông bẩn’

 

Ý kiến của một số luật sư về phản ứng mới đây của ngành tòa án Việt Nam trước bức xúc dư luận quanh kết quả xét xử Hồ Duy Hải.

Quanh việc tòa án VN nói bức xúc vụ Hồ Duy Hải là do ‘truyền thông bẩn’

Mỹ Hằng

BBC News Tiếng Việt

Bản quyền hình ảnhẢNH TƯ LIỆU GIA ĐÌNH HỒ DUY HẢI

Không lâu sau phiên xét xử giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải với kết luận y án tử hình gây bức xúc dư luận, tạp chí tòa án Việt Nam đã có những phản ứng bị cho là ‘đổ thềm dầu vào lửa.”

Cụ thể, trang báo chính thống của tòa án Việt Nam có bài viết với tiêu đề: “Vụ án Hồ Duy Hải: “Nhiễu thông tin”, “truyền thông bẩn” đã làm ảnh hưởng đến chính trị và cả nền tư pháp.”

Trong bài, người được phỏng vấn nói mẹ Hồ Duy Hải kêu oan cho con là do bị ‘các thế lực thù địch xúi giục’; và một số ĐBQH và nhà báo tự do ‘bị lợi dụng’ để ‘xuyên tạc sự thật, nói xấu chế độ’.

Cùng thời điểm, Phó Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Trí Tuệ xuất hiện trên báo chính thống cho hay ông đã làm việc với Bộ Công an để “xem xét, xử lý những thông tin đe dọa, xúc phạm thẩm phán’.

Bình luận quanh sự việc này, luật sư Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài và Phùng Thanh Sơn nhận định với BBC News Tiếng Việt rằng những phản ứng này cho thấy rõ ràng vụ án đã tạo nên một áp lực chính trị lớn lên ngành tư pháp, và cả thể chế Việt Nam.

‘Suy giảm nghiêm trọng uy tín đảng cầm quyền’

Luật sư Lê Công Định nói chưa bao giờ ông thấy một quyết định của TANDTC bị công luận, vốn đã không có niềm tin vào công lý và hệ thống tư pháp Việt Nam, phản đối nặng nề như lần này.

Nhà nước Việt Nam luôn “đổ thừa cho các thế lực thù địch kích động dân” mỗi khi vấp phải phản ứng từ dư luận…Luật sư Lê Công Định

“Họ phẫn nộ hơn khi quyết định tố tụng vừa kém thuyết phục về mặt pháp lý, vừa thiếu tầm vóc lẽ ra phải có ở một hội đồng thẩm phán cao cấp nhất trong hệ thống các toà án.”

Luật sư Định bình luận rằng khác với các nước trên thế giới, chức vụ chánh án ở Việt Nam không phải là một chức vụ chuyên môn trong ngành tư pháp, mà là chức vụ chính trị, được dùng như một bước đệm để các quan chức thăng tiến hơn trong bộ máy của ĐCS cầm quyền. Điều này càng thấy rõ hơn qua vụ Hồ Duy Hải.

“Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13 sắp diễn ra càng làm cuộc tranh đua giành một vị trí trong Bộ Chính trị trở nên ráo riết hơn. Dưới áp lực và ảnh hưởng từ sự lên án của công luận, ông Chánh án TANDTC Nguyễn Hoà Bình chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trước các đối thủ chính trị khác. Vì họ sẽ dùng sự thất bại đối với lòng dân do quyết định giám đốc thẩm vừa rồi gây ra như một điểm yếu để tấn công ông.”

Cũng đề cập đến lá bài chính trị, luật sư Phùng Thanh Sơn nhận định rằng quyết định y án có thể sẽ có lợi về mặt chính trị cho những cá nhân liên quan đến vụ án này trong thời kỳ trước đây, nhưng khả năng làm suy giảm nghiêm trọng uy tín của đảng cầm quyền.

“ĐCSVN lãnh đạo toàn diện, trong đó có hệ thống tư pháp. Nhưng quyết định bác kháng nghị vừa qua của Hội đồng thẩm phán TANDTC chứng minh một điều nền tư pháp Việt Nam không có công lý. Người dân sẽ đặt vấn đề về trách nhiệm và vai trò lãnh đạo của ĐCSVN ở đâu lại để xảy ra một phiên tòa mà nói như mẹ tử tù Hồ Duy Hải là “bầy hầy” như vậy.”

“Còn “bầy hầy” như thế nào chắc là mọi người đều thấy rõ trên báo lề phải, lề trái, và mạng xã hội. Nhiều ĐBQH cũng đã lên tiếng.”

“Theo tôi, để bảo vệ uy tín của mình, ĐCSVN không nên hành xử theo kiểu “đã phóng lao thì phải theo lao” mà phải dũng cảm sửa sai. Như thế sẽ truyền tải một thông điệp đến dân chúng rằng: “nếu hệ thống tư pháp không thể bảo vệ được công lý thì còn có ĐSCVN đứng ra bảo vệ”.

Luật sư Nguyễn Văn Đài cũng cho rằng thông qua báo chí chính thống của nhà nước Việt Nam, mạng xã hội, và báo chí quốc tế, ông nhận thấy gần như người Việt từ mọi thành phần xã hội đều phản ứng mạnh và quyết liệt sau quyết định của Hội đồng thẩm phán vụ Hồ Duy Hải, chủ yếu là “phê phán, chỉ trích”, thậm chí “miệt thị”.

Đổ cho một số ĐBQH ‘bị thế lực thù địch lôi kéo’ khi bày tỏ ý kiến trong vụ Hồ Duy Hải, là vi phạm pháp luật ở nhiều khía cạnh.

Luật sư Nguyễn Văn Đài

“Họ bày tỏ việc mất niềm tin vào ngành tư pháp của Nhà nước Cộng sản nói riêng và cả chế độ chính trị nói chung…”

Theo luật sư Đài, điều này đáng lo ngại cho ĐCSVN vì lâu nay đã đánh mất niềm tin trong nhân dân, vừa kịp lấy lại chút ít niềm tin sau vụ Covid-19 thì nay lại bị vụ Hồ Duy Hải làm ‘mất sạch’, thậm chí ‘làm khủng hoảng hơn niềm tin của người dân với chế độ’.

Luật sư Đài cũng nhìn nhận rằng lo ngại ảnh hưởng đến nền chính trị và tư pháp của chính phủ Việt Nam rất rõ ràng.

Bởi “họ đã dùng ngay các cơ quan truyền lớn của trung ương như VTV, VOV, báo Nhân dân, và báo của ngành Tòa án để đổ lỗi cho các “thế lực thù địch”, đổ lỗi cho việc “Nhiễu thông tin”, “Truyền thông bẩn”. Tôi cho rằng họ làm như vậy càng làm phản tác dụng, bởi vì các tầng lớp nhân dân khi phản ứng thì đều lấy thông tin vụ án từ các báo chính thống của nhà nước Cộng sản khi vụ án xảy ra từ tháng 1/2008 tới nay,” luật sư Đài phân tích.

“Đồng thời họ so sánh với các nội dung tranh luận giữa Hội đồng thẩm phán với các nội dung kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC cho thấy các nội dung đó đều là sự thật khách quan.”

‘Phản ánh đúng bản chất của truyền thông Cộng sản’

Bình luận về phản ứng của ngành tòa án mới đây, luật sư Lê Công Định nói nhà nước Việt Nam luôn “đổ thừa cho các thế lực thù địch kích động dân” khi vấp phải bất kỳ phản đối nào của dư luận, mà không nhận ra trách nhiệm của chính mình trong việc tạo ra sự phẫn nội đó.

“Các phát biểu của ngành tòa án cũng phản ánh lo ngại của nhà nước Việt Nam trước bất ổn xã hội có thể xảy ra,” ông Định nói.

Đề cập đến phát biểu mới đây của ông Phó Chánh án Nguyễn Trí Tuệ về việc ‘báo công an’ để xử lý các tin ‘đe dọa thẩm phán,” ông Định nói “thật buồn cười, không xứng với tư cách của một thẩm phán Toà án Tối cao”.

“Ở các nước văn minh, các thẩm phán của Toà án Tối cao làm việc tại trụ sở của toà, và kết quả công việc của họ là các phán quyết và quyết định được tuyên. Họ chỉ nhóm họp để phán quyết, không bao giờ xuất hiện ở nơi công cộng hay cơ quan nhà nước nào đó để phân trần công việc của toà án hay chỉ trích ai. Sự tôn nghiêm và đáng kính của hệ thống toà án và các thẩm phán chính là chỗ đó.”

“Còn ở Việt Nam, Phó Chánh án TANDTC lại ra ngoài phát biểu linh tinh, nhằm phân trần quyết định của mình, rồi đổ thừa và quy chụp động cơ chính trị cho các thế lực khác trước công kích của dư luận đối với quyết định của chính mình. Nói thật, tôi thấy ông Phó Chánh án TANDTC thật thiếu tư cách và tầm vóc lẽ ra phải có và nên giữ gìn. Ở nước này, chưa có nhân vật chính trị, nhân vật chính quyền hay định chế nhà nước nào thực sự biết giữ thể thống cho chính họ và hệ thống của họ.”

“Tôi thấy các thẩm phán Việt Nam thật thảm hại về tư duy và thiếu tư cách của một quan toà đúng nghĩa.”

Đổ lỗi cho ‘truyền thông bẩn’, ‘thế lực thù địch’ là ‘một chiều’ và ‘quy chụp.

Luật sư Phùng Thanh Sơn

Về phát biểu rằng có ĐBQH bị “lợi dụng” trong vụ Hồ Duy Hải, luật sư Định nói:

“Các Đại biểu quốc hội nào bị cáo buộc phi lý như vậy có quyền lên tiếng phản bác, thậm chí yêu cầu cơ quan điều tra xem xét dấu hiệu về hành vi vu khống của cá nhân thẩm phán nào đã cáo buộc vô căn cứ như thế.”

Luật sư Đài cũng có chung quan điểm với luật sư Lê Công Định, rằng ông “thấy buồn cười” về phản ứng của ngành tòa án Việt Nam, bởi “nó phản ánh đúng bản chất của truyền thông của nhà nước Cộng sản là không bao giờ dám nhận sai lầm, khuyết điểm mà luôn tìm cách đổ lỗi cho người khác hay “thế lực thù địch.”

“Chúng ta cần phải hiểu rằng việc chuẩn bị cho phiên tòa Giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải được tính toán rất kỹ càng. Thông thường Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ gồm 3 thẩm phán. Việc có 5 hay 7 thẩm phán là rất hiếm. Bởi vì họ còn đề phòng trường hợp khi một quyết định của phiên tòa giám đốc thẩm bị hủy bỏ hay phải xét xử lại thì phải có các thẩm phán khác cho một phiên xử khác. Vì các thẩm phán đã tham gia phiên xử trước đó sẽ không được tham gia phiên xử lại.”

“Nhưng trong phiên tòa giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải, thì toàn bộ 17 thẩm phám của HĐPT TANDTC đều tham gia. Việc này là để quyết định cho một quyết định đã được chuẩn bị trước. Họ làm vậy là muốn cho nhân dân biết rằng quyết định của toàn thể HĐPT là quyết định đúng, không thể có sai lầm, và không thể bác bỏ vì không còn thẩm phán để xét xử lại.”

“Bởi vậy trong 17 nội dung biểu quyết của Hội đồng Thẩm phán đều là 17/17 thẩm phán tán thành. Nhưng ngành tòa án và cả chế độ đã bất ngờ về phản ứng quá mạnh của mọi tầng lớp nhân dân. Buộc tờ báo ngành tòa án phải có bài viết để đổ lỗi cho “thế lực thù địch”, “nhiễu thông tin” và “truyền thông bẩn”. Tôi cho rằng chính bài báo nêu trên mới tự làm bẩn tờ báo của ngành tòa án, mà hậu quả là họ phải gỡ bỏ.”

‘Một chiều và quy chụp’

Luật sư Đài cho rằng việc đổ cho một số ĐBQH ‘bị thế lực thù địch lôi kéo’ vi phạm pháp luật ở nhiều khía cạnh.

“Thứ nhất là tội vu khống và chụp mũ. Khi nói như vậy thì nhà báo và cơ quan báo chí phải có bằng chứng “thế lực thù địch” ở đây là ai? Tổ chức nào? Họ đã liên hệ hay lợi dụng các Đại biểu Quốc hội như thế nào? Nhưng việc viết và đăng bài báo có nội dung chụp mũ, vu khống, đổ lỗi cho các “thế lực thù địch” đã trở thành bản chất của truyền thông nhà nước Cộng sản nói chung.”

“Thứ hai, là nhà báo và cơ quan báo ngành tòa án đã xúc phạm đến các ĐBQH khi các Đại biểu đang thực thi quyền giám sát của họ. Họ có quyền nêu quan điểm, đánh giá của họ về quyết định của Hội đồng Thẩm phán. Như đã nói ở trên, do bài báo đã có nội dung vi phạm pháp luật và bị công luận phản ứng mạnh nên họ đã phải gỡ xuống.”

Luật sư Phùng Thanh Sơn cũng cho rằng việc đổ lỗi cho ‘truyền thông bẩn’, ‘thế lực thù địch’ là ‘một chiều’ và ‘quy chụp’, không hề có bằng chứng và không hề có tính thuyết phục; và rằng chính quyết định vừa qua của HĐTP mới là nguyên nhân chính làm ảnh hưởng đến vị thế của chế độ, chứ không phải do ‘truyền thông bẩn’.

 Thanh Sơn cũng chỉ ra mâu thuẫn của ngành tòa án, rằng một mặt nói rằng quyết định của HĐTP “được đông đảo người dân ủng hộ”, một mặt lại cho đại diện ngành tòa án lên báo để “ra sức chống chọi với dư luận”.

Với cáo buộc ĐBQH bị các thế lực thù địch ‘lợi dụng’, ông Sơn nói ông không biết ĐCSVN có quy định nội bộ nào cấm ĐBQH không được sử dụng mạng xã hội do sợ “tự diễn biến, tự chuyển hóa” hay không. Nhưng về mặt pháp lý, ĐBQH có quyền đăng ý kiến cá nhân lên Facebook mà không nhất thiết phải dùng đến quyền giám sát của Đại biểu Quốc hội. Pháp luật không cấm nếu đó không phải là nội dung vu khống, sai sự thật, mà chỉ nêu quan điểm, kiến nghị của người viết.

“Nếu HĐTP TANDTC làm đúng quy định pháp luật, tuyên hủy án trả hồ sơ điều tra lại thì chắc không có “thế lực thù địch nào có thể lợi dụng được,” luật sư Sơn nói.

Bài báo của ngành tòa án nói gì?

 Image captionẢnh chụp màn hình bài báo trên Tạp chí Tòa án Việt Nam

Trong bài báo nói trên, người được phỏng vấn là ông Nguyễn Minh Tâm, nguyên Giám đốc Trung tâm Khoa học và Tư liệu Giáo khoa, Học viện Chính trị Công an Nhân dân, người được cho là “đã nghiên cứu rất sâu vụ án từ những ngày đầu xảy ra”.

Ông Tâm cho rằng các điều tra viên tỉnh Long An đã làm việc ‘logic, khoa học, hợp lý’, và rằng phán quyết của Hội đồng thẩm phán là ‘Hoàn toàn đúng quy định của pháp luật’.

Đáng chú ý là, ông Tâm cho rằng việc mẹ Hồ Duy Hải một mực kêu oan cho con là do “đã bị một số kẻ lợi dụng và sau đó là rất nhiều người khác, ở các tầng lớp, các nhóm xã hội khác nhau, lợi dụng”.

Ông kết luận: “Dư luận bị nhiễu thông tin, điều này có hệ quả đặc biệt nghiêm trọng.”

Ông giải thích quan điểm này rằng “hệ thống thông tin” đã “xào xáo, cắt xén, thêm gia vị”, để làm thành vấn đề ‘hot”; ‘tung hỏa mù’ để ‘sự việc bị che mờ’, ‘khiến cơ quan tố tụng lúng túng’ còn ‘người dân thì nghi ngờ’.

Ông Minh cũng đề cập đến “làn sóng thổi phồng, bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu chế độ của các thế lực phản động trong và ngoài nước”, và rằng vụ Hồ Duy Hải đã bị “các thế lực chính trị cơ hội lợi dụng”.

“Trước đây những thành phần này tập trung vào vụ Đồng Tâm,” và giờ thì “lại bám vào vụ Hồ Duy Hải, coi như một miếng mồi mới, để tiếp tục trào lưu kích động dư luận, xuyên tạc, bịa đặt, chống phá nhà nước,” ông Minh nói.

Ông Minh cũng đặc biệt nhắc đến việc “Đại biểu Quốc hội và hai nhà báo tự do bị lợi dụng”. Ông Minh không nêu tên ĐBQH nào, nhưng bài báo đề cập tên tắt của nhà báo tự do Tr.C.H.D.

Để ngăn chặn, ông Minh đề xuất báo cáo những việc này lên ông Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị.