CON NGƯỜI VĨ ĐẠI

CON NGƯỜI VĨ ĐẠI

Trong hầu hết các lãnh vực của cuộc sống, ta thường đọc và

nghe thấy hai từ “vĩ đại” để nói về cá nhân nào đó.

Newton, Einstein, Hawking… là những nhà vật lý vĩ đại.

Micheal Faraday, Mendeleev, Lomonosov là những nhà hóa học vĩ đại.

Plato, Kant, Khổng Tử… là các triết gia vĩ đại.

Lịch sử một dân tộc nào đấy cũng không ngoại lệ, cũng có

những con người mà sự nghiệp và công lao của họ là rất vĩ đại.

Bài viết này này nhằm chia sẻ suy nghĩ của cá nhân tôi về hai chữ “vĩ đại” trong lịch sử một dân tộc. Và rất mong nhận được sự phản hồi của quý vị.

Xin bàn về hai nhân vật tôi ngưỡng mộ.

* * *

Nhân vật thứ nhất là George Washington (1732-1799). Ông là người lãnh đạo dân Mỹ trong cuộc đấu tranh cách mạng chống lại thực dân Anh. Có thể xem ông là cha đẻ của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nhân dân Mỹ gọi ông là Cha. (1)

Cuộc đời và sự nghiệp của ông, mọi người có thể dễ dàng tìm thấy trên mạng. Nhưng với tôi, ông trở nên vĩ đại hơn những người khác không phải vì ông chỉ huy đánh nhau giỏi, càng không phải ông là tổng thống có năng lực. Ông vĩ đại vì ông chỉ làm tổng thống có 2 nhiệm kỳ.

Sau đó, ông không chỉ định con hay cháu ông lên thay thế, mà để dân Mỹ tự do bầu ra tổng thống mới. Chuyện gì sẽ xảy ra khi ông Washington, dựa vào việc dân Mỹ coi ông như Cha, để rồi :

* Giành toàn bộ công lao của cuộc cách mạng,

* Nắm quyền lực tuyệt đối trong tay,

* Làm tổng thống trọn đời,

* Truyền ngôi cho con hoặc em của mình,

* Thực hiện những chính sách hoàn toàn sai lệch về kinh tế,

* Bỏ ngoài tai mọi phản biện, thậm chí sử dụng công an, quân đội đàn áp bất đồng chính kiến,

* …

Lúc đó, có lẽ đời sống dân Mỹ sẽ không khác đời sống dân Bắc Triều Tiên hiện nay. Có lẽ nước Mỹ cũng có mức tăng trưởng kinh tế cỡ như Cuba hiện nay. Dân Mỹ cũng sẽ chết đói vài chục triệu người như dân Trung Quốc thời kỳ “đại nhảy vọt”. Và ông sẽ bị nhân dân Mỹ đứng lên đánh đuổi, và chịu hậu quả như là Ceausescu đã chịu ở Rumani.

Nhưng ông không làm như thế. Ông trở thành vĩ đại cũng vì thế và nhân dân Mỹ vẫn mãi gọi ông là Cha cũng vì thế. Ông nhân danh tự do để tập hợp dân Mỹ tiến hành cách mạng và ông giữ đúng tinh thần tự do sau khi cách mạng thành công.

* * *

Người thứ hai đáng ngưỡng mộ thì gần với thế hệ chúng ta hơn. Ông năm nay 91 tuổi, còn mạnh khỏe (bài viết tháng 03/2010).

Ông đã từng bị bắt và ở tù 27 năm vì bị cho là “phá hoại đất nước”. Ông là người Nam Phi da đen đã chống lại chủ nghĩa Apartheid. Khi ra tù, ông trở thành tổng thống của nước Nam Phi tự do, dân chủ, bình đẳng chủng tộc. Ông là Nelson Mandela.

Nhưng với tôi, ông trở nên vĩ đại hơn những người khác không phải vì ông can đảm hơn người, cũng không phải chuyện ông đã có phương pháp đấu tranh hợp lý, trở thành Tổng Thống da đen đầu tiên của Nam Phi. Ông vĩ đại bởi vì sau bao năm tù đày, ông không hề thù oán chế độ cũ.

Và khi đã có quyền lực trong tay, ông lập tức thực hiện ước nguyện xây dựng nước Nam Phi tự do, dân chủ của mình. Ông được so với Mahatma Gandhi. Có thể xem ông như vị Thánh, là Cha đẻ của nước Nam Phi hậu Apartheid.

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như ông quyết định đền bù cho 27 năm tù đày của mình bằng cách:

* Coi đất nước Nam Phi là của riêng mình,

* Bắt bỏ tù người của chế độ cũ,

* Bắt hoặc thủ tiêu tất cả những người đối lập.

* Đưa anh, em, con, cháu, họ hàng nắm toàn bộ các ngành trọng yếu như Tư Pháp, Quốc Phòng, Ngân Hàng, Công An…,

* Ký hợp đồng khai thác Kim Cương với Trung Quốc không thông qua Quốc hội, bất chấp sự phản đối của nhân dân Nam Phi.

* Làm tổng thống đến hết đời và truyền ngôi cho con hoặc em của mình,

– …

Khi đó, nhân dân Nam Phi sẽ sống trong chế độ toàn trị. Từ việc làm, con cái đi học, cư trú, phát ngôn, đi lại, y tế đều bị kiểm soát bởi nhà độc tài Nelson Mandela. Cả nước Nam Phi sẽ chỉ có một tư tưởng là tư tưởng Nelson Mandela. Mọi thông tin chỉ một chiều, ai có quan điểm trái chiều sẽ bị quy là phản động. Nhẹ thì bị mất việc, bị cắt điện thoại. Nặng thì bị quản chế, nặng hơn là bị bắt giam.

Và hậu quả là cuộc sống của nhân dân Nam Phi còn tồi tàn hơn ở chế độ cũ. Liệu rằng nhân dân Nam Phi có tôn trọng ông hay không, có coi ông như ân nhân hay không? Hay là họ sẽ rơi vào trạng thái “trong héo ngoài tươi”.

Không! Ông đã không làm thế. Rất may mắn cho dân tộc Nam Phi có người con như ông. Ông trở nên vĩ đại là vì thế.

* * *

Tôi không biết 2 nhân vật vĩ đại trên có nghiên cứu Triết học hay không, nhưng hành động của họ lại hết sức biện chứng. Trong triết học, cặp phạm trù “tất nhiên” và “ngẫu nhiên” đi liền với nhau.

Mỗi một đất nước, ở một giai đoạn nhất định, “tất nhiên” sẽ có cách mạng và “tất nhiên” sẽ có lãnh tụ. Nhưng ai sẽ lãnh đạo cuộc cách mạng và trở thành lãnh tụ thì mang tính ngẫu nhiên (hiểu theo nghĩa không có anh thì sẽ phải có người khác).

Cách mạng Mỹ chống thực dân Anh là tất nhiên, nhưng ông Washington làm lãnh tụ là ngẫu nhiên. Chủ nghĩa Apartheid phản động sụp đổ là chuyện tất nhiên, hành động của ông Nelson Mandela là ngẫu nhiên.

Do đó, việc hai ông không tự cho mình là vĩ đại, không giành hết công lao của lịch sử, không biến mình thành kẻ độc tài là thuận theo phép biện chứng. Hai ông đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, tôn trọng tự do và quyền lựa chọn của nhân dân mình. Hai ông không tự xưng, cũng không ép nhân dân gọi mình là Vĩ Đại. Hai ông vĩ đại bởi vì thế. (2)

Để làm rõ hơn ý “vĩ đại” trong bài viết này, ngược dòng lịch sử, đã có những nhân vật “xém nữa vĩ đại”. Có nghĩa là họ đã có những công lao nhất định với dân tộc, với nhân dân họ. Nhưng do tham quyền cố vị, độc tài, thực hiện chính sách lạc hậu, lỗi thời, họ chỉ là người có công chứ không là người vĩ đại. Thậm chí, đôi lúc họ còn trở thành có tội đối với dân tộc họ.

Trường hợp Tần Thủy Hoàng là một ví dụ. Ông có công thống nhất Trung Hoa, nhưng chính sử không coi ông là anh hùng dân tộc. Nếu sau khi thống nhất đất nước, ông tôn trọng quyền tự do tư tưởng, không khủng bố trí thức thì nhà Tần sẽ vững mạnh, chắc chắn địa vị của ông trong lịch sử sẽ khác.

Đằng này, ông độc tài tàn bạo, đốt sách, chôn học trò, đòi trường sinh bất lão. Ông lại tham vọng truyền ngôi cho con cháu là Nhị Thế (hai đời), Tam Thế (ba đời),… cho đến Vạn Thế (muôn đời !).

Kết quả nhà Tần như thế nào thì ai cũng biết.

Gần đây, giữa thế kỷ 20, các nhân vật nổi đình nổi đám như Stalin, Mao Trạch Đông có được coi là vĩ đại hay không? Stalin thắng Đức phát xít, đưa Liên Xô lên hàng siêu cường, Mao đánh Nhật, đuổi Tưởng, xây dựng nên nước Cộng Hòa Nhân Dân Trunh Hoa.

Công lao của hai ông lớn lắm chứ, nhưng tiếc hai ông chỉ là những nhân vật “xém vĩ đại thôi”. Vì sự nghiệp của họ sau đó có vấn đề, lịch sử còn đang xem xét. Thậm chí người ta còn đòi luận rõ công và tội. Vậy thì nhất định chưa thể xem là Vĩ Đại được. Cho đến khi lịch sử – vị giám sát công bằng nhất – trả lời.

Để kết thúc bài viết, xin mời quý vị cùng đọc bài báo, với những câu văn tâm huyết và sâu sắc:

“Ngày đó, sau 27 năm sống trong ngục tù, Mandela đã được trả tự do. Và ngay sau phút giây đầu tiên được ngắm nhìn bầu trời bao la ấy, Mandela bắt tay vào công cuộc xây dựng tự do, hàn gắn những chia cắt trong lòng dân tộc.”

“Giờ đây, khi được trả tự do, có thể ông sẽ báo thù. Cái lối tư duy này thậm chí đã đẩy không ít người vào quyết định rời khỏi Nam Phi. “

“Nụ cười không chứa đựng hận thù. Nụ cười của cuộc đấu tranh vì tự do vẫn tiếp diễn. Nụ cười của niềm tin mãnh liệt vào một tương lai, nơi mà dân tộc Nam Phi hòa chung một khối, bỏ quá khứ Apartheid đen tối lại phía sau.”

“Và ông đã cùng nhân dân tiếp tục cuộc đấu tranh, nhưng không phải bằng con đường bạo lực đẫm máu, để đưa đất nước tươi đẹp này thoát khỏi đêm trường Apartheid.”

“Trong hoàn cảnh ngục tù đằng đẵng, ông vẫn luôn giữ được khí tiết của một chiến sĩ dám dấn thân vì đại nghĩa. Mandela từng nhiều lần từ chối các điều kiện trả tự do của nhà cầm quyền.

Chính vì vậy mà uy tín của ông ngày một lớn trong lòng người dân Nam Phi, bất chấp chính quyền Apartheid đã sử dụng mọi biện pháp để ngăn cấm việc truyền bá hình ảnh, tài liệu về ông.

Rốt cuộc, bản án khắc nghiệt của nhà cầm quyền nhằm triệt tiêu ý chí chiến đấu của ông, cũng là của người dân Nam Phi bị áp bức, đã trở nên vô hiệu.”

“Rốt cuộc, chế độ Apartheid bị bãi bỏ. Mandela trở thành Tổng thống Nam Phi vào năm 1994. Đó là cuộc bầu cử đầu tiên với những ý nghĩa dân chủ thực sự.”

Nelson Mandela, dù đã cùng đám đông hô vang “Chính quyền thuộc về chúng ta” khi ở Cape Town trong buổi tối tự do đầu tiên sau 27 năm tù đày, đã chọn cách bước lên nắm chính quyền bằng việc tuân thủ đầy đủ nguyên tắc của một nền chính trị dân chủ lành mạnh.”

“Và ông cũng chỉ làm tổng thống trong một giai đoạn ngắn – từ 1994 đến 1999 – sau đó rời chính trường và trao quyền chọn người kế nhiệm vào tay cử tri Nam Phi.”

“Mandela vĩ đại không chỉ bởi quá trình đấu tranh, những năm tháng bất khuất trong chốn lao tù, hành trình xóa bỏ chế độ Apartheid hay nỗ lực hòa giải dân tộc. Ông còn bất tử bởi đã xây dựng những nền móng vững chắc cho nền dân chủ ở Nam Phi. Công lao xóa bỏ chế độ Apartheid của ông sẽ trở nên vô nghĩa nếu rốt cuộc ông không xây dựng được một nền dân chủ lành mạnh cho đất nước này.”

Nguyễn Đại – 25 tháng 3/2010

________________

  1. Lấy ý câu “nhân dân ta gọi Người là Bác” của Tố Hữu.
  2. Vĩ Đại thật sự là do lịch sử đánh giá, không thể “tự xưng” được.

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

May be a black-and-white image of child, standing and outdoors
 

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

Ông chủ nhiệm báo Việt Luận hỏi tôi chúng ta có thể rút bài học nào từ biến cố 30-4-1975? Câu hỏi thực là khó. Có rất nhiều bài học lịch sử mà chúng ta có thể rút từ cuộc chiến tranh kết thúc ngày 30 tháng 4-1975. Tất cả đều là những bài học lớn cho cuộc vận động dân chủ hiện nay.

Nhưng trước hết xin có vài lời về những bài học lịch sử: phải rất thận trọng và khiêm tốn vì chúng thường sai. Tại sao ? Lịch sử rất quan trọng bởi vì cuộc sống của một quốc gia, cũng như cuộc sống của một người, chủ yếu là thực nghiệm. Tuy vậy chúng ta lại không thể thí nghiệm. Chúng ta không thể thử nghiệm sự sụp đổ hay sự phá sản của một quốc gia. Chúng ta không thể thử nghiệm trên đời sống của một dân tộc để xem cái gì sẽ xảy ra nếu thực hiện chủ nghĩa này hay chính sách nọ, như thế là vô trách nhiệm và cũng có thể là tội ác. Đó là sai lầm to lớn của các chế độ cộng sản. Họ đã đem số phận của các dân tộc để thử nghiệm một chủ nghĩa mà sau này thực tế chứng minh là rất sai.

Lịch sử giúp chúng ta bù lại phần nào sự kiện không thể làm thí nghiệm, một thiếu sót nghiệt ngã trong cố gắng rút ra những kết luận cho tương lai. Cần nhấn mạnh là một phần nào thôi vì các biến cố lịch sử chỉ xảy ra một lần trong khi chúng ta không thể kết luận sau chỉ một lần quan sát. Vả lại các biến cố lịch sử cũng được nhìn và cảm nhận một cách khác nhau ở từng con người tùy góc độ quan sát và kinh nghiệm cá nhân. Như vậy muốn rút ra một bài học lịch sử thì phải cố gắng vượt ra khỏi chính mình để nhìn các biến cố lịch sử dưới nhiều góc khác nhau, so sánh với những biến cố tương tự đã xảy ra trong những điều kiện tương tự tại các nước khác. Và cũng phải phối hợp với những kiến thức mà sự chính xác đã được chứng minh qua thời gian. Rút ra những bài học lịch sử là điều không giản dị chút nào.

Sau sự dè dặt đó và trở lại với câu hỏi được đặt ra, bài học mà tôi chọn để rút ra là một bài học mà đáng lẽ ra chúng ta phải biết mà không cần có biến cố 30 tháng 4-1975 bởi vì nó là một kết luận của tất cả mọi khảo cứu chính trị học, xã hội học và tâm lý học và cũng đã được kinh nghiệm của mọi dân tộc chứng minh. Chúng ta chỉ đã không biết một điều bắt buộc phải biết. Một lý do khác khiến tôi chọn bài học lịch sử này trong rất nhiều bài học lịch sử quan trọng khác là vì, theo nhận xét của tôi, đó là bài học lịch sử mà sau 33 năm chúng ta vẫn chưa hiểu. Đó là đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tư tưởng chính trị và một đội ngũ chính trị. Cuộc chiến vừa qua trước hết là một cuộc đấu tranh chính trị. Nó cũng là lần đầu tiên mà người Việt Nam tàn sát nhau không phải chỉ để tranh giành quyền lực mà còn vì ý thức hệ. Tuyên truyền đã quan trọng hơn các trận đánh, lời nói đã có tác dụng hơn súng đạn.

*

Những năm cuối cùng của tôi ở Paris trước khi về nước cũng là những năm diễn ra hội đàm Paris để giải quyết chiến tranh Việt Nam. Lúc đó tôi lãnh đạo phong trào sinh viên và trí thức Việt Nam ủng hộ chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ở cương vị này tôi đã được tiếp xúc thường xuyên và một cách thân mật với các yếu nhân VNCH sang tham gia hoặc quan sát hòa đàm Paris. Nói chung họ là những người hiểu biết nhất về chính trị của chế độ này. Khi về Việt Nam phục vụ, ít lâu sau hiệp định Paris, tôi cũng có điều kiện thuận lợi để tiếp xúc và tìm hiểu môi trường chính trị VNCH. Nhận xét rất rõ rệt của tôi là những người cầm vận mệnh miền Nam lúc đó không biết ngay cả những kiến thức cơ bản nhất của đấu tranh chính trị và cũng không thấy cần phải học hỏi gì cả. Họ không phải là một đội ngũ và trong tuyệt đại đa số không phải là những người đấu tranh chính trị dù họ có thể giữ những vai trò chính trị rất quan trọng.

Họ sống co cụm trong một môi trường nhỏ hẹp cách biệt với quần chúng, đa số chỉ có một hiểu biết rất sơ sài về lịch sử và văn hóa Việt Nam, thậm chí ngôn ngữ Việt Nam. (Điều này không có nghĩa là họ nắm vững văn hóa và ngôn ngữ Pháp hoặc Mỹ). Tất cả đều là những người mà sự may mắn hoặc hoàn cảnh tình cờ đặt vào địa vị lãnh đạo trong một thời gian ngắn, tương tự như những nhân viên tạm thời, và không ý thức được rằng mình không thể là một người lãnh đạo. Làm chính trị đối với họ chỉ là quen biết và giao tế. Họ hãnh diện, có khi huênh hoang, tuyên bố là không thuộc đảng nào và không làm chính trị. Kiến thức chính trị của họ, khi có, chỉ là những kiến thức rất đại cương và một vài bài báo. Không một ai có suy tư chiến lược về sự sống còn của chế độ. Tôi cũng không gặp một người nào thực sự tin tưởng vào dân chủ. Chính quyền VNCH là một chính quyền không có nhân sự chính trị, trong khi đó là lý do hiện hữu và điều kiện tồn tại của mọi quốc gia. Tình trạng này đưa tới những yếu kém khó tưởng tượng.

Hãy thử lấy một thí dụ. Tất cả mọi cấp lãnh đạo, dân sự cũng như quân sự, mà tôi có dịp trao đổi đều phục sát đất phe cộng sản là tổ chức tiếp vận giỏi. Họ nói Mỹ dội bom B52 như thế mà “nó” vẫn vận chuyển được đầy đủ vũ khí và lương thực từ hàng ngàn cây số cho một đạo quân đông tới mấy trăm ngàn người. Sự thực thì đảng cộng sản chỉ tiếp vận vũ khí cho lực lượng của họ ở phía Nam mà thôi; còn lương thực, khó vận chuyển gấp nhiều lần so với vũ khí, thì họ mua ngay tại chỗ và bằng vàng. Miền Nam không có mỏ vàng, cũng không ai đem vàng vào Việt Nam mà chỉ có những người đem vàng ra nước ngoài. Vậy mà miền Nam vẫn có rất nhiều vàng và giá vàng thấp hẳn so với thế giới. Vậy ai đem vàng vào Việt Nam nếu không phải lực lượng cộng sản? Đó là một cách tiếp liệu rất thoải mái. Một kilô vàng có thể nuôi một tiểu đoàn đầy đủ quân số trong một tháng. Liên Xô, nước đỡ đầu cho quân đội cộng sản cũng là nước sản xuất vàng số 1 trên thế giới vượt rất xa các nước khác. Khi tôi lý luận như vậy thì mọi người, hành chính cũng như quân sự, đều thấy là rất có lý. Nhưng họ nghe để biết rồi thôi. Đó không phải là việc của họ, dù họ có thể là tướng lãnh hay bộ trưởng. Họ chỉ như những công chức và chỉ lo công việc của họ. Nếu các chính quyền miền Nam ý thức được điều này và có biện pháp đối phó thì chắc chắn quân đội cộng sản đã rất khốn khổ.

Một thí dụ khác là cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân. Quân cộng sản đồng loạt tấn công trên khắp lãnh thổ nhưng chính quyền Sài Gòn bị bất ngờ hoàn toàn, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng và các tướng tá đang vui tết. Thế giới có lý do để khinh thường chế độ VNCH. Chính tôi lúc đó chỉ là một du học sinh tại Paris mà cũng thấy rất xấu hổ.

Đó chỉ là hai thí dụ trong hàng ngàn thí dụ khác. Sở dĩ có những sơ hở kinh khủng như vậy là vì những kết luận chiến lược, và những biện pháp cụ thể để thực hiện chúng, chỉ có thể có được nếu có một đội ngũ lãnh đạo ổn định, gắn bó và quyết tâm để cùng nhau theo dõi các chuyển động, thu thập và phân tích những dữ kiện và rút ra những kết luận. Nhưng VNCH đã chỉ có một lãnh đạo ô hợp không được sàng lọc, không thành đội ngũ, không gắn bó với nhau và do đó không có quyết tâm chung. Trái với một huyền thoại phe cộng sản tuyên truyền rất dở và tổ chức rất luộm thuộm, tình báo của họ cũng rất kém. Nhưng họ là một đội ngũ chính trị và trước mặt họ không có một đội ngũ chính trị nào.

Không phải là những người lãnh đạo VNCH kém. Nếu xét từng cá nhân thì có rất nhiều người giỏi. Trình độ văn hóa nói chung của họ cao hơn hẳn các cấp lãnh đạo cộng sản. Đại đa số trong đời thường cũng là những người lương thiện. Vấn đề là họ chỉ là những cá nhân, không gắn bó trong một tổ chức. Hậu quả là mỗi người lo lấy mình, là chủ nghĩa luồn lách trong đó mỗi người, hay mỗi nhóm bè bạn nhỏ, cố gắng để khôn hơn những người khác, mỗi người chống tất cả, tất cả chống mỗi người. Trong trò chơi không ai có thể tin ai này người tốt cũng thành gian. Và thực tế đã như thế. Nếu miền Nam có một đảng cầm quyền thì tình thế sẽ rất khác. Những người “không làm chính trị” sẽ chỉ có những trách nhiệm chuyên môn, quyền lực chính trị sẽ ở trong tay một đội ngũ của những người gắn bó với nhau trong một số phận và một quyết tâm chung, lấy dân tộc và đất nước làm lý tưởng, coi sự sống còn của VNCH như cuộc chiến đấu của đời mình. Và họ sẽ có bản lĩnh chính trị cao.

Tổ chức là môi trường hội nhập và là sức mạnh, nhưng cũng là một môi trường học hỏi và đào tạo, là nơi sản xuất và sàng lọc ý kiến. Nó cũng tạo điều kiện cho những quyết định và hành động mạnh bạo. Miền Nam không thiếu những người có thể và muốn là thành phần của một đội ngũ như thế, trong đó có những người đã có thể trở thành những cấp lãnh đạo xuất chúng, nhưng họ không có điều kiện để kết hợp với nhau. Kết quả là mặc dù có một khối lượng khổng lồ những người có tiềm năng, kể cả vô số bằng cấp đại học, với những kinh nghiệm để học hỏi hằng ngày, miền Nam vẫn thiếu nhân tài. Các cấp lãnh đạo tài giỏi chỉ có thể đào tạo được trong sinh hoạt tổ chức.

*

Một đặc điểm của các chính quyền quốc gia là không có đảng cầm quyền. Tình trạng này rất không bình thường vì phản ứng tự nhiên trong sinh hoạt chính trị là phải có chính đảng. Ngay trong những thập niên đầu thế kỷ 20 việc đầu tiên của những người muốn đấu tranh giành độc lập là thành lập các đảng. Tại sao lại có tình trạng này? Đó là do một đặc tính bẩm sinh của chính quyền Quốc Gia Việt Nam, sau đổi thành Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền này không do đấu tranh mà có mà chỉ là một bộ máy thuộc địa do người Pháp để lại, và khi để lại họ chuyển giao quyền hành cho những cộng sự viên thân tín và đắc lực nhất của họ, nghĩa là những người không những không quan tâm tới chính trị mà còn thiếu cả ý thức quốc gia dân tộc. Họ không hề biết đến những vấn đề đặt ra cho một quốc gia và cứ tiếp tục làm việc như thường lệ, kể cả coi những người yêu nước như kẻ thù hay ít nhất như những phần tử phải phòng ngừa. Kết quả là họ ngăn cản sự ra đời và phát triển của các chính đảng.

Mẫu người tốt trong các chính quyền quốc gia là mẫu người không có đảng phái và không quan tâm tới chính trị, có bằng cấp cao là tốt, có cha ông làm quan thời Pháp thuộc lại càng đáng tin cậy hơn. Dần dần hình thành một văn hóa chính quyền kỳ lạ trong đó lớp người cầm quyền không bận tâm tới đất nước. Họ cầm quyền như những quan chức ngoại quốc. Một thí dụ: tất cả các bộ trưởng giáo dục đều cho con cái đi học các trường tiểu học và trung học Pháp thay vì trường Việt mà không hề thấy ngượng. Ngô Đình Diệm không hề thay đổi tình trạng này. Ông là người do Pháp đưa lên cầm quyền để tiếp tục một chính quyền do Pháp để lại. Thái độ chống Pháp bề ngoài của ông chỉ là một sự dàn cảnh. Việc đầu tiên ông làm là truy lùng các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt. Sau khi người Mỹ lật đổ ông Diệm, họ đưa lên chính quyền những tướng tá chẳng có một văn hóa nào, chưa nói văn hóa chính trị, phần lớn xuất phát từ quân đội Pháp. Trong một chế độ dân chủ, sinh hoạt chính đảng là cốt lõi. VNCH được tổ chức như một nước dân chủ nhưng lại không có sinh hoạt chính đảng.

Không phải là miền Nam không có đảng phái, ít ra trong mười năm cuối hoạt động đảng phái không bị cấm, nhưng mười năm là một thời gian quá ngắn và bối cảnh cũng không thuận lợi. Hơn nữa các đảng phái cũ đều đã quá suy yếu và lỗi thời vì không đổi mới tư tưởng chính trị, trong khi các chính đảng mới cũng không phát triển được vì cùng một lý do: không có tư tưởng chính trị. Một ngộ nhận vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay trong phe đối lập là người ta cứ đinh ninh rằng có thể thành lập được một chính đảng mà không cần phải có một chủ thuyết chính trị, nghĩa là những định hướng lớn cho đất nước và các chiến lược để thực hiện chúng trong bối cảnh văn hóa, xã hội và lịch sử của mỗi quốc gia. Một chủ thuyết như vậy chỉ có thể là thành quả của một công trình nghiên cứu và suy tư tập thể lâu dài và nhức nhối. Người ta thấy chỉ cần một “chương trình hành động”, và trong hầu hết mọi trường hợp chương trình hành động không khác bao nhiêu so với một bản danh mục rao hàng.

Những người cầm quyền trong phe quốc gia là những người được đưa lên cầm quyền chứ không phải đã giành được chính quyền. Họ đều không có tổ chức. Sau khi đã cầm quyền họ mới khám phá ra sự cần thiết của một đảng cầm quyền. Ông Nhu lập ra đảng Cần Lao, ông Thiệu lập ra đảng Dân Chủ, nhưng đều thất bại. Các chính đảng đúng nghĩa chỉ có thể thành lập được trong đấu tranh khó khăn cho một lý tưởng. Không ai có thể thành lập được một chính đảng đúng nghĩa sau khi đã có chính quyền. Cả ông Nhu lẫn ông Thiệu đã bỏ rơi các đảng vô tích sự mà họ lập ra – để cầm quyền với anh em, họ hàng và bè bạn – trước khi bị đánh đổ. Trước sau các chính quyền quốc gia vẫn có chung một đặc điểm ít được nhấn mạnh dù có thể là độc nhất trên thế giới: đó là những chính quyền không có đảng cầm quyền.

*

Sự kiện những người không thuộc một chính đảng nào được đưa lên cầm quyền và chọn những người không đảng phái làm bộ trưởng là một một điều quái đản xuất phát từ một tật nguyền bẩm sinh của các chính quyền quốc gia. Nó gây tại họa cho đất nước mà họ cai trị và đem lại thất bại cho chính họ, có khi thất bại bi thảm như trường hợp hai ông Diệm và Nhu. Nhưng với thời gian nó đã tạo ra cả một triết lý và một tập quán hoạt động chính trị: chủ nghĩa nhân sĩ. Đó là cách làm chính trị mà không tham gia một chính đảng nào, chỉ cố tạo uy tín cho mình để được biết đến, kể cả cầu cạnh các thế lực ngoại bang, và hy vọng sẽ có lúc thời vận đưa mình lên nắm chính quyền hoặc sẽ có ngày được mời tham chính. Các nhân sĩ cũng có thể không có bất cứ một hoạt động chính trị và một kiến thức chính trị nào nhưng vẫn mong có ngày được làm bộ trưởng, dân biểu, nghị sĩ. Nếu có một di sản của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà ta phải vứt bỏ một cách không nể nang thì chính là cái chủ nghĩa nhân sĩ này. Tiếc rằng chủ nghĩa nhân sĩ đã ăn rễ quá sâu. Có những người theo chủ nghĩa nhân sĩ mà không ý thức được. Rất nhiều người, trong cũng như ngoài nước, có học thức, có lòng với đất nước, có thiện chí, suy nghĩ lành mạnh và cũng rất muốn dấn thân nhưng không hề thấy nhu cầu phải tham gia một tổ chức chính trị nào cả.

Chủ nghĩa nhân sĩ vẫn còn tiếp tục cho đến nay trong môi trường Việt Nam hải ngoại và là lý do chính giải thích tại sao sau 33 năm chúng ta vẫn chưa có được một tổ chức dân chủ mạnh. Ngoài di sản VNCH cũng còn một lý do quan trọng khác. Đó là sự thiếu văn hóa tổ chức mà những người dân chủ trong nước cũng chia sẻ do hậu quả của một chế độ chuyên chính trong đó mọi kết hợp bị cấm đoán. Nhiều người cũng đã cố gắng thành lập tổ chức (đã có lúc người ta than phiền là có quá nhiều tổ chức chính trị) nhưng rồi đều khám phá ra những khó khăn không ngờ nên hầu như tất cả đều bỏ cuộc và triệt thoái trở lại tập quán nhân sĩ. Thực ra những khó khăn này chỉ không ngờ bởi vì chúng ta thiếu văn hóa chính trị và văn hóa tổ chức mà thôi, chúng chỉ là những vấn đề cổ điển của mọi tổ chức chính trị, hay chính đảng, đã được nghiên cứu kỹ và được trình bày trong nhiều tác phẩm. Thành lập một tổ chức chính trị có bao giờ dễ dàng đâu !

Phân tích các chính đảng không phải là mục đích của bài này. Chỉ xin tóm lược: đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tổ chức mạnh mới có hy vọng thành công; một chính đảng bắt buộc phải được xây dựng trên một tư tưởng chính trị và phải bắt đầu bằng một đội ngũ nòng cốt gắn bó và có bản lĩnh; trong những điều kiện lý tưởng nhất xây dựng một chính đảng cũng đòi hỏi ít nhất một hai thập niên. Xây dựng một chính đảng rất khó nhưng là điều kiện bắt buộc, nếu không thì hoạt động chính trị chỉ là vô ích, có thể còn có hại.

Theo tôi đó là bài học quan trọng nhất cần được rút ra từ biến cố 30 tháng 4-1975, một bài học mà đáng lẽ chúng ta đã phải biết mà không cần có biến cố này vì đó chỉ là một kiến thức cơ bản phải có ngay trong phản xạ của những người hoạt động chính trị. Ngày 30 tháng 4 đã chỉ nhắc lại sự thực hiển nhiên này, một cách rất tàn nhẫn. Những nạn nhân oan ức nhất chính là những quân nhân, công chức và cán bộ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Trong đại đa số họ là những người yêu nước, dũng cảm và đầy khả năng, một số đông đảo có tiềm năng lớn. Nỗi oan nghiệt của họ là đã không có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Họ không đáng phải chịu số phận mà ngày 30-4-1975 đã dành cho họ.

Cũng xin được chia sẻ một bài học cá nhân bởi vì nó cũng là một bài học nhỏ trong bài học lớn này. Cho tới ngày 30-4-1975 tôi là một viên chức khá cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã chứng kiến đoàn quân cộng sản chiến thắng tràn vào Sài Gòn. Sự hân hoan và hãnh diện của họ chỉ có thể so sánh được với thất vọng và tủi nhục của tôi. Tôi nghe như có tiếng nói từ trong lòng mình: “thà làm lính trong một đạo quân chiến thắng còn hơn làm tướng trong một đạo quân chiến bại”. Tôi vẫn hiểu và hành động như thế, nhưng lúc đó tôi hiểu một cách thấm thía lạ lùng. Hình như vẫn còn rất nhiều người chưa hiểu như thế, thậm chí còn nghĩ ngược lại.

*

Chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nếu kể cả tiền thân của nó là Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại, cũng đã chỉ tồn tại được 27 năm và đã sụp đổ từ 33 năm rồi. Trong suốt cuộc sống ngắn ngủi đó, dù đã có rất nhiều người yêu nước và dũng cảm bỏ mình dưới lá cờ của nó, nó chưa bao giờ là một nhà nước Việt Nam đúng nghĩa. Nó do Pháp lập ra và cáo chung khi bị Mỹ bỏ rơi. Nó chưa bao giờ kiểm soát được cả lãnh thổ Việt Nam và cũng chưa bao giờ có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Nó cũng là một chế độ rất tham nhũng, dù không tham nhũng bằng chế độ cộng sản hiện nay. Những người dân chủ và yêu nước không có lý do gì để thương tiếc chế độ này, càng không có lý do để lấy nó làm biểu tượng của cuộc đấu tranh vì dân chủ. Trong một giai đoạn, từ 1948 đến 1975, nó đã là một chọn lựa bất đắc dĩ để ngăn chặn sự thiết lập một chế độ cộng sản tại Việt Nam. Đó là một hợp đồng. Hợp đồng đó là tạm thời chịu đựng cái tồi dở để ngăn chặn cái độc hại. Nhưng cái tồi dở đã quá tồi dở và chúng ta đã không ngăn chặn được cái độc hại. Như vậy hợp đồng VNCH đã hoàn toàn chấm dứt. Cuộc vận động dân chủ hiện này là một cuộc đấu tranh hoàn toàn khác. Rút ra những bài học từ kinh nghiệm VNCH chỉ có ý nghĩa nếu có ích cho cuộc đấu tranh mới này. Bài học mà tôi đã chọn vẫn còn rất thời sự. Đáng buồn.

Nguyễn Gia Kiểng (30-4-2008)

TÂM TƯ C ỦA NGƯỜI GIÀ LẺ BÓNG

TÂM TƯ C ỦA NGƯỜI GIÀ LẺ BÓNG

Tuổi già lẻ bóng, cô đơn và khát khao tìm tri kỷ và cảm giác cô đơn, trống rỗng khi bạn đời ‘ra đi’…

“Tôi là một phụ nữ ngoài 60 tuổi, chồng qua đời 10 năm, lẻ loi, không có tài sản, có Medical, không bị các bệnh truyền nhiễm, tự chăm sóc bản thân được, biết lái xe, muốn tìm nơi nương tựa cuối đời. Xin liên lạc về email…”.

Thế nhưng, đọc thêm một lần, rồi một lần nữa, có thể nghe ra được nỗi gì cô độc đến não nề. Ngồi xuống nghe tâm tư của những người gần bước đến tuổi 70 hoặc hơn nữa, cả đàn ông lẫn phụ nữ, những người hiện đang lẻ bóng, bởi người phối ngẫu qua đời hoặc ly dị đã lâu, chợt hiểu thêm thật nhiều về nỗi cô đơn cũng như khao khát tìm được người bạn tâm giao, tri kỷ để tìm vui, để nương tựa trong những năm tháng cuối, ray rứt và da diết đến mức nào.

Cảm giác cô đơn, trống rỗng

Một nghiên cứu theo dõi hơn 2,000 người trên 50 tuổi trong vòng 6 năm và kết quả nhận được cho thấy nỗi cô đơn làm nguy cơ tử vong tăng lên gấp 2 lần và có nguy cơ chết sớm cao hơn 14% so với người không cô đơn.

Một nghiên cứu khác lại cho thấy 43.2% trong số 1,600 người trên 70 tuổi cho rằng họ cảm thấy cô đơn và thường thiếu bạn tâm giao. Một nửa trong số những người tham gia khảo sát nói nỗi cô đơn của họ càng hiển hiện rõ hơn vào cuối tuần và ba phần tư trong số đó phải chịu đựng nỗi cô độc khi đêm về.

Bà Mai Phương, 69 tuổi, hiện sống một mình ở Anaheim cũng là người mang trong lòng nỗi trống trải, cô đơn kể từ khi chồng qua đời cách đây hơn 2 năm. Nhìn cách bà đi làm, tham gia những sinh hoạt hội nhóm, bạn bè, khó ai có thể nghĩ được trong bà lại có một góc cô đơn hun hút đến vậy.

“Thời gian ổng mới mất, trong tôi hoàn toàn trống rỗng.” Bà bắt đầu câu chuyện bằng giọng nói buồn và nhẹ hơn bình thường. Không còn những đêm mất ngủ vì lo lắng cho bệnh tật của chồng. Không còn những thấp thỏm mỗi khi đưa ông vào bệnh viện.

Không còn phải suy nghĩ đến chuyện lo hôm nay nấu món gì, ngày mai đổi món nào. Nhưng lấp đầy cho những cái “không còn” đó lại là một khoảng trống đến rợn người.

“Tôi không dám ở nhà một mình, tôi cứ bám víu vào thằng con út khi đó còn ở chung nhà. Nó đi đâu tôi theo đó, nó đi ăn sushi ở hướng Nam, tôi đi theo hướng Nam. Nó lái xe ngược hướng Bắc đi uống boba, tôi cũng ngồi xe theo hướng Bắc. Có lúc ngồi trong xe cũng chỉ ngủ gà ngủ gật nhưng mà vẫn cứ leo lên xe con mỗi khi nhìn thấy nó đi đâu, cho dù nó có muốn hay không muốn mang mình theo.” Người đàn bà có đôi môi luôn cười nhưng ánh mắt lại rười rượi, nhớ lại.

Bà biết con bà không thích như thế. Bà biết bà không nên bám theo con như thế. “Nhưng mà… biết làm sao.” Bà Phương cười buồn. Người phụ nữ có gương mặt phúc hậu này chậm rãi nói tiếp, “Tôi thấy rõ ràng mình mất một chỗ tựa, như thiếu một cây gậy để chống mà đi kể từ lúc ổng mất. Cô đơn lắm!”

Nỗi cô đơn, trống vắng không chỉ ở chỗ thiếu đi một bóng hình, một người hằng ngày ra vào mình trông thấy, nhìn thấy, chuyện trò, mà ngay cả, như bà Phương tâm sự, nhìn những hàng cây khô héo, nhìn bụi vương trong nhà, lại chợt nhớ ra có người đã từng làm thay mình những việc như thế. Đó là chưa kể những lúc ngồi lần hồi giải quyết từng cái hóa đơn điện, nước, gas, rác… lại nhớ bao lâu rồi mình không phải làm những việc này.

“Nhiều lúc đang ở sở làm mà nỗi buồn cũng ập đến, tôi phải đi vào trong restroom đứng khóc một mình,” bà kể. Với bà Kim Lan, 70 tuổi, chồng qua đời đã 16 năm, khi bà mới 52 tuổi, thì nỗi cô đơn, trống trải càng về những năm sau này càng mãnh liệt hơn so với thời gian đầu khi người bạn đời của bà ra đi, bởi “khi đó tôi không có thời gian và tinh thần để nghĩ đến nó. Tôi phải bận rộn trong việc đi làm hai ‘job’ để kiếm tiền nuôi con, trả tiền nhà.”

Mặc dù không nhận ra nỗi trống vắng, cô đơn vào thời gian ấy, nhưng bà Kim Lan lại gần như bị rơi vào tình trạng “trầm cảm.” Bà nhớ lại, “Tôi đi làm gần như câm lặng, chỉ có hai câu ‘Hi’ khi đến và ‘Bye’ khi về. Trong lòng lúc nào cũng như buồn bực, ray rứt.”. “Tôi cảm thấy như tôi giận chồng tôi rất nhiều. Bởi vì chúng tôi đều thích sống ở miền quê, cả hai hẹn nhau khi nào con ra trường thì sẽ tìm nơi vắng vẻ, thanh tịnh để ở. Vậy mà chưa chi ổng đã bỏ tôi ra đi. Tôi cứ cố nghĩ đến những tính xấu của ông để mà giận thêm. Và tôi trút sự tức giận đó lên các con tôi, như một người điên sẵn sàng la hét cho dù chỉ là một điều nhỏ nhặt.” Bà Lan tiếp tục kể bằng giọng tâm tình khi đêm xuống mỗi lúc một sậm màu hơn.

Rồi thì thời gian đó cũng qua khi bà được bạn bè rủ đi tập Taichi, nghe tiếng người ta trò chuyện, nhìn người ta cười giỡn với nhau, bà Lan tìm lại được nụ cười và tiếng nói của chính mình. Về hưu ở tuổi 63, bà Lan lại tiếp tục giúp con nuôi cháu. Những niềm vui giản dị này không cho bà có thời gian buồn, sự bận rộn với các cháu khiến bà không thấy lẻ loi.

Tuy nhiên, khi các cháu lớn dần, bà ngoại không còn là người để chúng gần gũi, quyến luyến, và như một lẽ thường tình “càng về già càng thấy hụt hẫng,” bà Lan cảm nhận. “Nhiều lúc thấy mình bơ vơ, trống vắng, hay có cảm tưởng như mình bị bỏ rơi. Những lúc đau ốm, yếu trong người là lúc cảm thấy cô độc nhất, sợ hãi nhất. Bạn bè đến thăm thì vui, nhưng họ bước chân ra về là mình thấy chơi vơi.” Người phụ nữ có giọng nói của người Hà Nội xưa nói như trải lòng.

Cảm giác lẻ loi, trống trải đến nao lòng đó không chỉ là cảm nhận của riêng phụ nữ mà đàn ông vẫn không làm sao thoát được những lúc nỗi cô đơn ùa đến, bủa vây. “Một sự trống vắng lạ lùng lắm, cứ như mình bị rớt vào khoảng không nào đó, chới với” là điều mà ông Vương Văn Chương cảm nhận được từ khi vợ ông qua đời, cách đây “3 năm 9 tháng.”

Ông Chương năm nay 72 tuổi, hiện ở Garden Grove, sống cùng con cháu kể từ khi vợ mất, bởi “sống trong ngôi nhà cũ, nhìn đâu cũng thấy bóng hình vợ tôi, buồn lắm, chịu không được.”. Ông Chương kể, “Vợ tôi đi làm suốt 29 năm, khi vừa về hưu được hai tháng, đang lên kế hoạch đi du lịch đây đó thì phát hiện bị ung thư bao tử giai đoạn cuối. Năm tháng sau thì vợ tôi mất.”

Sự ra đi của người bạn đời đã đồng hành cùng ông suốt 42 năm, người cùng ông trải qua chuyến vượt biển thập tử nhất sinh vào năm 1977 với 27 ngày trôi trên biển cho đến khi được tàu cứu vớt, rồi sang Mỹ vui buồn, sướng khổ có nhau, để lại trong lòng người đàn ông này một khoảng trống mênh mông.

Ông Chương dọn về ở với gia đình con trai, như một sự trốn chạy những kỷ niệm, dù vậy, ông vẫn cảm thấy “rất cô đơn, nhất là khi đêm về, lúc con cháu đi vắng, tất cả đều im ắng.”

“Đó là nỗi cô đơn của sự thiếu một vòng tay, một giọng nói, một cái hôn, mà ở người đàn ông thì họ lại thích có những cái vuốt ve mơn trớn, giờ thiếu hết tất cả. Thiếu nhiều lắm, một sự trống vắng lạ lùng lắm, cứ như mình bị rớt vào khoảng không nào đó, chới với.” Ông Chương mô tả.

Trong cuốn “Loneliness (Nỗi cô đơn)”, ông John Cacioppo, nhà tâm thần học của trường Đại Học Chicago, nói rằng, “Nỗi đau của sự cô đơn cũng giống như nỗi đau thể xác vậy.”. Nghiên cứu của trường Đại học UC San Francisco cũng đưa đến những ngạc nhiên bất ngờ khi biết rằng không chỉ ở một mình người ta mới thấy cô đơn.

Trong số 43% người già cho rằng mình cô đơn thì chỉ có 18% sống một mình.

Với người lớn tuổi, cảm giác lẻ loi có thể hủy hoại tinh thần, sức khỏe nhiều gấp đôi so với chứng bệnh béo phì. Chính vì điều này mà người già lẻ bóng vẫn luôn khao khát tìm được một người bạn tâm giao, tri kỷ để nương tựa khi tuổi về chiều.

 Người & Đất Sài Gòn

 Người & Đất Sài Gòn

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Tôi sinh ra ở Sài Gòn, nơi vẫn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Chỉ tiếc có điều là ngay tại chỗ tôi mở mắt chào đời (Xóm Chiếu, Khánh Hội) thì lại không được danh giá hay ngọc ngà gì cho lắm. Đây thường là nơi ngụ cư của những tay anh chị, những cô gái ăn sương, những đứa trẻ bụi đời, những phu phen bốc vác ở kho Năm, hay đám “đào kép cải lương say tứ chiếng” – theo như lời của nhà thơ Cao Đông Khánh:

sàigòn, chợ lớn như mưa chớp

nát cả trùng dương một khắc thôi

chim én bay ngang về xóm chiếu

nước ròng ngọt át giọng hàng rong

hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược

trái cây quốc cấm giấu trong lòng

hỏi thăm cho biết đường ra biển

nước lớn khi nào tới cửa sông

sàigòn khánh hội gió trai lơ

khi ấy còn tơ gái núi về

đào kép cải lương say tứ chiếng

ngã tư quốc tế đứng xàng xê

Dù “xàng xê” và “cải lương” tới bến nhưng khi “cách mạng về” là dân Khánh Hội đều “hết say tứ chiến” cấp kỳ. Tui, tất nhiên, cũng tỉnh táo liền. Tỉnh rồi mới bắt đầu hớt hải “hỏi thăm cho biết đường ra biển,” và cuống quýt đâm xầm vào giữa đại dương, bỏ lại S.G – như cắn răng cắt bỏ một phần thân thể của chính mình.

Tuy thoát thân nhưng không ít đêm, những đêm khó ngủ, tôi vẫn lò dò trở về chốn cũ. Có khi, tôi đứng ngẩn ngơ nhìn chiếc bong bóng vừa mua đã (lỡ) tuột khỏi tay – lơ lửng bay giữa những hàng cây, vào một buổi chiều Sài Gòn vừa tắt nắng – mà muốn ứa nước mắt vì tiếc và buồn.

Cũng có khi tôi ngồi trước một xe bán bò viên, chăm chăm nhìn thùng nước lèo vừa mở nắp, và tưởng chừng như không gian (của cả Sài Gòn hoa lệ) bỗng ngạt ngào hương vị. Chút nước thánh này – sau khi đã nhai thiệt chậm miếng thịt pha gân vừa ròn, vừa ngậy – hoà nhẹ với chút xíu tương đỏ, tương đen, cùng ớt xa tế ngọt ngọt cay cay làm cho thằng bé xuýt xoa … cho đến lúc cuối đời.

Nhiều khi, tôi ngồi chò hỏ trước nhà (mặt buồn thiu) vì không được bố mẹ nhẹ nhàng đặt vào tay năm cắc hay tờ giấy bạc một đồng – như thường lệ. Chỉ cần năm cắc thôi là đủ khiến chú Chệt vội vã ngừng xe, mở ngay nắp bình móp, lấy miếng kem đầy đặn – xắn một phần vuông vắn, cắm phập vào que tre – trịnh trọng trao hàng với nụ cười hiền lành và tươi tắn. Cắn một miếng ngập răng, đậu xanh ngọt bùi, thấm lạnh dần qua miệng lưỡi, rồi tan từ từ… suốt cả thời thơ ấu.

Năm cắc là giá của nửa ổ bánh mì tai heo, nửa má xoài tượng, một xâu tầm ruột ướp nước đường, một cuốn bò bía, một trái bắp vườn, một ly đậu xanh đậu đỏ bánh lọt, một dĩa gỏi đu đủ bò khô, một khúc mía hấp, năm cái bánh bò nước dừa xanh đỏ, hay mười viên cái bi ròn ròn cái bi ngon ngon nho nhỏ…

Một một đồng thì (ôi thôi) là cả bầu một trời, và một thời, hạnh phúc! Một đồng mới mua được quả bóng bay. Chiều Sài Gòn mà không có bong bóng (cầm tay) để tung tăng e sẽ là một buổi chiều… tẻ nhạt. Những chùm bóng đủ mầu sẽ rực rỡ hơn khi phố đã lên đèn, và sẽ rực rỡ mãi trong trong ký ức của một kẻ tha hương – cho mãi đến khi tóc đã điểm sương.

Dù một trời, và một thời, hạnh phúc xa xưa đã vuột khỏi tay – như quả bóng bay, không may, chiều nào, vào thưở ấu thời – tôi vẫn “sẵn sàng” nổi nóng nếu ai vô ý đặt chân đến cái phần thiên đường đã mất của mình.

Có bữa, bên bàn nhậu, Lê Diễn Đức bỗng nói khơi khơi:

– Tôi là dân Sài Gòn mà.

Tôi trợn trừng mắt:

– Đừng có nói giỡn cha!

– Thiệt mà, tôi sống ở Sài Gòn gần hai chục năm chớ đâu phải ít.

Tới lúc đó tôi mới chợt nhớ ra là mình đã bỏ đi từ quá lâu rồi, còn tư cách gì để mà giữ S.G (mãi mãi) nữa nên đành xuôi xị:

– Bộ lâu dữ vậy sao?

Sau Lê Diễn Đức, tôi còn biết thêm nhiều nhân vật khác, cũng đã chọn S.G làm quê hương chỉ vì nó quá… dễ thương – theo mắt nhìn của họ:

– Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh“Một đêm, chạy xe máy về nhà (ông cậu), tới ngã tư đèn đỏ, ngó hai bên đường vắng hoe, hắn rồ ga tính vọt thẳng. Bất ngờ nghe bên tai tiếng thắng xe cái rẹc, liếc qua thấy ông lão với chiếc xích lô trống không.

Quê quá, phải dừng theo! Nhiều năm sau, ở Hà Nội, những ngã tư đông đúc như Tràng Tiền-Hàng Bài, ngoài một chú cảnh sát đứng bục, thường phải thêm có 4 chú cầm gậy chặn bốn phía, lùa, đuổi mà cũng không xuể.

Lên xe bus, xe đò trong Nam luôn cho hắn những cảm giác thích thú để quan sát. Đủ các hạng người, mà sao không chen lấn, cãi vã. Khách nhường ghế cho nhau, thăm hỏi, chỉ đường tận tình (những thứ mà cho đến hôm nay, trên xe bus Hà Nội, người ta phải ghi lên tấm biển to đùng, thành “Nội quy”). Lơ xe lăng xăng xách, buộc chằng đồ cẩn thận cho khách, nhảy lên mui, đeo bên thành xe la nhắc người dưới đường cẩn thận.”

– Nguyễn Quang Lập“Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn… Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời.

Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí…

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính.

Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.”

Tôi cũng “sửng sốt” không kém khi nhìn thấy bức hình của một người S.G (nữa) giữa phố Nguyễn Huệ – vào chiều chủ nhật, 15 tháng 5 năm 2016 vừa qua – trên trang RFA:

Bức ảnh người đàn ông toạ kháng một mình trên phố đi bộ Nguyễn Huệ chiều 15 tháng 5 được chụp bởi một người chơi ảnh tên Bùi Dzũ nhanh chóng được lan truyền rộng rãi trên các trang mạng xã hội. Không lâu sau đó, cư dân mạng biết tìm ra đó chính là nhà báo/blogger Huỳnh Ngọc Chênh, người đã phát động phong trào toạ kháng để đòi sự minh bạch về thảm hoạ môi trường. Tấm ảnh được chính người chụp gọi tên là “Người đàn ông cô đơn”.

Tôi không biết rõ Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Quang Lập, Huỳnh Ngọc Chênh… nguyên quán nơi đâu nhưng biết chắc là họ đã sống hết lòng (qua từng hơi thở, từng dòng chữ, từng bước chân) để cố giữ lại được cho S.G – phần nào – nhân phẩm và đạo lý.

Bao giờ mà ở những góc đường vẫn có những bình trà đá, những thùng bánh mì, những quán cơm, những nơi vá xe (miễn phí) và bao giờ mà vẫn còn qúi vị thức giả sẵn sàng đối diện với cường quyền thì S.G vẫn chưa thể mất. Tôi không mất S.G đâu nhưng thành phố này đã mất tôi, và mất tự lâu rồi. Cái thứ đồ bỏ chạy (mất dép) trong cơn quốc biến, và cúi mặt đi luôn như tôi thì dù có mất luôn (phỏng) có gì đáng để bận tâm.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

danlambaovn.blogspot.com

“NHỚ ĐỪNG QUÊN HƠI THỞ”

 

“NHỚ ĐỪNG QUÊN HƠI THỞ”

Long Thọ (Nagarjuna, một trong 84 Đại thành tựu giả Ấn độ, khoảng thế kỷ thứ 9) là một khất sĩ trần truồng, nhưng ngài được yêu mến bởi tất cả những người tìm kiếm chân lý tối hậu. Một vị nữ vương cũng đem lòng yêu Long Thọ sâu sắc. Một ngày nọ nàng thỉnh cầu ngài vào cung làm tân khách. Long Thọ cũng đến. Nữ vương thỉnh cầu ngài một việc.

Long Thọ nói, “Nữ vương muốn gì?”

Nàng nói: “Ta muốn cái bát khất thực của ông.”

Long Thọ đã đưa nó cho vị nữ vương – đó là thứ duy nhất ngài sở hữu – cái bình bát khất thực của ngài. Và nàng đã mang một cái bình bát bằng vàng, nạm kim cương và đưa cho Long Thọ. Nàng nói, “Bây giờ ngài giữ cái này. Ta sẽ thờ cái bát khất thực mà ông đã mang theo trong nhiều năm – nó có năng lượng gia trì của ông. GIờ nó là đền thờ của ta. Và một người như ông không nên mang một cái bát khất thực bằng gỗ tầm thường – hãy giữ chiếc bình bát bằng vàng này. Ta đã đặc biệt làm nó tặng ông.”

Chiếc bình bát thực sự rất quý giá. Nếu Long Thọ là một hành giả tâm linh bình thường, ngài sẽ nói, “Tôi không thể dùng nó. Tôi đã xả bỏ những thứ thế tục rồi.” Nhưng đối với ngài thì mọi thứ đều có khác gì nhau, nên ngài đã nhận cái bát.

Khi ngài rời cung điện, một tên trộm đã nhìn thấy ngài. Kẻ trộm không thể tin vào mắt mình: “Một người trần như nhộng lại có thứ bảo vật này! Ông ấy còn có thể bảo vệ nó được bao lâu?” Vậy là tên trộm đã đi theo ngài.

Long Thọ ở bên ngoài thị trấn, trong một ngôi đền cổ đổ nát – không cửa ra vào, không cửa sổ. Nó chỉ là một đống đổ nát. Kẻ trộm rất vui mừng: “Chẳng bao lâu nữa ông ấy sẽ đi ngủ và sẽ không có khó khăn gì – ta sẽ lấy cái bát.”

Khi tên trộm đang nấp sau bức tường ngay bên ngoài cửa – Long Thọ chợt ném cái bát quý ra ngoài cửa. Tên trộm không thể tin được những gì đã xảy ra. Long Thọ ném nó đi bởi vì ngài đã theo dõi tên trộm đang theo dõi phía sau mình, và ngài hoàn toàn biết rõ rằng hắn không đến vì ngài mà hắn đến để lấy cái bát, “Vậy tại sao lại để anh ta đợi một cách không cần thiết? Đưa nó để anh ta có thể đi, và ta cũng có thể nghỉ ngơi. “

“Một thứ quý giá như vậy! Và Long Thọ đã ném nó đi quá dễ dàng.” Tên trộm không thể đi mà không cảm ơn ngài. Hắn hoàn toàn biết rằng nó đã được ném cho hắn. Hắn nhìn vào và nói, “Thưa ngài, xin chấp nhận lời cảm ơn của tôi. Nhưng ngài là một người hiếm có – Tôi không thể tin vào mắt mình. Và một ước nguyện lớn lao đã nảy sinh trong tôi. Tôi đang lãng phí cuộc đời mình để làm một kẻ trộm – nhưng trên đời lại có những người như ngài. Tôi có thể vào và chạm vào chân ngài được không?”

Long Thọ cười và ngài nói, “Được, đó là lý do tại sao ta ném cái bát ra bên ngoài – để anh có thể vào trong.”

Hóa ra tên trộm đã bị “gài bẫy”. Hắn bước vào, chạm vào chân ngài… và phút giây đó gã trộm rất thật lòng vì hắn đã biết người này chẳng phải là người bình thường. Hắn khép nép, chân thành, biết ơn, thấy kì diệu và choáng váng. Khi chạm vào đôi chân Long Thọ, lần đầu tiên trong đời hắn cảm nhận được sự hiện diện của điều gì đó linh thánh.

Gã hỏi Long Thọ, “Phải mất bao nhiêu kiếp sống để tôi trở nên giống như ngài?”

Long Thọ nói, “Bao nhiêu kiếp à? – Nó có thể xảy ra hôm nay, nó có thể xảy ra ngay bây giờ!”

Tên trộm nói: “Chắc ngài đang đùa. Làm sao nó có thể xảy ra bây giờ? Tôi là một tên trộm, một tên trộm nổi tiếng. Cả thị trấn đều biết tôi, mặc dù họ chưa bắt được tôi. Ngay cả đức vua cũng sợ tôi, bởi vì ba lần tôi đã vào ăn cắp trong kho bạc. Họ biết điều đó, nhưng họ không có bằng chứng. Tôi là một tên trộm bậc thầy – Ngài có thể không biết về tôi vì ngài là người lạ lẫm trong những chuyện này thôi. Làm sao [một kẻ khốn như] tôi có thể chuyển hóa ngay bây giờ?”

Và Long Thọ nói, “Nếu trong một ngôi nhà cũ chìm trong bóng đêm trong nhiều thế kỷ và anh mang theo một ngọn nến, phải chăng bóng tối sẽ nói, “Ta đã ở đây hàng thế kỷ – Ta không thể ra đi chỉ vì anh đã mang theo một cây nến. Vì ta đã tồn tại rất lâu”? Bóng tối có năng lực kháng cự hay sao? Liệu có khác gì dù bóng tối tồn tại một ngày hay một triệu năm?

Tên trộm có thể nhìn ra chân nghĩa: bóng tối không thể chống lại ánh sáng; khi ánh sáng đến, bóng tối bị xua tan. Long Thọ nói: Dầu anh có thể đã ở trong bóng tối hàng triệu kiếp – điều đó không quan trọng – nhưng ta có thể cho anh một bí mật: anh có thể thắp sáng một ngọn nến trong con người của anh.”

Rồi tên trộm nói, “Còn nghề ăn trộm của tôi? Tôi có phải từ bỏ nó?”

Long Thọ nói, “Đó là do anh quyết định. Ta không quan tâm đến anh và nghề của anh, ta chỉ có thể cung cấp cho anh bí quyết làm thế nào để thắp sáng trong con người anh, và sau đó tùy thuộc vào anh.”

Tên trộm nói, “Nhưng bất cứ khi nào tôi đến bất kỳ vị thánh thiêng nào, họ luôn nói, ‘Trước tiên hãy ngừng ăn trộm – thì sau đó ta mới khai ngộ cho anh.”

Người ta nói rằng Long Thọ đã cười lớn và nói: “Chuyện của anh là đi ăn trộm chứ không phải đến thăm các vị thánh thiêng kia. Họ không biết gì đâu. Anh chỉ cần theo dõi hơi thở của mình – một phương pháp cổ xưa của Đức Phật – anh chỉ cần quan sát hơi thở vào, quan sát hơi thở ra, bất cứ khi nào anh nhớ, hãy quan sát hơi thở của mình. Ngay cả khi anh đi ăn trộm, khi anh vào nhà ai đó trong đêm, hãy tiếp tục theo dõi hơi thở của anh. Khi anh đã phá cửa những kho bạc và thấy kim cương châu báu ở đó, hãy cứ tiếp tục theo dõi hơi thở của anh và làm bất cứ điều gì anh muốn làm – nhưng đừng quên theo dõi hơi thở.”

Tên trộm nói: “Chuyện này có vẻ đơn giản. Không cần một quy tắc đạo đức? Không cần quy ước? Không yêu cầu gì khác?”

Long Thọ nói, “Hoàn toàn không – chỉ cần dõi theo hơi thở của anh.”

Và sau mười lăm ngày, tên trộm đã trở lại, nhưng hắn là một người hoàn toàn khác. Hắn quỳ xuống dưới chân Long Thọ và nói, “Ngài đã gài bẫy tôi, và ngài đã gài bẫy tôi khéo đến mức tôi thậm chí không thể nghi ngờ. Tôi đã cố gắng trong mười lăm ngày này – nhưng không thể. Chừng nào tôi còn theo dõi hơi thở của mình, tôi không thể ăn trộm. Nếu tôi ăn trộm, tôi không thể theo dõi hơi thở của mình. Theo dõi hơi thở, tôi trở nên tĩnh lặng, tỏ tường, tỉnh giác đến mức ngay cả những viên kim cương cũng giống như những viên sỏi. Ngài đã tạo ra cho tôi một tình thế khó khăn, tiến thoái lưỡng nan. Bây giờ tôi phải làm gì đây?”

Long Thọ nói, “Cứ đi lạc lối – cứ làm bất cứ điều gì anh muốn làm. Nếu anh vẫn muốn sự tĩnh lặng đó, sự an bình, hỷ lạc, vốn khởi sinh trong anh khi anh theo dõi hơi thở của mình, thì hãy chọn nó. Nếu anh nghĩ rằng tất cả kim cương và vàng bạc có giá trị hơn thì chọn nó. Cái đó là do anh chọn! Ta là ai mà bàn tính cho cuộc đời anh? “

Gã trộm thốt, “Con không thể chọn sự bất tỉnh giác một lần nữa. Con chưa bao giờ biết đến những khoảnh khắc [tỉnh thức] như bây giờ. Xin nhận con làm đệ tử của thầy, và xin khai ngộ cho con.”

Long Thọ nói, “Thầy đã thực ra khai ngộ cho con rồi.”

Con đường tâm linh không [chỉ] dựa trên quy tắc đạo đức mà dựa trên thiền định. Con đường tâm linh không bắt nguồn từ những nguyên tắc mà từ tỉnh thức.

English:

A beautiful story is told about a great mystic, Nagarjuna :

He was a naked fakir, but he was loved by all real seekers. A queen was also deeply in love with Nagarjuna. She asked him one day to come to the palace, to be a guest in the palace. Nagarjuna went. The queen asked him a favour.

Nagarjuna said, “What do you want?”

The queen said, “I want your begging bowl.”

Nagarjuna gave it — that was the only thing he had — his begging bowl. And the queen brought a golden begging bowl, studded with diamonds and gave it to Nagarjuna. She said, “Now you keep this. I will worship the begging bowl that you have carried for years — it has some of your vibe. It will become my temple. And a man like you should not carry an ordinary wooden begging bowl — keep this golden one. I have had it made specially for you.”

It was really precious. If Nagarjuna had been an ordinary mystic he would have said, “I cannot touch it. I have renounced the world.” But for him it was all the same, so he took the bowl.

When he left the palace, a thief saw him. He could not believe his eyes: “A naked man with such a precious thing! How long can he protect it?” So the thief followed….

Nagarjuna was staying outside the town in a ruined ancient temple — no doors, no windows. It was just a ruin. The thief was very happy: “Soon Nagarjuna will have to go to sleep and there will be no difficulty — I will get the bowl.”

The thief was hiding behind a wall just outside the door — Nagarjuna threw the bowl outside the door. The thief could not believe what had happened. Nagarjuna threw it because he had watched the thief coming behind him, and he knew perfectly well that he was not coming for him — he was coming for the bowl, “So why unnecessarily let him wait? Be finished with it so he can go, and I can also rest.”

“Such a precious thing! And Nagarjuna has thrown it so easily.” The thief could not go without thanking him. He knew perfectly well that it had been thrown for him. He peeked in and he said, “Sir, accept my thanks. But you are a rare being — I cannot believe my eyes. And a great desire has arisen in me. I am wasting my life by being a thief — and there are people like you too? Can I come in and touch your feet?”

Nagarjuna laughed and he said, “Yes, that’s why I threw the bowl outside — so that you could come inside.”

The thief was trapped. The thief came in, touched the feet… and at that moment the thief was very open because he had seen that this man was no ordinary man. He was very vulnerable, open, receptive, grateful, mystified, stunned. When he touched the feet, for the first time in his life he felt the presence of the divine.

He asked Nagarjuna, “How many lives will it take for me to become like you?”

Nagarjuna said, “How many lives? — it can happen today, it can happen now!”

The thief said, “You must be kidding. How can it happen now? I am a thief, a well-known thief The whole town knows me, although they have not yet been able to catch hold of me. Even the king is afraid of me, because thrice I have entered and stolen from the treasury. They know it, but they have no proof. I am a master thief — you may not know about me because you are a stranger in these parts. How can I be transformed right now?”

And Nagarjuna said, “If in an old house for centuries there has been darkness and you bring a candle, can the darkness say, ‘For centuries and centuries I have been here — I cannot go out just because you have brought a candle in. I have lived so long’? Can the darkness give resistance? Will it make any difference whether the darkness is one day old or millions of years old.

The thief could see the point: darkness cannot resist light; when light comes, darkness disappears. Nagarjuna said, You may have been in darkness for millions of lives — that doesn’t matter — but I can give you a secret, you can light a candle in your being.”

And the thief said, “What about my profession? Have I to leave it?”

Nagarjuna said, “That is for you to decide. I am not concerned with you and your profession I can only give you the secret of how to kindle a light within your being, and then it is up to you.”

The thief said, “But whenever I have gone to any saints, they always say, ‘First stop stealing — then only can you be initiated.'”

It is said that Nagarjuna laughed and said, “You must have gone to thieves, not to saints. They know nothing. You just watch your breath — the ancient method of Buddha — just watch your breath coming in, going out. Whenever you remember, watch your breath. Even when you go to steal, when you enter into somebody’s house in the night, go on watching your breath. When you have opened the treasure and the diamonds are there, go on watching your breath, and do whatsoever you want to do — but don’t forget watching the breath.”

The thief said, “This seems to be simple. No morality? No character needed? No other requirement?”

Nagarjuna said, “Absolutely none — just watch your breath.”

And after fifteen days the thief was back, but he was a totally different man. He fell at the feet of Nagarjuna and he said, “You trapped me, and you trapped me so beautifully that I was not even able to suspect. I tried for these fifteen days — it is impossible. If I watch my breath, I cannot steal. If I steal, I cannot watch my breath. Watching the breath, I become so silent, so alert, so aware, so conscious, that even diamonds look like pebbles. You have created a difficulty for me, a dilemma. Now what am I supposed to do?”

Nagarjuna said, “Get lost! — whatsoever you want to do. If you want that silence, that peace, that bliss, that arises in you when you watch your breath, then choose that. If you think all those diamonds and gold and silver is more valuable, then choose that. That is for you to choose! Who am I to interfere in your life?”

The man said, “I cannot choose to be unconscious again. I have never known such moments. Accept me as one of your disciples, initiate me.”

Nagarjuna said, “I have initiated you already.”

Spiritual path is based not in morality but in meditation. Spiritual path is rooted not in character but in consciousness.

Source: Penchen spiritual journey

FB ANH NGUYEN

May be a black-and-white image of child

HẾT NỢ!…

May be an image of 1 person and money

HẾT NỢ!…

Ở một thị trấn nhỏ đìu hiu, đang trong giai đoạn khó khăn, ai cũng nợ nần và phải mua vay bán chịu.

Bỗng đâu, một du khách giàu có tìm đến. Ông bước vào khách sạn duy nhất của thị trấn, đặt tờ 500k lên bàn lễ tân và lên lầu xem chọn phòng.

Chủ khách sạn cầm lấy tờ 500k và chạy đi trả nợ ngay cho anh hàng thịt heo mùa tăng giá.

Anh hàng thịt cầm tờ 500k, chạy đi trả cho ông nuôi heo.

Ông nuôi heo cầm tờ 500k, chạy đi trả cho người bán thức ăn chăn nuôi.

Người bán thức ăn chăn nuôi cầm tờ 500k, chạy đi trả cho cô cave – trong thời buổi khó khăn này thì ngay cả “dịch vụ” của cô cũng phải cho bán nợ.

Cô cave chạy đến khách sạn, mang theo tờ 500k để trả cho ông chủ khách sạn món nợ tiền thuê phòng trong những lần tiếp khách thời gian qua.

Chủ khách sạn đặt tờ 500k trở lại mặt quầy, y như ban đầu.

Đúng lúc đó, người khách từ trên lầu đi xuống, bảo rằng mình không tìm thấy được phòng nào vừa ý, sau đó lấy lại tờ 500k và rời khỏi thị trấn.

Chẳng ai kiếm được đồng nào cả. Thế nhưng, cả thị trấn giờ đã hết nợ nần và lạc quan nhìn về tương lai phía trước!!!

SƯU TẦM

MỘT KHÍA CẠNH KHÁC CỦA SỰ KỲ THỊ.

Hoai Linh Ngoc Duong

MỘT KHÍA CẠNH KHÁC CỦA SỰ KỲ THỊ.

Đã có nhiều bài viết về sự kỳ thị của người da trắng với dân châu Á và Dư luận viên của đảng Cộng sản có dịp vỗ tay hoan hô” Không nơi nào bằng tổ quốc Việt Nam” ” Làm thân ăn nhờ ở đậu cũng khổ trăm đường” để từ đó phủ nhận các giá trị dân chủ, tôn vinh độc tài.

Nhưng các bài viết trên chỉ nhìn một phía. Phía khác là để trả lời câu hỏi: “Mình có sao đó người ta mới kỳ thị”. Từ chỗ một số đông với những tập quán tính cách của mình đã làm hoen ố cả cộng đồng và khiến những người tốt, những người hội nhập bị họa lây. Đây không còn là “một con sâu làm rầu nồi canh” mà “cả một bầy sâu làm rầu nồi canh”

Thế giới có 2 loại kỳ thị.

Một loại là kỳ thị ra mặt và một là kỳ thị ngầm. Kỳ thị ra mặt bị cấm bởi pháp luật nhưng kỳ thị ngầm chính là động lực phát triển của xã hội. Kỳ thị ra mặt là sự phân biệt màu da, giới tính, chủng tộc, tôn giáo… để ném đá, chửi bới ,lăng nhục, từ chối phục vụ. Biểu hiện cụ thể cho loại này là những tấm biển đề “Nhà hàng chúng tôi không phục vụ người Nhật,Trung Quốc, da đen, Hồi Giáo…” Những loại kỳ thị này tuyệt đối bị cấm bởi pháp luật tại Hoa Kỳ. Và người Mỹ văn minh không bao giờ làm. Họ không bao giờ dùng cách như Lê Đức Thọ sau khi bắt tay Henry Kissinger ở hội nghị Paris 1973, dùng khăn để lau tay biểu hiện mình cao quý (theo giai thoại). Điều này ở Mỹ sẽ bị xem là kém văn hóa.

Nhưng kỳ thị ngấm ngầm lại là một biểu hiện của văn hóa. Bởi lẻ người ta không khinh vẻ bên ngoài mà là khinh cái tính cách của anh. Đó là khinh cái thói ăn cắp vặt, nói chuyện vô văn hóa, chửi thề, thói quen không xếp hàng, không giữ lịch sự nơi công cộng … cao hơn là thói làm biếng, thích hưởng thụ, trốn thuế, lối sống theo bản năng, nạn cư xử bằng bạo lực, độc hành độc đoán… Tại sao kỳ thị ngấm ngầm là động lực tiến hóa của xã hội. Bởi thói quen về hành vi là cái mà luật pháp không chế tài được. Đó là biểu hiện của văn hóa. Những người ăn không ngồi rồi, trốn trách nhiệm xã hội đôi lúc cũng lợi dụng khe hở của luật pháp để tranh thủ sự nhàn hạ cho mình. Chính sách xã hội đôi lúc vì cái chung cho nên bỏ qua cho những kẻ cơ hội.

Tại sao người Việt nam, Trung Quốc bị thế giới kỳ thị?

Người ta không kỳ thị màu da, quốc tịch của anh mà người ta kỳ thị vì ngón nghề ăn cắp, lừa đảo, văn hóa mất lịch sự của anh nổi tiếng khắp thế giới. Sự kỳ thị này giúp cho dân tộc Việt Nam biết soi lại mình để sống làm sao cho người ta khỏi khinh.

Người ta kỳ thị người châu Á vì những ngón nghề sau đây:

Trốn thuế.

– Gian lận an sinh xã hội.

– Không tham gia vào bỏ phiếu tạo ra nền dân chủ.

– Sùng bái cá nhân chứ chẳng hiểu về thiết chế.

– Không tham gia biểu tình bày tỏ nguyện vọng của cộng đồng.

– Sống trên xứ người với tâm thế ăn nhờ ở đậu chứ không phải tâm thế làm chủ đất nước.Tìm đủ mọi cách mưu lợi cho mình bất kể lợi ích chung.

– Thể hiện nền văn minh lúa nước.

Từ những kỳ thị ngầm này dẫn đến sự kỳ thị lộ liễu của một số kẻ cực đoan, đánh đồng tất cả người châu Á với nhau. Nhưng kỳ thực trong châu Á cũng có một sắc dân khác đẳng cấp không thua kém họ. Đó là người Nhật.

Tất nhiên từ khi Trump nắm chính quyền các nhóm da trắng cực hữu đã trỗi dậy và công khai bộc lộ sự kỳ thị lộ liễu bởi chủ nghĩa dân tộc. Đó là nền tảng dẫn đến chủ nghĩa phát xít.Nhưng người châu Á trước khi phê phán người cũng phải nhìn lại mình.

Dân da trắng không thể nai lưng đóng thuế để người châu Á lợi dụng các khe hở của chính sách để hưởng lợi.

Tự do không hề miễn phí. Người châu Á đến Hoa Kỳ hưởng tự do mà không hề trả phí xương máu của công cuộc đấu tranh chống độc tài của người Mỹ suốt hơn 200 năm nên rất dễ bị khinh thường. Cách tốt nhất để tránh kỳ thị là họ phải góp sức vào sự thịnh vượng chung. Điều đơn giản là khi thấy lá cờ vàng cắm trên tòa nhà quốc hội Mỹ, biểu tượng của dân chủ tự do thì những người da trắng hiểu biết không kỳ thị người Việt Nam mới là chuyện lạ.

Mình có sao đó người ta mới kỳ thị mình.

Tại sao lại ăn mừng chiến thắng?

May be an image of 1 person and text that says 'T23 NEWS Abraham Lincoln Cựu Tổng thống Hoa Kỳ 1 "Khi viên đạn xuyên vào một người lính dù thuộc bên nào đi nữa, thực ra nó đã xuyên vào trái tim một người mẹ" "Tại sao lại ăn mừng chiến thắng? Những người thua trận chẳng phải là đồ“ng bào của chúng ta hay sao?"'

Tổng thống Abraham Lincoln nói câu này từ 1865, khi kết thúc nội chiến Nam – Bắc Mỹ (1861-1865)!

Rất tiếc bên thắng cuộc ở Vietnam sau 1975, không chỉ mù lương tâm mà còn ít đọc sách nên không biết chân lý giản dị thánh thiện đó mà đã thành như đứa trẻ chưa trưởng thành, hiếu thắng và mù lương tri?

LỜI KHUYÊN CỦA NHÀ THÔNG THÁI

LỜI KHUYÊN CỦA NHÀ THÔNG THÁI

  1. Ba thứ không bao giờ lấy lại: thời gian, lời đã nói, cơ hội
  2. Ba thứ không được để mất: sự bình tĩnh, hy vọng, danh dự.
  3. Ba thứ giá trị nhất trong cuộc đời: tình yêu, chính kiến, niềm tin.
  4. Ba thứ không bền vững trong cuộc đời: quyền lực, sự may mắn, tài sản.
  5. Ba thứ xác định một con người: lao động, tính trung thực, sự thành đạt.
  6. Ba thứ hủy hoại con người: rượu, tính kiêu ngạo, sự tức giận.

(Cop từ FB Trần Hậu)

SAO CON LẠI KHÓC

SAO CON LẠI KHÓC

Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.

Trong đời, ai cũng có lúc khóc.  Khóc thầm lặng.  Khóc cho vơi niềm đau.  Kinh cầu tuyệt vọng là kinh cầu trong nước mắt.  Kinh cầu mong hy vọng cũng là lời kinh khao khát đẫm lệ.

Vũ trụ dường như đã có dan díu với tiếng khóc trước khi hình thành hay sao mà bây giờ ở đâu cũng thấy có nước mắt.  Có tiếng thở dài trên đường, có tiếng thở muộn phiền lúc nghỉ ngơi.  Tiếng than bên đời là buồn nhiều hơn vui.

Những trang Kinh Thánh thưở xưa cũng đong dài nhiều dòng nước mắt.  Nhưng câu chuyện nước mắt của Mađalena thật đặc biệt.  Bà khóc hai lần, hai lần khác nhau.

Ngày đó, Mađalena khóc bên chân Chúa, nước mắt và hương thơm.  Trong buổi chiều ấy, Chúa không nói gì.  Chúa cứ để Mađalena khóc.  Chúa nhận nước mắt như nhận quà tặng ân tình.  Còn Mađalena muốn đem nước mắt hòa vào hạnh phúc dầu quý cho bay đi những cơn mưa phùn của linh hồn rêu phong năm xưa.  Chiều đó, người đàn bà ấy không nói gì.  Thinh lặng và nước mắt thôi.

Thế rồi, cũng người đàn bà ấy, một sáng nọ bà khóc, buổi sáng đến mộ đá tìm xác Chúa. Nhưng tiếng khóc lần này không như tiếng khóc thuở xưa.

“Bà Maria đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc.  Bà vừa khóc, vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt xác của Đức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân.  Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc?” Bà thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu!”  Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu.  Đức Giêsu nói với bà: “Này bà, sao bà khóc?  Bà tìm ai?”  Bà Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về” (Yn 20:11-15).

Một Mađalena, mà hai khung trời, hai dòng nước mắt khác nhau.  Một con tim mà hai nhịp đập, hai thổn thức khác biệt.

–   Ở nhà Biệt phái: Ngày ở nhà ông Simon Biệt Phái, nước mắt bà Mađalena rơi xuống chân Chúa, nhưng chảy ngược vào tâm hồn.  Mađalena khóc thầm lặng không tiếng nói.  Bên mộ đá: Hôm nay, bên mộ đá Mađalena oà vỡ khóc thành lời nói.  Bà thổn thức báo tin cho Phêrô và Yoan.  Bà vội vã hỏi “Người làm vườn.”  Bà quả quyết với thiên thần: “Người ta lấy mất Chúa tôi rồi” (Yn 20:13).

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Simon, Mađalena kín đáo tìm cách vào tận phòng tiệc cho nước mắt rơi trên sàn nhà.  Bên mộ đá:  Hôm nay, Mađalena đứng ở ngoài mộ mà thôi, tiếng khóc vang bên phía ngoài.

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, nước mắt Mađalena rơi trước mọi người, rơi trên chân Chúa.  Bên mộ đá: Hôm nay, nước mắt rơi trong cát bụi.

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, Chúa để Mađalena ngồi cạnh mình lấy tóc cùng nước mắt mà lau chân.  Bên mộ đá: Hôm nay, Chúa không cho nước mắt kia chạm tới Ngài.

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, trong tiếng khóc, Mađalena bị người ta kết án. Bên mộ đá: Hôm nay, Mađalena kết án người khác trong tiếng khóc của mình.  Không bằng chứng mà Mađalena dám báo tin cho Phêrô bằng cách đổ tội cho người khác rằng: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ” (Yn 20:2).

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, trong dòng nước mắt, Mađalena nhìn rõ Chúa.  Bên mộ đá: Hôm nay, cũng là nước mắt, Mađalena nhìn Chúa nhưng ngỡ là ông làm vườn. “Thưa ông, nếu ông đem Người đi thì cho tôi biết ông để Người ở đâu?” (Yn 20:15).

–   Ở nhà Biệt Phái:  Ngày ở nhà ông Biệt Phái, Chúa thương dòng nước mắt ấy thiết tha.  Bên mộ đá:  Hôm nay, Chúa chất vấn: “Bà kia, sao lại khóc?”

***

Lạy Chúa, cũng một con người được Chúa yêu, mà sao một lần khóc thì Chúa như bùi ngùi, một lần khóc thì Chúa nhìn dòng nước mắt mà hỏi: “Bà kia, sao bà lại khóc?”  Câu trả lời của Chúa như ngạc nhiên về dòng nước mắt ấy.  Câu hỏi như từ chối, như nói rằng dòng nước mắt ấy không cần thiết.  Tại sao vậy Chúa?

Tiếng khóc nào cũng có ý nghĩa.  Nước mắt nào mà không chứa đựng nghẹn ngào.  Càng nguyện vọng, nước mắt càng mặn cay, nước mắt ấy phải quý lắm chứ.  Vậy tại sao Chúa lại hỏi: “Bà kia, sao bà khóc?”

Chỉ có một lần Chúa khóc, đó là trước cái chết của Lazarô.  Cái chết nào mà không mất mát, nghẹn ngào, chính Chúa mà còn khóc.  Vậy tại sao hôm nay Chúa lại bảo Mađalena đừng khóc nữa.  Nhờ Chúa khóc trước cái chết của Lazarô, nên hôm nay, con phải suy nghĩ về nước mắt, tiếng khóc, nỗi đau của Mađalena trước mộ đá.

Khi Chúa khóc trước cái chết của Lazarô thì người chung quanh nói với nhau rằng: “Kìa, nhìn xem Ngài thương Lazarô dường bao” (Yn 11:36).  Như vậy, nước mắt của Chúa hôm Lazarô chết không phải là nước mắt tiêu điều.  Cái khóc của Chúa không là tuyệt vọng mà là tình thương.

Còn nước mắt của Mađalena bên mộ Chúa, có thương đó mà cũng có xót xa.  Chúa sống lại, nhưng Mađalena phao tin rằng người ta lấy xác Chúa.  Bà không nhìn thấy, nhưng bà nghi ngờ và đổ lỗi cho việc Chúa không còn trong mộ đá là xác Chúa đã bị đánh cắp!  Nước mắt chúng con trước cái chết của người thân yêu có lẽ cũng mang dáng dấp cả hai.  Có thương nhưng lại thương trong xót xa, và nỗi xót xa ấy nhuốm màu đau tuyệt vọng như của Mađalena.  Vì chưa hiểu niềm tin Phục Sinh, nên không thấy xác Chúa thì Mađalena cảm thấy ngày một mất mát lớn lao.  Nỗi mất mát ấy là của Mađalena, cho nên thương Chúa mà xót xa cho mình.  Xót xa và tuyệt vọng làm Mađalena nghi ngờ và đổ lỗi cho nhiều người.

Vì xót thương trước cái chết của người thương yêu, nhiều khi chúng con cũng không tránh khỏi những phàn nàn, trách nhiều nguyên nhân, có khi trách cả Chúa.  Xin Chúa cho chúng con hiểu hơn về mầu nhiệm Phục Sinh trong sự chết.

Nước mắt bên mộ đá đã đưa Mađalena vào những vùng mây mờ không chứng cớ.  Đấy là nước mắt thiếu ánh sáng Phục Sinh.  Trong nước mắt xúc cảm nhạt nhoà, bà không nhìn rõ Chúa đứng ngay bên cạnh.  Chính Chúa đó mà bà lại hỏi ông để xác Chúa tôi ở đâu.

Chúng con cũng thế thôi, vào những giờ đau đớn quá, chúng con không bình tâm nhìn thấy Chúa bên cạnh mình nữa.  Nước mắt đau đớn làm nhoà cái nhìn về sự sống đời sau.  Mađalena đã bừng tỉnh khi Chúa gọi tên bà.  Vậy con xin Chúa cũng gọi tên con trong những giờ chán nản tuyệt vọng để hồn con được an ủi.

Chúa khóc trước cái chết của Lazarô chỉ vì thương.  Xin cho nước mắt chúng con trước nỗi biệt ly cũng chỉ có một tình cảm ấy mà thôi, là chúng con hãy thương mến nhau.  Người chung quanh nhìn trước mắt Chúa mà nói: “kìa Ngài thương Lazarô biết bao.”  Chớ gì nước mắt chúng con hôm nay cũng như vậy, để một người ra đi là đem yêu thương về đầy giữa chúng con, những kẻ ở lại.

Tình thương thì đem chúng con gần lại, còn nỗi tuyệt vọng sẽ làm đời sống chúng con rã rời.  Con hiểu, cũng trước cái chết, Chúa đã khóc.  Mà cũng trước cái chết, Chúa không muốn Mađalena khóc.  Chúa muốn tiếng khóc của tình thương thôi chứ không muốn tiếng khóc tuyệt vọng.  Vì Chúa là Phục Sinh.

“Vì sao con lại khóc?”  Con mong lời Chúa hỏi Mađalena thưở xưa cũng là lời Chúa hỏi con hôm nay trong nỗi buồn này.  Con hiểu lời ấy như một an ủi nhắc con về niềm tin Phục Sinh đằng sau nỗi chia ly vĩnh biệt.  Con hiểu vì sao Chúa đặt câu hỏi ấy, vì trước giờ từ biệt Chúa đã căn dặn con: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Yn 14:3).  Chúa mong chúng con ở bên Chúa như vậy thì khi người thân yêu của chúng con ra đi là giây phút Chúa chờ đón.

Mađalena chỉ nhìn vào mộ đá, vì thế nước mắt chỉ là trời sương buồn nản phủ xuống hồn.  Chúa đã không muốn nước mắt ấy.  Xin cho nước mắt của chúng con hôm nay không bám víu vào nỗi mất mát cho vơi niềm đau.  Nhưng qua nước mắt, chúng con cho rơi đi những gì thiếu sót chúng con đã đối xử với nhau những ngày còn sống, để nước mắt hôm nay rửa tâm hồn chúng con cho đẹp hơn.

Xin Chúa cho nước mắt của chúng con hôm nay không kéo về những chiều hoàng hôn tuyệt vọng, mà rửa niềm tin chúng con sáng hơn để chúng con thấy người thân yêu đang ở bên Chúa và đang cầu bầu cho chính chúng con.  Amen.

Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.

 From: Langthangchieutim

 CƠN GIẬN DỮ RÚT NGẮN TUỔI THỌ

 CƠN GIẬN DỮ RÚT NGẮN TUỔI THỌ

Khi con người tức giận, cơ thể thật sự sẽ sinh ra “khí”, nên cũng nói là hỏa khí bốc lên, có thể thiêu đốt năng lượng, khiến người ta sinh bệnh thậm chí vì tức mà chết. Cho nên muốn trường thọ nhất định tiết chế nóng giận…

Có một vị phu nhân, thường vì những chuyện vặt vãnh mà sinh nóng giận. Có một ngày bà đi tìm một vị cao tăng thỉnh giáo. Cao tăng nghe xong, liền dẫn bà đến một gian thiền phòng, khóa cửa lại rồi rời đi.

Vị phu nhân tức giận chửi mắng ầm ĩ một hồi, cao tăng cũng không để ý tới. Rồi bà lại bắt đầu cầu khẩn, cao tăng vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Vị phu nhân cuối cùng đành phải im lặng.

Cao tăng ở bên ngoài cửa hỏi: “Bà còn tức giận không?”. Vị phu nhân nói: “Tôi chỉ tức giận chính mình, sao lại đến cái nơi quỷ quái này để chịu tội khổ không biết!”.

Cao tăng phẩy tay áo rời đi, nói vọng vào: “Người mà ngay cả chính mình cũng không chịu tha thứ, thì làm sao tâm có thể phẳng lặng như mặt nước được đây?”

Một lát sau, cao tăng lại hỏi: “Bà còn tức giận không?”. Vị phu nhân nói: “Hết rồi, tức giận để làm gì cơ chứ?”.

“Tức giận cũng có làm gì được đâu!”, cao tăng lại rời đi.

Lúc cao tăng trở lại lần thứ ba, vị phu nhân nói với ông: “Tôi hết tức giận rồi, bởi vì không gì đáng để tức giận”. Cao tăng cười nói: “Bà còn biết nó có đáng hay không, xem ra trong nội tâm vẫn còn cái gốc rễ của khí”. Một hồi sau, đang lúc cao tăng đứng ở trước cửa ngắm trời chiều. Vị phu nhân hỏi: “Đại sư, khí là gì vậy?”. Cao tăng đổ nước trà vào trong tay làm rơi vãi khắp đất, vị phu nhân nhìn thật lâu chợt tỉnh ngộ, cảm tạ rồi rời đi.

Sinh mệnh của chúng ta cũng giống như chén nước trà trong tay vị cao tăng kia, chỉ trong giây lát đã hòa vào trong đất. Năm tháng ngắn ngủi như thế, những việc nhỏ nhặt trong đời đâu có đáng giá để chúng ta uổng phí thời gian mà đi tức giận?

Đôi khi trong cuộc sống, chúng ta vì những việc nhỏ nhặt mà tức giận, đơn giản là vì tranh giành cao thấp, hơn thua mạnh yếu, nhưng cuối cùng đều không ai chiến thắng cả. Bạn có thể thắng ở việc này, nhưng có thể lại thua ở việc khác. Lúc bạn nhắm mắt từ giã thế gian này, dù có là ai thì cũng đều giống nhau, chỉ là hai bàn tay trắng.

Đời người quan trọng nhất là làm được một chút việc gì đó mà bản thân cảm thấy có ý nghĩa, không nên tốn thời gian đi tranh danh đoạt lợi, không nên cứ lại hơn thua vì một câu nói mãi thế.

Người có tu dưỡng chân chính sẽ biết nén cơn tức giận này xuống. Biết kiểm soát được nóng giận mới có thể khiến sự tình trở nên tốt hơn, mới có thể khỏe mạnh và trường thọ.

Nếu để bạn mắc bệnh nhẹ một tuần, bạn sẽ phát hiện tiền tài không còn là quan trọng, chỉ có gia đình và thân thể mới là đáng quý.

Nếu để bạn mắc bệnh nặng một tháng, bạn sẽ phát hiện tiền tài đặc biệt không hề quan trọng, thân thể và người nhà mới là trọng yếu.

Nếu để bạn mắc bệnh nặng nửa năm, đoán chừng bạn sẽ sẵn lòng buông bỏ hết thảy tiền tài và danh lợi, chỉ có thân thể mới là thứ quan trọng nhất.

Đời người ta nên bình thản mà sống, khỏe mạnh, hạnh phúc mới là quý giá nhất.

Hoa do tưới nước quá nhiều mà chết, cá ăn bể bụng mà chết, người vì tức khí mà chết. Bạn kiểm soát được cơn nóng giận được bao nhiêu, thì sẽ có thể sống thọ được tới đó.

Vừa không tức giận người khác, mà chính mình cũng không tức giận, gọi là chân nhân, thông thường có thể sống trăm tuổi hoặc hơn.

Trăm bệnh đều từ tức khí mà sinh ra. Cho nên, muốn trường thọ phải biết tiết chế cơn nóng giận, cải biến quan niệm, cải biến tập quán sinh hoạt không tốt, quan tâm đến bản thân mình, hãy bắt đầu ngay từ hôm nay.

Sưu tầm

Ghi chú thêm:

Tức giận là lấy sự sai lầm của người khác mà trừng phạt chính mình. Hãy yêu thương họ vì họ không biết việc họ làm.!!!(thánh kinh)

Yêu không phải là tìm kiếm một người hoàn hảo…

May be an image of child, standing and outdoors

Yêu không phải là tìm kiếm một người hoàn hảo, mà là học cách dùng đôi mắt hoàn hảo để ngắm nhìn một người thường.

Thật ra, yêu không phải là tìm kiếm một người hoàn hảo. Mà là, phải học cách dùng đôi mắt hoàn hảo, để ngắm nhìn một người không hoàn hảo.

Tích đức không cần người khác thấy, hành thiện tự có Trời biết.

Người làm việc thiện, phúc tuy chưa đến, họa đã đi xa. Người làm việc ác, họa tuy chưa đến, phúc đã đi xa. Người làm việc tốt, giống như cỏ trong vườn xuân, không thấy trưởng thành, lâu ngày sinh sôi. Người làm việc ác, giống như đá mài dao, không thấy hao tổn, lâu ngày mới mòn.

Phúc họa vô môn luôn tại tâm (ý nói phúc và họa không có cửa để chúng ta đi vào nó, mà nó được hình thành qua suy nghĩ tốt hoặc xấu trong tâm của chúng ta).

Điều đáng sợ của hành động làm ác không phải là bị người khác phát hiện, mà là chính mình tự biết. Điều đáng khen của hành động lương thiện, không nằm ở lời khen của người khác, mà là nằm ở sự an vui của chính mình.

Đời người, có bao nhiêu toan tính, thì có bấy nhiêu đau khổ. Có bao nhiêu khoan dung, thì có bấy nhiêu niềm vui.

Đau khổ và niềm vui đều là sự phóng chiếu của tâm linh, giống như trong gương có cái gì, là do sự vật đứng trước gương quyết định.

Trong lòng không buông bỏ được, tự nhiên sẽ thành gánh nặng, gánh nặng càng nhiều, đời người càng không vui.

Tâm toan tính giống như cái túi quần, tâm khoan dung giống như cái phễu. Tâm phức tạp thích toan tính, tâm đơn giản dễ vui vẻ.

Biết khoan dung, con đường đời mới có thể càng đi càng rộng. Oán hận là một ly rượu độc, cái bị giết chết là niềm vui của chính mình.

Dùng sai lầm của người khác để trừng phạt bản thân, là một chuyện vô cùng ngu xuẩn. Vậy chi bằng, tha thứ cho lỗi lầm của người khác, vui vẻ với cuộc đời của mình. Không khoan thứ cho người khác, thật ra là đang không bỏ qua với chính mình.

Tấm lòng của một người có thể dung chứa được bao nhiêu người, thì có thể thắng được bấy nhiêu lòng người. Tấm lòng rộng mở, mới có thể thành tựu sự nghiệp, mới có đời người yên bình và vui tươi. Tâm rộng lớn, thì tất cả mọi chuyện đều nhỏ hết.

Chuyện lớn chuyện khó, xem cách đảm đương. Nghịch cảnh thuận cảnh, xem tấm lòng.

Là vui hay giận, xem tu tính. Có mất có được, xem trí tuệ. Là thành là bại, xem kiên trì.

Mọi chuyện thuận theo tự nhiên. Vạn sự xử trí an nhiên. Lúc đắc ý điềm nhiên. Lúc thất ý thản nhiên. Gian nan trắc trở xem như tất nhiên. Trải nghiệm hết vô thường mới ngộ ra.

Uống loại trà thanh khiết, ngậm cái miệng thị phi, kết giao bạn ngộ đạo.

Tình yêu đích thực, là chấp nhận, không phải chịu đựng; là ủng hộ, không phải chi phối; là hỏi thăm, không phải chất vấn.

Tình yêu đích thực, phải cám ơn, cũng phải xin lỗi; phải ân cần, cũng phải thông cảm; phải nhận lỗi, cũng phải sửa lỗi.

Tình yêu đích thực, không phải nghi ngờ lẫn nhau, mà là cùng nhau nhìn về một hướng.

Thật ra, yêu không phải là tìm kiếm một người hoàn hảo. Mà là, phải học cách dùng đôi mắt hoàn hảo, để ngắm nhìn một người không hoàn hảo.