Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ…

 

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Việt Nam này không dễ bị covy

Cột điện Mỹ nếu mà nó biết đi

Cũng vượt biên về Việt Nam có thể

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Hết thật rồi phó thủ Vũ Đức Đam

Mới ngày nào anh nói thấy phát ham

Ta chống giỏi dịch cúm Tàu phải nể

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Sự thật lột trần bộ mặt tan hoang

Dịch covy vây bủa khắp tràn lan

Mà đảng ta không cách nào chống đỡ

Thế là hết từ đây thôi ngạo nghễ

Hết thiệt rồi nhen anh Phúc, anh Đam

TRÊN ĐỜI KHÔNG CÓ BỮA ĂN NÀO LÀ MIỄN PHÍ

TRÊN ĐỜI KHÔNG CÓ BỮA ĂN NÀO LÀ MIỄN PHÍ

 Lời cha dặn dò con gái

Con gái của cha!

Một người không tốt với con, con không nên quá bận tâm. Trong cuộc sống của con, không ai phải có nghĩa vụ đối tốt với con trừ cha mẹ. Còn với những người tốt với con, con nên trân trọng và biết ơn điều đó. Nhưng con cũng cần phải có chút đề phòng bởi mỗi người khi làm bất cứ việc gì đều có mục đích riêng. Hãy nhớ, họ tốt với con không đồng nghĩa với việc họ phải quý mến con.

Không có ai là không thể thay thế, không có vật gì thuộc hoàn toàn sở hữu của con. Vì thế, nếu sau này người con yêu thương không còn ở bên, hay họ không còn là nơi con có thể đặt niềm tin, con cũng đừng bi lụy. Sinh mệnh con người thực sự ngắn ngủi, con đừng để mỗi ngày trôi đi vô ích. Người ta tham vọng sống lâu nhưng con chỉ cần sống hạnh phúc mỗi ngày. Hãy trân trong và yêu lấy cuộc sống hiện tại của con.

Trên đời này không có gì là nhất cả, tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời con, nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi. Nếu như người đó rời xa con, con hãy học cách chờ đợi. Hãy để thời gian rửa sạch vết thương, để tâm hồn con lắng lại rồi nỗi đau của con cũng sẽ dần biến mất. Con đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo, cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn.

Có những người thành đạt mà không cần trải qua nhiều trường lớp, nhưng điều đó không có nghĩa con thôi nỗ lực học tập. Kiến thức con học được chính là vũ khí con cần có, hãy nhớ người ta không thể làm gì nếu họ chỉ có tay không. Con không nhất thiết phải chăm sóc cha nửa cuộc đời còn lại và cha cũng thế. Khi trưởng thành, con có thể tự mình bước đi, trách nhiệm của cha cũng đã kết thúc. Sau này dù con hạnh phúc hay buồn đau, con đều phải tự mình lựa chọn và có trách nhiệm với nó.

Con có thể bắt mình phải giữ chữ tín, nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình. Con có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người, nhưng con không thể kỳ vọng người ta sẽ làm ngược lại. Khi con tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với con. Hãy nhớ điều này nếu không con sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống.

Cha đã mua vé số trong 26 năm thế nhưng chưa một lần trúng, điều đó nói lên rằng muốn giàu có phải dựa vào nỗ lực làm việc của bản thân, trên đời này không có bữa ăn nào là miễn phí cả.

Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau, cho dù trong cuộc sống bận rộn con ít khi gặp mọi người, nhưng con hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ, hãy dành cho họ thời gian để yêu thương con hơn, và hãy gọi điện cho mẹ con

Têrêsa Ngọc Nga (st)

From: KimBang Nguyen

Hành trang người môn đệ

 Hành trang người môn đệ

Điều gì quan trọng nhất??

CN 15 Thường niên – năm B. 

Lung Linh

Tin Mừng Chủ nhật 15 B Thường niên nói về việc rao giảng mà hiện nay chúng ta gọi là Loan báo Tin Mừng.

Trên internet chúng ta nhận được những lời khuyên thật chí tình:

Đây là những lời khuyên điển hình và giá trị nhất

Hành trang của người môn đệ là sự gắn bó mật thiết với Đức Giêsu.

Sự gắn bó ấy giúp Người hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha, trở nên một lòng một ý với Đức Chúa Cha, luôn cầu nguyện, luôn từ bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa Cha. Chính vì thế, sứ vụ của Người đã thành công tốt đẹp.

Hành trang của người môn đệ là tâm hồn đơn sơ phó thác.

Không mang theo gì của loài người, chỉ mang theo niềm tin yêu phó thác vào Thiên Chúa, đó chính là mang theo tất cả.

Hành trang của người môn đệ là tình liên đới. 

Tình liên đới không những cần thiết để giúp các ngài làm việc tông đồ một cách hữu hiệu. Chính qua tình liên đới mà Tin Mừng dễ dàng được đón nhận.

Hành trang của người môn đệ là trái tim biết cảm thương.

Một tay nắm lấy tay Chúa, một tay nắm lấy tay anh em. Một tình yêu anh chị em trong tình yêu mến Chúa. Liên kết mọi người trong tình yêu mến. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ của ta sẽ đi đúng đường hướng của Chúa. Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ sẽ có kết quả tốt đẹp.

***

Nhưng thực tế thì thế nào?

Từ lời khuyên tới thực hiện…từ lý thuyết tới thực hành..có một khoảng cách cả chục cây số!!!

Như vậy, chúng ta tha hồ khích lệ nhau..Hãy cố gắng mà chuẩn bị hành trang thật tốt để lên đường loan báo Tin Mừng…

Nhưng công cuộc Loan báo Tin Mừng dường như vẫn dậm chân tại chỗ

Hay nói u buồn hơn: công cuộc Loan báo Tin Mừng dường như bị chết yểu từ trong trừng nước..

Tại sao lại nói kiểu “Bùi Lan” – bàn lui hoặc ‘đâm sau lưng chiến sĩ’ như thế???

Vì những lý do sau:

Có tới hơn 90 % chúng ta vẫn nghĩ rằng:

Hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha Là chuyện không tưởng.

Chúa thì thánh đức ngàn trùng, tôi thì thội lỗi phàm hèn…

Làm theo ý Chúa Cha Là chuyện mò kim đáy biển.

Làm sao biết chắc rằng đây là ý của Chúa Cha??? Toàn là đoán mò…!!!

Đây là 2 yếu tố nền tảng mà chúng ta không nắm được coi như chúng ta đã xây tòa nhà Loan Báo Tin Mừng trên cát mất rồi!!!

Sao lại xây trên cát: Vì lý do sau:

Dù tôi dụ được hàng ngàn người vào cộng đoàn..

Dù tôi thuyết trình hàng trăm lần trước hàng trăm cử tọa

Dù tôi đi Đông đi Tây, ra Bắc vào Nam để Loan Báo Tin Mừng

Dù tôi giúp cho nhiều người cảm thấy sống tốt hơn, vui vẻ hơn…

Nhưng còn chính mình thì sao nhỉ??? Chúa vẫn là người khách lạ ngay trong ngôi nhà tâm hồn mình.

Khi đi Loan Báo Tin Mừng, tôi lên kế hoạch thật hoàn hảo để đạt được hiệu quả cao. Đó chính là mục đích mà tôi phải đạt cho bằng được.

Còn chuyện Hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha … Tôi chẳng bao giờ nghĩ tới. Tôi chỉ thấy  tôi và một số anh chị em trong ban điều hành cùng nhau thực hiện thế nào cho thật hoành tráng.

Quả thực Hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha Là chuyện không tưởng.

Kết luận:

Tới đây câu hỏi tựa để nêu ở trên cùng

Hành trang người môn đệ… Điều gì quan trọng nhất?

Đã có câu trả lời:

Nhận ra Chúa sống trong mình và tập sống kết hiệp với Ngài ngay trong đời sống hằng ngày của mình…

Làm sao nhận ra Chúa sống trong mình?

Thánh Phaolo nhắc nhở chúng tôi:

Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu. (Cv 17:28)  

Một ngày nào đó tôi có thể chọn một cử động nào đó như: lên xuống cầu thang; chạy xe đi làm, nhai cơm một mình…

Vừa cử động vừa lên xuống từng bậc thang, hay vừa vặn ga, hoặc vừa từ từ nhai cơm… vừa nhử lòng mình….từng cử động này đang được thực hiện trong Chúa…. Chúa Cha, Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần đều được..

Kiên trì tập ngày này qua ngày khác…tháng này qua thánh khác..năm này qua năm khác…Mỗi ngày khởi đầu khoảng  10 phút…30 phút…rồi 1 tiếng…đã là quý lắm rồi…

Chắc chắc một ngày đẹp trời nào đó.. tôi chắc chắn sẽ dần dần cảm nhận rằng mình quả thực đang sống từ nguồn sống của Ngài..

Lúc đó mới nói tới chuyện  Hoàn toàn kết hiệp với Chúa Cha.

Tất nhiên đây cũng chính là hành trang quan trọng nhất trong công cuộc loan báo Tin Mừng,

Thiếu điều này, tôi chỉ là một thùng rỗng… kêu hết sức to!!!

Nguồn  https://tramtubensuoi.blogspot.com/2021/07/hanh-trang-nguoi-mon-e-ieu-gi-quan.html

From: Kim Bang Nguyen

TÊN THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

TÊN THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

 Sương Mai

Mỗi người sinh ra đều được đặt một cái tên.  Tên hay còn gọi là danh xưng của một cá nhân nhằm xác định cụ thể và định dạng về một ai đó.  Nói đến tên là nói đến sự hiện hữu của người đó.  Mỗi cái tên mang một ý nghĩa và có một tầm quan trọng rất lớn.  Tên gắn bó với người đó trong suốt cuộc đời và còn mãi cho đến khi đã khuất tên vẫn còn “lưu truyền hậu thế,” như câu ngạn ngữ: “Hổ chết để da, con người ta chết để tiếng;” lưu truyền đó tốt hay xấu là do cách sống của ta.  Khi nói đến tên của ai đó ta nghĩ về cuộc đời và con người của họ.  Người Công giáo ngoài tên thường gọi, còn có tên Thánh, được đặt từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội.  Tên con người là thế, nhưng có ai đã đặt vấn đề: Con người sinh ra ai cũng có tên, vậy Thiên Chúa là Đấng dựng nên ta, Ngài có tên không?  Và tên Ngài là gì?

Khi ta biết tên của ai đó là lúc ta bắt đầu biết về họ.  Chúng ta không ai biết tên Thiên Chúa.  Sở dĩ chúng ta biết tên Thiên Chúa là nhờ Ngài mạc khải chính tên của Ngài cho chúng ta.  Cho nên, khi con người biết tên Thiên Chúa là bước khởi đầu để con người có cơ hội biết về Ngài, và Ngài sẵn sàng thiết lập tương giao giữa Ngài với con người.  Điều này được thấy rõ trong Kinh Thánh Cựu Ước, khi Thiên Chúa mạc khải tên của Ngài cho dân qua Môsê trên núi Sinai (Xh 3,1-15).  Thiên Chúa mạc khải cho Môsê biết tên Ngài là Giavê (Yahweh), Đấng Tự Hữu, là “Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Jacob.”  Khi Thiên Chúa mạc khải tên của Ngài cũng là lúc Ngài mạc khải bản tính của Ngài.  Ngài là Thiên Chúa của tình yêu.

Theo dòng lịch sử của mình, Israel đã có thể khám phá ra rằng Thiên Chúa chỉ có một động lực duy nhất khiến Ngài tự mạc khải cho họ, và chọn họ giữa mọi dân để họ là dân của Ngài: đó là tình yêu nhưng không của Ngài.  Nhờ các tiên tri, Israel hiểu rằng, cũng vì tình yêu mà Thiên Chúa không ngừng giải cứu họ và tha thứ cho sự bất trung và tội lỗi của họ.  Tình yêu của Thiên Chúa đối với Israel được so sánh với tình yêu của một người cha đối với con mình (Hs 11,1).  Tình yêu đó còn mạnh hơn tình yêu của một người mẹ dành cho con cái mình (Is 49, 14-15).  Thiên Chúa yêu dân Ngài hơn người chồng yêu người vợ yêu dấu của mình (Is 62,4-5). Tình yêu đó cũng chiến thắng những bất trung, tình yêu là tha thứ, và tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Israel là vĩnh cửu “tồn tại muôn đời” (Is 54,8).  “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi” (Is 54,10).  “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng thương xót” (Gr 31,3).  Tình yêu vĩnh cửu đó thể hiện rõ nhất qua việc “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Ga 3,16).  Thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8.16), vì chính Hữu thể của Thiên Chúa là tình yêu.  Với mầu nhiệm nhập thể, tử nạn và phục sinh, tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện cụ thể, rõ ràng qua dung mạo của Đức Giêsu Kitô.  Đức Kitô chính là lời mạc khải trọn vẹn về tình yêu Thiên Chúa.  Qua Con Một, Thiên Chúa mạc khải điều bí ẩn thâm sâu nhất của Ngài: Chính Ngài là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và Ngài đã tiền định cho chúng ta được dự phần vào sự trao đổi tình yêu đó. (GLHTCG 218-221)

Chúng ta biết Tên của Thiên Chúa là Tình Yêu, và chúng ta được Thiên Chúa dựng nên bằng tình yêu của Ngài, khi Ngài cho con người giống hình ảnh Ngài, nên chúng ta được thông phần với tình yêu của Ngài.  Vì thế, tên của chúng ta cũng phải thể hiện được bản chất vốn sẵn có mà Thiên Chúa đã khắc ghi trong mỗi người chúng ta đó là Tình Yêu.  Chúng ta được mời gọi hãy sống và phản chiếu dung mạo của Thiên Chúa là Tình yêu.  Khi ta sống trong tình yêu và thể hiện tình yêu ấy là ta đang sống đúng bản chất tình yêu như Thiên Chúa muốn ban tặng cho chúng ta; được kết hiệp nên một với Thiên Chúa, cuộc đời ta được tháp nhập hoàn toàn vào tình yêu của Ngài, dù tình yêu của ta nhỏ bé và giới hạn so với tình yêu của Thiên Chúa.

Từ muôn thuở Thiên Chúa đã khắc ghi tên ta là Tình yêu trong trái tim Ngài.  Ngài muốn hiện hữu cùng ta với tên gọi Tình yêu.  Ta là Tình yêu của Thiên Chúa.  Thế nhưng, đối với ta, Thiên Chúa có là Tình yêu của ta không?  Hay chỉ là một thụ tạo, một đam mê, một vui thú thế gian nào đó mới là tình yêu của ta?  Ta đã thực sự thông phần vào bản chất tình yêu mà Thiên Chúa đã khắc ghi trong trái tim Ngài chưa?

Thân phận con người vốn mỏng manh, yếu đuối và dễ đổi thay.  Thiên Chúa thấu suốt mọi tâm can từng gang tấc nơi con người hơn bất cứ ai.  Ta đã từng khấn hứa giao ước tình yêu với Thiên Chúa, nhưng liệu ta có giữ mãi được lời thề hứa sắt son đó không?  Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu trung tín, không thay đổi; chỉ có tình yêu nơi con người mới đổi thay.  Thiên Chúa mãi mãi thể hiện đúng bản chất tình yêu của Ngài.

Trong cuộc sống, có lẽ ai cũng có những lúc ta muốn buông xuôi tất cả, cảm thấy chán nản, thất vọng, đau khổ, sợ hãi, căng thẳng, mệt mỏi…  Có những lúc tình yêu và lòng nhiệt huyết đi theo Chúa của ta không còn nồng nàn như thuở ban đầu, ta cảm thấy tình yêu ta dành cho Chúa sao hời hợt, tẻ nhạt quá.  Dù như thế, ta hãy nhớ ta vẫn mãi là Tình yêu của Thiên Chúa vì ngay cả khi ta không trung tín với Ngài thì Ngài cũng vẫn tín trung, vì Ngài không thể nào tự chối bỏ chính mình (2Tm 2,13).  Dù ta có như thế nào Thiên Chúa chỉ muốn ta một điều đó là không được thay đổi tình yêu.  Tình yêu là chất keo gắn kết ta với Chúa và giúp ta hiệp thông với anh chị em.  Trung thành trong tình yêu là điều cần thiết để theo Ngài.  Cuộc sống có lúc thăng, lúc trầm, điều đó giúp cho cuộc sống ta thêm phong phú hơn, nó như một bản nhạc cuộc đời làm cho ta thêm khởi sắc hơn.  Ta hãy nhìn cuộc sống bằng đôi mắt đức tin và trong cái nhìn tích cực để thúc đẩy ta trung thành với tình yêu giao ước thuở ban đầu của ta với Chúa.

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sớm cảm nghiệm được tình yêu, nên ngài viết lên một lời bất hủ: “Trong lòng Giáo hội, con sẽ là Tình yêu.”  Một tình yêu âm thầm nhưng vĩ đại và sâu sắc.  Tình yêu của hoa hồng đầy gai nhưng tràn ngập hạnh phúc vì được yêu Chúa.  Chị thánh đã nói: “Tôi đã chẳng cho Thiên Chúa tốt lành điều gì ngoài tình yêu, và Ngài sẽ trả lại cho tôi chính tình yêu.”  Thánh nữ không chỉ là bông hoa bé nhỏ của Chúa Giêsu nhưng còn là của toàn Giáo hội, chị đã để lại một kho tàng quý giá là linh đạo “Con đường thơ ấu” với một tình yêu mạnh mẽ và vĩ đại.

Lạy Chúa Giêsu, tạ ơn Chúa đã thương chọn gọi con, đã yêu thương con bằng mối tình muôn thuở, và đã khắc tên con trong trái tim Ngài.  Xin cho con biết thể hiện và sống đúng bản chất tên Tình yêu như Chúa.  Ước gì trái tim con luôn cùng nhịp đập với trái tim Ngài để con biết yêu thương như Ngài đã yêu bằng đời sống đức ái với anh chị em con.  Xin cho con được mãi trung thành với giao ước tình yêu mà Chúa dành cho con trong ơn gọi thánh hiến.   Amen!

 Sương Mai

Nguồn: https://dongten.net

CUỘC ĐỜI…

CUỘC ĐỜI …

NAM GIANG TỬ

Cuộc đời пhư một dòпg sôпg, mãi tɾôi đi khôпg bɑo giờ tɾở lại – пhữпg lời пày giúp bạп sốпg bình an, vui tư ơi.
Làm vui lòпg пgười khác thì chi bằпg hãy làm vui lòпg mình. Cuộc sốпg khốn khổ thì mìпh hãy sốпg tɾàn đầy ý thơ. Thế gian bạc bẽo thì mìпh hãy sốпg tìпh sâu пghĩɑ пặng. Đó mới là sốпg có bản lĩnh. 

Biết cúi đầu sẽ khôпg bị đụпg cửa; biết пhượпg bộ sẽ khôпg ρhải lùi bước; пgười cầu khuyết thiếu mới có cảm giác hài lòng; пgười tiếc ρhúc mới có được hạпh ρhúc…

Cuộc đời con пgười quả khôпg Ԁễ Ԁàng, bao đắпg cay mặn пgọt, lúc vui buồn hợp taп, chúпg tɑ vẫn ρhải sốпg tốt, tɾoпg пhữпg пăm còn lại củɑ cuộc đời, cần sốпg một cuộc sốпg theo cách mà mìпh muốп.
Ban đầu chúпg tɑ đến với thế giới пày là vì khôпg thể khôпg đếп. Cuối cùпg chúпg tɑ ɾời khỏi thế gian cũпg bởi vì khôпg thể khôпg đi. Quá tɾìпh ở giữɑ đó thì chúпg tɑ có thể sốпg tùy theo ý mình.
Làm vui lòпg пgười khác thì chi bằпg hãy làm vui lòпg mình. Cuộc sốпg khốn khổ thì mìпh hãy sốпg tɾàn đầy ý thơ. Thế gian bạc bẽo thì mìпh hãy sốпg tìпh sâu пghĩɑ пặng. Đó mới là sốпg có bản lĩnh.

Cách sốпg khác nhau, kết quả cũпg khác nhau…
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy tiền bạc làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất khổ.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy con cái làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất mệt.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy ái tìпh làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất đau lòng.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy so đo làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất ρhiền toái.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy khoan Ԁuпg làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất hạпh ρhúc.

Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy hài lòпg làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất vui vẻ.
Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy cảm ân làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ 
sốпg ɾất thiện lương.

Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy ái tìпh làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất đau lòng. Nếu cuộc đời củɑ bạn lấy so đo làm tɾuпg tâm thì bạn sẽ sốпg ɾất ρhiền toái. (Ảnh: Pexels).

Có câu пói: ‘Khi bạn пằm tɾên giườпg bệпh, bạn sẽ chẳпg còn sợ gì пữa!’… vì sao vậy?
Bởi lẽ khi đó chỉ có пgười khác sợ bạn: Bạn bè thân thích sợ bạn mượn tiền; Chɑ mẹ sợ bạn chữɑ khôпg khỏi; Bạn đời sợ bạn làm liên lụy đến họ; Lãпh đạo sợ bạn khôпg thể qυay lại côпg tác, vội vàпg tìm пgười thay; Bác sĩ sợ bạn khôпg đủ tiền tɾả viện ρhí…

Đến lúc đó, пóпg tíпh và kiêu пgạo sẽ hoàn toàn biến mất…

Do đó, пhất địпh ρhải chăm sóc tốt bản thâп, dù thứ gì đi пữɑ cũпg khôпg bằпg bản thân mình. Duy chỉ có thân thể là củɑ mình, thứ qυan tɾọпg пhất là tâm tíпh – đạo đức và sức khỏe.
Học cách chăm sóc bản thâп, yêu bản thâп, cuộc sốпg chân thực пhư vậy, hãy tɾân quý.
Khi bạn mệt thì sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Mệt thì đừпg làm пữa”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để chi tiêu không?
Khi bạn mắc bệ̣nh, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Uốпg thuốc đi”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để muɑ thuốc không?
Khi bạn пói điện thoại củɑ bạn tɾục tɾặc, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng: “Hỏпg ɾồi thì muɑ cái mới đi”. Nhưпg có ɑi cho bạn tiền để muɑ không?
Khi bạn gặp khó khăп, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng:“Khôпg sao…”. Nhưпg có bao пhiêu пgười có thể thực sự giúp bạn?
Cuộc sốпg đều ρhải dựɑ vào mìпh пỗ lực, пếu khôпg cố gắпg thì chẳпg ɑi có thể cho mìпh cuộc sốпg mà mìпh moпg muốn cả.

Khi bạn gặp khó khăп, sẽ có ɾất пhiều пgười пói với bạn ɾằng:“Khôпg sao…”. Nhưпg có bao пhiêu пgười có thể thực sự giúp bạn?
Chỉ cần пghĩ thoáng thì sẽ hiểu ɾõ…
Trên thế gian пày bạn chíпh là bạn: Bạn đau đớn hay mệt mỏi thì chỉ mìпh bạn chịu đựng.
Có thể có пgười cảm thôпg với bạп, пhưпg cũпg có thay đổi được gì пhiều đâu. Cuối cùпg thu Ԁọn tàn cuộc vẫn là ρhải dựɑ vào chíпh mình.
Có пhữпg пgười bạn có thể kỳ vọng, пhưпg đừпg ỷ lại. Từпg giờ từпg ρhút khuyên ɾăn mình: hãy пỗ lực, hãy kiên cường!
Trời mưɑ thì đườпg tɾơп, mìпh tɾượt пgã thì tự mìпh bò dậy, đườпg ɑi пgười ấy ρhải tự đi, mệt hay khôпg thì tự mìпh biết.
Nước mắt ɑi пgười ấy tự lau, chẳпg пgười пào có thể thay thế được mình.
Chớ ôm  ấp dĩ vãпg mà khôпg muốn tiếp bước…
Khi một пgười coi thườпg bạn thì chớ đau lòng. Ai cũпg có cuộc đời ɾiêng, chẳпg ɑi có thể luôn luôn ở bên bạn được.
Ngượпg пhất là khôпg gì bằпg đánh giá mìпh quá cao tɾoпg lòпg пgười khác. Thực ɾɑ bạn biết ɾõ, khôпg gì ti tiện hơn tìпh cảm, khôпg gì lạпh lẽo hơn tìпh пgười.
Bạn cần hiểu ɾõ, пgười muốn đi thì khôпg thể giữ được; пgười giả пgủ thì khôпg thể đánh thức được; пgười khôпg thích bạn thì khôпg làm cảm động được.
Mặt tɾời đứпg bóпg liền пgả về Tây; tɾăпg tɾòn liền chuyển saпg khuyết. Do đó có khiếm khuyết mới lâu dài, khôпg hoàn mỹ mới là пhân sinh.
Thực ɾɑ cảпh giới đẹp пhất là hoɑ пở chưɑ hết, tɾăпg vẫn chưɑ tɾòn…
Biết cúi đầu sẽ khôпg bị đụпg cửa; biết пhượпg bộ sẽ khôпg ρhải lùi bước; пgười cầu khuyết thiếu mới có cảm giác hài lòng; пgười tiếc ρhúc mới có được hạпh ρhúc.

NAM GIANG TỬ

From: KimBang Nguyen

Đời Sài Gòn, ít ai chịu được hai từ “giải phóng”

Đời Sài Gòn, ít ai chịu được hai từ “giải phóng”

Ngày đầu tôi vào Sài Gòn, lúc ấy chưa xin được việc nên tạm thời đi làm công nhân một thời gian, chỗ công ty may túi xách của Nhật ở cổng Khám Chí Hòa với vai trò là thợ phụ, nhớ không nhầm là tiền công 25,000/ngày thì phải. Hồi đó chưa nhiều người Bắc như bây giờ. Có mấy đứa người Bắc làm chung với những người Nam Kỳ khác. Hồi đó cũng chưa có internet, cũng chưa có smartphone, ai giàu lắm cũng chỉ có cái “cục gạch” Nokia. Mạng xã hội chưa có cho nên mọi thứ chưa dễ tìm hiểu.

Mấy người Nam có vẻ không ưa mấy người nói giọng Bắc. Mình buồn lắm, vừa buồn, vừa có chút giận vì trong lòng. Mình yêu người Nam thế mà tại sao họ lại ghét mình. Không ai nói cho mình hiểu cả. Sau đó có internet thì mình cũng lên mạng học ngoại ngữ, tò mò vào các nhóm thì gặp một ông người Việt ở Mỹ, hỏi han qua lại khi biết mình người Bắc là ổng chối đây đẩy y như giẫm phải cờ ứt vậy.

Cay cú lắm, mình mới đi tìm hiểu, lúc đó cũng 30 tuổi rồi nhưng mà còn khờ kiến thức xã hội lắm. Trong trường Y học trối chết, có thời gian đâu, với lại có thời gian cũng chẳng có thông tin nào mà đọc. Sau có cô bạn người Nha Trang (lúc này mình mới bắt đầu đi học chuyên khoa định hướng năm 2014 và thực sự hòa nhập vào môi trường ở đây). Bạn ấy kể:

– Mẹ em nói hồi xưa còn Mỹ ở đây sướng lắm.

– Ủa, sao lại sướng hả em? Chị nghĩ là đánh Mỹ đi để giành độc lập mới sướng chứ? Nước mình độc lập không sướng hơn à?

– Ừ thì độc lập nhưng mà không sướng như ngày xưa đâu chị.

– Sao kỳ vậy em? Em nói gì chị không hiểu, chị nghĩ Sài Gòn được giải phóng thoát khỏi sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy thì người dân phải vui hơn mới phải chứ (nói đúng lý thuyết luôn).

– Thì biết vậy nhưng mà “giải phóng” rồi đừng có đi chiếm nhà của người ta, làm bao nhiêu người bị mất nhà mất cửa, bị đẩy đi vùng kinh tế mới, chết vì sốt rét rừng… Họ không chịu được nên họ về cũng lang thang không chỗ ở nên buộc phải vượt biển chết bao nhiêu là người…

Bạn cũng chỉ nói tới đó thôi vì nghe kể sao biết vậy. Lúc ấy mình mới lờ mờ hiểu… À, thì ra là mình bị ghét vì lý do này đây.

– Nhưng mà chị hỏi em nè, những người như chị có tội tình gì đâu mà sao chị lại bị ghét? Mấy cô người miền Tây hay dùng từ “Bắc Kỳ”.

– Kỳ thị là đúng đó chị, họ không nói ra thôi, chị nghe những điều hồi nãy em nói không? Nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời là mất người thân, vậy sao họ không hận cho được mặc dù những người như chị không có lỗi nhưng chị nói giọng Bắc là họ không có ưa.

À, thì ra là vậy.

Cho nên mình cũng ráng dữ lắm, ráng sống cho thật tốt, chơi với bạn thật chân thành, không bao giờ dám nhắc tới hai từ “giải phóng” bởi với họ, đó là nỗi đau. Hai từ ấy chỉ có người nào vào Nam rồi và chơi với họ thì mới hiểu, đó là nỗi đau, đó là sự mất mát. Ở ngoài Bắc, nhất là các bạn trẻ bây giờ thường nói trong vô thức. Bởi vì các bạn ấy không hề hiểu, đối với người Nam, từ “giải phóng” là từ kỵ, rất kỵ. Họ sẵn sàng nổi sùng lên khi nghe hai từ ấy. Sự việc hôm rồi cũng thế, có lẽ đó cũng là nguồn cơn của cuộc chiến không hồi kết trên mạng xã hội.

Bây giờ, nếu như muốn xóa bỏ ngăn cách thì có một việc cần làm đó là đừng có nhắc tới hai từ kỵ húy ấy. Hãy tìm hiểu nhiều hơn các thông tin để hiểu về người khác. SỰ CHÂN THÀNH SẼ XÓA NHÒA KHOẢNG CÁCH chứ đừng có gân cổ lên chửi làm gì, không giải quyết được việc gì cả. Người ta ghét mình thì hãy tìm hiểu làm sao họ ghét.

Sự thật thì hãy chấp nhận là sự thật, kể cả vết thương có lớn, có đau như thế nào nhưng điều trị đúng thì nó sẽ lành thôi. Nhân đây tôi cũng mong là một số anh chị hơi cực đoan hãy vui lòng nhìn lại và thông cảm, bởi những người trẻ như tôi hồi ấy không hề biết gì mất mát của các anh chị, học trên lý thuyết ra sao thì biết vậy, một số bạn trẻ bây giờ cũng thế. Cùng là dân tộc Việt nhưng không biết bao giờ sự ngăn cách mới được xóa nhòa.

(Tựa bài do Saigon Nhỏ đặt)

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Loạn Covid và phát biểu mê sảng của lãnh đạo CSVN, báo hiệu điều gì?

Loạn Covid và phát biểu mê sảng của lãnh đạo CSVN, báo hiệu điều gì?

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

9-7-2021

Chủ tịch thành Hồ, ông Nguyễn Thành Phong kêu gọi, rằng mỗi người dân thành phố này hãy là một chiến sĩ! Quái lạ, chiến sĩ đánh nhau với ai? Chiến hạm Trung Quốc vào tới… cảng Nhà Rồng?

À không, ông chủ tịch kêu gọi chống dịch Covid-19. May mà ông chưa tuyên bố … nắm lấy thắt lưng con virus mà đánh!

Nhưng virus lại thoắt ẩn, thoắt hiện còn hơn cả những du kích quân Cộng sản thế hệ tiền bối của ông Phong nữa, làm sao mà đánh đây?

Trong chiến cuộc Việt Nam, các du kích quân có hai thứ rất lợi hại để chiến thắng, đó là vũ khí tối tân của Nga Xô, và chiến thuật tuyên truyền rất hữu hiệu. Trong thời bình, Đảng và Nhà nước (cộng sản) của ông Phong, cùng các đồng chí của ông vẫn còn hai thứ vũ khí đó để đàn áp bọn “phản động”, bọn “diễn biến hòa bình”, bọn “cách mạng màu”…

Nào là dùi cui, nào là máy phá sóng điện thoại, các đội công an cơ động trang bị tận răng. Rồi biệt đội “dư luận viên” Lực lượng 47 (cảm hứng từ khẩu AK47 lừng danh của du kích cộng sản), tác chiến, tấn công mạng…

Nhưng hai thứ bửu bối đó đều thúc thủ trước con virus Covid-19 bé xíu, vào ra trại giam, bệnh viện như chỗ không người, từng tấn công cả một ủy viên trung ương (có thể là nhiều hơn một).

Có thể hiểu rằng, ông Phong, cũng như nhiều đồng chí, đồng mộng, đồng phe với ông, vẫn còn tâm lý chiến tranh cách mạng, như tôi từng nêu ra trong bài viết gần đây “Cái nắm đấm đẫm lệ và chủ nghĩa tư bản Vượng Vin”. Chúng ta hiểu rằng, ông Phong bảo các công dân thành Hồ hãy tuân theo chỉ dẫn chống dịch, hãy có kỹ luật, hãy tích trữ lương thực chờ giới nghiêm,… nói chung, như một chiến sĩ, theo cái nghĩa đen của nó, chứ không phải súng đạn, người giết người như nghĩa bóng, ẩn dụ.

Nhưng đoạn phát biểu sau đây của đương kim thủ tướng Phạm Minh Chính thì phải hiểu ra làm sao? Hãy xem đoạn dẫn sau đây trên báo Chính phủ:

Ngoài các phương châm phòng chống dịch đã có, Thủ tướng đề nghị nghiên cứu, bổ sung phương châm kết hợp hài hòa, hợp lý, hiệu quả giữa truyền thống và hiện đại, giữa phân tán và tập trung. Thủ tướng lấy một số ví dụ như kết hợp tây y và đông y trong điều trị bệnh; kế thừa truyền thống của cha ông ta trong đánh giặc là vừa kết hợp chiến tranh hiện đại với bộ đội chủ lực và chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân. Tinh thần là kết hợp sức mạnh tổng lực để kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh.”

Thủ tướng Phạm Minh Chính (trái) và Chủ tịch thành Hồ Nguyễn Thành Phong.

Hãy đặt câu hỏi cho vài “ý tưởng” của ngài thủ tướng xem sao.

– Truyền thống và hiện đại: Ý thủ tướng nói là kết hợp thuốc đông y và vaccine? Đọc lại lịch sử Việt Nam, thì có những ghi chép về dịch bệnh, nhưng không thấy thuốc men gì cả, sau khi dịch giết chết một số đông cư dân, số còn lại miễn nhiễm thì dịch hết. Đó là ngày xưa, dân cư thưa thớt, phải đi xe thổ mộ cả ngày từ Bình Điền vào quận Nhất, nay virus đi theo xe gắn máy, máy bay,… thì làm sao mà kết hợp?

– Phân tán và tập trung: Ý ông Chính nói là tập trung những người bị bệnh lại và phân tán những người không bị bệnh ra?

– Bộ đội chủ lực và du kích: Ý ông thủ tướng, vaccine là bộ đội chủ lực; còn xét nghiệm là du kích? Hay ông nói bác sĩ y tá điều trị bệnh nhân là chủ lực, còn 300 em học sinh Hải Dương “đường mòn Hồ Chí Minh trên không” là du kích?

Quả là không thể dùng một loại logic ngôn ngữ bình thường nào để có thể hiểu cao kiến của thủ tướng, vốn xuất thân từ một viên công an từ Thanh Hóa.

Chỉ có thể hiểu là, lại một lần nữa, ông Phạm Minh Chính lại chơi trò ghép từ như các đồng chí của ông, từ đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng cho tới ông bí thư xã. Đó là một loại từ điển, một loại cẩm nang từ ngữ cách mạng vô sản, chiến tranh cách mạng,… mà khi cần thì các ông ghép lại với nhau, thành một thứ diễn văn trị bá bệnh cho “công tác tuyên truyền”, từ “chống diễn biến hòa bình”, cho đến chống lạm phát; từ chống tham nhũng, cho đến công nghiệp hóa quốc gia.

Nay lại đến chống dịch Covid-19. Nhưng dịch Covid-19 không phải là một cuộc chiến với đối thủ cụ thể mà tấn công, du kích hay tổng lực, nó cũng không phải kiểu vô thưởng vô phạt như bầu cử Quốc hội cho vui, có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Dịch Covid là chết người, là hết sạch giường nằm và máy thở trong bệnh viện, là hàng nấm mồ tập thể không kịp đào!

Thế cho nên, bên cạnh các phát biểu đầy tính “nâng quan điểm giai cấp đấu tranh cách mạng” của các ông Nguyễn Thành Phong, Phạm Minh Chính,… là tình trạng thực tế rất bi đát của dịch bệnh, có thể kể ra vài sự việc tiêu biểu như sau:

– Xếp hàng chích ngừa và xét nghiệm chật như nêm. Thuốc chưa kịp có hiệu quả thì virus hẳn đã bùng phát trong đám đông.

– Cấp giấy chứng nhận xét nghiệm như một loại căn cước đi xin việc, một loại giấy thông hành đi lại lúc giới nghiêm. Nhà cầm quyền không hiểu là người có xét nghiệm âm tính có thể nhiễm virus sau đó vài giây.

Việc rối loạn vì dịch Covid-19 ở thành Hồ và Việt Nam hiện nay gợi nhớ hình ảnh Đông Âu cộng sản sụp đổ, vì nhà cầm quyền không biết phải làm gì trước sự tan rã mà họ không hiểu.

Tình trạng dịch Covid-19 ở Việt Nam hiện nay, với trên dưới 1000 ca nhiễm mỗi ngày, không đến nỗi bi đát cho nhà cầm quyền cộng sản như vậy. Lệnh giới nghiêm và phong tỏa sẽ giúp kéo dài thời gian, chờ đợi vaccine tới, dù muộn, mà trớ trêu lại là các loại vaccine đến từ những nhà nước tư bản. Và cũng chẳng có một tổ chức nào khả dĩ có thể nắm lấy cái khoảng trống quyền lực, nếu nhà nước này sụp đổ.

Nhưng cơn hoảng loạn vì dịch Covid-19 ở thành Hồ, gây ra bởi nhóm cán bộ điều hành quốc gia thiếu kiến thức, thừa mệnh lệnh tuyên truyền chính trị, báo hiệu xã hội Việt Nam cộng sản có thể bị tan rã, hoặc sẽ trở thành một kiểu nhà nước thất bại (Failed State). Vì căn bản của xã hội cộng sản, hệ thống cộng sản là một hệ thống loại trừ (exclusive) đưa đến đỉnh quyền lực những người không có khả năng, chỉ biết hoạt động trong một cái khuôn có sẵn của công thức toàn trị, không đối phó được với những diễn biến của tự nhiên, của xã hội, đòi hỏi phải có kiến thức và tạo cơ hội cho mọi công dân (inclusive) cùng nhau quản trị quốc gia.

“QUEN VỚI NGƯỜI CHẾT HAY SAO MÀ CÚI ĐẦU CHÀO TIỄN HỌ VẬY?”

 

Trung Lễ   Những câu chuyện thú vị

“QUEN VỚI NGƯỜI CHẾT HAY SAO MÀ CÚI ĐẦU CHÀO TIỄN HỌ VẬY?”

Buổi trưa, giờ tan học, trước cổng trường Tiểu học đang có rất nhiều phụ huynh chờ đón con, người thì dõi mắt tìm kiếm, người gọi tên con mình …

​Lúc ấy, có xe đám tang đi ngang qua. Nhiều người ngước nhìn xe đưa tang, bày tỏ sự phấn khích khi đội nhạc cử kèn trống vang lên inh ỏi.

Họ bàn tán xôn xao, có người khen ban kèn Tây chơi toàn nhạc Trịnh Công Sơn “nghe hết sảy”, người khác góp ý như thế thì không hợp với khung cảnh, đáng lẽ phải chơi bài Lòng mẹ, Tình cha …

Duy nhất trong số phụ huynh đang ồn ào đó, có người đàn ông trên 50 tuổi lặng lẽ bước xuống xe, lấy chiếc mũ bảo hiểm đang đội trên đầu cầm tay rồi đứng thẳng người, đầu hơi cúi một chút. Ông cứ đứng vậy, yên lặng chờ xe tang đi qua mới ngước mặt gọi cháu lên xe đi về.

Người đứng bên cạnh tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi:

– “Ủa, ông quen với người chết hay sao mà cúi đầu chào tiễn họ vậy?”.

Ông trả lời:

– “Tôi không hề quen biết hay bà con với người đã mất, nhưng sống trên đời “nghĩa tử là nghĩa tận” mà chú em”.

Rồi ông giải thích:

– “Thời tôi đi học, thầy cô thường nhắc nhở học sinh phải biết kính trọng và lễ phép với người già, người lớn tuổi, biết thương yêu giúp đỡ các em nhỏ tuổi hơn mình, trên đường đi khi gặp người lớn hơn mình phải biết khoanh tay cúi đầu chào, khi gặp đám tang đi ngang phải biết ngả mũ cúi đầu chào người quá cố để tiễn đưa họ …

Chính vì vậy mà các việc ấy bây giờ trở thành thói quen với tôi, mà thói quen thì không bao giờ quên được, việc tôi làm chỉ xem là phản xạ tự nhiên từ nhỏ cho đến bây giờ”.

Tôi nghe ông nói, ngẫm nghĩ đó chỉ là chuyện nhỏ, chuyện đạo làm người mà hình như bây giờ trong xã hội không còn tồn tại hình ảnh đẹp hết sức trân trọng đó.

Tôi mong sao những bài học đạo đức như vậy được chú trọng dạy trong trường, thay vì chỉ tập trung dạy kiến thức sách vở, để trẻ có thể hình thành những thói quen tốt trong cuộc sống, như có thể giữ yên lặng và cúi chào tiễn đưa khi gặp đám tang đi qua.

Nguồn: TRẦN VĂN TÁM 

Người Việt Đừng Để Bị “Con Ma Chủ Nghĩa Xã Hội” Tiếp Tục Hù Dọa Trên Nước Mỹ

Van Pham

Người Việt Đừng Để Bị “Con Ma Chủ Nghĩa Xã Hội” Tiếp Tục Hù Dọa Trên Nước Mỹ

Trên Youtube Hoang Bach Channel ngày 24/06/2021, bác sĩ Ngô Bá Định ở vùng Little Saigon có kể một câu chuyện vui về một chú bệnh nhân lớn tuổi, đã được anh cho thuốc uống ngừa sạn thận, nhờ vậy không phải đi bắn sỏi thận nữa. Sau khi cảm ơn bác sĩ, bệnh nhân này lại dặn dò thêm một câu (không có ăn nhập gì đến y khoa ráo trọi) rằng: “… nhưng mà bác sĩ à, tôi vẫn nghĩ rằng đảng Dân Chủ đang nhận tiền hối lộ của Trung Cộng, nó đang làm việc cho Trung Cộng đó nghe bác sĩ…”. Có lẽ chú bệnh nhân này thấy dạo gần đây Bác Sĩ Ngô Bá Định nghiêng về phía “Dân Chủ thổ tả” quá nên mới nhắc nhở vậy!

Thực ra chú bệnh nhân này không phải là người Việt ở Mỹ duy nhất vẫn bị “con ma chủ nghĩa xã hội” (CNXH) ám ảnh trên đất Mỹ, và cho rằng đảng Dân Chủ ở Mỹ đang chạy theo CNXH. Những lời tuyên truyền “nếu Biden làm tổng thống nước Mỹ sẽ lọt vào tay cộng sản” thường xuyên được nhắc tới trong mùa bầu cử 2020, cho dù nước Mỹ sau bao đời tổng thống Dân Chủ hay Cộng Hòa vẫn chưa bao giờ bị đổi tên thành… Cộng Hòa XHCN Hoa Kỳ!

Tại sao người Việt mình ở Mỹ vẫn sợ “con ma CNXH” đến thế, cho dù đã sống hằng chục năm trời ở xứ tư bản hùng mạnh nhất thế giới? Một phần vì hầu hết những người Việt tị nạn đều đã có những ký ức kinh hoàng với chế độ CSVN, những cơn ác mộng có khi sẽ theo ta đến cuối đời. Một phần vì kỹ thuật tuyên truyền của các chính trị gia đảng Cộng Hòa, lập đi lập lại điều này trong những mùa bầu cử, nghe nhiều quá cho nên có nhiều người tin rằng đó là sự thật.

Sự thật thì ra sao? Nhiều người Việt tị nạn- đặc biệt là những người thuộc thế hệ tị nạn thứ nhất, là nạn nhân trực tiếp của chế độ CSVN- chỉ biết có một loại CNXH thôi. Đó là thứ CNXH mà đảng CSVN du nhập từ cộng sản Liên Xô, cộng sản Tàu. Những đặc điểm chính của nó là:

– Tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, triệt tiêu quyền tư hữu, triệt tiêu nền kinh tế thị trường.

– Chủ trương cướp chính quyền bằng bạo lực.

– Cai trị người dân trong nước bằng chế độ độc tài toàn trị, tước đi hầu hết các quyền tự do căn bản của con người.

Thứ CNXH này hỏi ai mà không sợ? Và nước Mỹ từ hồi chiến tranh lạnh đến nay đã dẫn đầu thế giới tự do để chống lại thứ quái thai của lịch sử nhân loại này. Đến ngày hôm nay, thứ CNXH này đã biến mất ở Nga và Đông Âu.

Những nước còn rêu rao là theo CNXH như Trung Cộng và Việt Nam thì đã lặng lẽ bỏ chủ trương tiêu diệt tư bản, và chính quyền của họ đã biến thành những tập đoàn tư bản đỏ. Riêng CSVN còn đẻ ra một thứ quái thai mới: nền kinh tế thị trường định hướng…CNXH!!! Họ chỉ còn giữ lại chế độ độc tài để dễ dàng cai trị người dân, chứ còn tiền tư bản thì không chê!

Vì thế, khi các chính khách Cộng Hòa tìm cách tuyên truyền trong cộng đồng gốc Việt, họ đã cố tình đồng hóa đảng Dân Chủ với thứ CNXH theo kiểu này. Họ cũng biết điều này là không đúng, nhưng vẫn cứ nói vì vẫn có nhiều người tin.

Kỳ thực, khi các chính khách của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ tranh cãi với nhau về chuyện “Mỹ có nên hay không nên theo CNXH”, đó là một thứ khái niện CNXH hoàn toàn khác. Trong khoảng vài năm gần đây, giới truyền thông của Mỹ đã giải thích lại rất nhiều về 2 khái niệm gọi là “xã hội dân chủ” (social democracy), hay “dân chủ xã hội” (democracy socialism). Nói một cách vắn tắt dễ hiểu, 2 mô hình xã hội dân chủ này có những đặc điểm:

– Không chủ trương tiêu diệt tư bản, mà vẫn xem tư bản là nền móng cho một xã hội giàu có thịnh vượng. Tôn trọng nguyên tắc thị trường tự do.

– Đặt giá trị xã hội dân chủ lên hàng đầu, tuyệt đối không ủng hộ cách cai trị chuyên chế độc tài. Chế độ đa đảng, tam quyền phân lập của nước Mỹ cho đến nay vẫn là một mẫu mực cho nền dân chủ thế giới.

– Chủ trương giảm bớt bất bình đẳng xã hội, giảm khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Mỹ. Một trong những phương cách thường sử dụng đó là đánh thêm thuế của người giàu có để tăng cường an sinh xã hội cho người nghèo. Đây chính là chủ đề tranh cãi hầu như bất tận giữa hai đảng, nhưng đó cũng chính là điểm son của chế độ đa đảng luôn tạo thế quân bình chính trị.

– Chủ trương chính quyền nên có trách nhiệm trong việc tạo ra một hệ thống an sinh xã hội rộng hơn cho toàn dân Mỹ, thí dụ như bảo hiểm y tế toàn dân, nên có một nền giáo dục miễn phí từ cấp nhà trẻ đến đại học cộng đồng (điều mà chính phủ Biden đang nỗ lực để đạt được) …

Tất nhiên, không có mô hình nào là hoàn chỉnh, cho nên người Mỹ có kẻ ủng hộ, người chống. Trở lại với cộng đồng gốc Việt, nếu biết mô hình xã hội dân chủ ở Mỹ mà đảng Dân Chủ đang theo đuổi là như vậy, liệu chúng ta có còn sợ hãi nó như thứ CNXH của Việt Nam, của Trung Cộng hay không?

Thí dụ cụ thể hơn, nhiều nước Bắc Âu như Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch… đã theo mô hình xã hội dân chủ này từ lâu. Có thể quốc gia của họ không giàu mạnh như Mỹ, nhưng người dân xứ nào sống sướng hơn, đỡ căng thẳng lo lắng hơn thì chưa chắc ai hơn ai. Người dân ở những xứ này có mời họ sang định cư ở Mỹ chưa chắc họ nhận lời! Ngược lại, những người Mỹ có tinh thần khởi nghiệp, thích tìm kiếm cơ hội để làm giàu cũng chưa chắc đã thích sống ở các xứ sở quá êm ả này.

Cộng đồng gốc Việt có thể tự chọn lập trường có nên ủng hộ mô hình xã hội dân chủ kiếu đó hay không. Cách đơn giản nhất để lựa chọn đó là xem các chính sách đó có đem lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình, cho cộng đồng mình hay không.

Còn chuyện thực hiện nó như thế nào thì hãy để cho các chuyên gia kinh tế, chính trị bàn cãi. Không có lựa chọn nào là hoàn toàn đúng, hoàn toàn sai. Nhưng đừng để cho các chính trị gia ảnh hưởng đến quyết định của mình bằng cách hù dọa với những nỗi sợ hãi trong quá khứ, không có thực trong hiện tại.

Nếu hiểu được như vậy, thì chú bệnh nhân của Bác Sĩ Ngô Bá Định có thể sẽ nói với các chính trị gia rằng: “tui có quyền lựa chọn đảng Cộng Hòa, hay đảng Dân Chủ tùy theo quyền lợi của tui. Nhưng xin đừng đem con ma CHXH ra hù dọa tui nữa. Xưa rồi Diễm…”

Ông Sáu Mù – Tưởng Năng Tiến

Ông Sáu Mù

Tưởng Năng Tiến

Đôi lúc, tôi vẫn nghe các bạn đồng hương (và đồng thời) than thở: “Bọn trẻ ở Hoa Kỳ không mấy đứa biết tôn kính người già.” Có vị còn chua chát thêm: “ Bây giờ thì đâu mà chả thế, chứ nào có riêng chi

Những câu càm ràm (thượng dẫn) hay khiến tôi nhớ đến ông Sáu Mù, một ngư dân sống hồi cuối thế kỷ trước tại xóm chài Lâm Quang Ky – Rạch Giá. Ông Sáu, thực ra, cũng chưa hẳn đã đui nhưng vì đôi mắt kèm nhèm và có cái tật hay nhíu mày nên bị chết cái tên (“mù”) cũng hơi oan chút xíu.

Sau bữa trưa khề khà chừng hơn xị rượu, rồi đánh một giấc thật đẫy đà, chiều vừa nhạt nắng là Sáu Mù lần dò ra đứng hồi lâu trước nhà sàn. Đây là giây phút nghiêm trang nhất trong ngày nên cả xóm đều lặng im, chăm chú theo dõi nhất cử nhất động của ông. Sáu Mù nghiêng tai nghe ngóng, trầm ngâm hít hà gió biển (chập lâu) rồi mới cùng đám con lục tục xuống ghe, sau khi ông đã định được hướng xuất hành. Mọi người chỉ chờ có thế là cùng loạt nổ máy, hớn hở theo sau.

Dân xóm chài Lâm Quang Ky làm nghề tùy theo thời vụ: lưới kến, lưới năm, câu bờ, câu khơi … nhưng thường thì họ hay đi ủi xịp (hoặc còn gọi là ủi xệp) vì biển Rạch Giá cạn và lắm bùn nên tôm tép vô số. Rọi đèn xuống nước, giữa đêm đen, sẽ thấy mắt tôm đỏ lừ và dầy đặc. Không mặc quần đùi hay quần sịp mà nhẩy đại xuống nước là dám bị chúng búng tới … xước da cu luôn!

Đi xịp một đêm, xúc vài cần xé đầy vun (tôm chì, tôm thẻ, tôm nghệ …) không khó. Tuy thế, biển cả bốn phương/tám hướng, phải biết chỗ mà ủi thì mới có ăn. Chớ chạy lạng quạng trật hướng thì kể như là trớt quớt, chỉ kiếm được đôi ba chục ký là cùng. Lỗ tiền dầu là cái chắc. 

Không biết nhờ vào thính giác hay khứu giác (hoặc cả hai) mà ông Sáu “cảm” được hướng đi và nơi quần tụ của tôm cá. Kinh nghiệm quí giá này giúp cho cả xóm ăn nên làm ra nên ông rất được vị nể và kính trọng, dù là người khuyết tật.

Sáu Mù là hình ảnh rơi rớt, hiếm hoi của một già làng thuộc Thời Trung Cổ. Cái thời mà kiến thức của nhân loại chỉ có thể lưu lại cho hậu thế qua truyền khẩu, hoặc bằng kinh nghiệm sống thực thôi.

Đêm trường Trung Cổ đã qua. Người như Sáu Mù nay chả còn vai trò gì nữa. Với cái smartphone, ai cũng có thể tiếp cận tin tức khí tượng và dự báo thời tiết từ bất cứ nơi đâu, vào bất kể lúc nào. Tất cả ngành nghề cũng đều có thể học hỏi online, và gần như mọi câu hỏi đều có lời giải đáp qua google hết trọi.

Ở Thời Đại Thông Tin, phần lớn, những công dân lão hạng đều vô dụng và trở thành gánh nặng cho xã hội nên họ mất đi sự tôn kính là lẽ thường tình – nếu chưa muốn nói là chuyện tất nhiên. Tôi rất biết thân biết phận của mình (một anh già nát rượu & hoàn toàn vô tích sự) nên chưa bao giờ dám lớn tiếng than thân, hay than van gì ráo.

Lẩm bẩm hoặc lầu bầu (nho nhỏ, lí nhí) cũng không luôn. Chả những thế tôi còn cảm thấy là mình biết ơn rất nhiều người, nhất là lớp hậu sinh vì nhờ họ nên mới có dịp được học hỏi thêm nhiều điều mới mẻ.

Xin đan cử đôi ba trường hợp …

Ngày 4 tháng 6 vừa qua, FB Teresa Trần Kiều Ngọc đã nhắc đến một hiện tượng tâm lý khá lạ (Imposter Syndrome – Hội Chứng Giả Mạo) không thường thấy trong những cộng đồng người Việt: “Tự vấn, hoài nghi chính mình, không phải là điều hoàn toàn xấu hay tiêu cực. Nó giúp cho chúng ta khiêm tốn, biết được giới hạn để không trở nên tự mê, tự kiêu, tự đại. Ngoài kia còn nhiều người tài giỏi hơn mình rất nhiều. Thế giới là một biển học vô bờ. Bằng sự chính trực và khiêm cung, dù nhỏ nhoi đến đâu thì mỗi người trong chúng ta vẫn đều có thể là người hữu ích cho việc chung.”

Bên dưới status thượng dẫn là phản hồi của FB Viet Beat, đề cập đến một hiện tượng tâm lý khác, cũng rất đáng quan tâm: “Imposter syndrome dành cho người khiêm cung, hiểu được giới hạn của mình nhưng rất tiếc bây giờ một số người Việt lại bị hội chứng nghịch, hiệu ứng Dunning-Kruger, quá tự tin và cao ngạo về điều (không) biết của mình…”

Tôi cũng có đọc qua loa về hiệu ứng Dunning-Kruger (Unskilled and unaware of it: how difficulties in recognizing one’s own incompetence lead to inflated self-assessments) của hai nhà tâm ý học J. Kruger và D. David nhưng lười tìm hiểu thêm vì không quan tâm mấy.

Cứ tưởng rằng giữ thể diện (sợ mất mặt – save face) là tâm lý chung của đám đông. Trong giao tiếp hằng ngày, thiên hạ có khuynh hướng tự nâng (trình độ học vấn, lương bổng, gia cảnh, gia thế, tài sản …) mình cao hơn lên chút xíu là chuyện khá bình thường, và cũng chả gây thiệt hại hay phiền phức gì cho bất cứ ai cả. Nổ chơi (cho đã miệng) chút xíu thôi mà.

Tuy nhiên, sau khi xem lại cách đặt vấn đề của Trần Kiều Ngọc và Viet Beat về hai hiện tượng tâm lý tương phản (thượng dẫn) thì nhận thức của tôi có hơi đổi khác. Một cá nhân hợm mình, tự cao, tự đại, ba hoa, khoác lác, nói thánh, nói tướng …  thường  chỉ có thể làm cho một số ít người sống gần khó chịu và tìm cách tránh xa thôi.

Còn một tập thể mắc chứng hợm hĩnh, huyênh hoang, ngạo mạn (như thiên hạ hay nói đến bệnh kiêu ngạo cộng sản, chả hạn) mà lại đang nắm vai trò điều hành cả một quốc gia thì e là đại họa.

Hãy thử nghe dăm bẩy câu nói của giới lãnh đạo Việt Nam để thấy sự ngông cuồng và điên loạn của đám người này :

  • Vũ Đức Đam: “Tất cả cuộc sống người Việt Nam ta hôm nay là niềm mơ ước của nhiều nước.”
  • Nguyễn Mạnh Hùng: “Việt Nam có thể đi đầu cách mạng công nghiệp 4.0.
  •  Lê Minh Hưng: “Toàn cầu bất ổn nhưng Việt Nam rất ổn.”
  • Nguyễn Xuân Phúc: “Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng chưa bao giờ lớn và sâu sắc như lúc này.”
  • Nguyễn Phú Trọng: “Không có một lực lượng nào khác ngoài ĐCSVN có đủ bản lĩnh, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn.”
  • Võ Văn Thưởng: “Nhiều nước coi Việt Nam là mô hình phát triển để học tập.”
  • Nguyễn Chí Vịnh: “Bộ đội ta có những kỹ năng đặc biệt khiến Liên Hợp Quốc khâm phục.”
  • Phan Quốc Việt: “Có 20 quốc gia đang đàm phán mua bộ sinh phẩm kít xét nghiệm virus corona chủng mới của Việt Nam.”

Mức độ tự huyễn của những lời phát ngôn dẫn thượng khiến tôi nhớ đến lời than phiền, nghe được từ hồi cuối thế kỷ trước, của ông Hà Sỹ Phu: “Đảng cộng sản Việt Nam như người đi đường không biết dùng bản đồ. Thỉnh thoảng lại sa xuống hố. Lóp ngóp bò lên được thì hô vang thắng lợi. Cứ thế, Ðảng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.”

Với thời gian thì cái tần suất “sa xuống hố” mỗi lúc một thêm đều đặn (và toàn là hố thẳm: Vinashin, Vinalines, Bauxit, Vũng Áng, Vĩnh Tân, Duyên Hải, Formosa, rồi đến những Khu Tự Trị …) cứ như thể là cả Đảng đã bị đui hết trơn rồi vậy.

Sự tăm tối của giới cầm quyền ở Việt Nam hiện nay cũng khiến tôi nhớ đến ông Sáu Mù, ở xóm chài Lâm Quang Ky, với hơi nhiều nuối tiếc.

Tưởng Năng Tiến
7/2021

 Nghệ Thuật Nhân Sinh: Quên

 Nghệ Thuật Nhân Sinh: Quên

Bài này có thể các bạn đã đọc qua. Cuối tuần của Lễ ĐỘC LẬP Mỹ, nếu rảnh, mời quý bạn đọc lại. Xem như “Ôn Cố Tri Tân” các bạn nhé. Chúc tất cả có một cuối tuần vui vẻ, hạnh phúc.

Hoa V. 
 
Một buổi tối, tôi đi thăm người bạn từng bị vu cáo hãm hại. Lúc ăn cơm, anh nhận được một cú điện thoại, người đó muốn nói cho anh biết ai đã hãm hại anh.
Nhưng anh bạn tôi đã từ chối nghe. Nhìn thấy vẻ mặt ngạc nhiên của tôi, anh nói: “Biết rồi thì sao chứ? Cuộc sống có những chuyện không cần biết và có những thứ cần phải quên đi”.
Sự rộng lượng của anh khiến tôi rất cảm kích. Đời người không phải lúc nào cũng được như ý, muốn bản thân vui vẻ, đôi khi việc giảm áp lực cho chính mình là điều cần thiết và cách để giảm áp lực tốt nhất chính là học cách quên, bởi trong cuộc sống này có những thứ cần nhặt lên và bỏ xuống đúng lúc.

Lời nói của lão hòa thượng đầy thiền ý, hàm chứa trong nó một nghệ thuật nhân sinh. Cuộc đời con người giống như một cuộc hành trình dài, không ngừng bước đi, ven đường nhìn thấy vô vàn phong cảnh, trải qua biết bao những gập ghềnh, nếu như đem tất cả những nơi đã đi qua, đã nhìn thấy ghi nhớ hết trong lòng thì sẽ khiến cho bản thân mình chất chứa thêm rất nhiều gánh nặng không cần thiết. Sự từng trải càng phong phú, áp lực càng lớn, chẳng bằng đi một chặng đường quên một chặng đường, mãi mãi mang một hành trang gọn nhẹ trên đường. Quá khứ đã qua, thời gian cũng không thể quay ngược trở lại, ngoài việc ghi nhớ lấy những bài học kinh nghiệm, còn lại không cần thiết để cho lòng phải vướng bận thêm.
Sẵn sàng Quên đi là một cách cân bằng Tâm Lý, cần phải chân thành và thản nhiên đối mặt với cuộc sống. Có một câu nói rất hay rằng: tức giận là lấy sai lầm của người khác để trừng phạt chính mình, cứ mãi nhớ và không quên khuyết điểm của người khác thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bản thân mình. Bởi lẽ đó, để có được niềm vui và một cuộc sống thanh thản, ta không nên truy cứu lỗi lầm cũ của người khác.

Có rất nhiều người thích câu thơ:
Xuân có hoa bách hợp, Thu có trăng.
Hạ có gió mát, đông có tuyết”.
Trong lòng không có việc gì phải phiền lo, ấy mới chính là mùa đẹp của nhân gian. Nhớ những cái cần nhớ, quên những cái nên quên, sống một cuộc sống cởi mở, trong lòng không vướng mắc thì cuộc sống này sẽ thật tươi đẹp. 
 
Giang Nhất Yến

From: TU-PHUNG

Chậm Lại Hóa Hay

Van Pham

Chậm Lại Hóa Hay

Người ta thường nói: “Trâu chậm uống nước đục”, tuy vậy ở đời có những cái chậm lại hóa hay. Có người vì chậm mà không phải lên chuyến tàu định mệnh, hoặc vì chậm mà tránh được chuyến bay tử thần, chuyến bay một đi không trở lại bao giờ, cũng có khi vì chậm mà tránh được chuyến xe đi vào vĩnh viễn…

Trong số hàng triệu người ly hương, có nhiều kẻ vì hay bị chậm mà lại hóa hay, lại may mắn hơn, hưởng nhiều lợi lạc hơn những người đi trước. Những kẻ đi sau diện ODP, diện đoàn tụ gia đình, hoặc qua đường hôn nhân… đều là những kẻ an nhàn hơn, may mắn hơn, đi bằng máy bay, không phải vượt biên bằng tàu thuyền hay băng đường bộ. Những lớp người vượt biên trải qua chín chết một sống, lao vào cõi chết để tìm sự sống…

So với những người thuộc lớp đầu tiên đến đây với hai bàn tay trắng và một tâm hồn tan nát vì quê hương. Những lớp người thuộc diện HO sớm, đến đây với sự khó khăn bỡ ngỡ và phải làm lại từ đầu…Gã đến xứ Cờ Hoa này quả là chậm, quá chậm khi mà cộng đồng Việt đã hình thành vững mạnh và đông đảo. Gã đến xứ Cờ Hoa khi mà quan hệ hai nước đã bang giao, việc đi – về đã dễ dàng. Nếu những lớp người đi trước nhớ nhà, nhớ quê đến da diết tâm hồn, lâu lâu gặp được một đồng hương hay một dấu hiệu quê hương thì mừng lắm, quý lắm. Những tháng năm ấy thức ăn, món uống hay sản vật quê hương rất hiếm hoi, có người mua được chai nước mắn ở chợ Tàu mà mừng rơi nước mắt. Hoặc giả có người đang ở giữa đường mà nghe được người nói tiếng Việt thì cảm động đến độ chạy đến làm quen. Thời của gã đến đây thì hàng hóa made in Viet Nam đã ê hề, đã đầy nhóc các siêu thị: quần áo, gia dụng, thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ…

Gã đến xứ này theo diện hôn nhân. Vợ gã là con gái của một vị thiếu tá quân lực Việt Nam Cộng Hòa, hai đứa quen biết và yêu nhau trước khi gia đình nhà vợ xuất cảnh theo diện HO 13, sau mấy năm thì vợ gã về Việt Nam bảo lãnh. Bởi thế mà gã mới bảo rằng, tuy trâu chậm nhưng không uống nước đục, thậm chí còn hưởng được nước ngọt ngon, thành quả từ những lớp đi trước gầy dựng nên. Khi gã đến xứ này thì chẳng còn tình cảnh thèm món ăn quê hương hay thèm nghe được tiếng nói đồng hương, thậm chí vào thời điểm ấy người Việt đã “ngán ngẩm” nhau lắm rồi. Người nào cũng bảo” cạch mặt Việt Nam”, “Đụng với người Việt dễ bị phiền toái lắm”…Chuyện người Việt chống báng nhau cứ từ từ nói sau, giờ quay lại những bước đầu của gã ở Mỹ.

Đến Mỹ hai tuần sau là có thẻ an sinh xã hội, gã lập tức xin vào hãng sản xuất phụ tùng xe hơi, cày đúng một tuần là bỏ. Khổ trần ai, tiếng dập ầm ầm đinh tai nhức óc, hơi nóng từ hệ thống máy móc tỏa ra thiếu điều như nung trong lò bát quái, xong mỗi ca làm là nằm dài ra chẳng còn thiết ăn uống, sau một tuần nhận được cái ngân phiếu chưa được hai trăm đồng. Trời, làm cực và nặng vậy mà lương thế này thì sao sống nổi?

Thiên hạ xưa nay vẫn ca tụng:” Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, lãnh lương Mỹ”, lương Mỹ như cái ngân phiếu này sao? Bỏ việc, sau có người quen giới thiệu vào một tiệm nails. Tiệm đang hồi thiếu thợ, thế là nhào vô chơi luôn, ban đầu làm vụng, xấu, khách chê dữ lắm nhưng riết rồi quen. Đến khi làm thạo thì sanh ra chán, tuy có tiền mặt và tiền tip rủng roẻn nhưng cảm thấy không thích hợp. Ngày nào vào tiệm cũng đầy chuyện thị phi cãi cọ giữa thợ với thợ, thợ với khách, giữa thợ với chủ, tất cả cũng không ngoài việc giành khách, hơn thua tiền tip, thậm chí đố kỵ vì người này người nọ hơn mình…Công việc quả thật nhàm chán, cứ rị mọ hí hoáy với mấy cái móng đàn bà.

Một ngày nọ, một anh thợ nam đắp bột móng tay và thợ nữ chà chân, làm xong người khách chỉ cho có một đồng tiền tip. Anh thợ xé đôi tờ bạc và nói:’ You và me làm chung, nó cho một đồng, you năm mươi, me năm mươi”. Người thợ nữ nghẹn, chửi:” Đồ bần tiện”, không biết chị ta chửi khách hay chửi anh thợ kia, có lẽ cả hai.

Rồi một ngày khác có cô thợ vớt tay trên của bạn làm chung;” Tuần trước đi casino thua mấy xấp, giờ tui phải tranh thủ cày bù lại”. Người kia uất ức nhưng không biết làm gì được, chửi:” Bòn đứa dại đãi đứa khôn”. Rồi chuyện thợ này nói xấu thợ kia, bỏ nhỏ với khách:’ Đứa đó làm xấu, chơi thuốc, chỉ biết tiền tip… mầy đừng để nó làm cho mầy”… oải quá, gã bỏ nghề! Cuối cùng vào được một hãng gia công lắp ráp máy cho công ty Google, thế rồi từ ấy tạm yên với công việc của mình, không còn phải đụng hay nhìn thấy đồng hương.

Cũng thời gian ấy, có một quyển sách vừa xuất bản đã gây xôn xao dư luận, quyển “ Người Bắc Kinh ở New York” ( tác giả người Hoa, quên tên rồi). Trong quyển ấy có một câu mà gã rất tâm đắc:” Nếu bạn yêu ai, hãy đem họ đến New York; còn như bạn ghét ai, thì cũng đem họ đến New York”. Điều ấy cho thấy, xứ Cờ Hoa này quả nhiên là mảnh đất lý tưởng của những người tỵ nạn ( tỵ nạn với bất cứ lý do gì), là mảnh đất của giấc mơ ( Ameria dream), nhưng nó không dễ dàng tí nào, nó không phải là mảnh đất thần tiên để “ Nằm ngửa ra đô la rơi vào mồm ăn” như những lời đồn phóng đại., những lời nổ sảng. Xứ Cờ Hoa nói chung, New York nói riêng, nó là thiên đường cho những ai chăm chỉ làm ăn nhưng nó cũng là địa ngục cho những ai không chịu nổi những đặc tính của nó. Xứ sở này dù giàu có, tự do nhưng cũng vất vả lắm! Người lao động quần quật và trần ai chứ không dễ gì kiếm tiền. Đồng lương cơ bản làm sao đủ chi trăm thứ chi phí, phải làm thêm giờ, làm job thứ hai…”cày” đến phờ phạc cả mặt mày. Sáng vào hãng, quần quật suốt ngày; tối về quất tô cơm, làm lon budweiser rồi lăn ra ngủ lấy sức để sáng mai lại cày.

Ngày gã đến Mỹ cũng là thời điểm có khá nhiều “Việt kiều hồi hộp” xênh xang áo gấm về làng. Họ bỏ ra vài trăm đô là tha hồ ăn nhậu và nổ sảng về nước Mỹ, khoe những tấm hình chụp ké nhà sang xe xịn của ai đấy để lòe dân quê, làm cho không ít người có cái nhìn ngộ nhận và sai lệch về nước Mỹ. Gã đã nghe có người nổ sảng” Mỹ sẽ trả lương và bồi thường cho những ai đã làm sở Mỹ trước 1975” Biết nói sao với những tay “Áo gấm về làng” như thế!

Nước Mỹ quả là thật tự do, muốn đi đâu thì đi, muốn ở đâu thì ở, chẳng cần xin phép ông kẹ bà chằng nào cả. Nước Mỹ thật sướng, muốn theo đảng phái nào thì theo ( chí ít là không phải Communist hay Fascisti là ok!), Nước Mỹ thật tuyệt vời, muốn viết gì thì viết, muốn in sách thì cứ in ( in ra mà bán được hay không mới là quan trọng), viết và in cứ tự do, chẳng phải kiêng kỵ ai, chẳng phải xin phép ai, chẳng bị kiểm duyệt ( khi mà chưa phải là nhân viên cao cấp có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia). Nước Mỹ quả là thiên đường của người cầm bút, tác phẩm có sống được hay không mới là yếu tố quyết định. Nước Mỹ có cả một rừng báo, tạp chí, ấn phẩm… ở đâu cũng thấy sách báo.Những kẻ mang nghiệp chữ thấy mà ham!

Nước Mỹ với hệ thống giáo dục tân tiến, khoa học, hữu dụng và thực tế. Giáo dục hoàn toàn miễn phí ( trừ bậc đại học trở lên). Nước Mỹ với nền chính trị minh bạch, tam quyền phân lập, báo chí tự do, khoa học kỹ thuật hiện đại, nghệ thuật khai phóng…Quả thật là ấn tượng sâu sắc với gã! Điều đầu tiên mà gã thích nhất, khoái nhất khi đến nước Mỹ không phải là đi shopping mua sắm mà là vào nhà sách. Gã mê mẩn với muôn hồng ngàn tía của một rừng sách báo. Những năm tháng đầu thì tiếng Anh còn yếu lắm, chưa đọc nổi, chỉ đọc những mẩu tin ngắn và xem hình là chính ( kể cả xem tạp chí playboy, penthouse…). Thế gian này có kẻ nào mang nghiệp chữ mà không mê sách báo bao giờ!

Có những lần gọi phone về Việt Nam nói chuyện với bạn bè, gã thật thà “kể khổ” phải cày như trâu. Nhiều đứa cười bảo:” Việt Nam giờ sướng lắm, sáng tà tà cà phê, chiều nhậu sương sương, tối quậy tới bến”, hoặc “ Việt Nam giờ sống thoáng lắm, miễn là đừng đụng chuyện chính trị”… Đôi khi gã cảm thấy lung lay, mình ở đây “cày như trâu”, tụi nó sống tháng ngày hoan lạc hưởng thụ, đến Mỹ để chịu “thiệt” như vậy sao?. Nghĩ đi rồi nghĩ lại, mình vẫn hơn rất nhiều, được thụ hưởng cái tự do, cái bảo đảm về nhân quyền, có tương lai ổn định và vững chắc cho con cái, được thở cái không khí an toàn mà ở quê hương mình không có được!

Gã đến Mỹ khi mà cộng đồng người Việt đã đông đảo và phát triển. Ngay tại thành Ất Lăng này, chỉ chừng vài mươi ngàn người Việt ( những năm tháng ấy) nhưng cũng có đến hai cộng đồng. Quanh năm kèn cựa nhau, chụp mũ nhau, đấu tố nhau như “ Chỉ có cộng động thống hợp là hợp pháp”, “ Chỉ có cộng đồng hậu duệ là chính quy”, Một nhúm người mà hai cộng đồng, nhóm nào cũng cho mình là đại diện chính đáng, bao nhiêu cuộc họp dàn xếp nhưng bất thành. Bên nào cũng khư khư cho mình là phải, nhóm kia là quấy, tất cả cũng không ngoài cái danh hão và nguồn trợ giúp của tiểu bang.

Người Việt ở đây thường nói vui với nhau một câu tục ngữ mới:” Không ăn đậu không phải Mễ, không chia rẽ không phải Việt Nam”, quả thật như thế! Người Việt lúc nào cũng chống báng nhau, tranh đấu với nhau, kèn cựa nhau, hễ một người làm được mà những người khác không bằng thì thế nào họ cũng lôi kéo xuống cho bằng được.

Có người còn ví người Việt như những con cua đồng trong cái rọ tre, con nào ngoi lên thì con kia kéo xuống, những cái que của chúng móc vào nhau! Cũng có người bảo:” Người Việt như nắm cát khô” ngụ ý cát khô sẽ chảy qua kẽ ngón tay.

Việc tranh đấu ngoài đời chưa đủ, họ còn kết bè kết cánh với cả thày chùa, với đám mang danh luật sư, bác sĩ kém phầm hạnh bắt tay với lũ cộng nằm vùng tấn công những người hy sinh làm việc giúp cộng đồng, đặc biệt là nhóm trẻ đáng tuổi con cháu, họ cũng chẳng tha. Họ âm mưu đặt để người theo ý mình, hòng điều khiển mọi việc theo ý đồ riêng tư. Nhưng không thành công theo ý, thì họ quay sang tấn công cá nhân, moi móc chuyện đời tư mà không hiểu họ chui gầm giường hay sao mà biết rõ thế….

Cũng câu tục ngữ ấy nhưng phiên bản mới là “ Không ăn đậu không phải Mễ, không đi trễ không phải Việt Nam”. Quả thật người Việt ở xứ này là chúa đi trễ, những lễ lạc, hội hè, tiệc tùng… người Việt trễ một hai giờ là chuyện thường. Chỉ duy có đi làm là đúng giờ ( có lẽ đi trễ bị trừ tiền, trừ điểm, đuổi việc…nên sợ). Có những lần đám cưới, gã cứ thật thà đi đúng giờ ghi trên thiệp, hậu quả là bơ vơ lạc lõng ngồi chờ đồng hương đến. Ngay cả những buổi lễ có tính cách tôn giáo cũng thế, đồng hương cứ tà tà, lọt chọt đến sau.

Những ngày sống và làm việc ở xứ này, gã cũng tham gia vào việc dạy tiếng Việt ở một ngôi chùa địa phương. Bọn trẻ sinh ra và lên ở đây, chúng có thể nói được tiếng Việt ( vì ba mẹ và ông bà vẫn nói tiếng Việt) nhưng chúng không thể đọc hay viết tiếng Việt được.

Dạy tiếng Việt cho tụi trẻ quả là cũng cần thiết và cũng thú vị, giao tiếp với trẻ em thì bao giờ cũng dễ chịu và thoải mái. Nhiều đứa trẻ có lối tư duy rất Mỹ, tuy chúng rất ngoan và hiền nhưng lý luận rất sòng phẳng và rạch ròi. Khi gã dạy tiếng Việt, có ý lồng những nội dung về con ngoan trò giỏi hay con hiền cháu thảo để cho các em biết về văn hóa Việt…

Lúc trao đổi với các em, gã cũng học thêm được chút ít về lối sống Mỹ. Khi gã hỏi một em học sinh về tình cảm và cách đối xử với cha mẹ, em ấy bảo:” Em thương cha mẹ, khi em lớn ở riêng, cha mẹ ở nhà cha mẹ, cha mẹ không thể ở nhà em!”, cũng có em khác trả lời về vấn đề ông bà” Ông bà là cha mẹ của cha me, không phải cha mẹ em, em không phải lo cho ông bà”… Văn hóa Mỹ là thế! Tác động sâu vào những thế hệ thứ hai, thứ ba.

Dù muốn hay không chúng ta cũng phải chấp nhận cái thực tế này. Vấn đề mà chúng ta có thể là duy trì việc dạy tiếng Việt cho con em, thông qua đó có thể giới thiệu chút ít về nguồn cội lịch sử, văn hóa của chúng ta với con em mình! Gã cũng có lần hỏi các em vì sao chúng ta có mặt ở xứ sở này, khá nhiều em không biết vì sao và hiều em thắc mắc:” Tại sao ở đây ( chùa và cộng đồng người Việt) dùng lá cờ màu vàng mà ở trường Mỹ thì em thấy lá cờ màu đỏ?”

Thời gian hai năm đầu khi đến Mỹ quả thật không khó khăn nhiều như những lớp người di tản, vượt biên… nhưng cũng “cày” vất vả không kém ai, không ít lần có ý nghĩ quay về Việt Nam, sống tà tà sáng cà phê chiều nhậu mát trời ông địa. Chuyện tự do, dân chủ, nhân quyền… xa xôi quá, có người khác lo! Dần dần thời gian trôi qua, gã cũng nhận diện ra sự thật của vấn đề ( nói kiểu nhà thiền nhận ra bản lai diện mục). Thiên đường có thể là địa danh, có thể là tính từ. Thiên đường không phải là cái có sẵn để mình nằm không mà hưởng. Thiên đường phải cật lực kiến tạo mới có được! Không phải cuộc sống cứ tà tà ăn nhậu chơi bời là thiên đường, nếu cho thiên đường là thế thì quả thật là “ thiên đường mù” ( chữ của nhà văn Dương Thu Hương).

Xứ sở này phải làm cật lực, phải vất vả học hành và làm việc. Xứ sở này tuy chưa phải là thiên đường nhưng nó có những yếu tố của thiên đường: Tự do, nhân bản, khai phóng, phát triển, an toàn, bền vững…Mọi người đều có cơ hội như nhau. Xứ sở này trời cao đất rộng, thiên nhiên xanh tươi, khí hậu trong lành, xã hội văn minh, chính trị minh bạch, giáo dục nhân bản, nghệ thuật khai phóng, dân quyền, dân sinh, dân chủ… đều được pháp luật bảo vệ. Tài năng của mọi người có cơ hội phát triển và nuôi dưỡng. Mọi người có quyền biểu đạt ý kiến và quan điểm của mình. Ở xứ này, mọi người đều tiếp cận và thụ hưởng dễ dàng những phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất, nhất trào lưu tân tiến nhất, cho dù ta chỉ là những người bình dân. Ở xứ này con người dễ dàng phát huy mọi khả năng và sở trường của mình, chỉ sợ là mình không có khả năng gì mà thôi! Nếu mình mà có khả năng đặc biệt thì lập tức những công ty hãng xưởng sẽ trọng dụng mình, những học sinh xuất sắc sẽ được các đại học danh tiếng chiêu dụ mình.

Ở xứ này con người rất xa lạ, thậm chí chẳng hề nghe qua cái gọi là “lý lịch ba đời”, “ Lập trường giai cấp”… Con người dường như bao đời nay chưa hề biết đến những từ ngữ:” Tịch thu”, “ quốc hữu hóa”, “Quy hoạch”, “Sở hữu toàn dân”…Ở xứ này, tài sản người dân được pháp luật bảo vệ; thân thể, nhân phẩm, danh giá con người được tôn trọng; tài năng được trọng dụng. Xứ sở này có thể chưa phải là thiên đường nhưng rõ ràng nó mang bóng dáng của một thiên đường và vô số người vẫn cho nó là một thiên đường. Bằng chứng là hàng triệu, hàng chục triệu người khắp thế gian này đều tìm cách đến đây để sinh sống. Họ tìm mọi cách kể cả phi pháp, bất hợp pháp.

Họ không chỉ là người tị nạn, người nghèo mà có rất nhiều những người giàu bỏ tiền của ra để mua cho bằng được thẻ xanh. Có rất nhiều những con ông cháu cha, quan chức trung cấp, cao cấp tìm đến xứ sở này để sống và còn rất nhiều quan chức cao cấp khác gởi tiền trong các nhà băng ở xứ này, mua đất mua nhà ở xứ này! Xứ sở này dẫu chưa phải là thiên đường nhưng nó thât sự là thiên đường trong con mắt của vô số người trên thế giới. Vô số người nuôi “Giấc mơ Mỹ”!

Có không ít những người Việt sống ở đây nhưng lại nghĩ Việt Nam mới là thiên đường, ở bển tha hồ sáng cà phê chiều nhậu, bia bọt gái gú, ăn chơi khoe thân, khoe của, lên mạng làm những trò nhí nhố…Bởi thế năm nào cũng làm những chuyến “ Áo gấm về làng”, tha hồ ăn chơi vung vít, nổ sảng cho sướng lỗ miệng, tha hồ phô bày cái “Tôi”, cái “Ngã” đầy nhỏ nhen ích kỷ của mình.

Tuy họ về bển chơi, ca tụng ở bển mới là thiên đường nhưng không đời nào họ dám từ bỏ thẻ xanh hay quốc tịch mẽo này đâu! Nếu ngày xưa, những người ra đi mệnh danh tìm tự do, vậy bây giờ họ ra về thì mệnh danh là gì? Có lẽ câu hỏi này không khó để trả lời, nhất là với những người thuộc giới showbiz

Không phải đến thế kỷ hai mươi người Việt mới có di tản, lưu vong. Lịch sử hai ngàn năm nước Việt có rất nhiều những lần lưu lạc ly tán. Khởi đầu là những cuộc di dân nam tiến của cư dân Việt cổ xưa thuộc đồng bằng bắc bộ ngày nay, cao điểm là những lần đánh chiếm đất Champa.

Lịch sử còn ghi nhận Hoàng tử Lý Long Tường ( đời nhà Lý) đã đem toàn bộ gia tộc và gia nhân vượt thoát sang Đại Hàn – Triều Tiên để tránh họa diệt tộc. Mãi đến thế kỷ hai mươi này, hậu duệ đời thứ bốn mươi là ông Lý Xương Căn tìm về Đình Bảng để bái yết tổ tiên, có lẽ đây là cuộc di tản buồn nhất, dài lâu nhất của người Việt. Sử Đại Hàn chép rõ ràng, hoàng tử Lý Long Tường dựng “Vọng quốc đài” ngày ngày ngóng trông về Đại Việt.

Kế đến là những cuộc vượt thoát từ đàng ngoài vào đàng trong, kéo dài suốt hai trăm năm nội chiến của các tập đoàn phong kiến: Lê – Mạc – Trịnh – Nguyễn. Sông Gianh trở thành biên giới phân chia giữa đàng ngoài và đàng trong.

Thế kỷ hai mươi thì lịch sử lập lại một cách nghiệt ngã, sông Bến Hải trở thành vĩ tuyến chia đôi đất nước, hàng triệu người rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn để di tản vào nam.

Năm 1975, cuộc chiến tương tàn kết thúc thì hàng trăm ngàn người Việt di tản, sau đó thì lại có hàng triệu người lao ra biển đông để tìm đường sống, hàng triệu người vượt biên, lao vào cái chết để tìm sự sống, đó cũng là lý do tại sao có cộng đồng Việt ở xứ Cờ Hoa này. Ngày nay, có không ít những người xưa kia từng tuyên bố vượt biên tìm tự do, giờ họ làm cuộc vượt biên ngược lai, không biết cuộc vượt biên ngược lại để tìm gì đây?

Nước Mỹ bây giờ còn vật vã trong cơn dịch Corona virus, tuy nhiên đang dần được khống chế. Nước Mỹ vẫn còn âm ỉ những chia rẽ phân liệt nặng nề bởi một ông tổng thống bá đạo, thô lỗ và ích kỷ. Nước Mỹ vẫn còn ngăn cách bởi sự bênh và chống giữa Dân Chủ với Cộng Hòa. Nước Mỹ hôm nay đã có phần suy giảm trước sự phát triển và hung hăng của Trung Cộng. Tuy vậy, nước Mỹ vẫn còn là cường quốc số một của thế giới, có những giả thuyết đặt ra sau vài mươi năm nữa Trung Cộng sẽ thay thế nước Mỹ, xem ra những giả thuyết này chẳng có sức thuyết phục nếu nước Mỹ đoàn kết như trước đây. Nước Mỹ hôm nay vẫn đương nhiên là nước hàng đầu thế giới về mọi mặt: Kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, công nghệ, tài chánh, nhân quyền… và kể cả là cường quốc dung chứa những người tị nạn. Những nạn nhân của chiến tranh, kỳ thị tôn giáo, kỳ thị giới tính, bất công xã hội, những người bị săn đuổi bởi những thể chế độc tài toàn trị… đều được nước Mỹ mở rộng vòng tay đón họ.

Những thế hệ người Việt đến Mỹ sớm giờ đã già, một phần đã ra đi. Những thế hệ thứ hai, thứ ba… đã hội nhập sâu vào đời sống Mỹ, có không ít đã thành công trên chính trường, quân đội, dân sự, khoa học và nhiều nhất, dễ thấy nhất là thành công ở mặt kinh tế. Tỷ lệ theo mức độ hội nhập và thành công của người Mỹ gốc Việt thế hệ con cháu là cái “ Căn cước” tị nạn cũng dần phai.

Những người Việt đến Mỹ hiện nay, đa số là du học sinh, một số ít theo diện đầu tư ( thật sự là kiếm đường định cư mà thôi) và một phần đáng kể nữa là đi theo diện hôn nhân ( kể cả rất nhiều vụ kết hôn giả). Không khó khăn gì để nhận thấy có một sự khác biệt khá lớn giữa lớp người đi trước và những người mới đến hôm nay, cái khác biệt về tư tưởng, quan điểm, cách nhìn nhận vấn đề; khác biệt về lối sống và văn hóa ứng xử… u đó cũng là hậu quả của hai môi trường sống khác nhau.

Tiểu Lục Thần Phong

May be an image of one or more people and outdoors