6 Thời Điểm Bạn Dễ Hiểu Thấu Quy Luật Cuộc Đời!

Van Pham  

GÓC SUY GẪM…

6 Thời Điểm Bạn Dễ Hiểu Thấu Quy Luật Cuộc Đời!

Hàng ngày, chúng ta đều bận rộn với học hành, công việc mà quên mất rằng cuộc sống vẫn đang trôi qua ngoài kia, với những quy luật khắc nghiệt của nó. Sáu thời điểm sau là lúc bạn hiểu thấu những quy luật này!

  1. Khi gặp hoạn nạn

Ngày thường, xung quanh ta là biết bao nhiêu anh em, bạn bè, ai cũng cười cười nói nói, thân thiết như chung một nhà. Đến khi ta gặp chuyện không may, có người nhiệt tình giúp đỡ, có người khoanh tay đứng nhìn, nhưng cũng không thiếu kẻ mượn gió bẻ măng.

Bởi vậy, chỉ trong hoạn nạn, ta mới phân biệt được lòng người ngay giả, biết được ai là người quân tử, ai là kẻ tiểu nhân. Có như vậy, ta mới hiểu thế nào là “chọn bạn mà chơi”.

  1. Khi lâm bệnh nặng

Chỉ khi nào ốm đau liệt giường, ta mới thấm thía hết tầm quan trọng của sức khỏe. Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của con người, những thứ khác đều chỉ đáng xếp sau. Nếu không có sức khỏe thì giàu sang, phú quý cũng đều là vô nghĩa.

Chính vì thế, chỉ khi thoát cơn bạo bệnh, con người mới học được cách trân trọng sức khỏe, cũng như coi nhẹ của cải vật chất – những thứ mà ngày thường ta vẫn điên cuồng theo đuổi.

  1. Khi bị mất chức quyền

Khi ta ở đỉnh cao danh vọng, chức trọng quyền cao thì luôn được săn đón bởi biết bao nhiêu người. Nhưng một khi quyền lực đã không còn trong tay thì cục diện hoàn toàn thay đổi. Những kẻ xu nịnh trước kia, nay nhìn thấy ta cũng coi như không quen biết. Những người tưởng chừng như anh em thân thiết bỗng cũng hóa xa lạ, lạnh lùng.

Vì thế, dù có được công danh, bạn cũng đừng nên vội đắc ý trước những lời ngợi ca, tâng bốc. Hãy học cách sống khiêm nhường để không bị sự tự cao che mờ mắt, khiến ta trở nên ích kỷ và thiển cận.

  1. Khi đã về hưu

Nhiều người sau khi về hưu mới có thời gian ngồi ngẫm nghĩ lại cuộc đời mình. Tham gia công tác nhiều năm, vì ham chức ham quyền mà cấp trên chèn ép cấp dưới, vì muốn thăng quan tiến chức mà đồng nghiệp đấu đá lẫn nhau. Thế nhưng, những thứ đạt được cũng chỉ là vật ngoài thân, người mất đi rồi cũng chẳng mang theo được.

Dù là lãnh đạo hay nhân viên, cấp trên hay cấp dưới, đến cuối cùng chẳng phải cũng đều về hưu sao? Sớm biết chẳng có gì khác nhau thì trước đây hà tất phải tranh đấu? Hãy làm tốt việc của mình, đối xử chân thành với người khác, đó mới là việc nên làm.

  1. Khi rơi vào cảnh ngục tù

Con người có thể ngộ ra điều gì khi bị giam giữ trong bốn bức tường nhà ngục? Đó chính là “ác giả ác báo”. Luật pháp không phải trò đùa, người làm việc xấu sẽ phải đền tội, chỉ là quả báo đến sớm hay muộn mà thôi.

Nếu một người không chịu tu thân dưỡng tính, chỉ chuyên hãm hại người khác để tư lợi cá nhân thì sẽ có ngày chịu sự trừng phạt. Giam giữ – hình phạt tưởng chừng như nhẹ nhàng nhất cũng chính là cách tước đoạt đi thứ quý giá nhất của con người, đó là sự tự do.

  1. Khi sắp trút hơi thở cuối cùng

Trớ trêu thay, lâm chung là lúc con người trở nên thông suốt nhất. Cuộc đời này quá ngắn mà cũng quá dài. Mọi ân oán tình thù đều chỉ như mây khói, ta hà tất phải cố chấp với chúng mà không học cách buông bỏ? Khi đã hiểu được đạo lý ấy cũng là lúc con người có thể nhắm mắt xuôi tay, ra đi thanh thản.

Rắc những đau thương…

Lê Vi

Rắc những đau thương…

Phạm Minh Vũ

Mạng xã hội lại dậy sóng chuyện “rắc muối”, khi công an Đà Nẵng đến triệu tập một người, từng làm clip “rắc hành” vào tô bún bò.

Tưởng chuyện ăn bò dát vàng của Tô Lâm đã yên, nhưng nó lại được đào bới, và người ta lại chế nhạo tiếp tục hình ảnh há mồm của Tô Lâm lúc Lâm ăn bò ở Anh.

Sự khinh bỉ của người Dân dành cho Tô Lâm đã được người Dân nhắc đi nhắc lại khi mà người Dân trong nước tới cơm không có mà ăn, vậy mà quan chức tầm cỡ như Lâm lại ngang nhiên nuốt miếng bò dát vàng tận xứ Tây với nụ cười khả ố, nhìn nó đểu cáng vô cùng. Mỉa mai hơn, trước đó Lâm lại đi thăm và dâng hoa tới ông tổ cộng sản Các – Mác, người cả đời lên án chủ nghĩ bóc lột.

Nơi Lâm và đám đệ tử ăn uống xa xỉ ấy, thật đau xót là nơi nơi hơn 2 năm trước, 39 người Việt Nam đã chết ngạt, chết lạnh cứng trong thùng xe đông lạnh khi cố vượt biên vào nước Anh để kiếm miếng ăn.

Nơi người Việt Nam bỏ mạng không chỉ một hoặc hai mà tận 39 người một lúc, mà Tô Lâm cùng đám đàn em tới thể hiện sự xa xỉ thì sự trơ trẽn nào bằng?

Như đây, mới đây trên báo Lao Động ghi lại một bữa cơm của học sinh một xã ở huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Thức ăn của các em là ốc mò dưới ruộng, là lá mì, là sâu đất đào đâu đó trong rừng.

Nhìn những khuôn mặt ngây thơ của các em, bên cạnh thức ăn chính là thứ săn bắt hại lượm được, và một bên là đám quan chức tụ tập ăn nhậu ở tận trời Tây với bữa ăn hàng chục ngàn đô la, ai chỉ cho tôi biết đâu mà bình đẳng? Và xa hơn đâu là lý luận Do Dân, vì Dân? Hay xa nữa đâu là vì ươm mầm cho tương lai Việt Nam? Hay tất cả những khẩu hiệu nổ vang trời ấy, tất cả là màu hồng để tô vẽ cho sự ngạo nghễ vĩ đại của bọn cầm quyền bất nhân, và vì chính bản thân của những kẻ cầm quyền?

Nhìn cảnh đầu bếp nổi tiếng người Thổ trên tay làm động tác rắc muối, và miếng bò dát vàng đút vào mồm Tô Lâm nó khác gì rắc vào vết thương đang rỉ máu trên đất Mẹ Việt Nam, nơi mà bắt ốc đào sâu để ăn hàng ngày?

Rắc muối hay rắc những nỗi đau?

 Phạm Minh Vũ

HỆ LỤY TỪ MỘT ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC

Lương Văn Can

HỆ LỤY TỪ MỘT ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC

Trước năm 1975 ở Miền Nam đề ra ba nguyên tắc căn bản trong mục đích, tôn chỉ giáo dục là: Nhân bản, Dân tộc và Khai Phóng. Chính những nguyên tắc nầy đã giữ cho truyền thống dân tộc được bảo tồn, phát triển vững vàng nhưng không bảo thủ và từng bước theo kịp đà tiến triển của nhân loại. Vì vậy ở bậc Trung học, không có một bộ sách giáo khoa nào do cơ quan giáo dục chính thống biên soạn và phát hành để thầy dạy , trò học theo. Giáo viên tự chọn sách giáo khoa để dạy miễn sao tôn trọng đúng nội dung chương trình giáo dục do Bộ Quốc gia Giáo dục soạn thảo. Trên thị trường cũng xuất hiện rất nhiều loại sách giáo khoa do các nhà giáo biên soạn.

Khi được được học trong một môi trường giáo dục như thế chúng ta cảm thấy mọi việc đều bình thường, cho đến sau năm 1975 đất nước thống nhất rồi mới có dịp so sánh với hai đường lối giáo dục Nam-Bắc mới thấy có nhiều điều rất khác biệt. Cái khác rỏ nét nhất là ở Miền Bắc đã đưa quan điểm về chính trị, chính kiến vào chương trình học nhằm mục đích tuyên truyền phục vụ cho chế độ, trong khi giáo dục ở Miền Nam thì chỉ tuân thủ ba tôn chỉ nêu trên mà không bị chi phối bởi áp lực chính trị nào cả.

Với hai đường lối giáo dục khác nhau nên các học sinh của hai miền cũng được trang bị kiến thức và nhận thức khác nhau, thế nên hành trang của họ mang vào đời cũng khác nhau.

Chỉ nói riêng về môn Văn, trong khi ở Miền Nam chúng tôi được học một chương trình Văn học rất thông thoáng và khách quan, không hề bị quan điểm về chính trị chi phối nên đều chọn lọc những tinh hoa văn học nước nhà qua các thời kỳ để học. Trong chương trình Văn Học Sử chỉ nói về văn học cận đại thôi, chương trình học cũng rất công tâm, bình đẳng, tất cả các tác giả có tác phẩm đóng góp công lao cho nền văn học nước nhà cho dù họ đang ở bên này hay bên kia chiến tuyến đều được đưa vào chương trình không hề phân biệt. Vì thế chúng tôi đã được học tác phẩm và tìm hiểu về những tác giả đang phục vụ tại Miền Bắc như Xuân Diệu với Thơ Thơ, Gửi Hương Cho Gió…, Huy Cận với Lửa Thiêng, Nguyễn Bính với Chân Quê, Lỡ Bước Sang Ngang, Thế Lữ với Nhớ rừng, Vàng Và Máu, Lưu Trọng Lư với Tiếng Thu…Những nhà thơ có sự nghiệp muộn hơn như Quang Dũng, Hoàng Cầm…cũng đều có tác phẩm xuất bản trong Miền Nam để cho công chúng được tìm hiểu. Về văn xuôi cũng vậy, những tác giả đang ở Miền Bắc cũng được đưa vào chương trình giáo khoa như Tô Hoài với Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Nam Cao với Sống Mòn,Chí Phèo… Nguyễn Công Hoan với Tắt Lửa Lòng, Bước Đường Cùng… Vũ Trọng Phụng với Số Đỏ, Ngô Tất Tố với Tắt Đèn… Lược kê một vài tác giả với vài tác phẩm tiêu biểu như thế để chứng minh nền giáo dục mang tính nhân bản, dân tộc và khai phóng được thể hiện rất rỏ nét trong chương trình học ở Miền Nam. Trong khi đó môn Ngữ Văn học sinh miền Bắc rất chú trọng văn học thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, còn các nền văn học khác thì xem nhẹ. Các tác giả sáng tác với mục đích phục vụ, tuyên truyền cho chế độ thì được vinh danh và đưa vào chương trình học mặc dù xét về văn chương những tác phẩm đó không có giá trị mấy. Trong khi những nhà văn, nhà thơ có tư tưởng thoáng đạt sáng tác trên tinh thần nghệ thuật vị nghệ thuật mà không có tư tưởng tuyên truyền cho chế độ hoặc có quan niệm, chính kiến khác thì sẽ bị chối bỏ và tác giả sẽ bị liên lụy như nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chẳng hạn. Cái thiếu sót lớn nhất trong chương trình Ngữ Văn ở miền Bắc (và cả nước sau năm 1975) là chương trình Văn Học Sử cận đại đầu thế kỷ XX chỉ đưa vào sách giáo khoa những tác giả viết về hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trong Phụng, Nguyên Hồng…mà đã cố tình bỏ qua những nhà văn, bút nhóm không đồng chính kiến khác.

Đầu thế kỷ XX nền văn học quốc ngữ nước ta rất non trẻ, trong giai đoạn chuyển tiếp từ nền Nho học qua Việt học đã có những nhà văn có công lớn trong sự phát triển văn học quốc ngữ đó là Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đã cho xuất bản tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên dó là tờ Gia Định báo năm 1865 tại Sài Gòn. Tiếp theo là các bút nhóm như Nam Phong với Nam Phong tạp chí (1917-1934) do Phạm Quỳnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhóm Đông Dương tạp chí (1913-1917) do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Đây là những người tiên phong trong việc truyền bá văn xuôi quốc ngữ trong thời kỳ phôi thai của nền văn học quốc ngữ nước nhà.

Văn Học Sử Miền Bắc hồi đó và cả nước bây giờ cũng không đề cập đến nhóm Tự Lực Văn Đoàn gồm các nhà văn Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam, Khái Hưng-Trần Khánh Giư, Hoàng Đạo-Nguyễn Tường Long, Thạch Lam-Nguyễn Tường Lân, Thế Lữ-Nguyễn Thứ Lễ… trong khi đây là một bút nhóm có công rất lớn trong việc phát triển nền văn học cận đại. Tự Lực văn Đoàn đã đề xướng dòng văn học lãng mạn và những tiểu thuyết luận đề như Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn…của Nhất Linh, Nữa Chừng Xuân, Hồn Bướm Mơ Tiên, Tiêu Sơn Tráng Sĩ, Thoát Ly, Thừa Tự… Của Khái Hưng, Gió Đầu Mùa, Nắng Trong Vườn Của Thạch Lam, Con Đường Sáng của Hoàng Đạo…Với lối hành văn trong sáng, giãn dị, văn phong hiện đại và phóng khoáng. Cơ quan ngôn luận của nhóm là báo Phong Hóa (1932-1936) và Ngày Nay (1936…) TLVĐ còn có nhà xuất bản Đời Nay để in ấn các tác phẩm của họ. Những tiểu thuyết trong nhóm TLVĐ đã đưa nền văn xuôi nước ta phát triển một bước tiến dài, lối viết của TLVĐ đã ảnh hưởng sâu rộng đến những nhà văn thuộc các thế hệ sau. Tác phẩm của Tự lực Văn Đoàn thấm đượm tinh thần nhân văn, tinh thần chống lễ giáo phong kiến, chống các hủ tục và canh tân đất nước. Dưới nhãn quan của những nhà biên soạn Văn Học Sử Miền Bắc thì Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh được cho là làm việc cho Pháp. Những nhà văn, nhà thơ trong TLVĐ tuy có công lớn trong giai đoạn phát triển nền văn học nước nhà đầu thế kỷ XX nhưng bất đồng chính kiến với chế độ. Nhóm TLVĐ đa số họ trước đây đều gia nhập Việt Minh nhưng sau này vì không đồng quan điểm, chính kiến nên đã rời bỏ Việt Minh và bị xem là phản động. nhà văn Nguyễn Tường Tam linh hồn của TLVĐ và những nhà văn chủ chốt trong nhóm đa phần là thành viên Việt Nam Quốc Dân đảng bị VM xem là thù địch, Khái Hưng bị VM thủ tiêu ở bến đò Cựa Gà. Tất cả những công lao của những người là lá cờ đầu cho một giai đoạn văn học quan trọng như thế nhưng lại không được đưa vào chương trình Văn Học Sử khiến cho nhiều thế hệ học sinh Miền Bắc và cả nước bây giờ không biết một tý gì khi nói về những nhà văn có công lớn trong giai đoạn văn học quan trọng này. Đây là một thiệt thòi lớn cho nhiều thế hệ học sinh tại miền Bắc trước năm 1975 và cả nước trong nửa thế kỷ qua.

Có câu chuyện cười ra nước mắt chứng minh sự “mịt mù” về TLVĐ của những người được đào tạo trong một nền giáo dục đầy thiên kiến như vậy là ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm, 27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.

Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?”Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả. Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương. – Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.

– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?

– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.

– Chị muốn gọi cho ai?

– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.

Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp cho cô Tâm.

Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…” Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:

– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.

– Chắc chắn không anh?

– Chắc trăm phần trăm.

– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.

– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.

– Chị quyết định như thế?

– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.

– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng. Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam.

***

Câu chuyện cười ra nước mắt này phản ảnh đúng thực chất là học sinh Miền Bắc trước đây và cả nước bây giờ là không hề được nghe đến Tự Lực Văn Đoàn chứ đừng nói chi đến công lao, văn nghiệp của họ. Có thể chúng ta không trách cô giáo nọ vì mấy chục năm học hành cô có nghe gì đến TLVĐ đâu (!) Có buồn chăng là khả năng suy luận của cô ấy cũng như anh bạn kia quá kém, dù sao trong cái tên nhóm cũng có hai chữ Văn Đoàn mà sao cô giáo không liên tưởng tới một hội đoàn văn chương mà lại nghĩ đến gánh hát cải lương?!. Còn anh bạn được giới thiệu là người đọc sách nhiều, kiến thức rộng kia không biết anh ta căn cứ vào đâu mà trả lời chắc như đinh đóng cột vậy? Cái chúng ta cảm thấy buồn vì một đường lối giáo dục đặt nặng tuyên truyền chính trị và đầy thành kiến, thiếu khách quan, thiếu công tâm với lịch sử đã gây ra nhiều hệ lụy xấu cho nhiều thế hệ học sinh nước ta.

Dạy Văn Học Sử cho học sinh mà chủ trương đưa quan điểm tuyên truyền và ý thức hệ chính trị vào trong đó, rồi loại những người có công lớn với nền văn học nước nhà nhưng bất đồng chính kiến là một sai lầm lớn. Chính cái lối giáo dục đó đã đào tạo ra hàng triệu học sinh mà ngày nay họ là những công dân, có những người đang giữ vai trò trọng trách đối với xã hội có những kiến thức lệch lạc về lịch sử, có những hiểu biết hết sức phiến diện về một giai đoạn văn học quan trọng cũng như thiếu hiểu biết về những người có công lớn trong việc phát triển nền văn học nước nhà đó thì thật là đáng tiếc.

Gần đây đã có nhưng công trình nghiên cứu, những hội thảo về TLVĐ, đã có đánh giá công nhận công lao của nhóm TLVĐ, dĩ nhiên vấn đề được nhìn nhận dưới nhãn quan của những nhà nghiên cứu CS. Việc nào ra việc đó, hãy đối xử công bằng, khách quan với những người đã đóng góp công sức và trí tuệ để xây dựng cho nền văn học nước nhà có được như ngày hôm nay. Đó cũng là tôn trọng lịch sử và văn hóa dân tộc.

Nguyễn Ngọc Luật

TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM

May be an image of 7 people and text

Vì Sao Người Mỹ Thường Không Thể Hiện Sự Giàu Có?

GÓC SUY GẪM…

“Dù bạn có cố gắng khoác bộ lông sặc sỡ lên con chim Trĩ thì nó cũng không thể biến thành con Công”.

***

Vì Sao Người Mỹ Thường Không Thể Hiện Sự Giàu Có?

Đa số người Mỹ thường không thể hiện sự giàu có, họ dùng tiền để trang trải cuộc sống của bản thân, chăm sóc người thân và gia đình.

Gia đình Cameron sống ở căn nhà đối diện nhà tôi là một gia đình trung lưu điển hình ở Mỹ. Người chồng Antony là quản lý cấp trung của một công ty tài chính, vợ anh Meryl là giáo viên tiểu học, thu nhập thuộc giai cấp trung lưu. Nhưng mỗi lần nhìn thấy đôi vợ chồng này, tôi luôn nhận thấy cách ăn mặc của họ đều không khác gì người bình thường cả.

Cuối năm 2008, những người ở khu tôi sống muốn tổ chức tiệc mừng năm mới, đây cũng là lần đầu tiên tôi tham gia các hoạt động xã giao, vì thế tôi đặc biệt bỏ 300 USD thuê một bộ lễ phục thương hiệu Prada (một thương hiệu trời trang cao cấp và xa xỉ bậc nhất nước Ý), hy vọng cách này có thể giúp tôi hòa nhập.

Tôi nghĩ hẳn Meryl cũng sẽ thể hiện “thực lực” ẩn giấu của cô ấy ở nơi như vậy. Nhưng tối hôm đó, cô ấy chỉ mặc một bộ lễ phục thương hiệu CK màu xanh nhạt khiến tôi rất bất ngờ. Và Meryl giải thích việc cô ấy chọn hiệu CK là vì nó phù hợp với tầng lớp trung lưu như cô ấy.

Meryl đã dùng một phép ẩn dụ như sau: dù chim trĩ có khoác lên mình một bộ lông sặc sỡ thì nó cũng sẽ không trở thành chim công được.

Thật ra, người Mỹ cũng không phải là không thích các nhãn hiệu đắt tiền, nhưng người tiêu dùng đa số chỉ hạn chế trong một nhóm người nhất định mà thôi, ví dụ như giám đốc công ty, những quý bà trong giới thời trang, minh tinh điện ảnh, vận động viên chuyên nghiệp v.v…

Người Mỹ không có cách nói “sĩ diện”, người ta sẽ không vì lòng hư vinh mà tốn nhiều tiền lương mua một đôi giày hiệu LV. Không chỉ người trưởng thành như vậy mà giới trẻ cũng hoàn toàn không quá xem trọng hình thức.

Có một lần tôi gặp con trai Mike của Meryl ở siêu thị, thấy cậu bé đang chăm chú chọn những quần jean giảm giá. Tôi hỏi cậu vì sao không đến cửa hàng chuyên bán để mua những kiểu mới ra, câu trả lời của Mike khiến tôi ấn tượng rất sâu sắc:

“Mẹ cháu không phải là người giàu có gì, dù cho cháu có mặc quần Levis kiểu mới nhất thì cũng sẽ không trở thành “cậu ấm”. Hơn nữa sau 18 tuổi cháu còn phải kiếm tiền tự nuôi bản thân mình nữa, khi đó sẽ càng không có tiền mua đồ hiệu nữa đâu, cho nên như bây giờ rất tốt rồi ạ”.

Thấy Mike thản nhiên và thỏa mãn như vậy, tôi cũng bắt đầu tiếc số tiền 300 đô mà tôi đã dùng để thuê bộ đồ hiệu Prada kia, thích thể diện quả thật là lãng phí.

Dần dần tôi nhận ra sở dĩ người Mỹ không quá ham mê hàng hiệu còn có một nguyên nhân khác, đó chính là ở Mỹ thật sự mua hàng hiệu quá dễ dàng, người ta có rất nhiều sự lựa chọn. Có một năm trước Giáng sinh, tôi đi mua sắm ở trung tâm thương mại Macy cùng cô đồng nghiệp Jenny. Bởi vì từ lâu đã nghe nói Jenny thừa hưởng tài sản lớn từ gia đình, bình thường cách tiêu tiền của cô ấy cũng không giống người bình thường, vì thế tôi rất tò mò cô ấy sẽ mua quà đắt tiền gì cho chồng và con trai. Cô ấy nhanh chóng chọn được hai cái khăn quàng cổ cho nam.

Tôi cầm mác giá xem thử, quả thật là không hề rẻ, không hề thua kém nhãn hiệu Burberry nổi tiếng gần đó. Tôi hỏi Jenny: “Giá đã tương đương nhau, sao cô không mua khăn hiệu Burberry cho chồng?”. Jenny nhìn tôi bằng ánh mắt khó hiểu, cô ấy lấy chiếc khăn ra, nói một hồi về màu sắc, hoa văn, kiểu dáng cho đến chất liệu.

Cuối cùng, cô ấy hỏi tôi: “Giá thì tương đương nhau, nhưng giá trị thì không hề giống, nếu là cô thì cô sẽ chọn cái nào? Đương nhiên là cái có chất lượng tốt rồi. Tại sao tôi lại phải bỏ tiền ra mua những món hàng có giá nhãn hiệu đắt tận trời như thế làm gì?”. Cô ấy nói khiến tôi không biết nói gì hơn, người Mỹ chú trọng hiện thực, không quan tâm đến hư vinh, điều này thật sự tôi phải học hỏi.

Thật ra, người Mỹ không muốn dùng hàng hiệu để phủ lên người còn do một nguyên nhân sâu xa nữa, đó là từ khi sinh ra, họ đã đặt cái tôi cá nhân cao hơn mọi thứ, họ thích thể hiện cá tính, nổi trội, thích làm cho mình càng không giống với người khác càng tốt. Nếu chọn những món hàng hiệu đó thì hiển nhiên sẽ không thể giúp họ thể hiện được mục đích này.

Tháng 6/2012, công ty của chồng tôi tổ chức một buổi tiệc từ thiện, tôi cũng được mời.

Vì nghe nói 2 nhân vật nổi tiếng lừng lẫy Warren Buffetts và Bill Gates đều có tên trong danh sách khách quý, nên tối hôm đó tôi đã nhân cơ hội hai lần đứng gần để quan sát cẩn thận cách ăn mặc của hai “nhân vật chính” này, tôi nhận ra dù là Buffets hay Bill Gates thì đều chọn những bộ vest đứng đắn, phù hợp.

Tôi kéo tay Sophie là vợ của đồng nghiệp chồng tôi, hỏi cô ấy thương hiệu đồ vest của Buffetts và Bill Gates là gì, kết quả là biên tập thâm niên của tạp chí thời trang này cũng không biết, không tìm được xuất xứ của chúng. Nhưng mà Sophie cũng đã phân tích và giải thích một cách rất có lý: những nhân vật như Buffetts và Bill Gates, hoàn toàn không cần mặc những bộ quần áo thương hiệu nổi tiếng để khẳng định danh tính, họ đều là những người trầm tính trong giới từ thiện, nếu mặc quần áo của thương hiệu Zegna thì lại quá tầm thường rồi.

Cá nhân và gia đình

Càng tìm hiểu về cuộc sống của người Mỹ, tôi càng cảm thấy giá trị quan về tiền bạc của họ không giống người khác. So với những người Trung Quốc thích dùng những thứ xa xỉ thì người Mỹ lại thích dùng tiền để “đầu tư” vào việc thắt chặt tình cảm gia đình và xây dựng nền tảng gia đình.

Tiffany là huấn luyện viên ở phòng tập mà tôi hay tới, trong cuộc sống hằng ngày, cô ấy luôn mặc quần áo rất giản dị, rẻ tiền, vì thế tôi đã tròn mắt há miệng khi cô ấy nói với tôi rằng đã mua cho mỗi người trong nhà một bộ đồ bóng bầu dục có giá 400 đôla để đi xem trận đấu của đội Denver Broncos.

Tôi hỏi: “Tiffany, chẳng lẽ cô không muốn dùng số tiền đó để mua cho mình bộ quần áo và giày mới hay sao?”

Cô ấy chớp chớp đôi mắt xanh cười nói: “So với việc tự làm đẹp cho mình, tôi sẵn sàng dùng tiền để làm điều gì đó cho người thân hơn”. Có rất nhiều người cho rằng quan niệm tình thân của người Mỹ rất mờ nhạt, khái niệm về gia đình cũng không mạnh mẽ. Tuy nhiên, trên thực tế, người Mỹ là những người vô cùng xem trọng tình cảm gia đình.

Sau này, tôi nhận ra rằng dù cho thu nhập có hạn, những người Mỹ trung lưu sống tiết kiệm cũng sẽ không tích góp tiền dùng để mua hàng hiệu cho mình mà sẽ mua mới, thay thế đồ dùng trong gia đình.

Có một lần, cô Lucy giúp việc cho gia đình tôi xin nghỉ, nói là cô ấy đi mua cho gia đình một cái tủ lạnh, tôi hỏi tủ lạnh hiệu gì, Lucy tự hào nói: “Kenmore”. Thương hiệu tủ lạnh này không hề rẻ.

“Đối với tôi, để chồng được sảng khoái uống bia ướp lạnh sau giờ làm, để các con được ăn kem ngon sau giờ tan học là những việc hạnh phúc nhất trên thế gian”. Nhìn nụ cười thật thà chất phác của Lucy, tôi đã quyết định: vài ngày nữa tôi cũng sẽ đổi tủ lạnh tốt cho gia đình mình.

Thế nào mới là hạnh phúc thật sự? Có những người tiêu rất nhiều tiền để mua hàng hiệu mặc lên người, còn người Mỹ lại dùng tiền để trang trải cuộc sống, đầu tư cho người thân và gia đình. Cái nào có giá trị hơn? Câu trả lời của bạn là gì?

Cùng Suy Gẫm

Cùng Suy Gẫm

Hoa trái của thinh lặng là cầu nguyện

Hoa trái của cầu nguyện là đức tin

Hoa trái của đức tin là tình yêu

Hoa trái của tình yêu là phục vụ

Hoa trái của phục vụ là bình an.

Mẹ Têrêsa Calcutta

Bình Thản Trước Thị Phi Cuộc Sống

Lương Văn Can 75. – Kimtrong Lam 

Bình Thản Trước Thị Phi Cuộc Sống

Có thể bạn làm vừa lòng người này, nhưng lại làm mất lòng người kia. Có thể người này quý bạn, người kia ghen ghét ganh tị… Vậy cứ hãy là bạn, là chính mình.

Sống tốt, sống chân thành sẽ mang lại cho mình cảm giác thanh thản… Và hãy bình thản trước thị phi, thì cuộc sống của bạn sẽ bình yên và không gì có thể lay chuyển được bạn. Tôi thấy câu chuyện sau rất hay và nó là bài học để tôi suy ngẫm…

Vị giám đốc gọi hắn lên và hỏi chuyện:

– Tôi thấy cậu cũng đứng đắn, chững chạc và rạch ròi. Vậy sao trong công ty vẫn có lời ra tiếng vào, dị nghị đàm tếu?

Hắn trả lời:

– Thưa ngài, trời nắng hạn cả tuần na, đang trưa nắng gắt bỗng đổ trận mưa rào, nġười nông dân thì mừng rỡ ra mặt vì ruộng đất thoát khỏi hạn hán, kẻ làm nghề rửa xe hớn hở cười nói vì khách rửa xe đông, nhưnġ những nġười đang trên đường thì lại ghét ca ghét đắng vì đường bẩn và bị mưa ướt nġười.

Trăng mùa thu sáng vằng vặc như gương treo trên bầu trời đêm, hàng thi nhân vui mừng gặp dịp thưởng du ngâm vịnh, nhưnġ bọn đạo chích lại ghét vì ánh trăng quá sáng tỏ. Trời đất kia vốn vô tư khôпg thiên vị, mà cơn nắng mưa thời tiết vẫn bị thế gian trách hận ghét thương. Còn bản thân eṁ cũng đâu phải một nġười vẹn toàn thì làm sao tránh khỏi tiếng chê bai chỉ trích.

Cho nên eṁ nghĩ rằng: Đối với tiếng thị phi trong thế gian nên bình tâm suy xét, đừng nên vội tin nghe. Cấp trên nghe lời thị phi thì nhân viên bị hại. Cha mẹ tin nghe lời thị phi thì co̴n cái bị ruồng bỏ. Vợ chồng tin nghe lời thị phi thì gia đình ly tán…Tiếng thị phi của thế gian nọc độc còn hơn rắn rết, bén hơn gươm đao, ɡɪếт nġười khôпg rướm máu. Cho nên cứ an nhiên mà sống thôi và nhìn nhận vấn đề thật đúng trên nhiều khía cạnh!

Có thể bạn làm vừa lòng người này, nhưng lại làm mất lòng người kia. Có thể người này quý bạn, người kia ghen ghét ganh tị… Vậy cứ hãy là bạn, là chính mình.

Sưu tầm

No photo description available.

CHÚA LÀM GÌ Ở HỎA NGỤC

CHÚA LÀM GÌ Ở HỎA NGỤC

            “Đức Giêsu đáp: ‘Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy.  Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy.  Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.  Ai không yêu mến Thầy thì không giữ lời Thầy.  Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy.

Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em.  Nhưng Đấng bảo trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy.  Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.  

            Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy.  Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian.  Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.  Anh em đã nghe Thầy bảo: Thầy ra đi và đến cùng anh em.  Nếu anh em yêu mến Thầy thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.  Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin.’” (Ga 14, 23-29)

*****

            Đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan trên đây rất sâu sắc và phong phú.  Để hiểu rõ đoạn Phúc Âm đó, thiết tưởng nên nhờ vào nguồn mạch minh triết của Thánh Tôma Aquinô

            Thiên Chúa ở trong hỏa ngục? 

            Thánh Tôma Aquinô trong sách “Summa Contra Gentiles” (“Tổng Luận Về Việc Đối Phó Với Dân Ngoại”) đã đặt câu hỏi: “Thiên Chúa ở khắp nơi không?”  Rồi tiếp theo đường lối luận lý khúc chiết như thường lệ, ngài đã hỏi thêm: “Thiên Chúa có ở trong hỏa ngục không?”  Và thánh nhân hỏi tiếp: “Thiên Chúa làm gì ở trong hỏa ngục?”  Sau cùng ngài tự trả lời: “Thiên Chúa ở trong hỏa ngục để yêu thương những kẻ bị đọa đày.” 

            Những người bị đọa đày ở trong hỏa ngục có thể từ chối việc yêu mến Thiên Chúa nhưng họ không thể làm gì để ngăn chặn Thiên Chúa yêu thương họ, bởi vì Thiên Chúa là Thiên Chúa và “Thiên Chúa là tình yêu.”  Giờ đây, nếu chúng ta ngạc nhiên và tự hỏi tiến trình suy luận đó có liên hệ gì đến đoạn Phúc Âm của Thánh Gioan trên đây không?  Câu trả lời là có.

            Thánh Tôma chỉ làm chứng về sự kiện Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta và yêu thương mãi mãi, bất kể chúng ta là ai hay chúng ta làm gì, và cho dù chúng ta sống trên đời nầy, lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục. 

            Thánh Grêgôriô Nyssa sống vào cuối thế kỷ thứ tư ở miền Trung nước Thổ-Nhĩ-Kỳ, đã đặt câu hỏi như sau: “Các bạn có muốn biết sự khác biệt giữa sự cứu rỗi và kiếp đọa đày, giữa thiên đàng và hỏa ngục không?

            Và đây là thí dụ mà Thánh Grêgôriô đã trưng dẫn: Bạn hãy nghĩ tới một ngày đẹp trời nào đó, với ánh nắng rực rỡ.  Khi bạn đi ra ngoài đường, dưới ánh nắng chói lọi, bạn sẽ có kinh nghiệm về ánh nắng mặt trời như là cái gì dễ chịu, thích thú, kỳ diệu, hứng khởi.  

            Rồi ngài nói tiếp: Giờ đây bạn thử tưởng tượng một người nào đó bị đau mắt nặng và cũng đi ra ngoài nắng như vậy.  Vì con mắt bị bệnh, người đó lại có kinh nghiệm về ánh nắng mặt trời một cách khác hẳn: ánh nắng mặt trời như là cái gì khó chịu, nhức nhối, tai hại, làm cho lòa mắt… và họ không thể chịu đựng được, chỉ muốn đi xa hẳn ánh nắng mặt trời.

           Và Thánh Grêgôriô kết luận: Đó, thiên đàng và hỏa ngục cũng hoàn toàn giống như thế đó.  Thiên đàng và hỏa ngục cũng là một.  Cả hai hoàn toàn giống nhau.  Sự khác biệt giữa hai thực thể đó là có người muốn thiên đàng và có người không muốn.

            Nếu bạn muốn thiên đàng, bạn sẽ run lên vì cảm động.  Nếu bạn không muốn thiên đàng – và điều đó thật tai hại – bạn vẫn sẽ được Thiên Chúa âu yếm nhưng trái với ý muốn của bạn, bởi vì bạn không thể ngăn cản Thiên Chúa yêu thương bạn được.  Thiên Chúa là tình yêu.  Bạn không thể ngăn cản Thiên Chúa là Thiên Chúa của tình yêu.  Hỏa ngục chỉ có đối với Satan vì Satan được Thiên Chúa âu yếm trái với ý muốn của nó.” 

            Ân sủng 

             Chúng ta có một cụm từ đặc biệt để diễn tả tình yêu Thiên Chúa.  Đó là cụm từ “ân sủng” (“grace”).  Cụm từ đó xuất phát bởi tiếng La-tinh ‘gratis‘ có nghĩa là “cho không” (free).  Ân sủng là một tặng phẩm “nhưng không” của Thiên Chúa.  Chúng ta không thể làm gì để được hưởng hay đáng được ân sủng.  Người ta bảo mọi sự là ân sủng của Thiên Chúa.  Người ta nói ân sủng của Thiên Chúa ở khắp nơi.  Chúng ta không thể xa rời ân sủng được.  

            Và người ta cũng thường nói là mọi sự hiện hữu được bởi vì Thiên Chúa yêu thương.  Tình yêu Thiên Chúa là lý do mà chúng ta tồn tại.  Cái ghế mà chúng ta đang ngồi trên đó cũng là ân sủng của Thiên Chúa.  Nếu Thiên Chúa không còn yêu thương cái ghế đó nữa tức thì sự hiện hữu của nó bị chấm dứt ngay.  

            Thực phẩm chúng ta ăn vào, những người chúng ta yêu thương… là những ân sủng của Thiên Chúa.   Mỗi một sinh vật hay sự vật đều được Thiên Chúa sáng tạo và Ngài yêu thương hết mọi tạo vật của Ngài, bởi vì Thiên Chúa đã cấu trúc toàn bộ hệ thống đó!

            Khi đề cập như trên, một vấn nạn được đặt ra, có tính cách siêu hình.  Chúng ta là chúa tể về việc lãng quên những thực tại kỳ diệu ở chung quanh chúng ta.  Chúng ta thật đáng trách vì thường xuyên quên bẵng những hồng ân Thiên Chúa ở trong đời sống chúng ta. 

            Cái nháy mắt và nhịp tim đập

             Khi chúng ta khởi đầu đọc bài suy niệm nầy, mắt chúng ta đã chớp liên hồi.  Và cho đến giây phút nầy đây, chúng ta đã không đếm số lần mắt mình đập là bao nhiêu, trừ khi chúng ta cảm thấy bài viết nầy vô vị, nhàm chán.  Nhưng biết đâu có người sẽ nói: “Tôi đã đếm được con số 5,666 cái chớp mắt!!!”  Đúng hay sai, chúng ta không rõ.  

            Vấn đề là khi chúng ta chớp mắt – cho dẫu chúng ta đã làm việc đó thường xuyên – chúng ta đã không nhận ra điều đó.  Chúng ta đã chớp mắt một cách tự động.  Chúng ta không nhận thấy mắt chớp, cho tới khi chúng ta không thể chớp mắt được nữa.  Chính khi chúng ta không thể chớp mắt được thì sự chớp mắt trở nên quan trọng.  Nếu chúng ta bị bệnh tê liệt Bell thì chúng ta không thể chớp mắt được.

            Cũng thế, con tim chúng ta đập không ngừng.  Nhưng chúng ta không bao giờ nhận ra nhịp đập của con tim cho tới khi tim đập nhanh lên, hay chậm lại, hoặc ngừng đập.  Nếu tim ngưng hẳn, chúng ta cũng không nhận ra nhịp tim đập nữa.  Đã quá trễ rồi!  Nhưng người khác sẽ nhận ra điều đó khi chúng ta ngã quỵ trên sàn nhà.  

           Đối với dưỡng khí cũng thế.  Không ai để ý cho tới khi dưỡng khí đã cạn kiệt và không còn khí thở nữa.  Chúng ta không để ý tới những gì luôn luôn có mặt ở đó, nơi bản thân chúng ta hay bên cạnh chúng ta.

            Thời gian linh thánh

             Có những thời gian được chúng ta gọi là “thời gian linh thánh.”  Dĩ nhiên, mọi thời gian là linh thánh hết.  Và nếu thế, tại sao có một số thời gian được chúng ta gọi là “thánh.”  Chúng ta gọi Chúa nhật là thánh.  Chúng ta có những ngày nghỉ lễ (“holidays = “ngày thánh”) bắt buộc.  Chúng ta có Thứ Năm tuần Thánh, Thứ Sáu tuần Thánh và Thứ Bảy tuần Thánh.  Chúng ta có mùa Chay Thánh.  Ý nghĩa như thế nào khi chúng ta nói Bốn Mươi Ngày Chay Thánh là mùa thánh?

            Chắc chắn điều đó không có nghĩa là Thiên Chúa hiện diện trong bốn mươi ngày mùa Chay nhiều hơn trong ba trăm hai mươi lăm ngày kia còn lại trong năm.  Tuy nhiên, chúng ta vẫn gọi Chúa nhật là ngày thánh.  Chúng ta gọi ngày đó là “ngày của Chúa.  Nhưng chúng ta không nói thứ năm là ngày của Chúa.  Chúng ta không nói Chúa tới văn phòng Chúa nhật mà không tới ngày thứ năm.  Nhiều người tưởng Chúa vắng mặt ở văn phòng từ thứ hai đến thứ bảy và Chúa chỉ xuất hiện vào Chúa nhật.  Thiên Chúa ở trong văn phòng chúng ta mỗi ngày bởi vì mỗi ngày là ngày của Chúa, và mỗi mùa là mùa thánh. 

            Nhưng chúng ta không thấy sự thật như vậy.  Đó là vấn đề của chúng ta và chúng ta phải chấp nhận điều đó.  Chúng ta không chú ý đến điều đang xảy ra với chúng ta và điều đó vẫn luôn luôn là vậy.  Vì lý do đó, chúng ta đã để Chúa nhật riêng ra ngõ hầu chúng ta là những thành phần của cộng đồng dân Chúa có thể quan tâm đến sự kiện kỳ diệu là mỗi ngày và mỗi mùa là những hồng ân của Thiên Chúa.

            Đó cũng là lý do tại sao chúng ta tề tựu ở trong nhà thờ để tạ ơn Chúa và gọi thánh đường là một nơi thánh.  Nhưng đó không có nghĩa là Thiên Chúa hiện diện ở trong nhà thờ nhiều hơn và Ngài hiện diện ít hơn ở bãi đậu xe, trên xa lộ, trong siêu thị, nơi quán rượu, ở phòng khách và tất cả những chỗ khác mà chúng ta thường lui tới?  Không, điều đó không hợp với sự hiểu biết về linh đạo Kitô giáo.

            Không gian thánh 

             Những địa điểm nói trên cũng là những nơi thánh, bởi vì hồng ân của Chúa ban phát khắp nơi.  Dĩ nhiên, chúng ta cần thánh hiến một nơi chốn riêng biệt, không phải vì Chúa ở nơi đó mà thôi, nhưng đúng hơn và kỳ diệu thay, Thiên Chúa ở khắp nơi trên quả địa cầu, trên thiên đàng hay dưới hỏa ngục.  Đó là điểm tuyệt hảo đối với lối suy tư và linh đạo Kitô giáo.  Đó là tư duy và linh đạo nhằm nhào nắn chúng ta trở thành cộng đồng dân Chúa mà chúng ta được mời gọi.

            Elizabeth Barrett Browning đã đặt câu hỏi: “Nếu trái đất bừng cháy bởi ngọn lửa của Thiên Chúa, tại sao chúng ta ngồi đó đây để nhặt những quả dâu chín?”  Nữ sĩ muốn hỏi tại sao chúng ta đã mất ý niệm về ân sủng, ý niệm về thế giới là thánh, về mọi sự là thánh và mọi sự là một bí nhiệm?  Đó là những vấn nạn lớn lao.  

            Chúng ta rất cần một nhãn quan và một linh đạo gây cảm hứng cho chúng ta để sống một cuộc sống cao quí hơn.  Chúng ta cần tề tựu ở một nơi riêng biệt được gọi là thánh đường hay nhà thờ, từ Chúa nhật nầy sang Chúa nhật khác, để chúng ta có thể tán tụng hết mọi hồng ân Thiên Chúa và đặc biệt thay, chỗ độc nhất của Ngài là ở trong đời sống chúng ta và trong tạo vật của Ngài là chính chúng ta.

LM Vincent Travers, OP,

Nguyên Tác IN STEP WITH GOD

Hương Vĩnh chuyển ngữ

From: Lanthangchieutim

Bần cùng sinh đạo tặc

 “ Bần cùng sinh đạo tặc”

 Thuận lý và nghịch lý.

A-Thuận lý:

Tên thượng úy công an chính trị viên,tốt nghiệp viện triết học Marx, phó trưởng phân trại C Hà nam Ninh.Trong đối thoại về chủ nghĩa Marx,hắn hỏi tôi rằng:”chân lý có thay đổi không..?”.Tôi trả lời:”đã là chân lý thì không thay đổi..”.Hắn cười..

Ngày hôm nay hắn đúng..

Những đệ tử Cộng Sản chân chính của Marx, đã chia tay ý thức hệ với Marx.Tất cả vội vã bỏ thầy..Mau chóng biến chất, lột xác cướp bóc tàn bạo để trở thành người “tư sản chân chính..!!”.TrungCộng,Việt Cộng, Nga Cộng và Cu-Ba Cộng.v.v..

Điển hình,ở Việt-Nam,những người“vô sản chuyên chính” của Marx ở miền Bắc,sau 30/4/1975 đi “giải phóng”của cải vật chất,nhà cửa của những người tư bản ở miền Nam thì rõ ràng là “bần cùng sinh đạo tặc”.Như vậy là thuận lý..

Thằng bé tù hình sự,qua hàng rào kẽm gai của giữa hai phân trại hình sự phạm pháp miền Bắc và sĩ quan tù cải tạo miền Nam.Sau một trận đòn thừa sống chí chết của đám cư dân sống gần trại,chỉ vì nhổ trộm một gốc khoai mì..Khi tôi hỏi hắn sao làm càn như vậy, thì được nó trả lời rất tự nhiên:”đói ăn vụng,túng làm liều”..ngoài này người ta như vậy đó..”

Ngục sĩ Nguyễn chí Thiện,khi còn tại thế,ông nói:”Miền Bắc thắng miền Nam,phần chính là do chế độ tem phiếu..”(hộ khẩu)

Xâm lăng miền Nam,giặc đói miền Bắc đã có nhiều tên chết vì bội thực..Giặc nghèo miền Bắc đã cướp sạch của cải,vật chất ,nhà cửa của dân miền Nam..

Những từ ngữ tự nhiên trong sinh hoạt dân gian hằng ngày của người  miền Bắc như :”giầu nhà kho,no nhà bếp”,”đói ăn vụng,túng làm liều”,rất tự nhiên phổ biến.

Đặc biệt, ông Hồ chí Minh thì luôn miệng là cướp:”cướp chính quyền về tay nhân dân”(19/8/1945).Tết Mậu Thân thì Là:”tổng công kích,tổng khởi nghĩa..Cướp chính quyền..”.

Bà nguyễn thị Năm, người đàn bà đứng đầu danh sách những người cống hiến tài sản cho tập đoàn Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng, Trường Chinh v.v…trong những năm đầu của cuộc cách mạng 1945.Đã bị chính những kẻ thọ ơn kể trên,đưa bà ra tố khổ và giết chết..(cải cách ruộng đất 1953)

Thọ ơn người mà lại chính tay mình giết người mình thọ ơn thì rõ ràng là mình muốn xóa ơn hay là cướp ơn của ân nhân.Bên cạnh đó lại còn vì một áp lực nào đó,thì có khác gì:”bần cùng sinh đạo tặc”.?..

Ở Việt Nam ngày nay, nạn ăn cắp chó hoành hành khắp mọi nơi !!. “bần cùng sinh cẩu tặc”…và, chỉ đặc biệt ở miền Bắc, vùng đất trước vĩ tuyến 17,bên kia cầu Hiền-Lương của con song Bến-Hải. Cẩu tặc bị người dân đánh chết.!!… Mạng người không bằng con chó.!!..

Như vậy thì những sự kiện kể trên đã xác định:”bần cùng sinh đạo tặc” là thuận lý..

B-Nghịch lý:

 Không nghèo,không đói..Nhà cao,cửa rộng,tiền bạc,của cải vật chất dư thừa mà đi ăn cắp, ăn trộm, ăn bẩn, ăn cướp thì là:” không bần cùng mà sinh đạo tặc”, như vậy là nghịch lý.

Phi công Đặng xuân Hợp, (cháu của Đặng xuân Khu tức Tổng Bí Thư Trường-Chinh), bị cảnh sát Nhật áp giải ra tòa và tuyên án 30 tháng tù với 500.000 yen,tiền phạt về tội vận chuyển hàng ăn cắp từ Nhật về Việt Nam…

Một giám đốc công ty lớn có tên tuổi ở thành phố Hồ- chí- Minh ăn cắp hàng trong siêu thị ở nước Nhật,bị bắt,nộp phạt và bị tống cổ về nước…

Sinh viên Việt Nam,con cái những ông bà tai to,mặt lớn,giầu có nhất,nhì trong nước,sang du học bên Nhật ăn cắp loạn..Khiến tại trên tường của trường,hiệu trưởng phải cho viết những lời đe dọa trừng phạt kẻ ăn cắp chỉ độc nhất một ngoại ngữ,đó là chữ Việt Nam,phiên dịch ra chữ Nhật

Mới đây,hai anh,em có tên Nhâm tiến Dũng và Nhâm thị Hồng Phượng, con nhà đại giầu ở Hà Nội,đi du lịch thế giới.Khi đến Thụy Sĩ đã ăn cắp 3 cặp kính loại Gucci,Lv..,đắt tiền,trị giá 300 Euro/1cặp.Cuối cùng phải nộp phạt 2000 Franc Thụy Sĩ mới được thả về.!!..

Tại nước Nhật,một cô gái Việt-Nam lấy chồng Nhật,đến đại sứ quán Viêt-Nam xin gia hạn nhập cảnh, nhân viên sứ quán làm tiền đòi 60.000yen(tương đương 600USD).Cô gái Việt không chịu,vì giá không phải như vậy.Cô chỉ trả đúng giá và quay đi thì bị nhân viên xứ quán nhẩy qua bàn giựt ví sách tay của cô,xô cô ngã đập đầu vào bàn và buông lời lỗ mãng : “Đồ con đĩ lấy Nhật!!”.Cô gái Việt ôm đầu máu chạy ra ngoài gặp chồng.Người chồng Nhật nổi nóng phóng vào tòa đại xứ hét lớn.Nhân viên Việt bỏ trốn hết..

Thường tình thì là: “mất cơm nghi người đói,mất gói nghi người nghèo” mới là thuận lý của : “bần cùng sinh đạo tặc”..

Vậy thì những tệ trạng giầu có,dư thừa của cải vật chất mà đi ăn cắp,ăn cướp,ăn bẩn như kể ở trên thì rõ ràng là nghịch lý..

Cách nào để lý giải sự nghịch lý kỳ quái này?.

Ivan Povlov (1849-1936).Nhà sinh lý học nổi tiếng của nước Nga đã khám phá ra:”định luật phản xạ có điều kiện”,qua  thử nghiệm một con chó bằng cách mỗi lần cho con chó ăn,ông đánh một tiếng chuông.Nhiều lần..Sau cùng,mỗi khi nghe tiếng chuông,con chó đói tiết ra dịch vị,mặc dù không nhìn thấy đồ ăn..Từ kết quả đó,ông kết luận : “Hệ thống thần kinh góp phần quá trình điều khiển tiêu hóa”.Ngược lại,nói một cách đơn giản,bình dân là:”dạdầy khích động não bộ..”.

Từ kết quả đó,sau này người ta bỏ đói, tạo thói quen cho động vật,khuất phục chúng,bắt chúng phải phục tùng ý muốn của con người..

Đảng Cộng Sản Việt-Nam đã triệt để vận dụng kết quả đó để thống trị người dân miền Bắc

Cuộc cải cách ruộng đất năm 1953-1956 mà ông Hồ-chí-Minh và tập đoàn lãnh đạo phát động trên toàn miền Bắc với mục đích chính là xiết chặt lương thực từng nhà,từng người,bao gồm cả gia xúc..

 .Một cuộc cách mạng long trời,lở đất.Giết oan hơn 100.000 người trong số 586.000 nạn nhân!!..Thâu tóm toàn bộ ruộng đất đưa vào hợp tác xã do nhà nước quản lý.Từ đó đảng nắm tất cả lương thực của đất nước qua hình thức hộ khẩu tem phiếu v.v..Người dân chỉ sở hữu 01 con bò,01 con lợn,và một đàn gà đã là địa chủ,là có tội.

Giết,giết nữa,bàn tay không phút nghỉ.

Cho ruộng đồng lúa tốt,thuế mong xong..

Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng.

Thờ Mao chủ tịch,thờ Sit-ta- Lin bất diệt..”(Tố-Hữu CCRĐ)

Chết chóc và đói ăn hành hạ người dân miền Bắc kéo dài suốt từ 1954-1975.Cụ thể 3 tên tù binh bị bắt trong trận đánh cuối cùng ở Long-Khánh,khi tôi ngỏ ý muốn phỏng vấn trên đài phát thanh,họ đã lo sợ xin được từ chối như sau:” chúng em mà lên đài,thì ở ngoài kia họ cắt hộkhẩu.Cha,mẹ,vợ,con chúng em sẽ chết đói !.!..”.

Chủ trương:”Bần cùng hóa nhân dân,lạc hậu hóa dân tộc và bần tiện hóa con người” của ông Hồ-chí Minh và đảng của ông quả đã cực kỳ thành công.

Sau 30/4/1975, nửa ký đường,một ký muối,vài ký gạo ,một thước vải của người miền Bắc ôm theo ngàn dậm,hí hửng  vào làm quà cho họ hàng ,ruột thịt ở miền Nam sau bao năm xa cách.

Một năm hai thước vải thô.

Lấy đem may áo,cụ Hồ ló ra

May áo thì hở lá đa

Chị em thiếu vải,hoá ra lõa lồ !!..”

Mới đây,trong ngày:”Diễu binh 2-9 kỉ niệm 70 năm khánh nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt-Nam”. Khi toán hậu cần đến gần lễ đài,xướng ngôn viên đã to tiếng giới thiệu như sau:”Hậu cần quân đội đã vượt qua nhiều khó khăn,gian khổ,luôn bảo đảm cho đoàn quân ăn no đánh thắngthực hiện hết lời bác Hồ dậy..”.

Bẩy chục năm sau,cái dạ dầy của thí nghiệm Povlov vẫn còn được nhắc tới!!..

Khủng bố,giết chóc,đói ăn,thiếu mặc hành hạ triền miên khiến con người,vì sinh tồn mà thành ra:”đói ăn vụng,túng làm liều”.Như lời thằng bé phạm nhân hình sự nói ở trên..

“Phản xạ có điều kiện”.Con người thông minh hơn con vật,không ngồi yên chờ chết,nên phải tìm cách để tồn tại bằng cách ăn trộm,ăn cắp,ăn cướp v.v..Lâu ngày trở thành thói quen,không từ bỏ được,mặc dầu,kể cả lúc dư thừa của cải,vật chất..Từ ngữ vật lý gọi là “quán tính”..

Đã là quán tính thì khó từ bỏ.Do đó,những hiện tượng kỳ quái của sự nghịch lý “không bần cùng mà sinh đạo tặc”  kể ở trên coi như được giải mã bởi: “quán tính tâm lý”.

Lỗ Trí Thâm (HNPD)

From: TU-PHUNG

AI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ NẠN BUÔN BÁN PHỤ NỮ?

Mạc Van Trang 

AI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ NẠN BUÔN BÁN PHỤ NỮ?

Mạc Văn Trang

Tôi chờ đợi, nhưng không thấy ĐBQH nào chất vấn về vấn đề này, nên nêu ra đây để Quốc hội lưu tâm, xem trách nhiệm thuộc về những ai. Vụ 39 người Việt chết ngạt trong container khi trốn vào nước Anh tháng 10/2019 đã gây chấn động lương tri nhân loại. Nay tình trạng tương tự vẫn không ngừng xảy ra, nhất là nạn buôn bán phụ nữ dưới nhiều hình thức.

Liên Hiệp Quốc ngày 03/11/2021 báo động về “nạn phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam nghèo đói trở thành nạn nhân của những kẻ buôn người sang Ả Rập Xê Út thông qua hình thức xuất khẩu lao động”.

Tuyên bố của nhóm chuyên gia đăng trên website của Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc ngày 04/11/2021 báo động: “Chúng tôi đang chứng kiến ​​những kẻ buôn người nhắm vào phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam sống trong cảnh nghèo đói, nhiều người trong số họ đã lâm cảnh dễ bị tổn thương và bị gạt ra bên lề xã hội. Những kẻ buôn người hoạt động mà không bị trừng phạt”.

Theo các chuyên gia Liên Hiệp Quốc, sau khi ký hợp đồng với các công ty tuyển dụng lao động tại Việt Nam, một số thiếu nữ và phụ nữ bị chủ lao động lạm dụng tình dục, đánh đập, tra tấn và đối xử tàn nhẫn khi đến Ả Rập Xê Út. Thường thì họ không được cung cấp thực phẩm, không được điều trị y tế, không được trả lương, hoặc chỉ được hưởng lương thấp hơn mức lương ghi trong hợp đồng.

Liên Hiệp Quốc báo động có một số công ty khai khống tuổi của trẻ em gái để đưa các em sang Ả Rập Xê Út làm giúp việc gia đình, che giấu sự thật là các em vẫn còn nhỏ tuổi. Các chuyên gia nêu trường hợp một thiếu nữ Việt Nam 15 tuổi bị ốm vì bị chủ đánh đập, không cho ăn uống và chữa bệnh. Nạn nhân được cho về nước, nhưng chưa kịp lên máy bay thì đã qua đời. Do giấy tờ của cô bị làm giả nên gia đình hiện vẫn chưa nhận được thi thể nạn nhân. (Đó là em H Xuân Siu, xem hình).

Liên Hiệp Quốc thúc giục chính quyền Việt Nam và Ả Rập Xê Út có thêm nhiều hành động để chống nạn buôn người và bảo vệ những người lao động Việt Nam, trên cơ sở các nguyên tắc về nhân quyền và bảo đảm thực thi trách nhiệm. Liên Hiệp Quốc khuyến nghị Ả Rập Xê Út có luật lao động bảo vệ người nước ngoài nhập cư làm lao động giúp việc gia đình, mở rộng cải cách luật lao động cho nhóm đối tượng này. Các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc cũng thúc giục chính phủ hai nước tiến hành một cuộc điều tra công bằng và độc lập, thậm chí cả về những cáo buộc liên quan đến sự tiếp tay của các cơ quan công quyền.

Liên Hiệp Quốc cho biết thêm trong vòng chưa đầy 2 tháng, từ ngày 03/09 đến 28/10/2021, có khoảng 205 phụ nữ Việt Nam, trong đó có nhiều người là nạn nhân của nạn buôn người, đã được hồi hương. Các chuyên gia kêu gọi Việt Nam tăng cường hỗ trợ những người phụ nữ này, kể cả về pháp lý, chăm sóc y tế và tâm lý xã hội.

Liên Hiệp Quốc nhắc nhở Việt Nam và Ả Rập Xê Út về “các nghĩa vụ pháp lý quốc tế trong việc hợp tác chống nạn buôn người”, bao gồm cả trong điều tra tư pháp hình sự, có các biện pháp khắc phục hiệu quả tệ nạn này và hỗ trợ nạn nhân”.

(https://docs.google.com/…/1gyVRde23VPGklInxqdwLsgP…/edit)

Một tin khác cho biết: “Trên 3.000 người Việt là nạn nhân của buôn người, chủ yếu bị bán sang Trung Quốc”

Có trên 3.000 người Việt Nam hầu hết là phụ nữ và trẻ em đã trở thành món hàng của bọn buôn người từ năm 2012 đến 2017, chủ yếu bị bán sang Trung Quốc. Hãng tin Reuters dẫn nguồn tin từ bộ Công An Việt Nam hôm nay 24/08/2018 cho biết như trên.

https://docs.google.com/document/d/1gyVRde23V PGklInxqdwLsgPbWl6u9HFDElhzoKOOnlo/edit

AI PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TÌNH TRẠNG TRÊN?

– BỘ LĐTBXH quản lý việc xuất khẩu lao động phải chịu trách nhiệm ra sao?

– Chính quyền các địa phương quản lý công dân của mình để xảy ra chuyện như vậy, chịu trách nhiệm gì?

– Ngành an ninh chịu trách nhiệm đến đâu?

– Hội Phụ nữ Việt Nam đã làm gì giúp phụ nữ và trẻ em có nhận thức, hành vi ứng phó với những cạm bẫy và đấu tranh cho những chị em bị ngược đãi?

– Và những cơ quan nào, những ai nữa?

Những thảm cảnh nêu trên (và biết bao vụ khuất lấp) không chỉ là nỗi đau của những người trong cuộc và người thân của họ mà còn là nỗi nhục của quốc gia, dân tộc..

Ngày 11/11/ 2021

 SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN

 SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Nói đến sức mạnh, chúng ta tự nhiên sẽ nghĩ đến những chàng trai võ sĩ thân hình lực lưỡng, cân đối rắn chắc, với những bắp thịt vạm vỡ, với những quả đấm thôi sơn ngàn cân.  Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng nghĩ đến những trận cuồng phong, những cơn lũ lụt phá đổ cây cối nhà cửa làng mạc, đê điều, đường sá, cầu cống.  Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng thường nghĩ tới những đám cháy lớn thiêu rụi cả một khu rừng, thiêu huỷ các tầng lầu.

Nói đến sức mạnh, chúng ta nghĩ đến những trận động đất san bằng nhiều thành phố, giết hại hàng triệu người trong vài giây đồng hồ.  Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng liên tưởng đến những cuộc chiến tranh đã giết hại bao sinh mạng, tàn phá bình địa nhiều thành phố làng mạc nhà cửa dinh thự đền đài.

Nhưng còn có một sức mạnh vạn năng khác, mãnh liệt hơn cả, quyết thắng tất cả mà lại luôn luôn ở trong tầm tay con người.  Đó chính là sức mạnh niềm tin tôn giáo.

Niềm tin tôn giáo không bao giờ bị bóp nghẹt do bất cứ quyền lực nào.  Không có quyền lực nào có thể xoá bỏ được niềm tin tôn giáo.  Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh xác tín đó.

  1. Sức mạnh đức tin vượt thắng những thách đố.

Trong chuyến hành hương Rôma, tôi có dịp đi viếng những hang toại đạo.  Đi trong hang như là tìm về cội nguồn đức tin.  Nơi đây biểu lộ sức mạnh đức tin của bao thế hệ tiền nhân.  Giáo hội giữ vững niềm tin trên nền tảng tử đạo của biết bao con người nằm dưới hang này trong 300 năm đầu bị bách hại.  Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma. Những hang hầm dài nhiều cây số.  Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất.  Không khí trong hang rất lạnh lẽo.  Mùi tử khí vẫn còn thoang thoảng đâu đây.  Đi trong hầm mộ lạnh lùng, hoang vắng, lối ngõ ngoằn ngoèo, tôi cảm nghiệm được ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết.  Sự chết luôn luôn đe dọa rình rập cướp lấy mạng sống con người.  Bước đi trong lòng tin và lòng cảm phục nên người hành hương lại cảm nhận sự ấm áp, thân tình gần gũi với các thế hệ tiền bối.  Gia sản của Giáo Hội là đây.  Tại nơi này, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong ba thế kỷ.  Sức mạnh đức tin thật là kỳ diệu.

Suốt ba trăm năm bắt Đạo, trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn trăm ngàn Vị Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách.  Trong số này, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân. 

Trải qua ba trăm năm, với 53 sắc dụ cấm đạo dữ dội, Giáo Hội Việt Nam đã chịu bách hại và đã biểu lộ hào hùng sức mạnh đức tin qua dọc dài lịch sử.

Các Thánh Tử Đạo đã chịu đủ mọi cực hình: bị xiềng xích, lao tù, bị tra tấn, bị bỏ đói, bị chém đầu, bị thắt cổ, bị bá đao, phanh thây, bị kìm kẹp, bị voi dày, bị thiêu sống, bị buộc đá thả trôi sông, bị tống cổ ra khỏi nhà cửa, làng mạc, sống vất vưởng trong rừng sâu nước độc.  Các ngài đã bị chết đói, chết khát, chết bịnh và bị dã thú ăn thịt…  Với sức mạnh đức tin, các ngài đã chiến thắng mọi thứ cực hình dã man.  Cho dù là gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói, voi giầy, trói ném xuống sông, đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng, chặt đầu, thắt cổ, thiêu sống, phân thây ra từng mảnh… các ngài chấp nhận tất cả nhờ đức tin mạnh mẽ.  Trong 117 Thánh Tử Đạo được tuyên phong, có 79 vị bị trảm quyết (bị chặt đầu); 18 vị bị xử giảo (bị thắt cổ); 8 vị chết rũ tù; 6 bị thiêu sinh; 4 bị lăng trì (phân thây ra từng mảnh); 1 bị tử thương và 1 bị bá đao.

Người ta nghĩ ra mọi thứ hình phạt tàn ác để buộc các tín hữu chối bỏ đức tin.

– Thật kinh hoàng sởn tóc gáy khi nghe kể về cái chết của Cha Cố Du theo kiểu bị xử bá đao: “Ngày 30.11.1835, họ chọn Thợ Đức làm pháp trường để xử ngài.  Sáng sớm hôm đó, họ điệu ngài đến nơi hành hình.  Bên một lò than đang cháy đỏ rực có 5 tên lính cầm 5 chiếc kìm sắt đã được nung đỏ.  Nghe lệnh, cùng một lúc cả 5 tên kẹp kìm nung đỏ vào mình ngài kéo ra những miếng thịt khét lẹt.  Họ vu cho ngài móc mắt trẻ con khi rửa tội.  Làm điều ám muội khi cử hành lễ cưới và cho ăn thịt người khi rước lễ.  Sau đó họ tiếp tục gây thêm những thương tích nữa cho đến khi ngài bất tỉnh thì họ mới hành quyết.  Họ cột chân tay ngài vào cây cột.  Hai bên lính cầm kìm chờ sẵn.  Cha Du ngửa mặt lên trời cầu nguyện dâng mạng sống mình cho Chúa.  Sau hồi trống báo hiệu, hai tên lính cầm kìm kẹp vào ngực ngài kéo ra 2 miếng thịt nơi vú liệng xuống đất, một tên lính khác cầm dao xẻo thịt phía sau hông, rồi đến bắp đùi thì chúng lấy kìm kéo ra rồi lấy dao xẻo đứt từng miếng… làm cha rất đau đớn. Không được bao lâu thì ngài ngất đi, đầu rũ xuống và ngài về chầu Chúa lúc 17g ngày 30.11.1835.  Cha Du chết rồi bọn lính còn chặt đầu ngài cho vào một chiếc thùng đầy vôi, cởi trói lật xác úp xuống rồi phân thây ra từng khúc bỏ tất cả vào thùng vôi.  Đầu ngài họ đem treo 3 ngày ở giữa chợ rồi xay nát, bỏ chung với thùng vôi đựng xác ngài đoạn quăng cả xuống biển cho mất tích.”

– Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc.  Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát.  Vừa nghe lệnh, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu.  Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.

– Cha Điểm và Cha Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ.  Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.

Dù chịu mọi cực hình tàn bạo, bị hành hạ tra tấn khủng bố, các ngài vẫn không chối bỏ đức tin.  Vua chúa, quan quyền, binh lính phải sững sờ kinh ngạc và kính phục lòng tin sắt son của các ngài.

Thánh Hồ Đình Hy làm quan lớn trong triều đình.  Quan Án Phạm Trọng Khảm.  Nhờ sức mạnh đức tin, các ngài chấp nhận mất chức quyền, mất danh vọng thế gian và sẵn sàng hiến dâng mạng sống.

Thánh Lê Thị Thành, thân phận phụ nữ yếu ớt, gánh nặng gia đình, nhờ sức mạnh đức tin nên ngài đã sẵn sàng chịu mọi cực hình để minh chứng tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô.

Thánh Tôma Thiện, Phaolô Bột, đầu xanh tuổi trẻ, tương lai còn dài, nhiều hứa hẹn.  Các ngài đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Chúa nhờ sức mạnh đức tin.

Các Thánh Tử Đạo vui lòng đón chịu mọi cực hình đau đớn, chấp nhận mọi thua thiệt, vui lòng mất hết địa vị bổng bộc và hiên ngang tiến ra pháp trường đón nhận cái chết như một mối phúc, minh chứng lòng trung thành của mình đối với Đức Kitô.  Cái chết của các ngài làm sáng lên sức mạnh đức tin.

  1. Những thách đố Đức Tin thời nay.

Làm sao chúng ta có thể sống đức tin mạnh mẽ như các Thánh Tử Đạo.  Ngày nay đâu còn cảnh cấm đạo, bắt đạo, giết người có đạo như thời xưa.

Nhưng ngày nay có rất nhiều thách đố đức tin với tín hữu Việt Nam.

– Vô thần duy vật

Thách đố trước hết đối với Đức Tin chính là môi trường mà chúng ta đang sống và “hít thở”, đó là một xã hội vô thần duy vật.  Đây là một xã hội tự bản chất chối bỏ Thiên Chúa, đề cao vật chất và quyền lực.  Sự chối bỏ Thiên Chúa sẽ là nguyên nhân đưa tới sự sa đọa của con người và xã hội.  Khi một xã hội vắng bóng Thiên Chúa, người ta sẽ tạo ra những “thiên chúa khác” nơi một con người hoặc nơi vật chất như người Do Thái trong Cựu Ước đã đúc ‘bò vàng” để thờ như thờ Thiên Chúa.  Xã hội chạy theo sức hấp dẫn của đồng tiền.  Của cải và quyền lực lên ngôi.  Thang giá trị đạo đức bị đảo lộn.  Người ta tìm mọi cách kiếm tiền để có quyền.  Khi có chức quyền thì càng kiếm được nhiều tiền.  Đồng tiền đang trở thành một quyền lực chi phối toàn bộ đời sống con người.  Ai cũng muốn có nhiều tiền.  Để có nhiều tiền, nhiều người đã không từ chối một phương cách nào: lường gạt, lừa đảo, làm hàng giả, buôn bán ma túy, tham nhũng, hối lộ…  Tiền bạc quả là một cơn cám dỗ đang làm chao đảo thế giới, tàn phá những giá trị, biến chất con người.  Trong xã hội đó, nhiều người Công Giáo cũng bị cuốn hút vào ma lực của đồng tiền, nên dễ đánh mất Niềm Tin, xa rời Giáo Hội.

– Gian dối và lừa lọc lên ngôi

Thách đố thứ hai của Đức Tin, đó là xã hội Việt Nam đang báo động bởi đầy dẫy những bất công, lạm quyền và giả dối lan tràn.  Đạo đức suy thoái, lương tâm và nhân phẩm bị xúc phạm.  Mấy câu thơ sau đây có thể tóm tắt thực trạng xã hội:

“Nhân phẩm ngày nay giảm giá rồi,

Chỉ còn thực phẩm tăng giá thôi,

Lương tâm bán rẻ hơn lương thực,

Chân lý chân giò một giá thôi.”

Sống trong môi trường như thế, nhiều người lập luận: người ta gian dối mà mình trung thực là mình thua thiệt!  Có những người Công Giáo cũng hành xử như người không tin, cũng lừa lọc, gian lận đủ cách để làm sao mình có lợi.

– Sự đề cao hưởng thụ cá nhân

Chúng ta đang phải đối diện với một nền văn hóa bị thống trị bởi lối sống hưởng thụ ích kỷ.  Trong đó, con người chạy theo lối sống hưởng thụ cá nhân, biến người khác thành một món hàng để chiếm đoạt và mua bán.  Tương quan yêu thương và nhân bản bị xếp sau tương quan trao đổi và lợi ích kinh tế.  Xã hội này đã sinh ra những đứa con “quái thai” trong cách sống: bằng mọi cách để kiếm tiền và hì hục hưởng thụ!  Khi sống theo lối sống này, con người trở nên ích kỷ, quy ngã, hời hợt, và ít quan tâm đến người khác, thiếu khả năng liên vị, không biết tôn trọng và yêu thương người khác.  Quan sát cách hành xử của người Việt Nam ở nơi công cộng và nhất là khi tham gia giao thông, sẽ thấy người ta tranh giành nhau, chụp giật và manh mún theo kiểu mạnh ai người ấy thắng, cá lớn nuốt cá bé.  Cách sống nói lên não trạng và tâm tính con người.  Đó là một tình trạng đáng buồn cho xã hội Việt Nam hôm nay!

– Chủ trương duy tương đối

Còn có một thách đố lớn hơn đối với Đức Tin mà Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI luôn cảnh báo, đó là chủ trương duy tương đối.  Chủ trương này khiến cho con người hôm nay không còn muốn chấp nhận các chân lý tuyệt đối nữa, không quy chiếu và sống theo một chuẩn mực luân lý hay giá trị đạo đức khách quan nào nữa.  Tất cả là tương đối và mỗi người có thể thay đổi các chân lý và sống theo những chọn lựa và chuẩn mực cá nhân.  Đây là sai lầm căn bản dẫn đến những sai lầm khác của con người hôm nay. (x. Những thách đố đối với Đức Tin trong xã hội hôm nay; lamhong.org).

Những lối sống và não trạng trên đã và đang len lỏi vào các ngõ xóm, các xứ đạo của chúng ta.

  1. Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô

Năm Đức Tin là thời gian và cơ hội quý báu giúp mọi Kitô hữu “tái khám phá hành trình Đức Tin để luôn làm nổi bật niềm vui và lòng hăng say mới của việc gặp gỡ Đức Kitô” đồng thời, “khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng Đức Tin trong sự toàn vẹn và với niềm xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng” (Tự sắc Porta Fidei, số 2 và 9).

Đức Giáo Hoàng Biển Đức dạy: “Năm Đức Tin sẽ là một cơ hội thuận tiện để tăng cường việc cử hành Đức Tin.”  Cử hành đức tin là tuyên xưng, sống và làm chứng cho Đức Tin.  Tuyên xưng Đức Tin như Kinh Tin Kính dạy và như Hội Thánh công bố.  Tuyên xưng Đức Tin trong mọi hoàn cảnh sống khi an vui, hạnh phúc và thành công, cũng như khi đau khổ, bệnh tật, thất bại hay khủng hoảng.  Cử hành Đức Tin bằng việc nhiệt thành dấn thân thực hiện công cuộc truyền giáo với cách thức mới mẻ và hiệu năng hơn.  Cử hành Đức Tin bằng sự chuyên cần cử hành và lãnh nhận các bí tích.  Cử hành các bí tích là cử hành mầu nhiệm các đức tin, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải.

Đức Tin là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa đã ban tặng.  Đức Tin là “cửa” mở ra, đưa chúng ta đi vào đời sống kết hiệp thân tình với Thiên Chúa và bước vào Hội Thánh của Người.  Đức Tin là bảo chứng mang lại ơn cứu độ đời đời cho chúng ta.

Đức Tin bừng lên mãnh liệt trong mầu nhiệm tự huỷ và hiến dâng.  Mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam là dịp để học hỏi nơi cuộc đời chứng nhân của các ngài.  Chúng ta được tiếp thêm sức mạnh Đức Tin để sống đạo giữa biết bao thách đố của thời đại hôm nay.  “Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô, xây dựng trên nền tảng Đức Kitô và được củng cố trong đức tin” (Cl 2, 7), chúng ta sẽ được tràn đầy sức mạnh Đức Tin.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

Thêm Một Đám Tang

Thêm Một Đám Tang

Nguyễn Ngọc Duy Hân

 Theo đúng luật sinh tử, hằng ngày luôn xảy ra rất nhiều đám tang, kể cũng chẳng là điều gì lạ lùng. Nhưng cách đây 9 năm, vào dịp cuối tháng 4, 2012, đã có bài viết của J.B Nguyễn Hữu Vinh nói về một đám tang khác mọi đám tang. Đó là đám tang của bà Tần, mẹ của Paulus Lê Sơn.

Xin nhắc lại Sơn là một trong 14 thanh niên Công giáo và Tin lành đã bị nhà nước Cộng Sản kết án tổng cộng 80 năm tù vào năm 2012. Paulus Lê Sơn là người con duy nhất của bà Tần, khi mẹ mất thì Sơn đang phải nằm xà-lim vì yêu nước và có tinh thần muốn phát triển Việt Nam của giới trẻ. Dù đã hết cách xin, Sơn vẫn không được về nhà chịu tang mẹ rồi lại trở vào tù tiếp. Đám tang bà Tần diễn ra trong cô đơn, trù dập, ít người dám tới dự vì sợ bị liên lụy.

Theo đúng tinh thần văn hóa Việt, nghĩa tử là nghĩa tận, tới nhìn mặt người quá cố lần cuối là việc cần làm, mà đứa con trai duy nhất – gọi là trưởng nam thì không thể có mặt. Đau lòng thay cho đứa con và tủi thân thay cho người mẹ. Chưa kể khi còn sống, bà mẹ đó đã phải lo lắng, đau khổ và khó khăn như thế nào để có thể tự lo sinh sống, không được con chăm sóc, mà ngược lại còn phải làm việc vất vả kiếm tiền để tiếp tế “thăm nuôi” con đang ở trong tù.

Mới đây, vào khoảng giữa tháng 11, năm 2021, một đám tang khác mọi đám tang cũng đã xảy ra. Đó là ngày bà Lê Ngọc Nghĩa, thân mẫu của nhà tranh đấu Nguyễn Bắc Truyển đã qua đời tại Saigon.

Vì nghĩa lớn mà anh Nguyễn Bắc Truyển đã không được nhìn thấy mẹ lần cuối. Vì nghĩa lớn mà hai vợ chồng Truyển – Phượng đã phải xa cách tính tới nay là 4 năm, và Nguyễn Bắc Truyển sẽ còn phải ở trong tù với bản án 11 năm giam giữ và 3 năm quản chế.

Vâng, ở Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa thì thế đấy, rất nhiều chuyện khác thường không giống ai đã xảy ra. Biết bao cha mẹ, anh em, gia đình đã phải khổ vì chế độ độc tài gian ác này. Chắc khó mà quên được chuyện cướp đất ở Thái Hà, vườn rau Lộc Hưng… Rồi sau đó là hiện tượng Đồng Tâm, biết bao người bị giết, bị tù vì không chịu bị bọn cầm quyền chiếm đất, hà hiếp cách vô lý. Thời gian gần đây nhiều tù nhân lương tâm khác cũng đã bị bắt, như nhà báo độc lập Phạm Đoan Trang, anh em Huỳnh Minh Tâm, Huỳnh Tố Nga, cô Thu Thủy… Trần Huỳnh Duy Thức vẫn đang héo mòn sức khoẻ trong trại giam. Một công dân Úc là ông Châu Văn Khảm bị xử bản án vô lý vẫn còn trong tay bọn Cộng Sản. Biết bao tù nhân lương tâm đã chết, đã rũ tù, biết bao đau khổ xảy ra trên quê hương. Con dân Việt phải làm nô lệ mới theo kiểu “xuất khẩu lao động”, biết bao ôsin, cô dâu cho các nước ngoài bị đối xử tàn tệ, trong khi nhóm lãnh đạo ăn thịt bò dát vàng ở nhà hàng của “Thánh rắc muối” nổi tiếng thế giới, uống rượu “cực quý” với giá không tưởng. Họ ăn xương uống máu người dân thường xuyên, thì sá kể gì miếng thịt bò có vàng bao bọc.

Trở lại với đám tang của mẹ Nguyễn Bắc Truyển, cô Phượng vợ của anh đã chia sẻ:

Tin từ trại giam An Điềm – tỉnh Quảng Nam

Chiều nay anh Truyển gọi điện thoại về thì nghe tin má mất, giọng nói anh lần này buồn não nùng. Tôi cảm nhận và hiểu tâm trạng của người con nghe tin má mất mà đang chịu cảnh tù đày, không về chịu tang má, không được nhìn má lần cuối thì còn nỗi xót xa đớn đau nào bằng.

Tôi động viên tinh thần và an ủi anh giữ sức khoẻ, nén nỗi đau buồn, hãy cầu nguyện cho Má vãng sanh cõi Phật. Anh hứa sẽ cố gắng.

Thời gian chỉ vài phút ngắn ngủi còn nhiều điều chưa nói hết thì đã hết giờ được nói chuyện từ góc xà-lim”.

Cũng xin mở ngoặc cô Phượng là người hết sức hiền lành, yêu chồng, yêu nước. Phượng ăn chay trường, dù yếu ớt gầy còm nhưng tinh thần luôn vững mạnh để hỗ trợ chồng. Và cũng rất lạ kỳ, hình như hương hồn của mẹ của anh Truyển rất linh thiêng, nên lâu rồi anh Truyển không được liên lạc với gia đình, thì đám cai tù lại bất ngờ cho anh gọi về nhà đúng vào ngày mẹ mất.

Một người cũng từng là tù nhân lương tâm, cô Ngọc Anh đã chia sẻ:

“Nhận được tin dữ Cụ bà Lê Ngọc Nghĩa đã lìa trần mà con trai cụ là người yêu nước Nguyễn Bắc Truyển vẫn đang bị đày đọa lần hai trong lao ngục cộng sản khiến lòng Ngọc Anh tôi lại bùng lên mối căm hờn. Nhưng kính thưa Cụ bà, Cụ bà đã sanh ra một người con rất cao quý. Luật gia Nguyễn Bắc Truyển đã dám dấn thân hy sinh cho một điều cao cả trọng đại mà phần đông dân Việt không dám làm. Đó là chống bất công áp bức.

Nếu Nguyễn Bắc Truyển thành công trong cuộc tranh đấu cho Quyền Con Người của toàn dân thì người dân Việt nợ Cụ một ơn lớn.

Ngọc Anh tôi cũng đã từng bị tà quyền ghép tội rồi đày đọa trong ngục tù nên tôi rất hiểu nỗi thương nhớ tới quay quắt của người trong lao ngục khi nghĩ về gia đình cha mẹ anh chị em”.

Cám ơn cô Phượng và cô Ngọc Anh đã thổ lộ tâm tình. Chúng tôi cũng rất đồng cảm với nhiều anh em đã và đang hoạt động chống Cộng tại hải ngoại, đã không dám về Việt Nam chịu tang cha mẹ, gia đình vì sợ nhà nước cộng sản sẽ khó dễ, giam giữ. Những “đám tang khác mọi đám tang” như thế sẽ vẫn còn xảy ra nếu tà quyền vẫn còn thao túng trên quê hương.

Nói thêm về Nguyễn Bắc Truyển, người tù nhân lương tâm này đã được trao giải Stefanus vào năm ngoái. Tổ chức Stefanus Alliance International của Na Uy hôm 20 tháng 10, 2020 đã làm buổi lễ trao giải thưởng khiếm diện cho ông Truyển.  Đây là giải trao cho người dám thể hiện lòng dũng cảm, dám tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo và “Human Rights” của con người. Trước đây vinh dự này đã trao cho các nhân vật tại Iraq, Bắc Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ… Ông Nguyễn Bắc Truyển là một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, một thành viên của Hội Ái Hữu Tù Nhân Lương Tâm và Hội Anh Em Dân Chủ. Năm 2017, ông Truyển cùng một số nhà hoạt động khác bị bắt và bị đưa ra xét xử. Sau đó, ông bị tuyên án 11 năm tù và 3 năm quản chế với cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Cô Bùi Thị Kim Phượng, vợ của Nguyễn Bắc Truyển từ Sài Gòn cho biết cô rất xúc động và tự hào về chồng mình. Cho dù bản thân Phượng và các chị đã phải chịu sự trả thù hết sức bất nhân của nhà cầm quyền Việt Nam. Trong khi đó báo chí Cộng Sản cùng nhau toa rập chửi rủa, gọi giải thưởng này là việc Liên minh quốc tế Stefanus “tấu hài” về Nguyễn Bắc Truyển.

 

Chúng tôi sinh hoạt trong Phong Trào Yểm Trợ Dân Chủ Quốc Nội Toronto, rất gần gũi thân thiết với vợ chồng Nguyễn Bắc Truyển, rất cảm phục tinh thần dấn thân và hy sinh của họ.

Hôm nay không thể tham dự ngày tang lễ của mẹ anh Truyển, chúng tôi xin gởi vòng hoa và thắp nén hương lòng, cầu nguyện cho hương hồn thân mẫu anh được an nghỉ ở cõi Phật. Cầu cho những anh hùng anh thư thời đại và thân quyến của họ luôn được chân cứng đá mềm, vững lòng chiến đấu, cầu cho quê hương Việt Nam. Xin được kết thúc nỗi niềm bằng bài thơ sau đây:

Gởi con ngục tù

 Bên biển vắng hôm nay

tóc trắng mẹ tung bay

lưng còng mẹ cúi xuống

mong manh tấm thân gầy

 Trên đôi mi sầu đầy

nỗi buồn mẹ không khuây

nhớ con trong ngục tối

xót thân con tù đày

 Nhớ mới ngày đâu đây

con thanh niên hăng say

đấu tranh cho đất nước

nay run rẩy hao gầy

 Cai ngục đánh hằng ngày

chịu muôn ngàn đắng cay

vẫn không sờn chí khí

tấm lòng vẫn thẳng ngay

 Uất khí mãi còn đây

sóng biển buồn theo mây

cuốn trôi ngày mộng đẹp

dẫu nhiệt huyết tràn đầy

 Chắp tay mẹ kêu nài

Thượng Đế hãy lắng tai

nghe dân oan rên siết

thấu ước nguyện người ngay

 Xin cho có một ngày

chim trắng đậu trên tay

thanh bình trên đất nước

lúa chín vàng rợn bay

 Mẹ con được xum vầy

Tự Do về nơi đây

líu lo bài hát mới

trên môi em thơ ngây….

Nguyễn Ngọc Duy Hân

NGĂN KẺ DỐT LÀM THẦY

Lương Văn Can

NGĂN KẺ DỐT LÀM THẦY

Chuyện kể rằng Khổng Tử có học trò tên Mỗ, người nước Đằng. Mỗ học vào loại trung bình – yếu, song luôn luôn tự cho mình là giỏi. Học được vài năm, Mỗ xin về nước vì tưởng rằng đã học hết đạo của thầy.

Tử Cống thấy vậy hỏi thầy:

– Người ấy về nước rồi làm quan có sao không?

Khổng Tử rung đùi đáp: “Không sao”.

Lại hỏi tiếp:

– Làm tướng có được không?

Khổng Tử vuốt râu đáp: “Được”.

Lại hỏi tiếp:

– Thế nhỡ hắn về làm giặc?

Khổng Tử vừa ngáp vừa trả lời: “Cũng không hại gì!”

Bấy giờ Tử Cống mới yên tâm mà thủng thẳng bạch với thầy:

– Nghe nói Mỗ ấy xin về nước chỉ để làm thầy, mở trường dạy học!

Khổng Tử vừa nghe câu đó, bỗng giật nẩy mình. Thế là chân không kịp xỏ giày, áo không kịp buộc giải, vội vàng chạy bắn ra khỏi cổng!

Học trò đuổi theo hỏi:

– Thầy chạy đi đâu?

Khổng Tử vừa thở vừa đáp: “Sang ngay nước Đằng”.

Học trò lại hỏi:

– Thầy sang nước Đằng làm gì?

Khổng Tử vẫn vừa chạy vừa trả lời: “Sang ngăn không cho tên Mỗ này làm thầy. Hắn có làm quan thì cùng lắm chỉ hại đến một ấp. Làm tướng cũng chỉ hại đến một thành. Thậm chí có làm giặc cũng chưa chắc đã hại nổi ai. Nhưng nếu hắn làm thầy thì sẽ hại đến muôn đời. Ngay cả ta cũng khó mà tránh khỏi liên luỵ !!!”

* Nguồn: “Luận ngữ tân thư”

– Phạm Lưu Vũ