Happy Thanksgiving

Tạ ơn Chúa hôm nay ta còn sống

Mắt còn nhìn, còn đọc được e-mail

Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu

Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả!

Tạ ơn Thân hữu gần xa

Hàng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều

E-mail nhận được bao nhiêu

Là bao tình cảm thương yêu chan hòa!

SỰ CHẾT – MỘT BẢN ÁN CÔNG KHAI

SỰ CHẾT – MỘT BẢN ÁN CÔNG KHAI

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn

Người ta vui mừng khi được thoát chết.  Có khi ăn mừng liên hoan nữa.  “Sắp chết thì lo âu, nhưng được lành bệnh thì vui mừng” là tâm tình chung của con người mà ngôn sứ Isaia đã nói trong chương 38.
 
Phải chết là một nỗi đau khổ của con người vì là án phạt công khai nặng nề của Thiên Chúa sau khi nguyên tổ sa ngã phạm tội (St 3).  Con người phải cúi mặt đau khổ và chấp nhận thân phận của mình từ nay về sau.  Sẽ mãi vẫn là thân phận thụ tạo thôi dù họ có địa vị cao sang hay tri thức cao vời đến mấy đi nữa.  Không có hình ảnh nào diễn tả đúng nghĩa nhất thân phận nào cho bằng hình ảnh bụi đất.”  Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19b).  Bụi đất của hôm nay và bụi đất của ngày mai chính là sự mỏng giòn và giới hạn rõ rệt của con người đã bị sự chết chi phối.
 
Như vậy ta đã rõ, bản án chỉ dành cho tội nhân.  Tất cả chúng ta đều sinh ra trong môi trường tội lỗi và chủ động phạm tội chẳng lẽ không lãnh bản án sao?  Sự chết là một thực tại minh chứng cho điều này.
 
Trong đời sống con người, sự chết bao hàm một bí ẩn rất lớn về mỗi cá nhân, về cõi vô hình, về tình thương xót của Thiên Chúa.  Điều mà đôi khi người ta quên lãng trong thực tế thì cần phải có một biến cố nào đó nhắc nhở cho.  Biến cố ấy phải có một sức mạnh lớn nhất, ghê sợ nhất và người ta vô phương chống chọi.  Đấy là một bản án kết tội phải chết.  Bản án chọc thẳng vào sự nghiệp và những sự đầu tư tốn kém nhất của con người.  Thật là tiếc xót và đau buốt lắm chứ.  Những vụ tịch thu tài sản vì tham nhũng, hối lộ, buôn lậu và kết án tử hình giống như thế đó.  Thường thì những vụ án này người ta đưa ra xét xử công khai để tội phạm lãnh một bản án cụ thể.
 
Tuy nhiên, dưới cái nhìn của Kitô giáo, chúng ta không hoàn toàn bi quan trước bản án của sự chết do Thiên Chúa muốn.  Vì “Thiên Chúa đánh phạt rồi lại xót thương, Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống.”  Dù bản án sự chết thuộc về kẻ bất lương nhất, tội lỗi nhất thì chúng ta cũng không được phép đứng về phía quan tòa xét xử, vì Thiên Chúa không đặt chúng ta làm quan án xét đoán anh em, mà phải luôn mặc lấy tâm tình của Thánh Phaolô trong “bài ca đức mến”:
 
Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu,
Không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc,
Không làm điều bất chính, không tìm tư lợi,
Không nóng giận, không nuôi hận thù,
Không mừng khi thấy sự gian ác,
Nhưng vui khi thấy điều chân thật.
Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả,
Hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.
Đức mến không bao giờ mất được
” (1 Cr 13,4-8).

 
Bình thường đấy không phải là tâm tình tự nhiên của tất cả mọi người.  Bản chất con người đã mang theo sự chết nên cũng thích hùa theo, thích nuôi dưỡng trong mình những sự chết chóc đủ loại.  Một thực tại đau lòng Thiên Chúa ngay cả khi chưa có bản án sự chết của Ngài.  Thực tế này lại được tái diễn nhiều lần trong lịch sử nhân loại và đỉnh cao là cái chết của Đức Giêsu mà bản án do con người chúng ta ký cho Ngài!      
       
Vậy dưới cái nhìn của người Do thái, Đức Giê-su phải lãnh bản án sự chết một cách công khai là hợp lý, vì tội Ngài chồng chất (Mc 14,53–15,1-20).  Thánh sử Máccô ghi rõ: “Bản án xử tội Người viết rằng: “Vua người Do thái” (Mc 15,26).  Họ hoàn toàn hãnh diện và thỏa mãn về việc mình kết tội cho Đức Giêsu phải chết.  Xem ra bản án của họ đã được vua quan cho đến các vị tôn giáo ký thì ngay cả Thiên Chúa cũng thua!  Ông tổng trấn Philatô đã không hề thay đổi ý định của mình: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19,22).
 
Xem ra những quan niện và lý luận của người Do Thái về tội lỗi theo mạc khải Kinh Thánh đúng lắm.  Nên không lạ gì Đức Giêsu bị kết án.  Có tội thì phải chết, nhất là tội xúc phạm đến Thiên Chúa thì không thể tha được.  Đức Giêsu là một điển hình.  Một nhân vật có tiền án tiền sự trong dân và được ghi vào sổ bìa đen trong hàng ngũ tôn giáo, chính trị!
 
Nếu có cùng quan niện và suy nghĩ như người Do Thái về tội lỗi thì thật là dễ hiểu về bản án sự chết.  Kẻ dữ phải chết là đúng.  Nhưng còn kẻ công chính thì sao?  Kẻ vô tội thì sao?
 
Danh mục người công chính thì đông lắm.  Kẻ vô tội thì kể được một vài thôi.  Nhưng tất cả vẫn chịu chung một bản án.  Thật là khó hiểu.  Thật là mầu nhiệm lạ lùng.  Không thể chấp nhận được.
 
Trong chương trình của Thiên Chúa thì cái chết của Đức Giêsu cũng là một bản án công khai, nhưng không phải là bản án kết tội Ngài, vì ngài là Đấng vô tội, mà là một bản án công khai kết tội con người chúng ta.  Vì thế mà Ngài đã bị liệt vào hàng tội nhân (x. Is 53,12).  Không những thế mà tất cả mọi sự xấu xa và tội lỗi của nhân loại trút lên con người Ngài, nên Ngài là: “Con chiên gánh tội thiên hạ.”  Thiên Chúa đánh phạt Đức Giêsu: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32).  Chén đắng, thập tự của Ngài do Thiên Chúa trao như một bản án kết tội từ từ mà Ngài không được xin tha, không được từ chối: “Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền tội cho chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1 Ga 2,2).  “Thánh giá Đức Giêsu vừa là sự mạc khải về sự rộng lớn bao la và tính nặng nề của tội lỗi của toàn thể nhân loại, vừa tỏ bày sự bao la của tình yêu Thiên Chúa” (Nol Quesson).

Cái chết của Đức Giêsu là một lời giải thích về tội lỗi, về cái chết của những người công chính, người vô tội. “Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?” (Lc 23,31).  Cái chết của Đức Giêsu vừa tố cáo vừa dung tha cho những sai lầm của con người: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34); vừa thông cảm với nỗi oan nghiệt, nỗi bất công bao người đang gánh chịu hôm nay.
 
Người Kitô hữu đón nhận cái chết trong chương trình của Thiên Chúa để mở rộng tầm nhìn và tăng thêm niềm xác tín vào ơn cứu độ của Đức Giêsu, đồng thời nhìn cái chết của tha nhân (trong đó có cả kẻ ác, kẻ thù của mình) cũng có một giá trị nào đó với mình theo tương quan của ơn cứu rỗi.  Đó là chiều kích cộng đồng cơ bản trong nhân loại, nơi ấy có hình ảnh của Giáo Hội khải hoàn, Giáo Hội lữ hành và Giáo Hội đang thanh luyện.

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn

Đọc Hồi ký của Giáo Sư Vũ Quốc Thúc: Nhìn từ khía cạnh đời sống tâm linh.

Đọc Hồi ký của Giáo Sư Vũ Quốc Thúc: Nhìn từ khía cạnh đời sống tâm linh.

  Tác giả: Phùng văn Phụng

Đọc xong cuốn “Thời Đại Của Tôi” “Đời Tôi trải qua các thời biến” do Người Việt xuất bản năm 2010, tôi đã nhìn thấy sự cố gắng phi thường, làm việc không mệt mỏi của Giáo Sư cùng với tấm lòng yêu mến quê hương đất nước thiết tha. Nhưng thời thế đã dẫn đưa con người tài năng hiếm có và có lòng với đất nước ấy phải rời bỏ nước Việt Nam yêu quí ra đi và sống định cư ở Pháp.

Tôi đã học Giáo Sư Vũ Quốc Thúc ở Đại Học Luật Khoa Sài Gòn niên khóa 1963-1964.

Giáo Sư sinh năm 1920 tại Nam Định,Bắc Việt. Tiến sĩ Luật, Thạc sĩ Đại Học Kinh tế ở Pháp. Giám Đốc trường Luật Hà nội (1951-1954). Khoa Trưởng Đại học Luật Khoa Sài gòn (1957-1963). Giáo sư các viện Đại học Đà Lạt, Sài gòn và Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (1954-1975). Giáo Sư Viện Đại Học Paris XII (1978-1988)

Từ năm 1946 đến 1975 từng giữ các chức vụ: Ủy Viên Hành Chánh Kháng Chiến cấp tỉnh, Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục, Thống Đốc Ngân hàng Quốc Gia , Cố Vấn Phủ Tổng Thống, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia, Quốc Vụ Khanh đặc trách Tái Thiết và Phát Triển…

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Giáo sư cũng như hầu hết trí thức miền Nam đều rơi vào hoàn cảnh tuyệt vọng giống nhau. Thất nghiệp, bị theo dõi, bị làm khó dễ, nơm nớp lo sợ không biết lúc nào bị bắt đi cải tạo (đi tù) nếu còn ở ngoài đời. Đa số người trí thức miền Nam lúc bấy giờ đều sống trong lo âu, hồi hộp vì họ không ít thì nhiều đều có dính líu với chế độ cũ, mà cộng sản gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”. Giáo sư Vũ Quốc Thúc không thể thoát khỏi tình trạng đó.

Trong sách trên, Giáo Sư Vũ Quốc Thúc viết: “ Tôi không theo Thiên Chúa Giáo, nhưng cũng không phải là một Phật tử. Tôi theo đúng truyền thống Khổng giáo của gia đình không quy y Phật giáo, mặc dầu chấp nhận Phật giáo; không theo Thiên Chúa Giáo nhưng vẫn tôn trọng Thiên Chúa Giáo… Sau khi bị bắt vì mưu toan vượt biên tôi thấy tương lai của mình u ám vô cùng…

Hằng ngày mặc dầu tôi không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo tôi đã đến nhà thờ Đức Bà… Tôi cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ, xin Đức Mẹ run rủi cho gia đình tôi được thoát khỏi Việt Nam toàn vẹn. ..Hôm chủ nhật đó nếu tôi không lầm là ngày lễ Pentecôte, tôi đã đạp xe lên nhà thờ Bình Triệu. (1)

Tôi ngồi trước tượng Đức Mẹ và tôi lẩm nhẩm cầu nguyện… Khi tôi vừa dứt lời cầu nguyện bỗng thấy tượng Đức Mẹ sáng rực lên. Tôi cần phải nói rằng hôm đó trời ở ngoài cũng âm u vì vào mùa mưa…Khi tôi cầu nguyện xong bỗng thấy tượng Đức Mẹ sáng rực lên từ trên xuống dưới có lẽ khoảng vài giây đồng hồ thôi. Đặc biệt trên gò má tay mặt của bức tượng có một giọt nước mắt long lanh. Sau đó tôi nhìn kỹ thì trên gò má bức tượng không thấy có gì cả. Như  vậy, giọt nước mắt mà tôi nhìn thấy chỉ  là  một ảo ảnh. Từ  lúc đó  trở  đi, suốt buổi  chiều tôi thấy trong lòng hồi hộp như mình đang chờ  đợi một chuyện gì sắp xảy ra. (2)

Sau đó Giáo Sư mở đài BBC nghe lén, đã nghe thấy ông Raymond Barre một người cùng thi Thạc sĩ năm 1950 được Tổng Thống Pháp là Valéry Giscard d’Estaing cử làm Thủ Tướng và Giáo sư đã  thảo bức thơ gởi Thủ Tướng Pháp kể lại hoàn cảnh của mình đang lâm vào sự khốn khó, nhờ đó ông Raymond Barre mới biết và đã can thiệp với Thủ tướng Việt Nam lúc bấy giờ là ông Phạm văn Đồng để giúp đỡ gia đình của Giáo sư sang Pháp.

Giáo sư Vũ quốc Thúc viết tiếp: “ Sự linh ứng của Đức Mẹ Bình Triệu khiến cho tôi tìm được lối thoát tình trạng bế tắc. Bổn phận của tôi rồi đây là phải thi hành đúng lời nguyện của mình trước Đấng Thiêng Liêng”.(3)

              GS Vũ Quốc Thúc đã gia nhập Giáo Hội Công Giáo (4)

Paris, Hôm 8.4.2012, Lễ Phục Sinh, Giáo xứ Việt Nam Paris đã đón nhận 25 tân tòng nhập đạo, trong đó có Giáo sư Vũ quốc Thúc. Trong bữa tiệc tiếp tân chúc mừng, do Hội Ái Hữu Đại Học Đà Lạt tại Âu Châu, quy tụ các cựu Giáo Sư và Sinh Viên Viện Đại Học Đà Lạt, tổ chức sau lễ rửa tội, ông đã nhắc đến ba điều ông đã thấy và đã tin. Đặc biệt: Ông đã thấy ơn Đức Mẹ.

Ông muốn xin được rửa tội công khai và trang trọng theo đủ các nghi thức của Giáo hội, như mọi tân tòng khác, như một biểu lộ và dấu chứng làm chứng nhân, công khai công bố đức tin của mình.

Nhân dịp này trong niềm vui chung của cộng đoàn Giáo Xứ đại gia đình Thụ Nhân trên khắp thế giới và riêng tại Paris, các cựu Giáo sư, sinh viên và gia đình thuộc Viện Đại học Đà lạt đã tổ chức một bửa tiệc chúc mừng lễ rửa tội gia nhập Giáo Hội Công Giáo của Giáo sư Jean Paul Vũ Quốc Thúc, vừa để chúc mừng sinh nhật thứ 92 của Giáo sư. Trong bửa tiệc tiếp tân chúc mừng, Giáo Sư  đã nhắc đến ba điều ông đã thấy và đã tin. Đặc biệt ông đã thấy ơn của Đức Mẹ.

      Tác giả: Phùng văn Phụng

               17-04-2012

  • 1) trang 540 Sách “Thời Đại Của Tôi” cuốn II
  • 2) trang 542 Sđd
  • 3) trang 543 Sđd (người viết in đậm và in nghiêng).
  • 4) Trong bài Gs Vũ Quốc Thúc đã cùng 24 tân tòng khác gia nhập Giáo Hội Công Giáo của tác giả Trần văn Cảnh đăng trong Việt Catholic ngày 12 – 04 – 2012        xem thêm

2 luật sư đưa đơn kiện ‘tào lao’ về gian lận bầu cử phải trả hơn $180,000 án phí

2 luật sư đưa đơn kiện ‘tào lao’ về gian lận bầu cử phải trả hơn $180,000 án phí

November 23, 2021

DENVER, Colorado (NV) – Một chánh án ở Colorado hôm Thứ Hai, 22 Tháng Mười Một, ra phán quyết rằng hai luật sư đưa đơn kiện tại tòa về kết quả bầu cử 2020, phải trả hơn $180,000 án phí cho những người bị họ kiện, nói rằng đơn kiện nhằm “lôi kéo thành phần quần chúng nhẹ dạ và tạo sự bất ổn xã hội.”

Theo bản tin của CNN, phán quyết của chánh án N. Reid Neureiter là phản ứng mới nhất của tòa án liên ban nhiều nơi trên nước Mỹ về đơn kiện của các luật sư ủng hộ cựu Tổng Thống Donald Trump nhằm dùng tòa án để đưa ra các luận điệu sai trái trong những ngày ngay sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2020.

Nhãn ‘đã bỏ phiếu’ tặng cử tri ở Denver, Colorado. (Hình minh họa: Marc Piscotty/Getty Images)

Luật sư Gary D. Fielder và Ernest John Walker sẽ phải trả tiền luật sư và các án phí khoảng $50,000 cho Facebook (nay là Meta), chừng $63,000 cho công ty Dominion Voting Systems, chừng $63,000 cho trung tâm bất vụ lợi Center for Tech and Civic Life, hơn $6,000 cho tiểu bang Pennsylvania và gần $5,000 cho tiểu bang Michigan.

Trong phán quyết, Chánh án Neureiter viết rằng “Những người này phải nhận trách nhiệm về các hành động sai trái của mình,” nói thêm rằng đơn kiện của hai luật sư này là sự phỉ báng kẻ khác.

Ông nói rằng “Thay vì dùng hệ thống tòa án để có được sự sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho những sai trái, đơn kiện này được dùng để lôi kéo thành phần quần chúng nhẹ dạ và tạo sự bất ổn xã hội. Với mục đích đó, đơn kiện là hành vi lạm dụng hệ thống pháp lý và cản trở hoạt động guồng máy chính quyền.”

Hai luật sư nói trên đưa đơn kiện vào cuối Tháng Mười Hai 2020, nhằm yêu cầu tòa cho có “đơn kiện tập thể của cử tri Mỹ” đòi hủy bỏ kết qua bầu cử. Chánh án Neureiter lúc đó viết phán quyết dài 68 trang bác bỏ đơn kiện này.

Hồi Tháng Tám, một chánh án ở Michigan ra lệnh trừng phạt hai luật sư của ông Trump là Sidney Powell và Lin Wood, ra lệnh cho họ phải bồi thường án phí cho thành phố Detroit và các giới chức tiểu bang Michigan. (V.Giang)

GS Vũ Quốc Thúc: ” Phải chọn con đường vì dân tộc”

GS Vũ Quốc Thúc: ” Phải chọn con đường vì dân tộc”

05:06 | Posted by BVN1

Thanh Phương

Giáo sư Vũ Quốc Thúc qua đời

GS Vũ Quốc Thúc

Theo tin từ gia đình, giáo sư Vũ Quốc Thúc vừa qua đời sáng hôm qua, 22/11/2021, tại Pháp, thọ 101 tuổi.

Sinh năm 1920, giáo sư Vũ Quốc Thúc là một kinh tế gia và một chính khách, không những có nhiều đóng góp trong lĩnh vực giáo dục ở miền nam Việt Nam trước năm 1975, mà còn từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm : Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Quốc vụ khanh đặc trách Tái thiết và Phát triển….

Đặc biệt, giáo sư Vũ Quốc Thúc còn là đồng tác giả hai bản phúc trình Stanley-Vũ Quốc Thúc (1961) và Phúc trình Lilienthal-Vũ Quốc Thúc (1968) về tái thiết Việt Nam thời hậu chiến. Ông còn viết rất nhiều sách và khảo luận về các vấn đề chính trị, kinh tế bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Nhờ sự can thiệp của thủ tướng Pháp Raymond Barre, bạn cùng dự thi văn bằng Thạc sĩ khóa năm 1950 với ông, giáo sư Thúc đã được qua định cư tại Pháp năm 1978, sống tại Nanterre, ngoại ô Paris và làm giáo sư môn kinh tế tại Đại học Paris từ năm 1978 cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1988.

Tập hồi ký của giáo sư Vũ Quốc Thúc có tựa đề “Thời đại của tôi”, gồm 2 cuốn “ Nhìn lại 100 năm lịch sử “, xuất bản năm 2009 và “Đời tôi trải qua các thời biến”, xuất bản năm 2010, đã được dịch sang tiếng Anh và được xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 2014.

Theo thông báo của gia đình, thánh lễ cầu nguyện cho giáo sư Vũ Quốc Thúc sẽ được cử hành ngày 25/11/2021 lúc 11 giờ tại Giáo xứ Việt Nam tại Paris, 2 Villa des Epinettes 75017 Paris. Lễ hóa táng sẽ được cử hành ngày 1/12/2021.

RFI Tiếng Việt xin thành kính chia buồn với gia đình giáo sư Vũ Quốc Thúc.

RFI tiếng Việt

Tập hồi ký của Giáo sư Vũ Quốc Thúc có tựa đề “Thời đại của tôi” (gồm 2 cuốn “Nhìn lại 100 năm lịch sử “(xuất bản năm 2009) và “Đời tôi trải qua các thời biến” (xuất bản năm 2010) đã được sang tiếng Anh và vừa được xuất bản tại Hoa Kỳ.

Đây là một sự kiện đáng chú ý bởi vì Giáo sư Vũ Quốc Thúc không những có nhiều đóng góp trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam trước năm 1975, mà còn từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm: Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Quốc vụ khanh đặc trách Tái thiết và Phát triển…

Đặc biệt, GS còn là đồng tác giả hai bản phúc trình Stanley-Vũ Quốc Thúc (1961) và Phúc trình Lilienthal-Vũ Quốc Thúc (1968) về tái thiết thời hậu chiến. Ấy là chưa kể rất nhiều sách và bài khảo luận về các vấn đề chính trị, kinh tế bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Sinh năm 1920, tức là năm nay đã 94 tuổi, có thể nói GS Vũ Quốc Thúc là một trong số hiếm hoi các nhân chứng trực tiếp của thời cuộc Việt Nam suốt gần 100 năm qua, từ thời chế độ Pháp thuộc năm 1900 cho đến thời chế độ Cộng sản, cụ thể là đến năm 2000. Toàn bộ 100 năm lịch sử đó đã được Giáo sư tóm gọn trong cuốn đầu của tập hồi ký, qua cái nhìn của người trong cuộc.

Khác với cuốn đầu, gần như thuần túy mang tính biên khảo, cuốn thứ hai mới thật sự là hồi ký Vũ Quốc Thúc, vì trong đó ông trình bày rất nhiều chi tiết về cá nhân, về gia đình, dòng tộc và sự nghiệp chính trị của ông. Nhưng Giáo sư Vũ Quốc Thúc cũng không quên đưa vào hồi ký những suy tư, những trăn trở của ông về thời cuộc Việt Nam trước đây và hiện nay.

Ngày 08/12/2014 vừa qua, chúng tôi đã được Giáo sư Nguyễn Thái Sơn dẫn đến nhà riêng của Giáo sư Vũ Quốc Thúc ở Nanterre, nằm không xa khu La Défense, ngoại ô Paris, để phỏng vấn ông nhân dịp cuốn hồi ký được xuất bản bằng tiếng Anh tại Hoa Kỳ. Tuy năm nay đã 94 tuổi, nhưng bầu nhiệt huyết tuổi thanh xuân, lòng yêu nước thương nòi, nỗi lo cho tiền đồ dân tộc hầu như vẫn nguyên vẹn trong con người Giáo sư Vũ Quốc Thúc. Càng nói giọng của ông càng hùng hồn, lập luận càng khúc chiết, rành mạch, tưởng như Giáo sư vẫn còn đứng trên bục giảng đường đại học năm xưa.

Trích đoạn phỏng vấn:

GS Vũ Quốc Thúc: Thực ra, khi tôi viết cuốn hồi ký kể về nhiều câu chuyện liên quan đến bản thân và gia đình mình, tôi không hề nghĩ đến khả năng cuốn hồi ký đó được phổ biến cho nhiều người ngoài gia đình đọc.

Mục đích của cuốn hồi ký này là để cho cháu chắt tôi hiểu được tại sao ông cụ của mình đã phải rời bỏ quê hương sang định cư bên Pháp, khiến cho chúng mình bây giờ trở thành công dân Pháp, xem Pháp là quê hương chính, còn Việt Nam là quê hương thứ hai, mặc dù chúng ta không bao giờ quên cái quê hương thứ hai đó. Tôi muốn cho cháu chắt tôi biết trong hoàn cảnh nào tôi đã phải bỏ nước ra đi, để thấy tâm tư của một bậc tiền bối, đâu phải là ra đi chỉ mưu cầu những an ninh, lạc thú ở ngoại quốc, mà trái lại luôn luôn hướng về quê cha đất tổ.

Thành ra hồi ký tôi chỉ viết bằng tiếng Việt, xuất bản từ Mỹ vào năm 2010, tức là cách đây đã 4 năm rồi. Nếu tôi có ý đồ vận động dư luận các nước Tây Phương, nhất là ở Âu Châu hay là Mỹ, thì tôi đã viết bằng tiếng Pháp rồi, vì tôi đã được đào tạo ở Pháp trong bao nhiêu năm rồi, viết bằng tiếng Pháp dễ hơn! Chứ còn biểu tôi viết bằng tiếng Anh thì, thú thật, trình độ Anh ngữ của tôi còn kém lắm! Vì vậy nên có chuyện dịch ra tiếng Anh này.

Khi được đề nghị cho dịch cuốn hồi ký sang tiếng Anh thì tôi thấy không có gì trở ngại cả, bởi vì trong cuốn hồi ký của tôi, những sự việc xảy ra như thế nào thì tôi viết y như thế, không thêm, không bớt. Tôi tự xem mình như là một nhân chứng được mời ra trước tòa án lịch sử, tòa án dư luận trong nhiều thế hệ. Khi ra trước một tòa án như thế, nhân chứng phải tuyên thệ: “Tôi xin thề nói sự thực, tất cả sự thực và chỉ có sự thật”. Tôi đã áp dụng đúng phưong châm dó trong cuốn hồi ký, không thêm mắm thêm muối cốt để tự mình khoa trương mình.

Trong hai cuốn hồi ký được dịch ra thì tôi chú trọng đến quyển hai, vì trong đó tôi kể nhiều chuyện riêng tư, chứ còn trong quyển một, tôi chỉ kể lại lịch sử, như là một thầy giáo giảng bài cho học sinh: Đây là những gì tôi đã được biết, đã được phổ biến, mà tôi còn nhớ để thuật lại, những điều mà tôi tin đó là sự thực.

RFI: Giáo sư có hy vọng là cuốn hồi ký này, khi được dịch sang tiếng Anh và xuất bản tại Hoa Kỳ, sẽ có tác động phần nào đến dư luận Mỹ, để họ hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của Việt Nam trước đây và hiện nay?

GS Vũ Quốc Thúc: Tôi không dám ngông cuồng đến độ tin rằng cuốn sách của tôi sẽ làm sáng tỏ hơn nhiều chuyện hãy còn mờ ám trong lịch sử, nhất là trong quan hệ Việt – Mỹ. Nhưng tôi thấy rằng ở Hoa Kỳ, trước khi ra một biện pháp gì đó, hay thay đổi một chính sách nào đó, người ta thường thăm dò dư luận. Tôi coi việc phổ biến hồi ký của tôi phần nào như là một cách để họ thăm dò dư luận, không chỉ trong người Mỹ gốc Việt, mà cả những người Mỹ khác và dư luận thế giới.

Tại sao? Là tại vì trong cuốn hồi ký của tôi, ngoài những chuyện mà tôi kể lại, mà có thể một số người nay mới biết về chi tiết, tôi còn có những suy tư về những chuyện trọng đại, như chính sách chống cộng, chiến tranh lạnh, việc Hoa Kỳ can thiệp…

Tôi hy vọng khi hồi ký được dịch sang Anh ngữ thì sẽ có nhiều người biết hơn, chứ còn nếu chỉ là bản tiếng Việt thì chỉ có một số nhỏ người Việt tha thiết với các vấn đề của dân tộc mới đọc thôi. Tôi cũng hy vọng là khi sách được dịch sang Anh ngữ, được phổ biến trong giới sành Anh ngữ, thì chính đồng bào Việt Nam ở quốc nội sẽ quan tâm hơn đến. Tầng lớp trẻ, nhất là những người du học ở nước ngoài, có khi đọc tiếng Anh còn dễ hơn đọc tiếng Việt và khi họ đọc được bản tiếng Anh, có thể họ sẽ trở lại tìm đọc nguyên bản tiếng Việt

Còn cuốn sách của tôi sẽ có tác động gì đến chính sách của Hoa Kỳ hay không, thì quả thật tôi không dám tin như thế, vì Hoa Kỳ có chính sách của họ, họ cứ làm. Ở đây họ chỉ thăm dò dư luận. Có thể họ sẽ dùng cuốn sách của tôi để biện minh cho một số biện pháp mà họ sẽ thi hành. Đó là hy vọng của tôi thôi.

RFI: Quan hệ Mỹ-Việt là vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay, nhất là vì giới lãnh đạo Hà Nội hiện nay có vẻ muốn dựa nhiều hơn vào Hoa Kỳ và Hoa Kỳ thì muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam, cụ thể gần đây họ đã bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam. Trong hồi ký, Giáo sư đã nói nhiều đến thái độ của Mỹ trong thời gian chiến tranh Việt Nam, nhất là sau khi đã ký hiệp định Paris để có thể rút quân. Khi miền Bắc tấn công miền Nam, tức là vi phạm hiệp định Paris, Hoa Kỳ đã không có phản ứng gì, khiến miền Nam lọt vào tay Cộng sản. Nhìn lại giai đoạn lịch sử ấy, Giáo sư có nhận định như thế nào?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Hoa Kỳ, cũng như tất cả các cường quốc khác, phải chú tâm trước hết đến uy tín quốc tế của họ, rồi đến những quyền lợi thực tế của họ. Thành ra, khi Hoa Kỳ can thiệp vào bất cứ nơi nào trên thế giới, mục đích trước tiên của họ là bảo vệ uy tín của đệ nhất siêu cường thế giới hiện nay, rồi nghĩ đến những quyền lợi thực tiễn, như là về dầu hỏa, về xuất cảng…

Chứ còn bảo rằng Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam để tranh đấu cho Việt Nam thì đời nào! Cái đó về sau thì có thật đấy, tức là khi mà người ta gởi quân lính sang, trợ giúp khí giới, thì tất nhiên là người ta cũng muốn cho mình đạt được một kết quả nào đó. Chứ chính mình thì đời nào chúng ta chấp nhận cho ngoại quốc xen lấn vào, để rồi mình phải thi hành đường lối của ngoại quốc!

Chính quyền nào ở nước ta cũng vậy, Không một chính quyền nào, dù thiên tả hay thiên hữu, lại quên các vấn đề của dân tộc. Dù không công khai nói là bảo vệ quyền lợi dân tộc, nhưng trong thâm tâm, bất cứ chính quyền nào cũng phải nghĩ đến quyền lợi dân tộc.

Đâu phải một khi người ta nắm quyền được chính quyền là người ta quên hẳn quyền lợi dân tộc. Việt Nam mình đâu phải lúc nào cũng nhắm mắt theo các cường quốc! Bao giờ mình cũng ý thức được quyền lợi trường tồn của dân tộc. Tôi tin là như thế. Đã là người Việt thì không thể nào phản bội quyền lợi dân tộc! Dù muốn dù không, tiềm ẩn trong trái tim người ta vẫn có lòng yêu nước, vẫn nhớ lại những truyền thống oai hùng của dân tộc mình. Không ai dám phản bội Tổ quốc một cách trắng trợn.

RFI: Thưa Giáo sư, trong bối cảnh mà hiểm họa xâm lăng từ Trung Quốc ngày càng rõ nét, việc Hoa Kỳ bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam là một điều tốt?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Việc mình trông cậy hoàn toàn vào ngoại bang để bảo vệ quyền lợi dân tộc là chuyện bất đắc dĩ. Trong hoàn cảnh lịch sử mà mình chưa đủ sức để tự bảo vệ, thì mình phải dựa vào một ngoại bang. Nhưng điều trước tiên là mình phải bồi dưỡng nội lực của mình đã, để có thể tự vệ được.

Khi nói bồi dưỡng lực lượng của chính mình, thì không chỉ có lực lượng quân sự mà thôi. Bây giờ ta có thể được Hoa Kỳ bán chịu một số vũ khí hiện đại, nhưng ta đâu có thể hưởng cái đó mãi? Đến một lúc nào đó chúng ta phải trả nợ.

Mà vũ khí là để làm gì, để giết ai? Tôi chỉ sợ là Việt Nam mình, nếu không cẩn thận, sẽ lại rơi vào tình trạng như xưa, tức là có hai phe trong nhân dân, một phe thì muốn dựa vào Trung Hoa, phe thì muốn dựa vào Hoa Kỳ. Hai phe đó tất nhiên là xung đột nhau. Hoa Kỳ sẽ dùng hai phe đó để sử dụng các vũ khí sát thương của họ. Chúng ta phải cẩn thận.

Nước ta còn nghèo, còn yếu, nếu mà chỉ nghĩ đến chuyện đánh nhau, thì chẳng qua là chúng ta xuất khẩu xương máu. Trước khi phải sử dụng đến vũ khí hiện đại thì mình phải dùng đến ngoại giao. Trong thế yếu hiện nay của Việt Nam, mình chỉ có thể len lõi giữa những xung đột của các cường quốc, vì quyền lợi của họ có khi là mâu thuẫn nhau, phải tìm cách lái cho họ đi đến chỗ phải bảo vệ chúng ta trên các diễn đàn ngoại giao.

RFI: Tránh một cuộc chiến tranh với Trung Quốc có vẻ cũng là đường lối hiện nay của các nhà lãnh đạo Hà Nội, phải làm hòa với Trung Quốc sau vụ khủng hoảng giàn khoan Hải Dương 981. Nhưng đồng thời Việt Nam cũng đang cố tranh thủ thêm sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Trong cuốn hồi ký, Giáo sư gọi đó là chính sách đu dây giữa các cường quốc. Nhưng chính sách có nguy cơ sẽ đưa Việt Nam vào thế kẹt?

Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Trong vụ xung đột về giàn khoan, kết quả là Trung Quốc cũng đã rút giàn khoan đi. Cho nên tôi quan niệm thế này: phải luôn phân biệt chiến lược với chiến thuật. Về mặt chiến lược, phải nghĩ đến quyền lợi lâu dài của dân tộc, còn về mặt chiến thuật thì có khi ta phải đi đến một đồng minh này, có khi phải đi với một đồng minh khác.

Chiến lược lâu dài đối với tôi thì không có chuyện lựa chọn giữa Hoa Kỳ hay Trung Quốc, mà chỉ có con đường duy nhất là chọn lựa Việt Nam, tranh đấu cho Việt Nam. Cái gì có lợi cho Việt Nam, thì tôi làm, cái gì ngược lại với quyền lợi trường tồn của Việt Nam, thì tôi chống.

Người ta cứ luôn nói đến chính sách đu dây, nhưng bây giờ tôi nghĩ đến một hình ảnh khác, đó là cái bản lề. Nhìn bản đồ Việt Nam, tôi thấy nó chẳng khác chi bản lề, giúp cho cánh cửa, khi mở, khi đóng, khi quay về tai trái, khi quay về tay mặt. Cho tới nay, cái bản lề ấy chỉ đóng vai trò thụ động, thì tại sao ta không tìm cách điều khiển nó? Mình phải làm chủ cái bản lề ấy để mà ngăn chận, không cho bên nào lấn sang bên kia cả.

Nói cách khác, mình phải có một chính sách dân tộc rõ ràng. Phải có một lực lượng, hay một phần lực lượng để tự vệ đã, rồi mới có thể sử dụng cái vị trí bản lế ấy. Các lực lượng quốc tế nào định sử dụng ta như quân cờ thì lúc đó họ sẽ e dè. Lúc đó, chính là ta đã chọn lựa dân tộc.

RFI: Xin cám ơn Giáo sư Vũ Quốc Thúc.

T.P.

Nguồn: rfi.fr

HÃY CÓ TÂM TÌNH TẠ ƠN

HÃY CÓ TÂM TÌNH TẠ ƠN

Huệ Minh

Văn hóa biết ơn của Việt nam rất hay.  Từ thuở bé, tôi vẫn thường nghe dạy: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.”  “Uống nước nhớ nguồn.” “Hòn đất ném đi hòn chì ném lại.”

Thật vậy, lời “cám ơn” rất đơn sơ bé nhỏ, nhưng đem lại cho người làm ơn một sự vui thỏa, ấm áp.  Đó là phép lịch sự, tế nhị tối thiểu, bình thường, và phải cư xử như vậy mới là người biết điều.  Việt Nam cũng có những câu nói diễn tả người vô ơn: “Ăn cháo đá bát.” “Vắt chanh bỏ vỏ.” “Có trăng phụ đèn.”  “Ăn mật trả gừng, ăn sung trả ngải.”  Kẻ muốn được ơn thì nhiều, kẻ biết ơn thì quá ít.  Câu chuyện Tin Mừng hôm nay có tỷ số là một phần mười mà thôi.

Cám ơn Thiên Chúa là dâng trả ân huệ về cho Ngài, là nhìn nhận Ngài là nguồn mạch tuôn trào ra ân huệ chúng ta đã lãnh nhận.  Cám ơn là đi vào mối tương giao tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa đến với chúng ta và trở lại với Ngài.  Người vô ơn là người chặn đứng luồng tương giao này lại, không cho nó trở về với nguồn mạch, và sẽ làm cạn khô tương giao đang có.  Công trình cứu độ của Đức Giêsu chỉ thực sự sinh hiệu quả nếu chính chúng ta cởi mở để cho mọi sự quay trở lại với Người.

“Cám ơn” là tỏ lòng biết ơn với người đã làm điều tốt cho mình.  Mỗi khi ta nhận được một ơn huệ gì, thì ta phải biết tạ ơn Chúa và cám ơn những người làm ơn cho ta.  “Cám ơn” ấy là hai từ mà ta vẫn nói hàng ngày.  “Cám ơn,” lời nói cửa miệng tưởng như có thể nói với bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào, nhưng nhiều khi ta không biết nói lời cám ơn.

Trang Tin Mừng hôm nay, Thánh Luca nhắc cho ta nhớ lại phép lạ Chúa Giêsu chữa lành mười người phong hủi, tất cả đều được khỏi bệnh.  Nhưng chỉ có một người đến tạ ơn và ca tụng Thiên Chúa.  Chúa Giêsu không khỏi buồn lòng trước sự vô ơn của con người, nên Ngài đã thốt lên: “Không phải cả mười người đều được sạch sao?  Thế thì chín người kia đâu?  Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc 17, 17-18).

Bi đát thay trong mười người hưởng ơn chữa lành vô cùng lớn lao ấy, chỉ có một người biết dâng lời tạ ơn, mà người ấy lại là người ngoại đạo.  Còn những người vẫn tự hào là dân Thiên Chúa, dân riêng Chúa chọn lại sống vô ơn.  Sở dĩ Ngài xem trọng lòng biết ơn cũng vì ích lợi của kẻ được ơn mà thôi.  Người Samari trở lại tạ ơn Chúa vì đã nhận ơn phần xác, thì Ngài lại ban thêm cho ơn phần hồn là củng cố niềm tin và xác định tư cách tôn giáo của anh.  Ngài nói: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.”  Như thế, cám ơn lại là cơ hội để nhận được thêm ơn.

Ta thấy Chúa Giêsu thường tìm đến nơi thanh vắng để cầu nguyện với Chúa Cha.  Nhưng khi biểu lộ tâm tình tạ ơn thì Ngài lại thực hiện công khai trước mặt mọi người.  Chúa muốn dạy mọi người bài học về lòng biết ơn đối với Thiên Chúa.

Trước khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn rồi phân phát cho mọi người (Ga 6, 11).  Vào bữa Tiệc Ly, khi lập bí tích Thánh Thể, Ngài cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ (Lc 22, 19).  Đứng trước nấm mồ Lazarô, trước khi làm cho anh ta sống lại, Chúa Giêsu đã dâng lời cảm tạ Thiên Chúa (Ga 11, 41).

Cả cuộc sống của Chúa Giêsu là một lễ tạ ơn liên lỉ.  Chúa Giêsu đã hy sinh mạng sống làm hy tế dâng lên Đức Chúa Cha.  Vì thế, ngày hôm nay, khi dâng lễ tạ ơn mỗi ngày, chúng ta cử hành mầu nhiệm cuộc đời Chúa, chúng ta sống lại tâm tình tạ ơn của Chúa, là tâm tình của Người Con dâng lên Chúa Cha.

Cuộc đời của Chúa là bài ca tạ ơn luôn vang lên những giai điệu vui tươi trong những giây phút hân hoan và trong cả những giờ khắc bi thảm.  Bài ca tạ ơn đó đã ngân lên từ môi miệng của Mẹ Maria (Magnificat), ông Zacaria (Benedictus) và vẫn tiếp tục ngân vang trong tâm hồn những người tín hữu hôm nay.

Trong các thư của Thánh Phaolô, thánh nhân cũng nhấn mạnh đến lời tạ ơn.  Hơn nữa, ngài luôn sống trong tâm tình tạ ơn.  Ngài nói: “Tôi luôn luôn tạ ơn Thiên Chúa” (Plm 1, 4).  Ngài còn nhắc nhở mọi người “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh.  Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn” (1 Tx 5, 18).

Thánh Phaolô luôn dâng lời tạ ơn lên Chúa: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Ngài đã ban cho anh em nơi Đức Kitô.”  Ngài cám ơn tất cả những ai giúp ngài trong công việc mục vụ: “Quà anh em tặng cho tôi đó, chúng khác nào hương thơm, lễ vật đẹp lòng Thiên Chúa và được Ngài chấp nhận.”  Như vậy, câu ngạn ngữ của người Anh nói rất chí lý: “Cho người có lòng biết ơn chính là cho vay.”

Nhìn vào xã hội ngày nay, con số những người biết ơn Chúa, tôn thờ Chúa, vẫn còn là một con số rất khiêm tốn.  Còn những kẻ vô ơn thì nhiều vô kể.  Chúa luôn ban ơn cho người lành cũng như kẻ dữ, cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương.  Thế mà con người ngày càng kiêu ngạo, vô ơn đã loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống.

Hỏi rằng trong chúng ta có mấy người biết cảm tạ Chúa và cám ơn anh em?  Biết bao nhiêu lần chúng ta than vãn, kêu la, trách móc hết việc này đến việc khác, hết người này đến người kia, Hơn thế nữa, nhiều người còn oán trách cả Thiên Chúa.  Vậy, Lời Chúa hôm nay dạy mỗi người chúng ta hãy biết nói lời cám ơn từ những chuyện nhỏ nhất, bởi vì chúng ta đã nhận được biết bao nhiêu hồng ân Chúa ban cho ta qua vũ trụ vạn vật, qua mọi người trên trái đất này và nhất là qua những người thân cận, những người xung quanh ta.

Lòng biết ơn biểu lộ niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của mọi sự.  Biết ơn là một trong những đức tính tốt đẹp của con người đối với Đấng Tạo Hoá.  Vì Ngài đã ban muôn vàn phúc lộc cho chúng ta: từ không khí để ta hít thở, mặt trời để soi sáng ta, cho nước để ta uống, cho muôn loài muôn vật để ta sử dụng và làm thức ăn.  Ngài luôn quan phòng, giữ gìn ta trong mọi nơi, mọi lúc… Thiên Chúa còn ban cho ta biết bao điều cao cả qua cha mẹ, qua anh chị, qua thầy cô, qua bạn hữu, qua tất cả những người đã giúp đỡ và làm ơn cho ta…  Thể hiện lòng biết ơn là một nghĩa vụ hàng đầu trong cuộc sống con người.

Xin Chúa cho ta luôn biết sống có tình có nghĩa, luôn thể hiện lòng biết ơn, luôn quý trọng những hồng ân mà Chúa đã thương ban, và những gì anh chị em đã làm cho ta.  Xin Chúa cho ta luôn biết sống trong tâm tình tạ ơn Chúa như thánh Phaolô đã khuyên bảo giáo dân Côlôsê: “Anh em hãy luôn sống trong tâm tình tạ ơn Chúa và biết ơn Chúa.”  Đồng thời, ta cũng phải luôn biết cám ơn mọi người, vì có thể nói, tất cả những người có liên hệ xa gần với ta, đều là những ân nhân của ta.

 Huệ Minh

From: Langthangchieutim

CHỊU PHẠT THAY

Những Câu Chuyện Thú Vị – Ncctv.net

Dieu Le  

CHỊU PHẠT THAY

Tại một lớp học trong ngôi làng nhỏ ở Nam Phi. Nhiều giáo viên da trắng tình nguyện đến dạy đều không chịu đựng nổi những học sinh bản xứ ngỗ nghịch còn man rợ. Chỉ trong ít tuần, họ đã bỏ dạy và ra đi, lớp học giải tán. Ngày nọ, cô giáo Sandina tình nguyện đến đây. Cô thăm hết các gia đình trong làng trước khi khai giảng lớp học. Có rất đông học sinh đến lớp, chúng yêu mến cô vì cô có vẻ dễ chịu hơn những thầy giáo trước đây. Ngày đầu tiên, cô viết trên bảng những tội thường xảy ra và quy định hình phạt kèm theo, như: Chọc bạn: 10 roi khẽ tay; Đánh nhau: 15 roi; Ăn cắp: 20 roi, v.v… Rồi bảo học sinh cam kết phải làm đúng các quy định ấy. Cả lớp đồng tình.

Ngay ngày đầu, các trò tố giác một bạn ăn cắp bánh mì. Khi bị gọi lên đứng, Jastun nghênh ngang không sợ ai cả. Nó đưa tay ra sẵn sàng chịu 20 roi. Lúc ấy, thay vì cầm roi đánh nó, Sandina đưa roi cho nó và bảo: “Vì cô là cô giáo mà không dạy được các em, cô sẽ chịu hình phạt thay em.” – Jastun hoàn toàn bất ngờ, thái độ nó thay đổi lập tức, cả lớp xầm xì kinh ngạc. Cô giáo đưa tay ngửa ra trên bàn và bắt buộc nó phải đánh. Jastun quất thật nhẹ, cô bắt phải quất mạnh lên, được vài roi, nó oà khóc rồi chạy ra khỏi lớp, cả lớp đều khóc, cô Sandina cũng khóc.

Ngày hôm sau, Jastun trở lại lớp, xin lỗi cô. Một không khí hoàn toàn khác với những lớp học trước đó. Mọi người yêu thương nhau. Những kẻ cứng đầu nhất cũng đã sửa đổi.

Một đứa trẻ chỉ thấy sự trừng phạt mà không thấy tình thương trong cách giáo dục, sẽ trở nên ngang ngược hơn.

Cùng Suy ngẫm: “Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bệnh.”

#Sưu tầm

May be a cartoon of one or more people, people standing and text

ĐƯỢC và MẤT

ĐƯỢC và MẤT

Hôm rồi có đứa bạn ở Mỹ về chơi, chở nó đi ngang qua nhà cũ của nó, nó hỏi :

–          Giờ nhà tao trị giá khoảng bao nhiêu tiền mầy?

Mình đoán ngôi biệt thự của nó giờ phải trên hai ngàn lượng nên phán đại khoảng tầm 3 triệu đô la. 

Nó thở dài rồi nói:

–          Hồi đó ba tao bán chưa tới 200 cây, đi rớt hai vụ gần như hết sạch. Tới chuyến thứ ba toàn bộ cái thuyền là ba tao vay mượn của bạn bè. Nếu không bán nhà mà ở lại thì giờ cầm 3 triệu cũng có thể đàng hoàng làm công dân Mỹ mầy ha, mà tiền vẫn còn nguyên đó.

Đang suy nghĩ coi phải đối đáp với nó thế nào thì nó lại tiếp lời:

–          Nhưng mà mầy biết cái được của việc đi là gì hay không ?

–          Là gì ?

–          Cái được là có ba thế hệ được sống trong môi trường văn minh, tự do, được làm mọi điều mình thích, được nói mọi điều cần nói, tóm lại là được sống ra một con người.

–          Bộ tao sống không ra con người hả ?

–          Nhìn cái cách mầy chạy xe trên đường, mầy dụi tàn thuốc lá tao biết rằng dù mầy cố sống khác đi nhưng những thói xấu vẫn theo mầy từ trong tiềm thức. Mầy biết không, khi mầy phải sống trong một hủ mực thì dù có tránh né hay bằng cách gì đi nữa thì mầy vẫn bị lem, chỉ có điều nếu không được gần đèn thì mầy sẽ không nhận ra mình bị lem ở chỗ nào và vì sao như vậy. Cái người ta nhìn thấy mất đi đa phần là những thứ vật chất hữu hình nhưng thứ quý hơn là những giá trị phi vật chất, những thứ thuộc về đạo đức, văn hoá, đó mới là những mất mát lớn lao mà cần rất, rất nhiều thời gian người ta mới xây dựng lại được.

Nhớ hồi trước nó cũng là đứa hời hợt, thậm chí đoảng hơn mình. Vậy mà giờ nó nói ra những điều mà mình không nghĩ tới, không nhìn thấy. Thế mới biết nền tảng văn hoá, giáo dục nó ảnh hưởng đến con người ta ở mức nào.

Phải ! Thứ tàn phá lớn nhất đối với dân tộc này không phải là môi trường, không phải là tài nguyên, không phải là những món nợ khổng lồ.

Cái mất lớn hơn nhiều là giờ đây người ta không còn sống và ăn ở với nhau như những con người thực sự.

Trương Quang Thi

From: TU-PHUNG

Bí mật của hạnh phúc | J. Donald Walters

Bí mật của hạnh phúc | J. Donald Walters

Bí mật của hành phúc là TÌNH YÊU!

Bí mật của hạnh phúc là
hồn nhiên tận hưởng những điều bình dị.

Bí mật của hạnh phúc là
nụ cười an ủi với người đang đau khổ.

Bí mật của hạnh phúc là
trái tim trong sáng, không ích kỷ, không ác độc.

Bí mật của hạnh phúc là
cười với mọi người, không phải cười người.

Bí mật của hạnh phúc là
vui vẻ và sẵn sàng làm bất cứ điều gì cần làm.

Bí mật của hạnh phúc là
khao khát học hỏi, thay vì mong muốn dạy đời.

Bí mật của hạnh phúc là
có bạn bè biết thấu hiểu ta.

Bí mật của hạnh phúc là
buông bỏ ý niệm “tôi” và “của tôi”.

Bí mật của hạnh phúc là
biết khi nào dừng trước khi bắt đầu.

Bí mật của hạnh phúc là
sẵn lòng đứng dậy sau khi ngã xuống.

Bí mật của hạnh phúc là
TÌNH YÊU!

— J. Donald Walters