Nói về thuyết tiến hoá

 Nói về thuyết tiến hoá

Chúc bạn ngày Thứ 5 khoẻ như con voi, khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như chim bồ câu vậy nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 09/12/2021

GIÁO LÝ: Có thể vừa chấp nhận thuyết tiến hóa, vừa tin vào Đấng Tạo thành không? Được. Dù nó khác nhau trong nhận thức. Đức tin mở rộng cho khoa học đưa ra những tìm kiếm và những giả thuyết. (YouCat, số 42)

SUY NIỆM: Thần học không có thẩm quyền về khoa học, cũng như khoa học không có thẩm quyền về thần học. Khoa học không thể dứt khoát từ chối về chủ đích có trong quá trình tiến hóa của vạn vật. Ngược lại, đức tin không thể xác định về phương pháp mà quá trình tiến hóa của thiên nhiên được thực hiện cụ thể. Một Kitô hữu có thể tán thành lý thuyết khoa học về tiến hóa xét như là lý thuyết giải nghĩa hữu ích, nhưng trong giới hạn lý thuyết đó không rơi vào sai lầm của chủ nghĩa tiến hóa cho rằng con người là sản phẩm ngẫu nhiên do quá trình sinh học tạo ra. Lý thuyết tiến hóa chỉ đưa ra trước “một cái gì đó” đang tiến hóa, nhưng không nói chút nào về cái gì đó “do đâu mà có”. Không thể dùng cách khéo léo của khoa học để trả lời những vấn đề liên quan đến ý nghĩa về nguồn gốc của vũ trụ, của con người. Cũng như người theo thuyết “duy tiến hóa lý tưởng”, người theo lý thuyết duy sáng tạo cũng vượt ra khỏi giới hạn có thể được chấp nhận. Người theo thuyết duy sáng tạo hiểu các con số và các niên hiệu mà Kinh thánh nói đến theo nghĩa đen một cách ngây ngô (chẳng hạn tuổi của trái đất hoặc việc sáng tạo trong sáu ngày).

**Thuyết duy sáng tạo: Thuyết này cho rằng Thiên Chúa đã can thiệp vào một lúc rõ rệt để sáng tạo thế giới một cách trực tiếp và chỉ cần một lần, theo nghĩa đen của bài tường thuật về sáng tạo của sách Sáng thế.

** Tiến hóa là sự tăng trưởng của các cơ nâng tiến đến hình thức nhất định của chúng trong thời gian hàng triệu năm. Theo quan điểm của Kitô giáo, ta có thể coi tiến hóa như sự sáng tạo liên tục của Thiên Chúa có mặt trong tiến trình của thiên nhiên.

**   Không nhà bác học nào có được dù chỉ là một lý lẽ để có thể phản biện lại các quan niệm về một Đấng sáng tạo như thế. (Hoimar von Ditfurth, 1921-1989, chuyên viên Đức về khoa học). (YouCat, số 42 t.t)

LẮNG NGHE: Thiên Chúa đã làm mọi sự hợp thời đúng lúc. Thiên Chúa cũng ban cho con người biết nhận thức về vũ trụ, tuy thế, con người cũng không thể nào hiểu hết được ý nghĩa công trình Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử. (Gv 3:11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Đấng tạo dựng trời và đất, con chúc tụng và ngợi khen Chúa vì đã ban cho con người trí thông minh hiểu biết để giúp nhân loại thăng tiến đời sống theo đúng kế hoạch quan phòng của Chúa. Xin tăng thêm niềm tin cho con để con nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi lúc mọi nơi và mọi hoàn cảnh.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Tin-Cậy-Mến

5 cuốn sách cấm nên đọc một lần trong đời

5 cuốn sách cấm nên đọc một lần trong đời

Đọc sách cấm trong đêm tuyết rơi là một niềm vui của đời người.

 07/12/2021

By  TUYẾT TRÒN

Ảnh nền: The Joplin Globe. Bìa sách: NXB Giấy Vụn, Apple Books, Tiki, NXB Tri Thức, isach.info.

Sống ở một quốc gia mà chính quyền luôn lo ngại xã hội “đi chệch hướng” như Việt Nam, bạn có lẽ không lạ gì chuyện cấm sách. Dưới chế độ hiện tại, có những cuốn sách sẽ không bao giờ có cơ hội được phát hành công khai, có những cuốn được phép in ra rồi bị thu hồi, nhiều cuốn sách khác thậm chí có thể khiến bạn bị tra tấn chỉ vì bạn dám đi giao chúng. [1] Lý do sách bị cấm có thể được diễn giải bằng nhiều cách, nhưng tóm gọn lại là chúng trái ý của một nhóm người có quyền quyết định toàn thể nhân dân nên và không nên đọc gì.

Cấm sách là một dạng kiểm duyệt, và kiểm duyệt thì cũng có vài ba mặt. [2] Dù kiểm duyệt là kẻ thù của tự do học thuật và sự sáng tạo, nhiều người sẽ cho rằng nó giúp loại bỏ những tài liệu độc hại từ trong trứng nước, từ đó mang lại sự an toàn và ổn định. Bạn có thể có quan điểm của mình. Còn tôi, thân là một người mãi đến lúc cao niên mới nhận ra đời mình bị định hướng bao năm qua, tôi thấy cái hại của kiểm duyệt vượt xa, rất xa cái lợi.

Kiểm duyệt thậm chí còn chẳng có lợi với chính người kiểm duyệt, vì một hiệu ứng tâm lý hiểu nôm na là “càng cấm càng cố” (reactance theory). [3] Một cuốn sách nếu được tiếng là sách cấm, người ta sẽ lại càng săn lùng nó hơn. Năm 1928, nhà báo Phan Khôi đã luận rất hay về chuyện này trong một bài viết trên Đông Pháp Thời báo. [4]

“Một cuốn sách, bất kỳ nội dung nó ra làm sao, cứ để yên không cấm thì người ta coi như thường. Dầu có lắm người khích thích vì nó chăng nữa, song cũng còn có lắm người coi như thường. Đến cấm đi một cái, thì hết thảy ai nấy đều chú ý vào nó. Cấm đi, là muốn cho người ta đừng đọc, mà không ngờ lại làm cho người ta càng đọc!

[…]

Thiên hạ họ mua sách cấm mắc tiền lắm, thường giá mắc gấp đôi lúc chưa cấm, lâu ngày, rồi đến gấp mười gấp trăm. Tức như dân An Nam là dân không ham đọc sách, hay tiếc tiền, mà đến sách cấm thì cũng trằn trọc trằn xa mua cho được. Mua rồi đọc chùng đọc vụng, ai biết đâu mà bắt.”

Giờ là gần trăm năm sau, ta vẫn thấy chuyện không khác mấy. Chính quyền có thể tinh vi hơn trong việc cấm cản, nhưng bàn dân thiên hạ thể nào cũng sẽ có cách. Phan Khôi cũng nhắc đến một câu nói phổ biến ở Trung Quốc: “Các cái vui ở thế gian không cái nào bằng trong đêm có tuyết, đóng cửa lại mà đọc sách cấm”.

Việt Nam có lẽ sẽ còn có chuyện cấm sách dài dài; dân Việt Nam, cùng với đó, cũng nên phát triển cái thú vui này, hẳn sẽ góp phần nâng cao dân trí lắm.

Tuy vậy, sách cấm không nhất thiết là sách hay. Ở đây xin liệt kê vài tựa sách tôi thấy xứng đáng để đóng cửa lại mà đọc trong một đêm gió lạnh, gặm nhấm cái thú mà cổ nhân đã nói.

1. Trại súc vật (Animal Farm) – George Orwell

Vào năm 2013, cuốn sách kinh điển này từng được xuất bản bằng tiếng Việt dưới tên gọi “Chuyện ở nông trại”. Giai thoại kể rằng cơ quan kiểm duyệt nghe tựa tưởng nó là truyện cổ tích nên cho in. Công chúng nức lòng được ít lâu thì cuốn sách bị thu hồi, đơn vị xuất bản bị xử phạt. [5] Kết luận phán rằng tác phẩm “chứa rất nhiều luận điểm sai trái về chủ nghĩa xã hội.” [6]

Hai lần xuất bản của “Animal Farm” bằng tiếng Việt. Ảnh: NXB Giấy Vụn, Nhã Nam.

“Animal Farm” ra mắt năm 1945, và đến nay đã được dịch ra khoảng 70 thứ tiếng. [7] Vào thời Chiến tranh Lạnh, CIA (Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ) được cho là đã gửi hàng triệu quả bóng bay trong đó có cuốn sách này để rải sang lãnh thổ Ba Lan, Hungary và Tiệp Khắc, những thành trì của phe xã hội chủ nghĩa. [8] Đến nay, cuốn sách vẫn được vinh danh là tác phẩm châm biếm vừa bất hủ lại vừa có tính thời đại (timely and timeless) chống lại chế độ độc tài toàn trị.

Bản dịch tiếng Việt của Phạm Minh Ngọc | Bản gốc tiếng Anh

2. Bên thắng cuộc – Huy Đức

“Bên thắng cuộc”, ra mắt cuối năm 2012, là một cuốn sách vô tiền khoáng hậu. Từ những tư liệu thu thập được trong hơn hai mươi năm, nhà báo Huy Đức khắc họa một bức tranh sau ngày 30/4/1975 khác hẳn với những tài liệu chính thống. Những cuộc nói chuyện gần như độc quyền của ông với các lãnh đạo chính quyền thời ấy lần đầu tiên hé lộ hậu trường của các quyết sách gây thảm kịch như cải tạo, đánh tư sản, đổi tiền, hay nạn kiều v.v.

Cuốn sách này không hẳn là bị cấm, vì sau khi một vài nhà xuất bản trong nước từ chối bản thảo, tác giả quyết định tự in và phát hành trên Amazon. Đó được xem là lần đầu tiên một tác giả Việt Nam chọn cách làm này để tránh kiểm duyệt trong nước.

“Bên thắng cuộc” được giáo sư Trần Hữu Dũng (chủ trang viet-studies.net) đánh giá là “quyển sách hay nhất viết về lịch sử Việt Nam sau 1975” mà ông được biết. [9] Cuốn này đặc biệt phù hợp cho người đọc ở độ tuổi cuối cấp ba – đầu đại học, khi quá trình định hình bản thân bắt đầu và quá trình nhồi sọ lịch sử trong hệ thống giáo dục tăng tốc. Những tư liệu dày dặn, chi tiết trong sách sẽ giúp người đọc có thêm thông tin để đối chiếu với những gì được dạy, từ đó cơi nới không gian tư duy của chính mình.

Vì nói như tác giả trong lời nói đầu: “Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ.”

Link mua sách trên Amazon

3. Một cơn gió bụi – Trần Trọng Kim

Đầu năm 2017, cuốn hồi ký của học giả Trần Trọng Kim (1882 – 1953) được xuất bản tại Việt Nam. Nửa năm sau, nó bị thu hồi vì nội dung “không phù hợp, không khách quan, hoặc chưa được kiểm chứng”. [10] Đây là một tình huống kinh điển thường xảy ra với các cuốn hồi ký của những nhân vật lịch sử không “chính thống”. Nó phải đợi đến vài thập niên sau mới được ra mắt khi chịu cắt bỏ những phần “nhạy cảm”, nhưng sau cùng vẫn bị thu hồi khi có ai đó không hài lòng.

Bản in cuốn “Một cơn gió bụi” (Kiến Văn Lục) trước năm 1975. Nguồn ảnh: BBC.

Trần Trọng Kim là một học giả, sử gia, nhà giáo dục lừng lẫy đầu thế kỷ XX. Ông cũng là một chính trị gia, từng giữ chức tổng trưởng (thủ tướng) của Đế quốc Việt Nam, một nhà nước chỉ tồn tại trong 5 tháng trước Cách mạng Tháng Tám 1945. “Một cơn gió bụi” được viết năm 1949, kể lại quãng thời gian ông hoạt động chính trị. Nội dung một số chương sách kể về hoạt động của Hồ Chí Minh và Việt Minh, trong đó có nhắc đến một nữ đảng viên được cho là có con gái với ông Hồ.

Chi tiết này có trong bản in năm 1969 ở Sài Gòn, nhưng hiển nhiên không được phép xuất hiện trong phiên bản bị thu hồi năm 2017.

Đọc online

4. Đường về nô lệ (The Road to Serfdom) – F. A. Hayek

Bản tiếng Việt của cuốn sách này gắn liền với tên tuổi của Tủ sách Tinh hoa thuộc Nhà xuất bản Tri Thức. Sách được in năm 2009 và bị cấm tái bản luôn từ đó . Năm 2018, khi giáo sư Chu Hảo, giám đốc Nhà xuất bản Tri Thức bị kỷ luật Đảng, “Đường về nô lệ” là một trong những bằng chứng được dùng để chứng minh những “sai phạm nghiêm trọng” của ông. [11]

Chung quy là vì trong cuốn sách này, kinh tế gia đại diện cho chủ nghĩa tân tự do Hayek đã cho rằng chủ nghĩa xã hội, cụ thể là hình thái kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tất yếu sẽ dẫn đến chế độ nô lệ. [12] Quả nhiên là các cán bộ kiểm duyệt chỉ quan tâm đến đó, chứ không thể nhìn cuốn sách như đại diện của một trường phái kinh tế học trong lịch sử. Kể cả khi Việt Nam đã từ bỏ kinh tế kế hoạch hóa, những quan điểm này vẫn bị cho là xuyên tạc chủ nghĩa xã hội. Mà Hayek nào phải là một kẻ vô danh tiểu tốt. Ông được trao giải Nobel Kinh tế năm 1974.

Phải đọc sách thì mới thấy, tư duy ủng hộ thị trường tuyệt đối của Hayek thật ra là rất gần với cách mà xã hội Việt Nam vận hành bây giờ.

Đọc bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Quang A | Đọc bản dịch tóm tắt của Phạm Nguyên Trường

5. Chuyện kể năm 2000 – Bùi Ngọc Tấn

Đây có lẽ là cuốn tiểu thuyết có số phận lận đận nhất trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại. Chỉ một tháng sau khi ấn hành, cuốn sách không những bị thu hồi, mà còn bị tiêu hủy. [13] Nghiền nát. Đưa vào bể axit.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

“Chuyện kể năm 2000” mô tả cuộc sống trong nhà tù qua con mắt của Tuấn, một trí thức phải chịu án tù oan. Nhiều người cho rằng đó là câu chuyện của chính tác giả. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn phải ngồi tù gần 5 năm, từ tháng 11/1968 đến tháng 3/1973, với tội danh “Tuyên truyền phản cách mạng” trong vụ án Xét lại chống đảng năm 1967. [14]

Theo các nhà phê bình, điều khiến cho cuốn sách này mang tầm vóc lớn là nhân vật trong truyện kể lại những nghịch cảnh bằng một giọng văn không mang thù hận. Anh cứ kể chuyện như vậy, kể lại những gì đã diễn ra như một người miệt mài ghi chép cuộc đời của chính mình, tin rằng đó là lịch sử.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời năm 2014. [15] Cuốn sách của ông không có chỗ trên chính quê hương mình, nhưng đã đến được với độc giả ở nước ngoài qua các bản in phụ, và được dịch sang tiếng Anh và tiếng Pháp.

“Chuyện kể năm 2000”, giống như những bản thảo “không thể cháy” khác, dù đã bị nghiền nát, vẫn tìm được đường đến với công chúng của nó. [16]

Độc giả thời nay còn có thể đọc online tác phẩm tại đây. [17]

Tất cả chúng ta thật lòng nói dối…

Tất cả chúng ta thật lòng nói dối…

Bởi  AdminTD

 Thái Hạo

8-12-2021

Tôi viết, “Khi một nhóm người ăn cướp để làm giàu thì phần còn lại sẽ phải ăn cắp để sống”, câu này được nhiều người hiểu một cách rất thô sơ “chắc nó chừa mình ra”, mà không tự thấy rằng, chính mình cũng là người ăn cắp. Thói gian dối tràn ngập khắp nơi.

Khi đi học, chúng ta ăn cắp bằng cách quay cóp trong những giờ kiểm tra; khi ra trường chúng ta ăn cắp bằng cách chạy chọt đút lót “xin việc” – đó là cách ăn cắp cơ hội của người khác; khi đi làm chúng ta đối phó, làm việc cầm chừng, đi muộn về sớm; chúng ta ăn cắp giáo án trên mạng, ta ăn cắp thành tích bằng cách cấy điểm cho học trò, ăn cắp bằng những bản báo cáo “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”… Ăn cắp khắp nơi, ăn cắp tràn lan trong xã hội, ăn cắp từ trẻ tới già, từ nông thôn lên thành phố, từ ngoài đường vào công sở.

Có bao nhiêu người đang say mê làm việc, sáng tạo trong 100 triệu người Việt? Có bao nhiêu người đang “tối ngày đày công”, có nhiêu người đang “sáng cắp ô đi tối cắp về”, có nhiêu người đang chờ từng ngày để về nghỉ hưu? Chúng ta đang có một xã hội trì trệ mà ở đó cấp trên nói dối cấp dưới, cấp dưới đối phó với cấp trên và cả hai cùng nhau đối phó với xã hội. Chúng ta cứ diễn lại mãi một vở tuồng cũ rích cho nhau xem dù cả diễn viên và khán giả đều đi guốc trong bụng nhau nhưng vẫn diễn như thật, diễn say mê và giả vờ vỗ tay cho “vừa lòng nhau”. Đó là một xã hội lâm bệnh nặng, bệnh suy dinh dưỡng tinh thần, nó ốm yếu, vật vờ; tồn tại nhưng lòe loẹt và đỏm dáng.

Chúng ta ăn cắp niềm tin của nhau, con người không tin nhau nữa. Ở đâu cũng thấy những ánh mắt nghi ngờ, cảnh giác. Một xã hội rườm lời, người ta nói rất nhiều, và quên ngay lời nói của mình mà không còn thấy xấu hổ hay day dứt gì nữa; người ta nghe, mà chỉ là nghe cho vui đó thôi. Một “lời vàng đá” giờ như cổ tích, làm gì còn “xuất ngôn cửu đỉnh”…

Trước cái xấu cái ác, “đấu tranh tránh đâu”, thế là người ta tìm cách thích nghi bằng cách biến đổi chính mình như một con tắc kè; đầu tiên là bằng nói dối, rồi làm ẩu, làm láo, làm giả; riết rồi người ta sống giả, khóc giả, cười giả, giận dữ giả.

Chúng ta tỉnh táo tới mức không thể chấp nhận việc có nhiều người động lòng thương gia đình một cô bé nghèo khổ ăn cắp, chúng ta sáng suốt nhân danh đủ thứ lý lẽ để đòi trừng trị, chúng ta cao giọng dạy dỗ huấn thị. Ngày xưa, khi phát hiện một đứa trẻ đang leo cây hái trộm ổi, ông chủ nhà sẽ im lặng không lên tiếng, giả vờ như không biết vì sợ nó té ngã; ngày xưa, khi một đứa trẻ ăn trộm trái cây trong vườn ông thầy đồ, ông sẽ nói “cháu đừng hái trái xanh”, rồi đến trưa thì tự tay mang sang nhà cho một rổ… Thời tôi vẫn còn lác đác thấy thế, thời cha mẹ ông bà tôi thì nhiều hơn.

Ai cũng biết ăn cắp là xấu, ngay cả là một đứa trẻ, vì thế mà người ta mới lén lút, mới nói dối, mới sợ hãi. Không cần phải nói về cái đó nữa. Hành xử thế nào mà thôi. Khi ta đối xử với một đứa ăn cắp như một đứa ăn cắp thì nó sẽ mãi là đứa ăn cắp; khi ta đối xử với đứa ăn cắp như con vật thì thú tính của nó nổi lên; khi ta đối xử với kẻ cắp như một con người, kẻ cắp sẽ thành người.

Không phải là dung túng, không ai dung túng cả, cũng không bàn câu chuyện luật pháp nữa, luật pháp phải được thượng tôn. Tôi chỉ nói chuyện con người, đó là nhân tính, là lòng bao dung, là sự vị tha, là tình yêu thương con người. Là tính người. Nó vốn có và tràn đầy trong cõi lòng mỗi người. Thế mà bây giờ ta phải ngồi mổ xẻ, cân nhắc, tính toán; không còn chỗ cho lòng bi mẫn nữa.

Bảy năm sau, một đứa học trò tìm đến nhà thầy, “thầy còn nhớ em không, ngày xưa, trong giờ kiểm tra em đã giở tài liệu nhưng thầy chỉ im lặng đi xuống và gõ thật nhẹ lên bàn mà không cho ai biết, thầy đã không làm em phải xấu hổ nhục nhã. Bây giờ em đã đi làm và luôn nhớ đến điều đó…”. Không ai xấu đi vì nhận được sự tôn trọng và tình yêu thương cả. Chỉ là chúng ta không còn tin điều ấy nữa mà thôi.

Bỗng nhớ bài thơ “Vô cùng” của Hoàng Nhuận Cầm:

“Tất cả chúng ta thật lòng nói dối
Tất cả chúng ta áo đẫm mồ hôi
Tất cả chúng ta căn nhà chật chội
Giữa cõi vô cùng vô tận mà thôi.
Tất cả chúng ta đều bị theo dõi
Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi
Tất cả chúng ta như bầy chó đói
Ngửa mặt lên trời hóng bóng trăng rơi.
Tất cả chúng ta đều không vô tội
Mỗi đêm một tờ giấy trắng mồ côi”.

Một trang hồi ký về “Lênin toàn tập”, thanh gươm không đối thoại

Một trang hồi ký về “Lênin toàn tập”, thanh gươm không đối thoại

Bởi  AdminTD

 Lê Phú Khải

8-12-2021

Nhân đọc bài “Quan điểm của Lênin về Nhà nước” của GS. Nguyễn Đình Cống trên trang mạng Bauxite Việt Nam ngày 06-12-2021, một bài viết công phu, đã chỉ ra, dù ở một khía cạnh hẹp, vì sao Liên Xô dù hùng mạnh đến thế… đã sụp đổ… chỉ vì Stalin đã tiếp tục thực thi một cách sắt máu “chuyên chính vô sản” của Lênin. Giáo sư Nguyễn Đình Cống cũng nhắc đến bộ “Lênin toàn tập” đồ sộ 55 tập (tiếng Việt).

Tôi có một kỷ niệm khá thú vị về bộ sách Lênin toàn tập 55 cuốn, mỗi cuốn dày cộp, chữ nhỏ li ti này. (Thực ra những lần đầu bộ sách này được in bằng tiếng Việt thì đều in ở nhà xuất bản Tiến Bộ bên Liên Xô).

Số là, những năm làm phóng viên thường trú của Đài Tiếng nói Việt Nam tại Đồng bằng Sông Cửu Long, tôi có giao du với anh Kim Tinh, quê Bến Tre, là Phó Tổng biên tập báo Ấp Bắc của đảng bộ tỉnh Tiền Giang. Anh Kim Tinh vì in tại nhà in báo Ấp Bắc tờ báo “Người Kháng chiến cũ” của ông Nguyễn Hộ, Chủ tịch Hội Người Kháng chiến cũ của thành phố Hồ Chí Minh, nên bị khai trừ đảng, cách chức Phó Tổng biên tập. Ông Nguyễn Hộ thì bị bắt tại Sông Bé, sau bị giam lỏng ở Sài Gòn.

Chán ngán sự đời, anh Kim Tinh lập một trang trại nhỏ ở ngoại vi thành phố Mỹ Tho nuôi chim cút. Thời gian rảnh rỗi anh đọc Lênin toàn tập. Mấy năm sau, tôi có dịp đến thăm trang trại nuôi chim cút của Kim Tinh. Vừa gặp tôi, anh đã khoe: Tôi đã đọc hết Lênin toàn tập!

Tôi “kinh hoàng” quá, vì ở Việt Nam, và có lẽ, trên cả thế giới, ít ai dám cả gan đọc hết bộ Lênin toàn tập gồm 55 cuốn dày cộp! Tôi hỏi Kim Tinh: Anh đọc hết Lênin toàn tập thấy thế nào? Kim Tinh nói: Lênin sai, Causki đúng! Tôi lại hỏi: Sai đúng ra sao? Kim Tinh nói: Causki phê phán Lênin rằng, khi có chính quyền trong tay rồi, mà vẫn thực hiện chuyên chính vô sản thì đó là thanh gươm không đối thoại!

Về sau, tôi có để thời gian tìm hiểu tác phẩm “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causki” của Lênin, được xuất bản lần đầu vào tháng 10 năm 1918, và còn tìm hiểu cả tác phẩm “Bàn về chuyên chính vô sản” của Causki. Đã ở tuổi 79, có nghĩa là, tôi đã sống cả đời người trong chế độ chuyên chính vô sản “ở ngay cả các nước lạc hậu, công nhân và nông dân nghèo, thậm chí thiếu kinh nghiệm nhất, thiếu học thức…” như Lênin đã từng viết trong tác phẩm “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causki”. Chế độ đó đã quản lý đất nước như thế nào?

Tôi đã chứng kiến các toà án nhân dân trong Cải cách ruộng đất, đã chứng kiến cải tạo tư sản ở Hà Nội, đã chứng kiến đấu tố Nhân văn – Giai phẩm, v.v… càng thấy Causki đúng khi ông phê phán “thanh gươm không đối thoại” của chuyên chính vô sản!

Chính “thanh gươm không đối thoại” ấy đã phạt đầu cụ già Lê Đình Kình ở Đồng Tâm khi cụ dám chống lại chuyên chính vô sản.

Giáo sư Hoàng Xuân Phú đã bào chữa cho cụ Kình: Tội của cụ Kình là vô tội. Vì nếu có tội thì cụ Kình đã bị bắt và đem xử trước toà. Và như thế thì không chết. Vì vô tội nên cụ Kình phải chết!

Tháng 3 năm 1991, lúc Liên Xô sắp tan rã, tôi được may mắn cơ quan cử đi Liên Xô làm việc với Ban Việt ngữ của Đài Phát thanh Đối ngoại Mátxcơva. Các bạn trong Ban Việt ngữ Đài Phát thanh nói tiếng Việt rất trôi chảy. Chị Irina, Trưởng ban Việt ngữ hỏi tôi: Anh Phú Khải có biết vì sao ở Liên Xô người ta nói: Lênin là người nói đến dân chủ nhiều nhất không? Tôi chưa biết trả lời thế nào, thì Irina nói: Vì người thứ hai nói đến dân chủ đã bị ông ta đập đầu chết rồi…!!!

Các bạn trong Ban Việt ngữ còn cho tôi biết, ở Liên Xô không có gia đình nào, không có dòng họ nào không có người bị Stalin giết hại!

Chuyên chính vô sản đã sụp đổ ngay chính trên quê hương của nó. Còn “ở ngay các nước lạc hậu, công nhân và nông dân nghèo…” như Việt Nam, thì người cầm “thanh gươm không đối thoại” bây giờ không phải là giai cấp vô sản mà là những ông chủ ở biệt phủ và ăn thịt bò dát vàng!!!

Anh Kim Tinh dân Bến Tre đã đi xa… Bài viết này là để tưởng nhớ đến người đã có công đọc hết 55 cuốn sách trong bộ Lênin toàn tập để phát hiện ra câu nói bất hủ của “tên phản bội” Causki!

Còn Lại Chút Gì Để Thương Nhớ

 Kha Ngo Van

Còn Lại Chút Gì Để Thương Nhớ

Cái chết thời Covid nó thế, vẫn diễn ra hàng ngày, rất lạnh lùng, tàn nhẫn, chẳng kiêng dè điều gì, chẳng từ một ai. Nó vồ lấy từng người, nhai ngấu nghiến cho thỏa cơn đói, cái đói của Tử thần từ thuở hồng hoang, khi con người phản nghịch lại Thiên Chúa. Nó thèm khát từ thân xác tới linh hồn con người, từng ngày cứ gặm nhấm hoặc bất chợt nuốt trọn…

Một kiếp người trong cõi nhân sinh, với những vui buồn, nụ cười và nước mắt, những ước mơ, tính toán, những vun đắp và cống hiến, những thành công và thất bại, những hiểu lầm… Tất cả là quá khứ, là chấm hết với cõi đời này, với những người đang còn sống trên cõi hồng trần này. Có còn lại gì cho trần gian này, thì họa may còn lưu lại chút ký ức bồng bềnh bám víu vào những kỷ niệm rời rạc, bất định, chợt có, chợt tan, trong dĩ vãng của những người thân thiết nào đó.

Giờ này, khi kiếp người đã khép, và cùng với nó, ngưng lại vĩnh viễn những gì thuộc về thế giới này, chẳng còn quá khứ, chẳng có tương lai, nhưng thật ra, lại là “chạm bước chân” vào trong cái Hiện Tại vô biên, để lần theo hương thơm của Tình yêu dào dạt của Chúa, và cứ thế tiến vào, ngày càng sâu hơn, vào trong hạnh phúc vĩnh hằng của Thiên Chúa.

Phải rồi, cuối cùng, ai cũng thế, chẳng còn phân biệt nào, cho dù nhỏ, tất cả bình đẳng trước cái chết và sự khác biệt, chính là khi ra trước Nhan Thánh Chúa, chịu sự phán xét của Chúa, một sự phán xét trong tình yêu về những gì người đó đã sống, đã làm trong lòng mến, để sáng danh Chúa, trong ý thức là người môn đệ Chúa.

Còn lại chút gì lưu vết trên dương gian này, cũng chỉ thế thôi.

Nhưng đó là tất cả những chọn lựa, vất vả đấu tranh với chính mình với những yếu hèn của bản thân, trong một cuộc chiến không cân sức, trước sức mạnh của kẻ thù, những cơn cám dỗ và trước những thử thách phải đương đầu hằng ngày trong lo âu, phiền muộn, trong nước mắt, những sự hối hận. Và cả những trải nghiệm thiêng liêng của đức tin về sự trợ giúp mạnh mẽ từ tình thương và ân sủng Chúa, vào sự chữa lành diệu kỳ và sự bổ sức của Chúa. Nên giờ đây, mới có thể dám nói, Tất Cả Là Hồng Ân.

Phải rồi, nếu còn gì để lại cho đời, cho những người thân yêu còn sống trên trần gian đầy hỉ nộ ái ố này, vẫn còn đang loay hoay, xoay sở với mọi vấn đề bủa vây, là lời tạm biệt “trong xương cốt”, là cám ơn đời, là lời cám ơn người, khi kết thúc hành trình một đời người, với mọi sự buông bỏ, cho đến “sự hủy mình ra không”, để thanh thoát đi về với Đấng “muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương” đang ngóng chờ.

Và quả thật, mọi sự sẽ Ra Không Tất Cả, nếu không có đức tin vào Chúa và vững tin vào Lời Chúa, nếu không có tình yêu Chúa, và sự ứng đáp tình yêu lớn ấy, trong tiếng nhặt khoan của từng giai đoạn của đời sống, trong tiếng nấc nghẹn của một người với kinh nghiệm – hiện sinh, thế nào là Ơn Cứu Chuộc, thế nào Lòng Thương Xót cao cả vô bờ bến của Chúa!

Một xác thân đã trở về tro bụi ở dưới thế này, với một linh hồn đang trên hành trình về bên Chúa, trong sự lực hấp dẫn ấm áp của Tình Yêu Ba Ngôi, trong sự dìu dắt của Thánh Cả Giuse, trong tình yêu ấp ủ của Đức Nữ Trinh Maria Vô Nhiễm mà cả Giáo Hội đang hân hoan mừng lễ hôm nay.

Nhưng vẫn còn một cái hẹn, như một lời trăn trối chân thành để lại, hẹn gặp nhau trong nước Chúa. Một cái hẹn dựa trên sự chắc thực của Lời Chúa hứa; một cái hẹn dựa vào ơn Chúa, dựa vào lòng lân tuất hay thương xót của Chúa.

Cậy vào lòng từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hằng Cứu Giúp, cha Thánh Anphongsô, các thánh, các Chân phuc và các vị Tử Đạo trong Dòng, xin cho linh hồn cha Giuse Lương Văn Long mau được hưởng Nhan thánh Chúa.

Amen

(Ảnh fb cha Paul Lộc)

TÂM TÌNH MÙA VỌNG

TÂM TÌNH MÙA VỌNG

Mỗi khi Mùa Vọng về, hình ảnh Gioan Tẩy giả lại xuất hiện trong phụng vụ. Ông là vị Tiền hô đến dọn đường cho Chúa Cứu thế. Ông cũng là mẫu mực về sự khiêm tốn, can đảm và trung thành. Gioan khiêm tốn nhận mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. So sánh với Chúa Giêsu, ông nhận mình giống như người phù rể. Người phù rể hân hoan trước niềm vui của chú rể. Là người giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người, ông hạnh phúc khi thấy người ta tuôn đến cùng Chúa và đón nhận giáo huấn của Người. Dù chỉ là tiếng kêu trong sa mạc hoang vu, Gioan vẫn kiên trung trong sứ mạng dọn đường.

Hành trình Đức tin của người tín hữu chính là cuộc tìm kiếm và gặp gỡ với Chúa. Đây là một hành trình lâu dài, liên lỉ và có nhiều chướng ngại. Để theo Chúa và trung tín với Ngài, chúng ta luôn phải kiên trung và can đảm vượt qua những chướng ngại đó. Như những vận động viên chuyên tâm khổ luyện để đạt được vòng nguyệt quế dành cho người chiến thắng, người Kitô hữu phải luôn chiến đấu trong trận chiến thiêng liêng để thuộc trọn về Chúa.

Ông Gioan dùng những hình ảnh cụ thể để diễn tả những cố gắng hoàn thiện bản thân: lấp đầy lũng sâu, bạt thấp núi đồi, nắn thẳng quanh co uẩn khúc. Kinh nghiệm cho thấy, người ta có thể dễ dàng chiến thắng trong trận chiến với kẻ thù, nhưng lại ngã gục trước cám dỗ của cái tôi ích kỷ và đầy tham vọng. Cuộc chiến đấu để thanh luyện chính mình là một cuộc chiến đấu dai dẳng, đòi hỏi nhiều cố gắng hy sinh.

Mùa Vọng vừa mời gọi chúng ta nhìn lại mình, vừa nhắc chúng ta hãy nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa. Những cố gắng nỗ lực để hoàn thiện bản thân và thực thi bác ái sẽ giúp chúng ta bạt núi kiêu ngạo, lấp thung lũng hèn nhát. Cuộc sống hôm nay có nhiều cám dỗ, quá nhiều khuynh hướng khác nhau, lôi kéo chúng ta đi lạc đường. Những bon chen bận rộn của cuộc đời dễ làm chúng ta đắp những quả đồi hoặc khoét sâu khoảng cách đối với anh chị em.

Khi can đảm dẹp bỏ mọi chướng ngại trong tâm hồn, chúng ta sẽ được “nhìn” thấy Chúa và vinh quang của Ngài. Lúc đó, Chúa sẽ là tất cả của đời sống chúng ta, và chúng ta sẽ chỉ nhìn lên Ngài như định hướng tuyệt hảo duy nhất của cuộc đời.

Bài chia sẻ LM Vũ Yên

From: Hưng-Lan

THÁNH NICÔLA – GIÁM MỤC (Thế kỷ IV)

THÁNH NICÔLA – GIÁM MỤC(Thế kỷ IV)

Thánh Nicôla, vị đại thánh bình dân, nhưng chỉ tìm được tiểu sử 200 năm sau khi Ngài chết.  Người ta có thể nói rằng: Ngài đích thực là giám mục Myra, đã hiện ra với vua Constantinô trong một giấc mơ.  Sau đó dường như các nhà chép sử lại lẫn lộn với Nicola người Simon đã bị tù dưới thời Diocletianô, đã xây một tu viện và được chôn cất tại vương cung thánh đường thành Myra.  Trừ sự kiện trên, nảy sinh ra nhiều huyền thoại và hơn nghìn năm sau, thánh Nicôla nhân hậu đã thành danh tiếng khắp thế giới.

Huyền thoại kể lại rằng, ở Patara, thuộc tỉnh Lycia, hai vợ chồng giàu có Anna và Euphêmiô vì không con đã cố gắng tìm an ủi trong công việc từ thiện.  Thiên Chúa chúc lành cho lòng bác ái của họ.  Cuối cùng họ có được một mụn con và đăt tên cho con là Nicôla, có nghĩa là “sự chiến thắng của dân.”  Đây cũng là tên cậu Ngài, vị giám mục Myra.

Ông cậu đã tiên đoán rằng: Nicôla sẽ là “Mặt trời soi chiếu thế gian.”  Khi mới tắm rửa lần đầu, con trẻ đặc biệt này đã chắp tay, đứng trong thau nước hai giờ liền, mắt hướng về trời.  Thứ tư và thứ sáu, Ngài không chịu bú cho tới chiều để ăn chay.  Chị vú nuôi sợ Ngài chết, nhưng trái lại, Ngài đã trở nên một con trẻ kiêu hùng.

Nicôla có nhiều đức tính tốt như một trẻ em gương mẫu.  Cha mẹ mất sớm.  Nicôla thừa hưởng một gia tài kếch xù.  Nhưng Ngài lại coi tất cả tài sản này như của Chúa cho vay.  Người phân phát cho những người bất hạnh và thực hiện đức bác ái như một sự tế nhị dễ thương.  Chẳng hạn một người cha có ba cô con gái, ông tính cho con làm nghề bất lương để có tiền cưới hỏi.  Nhưng rồi đêm kia, ông thấy ba túi vàng chuyển qua cửa sổ, và có thể làm lễ cưới hỏi cách lương thiện cho các cô.  Khi biết được người cho, ông đến xin thánh Nicôla cầu cho ơn tha thứ cho dự tính đáng chúc dữ của mình.  Rồi bất kể sự ngăn cấm của thánh nhân, ông đã kể lại khắp nơi cử chỉ bác ái của thánh nhân đã thực hiện để cứu 3 người phụ nữ khỏi cảnh bất lương như thế nào.

Nicôla đã ao ước hiến đời mình cho Thiên Chúa.  Ông cậu giám mục của Ngài khi sắp chết đã truyền chức và đặt Ngài làm bề trên tu viện thánh Sion.  Khi Ngài du hành qua Thánh địa, cơn bão nổi lên, các hành khách run sợ, Nicôla cầu nguyện cho họ và các cơn sóng dịu xuống, con tàu êm đềm theo đuổi cuộc hành trình.  Những cuộc can thiệp khác nữa làm cho thánh Nicôla trở thành Đấng bảo trợ những người vượt biển.  Các thủy thủ làm chứng rằng khi bị đắm chìm, nhớ cầu tới Ngài là thấy Ngài đến cầm tay lái đưa tới cảng, rồi biến đi…

Khi những người thoát nạn tới nhà nguyện tu viện tạ ơn, người ta ngạc nhiên vì thấy vị cứu tinh của mình đang chìm đắm trong kinh nguyện như không hề rời bỏ nơi này.  Họ không cầm nổi những lời tán tụng biết ơn xuất phát tự cõi lòng, nhưng thánh nhân bảo họ: “Hãy chỉ nên ngợi khen Chúa về cuộc cứu thoát này, bởi vì đối với tôi, tôi chỉ là một tội nhân và một đầy tớ vô dụng.”

Và Ngài đã cho biết rằng, nguy hiểm họ vừa trải qua là hình phạt vì các tội kín, cũng như sự hối lỗi của các thủy thủ đã cứu thoát họ.

Nicôla xuống Alexandria là nơi Ngài đã chữa lành các bệnh nhân, rồi đi thăm thánh Antôn ở Ai cập.  Sau cùng, Ngài đến Giêrusalem kính các nơi thánh và trải qua ít tuần trong hang mà Thánh Gia đã dừng lại khi trốn qua Ai cập.  Nơi đây, sẽ xây cất một thánh đường thánh Nicôla. Vừa mới trở về Myra, nơi các tu sĩ đang nóng lòng chờ đợi cha họ trở về, Ngài đã tăng gấp một cách lạ lùng đống bánh cho cả trăm người ăn.

Giám mục Myra qua đời, các giám mục miền Lycia cân nhắc để chọn vị mục tử mới.  Một sứ giả từ trời xuống báo tin cho vị niên trưởng biết, người được chọn là linh mục Nicôla ngày mai sẽ tới nhà thờ trước hết.  Trời vừa sáng, Nicôla tới nhà thờ theo lòng sốt sắng và nghe loan báo mình làm giám mục.  Ngài muốn chạy trốn, nhưng phải theo ý nguyện của Đấng Cao Cả hơn mình, trời cao chúc lành cho Ngài: dịp lễ đầu tay, thánh Nicôla đã làm cho một em bé bị phỏng sống lại.  Từ kỷ niệm này, người ta hay kêu cầu thánh nhân những khi gặp nguy hiểm vì lửa.

Trở thành mục tử cả dân, thánh nhân rất cưng chiều những người bị áp bức, mồ côi, bênh hoạn và tù tội hơn.  Ban đêm, Ngài cầu nguyện, nghỉ một chút trên đất, ăn ngày một bữa, mặc áo quần khiêm tốn khác với hình ảnh ngày nay nhiều.  Những y phục lộng lẫy theo hình vẽ ấy, Ngài chỉ mặc vào những ngày đại lễ.

Đời sống tín hữu xáo trộn vì những cuộc bách hại: vị giám mục bị lưu đày, đánh đập.  Cuộc trở lại của vua Constantinô đem lại tự do.  Trên đường về, Ngài rao giảng Chúa Kitô, cải hóa lương dân, phá đổ các đền thờ và ngẫu tượng.  Ngài làm nhiều phép lạ như mưa.  Các thế hệ tương lai, còn kể lại huyền thoại của ba đứa trẻ bị một đồ tể tham lam độc ác cắt cổ và để trong thùng muối ướp thịt đã sống lại nhờ lời cầu nguyện của thánh Nicôla.

Các truyện có nhiều thêm thắt như: Truyện người gian giảo có cây gậy đầy vàng, truyện đứa trẻ bị quỉ giả bộ ăn xin bóp cổ, nhưng đã được thánh nhân cứu sống, truyện thánh nhân dàn xếp giữa thày thuốc với bệnh nhân hiếm muộn con cái, hứa tặng chén vàng mà khi được lại không giữ lời hứa.  Gần với sự thực hơn là việc các nhà buôn lúa gạo ở Sycily nhờ sự bao bọc lạ lùng của giám mục đã nuôi những người đói mà không giảm thiểu của dự trữ.  Vua Constantinô cũng mơ thấy thánh nhân đến gặp để cứu cuộc xử tội bất công của ba viên chức.  Sau đó các người bị giữ kêu cầu Ngài giải cứu và được nhận lời bằng một phép lạ.  Thế là các nạn nhân bị xử oan hay kêu cầu Ngài.

Sau khi hoàn tất bao nhiêu việc lành thiêng liêng lẫn vật chất, thánh Nicôla muốn vào cõi đời đời.  Bảo vệ giáo thuyết công giáo tinh tuyền, Ngài đã chống lại lạc giáo tham dự cộng đồng Nicea.  Khi thấy sắp kết thúc cuộc đời.  Ngài muốn lui về tu viện, nơi mà buổi thiếu thời Ngài đã tự hiến cho Thiên Chúa, và chính tại nơi đây, Ngài phú dâng linh hồn trong tay Chúa.

Năm 1087, Myra rơi vào tay người Thổ, người ta vội đưa hài cốt vị thánh về Bari gần Naples.  Từ đó, huyền thoại đời Ngài lại lan rộng.  Mỗi miền nói theo cách của mình.  Dân ca Đông phương coi Ngài như một vị Chúa trên trời.  Đối với người Nga, Ngài là thừa kế thần linh lo chuyện gặt hái.  Siberia cho Ngài là người chế tạo rượu “bia.”

Các vua nước Pháp sùng kính Ngài.  Các chủ tịch luật sư đoàn cầm gậy có hình thánh Nicôla.  Bên tây phương, lễ thánh Nicôla trở thành lễ của thiếu nhi vì làm sao các em lại không yêu mến vị thánh nhân hậu đã cứu ba đứa trẻ đi mót lứa được?  Vị giám mục đầy huyền bí này sau cùng đã trở thành ông già Noel ngày nay.

Nguồn: https://tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim

NHỚ LẠI VÀ LẮNG NGHE

NHỚ LẠI VÀ LẮNG NGHE

 ĐGM. Bùi Tuần

Mừng lễ Đức Mẹ Vô nhiễm là một niềm vui của các con cái Đức Mẹ.  Có nhiều cách mừng.  Riêng tôi, khi cuộc đời đã sang thu, sắp bước vào mùa đông, tôi mừng lễ Đức Mẹ vô nhiễm một cách cũng rất riêng tư.  Tôi mừng lễ bằng cách vừa nhớ lại Đức Mẹ trong Phúc Âm, vừa nhìn lại Đức Mẹ trong đời tôi.  Để rồi lắng nghe Mẹ nhắn nhủ hôm nay.

Nhớ lại.

Tôi thấy Đức Mẹ thuở xưa trong Phúc Âm cũng là Đức Mẹ trong chuyến đi dài đời tôi.  Đức Mẹ dạy tôi bằng Phúc Âm.  Đức Mẹ cũng dạy tôi bằng những dắt dìu trong dòng lịch sử.  Nếu cần tóm tắt, thì xin vắn gọn thế này:

Đức Mẹ, tuy được ơn vô nhiễm, nhưng cũng chịu nhiều đau đớn, để góp phần vào công cuộc cứu độ của Chúa Giêsu.  Đúng như lời tiên tri Simeon đã báo trước: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà” (Lc 2,25).

Những con cái Mẹ, nhất là tôi, mình đầy ô nhiễm, càng không được phép miễn khỏi thánh giá.  Ít là phần nào.  Chúa Giêsu là con Mẹ, xưa “đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thánh giá” (Pl 2,8).

Đức Mẹ nên giống Chúa cứu thế không phải ở sự chịu đóng đinh, nhưng ở sự Mẹ chịu những lưỡi gươm đâm vào lòng.  Những lưỡi gươm vô hình, với những nhát đâm vô hình, cùng những vết thương vô hình.  Vô hình, nhưng thực sự đau đớn.  Chẳng nói hết được những đau đớn đó của Mẹ.

Còn những con cái Mẹ, thì kẻ cách này, người cách nọ, họ cũng được thanh luyện bằng trải qua những đớn đau lớn nhỏ.  Đớn đau của họ tự nó chẳng có gì là giá trị.  Nhưng nhờ Mẹ nhuộm nó vào tình yêu của Mẹ, nên nó trở thành bông hoa.  Những bông hoa như thế nơi tôi chẳng nhiều.  Nếu muốn tìm nó, thì phải tìm ở những dòng nước mắt.

Trước hết là hoa sám hối trong những nước mắt ở cuộc chiến nội tâm.  Cuộc chiến nội tâm của tôi cũng đã có một người xưa trải qua và diễn tả rất rõ.  Đó là thánh Phaolô.  Ngài phơi bày như những tiếng nức nở nghẹn ngào: “Vẫn biết rằng Lề luật là bởi Thần Khí, nhưng tôi thì lại mang tính xác thịt, bị bán làm tôi cho tội lỗi.  Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu, vì điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm..

Bởi đó tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay.  Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa.  Nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: Luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí.  Nó giam cầm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi.

Tôi thật là một người khốn nạn!  Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?  Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 7,14-25).

Cuộc chiến nội tâm giữa thiện và ác nơi thánh Phaolô chỉ được tả là rất cam go.  Còn chiến thắng hay chiến bại thì không thấy ngài nói.  Phần tôi, có lúc thắng và cũng có lúc bại.  Vì thế mà tôi sám hối.  Sám hối là bông hoa đầu tiên tôi dâng lên Mẹ vô nhiễm.  Mẹ đã thương giúp tôi trở về, như Mẹ đã giúp kẻ trộm lành xưa chịu treo trên thập giá.

Bên cạnh bông hoa sám hối trồng trong dòng nước mắt ăn năn, tôi có thể lượm được một bông hoa khác.  Tôi tạm gọi nó là hoa cảm thương trôi trong dòng nước mắt bất lực không thể phục vụ.  Biết bao lần, tôi cảm thấy đau đớn vì bất lực trong việc loan báo Tin Mừng.  Tôi nghĩ Đức Mẹ xưa đã khóc khi phải chấp nhận âm thầm bồng con trốn sang Ai Cập và ở lại đó ẩn mình trong cảnh nghèo khó (Mt 2,13-18).

Đức Mẹ chắc cũng đã khóc, khi phải chứng kiến cảnh con mình bị hành hạ và bị giết (Ga 19,25-27).  Mẹ đã không cứu được con mình.  Nhưng Chúa lại muốn như vậy.  Sự vâng lời như thế còn đau hơn là chết.

Chương trình cứu độ của Chúa rất khác ý nghĩ của con người.  Chúng ta tưởng sẽ cứu được các linh hồn và làm vinh danh Chúa, nhờ những phô trương quyền bính, cao rao chức tước, thổi phồng uy tín, tổ chức lễ lạt linh đình.  Nhưng tất cả sẽ không có giá trị bằng sự vâng phục ý Chúa.  Ý Chúa là muốn ta chấp nhận hạ mình xuống, đi theo con đường Chúa cứu thế đã đi, và Đức Mẹ vô nhiễm cũng đã vâng ý Chúa bước theo từng bước.

Ngoài ra, biết bao lần, tôi cảm thương đau đớn vì bất lực trong việc cứu giúp những người cần được giúp đỡ, hoặc về vật chất hoặc về tinh thần.  Tôi muốn giúp.  Nhưng ý muốn của tôi đụng vào những giới hạn khắp nơi của tôi.  Những giới hạn đó càng ngày càng lớn, khi tuổi tác bệnh tật càng tăng lên.  Phục vụ trong những tình trạng này sẽ chỉ còn là tập trung vào cầu nguyện và dâng đau khổ với tình yêu siêu nhiên lên Chúa giàu lòng thương xót, qua trái tim Mẹ vô nhiễm, để góp phần nào vào việc loan báo Tin Mừng.

Chính trong những tình trạng này, mà tôi được thu hút nhiều hơn đến việc lắng nghe Đức Mẹ nhắn nhủ con cái Mẹ đang sống trong thời điểm hiện nay.

Lắng nghe.

 Thời điểm hôm nay là một thời điểm rất đáng ngại.  Ngại vì ma quỉ và thế tục xấu đang cố tình tạo ra một môi trường ô nhiễm.  Tôi không muốn nói về môi trường ô nhiễm sinh thái, mà về môi trường phong hoá và luân lý.

Ô nhiễm khắp nơi.  Ai cũng phải sống chung với ô nhiễm.  Nhưng khả năng và mức độ chịu ảnh hưởng ô nhiễm sẽ tuỳ theo ba cái mốc này: Nơi chốn, lứa tuổi và giới phái.

Nơi chốn là một nước, một vùng, hoặc một văn hoá, một tôn giáo hay không tôn giáo, hoặc một giai cấp, một mức sống, một tổ chức.  Có nơi ô nhiễm hơn nơi khác.  Lứa tuổi là lớp già, lớp thanh niên, lớp thiếu nhi, lớp trẻ thơ.  Có lớp tuổi dễ bị ô nhiễm hơn lớp tuổi khác.  Giới phái là nam, là nữ.  Có giới phái dễ bị ô nhiễm hơn giới phái khác.

Hiện nay, làm sóng ô nhiễm mạnh nhất về phong hoá là hưởng thụ độc hại.  Người ta tìm mọi cách để tìm hưởng thụ đó.  Hưởng thụ nhờ danh vọng, chức tước, địa vị, quyền lợi, tiền bạc, ăn uống, tiện nghi, giải trí, sắc dục, vv….  Nếu không cảnh giác, thì cả những gì vốn được tôn trọng là thánh thiêng, cũng có thể bị lợi dụng cho mục đích hưởng thụ xấu xa.

Trước một nguy cơ lớn mạnh và tinh vi có khả năng tiêu diệt những giá trị thiêng liêng, đẩy các linh hồn vào tay thần dữ, để chúng tha hồ lôi xuống hoả ngục, Đức Mẹ vô nhiễm đã hiện ra ở Lộ Đức, ở Fatima, ở Mễ Du và nhiều nơi khác, để tha thiết kêu gọi nhân loại sám hối, khiêm tốn đi vào đàng thiện.  Kẻo sẽ quá muộn.

Vậy ta hãy lắng nghe Mẹ, mà vâng phục ý Chúa.  Chính bản thân ta hãy trở thành đền thờ Chúa Thánh Thần, trong đó ta được hưởng thụ những gì là chân thiện mỹ, bình an, hạnh phúc đích thực và bền vững.

Tôi có cảm tưởng là nhiều người hiện nay đang sống như không có lương tâm, hoặc với một cái tâm đã lạnh cứng.  Không còn khả năng rung cảm với những nỗi đau của Chúa, của Đức Mẹ, của Hội Thánh, của những kẻ khốn cùng đang dở sống dở chết xung quanh mình.

Nhưng tôi vẫn tin vững vàng lời Chúa phán trong Phúc Âm: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37).  Nhất là với lời cầu bầu của Đức Mẹ vô nhiễm.  Nên sự phục hưng lại Hội Thánh giữa một thế giới đầy ô nhiễm sẽ thực hiện được.

Nhưng đừng quên sự phục hưng như thế phải bắt đầu từ mỗi người chúng ta, con cái của Mẹ vô nhiễm.

Trong mỗi người, việc phục hưng sẽ bắt đầu và nhấn mạnh ở cái tâm.  Cái tâm làm sao giữ không bị nhiễm, sẽ dẫn đưa tất cả con người về đàng thiện.  Không bị nhiễm là nhờ thánh giá.  Hoặc bị nhiễm mà được rửa sạch cũng là nhờ thánh giá.

Chúng ta ít là hãy ước muốn việc đó, và dâng ước muốn chân thành đó lên trái tim Mẹ vô nhiễm.  Người là Mẹ Chúa Cứu thế và cũng là mẹ chúng ta.  Người là hy vọng của những ai sống bé mọn và tín thác nơi trái tim vô nhiễm đầy tình mẫu tử dịu dàng xót thương của Người.  Người là nơi trú ẩn của những kẻ lỗi lầm biết sám hối.  Người là Đấng cầu bầu đắc lực nhất trước toà Chúa cho tất cả những ai tin tưởng nơi Người.

ĐGM. Bùi Tuần

From: Langthangchieutim

TRÊN ĐỜI NÀY, NHỮNG THỨ QUÝ GIÁ NHẤT ĐỀU LÀ MIỄN PHÍ

Bang Uong

TRÊN ĐỜI NÀY, NHỮNG THỨ QUÝ GIÁ NHẤT ĐỀU LÀ MIỄN PHÍ

Nhiều người hay than thở rằng cuộc đời này thật bất công. Thực ra, nếu suy ngẫm kỹ, bạn sẽ nhận ra rằng những thứ quý giá nhất trên đời này đều miễn phí. Cuộc sống vốn đơn giản, chỉ có điều chúng ta luôn làm cho mọi thứ phức tạp lên mà thôi.

* Ánh sáng mặt trời là miễn phí

Trên thế gian này, không sinh vật nào có thể sống sót nếu thiếu ánh mặt trời. Thế nhưng có ai từng phải trả một đồng nào cho thứ ánh sáng kỳ diệu đó chưa?

* Không khí là miễn phí

Phật dạy mạng người mong manh như hơi thở. Chúng ta có thể nhịn ăn vài tuần mà không chết, chúng ta có thể chịu khát được một vài ngày, nhưng chỉ nhịn thở vài phút là chúng ta sẽ chết. Chúng ta đang được hít thở không khí miễn phí nhưng lại coi đó là đương nhiên và không trân trọng, bởi vậy nên chúng ta thản nhiên phá hại môi trường, làm ô nhiễm bầu không khí chung. Có khi nào bạn ngồi thư giãn hít thở dưới tán cây xanh? Hãy tri ân nếu bạn đang có không khí trong lành miễn phí để thở hàng ngày.

* Tình yêu thương là miễn phí

Mỗi người chúng ta đều trần trụi khi đến với thế gian này và đều nhận được sự che chở vô bờ bến của cha mẹ, một thứ tình thương không mong báo đáp in sâu trong máu thịt. Nhưng không có người cha mẹ nào nói với con mình rằng: “con cho mẹ tiền mẹ mới thương con”.

Tình yêu thương này của cha mẹ, sẽ không giảm giá trị vì bạn đã trưởng thành, càng không mờ nhạt vì họ đã già đi, chỉ cần cha mẹ còn sống ở trên đời này, bạn vẫn nhận được tình yêu thương này trước sau như một. Nếu bạn đang được sống trong tình yêu thương của gia đình, người thân, hãy biết ơn điều đó.

* Tình bạn là miễn phí

Người âm thầm ở bên cạnh bạn khi bạn cô đơn, người giơ cánh tay ra đỡ bạn khi bạn ngã, người cho bạn dựa vào vai an ủi bạn khi bạn đau lòng, người luôn sẵn sàng xuất hiện mỗi khi bạn cần giúp đỡ, thế nhưng người đó có bao giờ đổi những thứ đã cho đi thành tiền mặt, sau đó kêu bạn trả không?

* Nụ cười

Mọi người vẫn thường nói: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, nụ cười đem đến rất nhiều lợi ích: giảm căng thẳng, tăng hưng phấn, khiến mọi người thêm gần gũi và yêu thương nhau hơn… Và đặc biệt, không ai “đánh thuế” nụ cười cả, vậy tại sao chúng ta không cùng cười thật tươi hằng ngày để cho cuộc đời thêm vui nhỉ?

* Những cái ôm nồng ấm

Một điều cực kì tuyệt vời nữa trong cuộc sống bạn có thể thoải mái trao và nhận, đó chính là những cái ôm. Bạn đâu có phải trả phí khi muốn ai đó ôm mình hay muốn ôm người bạn yêu thương đúng không? Vậy còn chần chừ gì nữa mà không thoải mái thể hiện tình cảm chân thành nhất của bản thân với những cái ôm.

* Những kỉ niệm đẹp

Có những ký ức đẹp có thể tiếp thêm động lực cho chúng ta vào những lúc khó khăn hoặc bất cứ khi nào cần, nó hoàn toàn miễn phí. Thay vì tiếc nuối quá khứ đã qua, hãy để những kỷ niệm đẹp cho chúng ta thêm niềm tin yêu cuộc đời.

* Hy vọng là miễn phí

Bất luận bạn đang giàu có hay nghèo đói, bạn đều có thể đặt ra mục tiêu riêng cho cuộc đời mình. Mục tiêu này có thể là vĩ đại, cũng có thể là bình thường, giản dị, chỉ cần bạn cảm thấy bằng lòng với nó là đủ rồi.

Còn có gió xuân, thì còn có mưa phùn, còn có ánh trăng trong vắt, thì còn có các vì sao lấp lánh trên trời…

Vậy nên bạn đừng có than thở nữa, hãy quan sát cuộc sống để thấy những điều tốt đẹp luôn hiện hữu. Hãy tri ân cuộc sống và hân hưởng những gì mình đang có.

ST

  Người phu xe hiếm có

   Người phu xe hiếm có

Tinh thần quốc dân của người Nhật qua chuyện “Người phu xe hiếm có”

Phan Bội Châu

Cuối năm 1905, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ dành dụm được vài đồng bạc làm hành phí để lên Tokyo tìm cho được anh học sinh Trung Quốc, quê Vân Nam có tên Ân Thừa Hiến. Xuống khỏi xe lửa, 2 người gọi một phu xe và đưa danh thiếp “Ân Thừa Hiến” ra. Người phu không biết chữ Hán bèn đi tìm một đồng nghiệp khác biết chữ. Người này viết chữ trao đổi: “Bạn tôi không thông chữ Hán nên tiến tôi với các ông. Tôi biết chữ Hán nên nếu muốn đi đâu, các ông cứ viết chữ ra là tôi đưa các ông tới”.

Nói rồi, người phu đưa 2 ông tới Chấn Võ Học Hiệu, hỏi học sinh Ân Thừa Hiến. Té ra anh này đang thuê nhà nơi khác chờ qua năm, không ai biết ở đâu.

Người phu xe nghĩ một lúc rồi kéo xe vào bên đường và nói: “Các ngài hãy cứ chờ tôi ở đây vài ba tiếng, tôi đi tìm chỗ ở của người đó, rồi sẽ quay lại”.

Đứng chờ từ 2h đến 5h chiều, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ nghĩ, Tokyo quá rộng, lữ quán có muôn nhà, tìm chỗ ở một học sinh Tàu, gốc Vân Nam chỉ biết tên thiệt không lấy gì làm chắc, nếu cùng một nết với dân Việt, e sẽ khốn nạn với vấn đề tiền nong… Ai dè sau 3h, anh phu xe mừng rỡ chạy về, dắt hai người đi thêm 1 tiếng, đến một lữ quán có treo biển với hàng chữ “Thanh quốc Vân Nam lưu học sinh Ân Thừa Hiến”.

Giờ mới hỏi đến tiền công, anh phu nói: “Hai hào năm xu”. Phan Bội Châu làm lạ, rút một đồng bạc ra trao và tỏ tấm lòng đền ơn. Người phu xe đáp lại khảng khái: “Theo quy luật Nội vụ sảnh đã định thì từ nhà ga Tokyo đến nhà trọ này, giá xe chỉ có ngần ấy. Vả lại các người là ngoại quốc, yêu mến văn minh nước NHẬT mà đến đây; Vậy ta nên hoan nghênh các vị, chứ không phải hoan nghênh tiền bạc đâu. Bây giờ, các người cho tôi tiền xe vượt quá lệ, thế là khinh bạc người NHẬT BẢN đó!”.

Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ tạ ơn người phu xe đáng kính, lòng thêm tủi!

Than ôi! Trí thức trình độ dân nước ta xem với người phu xe Nhật Bản, chẳng dám chết thẹn lắm hay sao!

(Tự phán, Phan Bội Châu)

From: TU-PHUNG

Lợi ích của đọc sách

Lợi ích của đọc sách

Có một chú tiểu sống trên núi cùng với sư phụ tại một ngôi chùa nhỏ, cậu bé rất chăm chỉ làm các việc đã được giao phó như gánh nước, nấu cơm, quét dọn bụi bặm… nhưng riêng việc đọc sách cùng sư phụ là cậu không hào hứng cho lắm.

Trong khi đó, ngày nào sư phụ cũng không quên nhắc cậu đọc sách, cậu thắc mắc: “Tại sao chúng ta phải đọc nhiều sách như vậy, con thấy việc đọc sách có ích gì đâu?”.

Sư phụ nghe vậy bèn mỉm cười nói với cậu ngày mai hãy mang cái giỏ dính đầy than bẩn để xách nước thay vì cái thùng hay xách bấy lâu nay. Chú tiểu mặc dù không hiểu nhưng vì đó là yêu cầu của sư phụ nên chú đành nghe và làm theo. Ngày nào cũng mang cái giỏ đi để xách nước nhưng bao nhiêu nước cũng chảy hết qua cái lỗ trên giỏ, không thể mang chút nước nào về nhà.Khi cậu thắc mắc về việc này thì sư phụ nói hãy cứ tiếp tục và cậu vâng lời nhưng chẳng được bao lâu. Nỗi thất vọng ngày càng lớn khi ngày nào cũng phải làm việc vô ích này khiến cậu chán nản, đến khi không chịu được nữa cậu nói với sư phụ rằng từ ngày mai mình sẽ không đi xách nước nữa.

Sư phụ mỉm cười, bảo chú tiểu lấy cái giỏ ra đây và ôn tồn nói: “Con nghĩ việc làm của con là vô ích sao? Hãy nhìn thử xem, cái giỏ này trước kia đựng than đen nhẻm nhưng từ ngày con lấy nó để xách nước nó đã sạch trong không còn lấm lem vết than như xưa nữa.

Việc đọc sách cũng vậy, lợi ích của nó không thấy được bằng mắt, không phải ngày một ngày hai để mong thành công nhưng không có nghĩa là quá trình này trải qua vô nghĩa. Con đọc một quyển sách mỗi ngày, tâm hồn sẽ được rửa trôi một ít, đến khi đủ thì sẽ sạch bong như cái giỏ than này”.

Chú tiểu hiểu ra, thầm cảm ơn sư phụ và từ đó không còn chán ghét việc đọc sách nữa.

Nhìn chung có rất nhiều lợi ích của đọc sách như để giải trí, để có thói quen lành mạnh, hoàn thiện kỹ năng viết, nâng cao kiến thức, kích thích tinh thần, cải thiện trí nhớ… Thế nhưng hầu hết chúng ta né tránh chúng chỉ vì một chữ LƯỜI và bao biện rằng không có thời gian, trong khi họ chỉ cần 20-30 phút mỗi ngày để cho não mình được “ăn” mà họ không chịu thực hiện.

Cơ thể chúng ta muốn nạp năng lượng thông qua việc tiêu thụ thức ăn, còn não của chúng ta cũng vẫn hàng ngày cần “ăn” nhưng ta chẳng bao giờ chịu chăm sóc chúng.

Có hai cách để bạn có được kiến thức: một là tự học, tự đọc và tìm hiểu, cách thứ hai là có một người thầy chỉ dẫn. Sách chính là người thầy tuyệt vời mà bao lâu nay vẫn sẵn sàng ở bên chúng ta nhưng không phải ai cũng nhận ra.

Nếu bạn phải học qua thực tế, qua vấp ngã của chính mình thì điều đó không chỉ gây đau đớn mà còn tốn rất nhiều thời gian. Cách để giảm bớt rủi ro và rút ngắn thời gian đó là thông qua sách vở.

Đọc sách như là một cách để trò chuyện với những bộ não vĩ đại nhất trên thế giới này khi họ đã ghi ra những kiến thức, hiểu biết của mình vào những cuốn sách sống mãi với thời gian.

Sách là tri thức lưu truyền mãi cho thế hệ về sau, là những công trình nghiên cứu, là nguồn kiến thức tuyệt vời trong mọi lĩnh vực. Vì vậy đừng nghi ngờ về ý nghĩa của việc đọc sách, hay có suy nghĩ chúng chẳng có tác động gì đến cá nhân bạn cả.Không có quyển sách nào vô ích cả, tiểu thuyết, sách văn học, sách kinh doanh, sách dạy kỹ năng mềm, sách hội họa, âm nhạc, lịch sử… đều cho ta những góc nhìn mới mẻ về cuộc sống này. Bằng một cách vô tình nào đó, tất cả đều tác động đến nhân cách cũng như cuộc sống mỗi người chỉ là chúng ta không nhận ra điều đó mà thôi.

S.T.

From: TU-PHUNG