ĐANG LÀ CHÍNH MÌNH

ĐANG LÀ CHÍNH MÌNH

“Tôi đã giãi bày tâm sự tôi trước nhan thánh Chúa.”

Chuyện kể về một thiếu nữ đã tin nhận Chúa.  Ngày kia, một giáo sư hỏi cô, “Bạn có phải là một tội nhân trước khi tin nhận Chúa?” “Vâng, thưa ngài,” cô trả lời.  “Bây giờ, cô vẫn là một tội nhân?”  “Thành thật mà nói, tôi cảm thấy mình là một tội nhân hơn bao giờ hết!”  “Vậy thì có gì thay đổi đâu?”  “Có chứ!  Tôi không biết phải giải thích thế nào,” cô nói, “Ngoại trừ tôi đã từng là một tội nhân chạy theo tội lỗi; nhưng bây giờ, tôi ‘đang là chính mình’, một tội nhân đang chạy trốn tội lỗi!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Tôi ‘đang là chính mình’, một tội nhân!”  Sẽ khá bất ngờ khi các bài đọc Lời Chúa hôm nay cho thấy một lần nữa, điều cô gái thú nhận, cũng là điều tuyệt vời Thiên Chúa chờ đợi nơi mỗi người chúng ta.  Ngài chờ đợi sự chân thành!  Bà Anna ‘đang là chính mình,’ người bị thần ô uế ám ‘đang là chính mình;’ và thú vị thay, Chúa Giêsu, cũng ‘đang là chính mình.’

Bài đọc Samuel tường thuật câu chuyện lên đền thờ đầy cảm xúc của bà Anna, một người cùng đường.  Với bà, cầu nguyện không cần được đo lường, và phải chỉn chu; đôi khi, nó có thể được bộc phát thẳng thừng.  Từ sâu thẳm của nỗi đau và phẫn uất, bà nức nở với Chúa những lời đứt đoạn, không thành tiếng, chẳng thành lời.  Thầy cả Hêli nghĩ, bà say; nhưng bà cho biết, bà ‘đang là chính mình’ trước nhan Chúa, đang trút cho Ngài sự tức giận và buồn bã trong trái tim, trong linh hồn.  Bà héo hắt và vô phúc vì vô sinh!  Vậy mà Thiên Chúa lại yêu thích sự bộc bạch đó, Ngài không trách cứ khi bà nói khó với Ngài, cằn nhằn Ngài.  Cầu nguyện không cần phải chải chuốt, tìm lời hoa mỹ; không cần quanh co.  Như vậy, không có gì trong cuộc sống nằm ngoài giới hạn của lời cầu nguyện.  Thiên Chúa có thể đối phó với bất cứ điều gì chúng ta ném vào Ngài.  Không lời cầu nào được gọi là thô thiển, thiếu văn minh nơi một người ‘đang là chính mình!’  Chúa nhậm lời Anna, ban cho bà một mụn con là Samuel, để bà cất lên bài Magnificat đầu tiên qua lời Thánh Vịnh đáp ca mà Đức Maria sẽ làm vọng lại, “Tâm hồn con hoan hỷ vì Chúa, là Đấng cứu độ con!”

Tương tự như thế, người bị quỷ ám trong Tin Mừng nói với Chúa Giêsu theo cách bà Anna đã nói.  Người ấy thét vào Chúa Giêsu, “Hỡi Giêsu Nazareth, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao?”  Đó là những câu hỏi đầy giận dữ tạt vào Ngài.  Tuy nhiên, như Đấng ngự trong đền thờ không lấy đó làm điều bực tức, và cảm thấy thoải mái với sự oán giận của Anna, Chúa Giêsu cũng không cho là vấn đề với cơn thịnh nộ cực độ, ma quái nơi người đàn ông ‘đang là chính mình’ này.  Ngài đáp lại bằng một lời răn đe, giải phóng anh khỏi quỷ ám.  Bất cứ khi nào chúng ta mở lòng, tiết lộ cho Chúa những gì đang có, kể cả những cảm xúc đen tối nhất, chúng ta cũng sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện chữa lành và xoa dịu đầy xót thương của Ngài.

Chúa Giêsu trừ quỷ, “Mọi người kinh ngạc hỏi nhau, ‘Cái gì vậy?  Một giáo lý mới ư?’”  Nhận xét của dân chúng ở đây cũng rất thật, họ ‘đang là chính mình.’  Và bản thân Chúa Giêsu cũng thế, lời Ngài nói, việc Ngài làm, chứng tỏ Ngài ‘đang là chính mình.’  Bởi lẽ, Ngài đang thể hiện quyền năng Thiên Chúa, Ngài cho biết Ngài là ai, là Thiên Chúa; Ngài nói với uy lực Thiên Chúa, nói theo cách để mọi người biết rằng, lời Ngài là Lời biến đổi, Lời làm cho sống.  Điều này xảy ra, không phải vì Ngài muốn, nhưng Ngài phải như thế, “Ngài giảng dạy như Đấng có uy quyền!”

Anh Chị em,

“Tôi ‘đang là chính mình’, một tội nhân!”  Đó là mệnh căn không suy suyển của mỗi người chúng ta; đó là lý do Chúa Giêsu xuống thế làm người; và đó là ý thức cốt lõi tiên thiên nơi mỗi người để Chúa Giêsu có thể cứu lấy họ.  Ý thức mình là một tội nhân, có nghĩa là tôi đang cần Thiên Chúa; đang cần Thiên Chúa đồng nghĩa ‘đang là chính mình.’  Bởi lẽ, đến bao giờ chúng ta mới hết cần đến lòng thương xót của Ngài?  Vậy, liệu chúng ta có ‘đang là chính mình’ hay ‘đang là một ai khác’ khi cầu nguyện?  Đừng quên, Thiên Chúa thấu suốt tâm hồn, dò xét tâm can từng gang tấc; Ngài thấy hết bên dưới những gì chúng ta vô tình hay cố ý che chắn.  Trước Ngài, không ai được coi là xứng đáng, kể cả các thánh; tất cả chúng ta đều là những tội nhân.  Chính lúc đó, Thiên Chúa mới có thể làm một điều tương tự như đã làm cho Anna, cho người quỷ ám, để chữa lành chúng ta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin xót thương con, vì con là kẻ có tội.  Xin cho con ghi nhớ, đó là lời cầu nguyện của một người ‘đang là chính mình’ nhất, cũng là lời cầu nguyện Chúa yêu thích nhất,” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim

Đi tìm câu trả lời cho nguồn gốc của cái ác

Đi tìm câu trả lời cho nguồn gốc của cái ác

Cái ác xuất hiện khi sự đồng cảm bị rửa trôi.

04/01/2022

By  HỨA Y ĐỊNH

Ảnh nền: Soha. Bìa sách: Amazon.

Một người vợ ly dị chồng, cảm thấy ghen tức vì chồng cũ tìm được hạnh phúc mới còn mình thì chưa. Cô cầm dao đâm chết hai đứa con gái ruột. Đứa con gái 16 tuổi bị cô đâm 37 nhát, còn đứa trẻ 13 tuổi bị mẹ mình đâm 29 lần. [1]

Một người cha giam đứa con gái của mình trong tầng hầm suốt 24 năm, cưỡng hiếp cô và buộc cô sinh bảy đứa con. [2] Một trong số những đứa trẻ chết ngay sau khi sinh ra và bị ông đốt xác phi tang. Ba đứa khác được ông công khai nhận nuôi như trẻ lang thang cơ nhỡ. Ba đứa trẻ còn lại sống trong hầm tối cùng mẹ của chúng từ khi ra đời đến lúc được giải thoát. Trong suốt thời gian đó, người cha này nói dối vợ mình, mẹ của cô gái, rằng cô đã mất tích.

Một người phụ nữ hành hạ đứa con gái 8 tuổi của người tình trong suốt bốn tiếng đồng hồ cho đến khi cô bé chết. [3] Đứa trẻ bị đánh liên tục bằng cây gỗ to dài cả mét; bị đạp mạnh vào bụng, âm hộ, ngực; bị trói tay chân bắt quỳ gối để học, vừa quỳ vừa uống nước. Trong khi đang quỳ, cô bé tiếp tục bị tát mạnh vào đầu, đạp cho té ngã, cho đến khi ngất đi, ngừng thở. Cô bé đã bị bạo hành trong suốt một thời gian dài, người cha biết chuyện nhưng không can ngăn. Sau khi đứa trẻ chết, ông ta vội vàng xóa camera để phi tang chứng cứ. [4]

Vì sao người ta có thể ác đến như vậy?

Phần lớn trong chúng ta đã từng ít nhất một lần đặt ra câu hỏi đó, nhưng hiếm khi ta có được câu trả lời thuyết phục.

Những câu trả lời dễ dãi kiểu “những kẻ đó sinh ra đã ác”, “chúng là quỷ chứ không phải là người” hay “chúng làm chuyện ác vì chúng ác” đều không giải quyết được vấn đề gì.

Góc nhìn khoa học có thể giúp chúng ta có thêm một chút hiểu biết về bản chất và nguồn gốc của cái ác.

Quyển sách “The science of evil” (Khoa học về cái ác) của nhà tâm lý học Simon Baron-Cohen là một nỗ lực như vậy. [5]

Thông qua những câu chuyện thực tế, tác giả tổng hợp các nghiên cứu của bản thân và đồng nghiệp trong ngành tâm lý học, thần kinh học và phân tâm học để tìm cách giải đáp câu hỏi muôn thuở của nhân loại.

Cái ác hay là sự đồng cảm bị rửa trôi

Simon Baron-Cohen trước tiên đặt vấn đề với khái niệm “ác” (evil). Theo ông, nó là một từ quá chung chung và không có cơ sở khoa học rõ ràng để nghiên cứu.

Thay vào đó, ông đề xuất một khái niệm khác làm cơ sở để xem xét nó: sự đồng cảm hay thấu cảm (empathy).

Đồng cảm, theo định nghĩa đơn giản của Baron-Cohen, là khả năng nhận biết suy nghĩ hoặc cảm xúc của người khác và có phản ứng phù hợp với những tín hiệu đó.

Khi một người làm chuyện ác, họ không có khả năng đồng cảm với nạn nhân – hoặc không nhận biết những đau đớn của người khác, hoặc nhận ra nhưng không có phản ứng nào với cái đau đó.

Nói cách khác, người làm chuyện ác đối xử với người khác không khác gì đồ vật – tất cả đối với họ chỉ là những thứ vô tri vô giác, không có suy nghĩ, không có cảm xúc.

Trạng thái này được Baron-Cohen gọi là “empathy erosion”, tạm dịch là “sự đồng cảm bị rửa trôi”.

Trong khi cái ác khó có thể được định lượng, sự đồng cảm lại có thể được đo lường.

Baron-Cohen và các đồng nghiệp phát triển công cụ đo lường mức độ đồng cảm, hay “Empathy Quotient” (EQ). Đó là một bảng các câu hỏi để kiểm tra khả năng nhận biết và phản ứng với cảm xúc của người khác.

Ví dụ một số câu hỏi được dùng cho bài kiểm tra:

– Tôi có thể dễ dàng nhận ra nếu ai đó đang muốn tham gia vào cuộc trò chuyện.

– Tôi không thấy phiền gì lắm khi bản thân tới trễ trong một cuộc hẹn với bạn bè.

– Khi còn nhỏ, tôi thích cắt đôi con sâu để xem chuyện gì sẽ xảy ra.

Thông qua kết quả khảo sát, các tác giả nghiên cứu chia ra bảy nhóm người với mức độ đồng cảm từ thấp nhất (cấp độ 0) cho đến cao nhất (cấp độ 6).

Phân bổ các nhóm này thuộc dạng phân phối chuẩn theo đường cong (bell curve), với đa phần người được khảo sát nằm ở nhóm giữa, và một số ít nằm ở hai đầu.

Trong số những người thuộc nhóm có mức đồng cảm thấp, tác giả chỉ ra ba loại người có khả năng gây hại nhất: những người rối loạn nhân cách ranh giới (borderline), những người rối loạn nhân cách chống đối xã hội (psychopath) và những người ái kỷ (narcissist).

Nguồn gốc từ gia đình

Điểm chung của những nhóm rối loạn nhân cách ở trên là phần lớn họ có một tuổi thơ đầy sóng gió, hay nhiều người sẽ gọi là bất hạnh.

Bất hạnh không chỉ thể hiện ở những hành vi bạo lực, lạm dụng (abuse) từ người lớn, nó còn có thể là kết quả của sự bỏ mặc (neglect), thiếu vắng tình thương.

Nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò nền tảng của giai đoạn thơ ấu, rằng nó là chỉ dấu quan trọng có thể đoán định tương lai của một người.

Một đứa trẻ bị bạo hành khi còn nhỏ, lớn lên có thể trở thành kẻ bạo hành người khác. Một người được dạy dỗ bằng bạo lực, lớn lên cũng sẽ dùng tay chân để dạy dỗ lại kẻ khác. Và một đứa bé từ nhỏ không được trải qua những chăm sóc yêu thương, lớn lên sẽ rất khó có thể hiểu được làm thế nào và vì sao phải yêu thương người khác.

Các nhà tâm lý học gọi lý thuyết về giai đoạn phát triển thời thơ ấu là “attachment theory” – học thuyết gắn kết. Đó là giai đoạn mà đứa trẻ có thể học được những thứ quan trọng nhất trong cuộc đời, bao gồm khả năng đồng cảm.

Một đứa trẻ bị bạo hành có thể lớn lên trở thành kẻ bạo hành. Ảnh minh họa: Secureteen.com.

Các nhà nghiên cứu cho rằng từ những khoảnh khắc đầu tiên, đứa trẻ đã cố gắng “đọc” suy nghĩ và cảm xúc của cha mẹ/ người chăm sóc mình, qua đó học cách đồng cảm với người khác. Nếu thứ chúng “đọc” được từ người lớn là sự thù ghét, đặc biệt là khi sự thù ghét đó nhắm đến chúng, khả năng đồng cảm của đứa trẻ sẽ bị bẻ lệch đáng kể.

Những đứa trẻ đón nhận thù ghét khi lớn lên sẽ giống một chiếc nồi áp suất luôn chực chờ bùng nổ.

Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp đứa trẻ lớn lên trong bạo hành nhưng có mức đồng cảm cao với người khác, hoặc ngược lại, những kẻ bạo hành được sinh ra và nuôi dưỡng trong những gia đình bình thường.

Vì vậy, bên cạnh yếu tố gia đình, những nhân tố di truyền, sinh học cũng cần được lưu ý để đánh giá sự phát triển của một đứa trẻ.

***

Một điểm đáng chú ý khi liên hệ giữa sự đồng cảm và cái ác là hầu như tất cả chúng ta đều trải qua những khoảnh khắc mà “công tắc đồng cảm” trong đầu bị tắt đi.

Đó là những lúc ta đang tập trung để làm một việc gì đó, mọi chuyện xung quanh đều rơi ra khỏi vùng chú ý. Hoặc trong trường hợp tiêu cực, đó là khi ta trải qua những cơn nóng giận, bị căng thẳng, mệt mỏi, và thường làm những hành động gây tổn thương người khác.

Đây là những trạng thái cảm xúc ngắn hạn (transient emotions), khác với tình trạng lâu dài (permanent) nơi những người rối loạn nhân cách.

Cách để nhận biết tính chất ngắn hạn là khả năng tự phản chiếu: biết suy nghĩ và có cảm xúc hối hận về hành động gây tổn thương cho người khác, từ đó sửa chữa việc mình làm.

Vấn đề nghiêm trọng sẽ xuất hiện khi một người mất đi cơ chế tự phản chiếu, tự kiểm soát này.

Lời kinh hy vọng

 Lời kinh hy vọng

By Sr. Bich Thu on 20/01/2015 · Lời kinh nguyện

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sự nhẫn nại,
để chúng con có thể chờ đợi những điều sẽ xảy đến trong tương lai,
để có thể thay đổi con người chúng con sao cho phù hợp với những điều mà chúng con không mong ước,
để chúng con có thể chấp nhận những người gây khó chịu cho chúng con,
để chúng con có thể sống giữa những giới hạn của cuộc đời này.

Xin ban cho chúng con sự can đảm cần thiết,
để chúng con trở nên bạn thân của những kẻ thù,
để chúng con có thể chấp nhận và hy vọng vào những điều hầu như đã hết hy vọng,
để chúng con có thể đối mặt với những chỉ trích,

để chúng con có thể tin vào những gì có thể và những gì không thể.

Xin ban cho chúng con ơn khôn ngoan là ơn mà không thể thiếu được trong cuộc sống này,

để chúng con thấy được giá trị ở những điều mà mọi người coi thường nó,
để chúng con có thể chấp nhận những điều không thể giải thích được trong cuộc sống hằng ngày,
để chúng con có được một tinh thần học hỏi và sẵn sàng phó thác vào ân ban của Chúa. Amen

Trích từ “Lời kinh dâng Chúa”

T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Nhân Chủng Học

T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Nhân Chủng Học

02/01/2022

Thứ nữ của nhà văn Vũ Khắc Khoan, chị Vũ Thị Gấm, có lẽ hiện đang sống đâu đó trong Silicon Valley (nơi còn được người Việt “mệnh danh” là Thung Lũng Hoa Vàng) của tiểu bang California.

Bốn mươi năm qua, tôi cũng vẫn quanh quẩn ở địa phương này nhưng chưa gặp lại chị Gấm lần nào. Thế mới biết là quả đất tuy tròn nhưng quá lớn nên cơ hội gặp lại cố nhân (để có dịp thưa thốt một lời thâm tạ) cũng chả dễ dàng chi.

Tôi tới Hoa Kỳ vào cuối năm 1980. Qua năm 82, sau khi tiêu hết đến đồng bạc trợ cấp cuối cùng, tôi xin đi bán xăng và ghi danh vào một trường đại học cộng đồng, West Valley College, nơi mà chị Vũ Thị Gấm đang làm cố vấn (academic counselor) cho những sinh viên vừa nhập khóa.

Chị hỏi:

– Em muốn học ngành gì?

 – Anthropology.

 – What?”

– Nhân Chủng Học!

Chị Gấm tròn xoe mắt như chợt nhìn thấy một sinh vật lạ, vừa đến từ hành tinh nào khác. Ở vào thời điểm ấy, gần như cả nước đều đói vàng cả mắt, đám thuyền nhân vừa rời Việt Nam đều mang theo một gánh nặng và nỗi ám ảnh chung là sự trông đợi (thuốc men, quà cáp, tiền bạc… của thân nhân hay bạn bè còn ở lại.

Do vậy, lớp người tị nạn đầu tiên đều hối hả học lấy một cái nghề tào lao gì đó (miễn là có thể kiếm việc được ngay) nên sự lựa chọn của tôi quả là có hơi xa vời và … xa xỉ!

Ở Mỹ, môn khoa học nhân văn thường chỉ dành cho người giầu có. Họ học để thoả mãn nhu cầu hiếu tri, hay để “trang trí” cho cuộc sống của mình thêm phần phong phú thôi em ạ.

Ngó bộ tôi chưa “thủng” nên bà chị nhẹ nhàng nói thêm đôi câu (nghe) hơi nặng:

– Với cái bằng Tiến Sỹ Nhân Chủng Học thì chỉ có hai cách để kiếm tiền thôi: đi dậy hoặc đi chạy taxi. Chị không tin là em có thể chạy taxi ở San Franciso hay New York, và cũng không nghĩ rằng người ta sẽ mướn một người thiểu số với cái giọng nói tiếng Anh (khó nghe) như em làm thầy giáo.

Ngưng chút xíu, chờ cho tôi thấm thía sự đời, rồi chị ấy lại thong thả tiếp:

– Nên học một cái gì nào thực dụng thì hơn, em ạ. Hiện tại ngành điện tử ở vùng này rất “hot.” Lương hướng cũng khá cao mà chỉ cần vài tháng là lấy được một cái chứng chỉ (certificate) và có thể đi làm kiếm tiền liền.

Từ thuở ấu thơ, tôi được mọi người trong gia đình “âu yếm” gọi tên là Út Khùng. Bạn học và bạn bè trong xóm cũng thế: Tiến Khùng. Tôi quả là “có hơi bị làm sao” thật nên vợ con không có, mèo chó cũng không, dù tam thập nhi lập tới nơi.

Không ai dám kỳ vọng hay trông chờ một đồng xu (hay cắc bạc) nào từ một thằng khùng cả nên tôi vô cùng nhẹ gánh. Tuy thế, tôi lại tự gán cho mình một sứ mệnh khá nặng nề và vô cùng cao cả (khác). Nó cao đến độ hơi khó có thể giãi bầy với một người mới gặp lần đầu:

Em muốn… em muốn… tìm hiểu một ngành học lạ, chưa hề có ở VN, để khi về nước sẽ lập một phân khoa về Nhân Chủng Học chị ạ…

Tôi nói chưa hết ý nhưng chị Gấm xem chừng đã bị lùng bùng (luôn cả hai tai) và không còn kiên nhẫn nữa:

– Còn nhiều người đang chờ nên em cứ về suy nghĩ kỹ đi. Mai mốt mình sẽ bàn luận thêm cũng được.

Đúng hẹn tôi trở lại. Vẫn nhất định giữ nguyên cái ước mơ xa vời (và xa xỉ) của mình. Dù không nghe nhưng tôi cảm được một tiếng thở dài (cố nén) của người đối diện. Cuối cùng, bà chị đành chép miệng:

– Thôi thế này vậy. Thay vì Nhân Chủng Học, em theo ngành Xã Hội đi. Đường có thể ngắn hơn vì không nhất thiết phải học đến tiến sỹ, và cơ hội kiếm được việc làm cũng dễ dàng hơn. 

Thấy tôi hơi nhăn mặt nên chị Gấm tiếp liền:

– Sau khi xong cử nhân thì em ghi danh học tiếp về Công Tác Xã Hội (Social Work) nhá. Chương trình tương đối nhẹ vì vừa học vừa được gửi đi thực tập, và thời gian thực tập vẫn có thể được trả lương hoặc được nhận stipend

– Stipend là cái gì hả chị?

– Cũng tựa như một loại học bổng cho sinh viên nghèo vậy mà.

– Social Work có nhiều nhánh lắm: child welfare, aging, mental health … Nếu lựa chuyên về sức khoẻ tâm thần thì sau khi ra trường, và sau hai năm làm việc toàn thời gian, em sẽ hội đủ điều kiện để thi lấy bằng hành nghề tâm lý trị liệu. Psychotherapy hoàn toàn còn mới lạ ở Việt Nam nên sau này, khi có cơ hội trở về, tha hồ mà … múa gậy vườn hoang. Chịu chưa?

Mãi đến giờ tôi vẫn nhớ nụ cười chế giễu của chị Gấm, sau câu nói cuối cùng. Tôi theo đúng từng bước như lời của bà chị cố vấn nhưng đợi gần nửa thế kỷ rồi mà đường về thì vẫn không có lối. Tôi chả có cơ hội nào lập một phân khoa Tâm Lý Trị Liệu ở nơi quê hương, xứ sở của mình, dù tóc đã điểm sương!

Bằng cấp, rốt cuộc, rồi cũng chỉ là thứ cần câu cơm, không hơn không kém. Dù sao thì tôi vẫn phải nhớ ơn chị Gấm vì nhờ lời khuyên bảo chí tình của chị mà tôi kiếm được một cái cần câu khá tốt, để làm kế sinh nhai, thay vì chạy taxi, cho hết phần đời còn lại.

Giấc mơ Nhân Chủng Học tuy đã chết từ lâu nhưng tôi vẫn chưa chôn. Thỉnh thoảng (khi lang thang trên mạng) nếu thấy có ai viết chi đó về khai quật, mồ mả, xương cốt, đồ đá, đồ sắt, đồ đồng… thì thế nào tôi cũng ghé mắt xem qua chút xíu.

Tuần rồi, tôi tình cờ đọc được hai bài viết ngắn (đề cập đến quan niệm của nhà nhân chủng học Margaret Mead) về điểm xuất phát của nền văn minh nhân loại:

Helping someone else through difficulty is where civilization starts”

A 15,000 year old bone and the Fall 2013 issue of Reflections

Xin tóm lược:

Khi được hỏi rằng điều gì có thể được xem như là dấu hiệu đầu tiên của văn minh? Mead trả lời rằng trong thế giới loài vật khi một con thú bị gẫy chân thì cầm chắc như là chết. Bởi nó sẽ không còn khả năng kiếm sống và sẽ bị bị đồng loại ăn thịt tức thì. Do vậy, khi khai quật được một cái xương đùi bị gẫy và được chữa lành (15 ngàn năm trước) thì đây chính là di chỉ của sự văn minh: chứng tích về sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, để sinh tồn của loài người. Văn minh khởi đầu ở nơi mà tha nhân được trợ giúp khi lâm vào nghịch cảnh.

Quan niệm dung dị của nhà nhân chủng học Margaret Mead khiến tôi không khỏi chạnh lòng khi chợt nhớ đến một mẩu tin ngắn, đọc được trên báo Công An, vào hôm 22/08/2020: Truy tìm kẻ cướp giật vé số của người khuyết tật ở Bình Dương.

Mà nào có riêng chi ở Bình Dương. Loại tin tức tương tự vẫn xuất hiện nhan nhản hằng ngày trên mặt báo:

–       Khởi tố “nữ quái” giật vé số của cụ bà U70.

–       Cụ bà 75 tuổi bị giật 150 tờ vé số.

–       Cướp giật vé số của người già đi bán vé số dạo, nam thanh niên bị bắt.

–       Bắt hai gã trai tráng chuyên đi cướp vé số của người nghèo.

–       Cướp giật vé số của người tàn tật.

Những công dân lão hạng và khuyết tật ở Việt Nam – rõ ràng – không được xã hội cưu mang nên vẫn phải tìm mọi cách để mưu sinh, và vẫn bị đồng loại “làm thịt” đều đều. Ở xứ sở này khái niệm về sự tương trợ hay giúp đỡ lẫn nhau, dường như, mỗi lúc một thêm xa lạ.

Giữa những ngày bão lụt, thiên hạ không khỏi ngỡ ngàng khi đọc một mẩu tin đang lan tràn trên báo chí: “Tìm được trâu bị lũ cuốn trôi chủ nhân bị đòi 10 triệu tiền chuộc.” FB Phạm Văn Thành đặt câu hỏi: “Con người đã thành hùm beo tự khi nào?”

Vấn đề cũng không chỉ giới hạn ở mức độ cá nhân. Ở bình diện thể chế cũng thế, chính sách và chủ trương của nhà nước hiện hành tại Việt Nam cũng không dung tha những người thất thế. Đất đai là sở hữu của toàn dân – xin đan cử một thí dụ – chỉ là một thứ điều luật để hợp pháp hóa những vụ cướp bóc và sát nhân ở đất nước này.  

Ngày 9 tháng 1 năm 2020, một nông dân Việt Nam ở huyện Mỹ Đức, Lê Đình Kình đã bị giết hại khi vết thương đùi (bị một đồng chí của ông đá gẫy) vẫn chưa lành lặn. Mai hậu, nếu những nhà nhân chủng học tương lai khai quật được hài cốt của nhân vật này (hoặc tìm ra mấy đôi nạng sắt cùng những cái chân giả – nằm vương vãi giữa đống xà bần đổ nát, ở vườn rau Lộc Hưng – sau vụ cưỡng chế đất đai hồi năm 2019) họ “dám” sẽ kết luận rằng đó là dấu chỉ của nơi mà văn minh bắt đầu suy tàn, vào hồi thế kỷ XXI AD.

 – Tưởng Năng Tiến

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Cam Bố Hạ

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Cam Bố Hạ

08/01/2022

Nhiếp ảnh gia Trần Công Nhung (24/08/1935 – 01/01/2022) đã may mắn được có dịp đi viếng thăm khắp nước, trước khi tạ thế. Ông vừa đi, vừa bấm máy, vừa huyên thuyên trò chuyện:

Tiếp tục con đường tỉnh lộ chúng tôi chạy về hướng chiến khu Yên Thế. Đường từ Tiên Lục qua Bố Hạ có đoạn còn rải sỏi đỏ. Bố Hạ là quê hương của giống cam nổi tiếng xưa nay. Nhưng anh bạn đi cùng cho biết đã tuyệt chủng, vì sự cải tiến sai lầm của mấy ông cán bộ nông nghiệp. 

Hồi đó các ông học cách ghép cây bên Liên Sô, thấy bưởi quả to nên mượn cam ghép bưởi vào, để có những quả cam Bố Hạ lớn như bưởi, bao nhiêu gốc cam cưa sạch. Từ đó Cam Bố Hạ sinh ra một thứ bưởi không phải bưởi, cam không phải cam, thua xa Bưởi Đoan Hùng, Bưởi Quảng Trạch… Bưởi Năm Roi, một thứ“sáng kiến quái thai”. Hiện nay may ra còn sót một vài cây trong vườn nhà dân, người ta dự trù gây lại giống cam này.

Cái “sáng kiến quái thai” này khiến tôi nhớ đến một bài viết cũ (“Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”) của tác giả Dương Quốc Chính. Ông cũng đề cập tới chuyện giao phối khác giống, giữa lừa với ngựa, và ví von rằng thành quả là Nền Kinh Tế Con La hiện nay của nước CHXHCNVN.

Thưa thật là tôi chưa được tận mắt nhìn thấy con la, bằng xương bằng thịt, lần nào cả. Tôi cũng chả hiểu sao lại có sự ví von ngộ nghĩnh như thế. Gu gồ “con la” thì tìm ra được những dòng chữ như sau:

Mules and hinnyies have 63 chromosomes, a mixture of the horse’s 64 and the donkey’s 62. The different structure and number usually prevents the chromosomes from pairing up properly and creating successful embryos, rendering most mules infertile. (La là con vật lai giữa ngựa cái và lừa đực. Về hình dạng con la giống lừa hơn là ngựa. Trong khi ngựa có 64 nhiễm sắc thể, và lừa có 62, con la có 63 nhiễm sắc thể. Con số lẻ này không cho phép các nhiễm sắc thể phân chia thành cặp, do đó, la hầu như không có khả năng sinh con, hay còn gọi là vô sinh.)

Thảo nào!

Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa quả là… vô sinh thật. Chả những nó không sản xuất được gì ráo trọi mà còn gây ra tình trạng “thua lỗ” (hay “âm vốn”) đều đều nữa chớ. Hổng tin, thử ngó qua tin tức liên quan đến tình trạng sản xuất của đám xí nghiệp quốc doanh mà xem:

— Báo Lao Động: Hàng loạt doanh nghiệp rơi vào cảnh thua lỗ, âm vốn 
— Báo Tiền Phong: Một Trăm Lẻ Bẩy doanh nghiệp thua lỗ
— Báo Thanh Niên: Năm doanh nghiệp nhà nước lỗ gần 17.000 tỉ

— Báo Tuổi Trẻ: Hàng loạt doanh nghiệp nhà nước lỗ nặng
— Báo Vietnamnet:  Mười hai đại dự án thua lỗ nợ 63 nghìn tỷ

Đọc mà tối tăm mặt mũi, dù những mẩu tin trên chả mới mẻ gì và đã xuất hiện thường xuyên trên báo chí nước nhà từ mấy thập niên qua. Đến hôm 24 tháng 9 năm 2020 thì Nguyễn Văn Bình, Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương, khẳng định: “Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng rõ nét.” Là người “tế nhị” nên ông Bình không nói rõ là “nét” gì cả nhưng mọi người đều  “ngầm hiểu” là … nét lỗ! FB Văn Toàn “chốt” lại: 

— Đào than lên bán = lỗ

— Hút dầu lên bán = lỗ

— Đào quặng lên bán = lỗ

— Tăng giá điện bán độc quyền = lỗ

—  Có cái QQ gì nhà nước CS nhúng tay là lời không?

Có chớ! 

Kỹ nghệ “xuất cảng người” thì VN  lời “khẳm” và lời triền miên luôn. Từ năm 1978 cho đến năm 1990, bằng nhiều phương cách, Đảng và Nhà Nước đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Tính rẻ (và gọn) thì chỉ cỡ một phần ba là thành mồi cho cá mập thôi. Còn đám vùi thây ở những trại tị nạn Á Châu thì tuy cũng có nhưng không đáng kể!

Số còn lại phiêu bạt tứ tán, tha phương cầu thực, khắp bốn phương trời. Ngoài tập thể thuyền nhân đi chui (hay bán chính thức) này, còn có nhiều người ra đi hoàn toàn hợp pháp bằng máy bay, cùng với không ít số người xuất khẩu lao động nữa. 

Tất cả đều chăm chỉ làm lụng, dành dụm tích cóp từng đồng, và chỉ đợi đến cuối năm là xin phép để được trở lại chốn xưa vài tuần hay vài bữa. Ai cũng mặc áo gấm về làng, và chả ai quên mang theo cái ví hay cái bóp đầm. Đó là chưa kể số tiền gửi về lai rai hàng tháng.

Hôm đầu năm, Tuổi Trẻ Online (số phát hành hôm 22/01/2021) hớn hở loan tin: “COVID-19 không ‘làm hại’ kiều hối. Ước tính có 15,7 tỉ USD kiều hối đã chuyển về VN, bên cạnh kiều hối Việt kiều còn có người VN lao động ở nước ngoài gửi về bổ sung nguồn vốn sản xuất kinh doanh, tăng tiêu dùng và thúc đẩy đầu tư”.

Đến cuối năm, vào ngày 19 tháng 12 năm 2021, bỉnh bút Phạm Lê Đoan (VNTB) cho biết thêm: 

“Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức hợp tác quốc tế về người di cư (KNOMAD) dự báo lượng kiều hối về Việt Nam năm 2021 tăng 5% so với năm ngoái, lên đến 18,06 tỷ đô-la Mỹ, nghĩa là chiếm tới 4,9% GDP quốc gia, cao nhất từ trước đến nay và thuộc top 10 nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới. Cụ thể luôn, với mức này, lượng kiều hối của Việt Nam đứng thứ 3 trong khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, và xếp thứ 8 thế giới.”

Chủ Tịch Quốc Hội Vương Đình Huệ nói không sai (một cắc) là “tiền trong dân còn khá nhiều.” Riêng với đám dân làm việc hay sinh sống ở nước ngoài thì tiền còn nhiều lắm, chứ không chỉ là “khá nhiều” đâu.

Bởi vậy, Hàng Không Việt Nam đã nẩy sinh ra một sáng kiến thần tốc là tổ chức những “chuyến bay giải cứu đồng bào,” hay “còn được gọi là chuyến bay nhân đạo từ Mỹ về Việt Nam.” Tuy mang danh tình nghĩa đậm đà như vậy nhưng giá vé lại quá cao khiến thiên hạ nhao nhao phản đối:

Những ‘chuyến bay giải cứu’ bóp cổ đồng bào
Chấm dứt ngay chuyến bay hồi hương trục lợi
VN nói ‘giải cứu công dân’ nhưng ‘chặt chém’ ai muốn bay về quê hương

Tham thì thâm!

Thiên hạ vẫn “bay về quê hương” nhưng họ tìm đường đi khác. Một công dân Việt Nam, ông Gia Bảo, chia sẻ với BBC ít nhiều cay đắng: 

Tôi muốn tự tìm hiểu để cho một số người Việt Nam ở nước ngoài cũng muốn về bằng đường Campuchia biết được thế nào. Trước ngày khởi hành tôi cũng rất lo sợ nhưng vẫn vui vẻ chấp nhận rủi ro, kể cả khả năng bị kẹt lại Campuchia. Thà chấp nhận rủi ro nhưng mình không chấp nhận bỏ khoản tiền lớn cho bất kỳ công ty lữ hành nào, tôi kiên quyết không ủng hộ bất kì chuyến bay cứu trợ hay hồi hương mà có giá 70-80 triệu VND…

Thử nghĩ một chuyến charter khoảng 300 chỗ, mỗi người trả 70-80 triệu mà đồ ăn bị cắt xén và cách ly ở khách sạn dù 4 sao nhưng là 2 người một phòng nên tôi thấy quá vô lý. Tôi không muốn bỏ tiền trả một thứ gì đó không đúng giá trị thật. Và tôi quyết định về bằng đường Campuchia cũng là để chia sẻ với mọi người rằng về bằng cách này không có gì khó khăn.

Đúng như BBC tiên đoán: “Vietnam Airlines sau mùa ‘giải cứu trục lợi’ sẽ còn thua lỗ nữa.”  Chắc chưa ai quên là cái hãng hàng không quốc doanh này vừa  được Ngân Hàng Nhà Nước cho vay bốn ngàn tỷ cách đây chưa lâu, dù đang “đối mặt với rủi ro kiện tụng pháp lý với số nợ quá hạn quá cao” – theo tin báo Dân Việt, đọc được vào hôm 21 tháng 6 năm 2021.

Sao đụng đâu lỗ đó mà vẫn cứ nằng nặc ĐHXHCN hoài vậy, mấy cha?

Đó là một câu hỏi rất ngu của riêng tôi. Chỉ cần bớt ngu hơn chút xíu thì ai cũng tìm được ngay ra câu trả lời: Chứ không cố bám vào “cái đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa” thì lấy lý do gì để vẫn tiếp tục cầm quyền, và mất ghế lãnh đạo thì làm sao tiếp tục sống ký sinh được nữa?

Thêm một câu hỏi nữa, cũng ngu (và hèn không kém) của kẻ đang viết những dòng chữ này: Chả hiểu dân Việt Nam sẽ vẫn cứ tiếp tục để cho cái loài ký sinh này sống bám vào đất nước của họ thêm bao lâu nữa?

Tưởng Năng Tiến

LÀ AI VÀ PHẢI TRỞ THÀNH AI? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

LÀ AI VÀ PHẢI TRỞ THÀNH AI?

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Chuyện kể về một triết gia người Đức rất nổi tiếng, Schleiermacher, người định hình sự tiến bộ của tư tưởng hiện đại.  Một chiều kia, khi đèn đã lên, ông ngồi một mình trong công viên.  Một cảnh sát đi tới, với ý định bắt ông vì nghĩ rằng, ông là một gã say, lang thang.  Cảnh sát hỏi, “Ông là ai?”  Schleiermacher buồn bã trả lời, “Ước gì tôi biết!”

Kính thưa Anh Chị em,

Thật ngạc nhiên, Schleiermacher quên mình là ai!  Cũng thế, đôi khi trong cuộc sống, chúng ta không nhớ mình “là ai và phải trở thành ai?”  Trong Tin Mừng hôm nay, Gioan Tẩy Giả sẽ chỉ cho chúng ta bí quyết để mỗi người nhớ rõ căn tính mình; đó là, “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Trước hết, việc Chúa Giêsu lớn lên trong cuộc sống của mỗi người chúng ta phải là mục tiêu hàng đầu.  Ngài phải chiếm hữu tâm trí và ý chí chúng ta ngày càng hơn; Ngài phải sở hữu chúng ta, và chúng ta sở hữu Ngài.  Nó có nghĩa là mọi nghi ngờ và sợ hãi phải được gạt sang một bên và tình yêu dành cho Ngài phải trở nên lý do của cuộc sống.  Sẽ thật tự do khi chúng ta cho phép Chúa Giêsu lớn lên trong cuộc đời mình.  Cuộc sống ấy sẽ được giải phóng theo nghĩa, “tôi không còn tìm cách tự quản nó;” vì Ngài, Đấng sống trong tôi, sẽ đảm nhiệm công việc đó.  Trong Ngài, tôi biết mình “là ai và phải trở thành ai;” tôi là của Ngài và mỗi ngày, tôi phải trở thành một Giêsu khác!

Thứ hai, khi nói “Còn tôi nhỏ lại”, Gioan muốn nói, ý chí, ước muốn, tham vọng, hy vọng… của Gioan phải tan biến khi Chúa Giêsu làm chủ hoàn toàn con người Gioan.  Từ bỏ mọi ích kỷ và sống vị tha phải là nguyên tắc căn bản trong cuộc sống chúng ta!  “Nhỏ lại” trước mặt Thiên Chúa có nghĩa là trở nên khiêm tốn; từ bỏ mọi thứ không phải của Chúa và chỉ cho phép Ngài soi rọi.  Chúng ta chỉ có thể từ bỏ một tình yêu nhỏ hơn vì một tình yêu lớn hơn!  Mỗi ngày, Gioan đặt khát vọng và tình yêu của mình vào Đấng Messia; hành động và ý hướng của Gioan tập trung vào Đấng sắp đến; Gioan biết mình “là ai và phải trở thành ai.”  Sự cô độc của Gioan trong sa mạc cho phép tình yêu này phát triển mà không bị phân tâm; Gioan chia sẻ, tất cả những gì chúng ta nhận được là từ trời, từ sự sống siêu nhiên được ban cho bởi cầu nguyện, chiêm ngưỡng và đón nhận.  Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, Gioan tông đồ cũng nói, “Con Thiên Chúa đã đến, ban cho chúng ta ơn thông hiểu, để chúng ta nhận biết Chúa chân thật, và được ở trong Con chân thật của Ngài.”

Vậy mà rất nhiều lần, chúng ta làm điều ngược lại, “Cần tôi lớn lên, còn Chúa nhỏ lại,” chúng ta không biết mình “là ai và phải trở thành ai.”  Cám dỗ tìm kiếm chính mình trong ơn gọi, trong việc tông đồ, trong việc phục vụ Giáo Hội là một cám dỗ triền miên mọi thời, ở bất cứ ai, thuộc bất cứ đấng bậc nào!  Một số người chỉ cống hiến khi công việc phải mang lại cho họ danh dự hoặc nâng cao tầm quan trọng của bản thân.  Chúng ta tuyên bố phục vụ Chúa Kitô, nhưng nếu địa vị bị tổn hại vì những chỉ trích, hoặc thấy ai đó kém khả năng hơn đứng trên chúng ta về thứ hạng, trái tim chúng ta vỡ vụn; cam kết của chúng ta suy tàn.  Vào những thời điểm đó, chớ gì chúng ta có thể vượt qua thử thách mà Gioan đã vượt qua, vì “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Anh Chị em,

“Là ai và phải trở thành ai?”  Một câu hỏi xem ra có vẻ như một lối chơi chữ, nhưng là một câu hỏi đáng để suy nghĩ.  Bởi lẽ, không ai khác mà là “bạn và tôi,” chúng ta biết, cùng đích cuối cùng của cuộc hành trình làm người là chúng ta phải trở thành một Giêsu khác.  Nói đúng hơn, chúng ta phải ngày càng làm rỗng chính mình để Chúa Giêsu có thể lấp đầy mỗi người bằng chính Ngài.  Theo cách nói của Phaolô, “nên đồng hình đồng dạng với Ngài,” khi “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà Chúa Kitô sống trong tôi!”  Vậy chúng ta phải làm gì để đạt được mục đích này?  Phải như Gioan, chúng ta phải xác tín, “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”  Tình yêu của chúng ta dành cho Chúa Giêsu không phải là nỗ lực một sớm một chiều, nhưng như Gioan, nó là thành quả của nhiều năm cầu nguyện, chinh phục bản thân và trung thành với một cuộc sống hoán cải vốn phải được sống trước khi được rao giảng.  Như vậy chúng ta mới biết mình “là ai và phải trở thành ai.”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con biết quên đi bản thân như Gioan, để hoa trái công cuộc cứu rỗi thế giới của Chúa và của Hội Thánh được gặt hái, vì “Chúa phải lớn lên, còn con nhỏ lại,” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

Cách đây đúng 64 năm, năm 1957, một vị Bác sĩ đã quyết định không cần cấp bằng sáng chế cho vắc-xin của mình, để tất cả các công ty dược phẩm được quyền sản xuất và cung cấp nó cho trẻ em toàn thế giới.

Đó là vị Bác sĩ Mỹ gốc Do Thái/Ba Lan, sinh ra ở Bialystok – ông Albert Bruce Sabin (1906 – 1993); nhà vi-rút học nổi tiếng với phát minh vắc-xin bại liệt (Polio Vaccine). Ông không cần tiền thưởng cho bằng sáng chế, để vắc-xin được tiếp cận tất cả mọi người bất kể giàu nghèo.

Từ năm 1959-1961, hàng triệu trẻ em khắp thế giới đã được chủng ngừa vắc-xin bại liệt của Sabin, dập tắt dịch bệnh này. Trong khi trước đó, gần như cả 1 thế hệ bị xóa sổ vì bệnh bại liệt.

Ông Sabin nói: “Nhiều người khuyên tôi nhất định phải lấy bằng sáng chế cho vắc-xin nhưng tôi không muốn. Đây là món quà tôi dành cho tất cả trẻ em trên thế giới”.

Được biết vì là người Do Thái, 2 cháu gái của ông đã bị phát-xít Đức giết hại. Được hỏi liệu ông có muốn trả thù, ông đáp: “Họ đã giết 2 đứa cháu gái tuyệt vời của tôi, nhưng tôi đã cứu hàng triệu đứa trẻ khắp thế giới. Bạn không nghĩ đây là một sự ‘trả thù’ lớn hơn sao?”

Trong thời Chiến tranh lạnh, Sabin đã tặng miễn phí các chủng vi-rút của mình cho nhà khoa học Liên Xô Mikhail Chumakov, cho phép phát triển vắc-xin của ông ở đất nước này.

Ông Sabin tiếp tục sống với mức lương bình thường, nhưng trái tim ông tràn ngập niềm vui vì đã làm được điều tốt đẹp nhất cho nhân loại.

SƯU TẦM

Richard

 From: TU-PHUNG

Thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ: Cuộc đời phi thường 20 năm sau khiến thế giới kinh ngạc

  Thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ: Cuộc đời phi thường 20 năm sau khiến thế giới kinh ngạc

Bức ảnh thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ đã trở thành khoảnh khắc huyền thoại trong lịch sử.

Năm 1999, khi đang mang bầu cậu con trai đầu lòng, cặp đôi Julie và Alex Armas đã phải đưa ra quyết định khó khăn giữa việc đình chỉ thai kỳ hay giữ lại con. Theo đó, khi siêu âm, các bác sĩ đã chẩn đoán thai nhi trong bụng Julie bị nứt đốt sống do không phát triển đầy đủ dây thần kinh. Nếu cố chấp sinh ra, đứa trẻ cũng không có nhiều cơ hội sống sót.

Chưa một giây dám nghĩ đến việc sẽ bỏ đi đứa con máu mủ của mình, cặp vợ chồng chấp nhận đánh cược với số phận và quyết giữ lại em bé. Cuối cùng, ngày 19/8/1999, khi đứa trẻ vừa tròn 21 tuần tuổi trong bụng mẹ, hội đồng y khoa tại Bệnh viện Đại học Vanderbilt ở thành phố Nashville, bang Tennessee (Mỹ) đã quyết định phẫu thuật chữa trị cho em bé ngay bên trong tử cung mẹ.

Trong ca mổ khó khăn đó, Michael Clancy, một nhiếp ảnh gia tự do cũng có mặt. Anh đã may mắn ghi lại được khoảnh khắc quý giá khi đứa trẻ thiếu tháng yếu ớt cố gắng thò bàn tay tí xíu của mình ra bên ngoài bụng mẹ và nắm chặt lấy ngón tay bác sĩ Joseph Bruner, người đang chuẩn bị phẫu thuật cho em.

Bức ảnh có tên Bàn Tay Hy Vọng nổi tiếng thế giới

Bức ảnh ý nghĩa ngay khi được chia sẻ đã khiến nhiều người phải rơi nước mắt, không ai có thể giấu nổi sự xúc động khi chiêm ngưỡng khoảnh khắc đầy phi thường của một em bé đang đứng trước cửa tử nhưng vẫn khát khao mong cầu sự sống.

Bức ảnh được đặt tên là Bàn Tay Hy Vọng và sau đó trở thành một trong những tác phẩm huyền thoại trong lịch sử. Ở đó, một em bé 21 tuần tuổi đã đem đến niềm tin, động lực và khiến hàng triệu người nhận ra giá trị của cuộc sống mà mình đang có.

Sau khi ca phẫu thuật chữa bệnh từ trong tử cung mẹ diễn ra suôn sẻ, 4 tháng sau đó, vào ngày 2/12/1999, đứa trẻ trong bức ảnh huyền thoại cũng đã được chào đời trong sự đón mừng hạnh phúc của gia đình và cả thế giới. Em được bố mẹ đặt tên là Samuel Alexander Armas.

Nói về bức ảnh “để đời”, mẹ của em bé chia sẻ: “Đó là khoảnh khắc kỳ diệu, không chỉ với chúng tôi mà còn với Samuel. Chúng tôi muốn mọi người nhìn vào Samuel và hiểu được rằng món quà quý giá nhất mà mỗi chúng ta được ban tặng chính là cuộc đời này. Và dù con chúng tôi có lành lặn hay không, chúng tôi vẫn sẽ làm mọi thứ để con được sống và đến với thế giới”.

Đã hơn 20 năm trôi qua sau khoảnh khắc ấn tượng ấy, bây giờ đây, Samuel của tuổi đôi mươi đã là chàng trai trưởng thành với vẻ khôi ngô, tuấn tú. Nhìn vào ánh mắt tinh anh của cậu, ai nấy đều phải ngưỡng mộ và gọi cậu là “điều kỳ diệu”.

Mặc dù mắc phải bạo bệnh từ trong bụng mẹ và chào đời với những dị tật vĩnh viễn, nhưng bằng nỗ lực phi thường cùng quyết tâm vượt lên số phận, Samuel vẫn đạt được những thành tích đáng nể trên con đường học vấn của mình.

Anh là học sinh tốt nghiệp hạng ưu tại trường Trung học Alexander ở Douglasville. Samuel theo học ngành khoa học thể dục tại Đại học Auburn sau đó, và với thành tích xuất sắc, cậu thanh niên còn được trao tặng Học bổng Toán học Movelle Murdock với giá trị không hề nhỏ.

Trên hết, “anh hùng nhí” năm xưa giờ đây còn là thành viên trong đội bóng rổ xe lăn Tigers. Nói về cơ hội tiếp cận bộ môn bóng rổ, Samuel nói: “Huấn luyện viên Taylor và tôi đã trao đổi thông tin liên lạc và câu lạc bộ trường Auburn bắt đầu chiêu mộ tôi. Sau khi thăm khuôn viên trường và suy nghĩ về việc tham gia đội bóng, huấn luyện viên Taylor cũng ngỏ lời hỗ trợ học phí cho tôi”.

Hiện tại, để di chuyển được lâu hơn và quãng đường dài hơn, Samuel vẫn cần tới sự hỗ trợ của chiếc xe lăn. Mặc dù vậy, cậu bé trong bức ảnh nổi tiếng ngày nào đang có cuộc sống tràn đầy hạnh phúc và có ích cho xã hội. Không để bất kỳ chướng ngại vật nào có thể cản trở mình, Samuel đang từng bước chứng minh rằng bản thân có thể làm tất cả những gì mà bản thân mình mong muốn, miễn còn được sống.

VietBF @ Sưu tầm

From: thanhlamle.le & NguyenNThu  

 

  Giá trị của sự quan tâm

 Giá trị của sự quan tâm

Tình yêu là phương thuốc nhiệm màu cho tất cả chúng ta – cho cả người trao tặng lẫn người đón nhận.

Một buổi tối sau giờ làm việc, một người đàn ông trở về nhà và ngồi nói chuyện với cậu con trai 14 tuổi của mình: “Hôm nay bố gặp một chuyện rất lạ. Khi bố đang ở văn phòng, một nhân viên bước vào và nói rằng anh ấy ngưỡng mộ bố, và đã tặng bố chiếc nơ xanh này để tôn vinh tài năng sáng tạo của bố, trên chiếc nơ có ghi “Tôi đã làm nên sự khác biệt”. Anh ấy cũng đưa bố một chiếc nơ nữa và nói bố có thể trao tặng nó cho một người đặc biệt khác. Trên đường về nhà, bố nghĩ xem mình có thể tặng ai, và bố đã nghĩ đến con. Bố muốn trao tặng chiếc nơ này cho con.

Bố thật sự rất bận nên mỗi khi về nhà, bố đã không quan tâm nhiều đến con. Đôi khi bố la mắng vì con không đạt điểm cao hoặc vì con không dọn dẹp để phòng ngủ bề bộn. Nhưng tối nay, không hiểu sao bố lại muốn ngồi đây với con và… chỉ muốn nói cho con biết rằng đối với bố, ngoài mẹ con ra, con là người quan trọng nhất. Con là một đứa con tuyệt vời và bố rất thương yêu con”.

Cậu bé giật mình sửng sốt, và bắt đầu thổn thức. Toàn thân cậu rung lên. Cậu ngước nhìn bố qua làn nước mắt và nói: “Vậy mà con định sẽ từ giã cuộc đời vào ngày mai vì con nghĩ bố không yêu con. Giờ đây, con không cần phải làm như thế nữa.”

Helice Bridges

Tình yêu là phương thuốc nhiệm màu cho tất cả chúng ta – cho cả người trao tặng lẫn người đón nhận.

Karl Menninger

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Vĩnh Biệt Sơn Nam- Tưởng Năng Tiến

Vĩnh Biệt Sơn Nam

Tưởng Năng Tiến

Tưởng giếng sâu tui nối sợi dây dài.
Ai ngờ giếng cạn, tui tiếc hoài sợi dây.

(Câu hò miền Nam, VN)

Trong cuốn Một Mảnh Tình Riêng, do nhà Văn Nghệ (VN) xuất bản năm 2000, Sơn Nam tâm sự : “Mẹ tôi đi làm dâu nơi xa nhà hàng năm mươi cây số đường giao thông hồi đầu thế kỷ khó khăn, vượt rừng qua hai con sông đầy sóng gió… Lâu năm lắm mẹ tôi với về quê thăm xứ một lần, tình trạng này tôi thử hư cấu, qua truyện ngắn ‘Gả Thiếp Về Rừng’… Qua sông Cái Bé thì dễ, nhưng gian nan nhất là qua sông Cái Lớn.”

Muốn biết chuyện làm dâu nơi xa, hồi đầu thế kỷ trước, gian nan và khó khăn ra sao, xin đọc vài đoạn (chính) trong truyện ngắn này của Sơn Nam:

“Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 … tháng chạp năm đĩ, nhà ông Cả treo bông kết tuội để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai tơ ở rạch Bình Thủy.

Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.

Hai năm qua.

Ba năm qua…

Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ… sổ sữa dễ thương.

Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ.

Hai ông bà quá đỗi vui mừng.

Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất lành không?

Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông:

– Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng mà chết… Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không?

“Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em:

Má ơi đừng gả con xa,

Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?

Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mịn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.

Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông!

Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái:

– Phải chỗ cây mù u này không? Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ ở đâu đây.

Chị vợ đáp:

– Không chừng… Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.

Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại:

– Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cấu khỉ, đằng kia kìa, họa may…

Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn:

– Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè…

Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt:

– Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.

Bà Cả mừng quýnh:

– Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao? Con nhỏ đó thiệt giỏi!

Khách trả lời:

– Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.

– Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ “đẻ nhiều quá vậy?

Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói:

– Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ “chồng con cái rút vơ mùng… nói chuyện. Ít ai đi đâu.

Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng ‘muỗi kêu như sáo thổi’ ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.

Để đánh trống lảng, ông nói:

– Ừ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.

Bà Cả nóng ruột:

– Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt?

Khách trả lời:

– Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường.

Bà thở dài, nói như rên siết:

– Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi! Hồi đó ông cãi tôi…


Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phị giá triệu, ai rinh quan tài? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân: Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có khác; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu- và cũng là lần chót – khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận:

– Ờ… ở dưới nó có lập vườn chưa? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về giùm cho vợ chống con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.

Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Ðể cho nước mạnh dân còn” (*).

Truyện “Gả Thiếp Về Rừng” lấy bối cảnh rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, vào khoảng năm 1939 – 40, khi tôi chưa ra đời. Ba mươi năm sau, lúc tôi đủ lớn để đọc và yêu thích Sơn Nam thì ghe thuyền gắn máy (đuôi tôm) đã chạy ngang dọc tá lả khắp sông rạch miền Nam. Thế hệ của chúng tôi khó mà hiểu được nỗi “gian truân” của một người con gái lấy chồng xa nhà (cỡ) … năm mươi cây số! Dù vậy, tôi vẫn cứ mến thương hết sức cái tình của Sơn Nam dành cho lớp người tiên phong, đi khai khẩn miền cực Nam của quê hương.

Cùng với Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng ghi lại nhiều tình cảm sâu đậm của mình đối với những lưu dân. Trong truyện ngắn “Rừng Mắm” của ông, có đoạn đọc mà muốn ứa nước mắt:

“Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.

Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:

Ông với lại tía của con là cây mắm, chân giẫm trong bùn. Ðời con là tràm, chân vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xồi, mít, dừa, cau.

Ðời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngồi mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng”.

Đã bao nhiêu đời tràm, bao nhiêu đời mắm ngã rạp, bao nhiêu thế hệ phải chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út … nhưng quê hương mỗi lúc một lụn bại hơn, chứ không giàu mạnh thêm – như kỳ vọng của Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc. Và vì nghèo đói, cảnh chia ly xẩy ra mỗi ngày một nhiều.

“Hiện nay, ở Nam Hàn, trên bất kỳ nhật báo nào cũng dễ dàng tìm thấy những lời quảng cáo:’Người già, người muốn tái hôn, người khuyết tật đều có thể kết hôn với những trinh nữ xinh đẹp ở Việt Nam … Thậm chí những quảng cáo này còn liệt kê ưu điểm của con gái VN như “xuất giá tòng phu”, “tôn trọng người già, thờ cúng tổ tiên đến bốn đời”, “dáng người đẹp nhất thế giới”, “giữ gìn trinh tiết và chung thủy với chồng” (Bán tuần báo Việt Luận, số 2063, phát hành từ Sydney ngày 28/04/2006).

Chuyện “lấy chồng xa” của phụ nữ VN đã trở thành kỹ nghệ, ở mức “đại trà” – theo như tin của nguyệt san Khởi Hành, số 134, phát hành từ California, tháng 4 năm 2006:

“Cảnh sát Cam Bốt mới khám phá một tổ chức bán các bé gái Việt Nam tại một khu phố ở Nam Vang. Các em cho biết đã được chở từ quê nhà vùng nông thôn miền Nam qua biên giới trong những thùng sắt dùng trở hàng xuất cảng

Những chuyện tủi nhục xót xa như thế đã xẩy ra (thường xuyên) từ mấy thập niên qua. Trong thời gian này, Sơn Nam vẫn cặm cụi cầm bút và vẫn in ấn đều đều. Tác phẩm mới nhất của nhà văn, có tên là Bình An, tập cuối trong bộ hồi ký của ông, và được giới thiệu là “cuốn sách đề cập đến những biến đổi lớn lao của Sài Gòn kể từ ngày giải phóng miền Nam 30/04/75 đến nay”.

Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn biết chắc rằng, trong cả bốn tập hồi ký của Sơn Nam sẽ không có một dòng chữ nào – nửa dòng cũng không – viết về những em bé Việt Nam bị “gả” đi xa, “trong những thùng sắt dùng chở đồ xuất cảng” như thế.

Tập Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Gả Thiếp Về Rừng”, được mở đầu bằng một bài thơ của (chính) Sơn Nam, có đoạn như sau:

Trong khói sông mênh mông,
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Ðiệu thơ Lục Vân Tiên
Kiến nghĩa bất vi vô dông giả

Cái gì đã giết chết tinh thần “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” nơi Sơn Nam như thế? Ông đâu có chức quyền gì như Huy Cận hay Tố Hữu để mà sợ mất? Ông đâu có đụng chuyện với “cách mạng”, vào thời “Nhân Văn Giai Phẩm” mà hoảng hốt đến độ bị bắt ăn bánh vẽ nhưng vẫn phải làm bộ khen ngon – như Chế Lan Viên? Ở tuổi 80, Sơn Nam còn ngại gì nữa mà không (dám) nói lên đôi lời phải/quấy với bọn giặp cướp – đang tụ họp ở làng Ba Đình, Hà Nội – trước khi nhắm mắt?

Trong một chế độ “không cho phép ai được có một thái độ thứ ba” thì sự im lặng của Sơn Nam cũng chỉ là chuyện … bình thường thôi sao? Thời phải thế, thế thời phải thế. Cả đống tu sĩ, nhân sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, bác sĩ – ở trong nước cũng như hải ngoại – đều giữ thái độ tương tự, trước việc phụ nữ VN bị gả bán như nô lệ, chứ đâu có riêng chi nhà văn Sơn Nam. Với thời gian – rồi ra – cả dân tộc Việt sẽ quen dần hết với mọi chuyện xấu xa tồi tệ, và có thể chấp nhận tất cả những tội ác một cách thản nhiên thôi.

Nghĩ cho cùng, có lẽ, đây chỉ là chuyện nhỏ và là chuyện (riêng) của cá nhân tôi với Sơn Nam. Chỉ vì lúc thiếu thời tôi yêu thích, quí mến ông ấy quá nên mới đặt thành vấn đề và cứ băn khoăn mãi.

Cho đến sáng nay, qua Tuổi Trẻ Online, tôi tình cờ tìm ra được lý do khiến cho Sơn Nam đã bỏ rơi cái quan niệm sống “lộ kiến bất bình vung đao bạt tụy” – của Lục Vân Tiên – trong con người Nam Bộ của ông.

Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! — Ảnh: tuoitre.com.vn

“Ngày 7-3, tổng công ty du lịch Sài Gòn khánh thành tượng chân dung nhà văn Sơn Nam tại làng du lịch Bình Quới 1 (Thanh Đa), để ghi nhận đóng góp của ông đối với nền văn hóa phương Nam”

Ý trời đất, quỉ thần, thiên địa (mèng đéc) ơi, như vậy là Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! Hèn gì, ông không còn nghe được tiếng dân kêu ai oán ở rừng U Minh Hạ. Ông cũng không còn bận lòng gì nữa về số phận gian truân của những người đồng hương đi lấy chồng xa – dù là xa nhà đến năm ngàn (hoặc hơn) chứ không phải chỉ là năm mươi cây số – và sang sông (tập thể) bằng tầu chở hàng, trong thùng container, thay vì bằng một chuyến đò ngang hay đò dọc.

Khi bàn về số phận của một số những người cầm bút ở miền Nam – bị cấm viết sau tháng 4 năm 1975 – nhà văn Võ Phiến gọi họ là những “tài năng bị chôn sống”. Sơn Nam (của tôi) dù được cho phép tiếp tục cầm viết, vẫn bị chôn sống như thường – bằng một hình thức khác, nhẹ nhàng hơn, vậy thôi. Thôi, vĩnh biệt Sơn Nam!

Copyright @ DCV online 2006

(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản. Nguyên tập truyện Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam có thể đọc được qua website Đặc Trưng. Riêng truyện “Gả Thiếp về Rừng”, nơi web site này, thiếu một đoạn cuối như sau: “Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Để cho nước mạnh dân còn.”

Nhân cơ hội này, người viết cũng xin được ngỏ lời ghi ân nhóm chủ trương Đặc Trưng vì đã sử dụng tài liệu trong thư viện nhỏ (“trên không”) của quí bạn nhiều lần.

Tưởng Năng Tiến
5/2006

ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH…

GÓC SUY GẪM…

ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH…

Một người đàn bà nghèo khổ bế đứa trẻ đi ăn xin, một lần bà ta đi ngang qua một cái hang. Bỗng nghe văng vẳng bên tai:”

Ngươi có thể vào trong và lấy bất cứ thứ gì mình muốn, nhưng đừng quên cái chính và hãy nhớ một điều: sau khi ngươi trở ra thì cửa hang sẽ đóng lại vĩnh viễn, tuy vậy hãy lợi dụng cơ hội hiếm có này và nhớ đừng quên cái chính”.

Nghe lời bà ta đi vào trong hang. Bà bị lóa mắt bởi vô số những thứ quý giá: vàng bạc, châu báu, kim cương. Bà ta đặt đứa con xuống và bắt đầu nhặt mọi thứ có thể và nhét hết vào mọi nơi trên người. Bên tai văng vẳng lời nhắc nhở: “ngươi chỉ có 8 phút thôi và đừng quên cái chính !”.

Sau khi đã nhét đầy người vàng bạc châu báu cũng là lúc hết giờ. Bà ta vội vã rời khỏi hang, cũng là lúc cửa hang đóng sập lại. Chợt bà ta sực nhớ đến đứa trẻ còn ở trong hang. Bà ta vứt tất cả vàng bạc châu báu đã lấy được và lăn ra khóc lóc vật vã. Nhưng chẳng ích gì vì cửa hang đã vĩnh viễn đóng lại.

Trong cuộc đời chúng ta cũng có khoảng 80 năm để sống ở đời và từ trong sâu thẳm đáy lòng luôn có một âm thanh nhắc nhở chúng ta:

“ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH”.

Nhiều khi con người vì ham kiếm thật nhiều tiền bạc, nhiều khi ăn chơi vô độ, hoặc chạy theo danh vọng, sắc đẹp mà quên đi cái chính của cuộc đời: đó là chăm chút đời sống tâm linh, lo cho gia đình, cho những người thân yêu là cha mẹ con cái chồng vợ… là giá trị của đạo đức làm người.

Nhoáng cái đã hết 80 năm. Đến khi sắp nhắm mắt mới nhận ra mình đã quên đi cái chính thì ôi thôi đã muộn…!!!

Một năm tấn công 6/1: Joe Biden công kích Donald Trump – BBC News Tiếng Việt

BBC News Tiếng Việt 

Trích đoạn diễn văn của Tổng thống Joe Biden ngày 6/1/2022:

“Đây không phải là một nhóm khách du lịch. Đây là một cuộc nổi dậy có vũ trang.

Họ không tìm cách duy trì ý chí của nhân dân. Họ đang tìm cách phủ nhận ý chí của người dân…

… Họ không tìm cách cứu chính nghĩa của nước Mỹ. Họ đang tìm cách lật đổ Hiến pháp.

Đây không phải là việc sa lầy trong quá khứ. Đây là việc đảm bảo quá khứ không bị chôn vùi…

…Ông ta đã làm được điều mà chưa một tổng thống nào trong lịch sử Hoa Kỳ – lịch sử của đất nước này – từng làm: Ông ta từ chối chấp nhận kết quả của một cuộc bầu cử và ý chí của người dân Mỹ…”

BBC.COM

Một năm tấn công 6/1: Joe Biden công kích Donald Trump – BBC News Tiếng Việt

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden phát biểu đánh dấu một năm biến cố đám đông tấn công nhà Quốc hội Mỹ, và dùng diễn văn để công kích cựu tổng thống Donald Trump.

Xem thêm: Đài VOA & Đài RFI

*TT Biden: ‘Mạng lưới dối trá’ của ông Trump không ngừng đe dọa nền dân chủ Mỹ (VOA)

*Dân Mỹ vẫn lo âu cho nền dân chủ, một năm sau vụ tấn công Quốc Hội (RFI)