SỰ CHẾT – LM Nguyễn Tầm Thường, sj.

SỰ CHẾT

 LM Nguyễn Tầm Thường, sj.

Khi tôi được sinh ra là khởi điểm tôi bắt đầu đi về cõi chết.  Làm gì có sự chết nếu không có sự sống.  Làm gì có ngày người ta chôn tôi nếu không có ngày tôi chào đời.  Như thế, cuộc sống của tôi là chuẩn bị cho ngày tôi chết.

Ngay từ trong bào thai của mẹ, bắt đầu có sự sống là tôi đã cưu mang sự chết rồi.  Kết hợp và biệt ly ở lẫn với nhau.  Trong lớn lên đã có mầm tan rã.  Khi vũ trụ chào đón tôi, thì cùng một lúc, tôi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày, từng giờ.

Mỗi ngày là một bước tôi đi dần về sự chết.  Bình minh mọc lên, nhắc nhở cho tôi một bước cận kề.  Hoàng hôn buông xuống, thầm nói cho tôi sự vĩnh biệt đang đến.

Không muốn nghĩ về sự chết tôi cũng chẳng tránh đuợc sự chết.

Tôi có thể không muốn nghĩ về sự chết nhưng tôi có ghét sự chết được không?  Tôi ghét sự chết là tôi ghét chính tôi.  Chết ở trong tôi.  Tôi đang đi về cõi chết nên ngay bây giờ sự chết đã thuộc về tôi rồi.  Sự sống của tôi hàm chứa sự chết, nên tôi yêu sự sống thì tôi cũng phải yêu sự chết.  Vì vậy, cuộc đời có ý nghĩa vẫn chỉ là cuộc đời chuẩn bị cho ngày chết.

Trong dòng đời, tôi không sống một mình.  Cuộc sống của tôi là tấm thảm mà mỗi liên hệ yêu thương là một sợi tơ, mỗi gắn bó quen biết là một sợi chỉ, anh em, cha mẹ, người yêu.  Sự chết xé rách tung tất cả để tôi ra đi một mình.  Chẳng ai đi với tôi.  Vì thế, chết mang mầu ly biệt.

Sống là hướng về tương lai. Tương lai là cái tôi không nắm chắc trong tay, vì vậy, tôi hay nhìn về tương lai bằng nỗi sợ bấp bênh.  Càng bấp bênh thì tôi càng tìm kiếm vững chãi, càng tích lũy. Nhưng tích lũy xong, xây đắp xong, vất vả ngược xuôi để rồi ra đi trắng đôi tay thì đời tôi thành đáng thương hại.  Nếu tôi không đem theo được những gì tôi tích lũy, thì những gì tôi ôm ấp hôm nay chỉ làm tôi thêm đau đớn, nuối tiếc.  Nếu không muốn vậy thì chúng phải là phương tiện để chuẩn bị cho giờ ra đi của tôi.

Tích lũy cho tương lai có thể là dấu hiệu khôn ngoan đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra.  Mà cũng có thể là một thứ nô lệ.  Nếu suốt đời tôi lo âu tìm kiếm danh vọng, quá tham lam tiền bạc, lúc nào cũng bị vây khốn, băn khoăn thì đâu là niềm vui, tận hưởng.

Mà tận hưởng là gì? Ðâu là ý nghĩa của sự tìm kiếm? Tích lũy?

Kinh Thánh kể:

Có người trong đám dân chúng nói với Ðức Kitô: “Thưa Thầy, Thầy bảo anh tôi chia gia tài với tôi”.

Ngài đã nói cùng họ: “Hãy coi chừng! hãy lo giữ mình tránh mọi thứ gian tham, vì không phải ai được sung túc, là đời sống người ấy chắc chắn nhờ của cải”.

Ngài nói cùng họ một ví dụ rằng: “Có người phú hộ, ruộng nương được mùa, nên suy tính với mình rằng: ta phải làm gì?  Vì ta không còn chỗ nào mà tích trữ hoa mầu nữa.  Ðoạn người ấy nói: Ta sẽ làm thế này: phá quách các lẫm đi, mà xây những lẫm lớn hơn, rồi chất cả lúa mạ, và của cải vào đó, rồi ta nhủ hồn ta:  Hồn ơi! mày có dư thừa của cải, sẵn đó cho bao nhiêu năm; nghỉ đi! ăn uống đi! hưởng đi! Nhưng Thiên Chúa bảo nó:  Ðồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi sự ngươi đã sắm sửa, tích góp kia sẽ về tay ai? (Lc 12,13-21).

Không ai sống hộ tôi.  Không ai chết thay tôi.  Không ai đi cùng tôi.  Tôi sẽ ra đi lẻ loi.  Họ sẽ quên tôi cũng như tôi đã quên bao người.  Có thể đôi khi họ nhớ tôi.  Cũng như đôi khi tôi nhớ người này, kẻ kia.  Nhưng nỗi nhớ chỉ là của riêng tôi, còn kẻ đã ra đi vẫn ra đi miền miệt.  Thì cũng thế, chẳng ai làm gì được cho tôi lúc tôi ra đi không trở lại.

Chết là mất tất cả. Nhưng thánh Phaolô lại tuyên tín rằng chết là chiến thắng (1Cor 15,54).  Chết là đi về sự sống vĩnh cửu.  Chết là gặp gỡ.  Gặp Ðấng tạo nên mình.  Như vậy, chết là cánh cửa im lìm được mở ra để tôi về với Ðấng thương tôi.  Chết là điều kiện để sống.

Chúa ơi, chết là đi về với Chúa sao con vẫn lo âu?

Phải chăng nỗi lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con sợ con có thể không gặp Chúa. Vì sợ không gặp nên chết mới là bản án nặng nề.  Mà tại sao con lại sợ không gặp Chúa?  Chúa luôn mong mỏi, đợi chờ con cơ mà.  Như thế, muốn gặp Chúa hay không là do ý của lòng con.  Con có quyền quyết định cho hạnh phúc của mình.

Chúa ơi, vì biết mình sẽ chết nên con băn khoăn tự hỏi bao giờ thì chuyến tầu định mệnh đem con đi.  Hôm nay hay ngày mai?  Mùa thu này hay mùa xuân tới?  Con âu lo.  Nhưng vì sao phải lo âu?

Phải chăng lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con chưa chuẩn bị đủ, là hồn con còn ngổn ngang.  Có xa Chúa thì mới sợ mất Chúa.  Sợ mất Chúa thì mới xao xuyến băn khoăn. Con biết thế, con biết rằng vì không sẵn sàng, vì không chuẩn bị nên mới hồi hộp, mất bình an. Con biết thế, con biết sau khi chết là hạnh phúc hay gian nan, là núi cao với mây ngàn cứu rỗi, hay vực sâu phiền muộn với đau thương.  Nhưng chuẩn bị cho giờ ra đi không đơn giản Chúa ơi.  Chúa biết đó, con đi tìm Chúa nhưng là đi trong lao đao.  Bởi yêu một vật hữu hình thì dễ hơn lắng nghe tiếng gọi từ nơi xa thẳm.  Giầu có và danh vọng cho con hạnh phúc mà con có thể sờ được.  Còn hạnh phúc của đức tin thì sâu thắm quá.

Chung quanh có biết bao mời mọc.  Kinh nghiệm cho con thấy rằng đã nhiều lần con bỏ Chúa. Như vậy biết đâu con lại chẳng bỏ Chúa trong tương lai.  Nếu lúc đó mà giờ chết đến thì sao?

Chúa có nghĩ rằng khi con phải phấn đấu chối từ những rung cảm bất chính để sống theo niềm tin là thánh giá của con không.  Chối từ tiếng gọi của tội lỗi đã là một thánh giá.  Nhưng có khi lo âu vì không biết mình có từ chối được không còn là một thánh giá khác nữa.  Chính đấng thánh của Chúa mà còn phải kêu lên: “Ôi! những điều tôi muốn làm thì tôi chẳng làm, những gì tôi muốn trốn tránh thì tôi lại làm” (Rom 7,15-16).  Chúa thấy đó, vị tông đồ lớn của Chúa mà còn như thế, huống chi con, một kẻ mang nhiều đam mê, yếu đuối thì đường về với Chúa gian nan biết bao.

Ðể khỏi chết khi con chết, thì con phải chết trước khi con chết.
Cái chết đó là đóng đinh đời con vào thập giá. Con không biết con can đảm đến đâu. Con chỉ xin sao cho con tiếp tục đi mãi. Ði xiêu vẹo vì yếu đuối của con, nhưng vẫn tiếp tục đi.

Thập giá nào thì cũng có đau thương.

Con không muốn thập giá.  Vì thập giá làm con mang thương tích.  Chúa cũng đã ngã.  Nhưng nếu sự sống của con mang mầm sự chết, thì trong cái chết của thập tự nẩy sinh sự sống.  Chúa đã chết. Chúa hiểu nỗi sợ hãi của sự chết.  Con vẫn nhớ lời Chúa cầu nguyện: “Lạy Cha, con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).  Hôm nay con cũng muốn nói như vậy đó, với Chúa.  Cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa dạy con rằng chẳng có sự sống nào mà không phải qua sự chết.  Chết thì sợ hãi, nhưng nếu con yêu sự sống thì con phải yêu sự chết.

 Con muốn chết để được sống.

Con sẽ đóng đinh đời con vào thập tự.  Chúa ơi, Chúa có cho những lo âu của con là dấu chỉ tình yêu của một tâm hồn yếu đuối, đang thao thức đi tìm Chúa vì sợ mất Chúa không.

Lạy Cha, trong tay Cha con xin phó thác đời con.

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ –
Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc

Tạ ơn đời – BẠN TA

Tạ ơn đời

Tạ ơn đời hôm nay Tôi còn sống

Mắt còn nhìn, còn đọc được Emails

Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu

Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả!

Tạ ơn các bạn gần xa

Hằng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều

Emails nhận được bao nhiêu

Là bao tình cảm thương yêu nồng nàn.

***

BẠN TA

Thăm hỏi Bạn, biết rằng người còn đó

Nỗi mừng vui tràn ngập cõi lòng tôi

Cuộc đời này bao sóng gió, nổi trôi

Vui được biết, Bạn bình an vui sống

Đời trần thế ví như là huyễn mộng

Kiếp nhân sinh là sinh tử, tử sinh

Quý nhau chăng chỉ ở một chữ Tình

Tình cha mẹ, tình vợ chồng, bè bạn

Tình cảm ấy ta không treo giá bán

Khi con tim không đơn vị đo lường

Bàn cân nào, cân được chữ Yêu Thương

Thế mới biết Thương Yêu là vô giá!

Cuộc đời dẫu đảo điên, nhiều dối trá

Nếu chúng ta thực sự mến thương nhau

Thì tiếc chi một lời nói, câu chào

Hãy trao gửi, sưởi ấm tình nhân thế

Có hơn không dù biết rằng chậm trễ

Vì con người ai cũng thích yêu thương

Được thương người và cũng được người thương

Hãy bày tỏ yêu thương dù có chậm

Bạn còn đó! Tôi còn đây! Mừng lắm!

Vì chúng ta còn cơ hội gặp nhau

Để trao nhau lời nói với câu chào

Đầy thân ái, đầy yêu thương, quý mến

Chuyện dĩ vãng, chuyện tương lai sắp đến

Hãy quên đi, xin nhớ hiện tại thôi

Nếu tâm bình trí lạc! Thế đủ rồi!

Người còn đó! Tôi còn đây!  Phúc lắm.

From: ThuNNguyen

Cuộc Trùng Phùng Hội Ngộ – ĐỖ NGÀ.

CHUYỆN PHIẾM – BI HÀI XHCN VN – ĐỖ NGÀ.

***

Cuộc Trùng Phùng Hội Ngộ

Mới năm xưa, được toà cho phép ly dị, chia đôi tài sản và con cái, Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển, còn bà Âu Cơ thì dẫn 50 người con lên núi.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, năm nay hai người lại gặp nhau tại khu nhà trọ gần lò thiêu Bình Hưng Hoà, quận Bình Tân, TP/ HCM. Cả hai đều già, khá tiều tụy, gương mặt không còn giữ được mấy những nét thần thoại của thuở hồng hoang.

Bà Âu Cơ dè dặt nắm lấy bàn tay gầy rộc của Lạc Long Quân, giọng cảm động:

– Ông và các con thế nào ? Cuộc sống chắc cũng cơ cực lắm?

– Thì đã hẳn. Nghề biển bây giờ khó sống lắm. Trước ra khơi xa thì còn kiếm ăn được, nhưng sau này giặc Tàu hung hãn quá, ngư dân cứ ló mặt ra là nó giết. Con mình bị chúng nó ủi chìm tàu, chết hết 10 đứa, chỉ còn 40 đứa, tôi sợ quá bèn cho chúng nó đi lao động xuất khẩu một mớ, số còn lại chỉ đánh bắt loanh quanh gần bờ, nhặt nhạnh con tôm, con cá sống qua ngày…

Bà Âu Cơ cắt ngang:

– Con ông còn được ở ngoài đời bương chải là may rồi. Con tôi đi tù gần hết. Từ ngày dẫn con lên núi làm cái nghề phá sơn lâm, tôi thấy không khá được ông ạ. Tiền bạc và gỗ quý thì chạy vào nhà các quan với lại tụi kiểm lâm, lâu lâu có bắt đi tù thì toàn là thợ rừng như đám con mình. Thấy thế tôi mới dắt mấy đứa còn lại xuống đồng bằng, cho chúng nó học lấy cái chữ những mong đổi đời. Ai dè tốt nghiệp đại học ra, không đứa nào có việc làm, toàn chạy shipper.

Lạc Long Quân nhìn sâu vào mắt vợ, ông thấy dù sao trong đôi mắt buồn của bà vẫn còn phảng phất đôi nét quý phái triều đình, và hỏi

– Sao bà không lo cho đứa nào vào đảng để dễ kiếm ăn?

– Vào đảng thế nào được ? Tại ông cả đấy. Thấy tên cha là Lạc Long Quân là chúng nó gạch bỏ ngay thôi, bảo xuất thân phong kiến.

– Lạ nhỉ. Lạc Long Quân gằn giọng, đôi lông mày bạc phếch chau lại, hàm râu bạc rung rung. Đúng ra họ phải ưu tiên cho con của bậc tiền nhân.

– Không dám đâu. Bà Âu Cơ nói giọng uất ức: Cái chế độ này nó thế rồi. Chỉ ôm lấy cái vỏ bọc chuyên chính vô sản nhằm giữ ghế và phục vụ cho lợi ích của thằng bạn vàng 4 tốt thôi. Nói thật chứ, nếu bây giờ Hai bà Trưng có sống dậy đánh đuổi giặc Tàu thì chúng nó cũng sẽ cho cả voi lẫn hai bà lên thớt.

Nghe nói tới chuyện chính trị, Lạc Long Quân rét run lên, bèn hỏi lảng qua chuyện khác:

– Dưng mà bà ở khu trọ này bao lâu rồi, mà hôm nay ta mới gặp nhau?

– Tôi chỉ mới tới thuê ở tạm hai ngày nay thôi, trong lúc chờ lấy tro cốt của thằng Út, ông nhớ thằng này không, cái thằng mà vừa sinh ra đã kêu “khổ, khổ” đó. Nó bị F0, người ta nhốt nó vô khu cách ly, được 7 ngày thì chết vì đói và vì bịnh nền. Bà Âu Cơ sụt sùi, đưa cái khăn tay thêu rồng phượng, mà ngày xưa ông tặng bà, lên lau nước mũi. Còn ông sao lại ở đây ?

– Tôi trọ ở đây lâu rồi, tôi ở với mấy thằng con lớn nhất của mình. Tụi nó làm đạo tỳ với lại làm công cho lò thiêu Bình Hưng Hòa này chứ đâu.

– Ồ, vậy là con mình lại thiêu con mình à?

– Chắc vậy đó. Lạc Long Quân khóc nấc lên: “Củi đậu đun hạt đậu, cùng sinh ra một gốc, nỡ đun nhau thế ư”. Khóc chán xong, lại nín, rồi rụt rè đề nghị: Thôi, hoàn cảnh nó thế rồi, hay là bà ở lại đây luôn, tụi mình góp gạo thổi cơm chung. Tôi thề sẽ không ly dị bà nữa.

Bà Âu Cơ ngồi lại ngay ngắn, nói giọng nghiêm trang:

– Em cũng muốn lắm, thưa Lang quân. Nhưng truyền thuyết đã bắt đôi ta phải chia lìa. Cả nước đều biết chuyện này. Chả nhẽ bây giờ ta lại bắt học sinh phải học lại là:

Lạc Long Quân và bà Âu Cơ cuối đời về sống chung với nhau, đẻ thêm 100 cái trứng…

Lạc Long Quân xem chừng hiểu ra, ông sửa lại mũ áo và nói với giọng cũng nghiêm trang không kém:

– Ái khanh nói chí phải. Mệnh trời đã đặt thế rồi, khiên cưỡng mà chi. Thôi để hôm nào hết giãn cách, ta sẽ đưa nàng đi cơm tiệm một bữa, rồi mình lại chia tay vĩnh viễn…

Ngoài kia, trời đang nắng, bổng giông bão từ đâu vần vũ kéo tới và trời bắt đầu đổ mưa. Chỉ chốc nữa thôi, cái thành phố HCM khốn khổ này lại sẽ thành Hồ ngập đến… lưng quần.

Myanmar, Daw Aung Suu Kyi và cuộc cách mạng: Quản thúc tại gia (Phần 2)

Myanmar, Daw Aung Suu Kyi và cuộc cách mạng: Quản thúc tại gia (Phần 2)

Bởi  AdminTD

NachDenkSeiten

Tác giả: Marco Wenzel

Vũ Ngọc Chi, chuyển ngữ

3-1-2022

Tiếp theo Phần 1

Sau Cách mạng Văn hóa và cái chết của Mao Trạch Đông, sau một nhiệm kỳ ngắn ngủi của Hoa Quốc Phong, Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền lãnh đạo Đảng CSTQ. Theo lý thuyết của Đặng, ông ta không quan trọng mèo trắng hay đen, cái chính là nó bắt được chuột, ý thức hệ cộng sản đã lùi bước để ủng hộ chính sách kinh tế thực dụng. Đặng muốn “trước hết để một số ít làm giàu” và tăng cường sự chủ động của tư nhân trong nền kinh tế bằng cách cho phép tư nhân sở hữu tư liệu sản xuất.

Đầu thập niên 1980, giới lãnh đạo Trung Quốc đã thiết lập các liên hệ chính thức với chính quyền ở Miến Điện. Đồng thời, Bắc Kinh cắt các khoản viện trợ trực tiếp cho CPB (Đảng Cộng sản Miến Điện). CPB, hoạt động ngầm từ năm 1949 và chống lại chính quyền trung ương, đã nhận được sự hỗ trợ về tư tưởng, trang thiết bị và vũ khí từ Đảng CSTQ cho đến cuối thập niên 1970. Khoảng một phần tư doanh thu của CPB đến trực tiếp từ Trung Quốc và một nửa tổng doanh thu của nó đến từ thuế quan mà họ thu được từ thương mại biên giới đen với Trung Quốc. Khoản thu nhập này giờ đã bị mất do chính Trung Quốc hiện đã mở cửa khẩu chính thức với Miến Điện và tự đánh thuế. CPB đột nhiên phải tự lực cánh sinh.

Khoảng 80% đồn điền trồng cây thuốc phiện ở đông bắc Miến Điện nằm trong các khu vực do CPB kiểm soát. Cho đến nay, CPB luôn có xu hướng ngăn chặn việc trồng cây thuốc phiện và hỗ trợ việc trồng ngũ cốc thay thế, giờ đây đã tự mình tham gia buôn bán thuốc phiện, một cách phi chính thống để kiếm tiền cho một đảng cộng sản. Giờ đây, họ đòi 20% số thuốc phiện thu hoạch được từ nông dân và cũng đánh thuế việc buôn bán thuốc phiện tại các chợ trong khu vực họ kiểm soát và việc bán thuốc phiện ra bên ngoài. Chẳng bao lâu, hàng tấn thuốc phiện đã chất thành đống trong các kho chứa CPB. Từ đó, nó được đưa, ban đầu chủ yếu là trong các đoàn lữ hành qua địa hình không thể vượt qua, đến các phòng thí nghiệm heroin ở Tam Giác Vàng nằm về phía nam và bán cho họ. Các đoàn lữ hành thường có hàng chục con vật và được canh gác cẩn mật.

Các phòng thí nghiệm heroin lại được điều hành bởi những ông trùm ma túy địa phương, những người đã kinh doanh lâu năm ở Tam Giác Vàng và những người đã đưa các nhà hóa học nước ngoài đến để sản xuất heroin. Heroin từ Tam Giác Vàng được những người nghiện coi là đặc biệt tinh khiết và chất lượng cao. Công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất heroin IV đặc biệt khắt khe và nếu thực hiện không đúng cách, toàn bộ phòng thí nghiệm sẽ bị nổ tung. Không phải công việc cho các nhà hóa học nghiệp dư.

Tam Giác Vàng. Nguồn: Chiang Rai Times| UNODC

Để đơn giản hóa việc vận chuyển gian khổ và nguy hiểm, CPB sớm cho phép các ông trùm ma túy điều hành các phòng thí nghiệm riêng trong khu vực của họ và đòi “tiền bảo vệ” cho việc này. Vì cần khoảng 10 kg thuốc phiện để sản xuất 1 kg heroin, trọng lượng của hàng hóa phải vận chuyển đã giảm xuống. Kinh doanh phát triển mạnh ở biên giới với Trung Quốc, nơi CPB đặt trụ sở chính. Những ngôi làng nhỏ trước đây đã trở thành những thành phố cỡ trung bình với các nhà máy điện và cơ sở hạ tầng của riêng họ. Có những sòng bạc và nhà thổ khổng lồ ở những thành phố này. Từ đó, đạo đức của các cấp lãnh đạo của CPB trở nên xấu đi, và thay vì theo đuổi những ý tưởng của Mao Trạch Đông, họ chuyển sang làm kinh doanh mờ ám. Năm 1989, những người lính cấp dưới của đảng đã nổi loạn và CPB chia thành bốn nhóm nhỏ, nhanh chóng được các dân tộc trong khu vực tiếp thu. Ban lãnh đạo đến Trung Quốc, nơi Đảng CSTQ cho họ lưu vong và một khoản tiền trợ cấp nhỏ với điều kiện họ ngừng tham gia chính trị.

Tuy nhiên, việc trồng và buôn bán thuốc phiện vẫn tiếp tục không suy giảm, và các băng đảng xã hội đen địa phương hiện đã hoàn toàn tiếp quản công việc kinh doanh này. Ngoài ra, những người cộng sản còn để lại những kho vũ khí, đạn dược và xe cộ đủ loại mà họ đã nhận được từ Trung Cộng trong thời gian qua. Các tổ chức xã hội đen Trung Quốc đã tiếp nhận những gì còn lại của CPB chỉ trong vài tháng và trở thành tổ chức ma túy có vũ trang nhất trên thế giới. Chính quyền quân sự hiện đã ký kết các thỏa thuận với những lãnh chúa này, hứa cho phép họ được tự do hoạt động và cho phép họ sử dụng các đường phố của Miến Điện để vận chuyển ma túy nếu họ kiềm chế được phiến quân.

Bằng cách này, chế độ độc tài quân sự ở Rangoon đã loại bỏ các đối thủ của mình ở phía đông bắc, những vùng lãnh thổ mà họ chưa từng kiểm soát, nhưng từ đó họ liên tục bị tấn công quân sự. Và sau khi phe đối lập năm 1988 ở Rangoon bị sát hại hoặc phải ngồi tù, NLD suy yếu và Suu Kyi bị quản thúc tại gia, chính quyền có thể củng cố quyền cai trị của mình đối với miền nam Miến Điện, đồng bằng Irrawaddy và khu vực miền trung và theo đuổi công việc kinh doanh của riêng mình mà họ kiểm soát thông qua các công ty MEHL và MEC của họ. Và từ trước tới ngay cả bây giờ không phải là ít. Hoạt động kinh doanh của quân đội bao gồm khai thác mỏ, công trình dân dụng, công ty vận tải, nhà máy bia, nhà máy sản xuất thuốc lá, ngân hàng riêng, hãng tàu riêng, ngành du lịch, v.v… Không có nhánh kinh tế nào mà quân đội không tham gia thông qua các công ty của chính họ, và không có nhà đầu tư nào từ nước ngoài có thể kinh doanh qua mặt chính quyền.

Hiến pháp mới và lộ trình tiến tới dân chủ

Sau cuộc cách mạng 88, chế độ ở Miến Điện thường xuyên chịu áp lực từ phương Tây để thực hiện các cải cách dân chủ như một điều kiện tiên quyết cho các mối quan hệ thương mại và kinh tế cũng như sự công nhận về mặt chính trị. Chế độ mà Trung Quốc và Nga vẫn là “những người bạn” duy nhất, không muốn giao phó quá nhiều cho một mình Trung Quốc và do đó trở nên dễ bị tống tiền. Chế độ quyết định tạo cho mình một diện mạo dân chủ.

Vào ngày 9 tháng 1 năm 1993, một đại hội quốc gia đã được triệu tập để vạch ra những nét chính của một hiến pháp mới. Ủy ban triệu tập Công ước Quốc gia chủ yếu bao gồm các sĩ quan quân đội và các quan chức chính phủ được chọn lọc kỹ lưỡng. NLD đã bị khai trừ khỏi Quốc hội vào năm 1995. Vào tháng 5 năm 1996, chính quyền bắt giữ hơn 500 nhà hoạt động, chính trị gia và những người ủng hộ NLD. Sau đó, đại hội quốc gia bị đình chỉ tạm thời. Aung Suu Kyi được trả tự do và bị cầm tù trở lại nhiều lần trong 21 năm, từ năm 1989 đến 2010. Bà ấy không bao giờ có thể lãnh đạo Đảng một cách bình thường vào thời điểm đó. Năm 1997, Miến Điện trở thành thành viên của ASEAN, chỉ để được quốc tế công nhận. Myanmar chưa bao giờ có đóng góp cho ASEAN và luôn là vấn đề cho khối này lo lắng.

Năm 2003, chính quyền, vốn ngày càng bị cô lập trên bình diện quốc tế, đã đưa ra “lộ trình bảy bước tiến tới dân chủ”. Đại hội toàn quốc lại được triệu tập, nhưng nhiều lần bị đình chỉ. Một hiến pháp cuối cùng cũng nên được soạn thảo, sau đó, “ngay khi luật pháp và trật tự được khôi phục”, các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức và trao quyền cho kẻ chiến thắng, một thông báo đầy gian xảo và mưu mẹo, bởi vì hiến pháp được viết theo cách để bảo đảm quyền tối cao của Quân đội, bất kể ai thắng cử.

Vào tháng 11 năm 2005, chính quyền bắt đầu chuyển trụ sở đến thủ đô mới, Naypyidaw. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 11 năm 2005, Myanmar được yêu cầu đẩy nhanh quá trình dân chủ hóa và trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị.

Cuộc cách mạng nghệ tây và cơn bão Nargis

Vào ngày 15 tháng 8 năm 2007, chính quyền cắt giảm trợ cấp nhiên liệu trong nước, khiến giá cả tăng gấp 5 lần. Từ tháng 9, đã có các cuộc biểu tình, ban đầu là chống lại việc tăng giá. Các cuộc biểu tình sớm hướng tới chống lại chế độ như vậy. Các cuộc biểu tình lần này do các nhà sư Phật giáo lãnh đạo, do đó có tên là Cách mạng nghệ tây.

Cuối tháng 9, chế độ bắt đầu đàn áp những người biểu tình. Quân đội ập vào các tu viện và bắt giữ các nhà sư. Có hàng trăm vụ bắt giữ và tùy thuộc vào thông tin, có tới 200 người chết. Các nhà lãnh đạo dân sự đối lập cũng bị bắt. Internet đã bị cắt. Vào ngày 29 tháng 9, cuộc cách mạng bị dập tắt. Bà Suu Kyi bị quản thúc tại gia trong suốt thời gian đó, và các nhà lãnh đạo NLD hầu hết đã bị bắt trước đó. Vào cuối năm 2007, một ủy ban mới được thành lập để soạn thảo hiến pháp mới, đã bắt đầu công việc của mình. Một cuộc trưng cầu dân ý về hiến pháp sẽ được tổ chức vào tháng 5 năm 2008 và cuộc bầu cử cuối cùng sẽ diễn ra vào năm 2010.

Các nhà sư diễu hành qua Rangoon trong cuộc nổi dậy năm 2007. Nguồn: burmacampaign.org.uk

Ngày 2 tháng 5 năm 2008, xoáy thuận Nargis, một xoáy thuận nhiệt đới, đã đổ vào Myanmar. Tình trạng khẩn cấp được ban bố tại 5 tỉnh với tổng số 24 triệu dân. Toàn bộ đồng bằng Irrawaddy, bao gồm Rangoon, bị ảnh hưởng, toàn bộ khu vực bị ngập lụt, hàng chục ngàn người chết và hàng trăm ngàn người vô gia cư bị tàn phá nhà cửa. Khu vực này đã được tuyên bố là khu vực thiên tai. Thiếu lương thực. Tuy nhiên, chế độ không cho phép bất kỳ người giúp đỡ hoặc cứu trợ từ nước ngoài nào vào nước.

Trẻ em và người lớn ở Miến Điện giơ tay xin thức ăn trợ cấp. Nguồn: Getty Images

Thay vì hoãn cuộc trưng cầu dân ý về hiến pháp ngày 10 tháng 5, chính quyền để người dân bỏ phiếu trong bối cảnh hỗn loạn sau Nargis. Bất kỳ hành động nào để thất bại cuộc trưng cầu dân ý có thể bị phạt tù lên đến ba năm hoặc phạt tiền nặng. Chế độ kêu gọi trên các phương tiện truyền thông toàn quốc hãy đồng ý với hiến pháp. Với tỷ lệ cử tri đi bầu hơn 99%, hiến pháp này sau đó đã được thông qua với 92,4% số phiếu đồng ý. Hầu như không ai trong khu vực bầu cử có điều kiện đọc tài liệu về hiến pháp này. Tuy nhiên, nếu không đồng ý với hiến pháp, sẽ không có bầu cử, người dân bị đe dọa như vậy, một cơ quan truyền thông cũng được sử dụng ở Thái Lan để thực thi một hiến pháp phi dân chủ do quân đội viết ra.

Theo hiến pháp, quân đội Miến Điện được dành 25% số ghế trong quốc hội cho các ứng cử viên do tổng chỉ huy quân đội chỉ định. Một sửa đổi hiến pháp chỉ có thể được thông qua với 3/4 đa số, vì vậy quân đội luôn có quyền phủ quyết trong quốc hội khi cần sửa đổi hiến pháp. Ngoài ra, các chức vụ của Bộ trưởng Nội vụ, Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Biên phòng tự động thuộc về các thành viên của quân đội. Bằng cách này, quân đội bảo đảm quyền kiểm soát đối với các bộ quan trọng nhất và sự quản lý của nhà nước, bất kể ai là người chiến thắng trong các cuộc bầu cử. Bất chấp mọi lời hứa cải cách, chính quyền quân đội Miến Điện không bao giờ có ý định từ bỏ quyền kiểm soát đất nước.

Là nhân vật có sức lôi cuốn nhất trong phong trào dân chủ, bà Aung Suu Kyi ngay từ đầu đã là một cái gai trước mắt đối với phe quân đội. Để ngăn việc bà, là người đã kết hôn với một người Anh và có hai con trai với ông (chồng bà mất năm 1999), có thể trở thành Tổng thống, hiến pháp quy định rằng không ai có thành viên gia đình nước ngoài được giữ chức vụ này. Do đó, sau chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2015, NLD đã tạo ra chức vụ Ủy viên Quốc vụ đặc biệt cho bà. Tại cơ quan này, sau đó bà vẫn trở thành người đứng đầu chính phủ trên thực tế.

Lãnh đạo đảng Dân chủ Aung San Suu Kyi chào đón hàng ngàn người ủng hộ qua hàng rào ngôi nhà của bà khi bà được trả tự do ở Yangon, Miến Điện. Nguồn: EPA

Trong điều kiện này, các cuộc bầu cử đầu tiên kể từ năm 1990 đã diễn ra vào năm 2010. NLD tẩy chay các cuộc bầu cử và bà Suu Kyi vẫn bị quản thúc tại gia. Lệnh quản thúc tại gia chỉ được dỡ bỏ vào tháng 11 năm 2010. Trong các cuộc bầu cử phụ hồi tháng 4 năm 2012, bà Suu Kyi đã tranh cử một ghế trong quốc hội lần đầu tiên.

Phản ứng với những điều mà nước ngoài coi là một quá trình cải cách dân chủ, Nhật Bản và EU đã nối lại viện trợ phát triển và đình chỉ các lệnh trừng phạt của họ, và Ngân hàng Thế giới đã cấp cho Miến Điện một khoản vay viện trợ. Mỹ cũng hủy bỏ các lệnh trừng phạt của mình. Mọi người đều nhiệt tình và cuối cùng đã nhìn thấy Myanmar trên con đường tiến tới dân chủ. Chuyện này quá đẹp, bạn chỉ muốn tin mà cố tình bỏ qua rằng dù muốn vặn vẹo thế nào đi nữa thì quốc hội Myanmar cũng chỉ là quốc hội trên hình thức và quyền lực vẫn thuộc về quân đội, chỉ bị che đậy một cách đáng xấu hổ dưới áo choàng chế độ dân chủ. Vẻ mặt xấu xí thật sự của quân đội đã thể hiện lại với khuôn mặt tàn nhẫn của nó chưa đầy mười năm sau đó, sẽ được nói nhiều hơn trong phần thứ ba.

Suy ngẫm về nhân cách của Daw Aung Suu Kyi và tương lai của Myanmar

Ngay từ đầu, chính sách NLD dựa trên các nguyên tắc bất bạo động như Mahatma Gandhi đã thực hiện ở Ấn Độ. Suu Kyi là một người có phong cách lôi cuốn với sức hút mạnh mẽ và biết cách truyền cảm hứng cho mọi người. Nhưng bà không phải là một nhà lý luận chính trị như Lenin, Mao, Fidel Castro hay Hồ Chí Minh, những người có tư tưởng đã chín mùi, cũng không phải là một nhà cách mạng có lộ trình thay đổi hệ thống ở Miến Điện. Bà ấy chưa bao giờ giải quyết những ý tưởng về tự do và dân chủ của mình về mặt lý thuyết và cũng chưa bao giờ chỉ ra những ý tưởng của bà nên được thực hiện như thế nào. Nó luôn mơ hồ, nhưng mọi thứ nên luôn được thực hiện thông qua phản kháng bất bạo động. Và vì vậy về cơ bản nó chỉ là một giấc mơ mà bà muốn biến thành hiện thực. Theo nghĩa này, bà ấy thậm chí còn phi chính trị hơn Martin Luther King. Đối với họ, dân chủ nên được thực hiện thông qua hòa giải và đối thoại dân tộc, nhưng Tatmadaw rõ ràng không quan tâm đến việc đối thoại với bà ấy.

Bà Suu Kyi luôn mong muốn một thế giới không có bạo lực và từ chối đáp trả bạo lực bằng bạo lực đối lại. Nhưng những ý tưởng theo chủ nghĩa hòa bình đều đẹp và tốt, và khi đối mặt với một đối thủ tàn nhẫn như Tatmadaw được trang bị tận răng, chúng đều vô hiệu. Tatmadaw tự coi mình là tầng lớp ưu tú của xã hội Miến Điện, nếu không có, người Miến Điện sẽ bị diệt vong, và ít nhất những người lính bình thường, những người sống trong một thế giới song song được che chắn khỏi phần còn lại của xã hội, tin vào điều đó. Họ được truyền bá kỹ lưỡng và họ tin rằng họ đang bảo vệ hệ thống vì lợi ích của cả đất nước. Những thuyết phục tốt đều không có hiệu quả, Tatmadaw đánh đập và giết những người trong mắt họ chỉ là những kẻ thù của Miến Điện, những kẻ muốn hủy diệt đất nước. Và họ đang làm tốt cho Miến Điện trong quá trình này.

Suu Kyi luôn sẵn sàng thỏa hiệp, ngay cả sau nhiều năm bị quản thúc tại gia, bà không có ác cảm với quân đội và nói rằng bà luôn được đối xử tốt. Khi được hỏi về thái độ của mình đối với các vị tướng, bà ấy thậm chí còn nói rằng, họ “thật sự khá tốt”. Ngay sau khi đàn áp các cuộc biểu tình vào tháng 9 năm 1988 và cuộc tắm máu tiếp theo bởi Tatmadaw, có những hành động trả thù của người dân đối với những kẻ được cho là thủ phạm. Một số trong nhóm này đã bị người dân địa phương bắt và giết ngay tại chỗ. Sau đó, khi Suu Kyi biết tin dân chúng bắt giữ các lực lượng đàn áp, bà thường xuyên cử người của mình, thường cũng là các nhà sư, đến đó để cứu sống những người Tatmadaw bị bắt. Chính quyền đã cảm ơn bà ấy ngay sau đó bằng việc bắt giữ bà ấy và quản thúc tại gia. Một chút về chủ nghĩa hòa bình và bất bạo động, người đọc nên tự suy nghĩ riêng cho mình.

Suu Kyi là một Phật tử rất sùng đạo. Bà ấy dậy sớm vào buổi sáng, thiền định và đã đặt ra một kỷ luật nghiêm ngặt cho bản thân khi nói đến thời khóa biểu hàng ngày của bà. Bà là một phụ nữ chăm chỉ với những tính cách hơi thần bí. Quyền lãnh đạo của NLD rơi vào tay bà Suu Kyi vì không ai khác có sức hút mạnh mẽ tương tự và vì bà là con gái của cha bà, anh hùng dân tộc Aung San, vẫn là một thần tượng đối với tất cả người dân Miến Điện. NLD luôn là một phong trào hơn là một đảng. Phần lớn được phát triển một cách tự phát hơn là được lên kế hoạch và chuẩn bị về mặt tư tưởng.

Ngay cả khi bị quản thúc tại gia và che chắn trước công chúng, Suu Kyi vẫn là một biểu tượng cho những người theo bà. Bà là một phụ nữ trẻ dũng cảm, dám thách thức chế độ độc tài quân sự. Dũng cảm Suu Kyi luôn có, bạn phải công nhận bà ấy điều đó. Hình ảnh đã lan truyền khắp thế giới khi bà dũng cảm bước tới gần những người lính đang chĩa súng vào bà. Ngoài việc bất bạo động, lòng dũng cảm và lòng tin tưởng là một trong những chủ đề trọng tâm trong cách giảng dạy của bà, mà bà truyền lại cho những người theo mình. Một trong những cuốn sách của bà có tựa đề “Thoát khỏi sợ hãi”. Người phụ nữ trẻ trung, hấp dẫn và can đảm này là hiện thân của một câu chuyện khơi dậy lòng nhiệt thành không chỉ ở Miến Điện mà trên toàn thế giới. Ngoài giải Nobel Hòa bình, Suu Kyi còn nhận được vô số giải thưởng lớn nhỏ khác, từ các tổ chức công đoàn, tổ chức phi chính phủ đến các trường đại học, những giải thưởng này đã trao cho bà bằng tiến sĩ danh dự. Đó là câu chuyện của David đấu với Goliath, chỉ có Goliath là chưa bị đánh bại trong câu chuyện này. Và cũng như thế giới hướng về Aung Suu Kyi một cách nhiệt tình vì bà thể hiện một câu chuyện mà thế giới rất thích, thì cộng đồng thế giới cũng quay lưng lại với bà một cách đột ngột khi người ta tin rằng bà Suu Kyi không phản đối kịch liệt việc đàn áp người Rohingya và rằng bà không còn tương ứng với lý tưởng mà chính họ đã gán cho Suu Kyi.

Tuy nhiên, Suu Kyi cũng là một người thuộc dân tộc Bamar và vấn đề hòa nhập dân tộc thiểu số chưa bao giờ là một vấn đề gần gũi với trái tim bà. Đối với bà, Myanmar được coi là một quốc gia, các dân tộc thiểu số nên phục tùng lợi ích của quốc gia, nhưng quốc gia đó sẽ như thế nào, đất nước tương lai sẽ được xây dựng dựa trên những tầng lớp nào, liệu nó nên trở thành một Myanmar tư bản chủ nghĩa hay một nước xã hội chủ nghĩa. hoặc một cái gì đó ở giữa, “Con đường thứ ba”, chẳng hạn, luôn là một bí ẩn. Câu hỏi này đến câu hỏi khác, một chương trình đảng sẽ phải làm rõ điều đó. Và điều này giải thích lập trường của bà ấy về câu hỏi Rohingya, một vấn đề mà bà ấy làm mất uy tín của bản thân trên trường quốc tế, nhưng lại đại diện cho một quan điểm khá phổ biến ở Myanmar, ngoại trừ những người bị ảnh hưởng.

Một gia đình Rohingya lội nước qua biên giới từ Myanmar sang Bangladesh. © UNHCR/Roger Arnold

Sau khi NLD lãnh đạo chính phủ vào năm 2016, người ta nhanh chóng thấy rõ rằng các nhà lãnh đạo của nó có cùng quan điểm với những người tiền nhiệm của họ khi đề cập đến các vấn đề liên quan đến người dân bản địa Myanmar. Hòa bình và thịnh vượng cho tất cả mọi người chỉ có thể đạt được ở Myanmar nếu quyền của các dân tộc bản địa đã cư trú ở đó trong nhiều thế kỷ và những người không thể bị cai trị ngay cả bởi quyền lực thuộc địa Anh thời đó và phần lớn vẫn giữ được quyền tự trị của họ, cũng nên được ghi trong hiến pháp liên bang mới. Các nhóm bản địa thường hầu như không có bất kỳ giấy chứng nhận quyền sở hữu nào cho đất đai của họ; các thửa đất đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ cũng có các nhà lãnh đạo, chính phủ, chính quyền và quân đội của riêng họ.

Khi biên giới quốc gia được vạch ra, bổng dưng chỉ một ngày sau, chúng thuộc về Miến Điện, nhưng chúng không có mối liên hệ nào với chính quyền trung ương của Bamar và hầu như vẫn chưa có được điều đó cho đến ngày nay. Cũng không thể chấp nhận được việc một chính phủ do Bamar lãnh đạo, nhưng cho đến nay, quy định mà không có sự tham vấn, phải tuân theo luật nào, sống như thế nào, phải nộp thuế cho ai, nói ngôn ngữ nào và hơn thế nữa, ai sở hữu đất mà họ đã sống qua nhiều thế hệ. Việc công nhận các quyền về đất đai theo tập quán của người bản địa phải trở thành một phần không thể thiếu của một nước cộng hòa liên bang mới, chưa được thành lập của Myanmar mà không có Tatmadaw.

Chính phủ mới, trên thực tế giống như chính phủ của đảng đối lập, đang nỗ lực hướng tới một nước cộng hòa liên bang sau khi nội chiến kết thúc, đã nhận ra điều này và bắt đầu các cuộc đàm phán với những người thiểu số để giải quyết vấn đề. Bởi vì sự hỗ trợ của các nhóm dân tộc thiểu số và quân đội của họ để lật đổ chính quyền quân sự hiện tại cũng phụ thuộc vào đó. Chỉ khi các nhóm dân tộc bị loại trừ trước đây cảm thấy rằng, cuộc sống của họ sẽ là một cuộc sống tốt hơn trong một quốc gia tương lai, họ mới sẵn sàng đưa binh lính của mình phục vụ cho chính phủ NUG (National Unity Government) để đánh bại Tatmadaw. Nhưng nếu sau này mọi thứ vẫn giữ nguyên như vậy, thì tại sao họ phải chiến đấu ngày hôm nay?

(Còn tiếp)

HẾT RỒI…!

HẾT RỒI…!

Hết nổi rồi, xin vĩnh biệt mẹ ơi

Con chẳng thể chịu đòn roi được nữa

Khi dì ghẻ hành con như cơm bữa

Ba xem con như một đứa ngáng đường.

Ở nơi này dù vật chất đế vương

Nhưng lại thiếu thứ tình thương đồng loại

Họ xoắn xuýt bên nhau như cuồng dại

Còn con như thứ thừa thãi trong nhà.

Kể từ khi ba mẹ bước ra tòa

Con thành thứ để người ta trút giận

Bởi giữa họ và mẹ đang còn hận

Nên thân con là chỗ nhận căm hờn

Con bé người nên chẳng thể khác hơn

Ngoài chịu trận và van lơn ngừng đánh

Nhưng đáp lại là đòn roi càng mạnh

Và đau hơn là sự ghẻ lạnh của ba mình.

Sao không cho con có một gia đình

Để con khỏi khóc một mình tức tưởi

Khi nhớ mẹ và em trong đêm tối

Khi cơn đau gây nhức nhối khắp người?

Con đi thôi, dù mới buổi nhú chồi

Dù chỉ mới 8 tuổi đời non nớt

Bởi ở lại đòn roi không hề ngớt

Thịt da thâm không chia sớt, vỗ về.

Hết nổi rồi, vĩnh biệt mẹ con đi

Để thoát khỏi những thứ gì từng chịu

Để khỏi phải thèm vuốt ve, nũng nịu

Thèm có ai xoa dịu những vết bầm…

(Tác giả: Châu Uyển Nhi)

Chúa Giêsu Ði Xem Ðá Banh! 

Chúa Giêsu Ði Xem Ðá Banh! 

   Một linh mục Ấn Ðộ chuyên về huấn luyện tu đức là cha Anthony de Mello đã tưởng tượng ra một câu chuyện như sau:

Chúa Giêsu than phiền là Ngài chưa bao giờ được tham dự một trận túc cầu. 

Chúng tôi bèn đưa Ngài đi xem một trận đấu rất gay go giữa một đội Tin Lành và một đội Công Giáo. Ðội Công Giáo làm bàn trước một không. Chúa Giêsu vỗ tay hoan hô và tung cả mũ lên trời. Vài phút sau, đội Tin Lành lại làm bàn. Lần này Chúa Giêsu cũng vỗ tay reo hò và tung mũ lên trời.

 Một khán giả ngồi bên cạnh lấy làm khó chịu về thái độ của Chúa Giêsu. Ông ta lấy tay đập lên vai Ngài rồi hỏi:  “Ê ông bạn, ông bạn ủng hộ bên nào vậy?”.

Xem chừng như vẫn còn bị khích động bởi trận đấu, Chúa Giêsu trả lời: “Tôi hả? Tôi không ủng hộ bên nào cả. Tôi đến đây là chỉ để thưởng thức trận đấu thôi”.

Người khán giả khó chịu về thái độ của Chúa Giêsu, nay lại càng bực bội hơn. Ông quay sang người bên cạnh và nói nhỏ: “Hắn là một tên vô thần”.

 Trên đường trở về nhà, chúng tôi nói chuyện với Chúa Giêsu về tình hình tôn giáo trên thế giới. 

Chúng tôi nói với Ngài: “Thưa Chúa, những con người có tôn giáo thật là buồn cười. Họ tưởng rằng Chúa Giêsu chỉ đứng riêng về phía họ và nghịch lại với những người thuộc tôn giáo khác”.

 Chúa Giêsu gật đầu tỏ vẻ ưng ý. Ngài nói: “Ðó là lý do tại sao ta không ủng hộ tôn giáo mà chỉ ủng hộ con người. Con người quan trọng hơn tôn giáo. Con người trọng hơn ngày Sabbat. Chúng con nên biết là chính những người có tôn giáo đã treo Ta lên thập giá”.

 Câu chuyện tưởng tượng trên đây cho chúng ta thấy rằng một trong những vết thương lớn nhất của nhân loại trải qua mọi thời đại: đó là thái độ bất khoan dung đưa đến những cuộc chiến tranh tôn giáo. Con người ai cũng bị cám dỗ nhân danh Thượng Ðế, thần minh và hệ tư tưởng của mình để triệt hạ, để loại trừ, để bách hại người khác.

Kỳ thực, có tôn giáo nào mà không dạy sự khoan dung, lòng nhân từ đối với mọi người?

 Chúa Giêsu đến để mạc khải cho chúng ta một Thiên Chúa là Cha của mọi người. Ngài là Ðấng làm cho mặt trời mọc lên cho người lành cũng như kẻ dữ. Ngài yêu thương những kẻ nhận biết và yêu mến Ngài cũng như những kẻ chối bỏ và thù ghét Ngài. Ngài muốn chúng ta yêu thương nhau như anh em cùng một gia đình.

Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta là Ðấng mà người ta cũng sẽ chối bỏ nếu người ta khước từ chính anh em đồng loại của mình.

Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mạc khải là Ðấng mà người ta cũng sẽ xúc phạm nếu người ta xúc phạm đến chính anh em đồng loại của mình…

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

From: ThiênKim

Địa đạo Củ Chi: truyện đại bịp của Việt Cộng

Nhật Duy is with Phong Tran and 

Địa đạo Củ Chi: truyện đại bịp của Việt Cộng

Dương Đình Lôi

Gái Củ Chi chỉ cu hỏi củ chi?

Trai Hóc Môn vừa hôn vừa móc.

Em Bảy Mô thân mến,

Bất ngờ anh bắt gặp một quyển sách tiếng Anh viết về địa đạo Củ Chi trong đó có đề cập tới em và hình em nữa. Xem xong quyển sách này anh cười phì vì nó hài hước và bịp bợm quá lẽ, anh không muốn nêu tên sách và tác giả ra đây vì họ không đáng cho anh gọi là nhà văn, mà họ chỉ đáng được gọi là những thằng bịp. Nếu em đọc được tiếng Ăng-Lê thì anh sẽ tìm cách gởi về cho em xem. Và chắc em sẽ có cảm tưởng rằng tác giả của quyển sách nói về một chuyện giả tưởng trên mặt trăng hoặc dưới đáy biển. Anh tự hỏi tại sao tác giả quá ngây ngô để bị lừa một cách dễ dàng rồi trở lại lừa độc giả của họ một cách vô lương như thế. Nhưng cho dù họ bịp được toàn nhân loại đi nữa, họ cũng không lừa được anh và em, những kẻ đã từng đổ mồ hôi và máu trên mảnh đất này. Riêng anh thì đã tử thủ mặt trận: Hai ngàn ngày đêm, không vắng mặt chút nào. Để nói cho độc giả biết rằng:

Bọn Cộng Sản đã bày trò bịp thế gian một lần nữa, sau vụ “đường mòn xương trắng” và khuyên những người nhẹ dạ chớ có mắc lừa, anh quyết định viết quyển sách này.

Họ bảo rằng bề dài địa đạo là hai trăm dậm. Em có tin không? Sự thực Củ Chi có mấy khúc địa đạo còn tạm xài được trước khi Mỹ vô (1964)? Quận Củ Chi là một quận nhỏ gồm mươi lăm xã cách Sài Gòn hai chục cây số đường chim bay, nhưng nó là cửa ngỏ đi vào Sài gòn cho nên có hai bên Quốc Gia lẫn Cộng Sản đều tử chiến ở đây, một chiến trường khốc liệt nhất Miền Nam trong cuộc chiến tranh lần thứ hai của nước ta. Nếu tính bề châu vi thì quận Củ Chi đo được chừng năm mươi cây số. Như vậy bề dài của địa đạo ít nhất bốn lần chu vi Củ Chi. Họ còn viết rằng “địa đạo đã lập thành một vòng đai thép bao quanh căn cứ Đồng Dù và người cán bộ mặt trận có thể ở dưới địa đạo nghe nhạc đang đánh ở trên căn cứ này. Cụ thể là ông Năm Phạm Sang ngồi đàn dưới địa đạo mà nghe Bon Hope diễn kịch” ở trên đầu hắn.

Quyển sách ma này nói láo, nói bậy hoặc nói nhầm hầu hết về những gì đã xảy ra ở Củ Chi trong vòng năm năm (1965-1970) anh và em có mặt ở đó. Nhưng ở đây anh chỉ nhặt ra vài ba điểm quá ư ngu xuẩn của tác giả mà một người đã dám cầm bút viết nên “sách” dù kém tài đến đâu cũng không thể có được. Ví dụ họ viết rằng “anh Tám Lê và vợ là Thị Thắm mổ xẻ thương binh dưới địa đạo”. Xin hỏi: “Làm cách nào để đem thương binh xuống đó?

“ Nên biết rằng miệng địa đạo chỉ hẹp bằng cái khay trầu thôi. Người thường tuột xuống đó còn phải lách chứ không dễ dàng.

Thương binh, nếu nặng thì nằm trên cáng, còn nhẹ thì băng bó đầy mình làm sao tụt xuống được? Và nếu có tụt xuống được thì nằm ở đâu, dụng cụ gì, đèn đóm nào dùng cho cuộc giải phẫu. Đó là chưa nói đến cái không khí ác độc ở dưới địa đạo. Người khỏe mạnh bất đắc dĩ phải xuống địa đạo thì chỉ trong vài tiếng đồng hồ là đã mệt ngất ngư rồi: vì không đủ dưỡng khí! Nếu bị kẹt vài giờ dưới đó thì con người đã trở thành miếng giẻ rách, còn khi bò lên được thì đã quên hết tên họ mình. Vậy sau khi được giải phẫu, thương binh phải sống dưới đó làm sao? Đó là chưa kể những việc lặt vặt khác như thương binh phóng uế hoặc thủ tiêu những băng đầy máu me. Những người chưa từng ở địa đạo nghe mấy vị này mô tả chắc sẽ nghĩ rằng cuộc sống dưới địa đạo khỏe khoắn như ở trong nhà lầu có máy điều hòa không khí.

Xin thưa câu chuyện không đẹp tai cho lắm: Một lần nọ khi chui xuống địa đạo chúng tôi bị quân Việt Nam Cộng hòa chốt trên đầu không lên được. Rủi thay một nữ cán bộ có đường kinh. Nếu ở trên mặt đất thì dù không kịp dùng băng vệ sinh người đàn bà vẫn không toát ra mùi gì (xin lỗi) nhưng ở dưới địa đạo gặp trường hợp này mọi người đều ngặt mình như sắp chết vì cái mùi uế tạp kia. Người chưa từng ở địa đạo không thể biết rằng đánh một cái rắm dưới đó chẳng khác nào bỏ một trái bom nguyên tử.

Vậy ông “anh hùng Tám Lê” có lẽ là một Tề Thiên Đại Thánh mới có thể biến thương binh nhỏ lại bằng cái tăm để đem xuống địa đạo và nhổ lông khỉ của mình biến thành dụng cụ đèn đóm để giải phẫu chăng? Ông “Tám Lê quân y sĩ” giải phẫu thương binh thì có, nhưng bảo rằng ông ta giải phẫu thương binh dưới địa đạo là một chuyện nói láo bỏ sách vở và coi khoa học là một bãi phân chuồng cũng như ông đại tướng bần cố nông Nguyễn Chí Thanh đem hầm đất ra chống B52 để rồi bị chết thảm thương như vậy. Sức khoan phá của một quả bom đìa là mười một thước bề sâu.

Đây anh xin nhắc lại một câu chuyện mà hai anh em mình cùng chứng kiến: Lần đó anh bị thương miểng đạn M79, em và tổ nữ “dũng sĩ” của em đưa anh vào quân y của ông Tám Lê. Vừa tới nơi anh hết sức ngạc nhiên vì thấy một toán bộ đội rượt đánh hai vợ chồng Tám Lê chạy bò càng trong rừng. Kể cũng tội cho ông. Tiểu đoàn Quyết Thắng đánh ở Lộ 6 Gò Nổi bị thương nhiều quá. Chờ đến sáng mới đem thương binh về tới Rừng Lộc Thuận tức là căn cứ của ông Tám Lê thì bị ông từ chối. May có anh ở đó, anh rầy lính tráng và năn nỉ Tám Lê ráng giúp dùm, hòa giải xích mích.

Năm 1967, trong cuộc “càn Cedar Falls” của Mỹ anh phải điều động một đại đội tới khiêng thương binh chạy dưới mưa bom B52 sau trận đánh Cây Trắc đường I làng Phú Hoà Đông về tới Bến Chùa. Trên một trăm thương binh nằm dầy đặc một khu rừng như củi mục. Tiếng la ó, rên rỉ, chửi bới vang trời. Thương binh nằm phơi bụng dưới bóng cây. Những người may mắn thì được đặt dưới hầm giống như cái huyệt cạn, chờ họ chết là lấp đất rất gọn gàng chứ nào xuống được địa đạo địa điếc gì.

Chiến dịch đó vô cùng khủng khiếp phải không em? Nội vùng tam giác sắt trong vòng một tháng có đến 576 cán binh ra hồi chánh. Nếu có địa đạo như kiểu ông tác giả trên nói thì họ cứ rút xuống đó ăn hút chừng nào Mỹ đi thì bò lên chống Mỹ, lựa là hồi chánh chi cho mệt phải không em?

Những người chưa hề đào một tấc địa đạo nào cứ tưởng rằng đào địa đạo dễ như đào hang bắt chuột vậy. Đào một chốc là có cả chục thước ngay. Than ôi! Nào phải như vậy. Những vùng đất có thể đào địa đạo được phải là vùng đất cao để không bị ngập nước và đất phải cứng để không bị sụp lở cho nên đào một thước địa đạo phải hộc ra máu cục, phải mờ cả con mắt chứ đâu có dễ như ông tác giả vẽ trên giấy. Củ Chi có mười lăm xã, nhưng chỉ có năm xã đào được địa đạo mà thôi. Đó là các xã: Phú Mỹ Hưng, Anh Phú, An Nhơn, Nhuận Đức và Phú Hoà. Năm xã này nằm dọc theo bờ sông Sàigon, có lớp đất cao có thể trồng cây cao su mới đào được địa đạo. Ngoài ra mười xã kia là đồng ruộng làm hầm bí mật đã khó rồi.

Anh và em đã từng đào nên từng biết mỗi tấc địa đạo phải tưới bao nhiêu mồ hôi. Mười thanh niên khoẻ mạnh đào trong một đêm chỉ được chừng vài thước là cùng. Vậy muốn hoàn thành hai trăm dậm địa đạo phải mất bao nhiêu công? Và họ đào ở đâu, lúc nào mà được hai trăm miles. Ông tác giả lại còn phịa ra những chuyện ly kỳ là: “địa đạo hai tầng (như nhà lầu) và dưới đáy địa đạo lại có giếng để múc nước” (nấu nước trà uống chắc!). Chưa hết, ông ta lại còn bịa thêm rằng “dưới địa đạo có kho chứa hàng, có nơi nghỉ ngơỉ, có chỗ chứa thương binh”, và còn tài ba hơn nữa, tài nói láo, lại còn “có bếp Hoàng Cầm theo kiểu Điện Biên Phủ” (có đường dẫn khói luồng trong đất) và nào là “đường địa đạo thông ra bờ sông Sàigon…?”

Đây là một chuyện phản khoa học tại sao họ có thể viết được. Muốn cho một làn địa đạo có thể chui ra chui vào được và không sợ xe tăng cán sập thì nóc địa đạo phải cách mặt đất ít nhất chín tấc tây nghĩa là khỏi rễ cây ăn luồng, lòng địa đạo phải cao chín tấc và hình chóp nón nghĩa là đáy rộng chín tấc, nóc chỉ bảy, tám tấc, nếu địa đạo rộng hơn sẽ bi lở, sụp. Đôi khi rễ cây làm trở ngại rất nhiều, chặt đứt một cái rễ cây bằng cườm tay phải mất cả giờ đồng hồ. Như vậy muốn đào tầng địa đạo thứ hai ở dưới địa đạo thứ nhất phải theo công thức trên nghĩa là phải đào sâu xuống một mét tám tấc nữa rồi mới trổ ngang đào lòng địa đạo cao chín tấc. Như vậy từ mặt đất xuống tới đáy địa đạo thứ hai phải là: chín tấc cho nóc địa đạo I, chín tấc cho lòng địa đạo I, chín tấc cho nóc địa đạo II, chín tấc cho lòng địa đạo II, tổng cộng là ba mét sáu tấc. Tôi nói chi li ra như vậy để thấy rằng sự đào địa đạo không có dễ dàng, đơn sơ như ông tác giả kia tưởng tượng hoặc đã được Võ Văn Kiệt cho xem những hầm đào bằng máy để khoe với các ông ký giả ngây thơ. Nên nhớ rằng đào đất cứng dưới hầm nó khó khăn như gọt gỗ lim chớ không phải giang thẳng cánh mà cuốc như trên mặt đất.

Em đã từng đào địa đạo chung với anh, nhưng em nhớ lại thử xem chúng ta đã xuống đó bao nhiêu lần và mỗi lần ở dưới đó mấy giờ đồng hồ, ngoại trừ lần anh chết ngạt ở địa đạo Bến Mương khi anh được lôi lên, cô y tá Thu ở H6 ban Pháo Binh phải cứu cấp anh bằng nước tiểu. Anh không thể tưởng tượng được rằng họ đã bịa đặt đến thế được.

Em Mô thân mến,

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp em chưa ra đời, nhưng anh đã đi bộ đội. Năm 1950, anh xuống Miền Tây để học trường Lục Quân. ở dưới đó anh cũng bị mê hoặc về những “đường địa đạo chống giặc” ở quê nhà: Nào là “cả làng, cả nhiều làng xuống địa đạo”. Hơn nữa, “dân lùa cả trâu bò xuống địa đạo, giặc Pháp có biết được miệng hầm cũng không làm gì nổi”. Ra Hà Nội, anh có gặp “anh hùng Nguyễn Văn Song”. Anh ta trở thành “anh hùng quân đội” với huyền thoại “Với một chiếc lưỡi hái cùn, anh ta đã đào hàng ngàn thước địa đạo và cất giấu cả tiểu đoàn. “ Anh vẫn tin như thế. Và cho tới khi đặt chân trở lại Củ Chi năm 1965 anh vẫn còn tin như thế. Nhưng chỉ sau khi đi với em đào một đêm, thì anh mới dội ngửa ra. Anh nghĩ rằng với cái liềm cùn đó, anh Song phải chết đi sống lại mười lần mới có thể đào xong hàng ngàn thước địa đạo kể trên. Anh Song ra Bắc ở Sư Đoàn 338, trốn về Nam rồi biệt tích.

Tác giả quyển sách này đã không biết rằng từ sau khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam ta, hầm bí mật và địa đạo ở Củ Chi nói riêng và ở khu IV nói chung hoàn toàn mất tác dụng. Anh nhắc lại em nghe, nếu em quên, hồi đầu năm 1967, Mỹ mở một cuộc hành quân lớn vô An Nhơn. B52 vùi lấp cả một khúc địa đạo gần xóm trại Bà Huệ. Những kẻ sống sót không biết đâu mà moi móc, đành để nguyên như thế cho các nạn nhân yên lòng nơi chín sưối với nấm mồ tập thể trên hai chục người của văn phòng Tham Mưu quận.

Sau đó, một cuộc hội nghị Tham mưu gồm có Tư Hải, Sáu Phấn ở H6 và tiểu đoàn 8 Pháo Binh, bàn việc vận tải hỏa tiễn HI2/ĐKB để pháo kích Đồng Dù. Biệt kích tìm được miệng địa đạo, quăng lưu đạn chết không còn một mống. May mắn lần đó anh bận họp chấn chỉnh tiểu đoàn, nếu không, anh đến họp thì đã tiêu tùng rồi.

Còn ở Bến Súc, tại bờ Rạch Xuy Nô, Biệt kích Mỹ tìm ra miệng địa đạo của Ban Mật Mã điện đài Quân Khu. Họ tóm trọn ổ trên hai chục mạng, lấy vô số tài liệu và hai chiếc máy thông tin.

Kể từ đó địa đạo trở thành nỗi sợ hãi khủng khiếp đối với cán bộ và bộ đội. Ông Trần Đình Xu, tức Ba Định, Tư lệnh Quân Khu thấy tình hình giao động của cán bộ, bộ đội nên đã ra lệnh cho bộ đội không được xuống địa đạo nữa. Vì xuống dưới đó là bị động hoàn toàn không còn tinh thần đâu mà chiến đấu nữa. Kẻ nào bất tuân sẽ bị kỷ luật nặng.

Tuy ra lệnh gắt gao như vậy nhưng chính ông trong lúc cùng đường mạt lộ ông cùng ban tham mưu khu cũng phải chui xuống địa đạo. Chẳng may, Mỹ đóng chốt trên đầu. Cô Là, xã đội phó Phú Mỹ Hưng chạy vắt giò lên Trảng Cỏ tìm anh và yêu cầu anh đem quân về đánh giải vây cho ông ở Bàu Đưng. Nếu không có anh lần đó ông và cả ban tham mưu đã an giấc ngàn thu dưới lòng đất rồi. Nhưng thoát chết kỳ đó, sau mấy tháng, ông lại đạp mìn mà tan xác với chức “Thứ trưởng Quốc phòng” của Chánh phủ ông Phát.

Trong những người “anh hùng” mà ông tác giả kể ra, có ông “Thiếu tá Năm Thuận” nguyên là một tên du kích sọc dưa đã bỏ làng chạy qua Phú An (Bình Dương) để làm nghề câu tôm chờ ngày rước vợ ở Ấp Chiến Lược ra sống chung. Ông “Thiếu tá” này đã giác ngộ cách mạng cao nên đã trở lại Tiểu đoàn II thuộc Trung đoàn Quyết Thắng của anh. Lúc đó quân số Tiểu đoàn chỉ còn trên một đại đội nên Thuận mừng húm khi được anh nhận cho làm lính lãi.

Bên cạnh đó còn có một ông thiếu tá khác đặc sắc hơn. Đó là “Thiếu Tá Quợt” chính ông này bị B52 vùi lấp còn ló cổ lên và chính anh với em cứu sống ở rừng Bàu Nổ xã Thanh Tuyền. Ông ta chưa hề đào một nhát cuốc địa đạo thế mà được ông tác giả đề cao là “Anh hùng đã chiến đấu mười năm ở Củ Chi bằng địa đạo.” Chiến đấu bằng cách nào? Cái ông này nổi tiếng nhờ cái tật ỉa chảy và mang chứng bịnh mắc thằng bố nói nhãm kinh niên, người xanh mét gầy nhom như khỉ già, ngồi đâu như chết đó. Mỗi lần xuống hầm hoặc xuống địa đạo là ông ta són trong quần. Mọi người rất sợ phải chui chung với ông.

Còn nhân vật “chiến đấu” dũng cảm hơn hết. Đó là ông Võ văn Kiệt, tức là “Tư Kiệt Chính ủy Quân khu”. Ông được Năm Ngố “bí thư Huyện ủy” Nam Chi nhường cho một khúc địa đạo để nương náu qua ngày tại Phú Hòa Đông. Nhắc tới việc này, chắc em không khỏi nhớ tới em Lệ tức Tám Lệ, một nữ công tác thành của “Ban Quân báo quân khu”.

Lệ thường ra vào Sài gòn, Tây Ninh… và về báo cáo các công tác, ăn ở nhờ địa đạo của ông Năm Ngô. Do đó Lệ lọt vào mắt ông “Chính ủy khu”. Ông ta bèn biến cô Lệ thành liên lạc riêng của ông ta, rồi trở thành “bạn” thân thiết dưới địa đạo. Chuyện này chắc em không biết đâu. Để chốc nữa anh nói lý do tại sao anh biết cái chuyện ly kỳ này.

Em Mô thân mến,

Anh hiện nay là kẻ lưu vong, lòng luôn luôn hướng về đất nước. Nhưng không bao giờ mơ trở về đất nước, họa chăng có một biến thiên vĩ đại bất ngờ. Viết đến đây anh không cầm được nước mắt. Nếu như anh với em có duyên phần với nhau nhỉ? Nếu thế thì cuộc đời chúng mình sẽ không biết ra sao…

Thôi chuyện đã qua lâu rồi. Em đã có chồng có con cả bầy, còn anh cũng sắp sữa làm ông nội. Nhưng những kỷ niệm lửa máu thật khó quên. Anh không khỏi xót xa ngậm ngùi khi nhìn thấy hình em trên trang sách. Sao trông em sầu não tang thương quá đổi. Có chuyện gì không vui trong đời em sao vậy? Đôi mắt buồn thảm của em đang ngó tới nhưng chính tâm tư của em lại nhìn ngược về dĩ vãng xa vời phải không? Một cái dĩ vãng còn loe lói trong đầu một đứa con gái mười tám tuổi được tặng danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ” toàn Miền Nam và cô nữ “Dũng sĩ” ấy đã yêu một chàng… nhưng chuyện lại không thành mặc dù cả hai người vẫn yêu nhau.

Có một lần ở đâu đó trên đất Củ Chi rực lửa vào một buổi chiều, anh có nói với em một câu và trước đó em đã tặng anh một bài thơ lục bát. Đến nay anh còn nhớ bài thơ này. Anh vốn là một người nhận được rất nhiều tình yêu, từ Hà Nội đến Mã Đà, từ Suối Cụt, suối Tha La đến Củ Chi Trảng Bàng nhưng để rồi chẳng giữ được mối tình nào cả. Bởi vì anh đâu có đứng lại lâu ở một nơi nào để mà nhận lấy. Cái chết đối với anh như bỡn như đùa. Đánh cả trăm trận, bị thương ngót chục lần, chết đi sống lại vài ba lượt. Cái Tiểu đoàn mà anh chỉ huy đã mất ít nhất là ba Tiểu đoàn trưởng. Anh là người thử tư. Nhưng anh là kẻ “thọ” nhất trong các vị Chỉ huy và với anh, nó được mệnh danh là Tiểu đoàn Thép. Bây giờ nhớ lại anh mới thấy rằng cả anh lẫn em đều bị bọn Bắc Kỳ lợi dụng mà không biết. Chúng thí mình như những con chốt lót đường.

“Chiến thắng” xong rồi, dân Nam kỳ mình được gì?

Là một người dân lưu vong anh hằng mong đất nước phồn vinh, dân tộc Tự do và những bạn bè cũ của anh, trong đó có em, được hạnh phúc. Nếu như không nhìn nét mặt của em trong sách thì anh đã có thể quên hết Hai Ngàn Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi của anh, nhưng khổ nổi là anh đã gặp lại em quá ư đột ngột.

Anh đã có lần nói với em về Lệ rồi. Lệ yêu anh cũng đột ngột như em. Rồi xa anh cũng đột ngột như em xa anh vậy. Lệ làm liên lạc thành rồi bị ông Tư Kiệt bắt về làm thư ký cho ông ta. “Thủ trưởng” và nhân viên lại ở chung một hầm. Ông ta quá ư ẩu tả. Để đề phòng việc tệ hại nhất rất có thể xảy ra, Lệ đã dùng giấy pơ luya để bịt cửa mình. Lệ đã nói hết với anh ở Suối Cụt. Lúc đó anh cũng đã chán nản trước tình hình càng ngày càng xấu ra. Lệ bảo thật với anh đây là lần gặp anh cuối cùng. Và Lệ đã cùng anh sống một đêm vợ chồng bên bờ suối… Một trái pháo mồ côi đã nổ rất gần lều, suýt chút nữa là hai đứa rửa chân lên bàn thờ. Hôm sau Lệ đi công tác và không về nữa.

Chuyện Lệ đi, dù anh biết trước nhưng không cản ngăn một lời. Ông ta đã thế thì nàng phải thế. Và anh nữa, anh cũng phải thế. Chứ còn biết làm thế nào? Anh nói vậy chắc em hiểu mà. Và từ chuyện này em hiểu ra những chuyện khác.

Sau khi Lệ đi rất lâu, em theo du kích quận đánh đồn Thái Mỹ. Trước khi xuất quân, đáng lẽ em phải hỏi ý kiến “Tiểu đoàn trưởng “ chứ. Nhưng em đã đi đánh liều. Nghe súng trận nổ anh lập tức dắt tổ trinh sát chạy đến. Cũng vừa lúc du kích võng em về. Anh đã biết trước các em không đánh nổi mà. Anh chỉ còn biết băng vết thương trên ngực của em bằng tấm áo của anh và cả tấm lòng xót xa quặn thắt của anh nữa. Ngày nay mỗi lần nhìn tại vết sẹo trên da thịt em, chắc em nhớ lại lúc băng bó cho em, anh đã nói với em câu gì.

Sau đó ít lâu anh nghe tin em bị du kích Bàu Me ở Trảng Bàng bắt trói vì em đang mang AK trên đường ra Ấp Chiến Lược hồi chánh. (thì cũng như “anh hùng” Nguyễn văn Song trốn về Nam. ) Thế nhưng trong chương sách kể lể chiến công của “Nữ dũng sĩ gan góc” Bảy Mô ông tác giả đã giao cho nàng một “Công tác quan trọng ở vùng biên giới Việt Miên” cho đến khi hòa bình.

Đúng ra, em có đi công tác ở biên giới thật, nhưng là công tác cấp dưỡng đặc biệt cho “Bà Phó Tư lệnh” Ba Định. (Vì là một “Dũng sĩ” nên du kích không dám đụng tới em, chứ nếu là ai khác thì chúng đã bắn chết ngay rồi.) Chuyện Củ Chi dài quá em nhỉ! Định ngưng mấy lần nhưng ngưng chưa được.

Còn một “ông anh hùng” khác cũng bị nêu tên trong sách này. Đó là Nguyễn Thành Linh. Một tên Bắc Kỳ vô Củ Chi và chiến đấu bằng địa đạo trong vòng năm năm liền. Hắn được tác giả mô tả như một “kiến trúc sư của địa đạo chiến”. Vậy ra trước khi hắn vác mặt vô đây, dân Củ Chi không biết đào hầm hố hết? Nhưng địa đạo hay hầm bí mật đâu cần phải kiến trúc sư mới làm được. Cuộc sinh tồn mọi người đẻ ra sáng kiến để tự bảo vệ thôi: Anh ở Củ Chi năm năm có thấy tên nào Nguyễn Thành Linh đâu! Nhưng anh biết hầu hết tất cả địa đạo Củ Chi. Chỗ nào anh cũng biết miệng địa đạo, hoặc đã xuống địa đạo thử trước rồi. Anh đã lội nát Củ Chi không sót một mảnh rừng nào mà. Tất cả những tên làng, tên ấp tên người trong quyển sách này là thật. Đây là sự trần truồng không tiểu thuyết hóa một chút nào. Anh có thể điểm qua tất cả địa đạo trong quận Củ Chi cho em nghe: Bến Dược 200m, đồn điền Sinna 500m, Hố Bò 200m, Phú Hòa 200m, Lộc Thuận 200m. Gần đồn điền Sinna 150m, Trà Dơi 150m, Xóm Trại Giàn Bầu 100m, Xóm Bàu Hưng 300m, Xóm Thuốc 200m, 200m, Xóm Chùa 200m, ấp Bến Mương 100m, Góc Chàng 500m, Cây Điệp 150m, Nhuận Đức 100m, 100m, Bầu Tròn 100m. Bào Cạp 100m, 50m, Bầu Diều 100m, Ba Gia 100m, Bên Cỏ 100m, Đường làng II 100m, 50m. Hoàn toàn không có cái vòng đai sắt nào chung quanh hoặc dưới đít Đồng Dù cả. Ông Phạm Sang chỉ có thể nghe Bob Hope hát ở Đồng Dù từ trong hang ếch của ông ta và trong trí tưởng tượng thôi.

Sở dĩ có danh từ vòng đai thép bao bọc Đồng Dù, như em đã biết là do ông Tám Quang, “trưởng phòng chính trị quân khu” bịa báo cáo về R cùng với sự thành lập đội nữ du kích Củ Chi của tụi em với Bảy Nê, Út Nhớ chẳng qua để quay phim, chụp hình và “đài giải phóng” tuyên truyền mà em đã cười khi ngồi tâm sự với anh lúc mới quen nhau. Chớ đội nữ có đánh chát cái gì. Toàn do ông Tám Quang sáng tác và “đài giải phóng” phóng đại.

Nếu như có một hệ thống địa đạo Củ Chi thôn liền thôn, xã liền xã thì tại sao khu ủy khu IV chạy tuột lên tận Preyveng để ăn hút. Me xừ Tư Kiệt còn sống sờ sờ đó hãy bớt nói phét để khỏi bị cô Tám Lệ nhét mồm bằng giấy… pơ luya.

Chúng ta hãy cùng nhau cúi hôn mảnh đất Củ Chi đau khổ của chúng ta hiện nay đang nhục nhã vì bị bọn Cộng Sản đem ra làm trò bịp thế gian.

Cộng Sản nghĩa là đại bịp. Chúng bịp nhân dân, bịp thế giới và tự bịp chính mình.

Anh muốn tự ngưng bút ở đây nhưng thấy còn nhiều sự thực bị bưng bít nên viết tiếp. Hai ngàn trang sách mà anh viết ra đây sẽ vạch trần bộ mặt láo toét kinh hoàng của bọn Cộng Sản Hà Nội mà cả anh lẫn em đều là nạn nhân. Anh muốn nhắc chúng nó rằng: Thời kỳ Mỹ đóng chốt Đồng Dù, Củ Chi chỉ là một bãi tha ma không một bóng người thấp thoáng, không một gốc cây còn đứng nguyên, không một tiếng chó sủa gà gáy. Tất cả xã ủy đều chết, bị bắt, hồi chánh hoặc ngưng hoạt động.

Ông Út Một Sơn bí thư đầu tiên Củ Chi bị pháo Đồng Dù bắn lắp hầm chết ở Bàu Lách Nhuận Đức năm 1966. Chắc em còn nhớ chớ? Nếu địa đạo Củ Chi nối liền thôn xã (theo ông tác giả ngốc này mô tả thì nó chỉ kém đường xe điện ngầm ở Mạc Tư Khoa chút thôi) thì sao quận Củ Chi lại cắt ra làm hai: Nam Chi, Bắc Chi? Là vì cán bộ không đi lại được giữa hai phần đất này. Người ở đâu nằm chết ở đó. Mỗi sáng lóng ngóng chờ “chụp dù, nhảy dò, xe tăng càn” để lũi. Nhưng cũng không có đất lũi. Chỉ còn một cách độc nhất là làm hầm. Mỗi ông bà có một cái hầm bí mật (nên nhớ hầm bí mật chỉ là một cái hang ếch chứ không phải địa đạo và không có hầm bí mật nào ăn thông ra địa đạo cả ). Sư sợ hãi chết chóc làm tê liệt mọi ý chí. Cán bộ chỉ mong bị bắt sống cho khỏe thân. Cho nên họ ngồi trên miệng hầm ngụy trang với vài cành lá sơ sài như những người câu tôm câu cá ở bờ sông vậy. Do đó có danh từ “ngồi thum. “ Nhưng ngồi thum trong vùng căn cứ cũng không an toàn vì bị máy bay trực thắng cá rô hay quạt hoặc bị ăn pháo bầy dọn bãi trước khi Mỹ đổ chụp. Nên các bà Năm Đang, Hai Xót, khu ủy, quận ủy mới ra tá túc nhà dân ở Ấp Chiến Lược để “chạy lan” như chuột mất hang. Chạy lan có ngày cũng chết như trường hợp của cô Tư Bé, quận đội phó bị lính Mỹ bắn chết ở Đồng Lớn. Hay ông Tám Châu bí thư quận bị pháo bắn mất đầu ở Bố Heo.

Chắc em biết rõ sự chia cắt của các xã trong quận vì tình trạng “ngồi thum” và “chạy lan”. Xã Trung Lập đẻ ra Trung Lập thượng, Trung Lập hạ, An Nhơn nứt thành An Nhơn Đông, An Nhơn Tây, Phú Hòa cắt thành Phú Hòa Đông, Phú Hòa Tây v. v…

Tội nghiệp cho Madeleine Riffaud, Wilfred Burchett và mấy ông Giáo sư Liên Xô đã vượt hiểm nguy vô tận đất Củ Chi và rừng Con Mên để coi “giải phóng đánh Mỹ”! Tội nghiệp, vô tới đây họ chỉ ăn bom và lũi như chuột đến nổi đòi về ngay không biết cái địa đạo là gì. Cũng may cho bọn anh lúc đó. Nếu cặp ký giả ba sồn này ở lại lâu hơn và họ đòi đi nghỉ mát dưới địa đạo ngay ở đít Đồng Dù thì rắc rối to cho các anh rồi.

Đến nay mụ đầm già không biết gì kia đang ở đâu, sao không trở lại xem địa đạo Củ Chi do kiến trúc sư Nguyễn Thành Linh mới vừa xây dựng năm 1985? Nhớ tới W. Burchett anh không khỏi phì cười. Lão ta nằng nặc đòi xuống địa đạo và xem các dũng sĩ bố trí địa đạo chiến cho hắn quay phim. Anh và Tư Linh hồn vía lên mây. Địa đạo ở đâu mà coi? Kể từ năm 1965 trở đi, sau khi Củ Chi ăn dưa hấu B52 vài trận, ai cũng thấy những lỗ bom sâu từ sáu thước đến mười một thước cho nên không ai dám cho rằng địa đạo là bất khả xâm phạm nữa. Cực chẳng đã mới chui hầm bí mật thôi.

Tư Linh vốn là cán bộ địch vận, nhanh trí bảo Burchett: “Người đồng chí hơi to, vậy để chờ vài hôm tôi cho làm nắp rộng để đồng chí xuống mới lọt. “ Sau đó khất lần rồi cho qua luôn. Còn vụ xem “địa đạo chiến” thì anh cho “đội dũng sĩ” của em bịp hắn một cú thần tình, nhớ không? Hắn rất phục “đội dũng sĩ”. Đến nay hắn đã chết rồi, hắn vẫn chưa biết địa đạo là cái gì.

Em Mô thân,

Chuyện Củ Chi, chuyện anh và em nhiều vô số kể. Nhắc chuyện này lại nhớ chuyện kia. Nhắc Hố Bò nhớ Góc Chàng, nhắc Bến Mương nhớ Suối Cụt, nhắc Thái Mỹ nhớ Đồng Dù, toàn những kỷ niệm máu lửa không thể quên được. Nhớ cảnh nhớ người khôn xiết. Ba bốn lần anh bị thương ở Củ Chi đều có em băng bó hoặc tới y xá săn sóc. Anh đã tựa đầu vào vai em, anh đã nằm trên xuồng do em bơi qua sông Sài Gòn, anh đã cùng em ngồi ở rừng Lộc Thuận ngắm pháo sáng tua tủa trên nền trời Củ Chi. Anh và em đã từng hái những trái sầu riêng trong vườn sau nhà em và ngồi ở bậc đá bên con suối nhỏ. Anh thì ăn sầu riêng còn em đàn bản Đứt Đường Tơ cho anh nghe. Anh bảo em: “Tơ đâu có đứt mà đàn bản ấy.”

Chẳng ngờ đó là bản đàn định mệnh của chúng ta. Bây giờ “Tơ đã đứt” và không phương nối lại, đàn một nơi dây đàn một ngả.

Anh chúc em hạnh phúc. Hy vọng một ngày rất gần, chúng ta sẽ gặp lại nhau và sẽ về thăm lại Củ Chi dưới một khung trời mới.

Viết xong lúc tượng con quỷ chúa Lenin bị giật sập ở Mút-cu-oa

Dương Đình Lôi

Con đã về với mây trời an yên – như tên của con – Vân An

Phan Huong is with Tho Nguyen and 

Con đã về với mây trời an yên – như tên của con – Vân An

Cõi trần tục này những kẻ làm Cha làm Mẹ, Dì kế Dựợng kế vô tâm độc ác tàn nhẫn … sẽ bị người đời và toà án lương tâm trừng trị .

Ra đi con để lại bài học cảnh tỉnh về tình ngừời, tình thương yêu của một mái ấm.

* Những người đang hoặc sắp là Mẹ kế hoặc Dựợng kế hãy mở lòng ra đón nhận và yêu thương con của Vợ /Chồng như Con cháu ruột cuả mình . Đừng vì suy nghĩ hạn hẹp ích kỷ tầm thừờng “tụi nó” không là máu mủ với mình nên không cần bận lòng và quên đi lời hứa hẹn chăm sóc bảo bọc ban đầu khi muốn có đựợc Mẹ / Cha của “ tụi nó”.

***

THƯƠNG CON!!

Con tên Nguyễn Thái Vân An.

Nguyễn là họ nội, Thái là tên Ba.

Lót Vân mây trắng la đà.

An tên Ba đặt mong là bình yên

Hỡi ơi thời buổi kim tiền.

Giàu nghèo xã hội đảo điên hết rồi.

Sáu năm con sống trên đời.

Đủ cha đủ mẹ, chỉ cười không đau.

Hai năm nối tiếp về sau.

Vì cô mặt đẹp ba trao mạng nầy.

Cây lau, khúc gỗ, roi mây.

Là bạn hằng ngày in dấu trên thân.

Nỗi đau cứ thấm dần dần.

Con không chịu được, chữ Vân con đành.

Giờ con vui với mây xanh.

Tên An đúng nghĩa, khi thành khói sương

Tạ mẹ cùng những người thương.

Con về tiên cảnh nhường Ba trả đời.

Tạ Nội con chỉ một lời.

Họ nội con thác, xin rời không mang

Gọi Ba khi khóc kêu van.

Giờ con xin trả, không mang theo mình.

Giờ đây ân đoạn, cắt tình.

Ai gieo oan nghiệt tự mình gánh đi

Nam mô nhẹ bước con đi.

Sau lưng bao nỗi thị phi mờ dần.

Kiếp sau con được nhẹ thân.

Kiếp nầy con đã gánh phần của Ba

Tâm Văn Trương

S.T.

Chia tay 2021: Vì sao Đảng mở chiến dịch Mậu Thân trên mặt trận nhân quyền? – Gió Bấc/RFA

Van Pham

Chia tay 2021: Vì sao Đảng mở chiến dịch Mậu Thân trên mặt trận nhân quyền?

Gió Bấc/RFA

Chia tay 2021: Vì sao Đảng mở chiến dịch Mậu Thân trên mặt trận nhân quyền? Một số tù nhân lương tâm đã bị chính quyền Việt Nam bắt giữ trong năm 2021

2021 bắt đầu với những vụ bắt giam, truy tố, xử án các nhà báo dồn dập bao gồm: xử án các nhà báo thuộc Hội Nhà báo Độc lập, bắt giam các thành viên nhóm Báo Sạch, bắt giam nhà báo Phan Lợi,… dồn dập trong cuối tháng 12 là 5 phiên tòa xử mà không xét những người bất đồng chính kiến, dân oan. Những bản án nặng nề từ tử hình đến hàng chục năm tù áp xuống những người dân vốn đã bị đẩy vào bước đường cùng. Dân oan kiệt sức kêu than khi đất Thủ Thiêm bốc cao tận trời xanh, giáo dân Lộc Hưng mỏi mòn chờ công lý. Oan án Hồ Duy Hải xuất hiện chứng cứ mới đi dự đám tang trong thời gian gây án nhưng lưỡi hái tử thần vẫn treo lơ lửng. Khúc ca “chiến thắng” Mậu Thân đang tái diễn trên lĩnh vực nhân quyền.

Chỉ trong nửa tháng cuối năm 2021, tòa án Việt nam đã dồn dập xử năm vụ án với những người dân vô tội, thậm chí còn là nạn nhân của chế độ độc tài.

Ngày 14.12.2021 tòa án Hà Nội xử nhà báo Phạm Đoan Trang chín năm tù vì cái tội viết sách cho người bình dân hiểu những quyền cơ bản mà thượng đế và nhân loại đã dành cho họ.

Ngày 15.12.2021 tòa án Hà Nội xử hai nông dân Trịnh Bá Phương 10 năm tù. Bà Nguyễn Thị Tâm sáu năm tù về tội kêu oan đòi đất

Ngày 16.12.2021 tòa án tỉnh Nam Định xử người thợ Đỗ Nam Trung 10 năm tù vì vạch mặt chỉ tên BOT bẩn.

Ngày 24.12.2021 tòa án cấp cao sẽ xử phúc thẩm hai mẹ con nông dân Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư. Án sơ thẩm đã xử bà mẹ nông dân Cấn Thị Thêu tám năm tù và con trai Trịnh Bá Tư tám năm tù về tội kêu cứu cho người dân Đồng Tâm.

Ngày 31.12.2021 chính quyền Hà Nội xử thầy giáo Lê Trọng Hùng về tội tự ra ứng cử Quốc Hội và chỉ ra sai trái của chính quyền.

Những bản án nặng nề cứ liên tiếp chụp xuống những người vô tội, trong cách nhìn của một xã hội, quốc gia dân chủ, đó là những công dân có trách nhiệm. Trong bối cảnh đen tối của đất nước vừa mới thoát ra đại dịch, kinh tế suy giảm, lòng dân hoang mang như một cái nút thắt thít chặt hơn vòng thòng lọng đã mặc định gắn trên cổ người dân từ sau 30-4-1975.

Ngoài danh sách tù nhân chính thức bị kết án bằng những công cụ chuyên chính mang tên pháp quyền còn có hàng triệu tù nhân dự bị được răn đe bởi những lực lượng ngoại vi mang danh nghĩa YouTuber, mạng xã hội cờ đỏ, AK 47… Những luật sư nhân quyền, những bác sĩ chuyên gia y tế độc lập ngoài quốc doanh, những nhà báo phi quốc doanh, ngay cả một nhóm người tu tại gia hoàn toàn phi chính trị là nhóm Tịnh Thất Bồng Lai cũng bị tấn công quấy phá đàn áp hàng ngày.

Theo BBC, “”hiện có khoảng khoảng 170 tù nhân lương tâm đang bị giam giữ tại Việt Nam, một con số cao kỷ lục trong lịch sử gần đây, theo số liệu năm 2020 của Tổ chức Ân xá Quốc tế. Trong khi Dự án 88 khẳng định rằng hiện có 217 nhà hoạt động trong tù và 306 người khác đang gặp nguy hiểm”.

Vấn đề là vì sao năm 2021 nhất là trong tháng 12, chính quyền cộng sản Việt Nam dồn dập tấn công trấn áp nhân quyền trắng trợn và công khai như vậy?

Thứ nhất về đối nội, mục đích trấn áp nhân quyền, tiêu diệt những mầm mống của xã hội dân sự là để bảo vệ độc quyền cai trị của thể chế độc tài hiện hữu. Bộ máy chính quyền hiện hữu hiện nay không thuần nhất rạn nứt với nhiều phe phái. Những phe phái này không hề khác nhau về quan điểm, chính kiến chính trị phe thân Trung Quốc, phe cấp tiến thân Mỹ như nhiều người ảo tưởng. Nó chỉ khác nhau về tính cục bộ địa phương: phe Miền Bắc, Phe Thanh Nghệ hay theo xu hướng cá nhân: phe Nguyễn Phú Trọng, Phạm Minh Chính, Nguyễn Xuân Phúc. Các lực lượng phe nhóm trong guồng máy nhà nước có thể đấu đá nhau chí chết để tranh giành quyền lực, quyền lợi nhưng hoàn toàn thống nhất nhau là còn đảng còn mình và đều cùng thề tận trung tận hiếu với anh lớn bạn vàng Trung Quốc. Niềm tin ấy có cơ sở vững chắc là hai bên thống nhất về chính trị và quyền lợi. Đảng Cộng sản Trung Quốc còn thì Đảng Cộng sản Việt Nam còn. Đảng còn thì đặc quyền đặc lợi còn. Tổ quốc, nhân nhân chỉ là phương tiện là hàng hóa để bán mua chia chác.

Cứ nhìn vào sự kiện công an đã công khai thảm sát thanh trừng đảng viên lão thanh Lê Đình Kình mà suốt quá trình đại hôi đảng lần thứ 13 không có tiếng nói phản kháng nào trong đảng. Trung Quốc lấn ép Việt Nam từ biền Đông đến cửa khẩu biên giới toàn Đảng vẫn ngậm hột thị, không tiếng nói phản kháng.

Sự thống nhất ấy được thực thi triệt để bằng cách nuôi dưỡng guồng mày quân đội công an còn Đảng còn mình, hệ thống tư pháp tay sai làm công cụ trấn áp nhân dân. Nguyễn Hòa Bình, tên đồ tể đội lốt người kẻ trơ tráo tuyên án Hồ Duy Hải trong phiên tòa giám đốc thẩm bất minh bị Quốc Hội phê phán vẫn đường đường thăng tiến vào Bộ Chính trị.

Về quan hệ đối ngoại, sự bành trướng của Trung Quốc trên biển Đông và toàn thế giới biến địa chính trị Việt Nam trở thành lợi thế mà Đảng Cộng sản đã tận dung cơ hội để mặc cả, đu dây cũng cố đặc quyền đặc lợi cho mình. Nguyễn Phú Trọng tự mãn khoe khoang đường lối ngoại giao điếm đàng khỉ dơi khu chuột ấy là triết lý ngoại giao cây tre “Cây tre Việt Nam gốc thì vững chắc, cành thì uyển chuyển, mềm dẻo nhưng rất kiên cường. Không có cơn gió nào quật ngã ”được” (1)

Rõ ràng nhất trong thực hiện đường lối cây tre, Việt Nam bất ngờ đón tiếp Bộ trưởng Vương Nghị ngay trước khi bà Phó Tổng thống Mỹ Harris đến Hà Nội. Nguyễn Phú Trọng núp lùm, Nguyễn Xuân Phúc trân trọng tiếp nhận vắc-xin nhưng né tránh nâng tâm quan hệ hợp tác hai nước

Rõ ràng do vị trí địa chính trị của Việt Nam nằm sát Trung Quốc, có bờ biển dài 2.200 km ở vị trí yết hầu Biển Đông, có 100 triệu dân là nguồn lao động cần cù Mỹ, EU, Nhật, Úc và nhiều quốc gia khác đã dành cho Việt nam nhiều ưu ái trong hợp tác đầu tư, viện trợ y tế, quốc phòng… Nếu Nhà nước Việt nam có trách nhiệm, có lý tưởng phụng sự quốc gia dân tộc thì đây là cơ hội bằng vàng để thoát Trung, thoát nghèo nàn lạc hậu. Nhưng rất tiếc, thể chế độc tài Đảng trụ Việt Nam đã tận dụng sự ưu ái đó để vun quén cho lợi ích nhóm của đảng cầm quyền, của cá nhân, để duy trì quyền lực cai trị với dân và để mặc cả, lập cộng với bạn vàng Trung Quốc.

Có thể thấy rõ điều ấy khi dịch bùng phát, nguồn vắc-xin viện trợ quý giá của Mỹ và Nhật…. đã không được tiêm cho công đồng theo ưu tiên người lớn tuổi, người có nguy cơ theo tiêu chí chung của WHO và các nước trên thế giới mà đã ưu tiên cho cán bộ, đảng viên, công an quân đội, con ông này cháu bà nọ để diễn ra đại hội Đảng rầm rộ, bầu cử Quốc Hội diễn trò làm dịch bùng phát trên diện rộng. Nguồn đô la hàng chục tỷ thu về từ thặng dư mậu dịch với Mỹ lại chạy ngược sang Trung Quốc để nhập về những thực phẩm hàng hóa độc hại từ Trung Quốc. Cả thế giới ủng hộ Đài Loan, chống lại chính quyền quân sự Myanmar, bảo vệ dân tộc Ngô Duy Nhĩ Tân Cương thì Việt Nam im lặng hoặc công khai lên tiếng theo giọng điệu của Trung cộng

Trên lĩnh vực nhân quyền, những vụ thảm sát Đồng Tân, bắt giữ xử tù Phạm Đoan Trang, Mai Phan Lợi, Phạm Chí Dũng, Trương Châu Hữu Danh…. Mỹ, EU và các tổ chức quốc tế có lên tiếng trong chừng mực những cảnh báo, kêu gọi mà chưa hề có biện pháp đáp trả khả dĩ nào thích đáng.

Đạc biệt khi Việt Nam tham gia EVFTA hai vấn đề mà người Việt Kỳ vọng nhất để có thể khơi mào cho sinh hoạt dân chủ, nhân quyền trong nước là “Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở” (tức “WRO, Workers Representative Organisations”) và DAG (Ban Tư vấn Xã hội dân sự). Những tổ chức dân sự ngoài quốc doanh sẽ được hình thành, nhưng EVFTA có hiệu lực hai năm qua mà những tổ chức này chẳng hề thấy dạng. Ngược lại Phạm Chí Dũng, Mai Phan Lợi những nhân tố khả dĩ có thể là hạt nhân đã bị chính quyền giam giữ.

“Mềm nắn rắn buông” là sách lược chủ yếu của đường lối ngoại giao lúc lắc cây tre. Sự mềm mại của Mỹ và đồng minh chính là cơ hội của chính quyền công sản Việt Nam. Một số nhà bình luận đã tổng kết quan trong trên BBC tiếng Việt là “Tầm quan trọng chiến lược của Hà Nội đối với Hoa Kỳ và các đồng minh đã cho phép Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều không gian hơn trong việc bịt miệng những người chỉ trích”(2).

Hai cuộc đối thoại nhân quyền với Mỹ và EU diễn ra trung tuần tháng 11 vừa qua cũng diễn ra ôn hòa theo kịch bản chất vấn, đối đáp ậm ừ hứa hẹn cải thiện nhân quyền theo kiểu để lâu cứt trâu hóa bùn mà nhà nước cộng sản đã dự kiến. Việc dồn dập xử tù nhân quyền trong tháng 12 không chỉ nhằm trấn áp người dân trong nước mà còn là bước leo thang để thăm dò phản ứng của Mỹ, EU và quốc tế nói chung. Nếu các đối tác này vì xem trong các yếu tố địa chính trị, tiềm năng đất đai, lao động của Việt Nam hơn giá trị Nhân quyền thì chắc chắn trong sắp tới nhân quyền Việt Nam sẽ thấp hơn mức “có đủ cơm ăn áo mặc” hiện nay

Vấn đề đặt ra là sự mềm mại săn đón với Nhà nước Việt Nam liệu có ý nghĩa, có giá trị hiệu quả với Mỹ và đồng mình không? nhất là trong triết lý ngoại giao cây tre thân cành lắc lư nhưng gốc rễ thì kiên cường không suy chuyển. Dân gian Việt thì bình dị hơn với câu “cà cuống chết cái đít còn cay”. Đã là cộng sản thì Việt, Nga Tàu, Triều Tiên, Cu Ba đều cùng một giuộc.

Nguyên lý ngoại giao thất tín không chỉ là phát kiến của riêng Nguyễn Phú Trọng mà là bản chất của Cộng Sản. Với người Cộng Sản không bao giờ có chữ tin vì sự bội tín đã được được nâng tầm giá trị lên tầm trí tuệ. Chiến dịch Mậu Thân đến nay vẫn được ca ngợi là chiến thắng trí tuệ (bất ngờ tấn công trong thời điểm thỏa thuận hưu chiến cho nhân dân ăn tết) buộc Mỹ phải ngồi vào bàn hội nghị. Khi ký một hiệp định hiệp ước người Cộng Sản luôn nghĩ đến việc sẵn sàng chà đạp lên những điều bất lợi cho mình và buộc đối phương phải thực hiện những điều có lợi.

Khi thực hiện hiệp định Geneve, Lê Duẩn đã chỉ đạo chôn súng ở các căn cứ, trình diễn lên tàu tập kết rồi bí mật quay lại Cà Mau. Ký hiệp định Paris, ngừng bắn tại chỗ, tố cáo VNCH chiếm những lãnh thổ của họ, Công Sản lại đưa hàng chục sư đoàn từ Bắc vào Nam giải phóng Sài Gòn. Sau khi cưỡng chiếm trọn miền Nam Phạm Văn Đồng dõng dạc tuyên bố “Mỹ chạy trời không khỏi nắng khoản bồi thường chiến phí theo hiệp định Paris”

Có lẽ đến lúc các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc lại ván cờ địa chính trị. Thà có thêm một đối thủ công khai còn hơn vun quén tình bạn đồng sàng dị mộng mà nói theo người Việt là “nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà”.

– Một số tù nhân lương tâm đã bị chính quyền Việt Nam bắt giữ trong năm 2021

– Những nhà hoạt động bị xét xử vào tháng 12/2021

DÀNH CHO AI ĐÃ TỪNG ĐỔ VỠ!

DÀNH CHO AI ĐÃ TỪNG ĐỔ VỠ!

Ở Nhật Bản, khi một cái bát bị nứt vỡ, họ dùng vàng gắn lại những mảnh vỡ để tạo thành một tác phẩm nghệ thuật mới.

Người Nhật tin rằng, khi một thứ gì đó từng bị tổn thương và mang trong mình một lịch sử, nó sẽ đẹp hơn. Vì thế, thay vì vứt một cái bát vỡ đi, họ sẽ gắn lại những mảnh vỡ bằng vàng. Thay vì tìm cách che dấu đi những vết nứt vỡ, họ dùng vàng để làm chúng nổi bật lên như một cách để ca tụng và biến chúng thành điểm nhấn của cả chiếc bát.

Con người cũng vậy. Tất cả những khó khăn, thương tổn bạn đã hoặc đang phải trải qua không làm cho bạn xấu xí hơn. Bạn có quyền lựa chọn để sơn lên những thương tổn ấy của mình một lớp vàng. Bạn hoàn toàn có thể vực mình dậy và rút ra bài học từ những vấp váp ấy để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.

Bạn hoàn toàn có thể tự hào về những vết sẹo từ những tổn thương của mình và nói rằng: “Hãy nhìn những gì tôi đã trải qua. Nhờ chúng mà tôi trở thành tôi của ngày hôm nay. Giờ không có gì là tôi không thể vượt qua.”

Không ai có một cuộc đời hoàn hảo. Nhưng ai cũng có thể lựa chọn để sơn vàng lên những mảnh vỡ của cuộc đời mình.
Đừng hổ thẹn vì những gì đã xảy ra với bạn. Bạn càng phủ nhận và than vãn vì những gì đã xảy ra, chúng càng không giúp ích gì cho bạn.

Ngược lại, khi bạn chấp nhận và rút ra bài học từ những đổ vỡ và gắn lại chúng bằng vàng, bạn đã biến những thứ tưởng như xấu xí, vô dụng thành một một câu chuyện đẹp đẽ và đầy cảm hứng.
Có một câu nói rằng: “Mỗi cấp độ tiếp theo của cuộc đời đòi hỏi một phiên bản mới của bạn.” Và đôi khi, những mảnh vỡ là thứ cần thiết để bạn trở thành phiên bản mới tốt đẹp hơn.


Cuộc đời, rồi ai cũng từng làm vỡ đi một cái gì đó. Người ta chưa từng bị đổ vỡ nên người ta đứng đó phán xét khi thấy bạn làm vỡ đi thứ mình yêu thích. Sau này, khi trải qua những cảm giác tương tự, người ta cũng sẽ có cảm giác như bạn mà thôi.


Hãy sống cho bản thân và tự đi đến nơi mình cảm thấy hạnh phúc, hà cớ gì phải sợ người đời dèm pha, ai tốt, ai xấu theo thời gian cũng sẽ nhìn thấy rõ. Và sẽ có người bước đến, rồi bạn sẽ lại yêu, sẽ lại tìm thấy hạnh phúc… để nhận ra, đổ vỡ không có gì đáng sợ cả, vấp ngã ai mà chưa từng, đứng lên đi tiếp hay ngồi yên tại chỗ ngã than khóc mới là điều bạn cần phải chọn lựa.
Đừng vì một lần đổ vỡ mà bỏ luôn cả một đoạn đường dài phía trước, chỉ cần bạn không ngừng tìm kiếm, thì sớm muộn cũng nhìn thấy hạnh phúc đích thực mà thôi.


Chúc cho bạn biết cách gắn vàng lên từng vết nứt.

Yêu thương!Yêu thương!!!

S.T.

CŨNG LÀ MỘT THÔNG ĐIỆP

CŨNG LÀ MỘT THÔNG ĐIỆP

“Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói, “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”.

Đức Ông James Vlaun nói, “Các linh mục nổi tiếng về việc mượn những câu chuyện của nhau để giảng lễ! Một lần kia, tôi có mặt tại một đám tang với tư cách một người đồng tế; hôm đó, vị linh mục giảng lễ đã kể một câu chuyện thật sâu sắc về thời thơ ấu của ngài. Thực ra, đó là câu chuyện về thời thơ ấu của tôi, và ngài không bao giờ đề cập điều đó; cũng có thể ngài không biết!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Thật thú vị, Tin Mừng hôm nay cũng tiết lộ một chuyện tương tự ngay từ ngày đầu tiên khi Chúa Giêsu bắt đầu thi hành sứ vụ công khai. Chúa Giêsu cũng đã ‘mượn tạm’ thông điệp của Gioan để ‘giảng lễ mở tay’ của Ngài một cách ngon ơ! Như vậy, điều đã xảy ra với James Vlaun cũng đã xảy ra với Gioan; bởi lẽ, ‘cũng là một thông điệp’, nhưng Gioan đã rao giảng trước, khi ông vừa từ hoang địa bước ra, “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”.

‘Cũng là một thông điệp’; tuy nhiên, từ môi miệng Chúa Giêsu, những lời này mang một ý nghĩa phong phú hơn nhiều. Gioan loan báo một Nước Trời sắp đến, một Nước Trời mà có lẽ, bản thân Gioan cũng rất mù mờ; đang khi Chúa Giêsu, Ngài là Đấng phải đến của chính Nước đó, Vương Quốc đó; và còn hơn thế nữa! Tuyệt vời thay, chính Chúa Giêsu là Nước Trời, là Vương Quốc! Rồi đây, Ngài sẽ xác nhận điều đó, “Nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ông!”. Bên cạnh đó, với Ngài, “sám hối” cũng mang một ý nghĩa khác! Sám hối thường được hiểu là hối hận, đau buồn vì những điều sai trái mình đã làm; ở đây, “sám hối”, “metanoia” trong tiếng Hy Lạp, là kêu gọi một sự thay đổi hoàn toàn và triệt để bên trong về cách thức chúng ta nhìn cuộc sống. Nó không quan tâm đến quá khứ, nhưng là tương lai!

Tuy nhiên, với Chúa Giêsu, “Nước Trời” ở đây không đề cập đến cuộc sống tương lai; nó không bảo tất cả chúng ta sắp rời trái đất để về thiên đàng; “Trời” là một cách nói trại để chỉ danh Thiên Chúa, mà Matthêu, viết cho Kitô hữu Do Thái, không muốn sử dụng. Với người Do Thái, tên của Thiên Chúa thánh đến nỗi con người không được phép thốt ra. “Nước Trời” đó đã đến vì nó được hiện thân trong con người Chúa Giêsu. Chính Ngài sẽ thể hiện sự hiện diện hiệu quả của quyền năng Thiên Chúa; và điều đó được Matthêu cho thấy trong phần thứ hai của Tin Mừng hôm nay, “Người ta đã đem đến cho Ngài đủ thứ bệnh nhân, những người mắc phải tật nguyền đau đớn, quỷ ám, kinh phong, bất toại. Ngài đã chữa lành họ”, đó là sức mạnh của tình yêu và sự hàn gắn. “Chữa lành” có nghĩa là khôi phục sự toàn vẹn cho mọi người, mọi sự; vì mục tiêu của Nước Trời là khôi phục sự toàn vẹn của toàn thế giới. Đó là lý do của Giáng Sinh, cũng là lý do tại sao Hài Nhi trong máng cỏ được sinh ra, đi liền với sứ mệnh mà Ngài phải chu toàn cho đến chết.

Anh Chị em,

“Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”. Hôm nay, Chúa Giêsu vẫn đang nói những lời đó với mỗi người chúng ta. Ngài muốn nói, hãy thay đổi cách nhìn, cách sống, vì chính Ngài là Nước Trời đang ở giữa chúng ta. Ngài đang phập phồng hồi hộp với chúng ta trong mọi tân toan của thiếu thốn, thất nghiệp và dịch bệnh; Ngài đang muốn chữa lành, khôi phục sự toàn vẹn của mọi sự; và điều Ngài muốn nhất, là chữa lành, khôi phục chính mỗi người chúng ta. Đúng thế, mỗi ngày, mỗi biến cố xảy ra, Thiên Chúa đang gửi đến những thông điệp cho từng người, từng linh hồn qua Ngôi Lời của Ngài; thông điệp có thể khác nhau, nhưng tựu trung, chúng vẫn chuyên chở một sự thật, “Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đang thương xót chúng ta; Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta”. Hãy nhận ra dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa trong Giêsu và an tâm tín thác vào Ngài. Đó ‘cũng là một thông điệp’ mà từng ngày chúng ta nhận được, vốn sẽ dẫn tới một thông điệp quan trọng gấp bội, “Hãy trở nên con người mới mà Thiên Chúa muốn mỗi người chúng ta trở thành!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con tạo nên một sự khác biệt, trước hết, nơi bản thân con, bằng một đời sống sám hối; nhờ đó, con có thể tạo nên một sự khác biệt cho Giáo Hội, cho thế giới!”, Amen.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu