Đúng là “Thời loạn”!

Đúng là “Thời loạn”!

Bởi  AdminTD

Nguyễn Như Phong

14-1-2022

Bốn năm trước, tôi có viết cuốn tiểu thuyết mang tên ‘Thời loạn’.

Cuốn tiểu thuyết nói về những “doanh nhân” mà để làm giàu, họ không từ một thủ đoạn nào. Thủ đoạn từ mưu mô thổi giá chứng khoán, buôn lậu vàng, thâu tóm đất đai đến đòi nợ thuê, rồi cả giết người… Những cuộc tình đầy toan tính và éo le. Các biên tập viên của Nhà xuất bản CAND đọc rất thích nhưng cứ băn khoăn về chữ “Thời loạn”, bởi nó “nhạy cảm”. Xã hội ta đang tươi roi rói, cơ đồ sáng choang thế này, đi đâu cũng thấy cờ hoa biểu ngữ đỏ rực thế này mà lại bảo “Thời loạn”, nghe rất không được. Thôi vậy, thế thì đổi tên.

Bàn đi tính lại mãi với nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, cuối cùng đổi thành “Kim Tiền”, và cuốn tiểu thuyết đã đạt giải B cuộc thi Tiểu thuyết, Truyện ký của Bộ Công an và Hội Nhà văn năm 2020. Cuốn tiểu thuyết cũng chuyển thành kịch bản phim hình sự, nhưng chả ai dám đầu tư vì đây không phải là “hàng chợ”, đầu tư làm phim khá tốn tiền, phải gấp ba, gấp bốn lần phim “Thị trường” hiện nay.

Nói lằng nhằng một tý về cuốn sách. Nhưng giờ mới thấy thời buổi này đúng là “Thời loạn” thật. Đúng là “Thời loạn” khi mà liên tiếp xảy ra những vụ cha mẹ đánh chết con thơ. Con cái đánh chết cha mẹ.

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà nhiều ông to bà lớn, mới hôm trước còn lên bục răn dạy thiên hạ, thì ít hôm sau lại thấy “ăn năn, hối lỗi”.

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà xảy ra những vụ như Việt Á, lợi dụng dịch bệnh để kiếm chác, mà lại được tặng thưởng Huân chương mới là “loạn” chứ?

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà có không ít doanh nhân vừa mới lên diễn đàn thể hiện “lòng yêu nước vô bờ bến” thì lại có những hành vi lừa đảo, kiếm tiền bất chấp liêm sỉ?

Mà xem ra khá nhiều tình tiết hư cấu trong tiểu thuyết “Kim Tiền” là được các “roanh… nhân” hiện nay áp dụng. Kể cũng thú vị.

Mặc dù tôi biết, họ chả có thời gian đâu, văn hóa đâu mà đọc cuốn sách của tôi đến ngót 800 trang?

Đúng là “Thời loạn” thật!

VỮNG TIN VÀO CHÚA

VỮNG TIN VÀO CHÚA

Sau lễ Hiển Linh và lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa, hôm nay, Phụng vụ lại giới thiệu với chúng ta một cuộc “thần hiện” thứ ba: đó là dấu lạ tại tiệc cưới Cana.  Quả vậy, khi thực hiện phép lạ này, Chúa Giêsu diễn tả quyền năng thiên linh của Người, và vinh quang Thiên Chúa cũng được thể hiện qua biến cố đó.  Chính tác giả Gioan đã nhận định về phép lạ đầu tiên này như sự tỏ bày vinh quang của Thiên Chúa, và nhờ đó mà các môn đệ tin vào Người.  “Các môn đệ”, trong đó tất nhiên có Gioan, người kể lại sự việc, đồng thời cũng là chứng nhân về sự việc ấy.

Thánh Gioan là tác giả duy nhất kể lại dấu lạ Cana.  Khởi đi từ lời tuyên bố: Ngôi Lời đã làm người và ở với chúng ta.  Qua việc Đức Giêsu đến dự tiệc cưới, ông muốn diễn tả hình ảnh một Đức Giêsu đến trần gian để sống giữa mọi người.  Người chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của cuộc đời nhân thế.  Người hiện diện giữa họ để đem cho họ niềm vui.  Chúa hiện diện trong những đám cưới, đám tang là những sự kiện rất đỗi thường tình của cuộc sống.  Người đến tiệc cưới để chúc lành, và làm cho niềm vui của cô dâu chú rể nên trọn vẹn.  Giáo Hội dựa trên sự kiện này để dạy chúng ta về việc Chúa thiết lập Bí tích hôn phối.  Khi đôi bạn nam nữ tiến đến bàn thờ để thề hứa chung thuỷ với nhau trọn đời, Thiên Chúa sẽ chúc phúc cho tình yêu hôn nhân của họ.  Bí tích hôn nhân là mối dây yêu thương ràng buộc hai người suốt đời, đồng thời ban ơn nâng đỡ để đôi bạn vượt lên những khó khăn của đời sống gia đình.

Trở lại với Bài đọc thứ nhất, trích ngôn sứ Isaia, tác giả chiêm ngưỡng một tương lai huy hoàng, hân hoan vui mừng như một tiệc cưới.  Dân Israel sẽ hết thời khổ nhục và tang chế.  Không ai còn khinh bỉ dân tộc này, vì Chúa ra tay cứu giúp.  Ngài sẽ can thiệp và biến đổi đau thương của dân tộc thành niềm vui bất tận.  “Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về.  Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ.”  Đức tin Kitô giáo nhận ra trong lời ngôn sứ trên đây lời tiên báo về thời Thiên sai.  Đức Giêsu Kitô đã đến khai mở thời thiên sai muôn dân mong đợi.  Người được sánh như chú rể trong tiệc cưới.  Tiệc cưới cũng là hình ảnh diễn tả mối liên hệ thân thiết giữa Thiên Chúa và nhân loại.  Thời đại cũ đã qua, thời Thiên sai đã khai mở.  Thời đại cũ vô vị như nước lã, thời đại mới nồng nàn như rượu thơm.  Dấu lạ Canna vừa đem niềm vui cho cô dâu chú rể, vừa làm vui lòng thực khách là chính thế giới này.

Ý niệm về Chúa Giêsu như một “chàng rể” cũng được nhắc tới trong các Tin Mừng, nhất là trong Tin Mừng Thánh Gioan.  Chúa Giêsu là Đấng muôn dân mong đợi.  Người đến trần gian để nối kết con người với Thiên Chúa.  Thánh Gioan Tẩy giả, khi nói về Chúa Giêsu, cũng dùng hình ảnh chàng rể, và ông khiêm tốn nhận mình là người phù rể (x. Ga 3, 25-30).  Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nhân loại được mời gọi đón chờ Người như chờ đón chàng rể của hôn lễ (x Dụ ngôn mười trinh nữ, Mt 25, 1-13).  Đây cũng là viễn cảnh tương lai, khi lịch sử nhân loại đến hồi kết thúc, nhường chỗ cho trời mới đất mới, được diễn tả như tiệc cưới của Chiên Con, lúc đó, vinh quang Chúa sẽ bao trùm tất cả, niềm hân hoan sẽ tràn ngập vũ trụ (x Kh 19, 1-7).

Trình thuật của thánh Gioan làm nổi bật vai trò và sự tinh tế của Đức Trinh nữ Maria.  Phép lạ xảy đến do quyền năng của Thiên Chúa và với sự cộng tác của những gia nhân.  Những người này đã nghe lời khuyên của Đức Maria: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.”  Ngày hôm nay, Đức Trinh nữ vẫn hiện diện giữa chúng ta, để can thiệp và cứu giúp chúng ta với tâm tình hiền mẫu.  Đức Mẹ luôn hướng dẫn và giúp chúng ta thực thi Lời Chúa, như xưa Đức Mẹ luôn ghi nhớ và suy niệm Lời Chúa trong lòng.  Vâng lời Chúa và làm theo huấn lệnh của Người, đó chính là bí quyết để làm nên những điều lạ lùng trong cuộc sống.

Nếu Đức Giêsu đã đến thiết lập kỷ nguyên mới, thì Chúa Thánh Thần lại là mối giây nối kết tình hiệp nhất trong Giáo Hội.  Thánh Phaolô diễn tả Chúa Thánh Thần như nguyên lý của mọi đặc sủng.  Dù có nhiều đặc sủng, nhưng chỉ có một Thánh Thần.  Ơn của Ngài được ban cho các tín hữu rất dồi dào phong phú, hầu xây dựng Giáo Hội là thân thể huyền nhiệm của Chúa Giêsu.  Hôm nay Chúa Thánh Thần vẫn đang tiếp tục thổi hơi thần thiêng của Ngài nơi các cộng đoàn tín hữu.  Nhờ Ngài mà Giáo Hội luôn vững vàng trước phong ba bão tố của thời gian.

Khi đọc Kinh Mân côi, thứ hai mùa Sáng, chúng ta suy niệm dấu lạ Chúa Giêsu đã thực hiện tại Cana, đồng thời chúng ta cầu xin cho được “noi gương Đức Mẹ và vững tin vào Chúa.”  Đức Mẹ là người có phúc vì Mẹ đã tin rằng những gì Chúa phán sẽ thành hiện thực.  Xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta.  Amen!

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Nỗi đau của tuổi già – Huy Phương

Nỗi đau của tuổi già

Huy Phương

Ở đây, chúng Ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường… nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này rồi. Những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền, nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm.

Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước  cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày. Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu. Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí. Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc. Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông. Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác, nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường. Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào?

Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người “đem cha bỏ chùa”. Cũng lại câu chuyện của một người già…

Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng. Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà. Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng. Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ. Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh. Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp. Bà mới từ Florida đến phi trường LOS mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.

Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có pass- port của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”. Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam. Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái.

Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi. Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng.

Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi.

Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở đây bao nhiêu thứ tốn kém.

Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off.

Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời.

Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá 1ớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dăm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng.

Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang gồi xem TV, nó hất hàm hỏi:

-“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?”

Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:

-“Bả ấy đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ.

Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm

Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không biết tiếng Anh, bà sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con ở chung nhà đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu đầy mình.

Đời xưa, người ta kể chuyện trong một gia đình, có hai vợ chồng đối xử với ông cha già đã run rẩy của mình tệ bạc, cho cha ăn trong cái “mủng dừa”.

Một hôm hai vợ chồng đi làm về thấy đứa con nhỏ của mình đang hì hục đẽo một cái gáo như thế, được cha mẹ hỏi, nó “thành thật khai báo” rằng “để dành cho cha mẹ lúc về già”.

Đâu phải ai nuôi con cũng nghĩ tới lòng cha mẹ, cũng như nhớ chuyện “trồng đậu có đậu, trồng dưa có dưa”.

Huy Phương

From: NguyenNThu

Không Phàn Nàn – Huy Phương

Không Phàn Nàn – Huy Phương

Trong đời sống, đã biết bao lần chúng ta phàn nàn. Buổi sáng đi làm kẹt xe. Đến sở gặp đồng nghiệp ăn nói vô duyên, mếch lòng. Ông chủ mặt mày khó chịu, gắt gỏng. Về nhà vợ than phiền chuyện cơm áo. Con cãi lời, hỗn láo. Cánh tay đau nhức khó ngủ.

Nói chung hữu thân thì hữu khổ. Nhưng khi còn có việc làm, thì mới có đồng nghiệp, có ông thủ trưởng. Còn có xe để bị kẹt, còn có vợ để nghe mè nheo, còn có con để chê là nghịch tử. Còn có cánh tay để đau nhức. Trên đời này rất nhiều người không có gì, kể cả hai cánh tay, và sự thật là có người bất hạnh, không có luôn cả hai chân nữa.

Ít người cho mình có một đời sống hạnh phúc hoàn toàn. Không bất mãn chuyện này thì cũng khổ vì chuyện kia. Mỗi cuộc đời có bao nhiêu chuyện bất như ý, mỗi ngày có bao nhiêu giờ phút bực mình, đáng cho ta phàn nàn, than vãn!

Anh họ tôi có con trai sợ vợ, để vợ lấn lướt tìm cách đuổi cha mẹ chồng ra khỏi nhà, mà không có được một phản ứng gì. Tuy không đến nỗi lâm thảm cảnh của người vô gia cư, nhưng vợ chồng anh thất vọng, buồn bã đến nỗi mang chứng trầm uất, nhiều khi tỏ thái độ không thiết tha đến cuộc sống nữa. Ví như, trường hợp của một gia đình khác, đứa con trai ngay từ hồi còn bé bị té từ trên giường cao hai tầng xuống, tổn thương não bộ, phải sống đời thực vật từ nhỏ đến nay đã gần 40 tuổi, khổ đau là chừng nào. Trong khi anh chỉ có một thằng con bất hiếu, sợ vợ, nhưng anh cũng có khả năng thuê được nhà ở, có chiếc xe đi, lại còn có chị bên cạnh trong tuổi già, cuộc đời đâu đến nỗi bi đát.

Ông bạn già tôi, hơn ba mươi năm về trước, gửi đứa con trai vị thành niên, theo một người bạn đi vượt biên. Sang đến đảo, người bạn đổi tên đổi họ con anh, nhận là con mình. Khi gia đình anh sang định cư tại Mỹ, thì con anh đã lớn, tốt nghiệp đại học, nhưng đã trở thành đứa con của một gia đình khác, xem người đưa mình vượt biển là mẹ và cũng không còn biết người bạn tôi là ai. Vợ chồng người bạn tôi coi đây là một biến cố lớn lao trong đời, canh cánh bên lòng mỗi khi nghĩ đến chuyện mất con, đứa con mình đã tốn công sinh dưỡng, bây giờ xem mình như là những người xa lạ. Thật ra thì, bạn tôi không hề mất con, đứa con mình sinh ra, vẫn còn đó, mạnh khỏe, bình an, thành đạt, có một mái gia đình êm ấm. Có khác chăng là quan niệm “con tôi,” “vật sở hữu của tôi” nay vì nó thuộc về người khác, nên nó làm cho tôi đau khổ.

Tôi nhắc lại một chuyện cũ, vợ chồng ông bạn tôi sang Mỹ, nhà có mỗi hai cô con gái thì lớn lên, một cô lấy chồng Mỹ, một cô lấy chồng Trung Đông. Bạn tôi có hai ông rể giỏi giang, những đứa cháu xinh dẹp, dễ thương, nhưng lòng luôn luôn phiền muộn, thường mỗi khi nói đến chuyện con cái, gia đình, thì y như là khơi lại mối thương tâm, khiến bạn tôi không vui, tỏ ra bất mãn với hoàn cảnh. Rất nhiều gia đình sau Tháng Tư, 1975 có con gái mất tích giữa đại dương ngày vượt biển, phải chi được đổi lấy một hoàn cảnh của người bạn kia, thì gia đình họ sẽ vui sướng hạnh phúc bao nhiêu!

Em tôi sang Mỹ chậm, con cái không có cơ hội và cũng thiếu may mắn trong chuyện học hành, lớn lên, đứa thì làm công nhân hãng xưởng, đứa thì bưng phở trong nhà hàng, đứa thì chạy xe hàng xuyên bang. Nhìn quanh bạn bè, con ai cũng thành đạt, ông em sinh ra tự ti mặc cảm, tránh xa thiên hạ, không muốn giao thiệp với ai, không muốn nói đến chuyện gia đình. Những đứa con gia đình này, không có tội lỗi gì, cũng không cần phải mang mặc cảm như bố. Bao nhiêu người chết sông, chết biển, mình mang được cả gia đình trọn vẹn sang đây, ai cũng có công ăn việc làm ổn định, sống lương thiện, không vướng trộm cắp, ma túy. Bao nhiêu người mơ ước có cuộc đời như mình mà không được.

Có ông bạn gặp bà vợ lắm điều, không hợp ý, ông vò đầu bứt tai than khổ, tưởng như đang sống dưới mấy tầng địa ngục. Nghĩ lại, có người vợ mất sớm, thân già vò võ một mình, quạnh hiu biết chừng nào. Có người thì vợ đau yếu, vào ra bệnh viện, thập tử nhất sinh, giờ lại phải vào nhà dưỡng lão, ông phải vất vả vào ra hàng ngày. Còn có vợ bên mình, không còn ngọt bùi như thời xuân sắc, nay dù có điều bất như ý, thì cũng còn có nhau, bao nhiêu người mơ ước cảnh đời này mà không được.

Khi người ta bất như ý, người ta có thói quen oán Trời trách Đất. – “Trời ơi sao tôi khổ thế này?”- “Sao Ông Trời bất công quá vậy!”- “Thật là Ông Trời không có con mắt!”- “Ông Trời ơi, xuống mà coi nè!”

Cam chịu bình thản, thì người theo đạo Phật tin vào Nhân Quả và cái Nghiệp. Đời này thấy mình sao thì biết kiếp trước mình ăn ở làm vậy! Người Công Giáo thì tin đã có Chúa an bài, là do ý Chúa, chết cũng là do Chúa gọi về!

Người bình dân thường đổ cho tại cái số, giàu nghèo, no đói, sướng khổ đều do số Trời định, khi đã được Nam Tào, Bắc Đẩu ghi sổ rồi, thì “có chạy Trời cũng không khỏi,” cứ an phận thủ thường, ung dung tự tại mà sống!

Xin kể một chuyện bên Tàu: Đức Khổng Tử đi chơi núi Thái Sơn, gặp ông Vinh Khải Kỳ ngao du ngoài đồng, mặc áo cừu, thắt lưng dây, tay gẫy đàn cầm vừa đi vừa hát.

Đức Khổng Tử hỏi: “Tiên sinh làm thế nào mà thường vui vẻ như thế?”

Ông Vinh Khải Kỳ nói: “Trời sinh muôn vật, loài người quý nhất mà ta được làm người. Trong loài người đàn ông quý hơn đàn bà mà ta được làm đàn ông.  Người ta sinh ra có đui què, non yểu mà ta hoàn toàn khỏe mạnh, nay đã chín mươi tuổi. Đó là ba điều đáng vui, có gì mà phải lo buồn”.

Lại xin kể một chuyện bên Tây: Từ đầu năm đến nay, hàng chục người đã thiệt mạng khi tìm cách vượt qua sông Rio Grande, nơi mực nước dâng lên cao nhất trong 20 năm qua, để tìm cách đến Mỹ.

Đoàn “caravan di cư” bất hợp pháp hơn 7,000 người áp sát biên giới Mỹ. Trạm biên phòng Del Rio ở Texas hôm tuần qua đã báo cáo, chỉ từ Tháng Sáu tới nay họ bắt giữ hơn 1,000 người Haiti.

Mới đây lại thêm một bức ảnh chấn động lương tâm thế giới ghi lại cảnh tượng một người cha và con gái người El Salvador bị chết đuối, nằm úp mặt xuống nước tại bờ sông Rio Grande ở biên giới Mỹ – Mexico khi tìm cách bơi qua sông. Họ là những người đang tìm cách đến Mỹ và hy vọng sống được trên đất Mỹ, như chúng ta.

Liệu chúng ta có nên phàn nàn nữa không?

(Huy Phương)

Tự do tôn giáo và bài toán “tà giáo”: Từ góc nhìn quản lý nhà nước Tìm hiểu về nhu cầu quản lý tôn giáo chính đáng của các nhà nước.

Tự do tôn giáo và bài toán “tà giáo”: Từ góc nhìn quản lý nhà nước Tìm hiểu về nhu cầu quản lý tôn giáo chính đáng của các nhà nước.

 13/01/2022

By  NGUYỄN QUỐC TẤN TRUNG

Minh họa: Cristiana Couceiro/ The New Yorker.

Nathan là một sinh viên năm hai tại trường Đại học Indiana, Hoa Kỳ.

Một ngày nọ, anh gặp Jodi, người tự nhận mình cũng là học sinh của trường. Họ bàn luận về mọi thứ trên đời: các cuộc chạy đua vũ trang, tình trạng đạo đức của xã hội hay sự bất bình đẳng toàn cầu. Thật ngạc nhiên, mọi quan điểm và góc nhìn của anh đều được Jodi ủng hộ và đồng tình.

Jodi giải thích rằng có một nhóm cộng đồng mà cô đang tham gia cũng chia sẻ những suy nghĩ giống như anh, và họ có một buổi gặp mặt ngay chiều hôm đó.

Nhóm người này đón tiếp anh như thể một thành viên thân thuộc của gia đình; mọi quan ngại về văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của anh đều được nhóm bàn luận, đồng tình. Anh say sưa tham gia các trò chơi vận động, hát hò, tham gia vào các buổi trị liệu tâm lý nhóm nhỏ.

Từ khi tham gia nhóm, Nathan chỉ ngủ được tám tiếng trong suốt ba ngày cuối tuần, ăn hai bữa mỗi ngày, nhưng vô cùng hạnh phúc vì đây là lần đầu tiên anh gặp được những người có cùng lối sống, cùng tư duy, cùng niềm tin và dường như cùng đích đến.

Nathan quyết định chuyển vào ở chung với nhóm người đồng đạo, bật băng nghe “giáo chủ” thuyết giảng liên hồi, ngủ ba tiếng một ngày, cùng lúc tích cực tìm kiếm và chiêu mộ thành viên mới.

Trong khi đó, mối quan hệ của anh với ba mẹ mình ngày càng tệ đi. Tất cả những mối liên hệ bạn bè trước kia đã tạo nên Nathan của “ngày xưa” cũng dần biến mất.

Quá trình “truyền đạo” hoàn tất. [1]

“Giáo phái sùng tín” (cult), “tà đạo” (heresy) và vai trò của nhà nước

Các bài viết về tôn giáo xưa nay của Luật Khoa hầu hết đều chia sẻ tư duy bảo vệ quyền tự do tôn giáo.

Với những quy định pháp lý mơ hồ cùng những tiêu chuẩn kép của chính quyền, sẽ là bình thường khi người ta nghi ngờ thực trạng bảo vệ tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc chúng ta nên phủ nhận khả năng lạm dụng danh nghĩa tôn giáo để xâm phạm tới các giá trị pháp lý hay quy chuẩn xã hội. Trong bối cảnh đời sống tín ngưỡng – tâm linh và các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội chưa thật sự ổn định của Việt Nam, việc những “tà đạo”, “giáo phái” luôn luôn rình rập là một khả năng hiển hiện.

Có thứ gọi là tà đạo, dị giáo hay không? Chính quyền các quốc gia trên thế giới có lo ngại chúng hay không?

Câu trả lời chắc chắn là có.

Sử dụng tôn giáo như một công cụ để đạt được các mục tiêu, từ gây ảnh hưởng kinh tế, chính trị, xã hội cho đến mưu cầu lợi ích riêng, đã không còn là chuyện xa lạ tại hầu hết các quốc gia.

Shoko Asahara, người sáng lập giáo phái Aum Shinrikyo (trái) và cuộc tấn công khí độc do nhữngthành viên của giáo phái này thực hiện trên tàu điện ngầm ở Tokyo vào năm 1995. Ảnh: Daily Mail.

Một ví dụ nghiêm trọng là trường hợp giáo phái tận thế Aum Shinrikyo tại Nhật. Giáo phái này bắt đầu như là một nhóm tôn giáo kết hợp các giáo lý giữa Hindu và Phật giáo, đồng thời sử dụng các câu chuyện tận thế từ Công giáo. Việc không có những kiểm soát tiền đề về tôn giáo tại Nhật đã khiến diễn ngôn sai lệch của Aum Shinrikyo phát triển đủ mạnh, từ đó dẫn đến cuộc tấn công khủng bố chết chóc bằng chất độc thần kinh dạng lỏng trên hệ thống tàu điện ngầm Tokyo vào năm 1995. [2]

Ở dạng nhẹ hơn, chúng ta có những câu chuyện tương tự như của Nathan lúc đầu. Trong những trường hợp như vậy, Richard Delgado, một giáo sư luật thuộc trường Đại học California, Los Angeles, Mỹ (UCLA) lo ngại rằng các nhóm truyền đạo sẽ sử dụng các công cụ kiểm soát để thao túng tâm lý những người trẻ.

Vị giáo sư đưa ra đề xuất bắt buộc các nhóm giáo phái muốn truyền đạo phải có “sự đồng thuận với đầy đủ thông tin” (informed consent) từ phía người được truyền đạo trước khi bắt đầu quá trình hướng đạo (proselytizing). [3] Nói cách khác, người được truyền đạo cần phải biết trước những thông tin cần thiết như tên gọi, mục tiêu, tôn chỉ, hay các yếu tố khác liên quan đến giáo phái.

Dẫu thế nào đi chăng nữa, không nên (và không thể) tiếp cận tự do tôn giáo như một quyền trong trẻo và tốt đẹp hoàn toàn, không có khả năng bị lạm dụng hay biến tướng.

Vấn đề ở chỗ là pháp luật nên can thiệp lúc nào và can thiệp như thế nào.

Những nhóm tôn giáo này “vi phạm pháp luật” ở điểm gì?

Năm 1995, ngay sau khi Aum Shinrikyo (thường được gọi tắt là Aum) thực hiện hành vi khủng bố, ngoài việc khởi tố và bắt giữ các nghi phạm liên quan, chính quyền Nhật Bản tuyên bố rằng các giáo lý, việc giảng dạy và mục tiêu hoạt động của nhóm này là hành động thực hiện chiến tranh chống lại nhà nước. [4]

Áp dụng đạo luật thời kỳ Chiến tranh Lạnh khá tranh cãi có tên gọi Subversive Activities Prevention Law (Luật Phòng chống Hoạt động Lật đổ Chính quyền – 1951), chính quyền Nhật Bản tịch thu toàn bộ tài sản, giáo lý, tư liệu và các nguồn lực khác của Aum. Giáo phái này chính thức không còn được phép hoạt động. [5]

Nhiều nước trên thế giới cũng đặt Aum ngoài vòng pháp luật. Nhiều nhóm nhỏ có dính líu tới Aum bị trục xuất khỏi các quốc gia. Sau gần 30 năm, các cựu thành viên của Aum dường như không còn bất kỳ cơ hội nào để được xã hội và pháp luật chấp nhận lại.

Các quan ngại lớn nhất ở đây là khả năng phát sinh bạo động, khủng bố từ các triết lý tôn giáo cực đoan.

Tại Hoa Kỳ, cả chính quyền lẫn các nhà nghiên cứu đều thừa nhận sự nguy hiểm của các giáo phái, các nhóm dị giáo (như các nhóm thờ phụng quỷ Satan – Satanic cults).

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng niềm tin từ thập niên 1970 đến thập niên 1980, hàng ngàn giáo phái xuất hiện tại Hoa Kỳ với hơn ba triệu giáo dân, có quyền lực kinh tế lẫn chính trị không tưởng. [6]

Ảnh chụp sự kiện tự sát tập thể của giáo phái Peoples Temple tại Mỹ vào năm 1978. Hơn 900 người, trong đó có nhiều trẻ em, theo lệnh của giáo chủ Jim Jones, đã uống thuốc độc tự sát hoặc bị bắn chết. Ảnh: Bettmann/ Bettmann Archive.

Các nhà nghiên cứu liệt kê một số vấn đề pháp lý nghiêm trọng trong các nhóm giáo phái sùng tín Hoa Kỳ điển hình của giai đoạn này:

  1. Các thành viên tuyên thệ trung thành tuyệt đối với giáo chủ, người đổi lại đưa ra mọi quyết định trong đời sống cá nhân của giáo dân;
  2. Các nhóm thường được vận hành dựa trên tâm lý phản – trí thức (anti – intellectual). Họ được giáo huấn không tin tưởng vào bất kỳ thông tin khoa học, chính trị nào khác ngoài lời dạy của giáo chủ;
  3. Các giáo phái này thường chống lại các giá trị gia đình (anti – family) và phân biệt giới tính (sexist). Giáo phái là gia đình duy nhất của giáo dân, phụ nữ chỉ được xem là công cụ sinh đẻ (nhưng vẫn thu hút được một lượng lớn nữ giới phục tùng). Mọi kết nối gia đình đều được khuyến khích (hoặc bị bắt buộc) cắt đứt;
  4. Các giáo phái có thể biến tướng trở thành mô hình lao động nô dịch (slave labour), nơi mà giáo dân bị yêu cầu phải làm việc cật lực để nuôi sống giới chức tôn giáo.

Tất cả những yếu tố này đều có khả năng vi phạm pháp luật ở mọi quốc gia.

*** 

Với những thông tin mở rộng nói trên, có lẽ cần đồng ý việc quản trị các hoạt động tôn giáo là một nhu cầu thượng tầng kiến trúc có cơ sở và chính đáng. Nhu cầu này không chỉ bảo vệ quyền lợi của nhà nước, mà trong nhiều trường hợp, bảo vệ quyền lợi của công dân, các định chế xã hội căn bản như gia đình hay đạo đức.

Vấn đề ở chỗ, chúng ta nên quản lý nó bằng công cụ nào và như thế nào.

Con người phải đối xử với loài vật và các vật khác thế nào?

Con người phải đối xử với loài vật và các vật khác thế nào?

Tạ ơn Chúa đã ban cho con thêm một ngày mới để biết yêu thương nhau và những gì Chúa đã tạo dựng nên. Một ngày bình an và khoẻ mạnh nhé.

Cha Vương

Thư 4: 12/01/2022

GIÁO LÝ: Con người phải đối xử với loài vật và các vật khác thế nào? Con người cần tôn vinh Thiên Chúa nơi các thụ tạo của Người, và cư xử với chúng cách ân cần và có trách nhiệm. Con người, con vật, và cây cỏ, có cùng một Đấng Tạo hóa, Người đã dựng nên mọi loài bởi Tình yêu Người. Vì vậy, yêu thương các loài vật là tình cảm rất thâm sâu của con người. (YouCat, số 57)

SUY NIỆM: Con người được phép dùng cây cỏ và loài vật để nuôi sống mình. Tuy nhiên không được phép hành hạ và ngược đãi chúng. Khai thác trái đất một cách mù quáng là đối nghịch với phẩm giá của thụ tạo. (YouCat, số 57 t.t)

LẮNG NGHE: Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.” (St 1:26)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Cha hằng có đời, vì yêu thương Cha đã tạo dựng muôn loài muôn vật từ hư không. Cha cũng đã ban cho loài người được hưởng tất cả những gì Cha đã dựng lên. Xin cho con biết tích cực cộng tác vào công trình sáng tạo của Cha để hoàn tất công trình sáng tạo của Cha cách hiệu quả hơn.

THỰC HÀNH: Quyết tâm bảo vệ môi trường sống cho sạch sẽ bằng cách không xả rác bừa bãi nơi chỗ ở và nơi công cộng.

From: Đỗ Dzũng

NHỚ ÔNG LÊ ĐÌNH KÌNH (1936-2020)

Lê Vi

NHỚ ÔNG LÊ ĐÌNH KÌNH (1936-2020)

Tôi và ông Lê Đình Kình khác nhau nhiều quá. Khác về vùng miền, về thế hệ, về nghề nghiệp. Nhưng quan trọng nhất là khác về ý thức hệ: Ông là đảng viên Cộng sản, và nghe nói, trước lúc chết, vẫn còn tin vào lý tưởng của đảng; còn tôi, ngược lại, bị đảng của ông xem như kẻ thù, đến độ cấm không cho về thăm gia đình. Tuy vậy, tôi vẫn bị ám ảnh về cái chết của ông mãi. Cả hai năm nay, thỉnh thoảng, tôi lại nghĩ đến ông. Và thấy xót xa cho ông.

Cứ tưởng tượng một ông già 84 tuổi, giữa khuya, lúc đang ngủ say trong nhà, bỗng dưng bị công an và quân đội ập vào nhà và bắn chết. Chưa hết, họ còn mang xác đi, mổ xẻ tanh bành, cả mấy ngày sau mới trả lại cho vợ con. Cũng chưa hết, con và cháu ông cũng bị bắt, và trong một phiên toà sau đó, người ta kết án tử hình hai người con trai và án chung thân đối với người cháu nội của ông. Giống như một bản án tru di tam tộc!

Nhớ đến những chuyện đó không phải chỉ để thương ông. Mà là để phẫn nộ giùm cho ông. Cái đảng ông vẫn tin tưởng đã coi ông như một kẻ thù và quyết tâm truy diệt ông đến cùng.

Thấy gì qua vụ án ấy? Thấy rõ một điều: Chính quyền độc tài nào cũng xem dân chúng là kẻ thù, khi cần, họ sẵn sàng dùng bạo lực để triệt hạ. Đừng nói chuyện thân dân hay cận nhân tình với họ. Vô ích.

– Nguyễn Hưng Quốc

Lăng mộ Nguyễn Bá Thanh và câu chuyện nhân quả ngay đời này

Lăng mộ Nguyễn Bá Thanh và câu chuyện nhân quả ngay đời này

Đàm Ngọc Tuyên

5-1-2022

Vài ngày trước, trên đường đi về thăm quê vợ của thằng bạn, ở Điện Bàn, Quảng Nam, xe xuất phát từ ngã ba Huế. Đến tỉnh lộ 605 thì quẹo phải, hướng Hòa Tiến, Hòa Vang, Đà Nẵng, đi ngang khu lăng mộ ông Nguyễn Bá Thanh, nên tôi nói dừng lại. Bạn tôi ngạc nhiên hỏi: “Mày vào thắp hương à?!”. Tôi trả lời bạn rằng: “Tao có thể thành kính thắp hương cho một ngôi mộ vô chủ ven đường, nhưng quan chức trong thời đại này thì không”.

Từ đường tỉnh lộ 605, quẹo phải đi vào tầm 300 mét, là đến lăng mộ Bá Thanh, nằm bên phải mặt tiền đường. Đập vào mắt chúng ta là cái cổng khu lăng mộ đồ sộ nguy nga, đá làm cổng là loại đá con ong, có thể được đưa từ Tây Ninh về, còn những cánh cổng bằng gỗ, điêu khắc cầu kỳ. Để dễ hình dung, mức độ rộng lớn, tôi không ghi hình cái cổng, mà chụp từ phía sau ngôi mộ, phần mặt tiền đường, như bức hình, mới thấy dài tít tắp.

Đường vào lăng mộ Nguyễn Bá Thanh. Nguồn: Đàm Ngọc Tuyên

Quả thật chỉ bằng với lăng mộ này, đã phổ quát câu đồng dao của những người dân Đà Nẵng hiểu chuyện: “Con cá dưới nước, con chim trên trời cũng của Bá Thanh”.

Đương nhiên những người hiểu chuyện, đều biết rằng, đến tận khi chết đi, người ta vẫn còn cướp đất của hàng trăm ngôi mộ, buộc phải di dời đi nơi khác, đặng chôn cất, xây lăng tẩm này. Trong khi đó, khu nghĩa địa này vẫn còn nhiều nơi trống, vấn đề là phải xây lăng mộ ở mặt tiền đường chăng? Cho dù lý do nào, thì cũng quá bất nhân.

Những bất nhân của đời cha, đã có quả ngay trong đời này đó thôi. Người ta nói rằng, ngày ấy, Bá Cảnh là người con trai duy nhất Bá Thanh, khi cha chết, vẫn còn lắc lư trong tiếng nhạc quay cuồng. Nhưng chút tỉnh táo còn sót lại, vẫn biết ngửa tay xin tiền xây mộ phần cho cha, đến 9 tỷ đồng, từ một tập đoàn từng phá nát Sơn Trà, mà Bá Thanh có công giúp họ, khi còn đương nhiệm. Sau đó, Bá Cảnh phó mặc cho họ làm, mà không cần quan tâm người vừa nằm xuống là ai? Nhân quả đến ngay đời này.

Thật ra, có quá nhiều kẻ độc ác, bởi quyền lực, tiền bạc khiến họ như con thiêu thân nhảy vào ánh đèn. Thành thử họ không quan tâm đến nhân quả – một việc tất yếu sẽ xảy ra, vấn đề thời gian thôi. Mà nếu liệt kê ra hết, thì bút mực nào cho xuể. Như một Trần Bắc Hà khiến bao quan chức ở Bình Định sợ sệt, khúm núm. Nhưng cuối đời, mạng bỏ trong tù, còn gia đình ly tán, tội tù khắp nơi, không còn một nẻo về.

Hay như cựu chủ tịch tỉnh Quảng Ngãi, khi vừa về hưu mới đây, thì vợ dẫn trai về ở ngay trong ngôi biệt phủ, mà đất đai và tiền bạc xây thành, hẳn không cần nói ra, chúng ta đều ngầm hiểu, là từ đâu mà có. Lúc này, Trần Ngọc Căng, mới buồn đời, lên sống ở một tỉnh thuộc Cao nguyên Trung phần, như cách xa rời sự ô nhục vậy.

Nhưng, nhân quả thì có chạy trốn khắp bầu trời, vẫn khó thoát. Đến Lâm Đồng, trong một lần đi ăn sáng, vị cựu chủ tịch gặp lại những đồng bào Quảng Ngãi, mà họ đã mất đất bởi Ngọc Căng. Thế là giống như câu chuyện vị cựu quan chức ở Gia Lai, được đồng bào ta ụp hẳn tô phở lên đầu.

Những ngày cuối năm, ngồi nhớ lan man, viết ra như thể dặn chính mình, và mấy đứa quan chức, thôi hãy bơn bớt ác lại một chút, đừng ngấu nghiến xương máu đồng loại nữa. Kiếp nhân sinh ngắn lắm, nhưng tiếng rủa nguyền còn mãi theo tháng năm.

Covid-19 lây lan mạnh, giới chuyên gia vẫn hy vọng thoát đại dịch nhờ Omicron

Covid-19 lây lan mạnh, giới chuyên gia vẫn hy vọng thoát đại dịch nhờ Omicron

Xếp hàng chờ xét nghiệm Covid-19 tại thành phố Oklahoma, bang Oklahoma, Hoa Kỳ, ngày 11/01/2022. REUTERS – NICK OXFORD

Theo ông Cavaleri, được AFP trích dẫn, với số ca nhiễm trong cộng đồng ngày một gia tăng và sự xuất hiện của biến thể Omicron, tiến trình miễn dịch tự nhiên cùng với miễn dịch do vac-xin tạo ra sẽ tăng tốc và thế giới “sẽ  tiến nhanh hơn tới kịch bản Covid-19 trở thành một loại dịch bệnh thông thường (endémique), tương tự như cúm mùa”. 

Cũng hôm qua, 11/01, tiến sĩ Anthony Fauci – chuyên gia dịch tễ hàng đầu của Mỹ, cho rằng dù số ca nhiễm mới và nhập viện của Mỹ đang ở mức cao chưa từng thấy, song nước này đang tiến đến “ngưỡng” chuyển sang sống chung với Covid-19 như một bệnh có thể kiểm soát được. 

Đối với ông Fauci, loại bỏ hoàn toàn Covid-19 là một mong muốn “không thực tế”, nhưng với sự xuất hiện của Omicron, Mỹ hy vọng có thể bước vào giai đoạn mới – có đủ sự bảo vệ trong cộng đồng, đủ thuốc để bất kỳ ai mắc bệnh và thuộc nhóm nguy cơ cao có thể được điều trị dễ dàng. Theo ông, Mỹ có thể là đã ở “ngưỡng cửa” của giai đoạn này.  

Các nhận định có phần lạc quan kể trên được đưa ra trong bối cảnh số ca nhiễm mới tại châu Âu và Hoa Kỳ liên tục đạt mức cao kỷ lục. 

Tại Pháp chẳng hạn, nước đang dẫn đầu châu Âu về tốc độ lây lan chóng mặt của virus SARS-CoV-2, hôm qua 11/01, số ca nhiễm mới trong vòng 24 giờ được chính thức thống kê đã lên đến 368.149, mức cao nhất trong một ngày kể từ khi đại dịch bùng phát. 

Đà tăng vọt của các ca nhiễm kéo theo đà tăng của các ca nhập viện, đã lên đến 23.371 người vào hôm qua, trong đó có 3.969 trường hợp đang ở trong các khoa điều trị tích cực.  

Mỹ: Gần 1,5 triệu ca nhiễm mới/ngày 

Hoa Kỳ cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự. Theo kênh truyền thông Mỹ CNBC, hôm Thứ Hai 10/01 đầu tuần, số ca nhiễm mới trong một ngày được Đại Học Mỹ Johns Hopkins thống kê lên đến mức gần 1,5 triệu trường hợp. 

Tuy nhiên, CNBC cũng tỏ ý thận trọng trước số liệu cao ghê gớm đó, vì nhiều chuyên gia, con số 1,5 triệu ca nhiễm mới đó đã được thổi phồng vì nhiều bang đã gộp kết quả xét nghiệm hai ngày cuối tuần vào bản bản báo cáo ngày Thứ Hai. 

Cho dù vậy, tình hình lây nhiễm tại Hoa Kỳ vẫn nghiêm trọng vì số ca nhiễm bình quân mỗi ngày trong một tuần đã lên đến mức kỷ lục 754.000 trường hợp. 

Bài diễn văn từ chức và giải tán Liên Xô vào ngày 25 tháng 12 năm 1991

Bài diễn văn từ chức và giải tán Liên Xô vào ngày 25 tháng 12 năm 1991

Mikhail Gorbachev * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch

Đồng bào thân mến! Các công dân thân mến!

Do tình hình hiện nay và sự thành lập Cộng đồng các Quốc gia Độc lập, tôi vì thế giờ đây chấm dứt các hoạt động của tôi trên cương vị Chủ tịch Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết. Tôi đi đến quyết định này vì lý do nguyên tắc.

Tôi đã thường xuyên lên tiếng kiên quyết ủng hộ tự trị và độc lập của các quốc gia và chủ quyền của các nước cộng hoà. Nhưng đồng thời, tôi ủng hộ gìn giữ nhà nước liên bang và sự toàn vẹn của nước này.

Các sự kiện diễn ra theo hướng khác. Khuynh hướng thắng thế hiện nay là chia cắt đất nước này và làm tan rã nhà nước, đây là điều tôi không thể chấp nhận.

Lập trường của tôi về vấn đề này đã không thay đổi sau hội nghị Alma Ata và sau khi các quyết định được thông qua ở đấy.

Hơn nữa, tôi tin chắc rằng những quyết định quan trọng như thế lẽ ra phải được ý dân thông qua.

Tuy nhiên, tôi sẽ làm mọi thứ trong quyền lực của mình để bảo đảm những hiệp ước Alma Ata sẽ mang lại đoàn kết thực sự cho xã hội chúng ta và mở đường thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, tạo thuận lợi cho quá trình cải cách lâu dài.

Phát biểu lần cuối cùng trước đồng bào trên cương vị Chủ tịch Liên Xô, tôi thấy cần thiết phải bày tỏ lập trường của mình về con đường chúng ta đã bắt đầu từ năm 1985- đặc biệt vì có nhiều phán xét chủ quan, hời hợt, gây tranh cãi.

Số phận đã định rằng, khi tôi trở thành người đứng đầu nhà nước, thì đất nước này đã có điều gì đấy không ổn rồi. Chúng ta có mọi thứ: đất đai, dầu mỏ, khí đốt, và các tài nguyên khác, và Chúa cũng phú cho chúng ta nhiều trí tuệ và tài năng, tuy nhiên chúng ta sống tồi tệ hơn nhân dân ở các nước đã công nghiệp hoá khác và chúng ta càng ngày càng lạc hậu so với họ.

Lý do thì cũng đã rõ ràng ngay cả vào thời ấy- xã hội chúng ta bị bóp nghẹt trong gọng kềm của chế độ chỉ huy quan liêu. Quốc gia này gần như bắt đầu suy sụp vì bị bắt phải phục vụ ý thức hệ và phải gánh vác gánh nặng cuộc chạy đua vũ trang.

Tất cả các cuộc cải cách nửa vời- và đã có nhiều cuộc cải cách như thế-đều lần lượt thất bại. Đất nước này bắt đầu mất phương hướng. Chúng ta không thể sống mãi như thế. Chúng ta phải thay đổi căn bản mọi thứ.

Chính vì lý do này, tôi không bao giờ hối tiếc là tôi đã không dùng chức vụ Tổng Bí thư của mình để chỉ “ ngự trị “ trong vài năm. Tôi coi cầm quyền như thế là vô trách nhiệm và vô đạo đức.

Tôi cũng hiểu bắt đầu những cuộc cải cách trên phạm vi lớn như thế trong xã hội giống như xã hội chúng ta là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và cả rủi ro. Nhưng ngay cả bây giờ, tôi vẫn tin chắc rằng các cuộc cải cách dân chủ khởi đầu vào mùa xuân năm 1985 là đúng đắn về lịch sử.

Quá trình đổi mới quốc gia này và tạo ra những thay đổi cơ bản trong cộng đồng quốc tế hoá ra phức tạp hơn ban đầu ta tưởng. Tuy nhiên, chúng ta hãy công nhận những gì cho đến nay chúng ta đã đạt được.

Xã hội đã đạt đuợc tự do; xã hội đã được giải phóng về chính trị và tinh thần, và đây là thành tựu quan trọng nhất-mà chúng ta chưa hiểu hoàn toàn, một phần vì chúng ta chưa học cách dùng tự do.

Tuy nhiên, chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử:

Chế độ toàn trị mà từ lâu đã ngăn cản quốc gia này trở thành một nước cường thịnh đã bị xoá bỏ.

Con đường cải cách dân chủ đã được khai thông. Tự do bầu cử, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, cơ quan lập pháp đại diện cho dân, và một chế độ đa đảng tất cả đều đã trở thành hiện thực. Nhân quyền được coi là nguyên tắc tối cao và là ưu tiên hàng đầu.

Chúng ta đã bắt đầu chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, và chúng ta đang xác lập sự bình đẳng của tất cả các hình thức sở hữu. Nhờ cải cách ruộng đất, giai cấp nông dân bắt đầu hồi sinh, những nông dân cá thể đã xuất hiện và hàng triệu mẫu đất đã được cấp cho những người sống ở nông thôn và thị thành. Luật về tự do kinh tế của người sản xuất đã được ban hành, còn sự tự do kinh doanh, sự ra đời các công ty cổ phần và tư nhân hoá vẫn đang diễn ra.

Khi nền kinh tế chuyển sang thị trường tự do, chúng ta không được quên rằng sự cải cách này được thực hiện vì lợi ích của con người. Trong thời khó khăn này người ta phải làm mọi thứ để bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người, đặc biệt cho người già và trẻ em.

Chúng ta bây giờ sống trong một thế giới mới:

Chiến tranh lạnh và cuộc chạy đua vũ trang đã chấm dứt, và việc quân sự hoá điên cuồng của nước ta mà vốn làm suy yếu nền kinh tế của chúng ta, bóp méo tư duy của chúng ta và tổn hại đến đạo đức của chúng ta cũng không còn nữa. Nguy cơ thế chiến cũng không còn. Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa là về phần mình tôi đã làm mọi thứ trong thời kỳ chuyển tiếp này để bảo đảm việc kiểm soát an toàn vũ khí hạt nhân.

Chúng ta đã mở lòng ra với thế giới, từ bỏ việc can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác và xử dụng quân đội ngoài biên giới nước ta. Nhờ thế chúng ta nhận lại được sự tin tưởng, đoàn kết, và tôn trọng.

Chúng ta đã trở thành một thành trì chính của công cuộc tái cấu trúc nền văn minh hiện đại trên nền tảng dân chủ và hoà bình.

Các dân tộc và các quốc gia của nước này đã đạt được quyền tự do chọn cho mình con đường tự quyết. Cuộc mưu cầu cải cách dân chủ của nhà nước đa quốc gia chúng ta đã đưa chúng ta đến thời điểm chúng ta sắp ký một hiệp ước liên bang mới.

Tất cả những thay đổi này đều đòi hỏi sự căng thẳng vô cùng và đều được thực hiện trong hoàn cảnh của cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại sự kháng cự ngày càng gia tăng từ những thế lực cũ, lạc hậu và phản động- những cấu trúc Đảng và nhà nước và bộ máy quản lý kinh tế cũ- cũng như thói quen, thành kiến ý thức hệ, tâm lý bình đẳng và ăn bám của chúng ta. Sự thay đổi ấy đã vấp phải sự không khoan dung, trình độ văn hoá chính trị thấp và sợ thay đổi của chúng ta. Vì thế chúng ta đã phí rất nhiều thời gian. Hệ thống cũ sụp đổ trước khi hệ thống mới có thể bắt đầu hoạt động. Và cuộc khủng hoảng trong xã hội chúng ta lại càng trở nên gay gắt hơn.

Tôi ý thức về sự bất mãn trong dân chúng về tình hình nghiêm trọng ngày nay. Tôi nhận thấy chính quyền ở mọi cấp và bản thân tôi đều bị chỉ trích gay gắt. Tuy vậy tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa là trong một đất nước rộng lớn như vậy, và cũng xét đến di sản của nó, thì những thay đổi cơ bản không thể nào được thực hiện được mà không có bao khó khăn và đau đớn.

Cuộc đảo chính tháng Tám đã đưa cuộc khủng hoảng chung lên đến đỉnh cao nhất. Điều tai hại nhất về cuộc khủng hoảng này là sự sụp đổ của nhà nước. Và hôm nay tôi lo ngại các công dân chúng ta không còn là công dân của một cường quốc nữa-hậu quả của điều này có thể là nghiêm trọng đối với tất cả chúng ta.

Tôi coi vấn đề quan trọng sinh tử là gìn giữ những thành tựu dân chủ đã đạt được trong vài năm qua. Chúng ta đã trả giá cho những thành tựu dân chủ này bằng toàn bộ lịch sử đau khổ của chúng ta và kinh nghiệm bi thảm của chúng ta. Cho nên chúng ta trong bất kỳ hoàn cảnh nào, với bất kỳ lý do nào, cũng không được từ bỏ những thành tựu này. Nếu không, tất cả bao hy vọng của chúng ta về tương lai tươi sáng sẽ bị chôn vùi. Tôi thành tâm và thẳng thắn nói với đồng bào tất cả điều này vì tôi coi đây là trách nhiệm đạo đức của tôi.

Hôm nay tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả những công dân đã ủng hộ chính sách đổi mới nước này và tham gia vào các cuộc cải cách xã hội.

Tôi cảm ơn những chính khách, những nhà chính trị và người của công chúng cũng như hàng triệu người bình thường ở các nước khác đã hiểu được các mục tiêu của chúng ta và ủng hộ chúng ta, thỏa hiệp với chúng ta. Tôi cảm ơn họ hợp tác chân thành với chúng ta.

Tôi rời bỏ chức vụ này với bao lo ngại- nhưng cũng với bao hy vọng và niềm tin vào đồng bào, vào sự chín chắn và sức mạnh tinh thần của đồng bào. Chúng ta là những người kế thừa di sản của một nền văn minh lớn, cho nên sự hồi sinh của nền văn minh này thành cuộc sống mới, hiện đại và tử tế giờ đây phụ thuộc vào mỗi người và tất cả mọi người. Tôi muốn tỏ lòng biết ơn chân thành đến những người trong suốt những năm qua đã sát cánh bên tôi bảo vệ sự nghiệp chính nghĩa và cao quý này.

Tất nhiên, có những sai lầm có thể tránh được, và có nhiều thứ có thể làm tốt hơn. Nhưng tôi tin chắc rằng chẳng sớm thì muộn các nỗ lực chung của chúng ta sẽ có kết quả và các dân tộc chúng ta sẽ sống trong xã hội dân chủ và thịnh vượng.

Tôi chúc mọi người tất cả những điều tốt đẹp nhất.

Nguồn:

Bản dịch tiếng Việt được dịch từ tác phẩm “Hồi ký” của Mikhail Gorbachev và có tham khảo bản dịch tiếng Anh của đài CNN từ tiếng Nga.

Trần Quốc Việt

danlambaovn.blogspot.com

Tâm sự lúc nửa đêm…

Tâm sự lúc nửa đêm…

Bởi  AdminTD

Hoàng Hà

9-1-2022

Mãi mà không ngủ được, không biết đêm nay có bao người không ngủ? Cứ miên man nhớ về cái đêm hôm ấy trong nỗi đau thắt ruột.

Rồi nghĩ về bút ký “Cái đêm hôm ấy… đêm gì” của nhà văn Phùng Gia Lộc, viết từ cuối thập niên 80 ở thế kỷ 20. Bút ký kể về những cường hào mới ở nông thôn, tức là những cán bộ công chức sở tại. Những dòng chữ rút ruột từ nỗi uất ức, cay đắng, thảng thốt, ngỡ ngàng của Phùng Gia Lộc đã tạo nên một “cơn địa chấn”.

Sau khi bút ký “Cái đêm hôm ấy… đêm gì” được xuất bản, người ta cáo buộc nhà văn là “tên bồi bút phản động”. Nhà văn phải trốn khỏi quê, ra Hà Nội sống nương tựa nhà bạn, sau được nhiều người bí mật giúp đỡ mà nhà văn được về nhà, vợ con nuôi giấu một thời gian. Chỉ đến khi Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa bị kỷ luật, cách chức, thì nhà văn Phùng Gia Lộc mới có cuộc sống bình thường. Cho đến đầu thập niên thế kỷ 21, “Cái đêm hôm ấy…đêm gì” lại được báo Tuổi Trẻ tái bản, cùng với loạt bài “Đêm trước đổi mới”.

Rồi chưa đến 15 năm, sau khi “Cái đêm hôm ấy… đêm gì” được tái bản, cũng chỉ vì đưa lên truyền thông về cái đêm hôm ấy ở Đồng Tâm mà có gia đình mấy người ở Dương Nội cũng bị coi là phản động, bị kết án tù.

Liệu rằng lịch sử có nhanh chóng lặp lại để những người tù ở Dương Nội nói về “cái đêm hôm ấy” ở Đồng Tâm được trở lại cuộc sống bình thường.

Và cho cả những người dân ở Đồng Tâm bị tù tội nữa, để không còn những tiếng khóc nức nở hằng đêm của những người bà, người mẹ, người vợ, người con dâu, người cháu dâu…

Và tâm sự lúc nửa đêm của những người đàn bà ấy được nhiều người thấu hiểu…

Có những tâm sự rằng:

– Buồn lắm, giờ ở nhà toàn mấy chị em đàn bà, như thân cò lặn lội nuôi con… Mấy chị em thương nhau lắm…

– Nay N nó biết chồng nó phải ra ngoài lao động cự nhọc, nó khóc suốt, thế là mấy chị em xuống nó chơi… Đêm nay mấy đứa, chẳng đứa nào ngủ được.

– Thiệt thòi nhất chị H, vợ anh C, với chồng và hai con như thế, quanh năm suốt tháng lúc nào cũng héo hon, lo lắng, nước mắt chảy quanh.

– Những người vợ khác còn tháng được nghe chồng gọi về, còn chị H một năm nay không biết tin tức gì.

– Nhà mình như thế mà có đứa vẫn đến lừa, hôm nọ có thằng đến nói như đúng rồi í. Nó nói, nó là tù mới ra. Nó nói anh ấy thế này thế kia, song, quay ra nó xin tiền. Nó còn đến nhà NQ nữa, nhà í cũng cho nó 1 triệu với nhà anh C nữa. Khốn nạn, nó biết tâm lý của những người “đói tin” nên dễ lừa…

– Vừa ra nhà ông thắp hương về, con gái chạy ra khóc, hỏi thì vừa khóc vừa nói không lên lời: Con sợ lắm, sợ mẹ lại bỏ con (tội thân, con bé luôn bị ám ảnh cái ngày cả bố mẹ cùng bị bắt đi, chị em nó còn bé tí, đứa sống với bà, đứa vào trong Nam với bác…)

– …

Lại có người một hôm nửa đêm đau đớn thốt lên: “Trời ơi oan nghiệt quá! Phải chi năm ấy dịch đến Việt Nam sớm hơn một tháng thì sự kiện Đồng Tâm đã không xảy ra… không có cái chết của ông già gần 60 năm tuổi đảng, lúc nào cũng tin tưởng vào đảng; không có gần 30 con người nông dân chất phác phải chịu án tử hình và tù tội; không có một làng quê chảy máu và những đêm dài nức nở đau thương…?” …

Nỗi đau như xoáy vào tận tâm can.

Mãi không ngủ được. Mong đêm tối chóng qua đi, ngày mai trời lại sáng.

2h đêm ngày 9 /1/2022

Gone with the wind – Cuốn theo chiều gió

Gone with the wind – Cuốn theo chiều gió

“Gone with the wind” là một tác phẩm nổi tiếng thế giới, được Margaret Mitchell (1900-1949) sáng tác vào năm 1937. Đây cũng là tác phẩm duy nhất trong sự nghiệp văn chương của bà viết về cuộc nội chiến Nam – Bắc Hoa Kỳ, dựa vào bối cảnh tại Georgia và Atlanta thuộc miền Nam trong suốt thời chiến tranh và tái thiết đất nước.

Margaret Mitchell (1900-1949) và tác phẩm

Tác phẩm đã được dịch sang rất nhiều thứ tiếng, riêng về tiếng Việt đã có rất nhiều bản dịch với cùng một nhan đề là “Cuốn theo chiều gió”. Đó là một tựa sách “không thể nào hay và đầy đủ ý nghĩa hơn” so với tựa đề nguyên bản. Các dịch giả cũng gồm cả những người trong Nam trước năm 1975 như Vũ Kim Thư hoặc ngoài Bắc sau này như Dương Tường.

“Cuốn theo chiều gió”

“Cuốn theo chiều gió” là một cuốn “trường thiên tiểu thuyết” đã giành giải Pulitzer. Thoạt đầu Margaret Mitchell có ý định đặt nhan đề “Tomorrow is another day” (Ngày mai là một ngày khác) cho cuốn sách, lấy từ câu kết thúc tác phẩm, thay vì tựa đề “Gone with the wind” như chúng ta biết đến ngày nay.

Nội dung chính của câu chuyện diễn ra trong suốt 12 năm (từ 1861 đến 1873), xoay quanh cuộc đời của nhân vật chính Scarlett O’Hara từ khi còn là một thiếu nữ 16 tuổi tại trang trại Tara của gia đình tại Georgia. Đến khi trưởng thành tại miền Nam, cô có tới 3 đời chồng và có 3 đứa con.

Đây là giai đoạn nước Mỹ xảy ra cuộc nội chiến (1861-1865) giữa hai miền Nam-Bắc. Miền Bắc chủ trương giải phóng nô lệ với 25 tiểu bang ủng hộ chính quyền Liên bang của Tổng thống Abraham Lincoln, trong khi 11 tiểu bang miền Nam chống lại và quyết định ly khai lập thành Liên minh miền Nam (Confederacy).

Nội chiến Nam – Bắc

Georgia là một trong các tiểu bang miền Nam, nơi kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào các đồn điền trồng bông vải, tận dụng sức lao động của nô lệ da đen trong một xã hội trật tự theo lối xưa, trọng tình nghĩa, thứ bậc, khá gần với kiểu phong kiến châu Âu. Các tiểu bang miền Bắc có nền kinh tế nghiêng về công nghiệp, hướng theo lối làm ăn tư sản.

Mâu thuẫn lên tới đỉnh điểm khi Lincoln thắng cử tổng thống năm 1860, và cuộc nội chiến duy nhứt trong lịch sử Mỹ đã diễn đã diễn ra. Thất bại sau cùng thuộc về phe miền Nam, họ yếu thế hơn hẳn, xét về dân số, quân số, tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự.

Trong cuốn truyện, cuộc nội chiến Mỹ được kể lại rất sinh động từ góc nhìn của những người dân miền Nam. Ban đầu họ tự tin tới mức ngạo nghễ, xem thường đối phương từ ngay cách gọi khinh miệt “Bọn Yankee”, coi chiến thắng là điều tất nhiên.

Sau đó dần dần từ quan tới lính và dân miền Nam đều nhận ra thất bại là không thể nào tránh khỏi, nhưng họ vẫn nỗ lực hết mình trong một cuộc “chiến tranh nhân dân” đầy hào khí.

Những suy nghĩ, những sinh hoạt của người Georgia trong giai đoạn này được miêu tả vô cùng sinh động và kỹ lưỡng, qua nhiều câu chuyện về nhiều nhân vật khác nhau: thanh niên, phụ nữ, người già và cả người nô lệ da đen.

Nhiều năm sau khi miền Nam đã bị đánh bại, cái hố sâu ngăn cách giữa hai miền vẫn còn, việc đối xử của chính quyền thắng trận với các tiểu bang thua trận cũng gây ra vô số vấn đề phức tạp, dẫn đến phản ứng của dân miền Nam khi lập ra “đảng áo trắng” Klu Klux Klan, kỳ thị người da đen.

“Đảng Áo Trắng” Ku Klux Klan kỳ thị chủng tộc tại Miền Nam

Độc giả Việt Nam không thể không liên tưởng cuộc nội chiến Mỹ với cuộc chiến tranh 54-75 tại quê hương. Có điều, tại Mỹ đã không xảy ra tình trạng “cải tạo”, “đánh tư sản”, “đi kinh tế mới” hoặc “đổi tiền” như tại miền Nam Việt Nam.

Tác phẩm cũng cho ta cái nhìn tổng quát về chiến tranh, hàng loạt những quan điểm về chiến tranh được tác giả lồng ghép, khi mà kẻ thắng và người thua thực chất vẫn là kẻ thất bại, ngay từ khi họ phát động chiến tranh. Thứ chính nghĩa mơ hồ chẳng là gì so với những mất mát người dân phải trả giá.

Những câu chuyện của thời chiến, về sự chia cắt và sự thiếu thốn, được đặc tả rất thật, để độc giả hiểu được cái giá quá đắt của chiến tranh, đó là mạng người và cuộc sống bình thường ai cũng khao khát. Điều này được thể hiện rất rõ qua sự ám ảnh của nhân vật chính Scarlett: luôn bị đói, thiếu thốn mọi bề.

Scarlett biết rằng người nàng thầm yêu từ lâu, Ashley Wilkes, chuẩn bị đính hôn với cô em họ là Melanie Hamilton ở Atlanta. Scarlett cho rằng Ashley có ý định đính hôn vì chàng không biết nàng đã yêu mình. Nàng quyết định sẽ thổ lộ tình yêu với chàng và rủ chàng đi trốn. Nhưng mọi thứ không theo kế hoạch của Scarlett vì tuy Ashley ân cần với nàng nhưng nói rằng chàng vẫn sẽ cưới Melanie trước khi lên đường nhập ngũ.

Scarlett đã nhận lời lấy Charles Hamilton để “trả thù” Ashley. Cuộc Nội chiến nổ ra và các chàng trai phải đi nhập ngũ. Số phận thật nghiệt ngã, Charles đã chết vì bệnh đậu mùa ở căn cứ Nam Carolina trước khi có dịp ra chiến trường, để lại cho nàng một đứa con trai.

Scarlett đến Atlanta, tại đây cô nhanh chóng hòa mình vào sự nhộn nhịp và hối hả của thành phố này. Tại đây, nàng đã gặp Rhett Butler, người trước đây vẫn thường trêu chọc nàng. Giờ đây Rhett là một thuyền trưởng vượt phong tỏa, chuyên chở các mặt hàng thiết yếu cho miền Nam.

Kể từ đó mối quan hệ giữa Scarlett và Rhett được cải thiện. Rhett bằng bản tính hài hước, hay trêu chọc Scarlett và cố làm cho nàng vui. Tuy nhiên gần như cả thành phố đều căm ghét hắn. Trong khi đó Scarlett lúc nào cũng chỉ nghĩ đến Ashley.

Ashley chỉ quan tâm đến vợ mình, Melanie, và ngày Ashley rời nhà trở lại chiến trường, Scarlett lại một lần nữa thổ lộ tình yêu với chàng hi vọng chàng sẽ bỏ vợ để cưới nàng nhưng chàng không nói gì và nhờ nàng chăm sóc Melanie nếu chàng có mệnh hệ gì ngoài chiến trường.

Nội chiến Mỹ dưới hai màu cờ Bắc – Nam

Ở Phần 3 của truyện, cuộc nội chiến ngày càng diễn biến bất lợi cho miền Nam, người dân thành phố Atlanta phải di tản. Scarlett và Melanie không thể đi cùng mọi người vì Melanie đang có thai và có thể sinh con bất cứ lúc nào.

Sau khi Melanie sinh con, Scarlett phải cầu cứu Rhett và anh đã lấy cắp của quân đội một chiếc xe ngựa để chở Scarlett, Melanie và con chạy khỏi Atlanta. Tuy vậy, đi đến giữa đường thì Rhett bỏ mặc họ để gia nhập quân đội. Trước khi đi, anh hôn nàng và nói yêu nàng nhưng Scarlett giận dữ, chửi rủa và tát anh thẳng cánh.

Scarlett trở về đồn điền Tara khi mẹ mất, ngôi nhà bị tàn phá nặng nề, phần lớn các nô lệ đã bỏ trốn. Giờ đây, Scarlett trở thành chủ nhân đích thực của đồn điền bông vải và với bản tính ngoan cường, cách suy nghĩ thực tế, nàng dần vực dậy trang trại, làm mọi công việc, kể cả những việc mà khi xưa chỉ có nô lệ làm.

Chiến tranh kết thúc, nhưng một lần nữa số phận nông trại lại bị đe doạ khi “Chính phủ Yankee” tăng tiền thuế của đồn điền khiến Scarlett phải nhượng lại Tara cho tên quản gia Jonas Wilkerson, người Yankee và cũng là một kẻ da trắng cặn bã.

Để có tiền cứu Tara, Scarlett phải đến Atlanta mượn tiền Rhett. Lúc này Rhett vô cùng giàu có nhưng có lúc cũng phải ngồi tù. Scarlett đến thăm Rhett để mượn một khoản tiền mà không để anh biết là nàng đang cố tán tỉnh anh… chỉ vì tiền.

Nàng đã gần như thuyết phục được Rhett cho đến khi mắt anh thấy bàn tay chai sần của Scarlett, bằng chứng cho những công việc nặng nhọc mà nàng đã làm vì hoàn cảnh gia đình, khiến cô phải thú nhận mục đích thật sự của chuyến viếng thăm chỉ vì tiến khiến Rhett đã từ chối.

Trong cơn tuyệt vọng, Scarlett tình cờ gặp Frank Kennedy, chồng chưa cưới của Suellen, nay đã là chủ một cửa hàng và có một khoản tiền kha khá. Scarlett nói dối rằng Suellen đã lấy người khác và quyến rũ Frank để lấy mình.

Scarlett đã thành công với việc quyến rũ Frank và có tiền cứu Tara. Trong khi đó, Rhett ra tù và cho nàng mượn tiền để có thể mua thêm xưởng cưa với điều kiện: không được dùng tiền giúp Ashley Wilkes.

Scarlett điều hành xưởng cưa rất thành công nhưng nó cũng làm cho nàng bị nhiều dị nghị vì đó không phải là việc dành cho phụ nữ. Nàng đã có thai với Frank nhưng vẫn thường xuyên làm việc nơi công cộng nên ngày càng nhiều người khinh ghét.

Scarlett đã mời Ashley trở lại Atlanta giúp nàng điều hành xưởng cưa và ngăn chàng lên miền bắc kiếm việc làm. Ashley lưỡng lự nhưng Melanie kiên quyết đồng ý nên Ashley đành chiều theo ý vợ.

Sau khi sinh con, Scarlett thường xuyên lái xe ngựa một mình đến xưởng cưa mặc dù đã nhiều lần được cảnh báo về sự nguy hiểm. Một ngày nọ nàng bị một tên da trắng nghèo khổ và một tên da đen giải phóng tấn công và suýt bị cưỡng hiếp. May mắn có Big Sam, một nô lệ da đen từng làm việc ở Tara, đã cứu nàng kịp thời.

Frank, Ashley và một số người đàn ông khác thuộc đảng Ku Klux Klan phải đi trả thù và kết cục là Ashley bị thương và Frank bị giết. Còn các thành viên khác được Rhett tìm cách cứu họ. Sau cái chết của Frank, Rhett ngay lập tức cầu hôn Scarlet trước khi nàng có thể lấy một người nào khác.

Và đây là tâm trạng của Scarlet trước lời cầu hôn của Rhett trong hồi kết của “Cuốn theo chiều gió”:

“Bây giờ mình chưa nghĩ đến chuyện đó vội”, nàng nghĩ thầm, vận dụng câu thần chú quen thuộc: “Bây giờ mà mình nghĩ đến nỗi mất chàng, thì mình phát điên mất. Để đến mai đã”.

Scarlett sau đó cũng sinh cho Rhett một đứa con gái mặc dù nàng cũng không hề muốn. Chỉ vì “tình đầu” với Ashley, Scarlett kiên quyết không ngủ chung với chồng để tránh việc mang thai lần nữa. Rhett tức giận và cãi cọ liên tục với nàng về mối quan hệ bạn bè, cách nuôi dạy con cái. Anh muốn con gái mình sẽ trở thành một công chúa trong tầng lớp thượng lưu miền Nam cũ. Rồi Rhett cùng với con gái đi khỏi Atlanta…

Trong một lá thư viết ở thời điểm 5 tháng sau khi “Gone with the wind” được xuất bản và nhanh chóng trở thành sách bán chạy nhất tại Mỹ hồi năm 1936, tác giả Margaret Mitchell viết:

“Về kết thúc của cuốn tiểu thuyết và liệu rằng Rhett có quay về với vợ không, thực tình chính tôi cũng không biết. Tôi thực sự chưa bao giờ nghĩ về tương lai của các nhân vật sau khi câu chuyện khép lại. Tôi không hề lên kế hoạch trước cho tác phẩm, vì vậy, số phận các nhân vật cũng nằm ngoài khả năng tiên đoán và dự liệu của tôi”.

Tác phẩm “Gone with the wind”

Phim “Gone with the wind” do David O.Selznick sản xuất với đạo diễn Victor Fleming và kịch bản của Sidney Howard. Bộ phim được quay ở miền Nam nước Mỹ trong thời nội chiến. Các diễn viên chính bao gồm: Clark Gable, Vivien Leigh, Leslie Howard, Olivia de Havilland và Hattie McDaniel.

Ra mắt từ năm 1939 nhưng đến nay cuốn phim vẫn đứng đầu danh sách 100 bộ phim có doanh thu thành công nhất tại Mỹ. Kể từ khi được phát hành, “Cuốn theo chiều gió” đã đạt gần 2 tỷ USD doanh thu theo quy đổi lạm phát đồng tiền.

Poster phim “Gone with the wind”

Trong phim, tác giả đã để Rhett Butler nói một câu chửi thề “rất thật” với Scarlett O’Hara khiến độc giả phải ngỡ ngàng. Câu chửi thề bày tỏ mối quan tâm của người dân Mỹ sau cuộc nội chiến nói riêng và cả những suy nghĩ về chính trị của mọi người trong thời đại này.

“Frankly, my dear, I don’t give a damn”

(Thật lòng mà nói, em yêu à, anh cũng đếch thèm quan tâm!).

Nhân vật phụ “bà vú” Mammy do Hattie McDaniel thủ vai nhận được giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất. Bà là người phụ nữ Mỹ gốc Phi nhận được vinh dự tại giải của Viện Hàn lâm. Sự thật đáng buồn đã xảy ra tại buổi lễ trao giải Oscar, bà đã không có cơ hội được ngồi cùng những người người bạn đồng diễn chỉ vì là người da đen và phải ngồi ở khu vực riêng tách biệt.

Đứng từ quan điểm xã hội, “Cuốn theo chiều gió” bị chỉ trích vì các tình tiết dường như hướng đến việc cổ xúy chế độ nô lệ ở miền Nam nước Mỹ. Trong phim, những nhân vật da trắng được khắc họa đầy lý tưởng, tao nhã, khớp với hình mẫu “anh hùng”, trái ngược những người Mỹ gốc Phi luôn ở thế dưới, đóng vai những người hầu phục vụ họ.

“Bà vú da màu” Mammy do Hattie McDaniel thủ vai nhận được giải Oscar cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất

Nữ diễn viên Vivien Leigh hình như sinh ra để trở thành nàng Scarlett O’Hara đầy cá tính còn Clark Gable nhiều năm qua đóng khung với Rhett Butler. Họ yêu nhau trong phim nhưng lại là những người xa lạ phía sau ống kính.

Với nụ cười nửa miệng, Clark Gable như chàng Rhett Butler bước ra từ tiểu thuyết. Phía sau ống kính, Gable hóa ra lại không thích bộ phim và nhân vật của chính mình như người ta tưởng tượng.

Nữ diễn viên Olivia de Havilland, người đóng vai cô em họ Melanie trong phim, từng chia sẻ về những câu chuyện phía sau ống kính khi bà bước vào tuổi 100.

“Tôi được biết Clark Gable không thích cuốn tiểu thuyết này. Theo anh ấy, “Cuốn theo chiều gió” là câu chuyện về những người phụ nữ. Tại thời điểm đó, anh đang hoàn tất thủ tục ly hôn, anh ấy ghét nhân vật Rhett Butler. Thực tế là anh ấy cần tiền để giải quyết ly hôn, anh ấy cần đóng bộ phim này vì tiền”.

Clark Gable và Vivien Leigh trong phim

Mối quan hệ giữa Vivien Leigh và Clark Gable còn bị miêu tả là “bất hòa”. Trong một lần phỏng vấn, Vivien Leigh thẳng thắn nói: “Hôn Clark Gable không hề thú vị chút nào. Tôi không thích hàm răng giả và hơi thở đầy mùi của anh ta”.

Một điều khiến Vivien Leigh không ưa Clark Gable còn vì khoảng cách thù lao quá lớn giữa hai người. Cô phải làm việc trong 125 ngày và được nhận 200 USD một ngày. Trong khi bạn diễn nam làm việc trong 10 tuần và nhận 12.000 USD cho mỗi tuần. Điểm chung giữa Clark Gable và Vivien Leigh trên phim trường có chăng là thuốc lá. Clark Gable có thể hút 3 bao thuốc mỗi ngày còn Vivien Leigh hút tới 4 bao.

Họ cũng có những bước ngoặt buồn trong cuộc đời. Vivien Leigh từ một ngôi sao hàng đầu trở thành nữ diễn viên bị chê gàn dở, tâm thần bất ổn, nghiện rượu. Vivien Leigh ly hôn Laurence Oliviver vào năm 1961 và qua đời vì bệnh lao khi mới 54 tuổi. Clark Gable từng rơi vào giai đoạn bế tắc vì rượu và chất kích thích sau khi bạn đời Carole Lombard qua đời do tai nạn máy bay. Ông mất năm 1960 do đột qụy ở tuổi 59.

Cảnh trong phim “Gone with the wind”

Chiến tranh bao giờ cũng tàn nhẫn. Dù đó là một cuộc nội chiến ở Hoa Kỳ hay là cuộc chiến đã qua tại Việt Nam. Số phận của người phụ nữ dù không thực sự dấn mình trong lằn tên mũi đạn nhưng hậu quả của chiến tranh vẫn luôn ám ảnh cả trong thời chiếnlẫn thời bình!

Nguyễn Ngọc Chính

From: TU-PHUNG