HAI CON ĐƯỜNG

HAI CON ĐƯỜNG

Khi đọc Thánh Kinh, nhất là phần Tân Ước, chúng ta thấy các tác giả thường trình bày những nhân vật hay hình ảnh đi cặp đôi với nhau, ví dụ: hai con đường, một con đường hẹp và một con đường rộng; hai người con, một người con bỏ nhà đi hoang, một người con ở nhà với cha; hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người thu thuế và một người biệt phái.  Chúa Giêsu thường dùng cách diễn tả này để nói với chúng ta: con người có tự do chọn lựa một trong hai lối sống, giữa trung thành và phản bội, giữa thánh thiện và tội lỗi.  Đó là hai con đường mà chúng ta tự do lựa chọn, một dẫn tới hạnh phúc và một dẫn tới bất hạnh.  Một khi đã lựa chọn, chúng ta phải lãnh trách nhiệm về sự lựa chọn ấy.

Thiên Chúa không tạo dựng nên sự dữ.  Sự dữ là sản phẩm do tội lỗi và ích kỷ của con người.  Thiên Chúa cũng không định cho ai phải đau khổ.  Ngài không gò ép ai, nhưng để con người tự do chọn lựa.  Đây cũng là quan điểm của dân gian Việt Nam: ai gieo gió ắt sẽ gặt bão, trồng cây nào, ăn quả nấy.

Những ai tin vào người đời, gạt bỏ Thiên Chúa và coi những giá trị trần tục như lý tưởng, giống như cây mọc trong sa mạc.  Cây trong sa mạc sẽ khô cằn, không sinh hoa kết trái.  Những ai tin tưởng phó thác vào Chúa, xa tránh những hành vi bất hảo và chọn Chúa làm gia nghiệp, giống như cây mọc bên bờ suối, bốn mùa quanh năm đều cành lá xanh tươi và hoa trái dồi dào.

Từ hai ngàn năm, chứng từ về sự phục sinh của Chúa Kitô được rao giảng cho mọi người.  Có rất nhiều người đón nhận với thành tâm thiện chí, nhờ đó mà trở nên hoàn hảo.  Trái lại, có những người lại nghi nan chối từ, cho đó là chuyện hão huyền, vì vậy mà trở nên bất hạnh.  Trong thư gửi giáo dân Corinthô, thánh Phaolô khẳng định: Chúa đã sống lại.  Sự phục sinh của Chúa là nền tảng Đức tin đối với Kitô hữu, đồng thời mặc cho phẩm giá con người một ý nghĩa mới, tức là con người sẽ được sống lại với Chúa sau khi đã kết thúc cuộc sống trần gian.

Tác giả Thánh vịnh thứ nhất tiếp nối dòng suy tư của ngôn sứ Giêrêmia.  Ông ca tụng những người khôn ngoan, biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa.  Những người này giống như cây trồng bên suối nước, quanh năm ra hoa kết trái.  Ông cũng phê phán những người chỉ biết có đời này, và đắm chìm trong ăn chơi sa đọa.  Họ giống như vỏ trấu, sẽ bị gió cuốn đi.  Tương lai của họ là hư vô.

“Hạnh phúc thay! Bất hạnh thay!”  Đó là những lời mở đầu mà Chúa Giêsu đã dùng để diễn tả những người thiện chí và những người dửng dưng với Nước Trời.  Nếu thánh Matthêu ghi lại tám mối phúc thật, là phần khởi đầu của bài giảng trên núi, thì thánh Luca lại ghi lại bài giảng của Chúa Giêsu với một hình thức khác.  Nội dung của Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy bốn mối phúc và bốn mối họa được trình bày song đối với nhau.  Thực ra, những lời được gọi là “chúc dữ” không hẳn là những lời nguyền rủa khi người ta giận dữ và muốn “trù ẻo” người khác.  Thiên Chúa tự bản chất là Đấng tốt lành, không lẽ Đức Kitô lại buông những lời nguyền rủa đối với con người, mặc dù họ xấu xa và tệ hại đến đâu đi nữa.  Để dễ hiểu hơn, thay vì dịch “Khốn cho các ngươi…”, nên dịch là “Thật bất hạnh cho các ngươi…”  Vì đây là những lời than vãn và luyến tiếc cho những con người đáng lẽ ra phải sống tốt lành, nhưng trong thực tế lại không được như vậy.  Đây cũng là những lời cảnh báo vì thấy trước những nguy hiển đang chờ đợi họ ở tương lai, là kết quả của lối sống vô tín đối với Chúa, và vô trách nhiệm đối với tha nhân.

Nguyên nhân của những than vãn hay của những lời chúc dữ ấy là gì?  Đó là sự cậy dựa vào sức mạnh phàm nhân.  Theo lời Chúa Giêsu, đó còn là sự kiêu ngạo, cậy vào của cải trần thế.  Họ là những người giàu có, no nê và đang vui cười.  Dường như họ không cần đến Thượng Đế, vì họ tự cho mình có sức mạnh vô song, có khả năng làm mọi sự.  Có một thời, ở Việt Nam, người ta cho rằng niềm tin vào Thượng Đế đã lỗi thời và lạc hậu.  Vì vậy, con người có thể “thay trời làm mưa.”  Người ta cũng thường rêu rao “bàn tay ta làm nên tất cả.”  Đây là lối suy nghĩ ảnh hưởng thuyết vô thần duy vật, coi con người như những “thượng đế” và tự quyết định tương lai, không cần đến thần linh hay Đấng Cao cả nào khác.  Thực tế đã chứng minh cho chúng ta thấy một xã hội loại trừ Thiên Chúa sẽ trở nên bất hạnh.  Hậu quả là bạo lực, dối trá, lường gạt tràn lan mọi lãnh vực của cuộc sống.

Chúng ta vừa vui mừng đón xuân mới Nhâm Dần.  Mùa xuân là thời điểm cây cối đâm chồi nảy lộc.  Mùa xuân cũng tượng trưng cho sức sống, tình yêu và hy vọng.  Ước chi mỗi Kitô tín hữu chúng ta đâm chồi nảy lộc trong đời sống thiêng liêng và trong những nghĩa cử bác ái.

Hạnh phúc hay bất hạnh, được cứu rỗi hay bị trầm luân, được khen thưởng hay bị kết án… tất cả đều do chúng ta chọn lựa.  Trước mặt chúng ta luôn có hai con đường.  Nếu chúng ta chọn lựa con đường thánh thiện, Chúa sẽ luôn đồng hành và chúc phúc cho chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Lợi & hại in tiền phục hồi kinh tế Việt Nam

Lợi & hại in tiền phục hồi kinh tế Việt Nam

Trần Nguyên Thao (Danlambao) – Dù rất chậm và khiêm tốn so với các nước trong vùng, Quốc Hội csVN trong phiên họp bất thường đầu năm 2022, đã bỏ phiếu 100% đồng ý phát hành Trái Phiếu Chính phủ (TPCP), trong khoảng 350 ngàn tỷ đồng để có tiền phục hồi Kinh Tế. Trường hợp cần thiết sẽ phát hành thêm Công Phiếu bằng ngoại tệ cho cùng mục tiêu vừa nói. Số vàng miếng ước lượng đến 500 tấn là tài sản riêng của dân; dù bị csVN coi là “nguồn lực trong dân”được Chủ Tịch Quốc Hội Vương đình Huệ mới đây hôm 12/10/2021“dòm ngó” ngay từ diễn đàn Quốc Hội [1], tạm thời chưa bị “tùng xẻo” trong lần này.

Tuy có khiêm tốn so với nhu cầu phục hồi sản xuất, nhưng gói 350 ngàn tỷ đồng lần này được giới doanh nghiệp chờ đợi đóng vai trò “đòn bẩy” đẩy nền kinh tế phục hồi giúp dân chúng bớt đói khổ hơn. Nhưng tại Việt Nam, đại dịch Covid đang lây lan dữ dội, đến ngày 26 tháng 01/2022, Thủ Đô Hà-nội vẫn dẫn đầu 2.884 ca. Tổng số ca biến chủng Delta lây nhiễm đến nay là 2.158.240, và 166 người nhiễm biến thể Omicron, lây lan rất nhanh. Tình trạng này nếu kéo dài rất khó để phục hồi sản xuất.

Trước Tết Nguyên Đán 3 tuần, hôm mùng 05 tháng Giêng 2022, báo Nhà Nước đồng loạt loan tin, Chủ Tịch Nước, Nguyễn Xuân Phúc nhìn nhận rằng, “không cách nào khác, phải bơm tiền ra nền kinh tế”.

Hãnh tiến về một thời từng mua được GDP tăng cao qua việc in tiền trong những năm còn làm Thủ Tướng (2016-2021), ông Nguyễn Xuân Phúc nay là Chủ Tịch Nước, đang hăng hái cổ võ việc in thêm tiền mới bơm ra nền Kinh Tế để mua lấy GDP danh nghĩa tăng cao một cách “láu cá” trong khi tổng sản lượng quốc gia thực tế không hề thay đổi.

Do thiếu nguồn tài chánh để phục hồi sản xuất, khiến một Chính Phủ yếu kém về điều hành Kinh Tế Vỹ mô có (2) lý do chọn khuynh hướng in thêm tiền để phát hành TPCP: (i) dân chúng khó mà biết được Chính Phủ in thêm bao nhiêu tiền mới, (ii) bệnh “thành tích nhiệm kỳ” như chất men làm dấy lên lòng khao khát đẩy cho bằng được GDP danh nghĩa cao hơn; bất chấp lạm phát sẽ tăng làm dân nghèo lâm cảnh khốn khổ.

Mấy năm gần đây, năm nào Việt nam cũng có hàng triệu dân trong hàng chục Tỉnh lâm vào nạn nạn đói ngay sát những ngày toàn dân đón Tết Nguyên Đán. Năm nay cũng không ngoại lệ, Chính Phủ phải xuất kho gạo để cứu tế cho dân chúng 12 Tỉnh trên cả nước ngay dịp Tết Nhâm Dần.

Đối với hoàn cảnh Việt Nam, còn 62% dân chúng sống ở nông thôn gần như thường xuyên chịu cảnh đói ăn, thiếu mặc, thì sức mạnh tiền đồng còn rất hạn chế, cần phải thận trọng đối với lời xúi bẩy in tiền thêm, vì nếu không khéo sẽ khiến niềm tin vào đồng nội tệ suy giảm nghiêm trọng; cộng thêm nỗi lo lạm phát, từ đó có thể gây áp lực lên tỷ giá lẫn lạm phát tăng cao không thể kiềm chế được; làm nảy sinh rất nhiều thảm cảnh trong xã-hội. Mời Quý Độc Giả tìm hiểu thêm vấn đề liên quan trong bài này https://vanhoimoi.org/?p=12721.

Trong trường hợp bi quan nhất, khi đồng nội tệ bị mất giá mạnh, thì lượng tiền bơm ra nền Kinh Tế từ nguồn vốn mà Chính phủ huy động được nhờ bán trái phiếu cho NHNN rất có thể bị suy giảm giá trị, và khi đó hiệu quả của chính sách hồi phục Kinh Tế cũng sẽ bị hạn chế.

Theo ước tính của Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán Saigon Securities Incorporation (SSI Research), nhu cầu tài trợ vốn chính phủ năm 2022 (chưa bao gồm gói hỗ trợ kinh tế) dự kiến vào khoảng 410 ngàn tỷ đồng [2]. Tính đến 13-12-2021, tổng giá trị TPCP phát hành chỉ ở mức hơn 325.000 tỷ đồng cho năm 2021.

Lãi suất phát hành Trái Phiếu Chính Phủ bằng tiền Việt Nam kỳ hạn 10 năm xoay quanh 2,1-2,2% một năm; kỳ hạn 05 năm chỉ biến động quanh mức 0,8-1,1%.

Trong khi vay bên ngoài vừa khó khăn, lãi suất cao, không thuận lợi cho Việt Nam vay nợ nước ngoài trong thời điểm này. Ngân khoản TPCP khoảng 350 ngàn tỷ đồng để phục hồi kinh tế, nếu các Tổ Chức Tín Dụng không mua được nhiều để đầu tư, mà chỉ trông vào bán cho NHNN thì cung tiền trong thị trường tăng lên, không tránh được lạm phát tăng cao.

Điều trần trước Quốc Hội csVN hôm 12/11/2021, Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phước tính toán huy động khoảng 180.000 tỷ từ dân chúng, thông qua phát hành Trái Phiếu Chính phủ (TPCP), trái phiếu và công trái ngoại tệ (CTNT). [3]

Mức lãi suất phổ biến gửi tiền Mỹ Kim tại các ngân hàng Thương Mại (NHTM) ở Việt Nam hiện nay là 0%. Tuy nhiên, các nhà quan sát thời cuộc khuyên rằng, dù trường hợp nào, người có ngoại tệ cũng không nên ham chút tiền lời mà đem Mỹ Kim để mua loại công trái do csVN phát hành. Vì vàng, quý kim hay Mỹ kim để dành được bảo đảm giá trị toàn thế giới. Còn đồng tiền csVN sẽ mất giá khi tỷ giá đồng Mỹ Kim thay đổi.

Tại diễn đàn Quốc Hội, hôm 12/10/2021, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ yêu cầu, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu giải pháp cải thiện thể chế, luật pháp, ưu đãi… để mở rộng năng lực thị trường vốn (thị trường trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp), huy động nguồn lực trong dân. “Nguồn lực trong dân” nói ở đây là số vàng miếng khoảng 500 tấn là của riêng từng gia đình, được dân cất giữ; rất nhiều phen bị csVN lên kế hoạch thu gom, nhưng chưa lần nào dám ra tay, vị bị dân chúng phản đối dữ dội.

Có lập luận cho rằng, trong trường hợp NHNN không in thêm tiền mà sử dụng nguồn dự trữ ngoại hối chuyển sang tiền đồng để mua TPCP, khi đó lượng cung tiền đồng cũng không thể tăng lên, vì nguồn vốn mà Chính phủ bơm ra từ kênh huy động qua trái phiếu cũng chính là lượng tiền đồng mà NHNN hút về thông qua việc bán ngoại tệ ra thị trường. [4]

Lập luận trên có vẻ không vững, vì gần cuối năm 2021, dữ liệu của IMF cho thấy, dự trữ ngoại hối của Việt Nam là 113,7 tỷ Mỹ Kim, trong đó trên 39 tỷ đã mua công khố phiếu của Hoa Kỳ để kiếm lời [5] https://vanhoimoi.org/?p=12816, trả nợ hàng năm khoảng 17 tỷ, số còn lại chưa đủ cho nhu cầu dự trữ an toàn cho 3 tháng nhập cảng hàng hóa khoảng 80 tỷ Mỹ kim. Như thế Việt Nam không còn ngoại tệ để chuyển sang tiền đồng. Phần lớn những lần NHNN bơm tiền ra thị trường đều dùng tiền Việt nam để mua ngoại tệ.

Theo báo Thanh Niên, Năm 2021, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ khoảng 368.276 tỷ đồng, chủ yếu là trả nợ trong nước với khoảng 323.093 tỷ đồng, bằng khoảng 27,4% thu ngân sách. Chỉ số này vượt ngưỡng Quốc hội cho phép với giai đoạn 2016 – 2020 là 25%, chủ yếu do các khoản trái phiếu chính phủ trong nước phát hành trong giai đoạn trước đây đáo hạn ở mức cao vào năm 2021 – khoảng 187.001 tỷ đồng, chiếm 13,9% thu ngân sách.

Theo dữ liệu thống kê tháng 10/2020, số tiền gửi của Kho Bạc Nhà Nhà Nước (KBNH) ở hệ thống NHTM lên đến 600.000 tỷ đồng, mới đây đã nhích lên 700.000 tỷ đồng.

Có ý kiến cho rằng nên giải ngân số tiền vừa nói cho nhu cầu phục hồi kinh tế. Nhưng cũng có những lo ngại trường hợp không kiểm soát được dòng vốn chảy vào các khu vực đầu tư đầy rủi ro như bất động sản (BĐS), chứng khoán (CK) hay dịch vụ, mà các ngành này làm ăn thua lỗ, thì lúc Chính Phủ cần chi tiêu khẩn cấp hay đến hạn trả nợ lại không có tiền.

Trường hợp dùng tiền không đúng mục đích đã xẩy ra: Năm 2015, Quỹ Bảo Hiểm Xã Hội chi tổng cộng 435.129 tỷ đồng để đầu tư. Trong đó, Nhà Nước thiếu tiền đã “vay 324.000 tỷ đồng mà không hoàn trả”.[6] Khi dân chúng phẫn nộ đòi rút BHXH 1 lần, thì Nhà Nước nói hoàn lại bằng trái phiếu. Tiền lời Trái Phiếu Chính Phủ không đuổi kịp lạm phát. Thực tế trong các năm 2011-2014 lạm phát tại Việt Nam từng lên 2 con số. Mời Quý Độc Giả đọc thêm bài Vỡ Quỹ Lương Hưu để biết thêm nguồn cơn sự việc : https://vanhoimoi.org/?p=11162

Thời gian gần đây, Thủ Tướng Phạm minh Chính và Phó Thủ Tướng Lê văn Thành, đặc trách Kinh Tế rất it khi nói về Kinh Tế, Tài Chánh; trong khi Chủ Tịch Quốc Hội Vương đình Huệ, Bộ Trưởng Tài Chánh Hồ đức Phước và Thống Đốc NHNN Nguyễn thị Hồng lại thấy “xông xáo” hơn. Sự kiện này làm cho giới quan sát Thời Sự Kinh Tế nhận ra trong giới chóp bu csVN đã âm thầm sắp xếp lại trách nhiệm điều hành Kinh Tế, Tài Chánh (?). Hoặc có vẻ như Thủ Tướng Phạm minh Chính bị Bộ Chính Trị csVN “treo giò” trên sân Kinh Tế Việt Nam.

Nếu giữa Quý I năm 2022 mà chưa có tiền do TPCP mang lại, hay có tiền rồi mà chưa ban hành được các văn kiện lập quy để giải ngân 350 ngàn tỷ cho hai năm 2022-2023 thì khó mà phục hồi được sản xuất. Hoặc có tiền mà điều kiện giải ngân quá khắt khe, thì gói 350 ngàn tỷ lại rơi đúng vào trường hợp hai gói kích cầu 62 ngàn tỷ và 26 ngàn tỷ các năm trước, chả có bao nhiêu người được vay. Trường hợp doanh nghiệp vay tiền rồi lại đem đầu tư CK, BĐS như đã từng diễn ra thì việc phục hồi sản xuất coi như rất ít thành công.

In tiền bơm ra nền Kinh Tế, qua phát hành TPCP như Chủ Tịch Nước Nguyễn xuân Phúc cổ võ, có thể mua được GDP danh nghĩa 6,7% cho năm 2022 để Chính Phủ huênh hoang khoe thành tích, nhưng hại thì như đã trình bày là vô số kể.

Tham khảo:

[1] https://vnexpress.net/chu-tich-quoc-hoi-can-khoi-thong-nguon-luc-trong-dan-4370743.html

[2] https://thoibaotaichinhvietnam.vn/nguon-cung-trai-phieu-chinh-phu-du-kien-se-cao-hon-vao-2022-99119.html

[3] https://vnexpress.net/co-the-huy-dong-180-000-ty-trong-dan-cho-goi-phuc-hoi-kinh-te-4384803.html

[4] https://thesaigontimes.vn/ngan-hang-nha-nuoc-mua-trai-phieu-chinh-phu-chua-that-su-can/

[5] https://vietnambusinessinsider.vn/bao-my-cong-bo-viet-nam-la-chu-no-lon-thu-32-cua-my-voi-khoan-no-hon-39-ty-usd-a23992.html

[6] https://dantri.com.vn/kinh-doanh/324000-ty-dong-chinh-phu-vay-bao-hiem-xa-hoi-da-duoc-chuyen-thanh-trai-phieu-20170228232903012.htm

26 Jan

Trần Nguyên Thao

danlambaovn.blogspot.com

Các bà vợ của vài vĩ nhân

Các bà vợ của vài vĩ nhân

Tác giả: Phùng Văn Phụng

*Nhà văn Leon Tolstoi (sinh ngày 09-09-1828 chết 20-11-1910)

Tolstoi là nhà văn vĩ đại của nước Nga. Ông đã sáng tác nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong đó có quyển Chiến tranh và Hòa bình (1865), Anna Karenina (1877) v.v…

Lúc còn trẻ, bà Sophia vợ ông, đã giúp cho Tolstoi, viết lại bản thảo cuốn Chiến Tranh và Hoà Bình rất nhiều lần, sau mỗi lần sửa chữa bà Sophia, vợ ông viết lại trên trang giấy mới. Ông lại sửa chữa. Vợ ông lại viết lại cho sạch sẽ. Bản thảo được viết đi viết lại nhiều lần trước khi đem in, xuất bản. Bà viết hàng chục lần như vậy mà bà vẫn vui vẻ không phiền hà gì.

Vậy mà đến cuối đời, tính tình ông bà xung khắc nhaum quá sức, không hoà thuận được với nhau. Ông phải chịu đựng quá mức về sự can thiệp quá đáng của bà vào đời sống của ông. Ông là nhà tư tưởng lớn và có tinh thần xã hội. Ông dự định sau khi ông mất, ông sẽ dành riêng lợi tức của một số tác phẩm của ông cho công chúng và một số tác phẩm thuộc về gia đình. Bà không chịu. Bà đòi lợi tức của tất cả tác phẩm đều phải thuộc về gia đình bà. Bà làm tình làm tội ông.  Bà đã từng nhảy xuống ao để để hăm dọa ông. Bà lục lạo sách vỡ của ông để tìm di chúc mà ông đã viết. Bà gây khó khăn cho ông đủ điều.

Cuối cùng, ông không thể chịu đựng nỗi bà vợ của ông. Một đêm, giữa mùa đông

rét mướt của nước Nga, nhiệt độ dưới không độ C, độ đông đá, ông đã bỏ nhà ra đi lang thang trên xe lửa xuôi về phương Nam và Tolstoi đã chết vì bịnh viêm phổi ở nhà ga xe lửa ở Astapovo,

Ông thọ được 82 tuổi.

Nhà văn Leon Tolstoi

 *Tổng Thống Abraham Lincoln (sinh 12-02-1809 bị ám sát chết 15-04-1865)

Tổng thống Lincoln của Mỹ là một Tổng Thống được sự thương yêu và quý mến của người dân Mỹ, vì đã thành công trong việc thống nhất đất nước của Mỹ và giải phóng người nô lệ da đen.

Nhưng ông lại có bà vợ xem thường và khinh dễ ông. Bà vợ ông được mô tả là người đàn bà dữ dằn và rất hỗn hào đối với ông.

Trước khi làm Tổng thống, lúc còn làm luật sư, khi ông hành nghề, nhiều khi phải xa gia đình nhiều tháng. Có lúc ông không muốn về nhà vì mỗi lần về nhà, ông phải gặp bà vợ dữ dằn đối với ông. Bà chê ông đủ điều, nào là ông có lỗ mũi trâu, lỗ tai lừa, ăn nói thì cục mịch, vô duyên. Nghĩa là đối với ông, bà không có chút cảm tình nào và rất xem thường ông. Bà không ưa ông, hể thấy mặt ông là bà nặng lời với ông.

*Triết gia Socrates (sinh 470 – chết 399 BC)

Socrates là một triết gia nổi tiếng của Hy Lạp.

Ông sinh ra tại Athens, Hy Lạp vào khoảng năm 470 trước công nguyên.

Socrates bị buộc tội và bị hành quyết vào năm 399 trước công nguyên, khi ông 70 tuổi. 

Socrates là nhà hiền triết. Ông dạy học trò không lấy tiền học phí vì ông chủ trương cần phải truyền bá tư tưởng của mình. Đã truyền bá tư tưởng sao có thể lấy tiền được.

Bà vợ ông đã gây gỗ với ông, cự nự ông. Ông bảo là ông sẽ làm thêm nghề đẽo đá? mà nuôi bà chứ ông nhất định dạy học, truyền bá tư tưởng, thì không được lấy tiền.

Câu chuyện thường được nhắc đến là có lần người bạn của ông Socrates đến thăm ông, hai người đang nói chuyện dưới hiên nhà, bà vợ của Socrates đang đứng trên lầu, đang tức giận ông, bà đổ luôn một thau nước lên đầu ông và bạn ông. Socrates bình tĩnh nói: “Hôm nay có bảo nên trời mưa.”

Socrates cũng đã từng nói: “Dù sao thì một khi đã kết hôn, nếu lấy được người vợ hiền thì bạn sẽ hạnh phúc; nếu không, bạn sẽ trở thành một triết gia”

Bức tượng Socrates đang suy nghĩ tại học viện Athens

Phùng Văn Phụng

VĨ ĐẠI HƠN BẤT CỨ ĐIỀU GÌ

VĨ ĐẠI HƠN BẤT CỨ ĐIỀU GÌ

“Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel! Trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài!”.
Trong tác phẩm của mình, “Surprised by the Power of the Spirit”, “Ngạc Nhiên Trước Sức Mạnh của Thần Khí”, Jack Deere viết, “Tất cả chúng ta đều là những người thụ hưởng các truyền thống tốt đẹp, khôn ngoan, và đúng đắn; tuy nhiên, chúng ta cũng là nạn nhân của những truyền thống kém cỏi, thiếu khôn ngoan và thiếu vững chắc!”.
Kính thưa Anh Chị em,

“Chúng ta là nạn nhân của những truyền thống kém cỏi, thiếu khôn ngoan và thiếu vững chắc”. Thật chí lý câu nói của Jack Deere! Thật trùng hợp, phụng vụ Lời Chúa hôm nay cũng nói đến truyền thống, nói đến những diễn giải của con người; qua đó, một sự thật được tiết lộ, Thiên Chúa luôn ‘vĩ đại hơn bất cứ điều gì’ mà con người có thể tạo ra, cho dù, đó là một truyền thống tôn giáo lâu đời!

Bài đọc Cựu Ước cho biết, Salômon đã khởi xướng xây cất một đền thờ đồ sộ, nguy nga cho Thiên Chúa; Thánh Vịnh đáp ca bộc lộ tâm tình hân hoan của vua, “Lạy Chúa tể càn khôn, cung điện Ngài xiết bao khả ái”. Thế nhưng, trước một Thiên Chúa, Đấng ‘vĩ đại hơn bất cứ điều gì’, Salômon, người được Ngài ban cho khôn ngoan và giàu có nhất trần gian đó vẫn cảm thấy nhỏ bé và yếu hèn, “Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel! Trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, phương chi ngôi nhà con xây cất đây!”. Ý thức mình mỏng giòn, tội lỗi, Salômon thân thưa, “Từ thiên cung, nơi Chúa ngự, xin lắng nghe, lắng nghe và tha thứ!”.

Trong Tin Mừng hôm nay, các biệt phái và luật sĩ lên án các môn đệ Chúa Giêsu “không theo đúng truyền thống của tiền nhân”, vì họ không rửa tay trước khi ăn. Dẫu không chống lại việc rửa tay, Chúa Giêsu vẫn lên tiếng bảo vệ các môn đồ của Ngài. Điều Ngài chống lại giới biệt phái kinh sư là chủ nghĩa pháp lý; theo họ, chỉ cần tuân thủ một số hành động bên ngoài, con người sẽ được gọi là công chính! Ngài tuyên bố, “Các người đã khéo bỏ giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ truyền thống của các người!”. Giới răn của Thiên Chúa, là Lời của Thiên Chúa, vốn quan trọng hơn truyền thống. Ngài muốn nói, Thiên Chúa, Đấng ‘vĩ đại hơn bất cứ điều gì’, không thể bị trói buộc trong bất kỳ truyền thống nào, dù truyền thống đó được tôn kính đến đâu. Truyền thống có ra là để giúp con người thể hiện tốt hơn mối tương giao của nó với Thiên Chúa, sống giới răn yêu thương Ngài dạy. Thế nên, một khi truyền thống trở nên “kém cỏi, thiếu khôn ngoan và thiếu vững chắc”, khiến “con người trở thành nạn nhân”, cản trở nó kính mến Chúa và yêu thương người, thì truyền thống đó cần được cải cách hoặc đổi mới.

Anh Chị em,

Với Chúa Giêsu, không phải mọi truyền thống đều đáng để giữ lấy. Tất cả truyền thống phải được đo lường bằng chính Lời Chúa; chúng ta phải xét xem truyền thống này, tập tục kia, có thực sự phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa vốn được tiết lộ trong Thánh Kinh hay không. Đó là lý do tại sao việc tiếp tục lắng nghe Lời Chúa là một điều không thể thiếu trong đời sống Kitô hữu. Đây cũng là điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô rất mực quan tâm; ngài đặc biệt nhắc nhở chúng ta phải đọc và học biết lắng nghe Lời Chúa qua các Phúc Âm một cách thường xuyên. Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng, Thiên Chúa, Đấng ‘vĩ đại hơn bất cứ điều gì’, đã bày tỏ khuôn mặt đích thực của Ngài một cách độc đáo và trọn vẹn nơi Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là hiện thân của Chúa Cha mà chúng ta đang tìm kiếm, đã tìm kiếm và phải tìm kiếm mỗi ngày. Hãy quay về với Chúa Giêsu, lấy Ngài làm chuẩn mực cho mọi đối chiếu; hãy để Lời ngài soi sáng tâm trí, bổ sức linh hồn; và như thế, chúng ta sẽ được bổ trợ để thấy rõ hơn điều gì là của Thiên Chúa và điều gì không thuộc về Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con ngày càng yêu mến việc đọc Lời Chúa và đào sâu Lời Chúa bằng việc cầu nguyện và chiêm ngắm; nhờ đó, Lời Chúa sẽ không trở nên vô hiệu nơi con!”, Amen. 

From: Kim Bang Nguyen 

TỪ NGỮ MIỀN NAM MỘC MẠC

TỪ NGỮ MIỀN NAM MỘC MẠC

MÈN ĐÉT ƠI!…

NGUYỄN GIA VIỆT

Diễn tả kiểu người Nam Kỳ.

Người Nam Kỳ có nhiều cách diễn tả biểu cảm rất ngộ. Thí dụ như cần rốt ráo thẳng luôn, dứt khoát, không e ngại, chẳng lòng vòng thì kêu là “nói đại”, “làm đại”, “nói phứt cho rồi”.

Chữ đại trong Hán Việt có nghĩa là to lớn, nhưng qua miệng dân Nam Kỳ thành biến nghĩa qua nhanh, gọn, rốt ráo,không rào đón trước sau.

“Kinh xáng mới đào

Tàu Tây mới chạy

Thương thì thương đại

Đừng nghi đừng ngại

Bớ điệu chung tình”

Thương đại là thương liền đi, thương mau lẹ, thương nhanh đi, đừng chần chờ gì hết.

Đọc Hồ Biểu Chánh thấy hành động nhanh gọn còn diễn tả trong chữ “phứt”, phứt hoặc phức là chữ đệm thôi.

Thí dụ: thôi phứt cho rồi, nói phứt cho rồi, lãnh lương nên đem trả phứt cho dì, con đi phứt cho rồi, tôi muốn chết phứt cho rồi, mướn phứt một chiếc xe hơi, gả phứt nó cho rồi, xin từ chức phứt cho rồi,…

Phứt có nghĩa là liền đó đa, gả phứt là gả chồng cho con liền.

Mà nhớ nè, cha nào được gả phứt coi chừng rước đồ mắc dịch về nhà đó nghen.

“Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi

Kẻo giông khói đèn bờ bụi tối tăm

Bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể

Cưới vợ có chừ về thổi lửa queo râu.”

Người Nam Kỳ mô tả thơm tho bằng từ “thơm phức”.

Thơm phức là thơm dữ lắm, thơm lừng, thơm thất kinh. Hoa lá thơm phức, dầu thơm phức, xà bông thơm phức, da thịt đờn bà cũng thơm phức.

Mờ đạo nghĩa, ân tình, ân nghĩa, lòng dạ, tiết tháo cũng thơm phức.

“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân.

Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ”

Ông Bình-nguyên Lộc thì cái trân quý nhứt của đời ông là “thổ ngơi thơm phứt hồn ma cũ” của đất Sài Gòn.

Xin chép vài ba câu thơ của ông Bình-Nguyên Lộc cho bà con Nam Kỳ mình ôn cố tri tân, đặng để lòng mà nhớ mà thương, rồi có thương mới có ý thức về xứ sở của mình.

“Ghe ơi, vài bữa ghe về

Nhắn người dưới ruộng, cô Quì còn không?

Mùi đất nước ruộng bùn phảng phất

Nhớ cố hương ngây ngất lòng sầu

Năm năm, bao cuộc bể dâu?

Phút giây in lại như hầu hôm qua”

Có thơm phức thì phải có đối nghịch nó, là thúi hoắc.

Có những người bề ngoài coi tốt đẹp, còn bề trong thì thúi hoắc. Nhơn cách mờ bị gán cho hai chữ “thúi hoắc” thì tiêu tán đường.

Lâu lâu về xóm, đụng ngay mấy bà “Tám”, ta nghe mấy bả la lên những tiếng vầy nè: “Mèn đét ơi! Mày trổ giò lớn xộn, giống thằng cha mày quá, cưới vợ được rồi đa”

Thống kê những tiếng “ngộ” đó như sau:

– Chèn đét ơi!

– Mèn đét ơi!

– Trèn đét ơi!

– Mèn ơi!

– Chèn ơi!

Chèn đéc quỷ thần thiên địa ôn hoàng hột vịt lộn ơi!

Bạn biết mèn đét hay chèn đét là chữ có nghĩa gì không? Đó là câu “Trời đất ơi!” đó.

Hiểu một cách nôm na thì những câu “chèn đét ơi!” là nói trại từ “Trời đất ơi !”, là một cách nói trại từ, nói kiêng, kỵ húy ông Trời, không dám kêu đích danh ông Trời.

Tìm trong thư tịch Nam Kỳ xưa thời Phan Thanh Giản thì không thấy những chữ chèn ơi đó, trong văn Hồ Biểu Chánh cũng không thấy, ông Hồ Biểu Chánh viết câu kêu lên là “Trời ơi!”, thí dụ đoạn văn sau trong “Ông Cử”:

(Trích đoạn): “Cách một lát, một đứa trẻ ở dưới mé sông đi lên, tay lắc chuông leng keng, vai vác một tấm băng đỏ lói. Ði tới cái băng chỗ ông Cử và Ba Sang ngồi, đứa nhỏ ấy dựng tấm bảng một bên, rồi ngồi gần Ba Sang mà nghỉ chơn.

Ba Sang không biết chữ, không hiểu tờ giấy đỏ dán trên tấm bảng ấy nói chuyện gì, kêu vỗ vai thằng nhỏ mà hỏi: “Em rao bán giống gì vậy em?”

Thằng nhỏ cười đáp: “Trời ơi! Anh này quê quá! Bảng rao hát cải lương, chớ bảng giống gì! Anh không thấy hình đó sao? Hình đó là hình cô đào nhứt trong gánh, tối nay thủ vai Bàng Quý Phi cụp lắm”.

Ba Sang với lấy tấm bảng, cầm coi cái hình, khen cô đào xinh đẹp, rồi kêu ông Cử mượn đọc, coi những hàng chữ in trên đó nói cái giống gì vậy”. (Ông Cử, 1936)

Những câu “chèn ơi”, “mèng đét ơi” xuất hiện ở Sài Gòn, ở Nam Kỳ những năm 1960, xuất phát từ những người Nam Kỳ, miệt Lục Tỉnh Miền Tây bình dân chạy giặc về Sài Gòn, nó là tiếng lóng.

Trong văn Bình Nguyên Lộc ta không thấy những từ mèn đét ơi.

Bình Nguyên Lộc là nhà văn Nam Kỳ nhưng không rặc Nam kỳ như Hồ Biểu Chánh, trong văn ông này vẫn lộn chữ kiểu Bắc Kỳ, trong “Đò dọc” của Bình Nguyên Lộc ta tìm ra từ “gầy khô đét” kiểu Bắc, đáng lẽ ra là “Ốm khô queo khô quắt”.

Hồ Trường An là nhà văn xài “mèn đét ơi” nhiều nhứt.

Xin hãy đọc hai đoạn trích sau:

(Trích) “Mèn đéc ơi, thằng nhỏ coi giống hịt thằng Bảy Huỳnh Kim Báu quá trời quá đất!… Chèn ơi, nụ cười nó giống nụ cười tía nó quá chừng chừng!”

(Trích)” Trong những thửa ruộng sâm sấp nước, ốc bươu, ốc lác bắt đầu giao hoan, cua đồng bắt đầu sanh sản. Chèn ơi, giữa mùa mưa, chẳng những loại nghêu, sò, ốc, hến, cua, còng mài miệt giao hoan, xôn xao sanh sản mà lũ cá chài, cá úc, cá mè vinh trong sông cũng mê tơi kết trứng thụ tinh”

Miệng thì “mèng đéc ơi?” thì tay phải quơ, tay vỗ đùi đen đét, mắt phải biểu cảm mới ra cái nghĩa nha hôn, các bạn đạo diễn nhớ cái khúc này làm cho trúng à, không thì chớ có ra Nam Kỳ à.

Túm lại, mèn đét ơi đã thành di sản đặc trưng Nam Kỳ, nghe riết thành quen, nó để lại trong lòng người Nam Kỳ bao nhiêu cảm xúc, nghe thấy vui, xa thấy buồn.

NGUYỄN GIA VIỆT

From: TU-PHUNG

Sự khác biệt của chế độ dân chủ và độc tài

Huy Chiêu shared a post.

Đó là sự khác biệt của chế độ dân chủ và độc tài

Đó là lý do tại sao người ta thích chọn Mỹ làm thiên đường của mình !

Bảo Nhi Lê

Shop Vân Anh.

Trong khi hàng trăm triệu người Trung quốc đánh hội đồng vận động viên trượt băng người Mỹ gốc Hoa vì để trượt chân ngã, Trong khi nhiều người Việt nam chửi bới cô gái là “vô ơn với nước Mỹ (vì đã bỏ nước Mỹ để thi đấu dưới cờ Trung quốc)”, là “đáng kiếp”,…

Thì người Mỹ nói thế này:

“Tôi nghĩ rằng người chỉ trích Zhu nặng nề nhất lúc này là chính cô ấy. Vì vậy, hôm nay, tất cả chúng ta hãy sử dụng mạng xã hội và thể hiện sự ủng hộ của chúng ta đối với Zhu.

Chúng ta nên ghi nhận vì cô ấy đã nỗ lực hết mình và cố gắng hết sức để làm cho đất nước của cô ấy tự hào, và ngẩng cao đầu trên mặt băng Olympic. Chúng ta nên nói với cô ấy rằng không ai là hoàn hảo, và mỗi người đều có những ngày tồi tệ.”

Trung Quốc và tiền, những điểm nghẽn của ngoại giao Việt Nam

Bình luận của Nguyễn Quang Khai
2022.02.06

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng TQ Vương Nghị tại Hà Nội hôm 10/9/2021

 AFP

Cơn say thành tích

Năm vừa qua, báo chí Việt Nam được dịp ca ngợi hết lời về những thành tích của ngoại giao Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam và ngành ngoại giao còn hồ hởi “khoe công trạng” khi đại dịch COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp trên thế giới và trong nước, ngành Ngoại giao đã tiên phong cùng các Bộ, ngành đẩy mạnh “ngoại giao y tế,” “ngoại giao vắc xin,” tranh thủ sự hỗ trợ kịp thời, hiệu quả của cộng đồng quốc tế về vắc xin, thiết bị y tế và thuốc điều trị, chung tay cùng cả nước phòng, chống dịch bệnh.

Cái tát bất ngờ

Tuy nhiên, đang say sưa trong men chiến thắng, vụ công an bắt bà Nguyễn Thị Hương Lan – Cục trưởng Cục Lãnh sự đã như một “cái tát” vào mặt ngành ngoại giao Việt Nam. Thực tế cho thấy, những âm mưu bẩn thỉu, những trò chơi tham nhũng vẫn còn đó, mà vụ bắt bà Lan chỉ mới là phần nổi của tảng băng chìm đối với tình trạng tham nhũng trong Bộ Ngoại Giao.

Tham nhũng trong bộ máy công quyền Việt Nam, được gọi bằng cái tên mỹ miều là “lợi ích nhóm” đã tồn tại từ rất lâu và rất sâu trong toàn bộ hệ thống chính trị Việt Nam, mà Bộ Ngoại Giao cũng không là ngoại lệ.

Người ta đã bàn tán từ lâu, mỗi một chức vụ trong các cơ quan ngoại giao đều có “giá” của nó. Từ các vị trí Vụ phó, Vụ trưởng đến các chức vụ Cục trưởng, Thứ trưởng đều có “giá” cụ thể. Các cơ quan đại diện tại nước ngoài cũng vậy, phải “chạy” mới được đi chỗ “ngon”, “nước giàu”. Từ đó mới “ra nhà, ra đất”, chứ không thì “đói thối mồm”.

Trong đợt Đại dịch COVID-19 vừa qua, “quyền lực” của cơ quan ngoại giao rất lớn trong việc quyết định danh sách những công dân Việt Nam đang ở nước ngoài, được nằm trong danh sách hồi hương trên những chuyến bay “giải cứu”. Và những lợi ích phát sinh từ quyền lực này đã dẫn đến việc bà Cục trưởng Cục lãnh sự cùng ba thuộc cấp phải “xộ khám”.

Những người quan tâm có thể đặt một câu hỏi: Nếu như nhiều quan chức ngoại giao “cần tiền” như thế thì việc tình báo Trung Quốc xâm nhập cơ quan ngoại giao Việt Nam sẽ không khó. Vì tình báo Trung Quốc sẵn sàng chi rất nhiều tiền để mua thông tin cũng như tạo ra những cách để chi phối đến chính sách đối ngoại của Việt Nam. Sẽ có những người bênh vực ngành ngoại giao nói rằng, đây chỉ là hoạt động “kiếm sống” của nhân viên ngoại giao nói chung, vì ngành ngoại giao rất đặc thù nhưng thu nhập lại rất ít ỏi, lãnh lương như tất cả các cán bộ công chức Việt Nam khác, nhưng sinh hoạt tại các cơ quan đại diện nước ngoài thì phải trả bằng ngoại tệ, nhưng các nhân viên ngoại giao này biết nên “ăn tiền” ở đâu để tránh khỏi bị tình báo nước ngoài mua chuộc. Thế nhưng, đã gọi là tình báo thì các biện pháp mua chuộc và xâm nhập là vô cùng đa dạng và phong phú, dễ gì các nhân viên “hám tiền” lại thoát được cơ chứ.

Bốn lãnh đạo Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao vừa bị khởi tố và bắt giam về tội nhận hối lộ. RFA edit

Số phận hẩm hiu của ông Nguyễn Cơ Thạch

Câu chuyện tham nhũng của bà Lan cũng cho thấy vai trò của ngành ngoại giao chưa được đặt đúng mực trong hệ thống chính trị Việt Nam. Trong ba Bộ liên quan đến việc hoạch định chính sách đối ngoại, bao gồm: Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An và Bộ Ngoại Giao thì Bộ Ngoại Giao xếp hàng chót. Ngoại trưởng Việt Nam hiện nay còn chưa được vào Bộ Chính Trị trong khi Bộ trưởng Quốc Phòng và Bộ trưởng Công An luôn là Uỷ viên Bộ Chính Trị. Lương của ngành công an và quân đội cao nhất trong bộ máy công chức Việt Nam, còn ngành ngoại giao thì lương không đủ sống, nên anh em phải đi “kiếm thêm”.

Chưa kể đến việc trong quan hệ với Bắc Kinh, ngành ngoại giao luôn bị gạt ra khỏi những quyết định quan trọng ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước.

Phóng viên Huỳnh Phan (Tên thật là Hoàng Ngọc) có nhiều tư liệu về một nhân vật tài năng ngoại giao, đó chính là Cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch. Những năm  đầu 1990, vì Trung Quốc “không ưa” ông Thạch, nên Hội nghị Thành Đô, ông Thạch đã không được tham dự và không được cung cấp thông tin.  GS.TS Vũ Dương Huân – Người đã từng giữ chức vụ Giám đốc Học viện Ngoại giao, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu Lịch sử Ngoại giao, cho biết: “Khoảng 2-3 tháng trước Đại hội VII (6/1991) có rộ lên tin tức là Trung Quốc đang tìm cách hạ bệ ông Thạch vì ông chống Trung Quốc. Nhưng thực tế là ông chủ trì Nghị quyết XIII, mà một trong những nội dung quan trọng là giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Để nói về giai đoạn lịch sử này, chúng ta cũng có thể dùng câu nói của ông là “thực tiễn sẽ trả lời.” (1)

Bộ trưởng Ngoại giao VN Nguyễn Cơ Thạch gặp Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain ở DC hôm 17/10/1990. AP

Tuy nhiên, có những góc khuất đằng sau những trang báo chính thống. Chính vì vậy, sau này phóng viên Huỳnh Phan có đưa lên Facebook của mình những lời kể về bài báo viết về ông Nguyễn Cơ Thạch của mình nhưng bị ngăn không cho đăng báo. Huỳnh Phan trích dẫn lời của GS.TS Vũ Dương Huân cho biết: “quan điểm của Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch là muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, nhưng Việt Nam phải bảo vệ được quyền lợi dân tộc của mình…” “Nguyên Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên, lúc đó là Trưởng đoàn Đàm phán cấp chuyên viên chuẩn bị cho cuộc gặp Thành Đô (3-4/9/1990), nói rằng quan điểm của Việt Nam là trước bàn về bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, sau đó mới bàn về vấn đề Campuchia. Nhưng Trung Quốc phản đối, đòi làm ngược lại.”

“Hai bên cãi nhau suốt hơn một ngày, cuối cùng tôi phải điện về nước xin ý kiến. Lãnh đạo cấp cao đã nhượng bộ với quan điểm của Trung Quốc”, nguyên Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên nói. Khi sắp đến Hội nghị Thành Đô, Đặng Tiểu Bình đã đánh tiếng với lãnh đạo chóp bu của Việt Nam, thông qua Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Lào Kaysone Phomvihane thăm Trung Quốc, rằng Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch “có ý đồ gây rối”. Vì quá muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, TBT Nguyễn Văn Linh đã đồng ý không để Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch tham dự phái đoàn, mà chỉ cho Thứ trưởng Đinh Nho Liêm tham dự.

“Phía Trung Quốc biết rất rõ Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch là một nhà đàm phán rất giỏi từ Hội nghị Geneva về Lào (1961-1962), đến Hội nghị Paris ( giai đoạn 1972-1973), nên nếu ông tham gia Hội nghị Thành Đô, Trung Quốc khó ép Việt Nam phải chấp nhận Giải pháp Đỏ. Chính họ đã gây chia sẽ trong nội bộ cấp cao của chúng ta”, nguyên Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên đoán chắc.

Một nhà ngoại giao rất có tài năng của Việt Nam như ông Nguyễn Cơ Thạch nhưng trước sự “can thiệp” của “thiên triều”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sẵn sàng “hy sinh” nhà ngoại giao tài năng này để làm đẹp lòng Bắc Kinh. Nói thế để hiểu vai trò của ngành ngoại giao ở Việt Nam như thế nào.

Câu chuyện ông Trọng đi Bắc Kinh

Năm 2011, khi ông Nguyễn Phú Trọng mới đắc cử Tổng Bí thư, đã có ngay chuyến đi ra mắt “thiên triều”. Để tạo dấu ấn ngoại giao cho Tân Tổng Bí thư, Bắc Kinh đã cho người soạn sẵn bản Thoả thuận về những nguyên tắc giải quyết tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc (2). Điều đáng nói là văn bản này hoàn toàn do Trung Quốc soạn thảo trước, phía Việt Nam chỉ có thể ký vào mà thôi. Thậm chí mấy chuyên gia về luật quốc tế của Bộ Ngoại giao Việt Nam muốn vào theo để tham gia đàm phán những điều khoản bảo vệ lợi ích của Việt Nam thì bị đuổi ra ngoài, với lý do đây là do hai Đảng Cộng sản quyết định, không có chỗ cho Bộ Ngoại giao chen vào. Chính vì vậy, sau này Thoả thuận này giữa bản tiếng Trung và bản tiếng Việt có một số khác biệt. Bản tiếng Trung ở Điều 4 khẳng định là hai quốc gia sẽ tìm kiếm giải pháp bằng cách “gác tranh chấp cùng khai thác”, còn bản tiếng Việt thì ghi là “hợp tác cùng phát triển”. Điều này cho thấy vai trò của ngoại giao bị lép vế trước cơ quan ngoại giao của Đảng, mà nhiều khi chính vì vậy, các văn bản mà Đảng cộng sản Việt Nam ký kết với Đảng cộng sản Trung Quốc đã đưa Việt Nam vào thế bất lợi trên rất nhiều lĩnh vực.

Kết luận

Với những “điểm nghẽn” về chế độ đãi ngộ cũng như vai trò tham gia hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam như vậy thì dù ngành ngoại giao Việt Nam có nhiều người tài giỏi đến mấy cũng chỉ có thể “múa tay trong bị” được mà thôi. Vì thế, có khi thời gian tới, người dân Việt Nam lại khám phá thêm được nhiều “thành tích đen tối” của ngoại giao Việt Nam khi chính các cơ quan công quyền khui ra thêm nhiều vụ “ăn bẩn” khác. Cứ như thế liệu thái độ chống cường quyền Bắc Kinh là thật hay lại là các bên diễn trò đây?

_____________

Tham khảo:

  1. https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/doithoai/30-nam-doi-moi-nhin-tu-nganh-ngoai-giao-ong-nguyen-co-thach-co-phai-la-nguoi-chong-trung-quoc-322982.html
  2. https://nhandan.vn/theo-dong-thoi-su/thoa-thuan-ve-nhung-nguyen-tac-co-ban-chi-dao-giai-quyet-van-de-tren-bien-giua-nuoc-cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-va-nuoc-cong-hoa-nhan-dan-trung-hoa-178255/

Sinh – Lão – Bệnh – Tử Là Quy Luật Của Đời Người…

Van Pham

Sinh – Lão – Bệnh – Tử Là Quy Luật Của Đời Người…

Bệnh là một hiện tượng hiển nhiên trong cuộc đời. Có mang thân người là có bệnh. Mỗi chúng ta có thể trải qua một hay nhiều lần bệnh, không lúc này thì khi khác, không nặng thì nhẹ.

Nếu người nào, đến giây phút này vẫn chưa một lần bệnh thì đó là một hạnh phúc lớn. Nhưng ít ra, người đó cũng chứng kiến người thân của mình bị bệnh và biết chắc rằng, đến một lúc nào đó, mình có thể bị bệnh.

Do đó, bệnh là một hiện tượng rất gần gũi với con người mà chúng ta ít nhiều đều có kinh nghiệm, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Nói đến bệnh, ai cũng có thể nghĩ đến sự đau đớn, khổ sở, khó chịu, buồn bã, âu lo, sợ hãi và vô số những tâm lý tiêu cực khác.

Hễ bệnh là đau. Điều này không ai phủ nhận. Nhưng điều quan trọng là làm thế nào, dù đau (về thân), chúng ta đừng có khổ (về tâm).

Bạn có thể thắc mắc đến ngạc nhiên rằng bệnh làm sao mà không buồn không khổ? Tôi đã từng thắc mắc như vậy sau vài lần bệnh, nhưng sau đó, thay vào các thắc mắc là các bài học tự nghiệm ra được.

Ở đây, tôi xin chia sẻ với các bạn một vài phương diện tích cực khi đang bệnh hoặc phải sống chung với bệnh.

  1. Bệnh là cơ hội để nhận biết tín hiệu cơ thể.

Khi chúng ta bị một chứng bệnh nào đó, chúng ta đừng vội buồn phiền, suy sụp tinh thần, thấy sao mình bất hạnh so với nhiều người khác. Bệnh là một điều tất yếu một khi chúng ta mang thân làm người, nên việc nó đến với người này, chưa đến với người khác, chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Không có gì bất công đâu.

Hãy coi bệnh là cơ hội để mình nhận được tín hiệu của cơ thể báo cho mình biết có gì đó không ổn trong cơ thể của mình. Ví dụ, khi nghe tức ngực, bạn biết rằng điều này nhắc bạn cần đến bác sĩ để khám, và như thế, rất có thể bạn sẽ biết và tránh được hoặc trì hoãn chứng bệnh mạch vành của tim trước khi mọi việc trở nên quá trễ. Hầu hết các chứng bệnh tiến triển từ nhẹ đến nặng và có những triệu chứng đi kèm.

Nếu chúng ta biết cách lắng nghe cơ thể để kịp thời nhận được tín hiệu thay đổi và có phương pháp xử lý phù hợp, chúng ta đã phần nào biết giữ gìn sức khỏe tốt và đem lại hạnh phúc cho bản thân mình, cho người thân và cho xã hội. Một số bệnh hiểm nghèo, như ung thư, vẫn có khả năng chữa trị nếu được phát hiện ở thời kỳ đầu.

Các bệnh khác cũng vậy. Do đó, sẽ không có gì đáng buồn khi chúng ta ‘nghe’ cơ thể không ổn. Thay vào đó, chúng ta nên vui, nếu không vui nổi thì cũng bình tâm, vì ít ra, mình nhận được tín hiệu mà cơ thể gửi cho mình. Hơn nữa, qua một lần nhận tín hiệu như thế, chúng ta phát triển khả năng lắng nghe cơ thể thường xuyên hơn. Nhờ đó, chúng ta biết cách điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt phù hợp hơn với cơ địa của mình.

  1. Bệnh là dấu hiệu cho bạn biết rằng bạn cần điều chỉnh cho cuộc sống trở nên thoải mái hơn.

Thông thường, khi biết mình bệnh, chúng ta thường để tâm lý tiêu cực phát sinh. Bản năng sinh tồn thôi thúc con người muốn sống, nên không bằng lòng khi bệnh đến với mình, thế là tinh thần suy sụp, sợ hãi nảy sinh. Người nào có tâm lý như thế có nghĩa là đang góp phần đáng kể vào việc hủy hoại thân thể mình và làm cho bệnh càng trầm trọng mặc dù có sự can thiệp của các phương pháp trị liệu.

Rất nhiều chứng bệnh và cơn đau phát sinh do tâm lý căng thẳng. Các bệnh về tim mạch, huyết áp, dạ dày đều có liên quan đến tình trạng rối loạn tâm lý. Tâm lý không ổn định và mất thăng bằng là một trong những nguyên nhân rất dễ đưa đến rối loạn các quá trình trao đổi chất trong cơ thể và gây nên bệnh.

Do vậy, khi chúng ta bệnh, chúng ta cần nhận ra rằng đây là cách mà cơ thể báo cho mình biết rằng tâm trí cần nghỉ ngơi nhiều hơn và học cách chuyển hóa những căng thẳng hiệu quả hơn. Làm như vậy là giúp cơ thể nhanh lành bệnh và phòng bệnh về sau một cách hiệu quả.

  1. Khi bệnh, chúng ta thấy nhu cầu chăm sóc tâm thức và đời sống tinh thần trở nên cần thiết hơn.

Lúc đang mạnh khỏe, chúng ta những tưởng mình là bất tử, nên việc chăm sóc đời sống nội tâm chưa phải là vấn đề cần thiết lắm. Khi bệnh, chúng ta mới cảm nhận được cảm giác chơi vơi, trống vắng và sợ hãi. Khi ấy, chúng ta mới nhận ra rằng cái mình thật sự thiếu là một tinh thần vững chãi, một nội tâm kiên định để có thể vững vàng trong những tình huống như vậy. Từ đó, chúng ta học được cách chăm sóc tâm mình.

Thật ra, nhu cầu chăm sóc tâm thức cần được thực hiện thường xuyên chứ không đợi đến khi bệnh, vì nó cần thiết hơn cả việc chăm sóc thân thể. Thế nhưng, thông thường, chúng ta ít để ý đến nhu cầu này nên chưa nhận ra. Do vậy, nhiều người sau khi bị bệnh, thường quay về với đời sống tâm linh nhiều hơn. Đối với bản thân tôi cũng vậy, bệnh lần đầu tiên, buồn và nản lắm. Sau đó, thấy tinh thần mình bạc nhược. Như vậy là không được.

Khi bệnh mình bất an thì những người thân thêm lo lắng chứ chẳng được gì. Rồi bệnh lần sau, tôi biết cách làm cho mình cảm thấy khá hơn và bây giờ, khi mang trong người căn bệnh mãn tính, tôi học được cách sống chung với bệnh và rút ra được nhiều kinh nghiệm trong quá trình ‘chung sống’ này để cuộc sống dễ chịu hơn.

Một điều có tính quy luật tôi rút ra được là lúc nào tâm tôi bình an và ít dao động, tôi có cảm giác ít đau đớn hơn. Nghĩa là, thân bệnh thì thân ‘đau’, nhưng không vì thân đau mà tâm phải ‘khổ’. Thật ra, khi thân đau, cũng chỉ có một vài bộ phận ở một vài khu vực đau mà thôi. Sự thổi phồng nỗi đau ra toàn thân và lan đến cả tâm là một căn ‘bệnh’ khác nan giải hơn cả bệnh lâm sàng mình đang mắc phải. Khi nào chúng ta để cái khổ của tâm gắn với cái đau của thân, cái đau khổ ấy thống thiết và nhức nhối vô cùng.

  1. Bệnh dạy cho chúng ta về vô thường.

Già, bệnh, rồi đến cuối chặng đường của một kiếp người là chết. Tất cả những hiện tượng tự nhiên này diễn ra không ngừng trong con người và mọi loài mọi vật. Các giai đoạn (ta tạm gọi như thế, chứ thật ra không có ranh giới nào) sinh ra, trưởng thành, già cỗi và hư hoại đan xen nhau trải dài trên một chiếc trục gọi là ‘cuộc sống’ mà một cực là sự sanh ra trên cuộc đời và cực kia là cái chết.

Ở mức độ vi tế hơn, chúng ta cần hiểu rằng trong mỗi tích tắc, bao nhiêu tế bào trong cơ thể chết đi và bao nhiêu tế bào mới được sinh ra. Thế nhưng, để ‘thấy’ được sự thay đổi thì cần phải có những biến chuyển cụ thể, rõ ràng và lớn hơn. Một khi bệnh, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng mình đang ‘chuyển giai đoạn’.

Ý thức được vô thường giúp chúng ta ý thức hơn về cách sử dụng và quản lý thời gian của bản thân cũng như điều chỉnh các mối quan hệ với những người xung quanh để có một cuộc sống ý nghĩa hơn. Chỉ có những người trải qua cơn bạo bệnh mới hiểu được trọn vẹn sức khỏe tốt là một thứ tài sản vô giá, để rồi sau đó, họ không phung phí tài sản ấy.

  1. Bệnh làm cho chúng ta tăng trưởng tâm từ bi.

Khi ta bệnh, ta thấu hiểu nỗi đau của người khác nhiều hơn, nhất là những người mắc bệnh giống mình hoặc bệnh nặng hơn mình. Người xưa nói ‘đồng bệnh tương lân’ quả không sai. Trong đau đớn, chúng ta cảm thấy mình không đơn độc chống chọi với căn bệnh này. Nghĩ đến những người cùng chịu nỗi đau giống mình hoặc hơn mình nữa, chúng ta có thể dễ dàng trải lòng thương yêu đến cả những người không quen.

Tâm đồng cảm, thấu cảm và chia sẻ với những người cùng bệnh rất lớn. Nếu chúng ta tiếp tục nuôi dưỡng tâm lành này, tức là chúng ta đang nuôi dưỡng tâm từ bi của mình. Nhờ đó, chúng ta sẽ có những động thái tích cực và thiết thực góp phần giúp người bệnh vơi nhẹ nỗi đau bằng kinh nghiệm bản thân.

Thực tế, khi chứng kiến bệnh tật, thân nhân người bệnh cũng mở rộng tấm lòng và sự đồng cảm đối với những người bệnh. Các chương trình ‘Ước mơ của Thúy’, “Nụ cười của Ben’ là những ví dụ sinh động về sự chia sẻ đồng cảm của những người có người thân từng là bệnh nhân nhi ung thư đối với những em bé có cùng số phận.

  1. Bệnh giúp chúng ta nuôi dưỡng tâm khiêm hạ và biết đủ.

Khi bệnh, chúng ta mới sực nhớ ra rằng cuộc đời mình không phải là không có giới hạn. Giới hạn của con người là lẽ thường xưa nay, nhưng bình thường chúng ta không ý thức đầy đủ về những giới hạn của mình. Nếu thấy người khác bệnh, chúng ta cứ tưởng bệnh chỉ đến với người đó mà không đến với mình. Cho đến khi chính bản thân mình hay người thân bị bệnh như bao người khác, chúng ta mới kịp nhận ra, ai cũng chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên: đau, già, bệnh và chết.

Ý thức rằng mình không hơn gì người khác, ít nhất là trong quy luật tự nhiên này, giúp chúng ta bớt đi lòng kiêu hãnh và trở nên khiêm tốn hơn trong cuộc sống. Qua một lần bệnh, chúng ta có thể bớt đi lòng tham cầu một cách đáng kể. Qua một lần bệnh, chúng ta có thể biết cách tổ chức cuộc sống mình hiệu quả hơn và tốt hơn.

  1. Bệnh giúp chúng ta có ý chí và nghị lực hơn.

Ý chí và nghị lực là kỹ năng sống cần được rèn luyện trong nhiều tình huống khác nhau trong cuộc sống. Thế thì tại sao mình bỏ qua cơ hội bệnh để rèn luyện kỹ năng này? Tôi bệnh nhiều lần và tôi nghiệm ra một điều, sau mỗi lẫn bệnh, tôi trở nên mạnh mẽ hơn, nghị lực hơn và rồi các lần bệnh đến và đi cũng nhẹ nhàng hơn.

Thật ra, tôi làm được điều này cũng nhờ nghĩ đến cha tôi, một người trở về từ chiến trường chỉ còn một cánh tay và một chân không bao giờ gấp lại được vì một vết mổ, dù những năm tháng ở chiến trường, cha tôi chỉ biết cầm kim, dao mổ và ống chích chứ chưa bao giờ biết cầm súng. Với cánh tay đã mất, cha phải chịu đau đến ba lần cắt (lần đầu cắt bàn tay, lần thứ hai tháo khớp khủy tay vì nhiễm trùng, lần thứ ba lại cắt tiếp vì nhiễm trùng nữa). Thế mà cha tôi vẫn vui sống, luôn tích cực trong suy nghĩ và hành động, truyền nghị lực và sức sống còn lại cho những đứa con.

Thế nên mỗi lần đau bệnh, có khi nằm cả tháng trời, có khi đau răng nhức nhối khó chịu, lúc trật khớp chân mất cả tuần mới đi lại được và hiện tại là cơn đau dai dẳng đeo đẳng theo tôi từ mấy năm qua, tôi vẫn thấy không thấm vào đâu so với nỗi đau của cha mình. Nghĩ như thế, tôi vượt qua cơn đau dễ hơn mình tưởng. Cách nghĩ như vậy là liều thuốc giảm đau hiệu nghiệm nhất đối với bản thân mình.

Trên đây, tôi chia sẻ những ‘lợi ích’ khi mình bệnh. Nói như vậy không có nghĩa là tôi muốn bản thân mình hay các bạn, hoặc ai đó bị bệnh. Bệnh là một hiện tượng nằm ngoài ý muốn của con người. Những điều trên, đơn giản là vài phương pháp mà tôi dùng đến mỗi khi bệnh. Đó là những phương pháp hỗ trợ các phương tiện trị liệu y khoa, làm cho bệnh mau lành và giúp người bịnh không hao tổn quá nhiều năng lượng để ‘chống chỏi’ với bệnh.

Nếu thấy điều nào phù hợp với mình, các bạn cứ thử áp dụng, tôi tin là sẽ có hiệu quả. Nguyên tắc chung để chịu đựng và sống chung với bệnh (đối với các bệnh mãn tính và những thương tật vĩnh viễn do tai nạn) là khi thân đau, đừng để tâm khổ vì cái đau của thân. Hãy xem bệnh là một ‘vị khách không mời’ và đối xử lịch sự với ‘nó’. Đừng xua đuổi vì một khi bị xua đuổi, nó sẽ kháng cự.

Việc chúng ta cần làm là tạo một môi trường thích hợp nhất để ‘nó’ tự ra đi. Hãy buông bỏ, nó sẽ tự ra đi không một lời từ biệt đó các bạn ạ.

Nguồn: chuatutam.net

XUÂN HY VỌNG

Tình Yêu Của Chúa

XUÂN HY VỌNG

A.P Mặc Trầm Cung

“Cha ngã xuống… cho hồn con đứng dậy

Nhấp men cay… cho bừng tỉnh cơn mê.”

(Tưởng nhớ Cha Giuse Trần Ngọc Thanh)

Cha nằm xuống, muôn hoa tươi vẫn nở

Phủ mộ Cha trong ánh nắng chan hoà

Vẫn vẳng nghe ríu rít tiếng chim ca

Cả tiếng côn trùng hoà vui cùng gió mát.

Cha ngã xuống, tim triệu người tan nát

Nhưng nảy sinh hạt giống mới ân tình

Được tưới bằng nước mắt với hy sinh

Bằng nỗi nhục nhằn, đau thương trong thầm lặng.

Con tự hỏi, trong nỗi buồn sâu lắng

Sao Chúa lại cần một “Hy Lễ Chiều Xuân”?

Thánh Ý nào mà Chúa đã đong cân

Cho Giáo Hội Việt Nam được thay màu áo mới.

Câu trả lời trong thẳm sâu diệu vợi

Đất cằn cỗi… sao hạt giống trổ sinh?

Cây héo khô… sao hun đúc niềm tin

Nẩy lộc đâm chồi giữa cuồng phong bão tố?

Ý nhiệm mầu trong Chương Trình Cứu Độ

Ngài xới cày cho mảnh đất hồi sinh

Để nảy mầm muôn hạt giống đức tin

Cần được cày, tưới bằng nước mắt và máu người Công Chính.

Cha nằm đó, giữa đất trời thanh tịnh

Cho hồn con bừng cháy một niềm tin

Cho lữ khách mạnh mẽ bước hành trình

Vượt qua thung lũng sầu thương

bằng khúc hát…. Mùa Xuân Hy Vọng.

Mùng 4 Tết.

04.02.2022

A.P Mặc Trầm Cung

Tuyên truyền và hệ thống tự hoại!

Tuyên truyền và hệ thống tự hoại!

Bởi  AdminTD

 Blog VOA

Trân Văn

4-2-2022

Thánh lễ tiễn đưa Linh mục Trần Ngọc Thanh, do Giám mục Giáo phận Kon Tum chủ tế, diễn ra tại Nhà nguyện Plei Đôn, thuộc Giáo xứ Kon Rơbang, Giáo hạt Kon Tum, vào ngày 30/1/2022. Nguồn: Giáo phận Kon Tum

Cuối cùng, công an cũng cung cấp thông tin cho hệ thống truyền thông chính thức loan báo rộng rãi về án mạng xảy ra tại thôn Giang Lố 2, xã Saloong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum mà nạn nhân là linh mục Trần Ngọc Thanh, 41 tuổi (1)…

Ngày 29 tháng 1 năm 2022, linh mục Thanh đến một nhà nguyện ở Saloong để thực hiện bí tích giải tội cho những người có nhu cầu hòa giải với Thượng đế và đồng loại trước thềm năm mới… Thế rồi ông Nguyễn Văn Kiên, 33 tuổi, đột nhiên xông vào, chém vô đầu linh mục Thanh hai lần. Sau đó, ông Kiên xoay qua tìm chém một tu sĩ ở gần đấy nhưng nạn nhân kịp dùng ghế đón đỡ (2)… Linh mục Thanh bị chém vỡ sọ nên không thể vượt qua được tình trạng nguy kịch!

Có một điểm đáng chú ý là khác với những án mạng từng xảy ra tại Việt Nam, cả công an lẫn hệ thống truyền thông chính thức im bặt, không đề cập gì đến sự kiện một linh mục Công giáo bị giết khi đang thực hiện mục vụ, cho dù đó rõ ràng là biến cố nghiêm trọng cả về tính chất lẫn mức độ. Thiên hạ chỉ biết tin này nhờ mạng xã hội và một số trang web có liên quan đến Công giáo… Đó cũng là lý do rất nhiều người suy đoán theo hướng, án mạng có sự sắp xếp…

Thiên hạ kể với nhau, rằng ông Trần Ngọc Thanh không phải là linh mục Công giáo đầu tiên bị tấn công. Trước ông đã có ít nhất bốn linh mục khác bị hành hung trên đất Kon Tum (3), có người bị đâm lòi ruột nhưng may mắn thoát chết. Chẳng riêng linh mục, nam tu sĩ, ngay cả nữ tu cũng bị hệ thống công quyền lẫn… thường dân gần gũi chính quyền dọa dẫm, sách nhiễu (4). Không phải ngẫu nhiên mà người thiểu số ở khu vực Tây Nguyên trốn ra ngoại quốc xin tị nạn do bị đàn áp vì… theo Tin Lành!

***

Sự kiện linh mục Trần Ngọc Thanh bị giết khi đang thực hiện mục vụ không chỉ làm rúng động mạng xã hội Việt ngữ. Không ít trang facebook của các dòng tu, hội đoàn và tín đồ Công giáo trên thế giới đã loan báo sự kiện này kèm lời kêu gọi cầu nguyện. Chẳng hạn OP Laity East (trang facebook dành cho giáo dân tham gia các hội đoàn của Dòng Anh em Thuyết giáo mà người Việt thường gọi tắt là Dòng Đa Minh – gọi theo tên vị sáng lập đã được Việt hóa mà linh mục Trần Ngọc Thanh là một thành viên).

Từ những trang facebook như OP Laity East (5), sự kiện tiếp tục được chia sẻ rộng hơn cả ở phương diện cá nhân lẫn cộng đồng của nhiều quốc gia. Ví dụ, có thể thấy thông tin về chuyện linh mục Trần Ngọc Thanh bị giết trên OP Laity East tiếp tục được chia sẻ trên Humphreys Catholic Community – trang facebook của cộng đồng Công giáo ở Humphreys, một căn cứ của quân đội Mỹ tại Nam Hàn (6). Rồi các thành viên của Humphreys Catholic Community lại chia sẻ thêm cho nhiều người, nhiều giới khác…

Có rất nhiều cá nhân không phải người Việt, chưa từng nghe ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư đảng CSVN khoe về thành tựu… dân chủ ở Việt Nam. Có rất nhiều cá nhân không phải người Việt nếu đã nghe thì cũng chẳng nhớ hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam đã nói những gì về… thăng tiến nhân quyền, về… tiến bộ của tự do tôn giáo, về… sự ổn định tại Việt Nam. Song theo logic về tâm lý, họ sẽ nhớ rất kỹ và khi đề cập tới Việt Nam, họ sẽ nhắc rất nhiều người về chuyện linh mục Thanh bị giết!

Chưa có bất kỳ bằng chứng nào về chuyện linh mục Trần Ngọc Thanh là nạn nhân của một âm mưu. Cho dù sự im lặng của hệ thống truyền thông chính thức tại Việt Nam về án mạng này hết sức khác thường nhưng khả năng các cơ quan truyền thông chính thức bị chỉ đạo phải… “ngậm tăm” không lớn. Kẻ viết bài này tin rằng, chính cách quản lý, lối hành xử của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam mới là lý do khiến hệ thống truyền thông chính thức chủ động… “ngậm tăm”, tránh rắc rối.

Cách nay khoảng hai tuần, khi gặp gỡ báo giới trước thềm năm mới, ông Nguyễn Văn Nên – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TP.HCM, nhắc báo giới phải độc lập, phải tránh bốn đặc điểm là… bầy đàn, khuôn mẫu, ỷ lại và đổ lỗi (7).

Tại sao báo giới Việt Nam lại mang bốn đặc điểm mà ông Nên cảnh báo cần tránh? Nếu sự độc lập của báo giới được tôn trọng, chắc chắn sẽ không thiếu thông tin về những sự kiện như linh mục Trần Ngọc Thanh bị giết, hay hệ thống chính trị, hệ thống công quyền ở Tây Nguyên xâm hại các quyền căn bản của con người, chà đạp tự do tôn giáo và tất nhiên không gây hoài nghi, rằng có âm mưu nào phía sau các sự kiện hay không! Còn xác định báo giới là công cụ tuyên truyền và ép buộc nhắm mắt, bịt tai để tuyên truyền theo mục tiêu, bất chấp thực tại, bất kể nhân tâm, dân ý thì “công tác tuyên truyền” đâu có khác gì quảng cáo cho hoạt động tự hoại.

Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?

Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Tiếng ta còn thì nước ta còn!

Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1- Đồng hóa tự nhiên, tức quá trình dân tộc A trong giao tiếp với dân tộc B, do chịu ảnh hưởng lâu dài của B mà A tự nhiên dần dần mất bản sắc của mình, cuối cùng bị B đồng hóa; đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2- Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc nhỏ yếu hơn chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của một dân tộc lớn mạnh hơn; đây là một tội ác.

Đồng hóa dân tộc chủ yếu diễn ra dưới hình thức đồng hóa văn hóa, trong đó chủ thể đồng hóa thường là một nền văn hóa mạnh và tiên tiến (như đông dân hơn, kinh tế phát triển hơn, đã có chữ viết, có các hệ tư tưởng), đối tượng đồng hóa thường là nền văn hóa yếu và lạc hậu hơn. Đồng hóa ngôn ngữ là công cụ đồng hóa văn hóa thông dụng nhất, quan trọng nhất, hiệu quả nhất. Một dân tộc bị mất tiếng nói mẹ đẻ của mình và phải nói tiếng của một dân tộc khác thì không còn giữ được bản sắc dân tộc nữa.

Trong lịch sử, các nền văn hóa yếu thường bị nền văn hóa mạnh đồng hóa. Thời cổ, Trung Quốc là quốc gia đông người nhất và có nền văn minh tiên tiến nhất châu Á. Nền văn hóa Hán ngữ của họ có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ở phía Tây nước này, ngày xưa dùng chữ A Rập, sau nhiều năm giao lưu với người Hán cũng toàn bộ dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Ngay cả các dân tộc nhỏ nhưng mạnh về quân sự, sau khi thôn tính và thống trị Trung Quốc được ít lâu cũng bị nền văn hóa Hán ngữ đồng hóa.

Thí dụ dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc và lập triều đại nhà Thanh đã lập tức tiến hành đồng hóa dân tộc Hán: cưỡng bức đàn ông Hán phải cạo nửa đầu và để đuôi sam, phải bỏ chữ Hán mà chỉ dùng chữ Mãn làm chữ viết chính thức trên cả nước. Nhưng đến giữa đời Thanh, tức sau khoảng 100 năm thì tiếng Mãn cùng chữ Mãn đều biến mất, từ đó trở đi người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán, nghĩa là họ lại bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa của dân tộc bị họ cai trị lâu tới 267 năm!

Các nước đế quốc thực dân sau khi chiếm thuộc địa đều cưỡng chế đồng hóa ngôn ngữ dân bản xứ, quá trình này diễn ra khá nhanh, nhìn chung sau 5-6 thế hệ (mỗi thế hệ 25 năm), tiếng nói của người bản xứ đã bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Đầu thế kỷ XV, Brazil bị Bồ Đào Nha chiếm, chẳng bao lâu tiếng Bồ trở thành ngôn ngữ chính thức duy nhất của người Brazil. Nhiều thuộc địa Pháp ở châu Phi như Bénin, Togo, Sénegan… dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính duy nhất. Năm 1918 nước ta bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối tiểu học, 10-20 năm sau toàn bộ học sinh trung học cơ sở trở lên đến trường đã chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ giảng dạy bằng tiếng Pháp. Nếu cứ thế dăm chục năm nữa thì có lẽ Việt Nam đã trở thành nước nói tiếng Pháp.

Thế nhưng sau hơn 1.000 năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa, vẫn giữ nguyên được nòi giống, tiếng nói và phong tục tập quán.

Đây quả là một điều kỳ diệu có lẽ chưa dân tộc nào khác làm được. Đáng tiếc là chưa thấy nhiều người quan tâm nghiên cứu vấn đề này, một thành tựu vĩ đại đáng tự hào nhất của dân tộc ta (nói cho đúng là của tổ tiên ta thôi, còn chúng ta bây giờ thua xa các cụ).

Vì sao tổ tiên ta có thể làm được kỳ tích ấy ? Có người nói đó là do dân ta giàu tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, xã hội có cơ chế làng xã bền chặt, v.v… Nói như vậy có lẽ còn chung chung, nếu đi sâu phân tích tìm ra được nguyên nhân cụ thể thì sẽ giúp ích hơn cho việc phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc ta. Thực tế cho thấy tổ tiên ta giành được thắng lợi chống đồng hóa không phải bằng đấu tranh vũ trang mà chủ yếu bằng tài trí.

Xin nói thêm rằng chính người Trung Quốc cũng rất quan tâm vấn đề này. Chúng tôi đã thử nêu lên mạng Bách Độ (Baidu) của họ câu hỏi “Vì sao Trung Quốc thống trị Việt Nam hơn 1.000 năm mà Việt Nam không bị đồng hóa?”

Từ hàng triệu kết quả, có thể thấy đa số dân mạng Trung Quốc đều có chung một thắc mắc lớn: Vì sao bị Trung Quốc thống trị lâu thế mà người Việt Nam vẫn không nói tiếng Trung Quốc? Nói cách khác, họ coi đồng hóa ngôn ngữ là tiêu chuẩn đồng hóa quan trọng nhất và đều thừa nhận Trung Quốc đã không đồng hóa nổi Việt Nam. Họ tỏ ra tiếc nuối về sự kiện Việt Nam sau hơn 10 thế kỷ từng là quận huyện của Trung Quốc, từng dùng chữ Hán hàng nghìn năm mà rốt cuộc lại trở thành một quốc gia độc lập, dùng chữ Latin hóa, ngày nay là nước chống lại mạnh nhất chính sách xâm lấn Biển Đông của Bắc Kinh.

Do hiểu biết Việt Nam rất ít, thậm chí hiểu sai, hầu hết dân mạng Trung Quốc không tìm được lời giải thắc mắc trên, kể cả người tỏ ra am hiểu lịch sử nước ta. Họ nêu các lý do:

– Văn hóa Việt Nam có trình độ Hán hóa cao(?), người Việt rất hiểu và không phục Trung Quốc;

– Việt Nam ở quá xa Trung nguyên, khí hậu nóng, quan lại người Hán ngại sang Việt Nam làm việc, đã sang thì chỉ lo làm giàu, không lo đồng hóa dân bản xứ;

– Các nhân vật tinh hoa Trung Quốc như Lưu Hy, Hứa Tĩnh, Hứa Từ, Viên Huy (劉熙、許靖、許慈、袁徽) chạy loạn sang Việt Nam đã giúp nước này có nền văn hóa không kém Trung Quốc;

– Người Hán di cư đến Việt Nam đều bị người bản xứ đồng hóa v.v…

Nói chung họ đều chưa thấy, hay cố ý lờ đi nguyên nhân chính là ở tài trí của người Việt.

Nhưng họ nói người Việt Nam hiểu Trung Quốc là đúng. Do sớm hiểu rõ ý đồ thâm hiểm của phong kiến người Hán muốn đồng hóa dân tộc ta nên tổ tiên ta đã kịp thời đề ra đối sách. Cụ thể là đã tìm ra cách giữ gìn được tiếng nói của dân tộc mình trong quá trình bị bọn thống trị người Hán cưỡng bức học chữ Hán.

Mấy nghìn năm sau, một học giả lớn của dân tộc ta tóm tắt bài học lịch sử này trong một câu nói rất chí lý: “Tiếng ta còn thì nước ta còn!

Sau khi chiếm nước ta (203 tr. CN), Triệu Đà đã ép buộc dân ta học Hán ngữ, nhằm đồng hóa họ bằng ngôn ngữ. Có lẽ đây là thời điểm muộn nhất chữ Hán vào nước ta.[1] Sách “Việt giám Thông khảo Tổng luận” do Lê Tung viết năm 1514 có chép việc họ Triệu mở trường dạy người Việt học chữ Hán.[2] Về sau, tất cả các triều đại người Hán cai trị Việt Nam đều thi hành chính sách đồng hóa. Triều nhà Minh còn tìm cách tiêu diệt nền văn hóa của ta, như tiêu hủy toàn bộ các thư tịch do người Việt viết, bắt nhân tài, thợ giỏi người Việt sang Trung Hoa phục dịch.

Như vậy, dân tộc ta buộc phải chấp nhận học chữ Hán từ rất sớm (trước Triều Tiên, Nhật Bản nhiều thế kỷ). Do hiểu biết người Hán nên tầng lớp tinh hoa người Việt đã nhanh chóng nhận ra nếu cứ học như thế thì cuối cùng tiếng Việt sẽ bị thay bằng tiếng Hán, dân ta sẽ trở thành một bộ phận của Trung Quốc.

Vậy cha ông ta đã dùng cách nào để giữ được tiếng nói của dân tộc trong hơn 1.000 năm bị cưỡng bức học và dùng chữ Hán cũng như phải tiếp thu nhiều yếu tố của nền văn minh Trung Hoa?

Vấn đề này rất cần được làm sáng tỏ để từ đó hiểu được truyền thống quý báu của dân tộc ta. Dưới đây chúng tôi xin mạo muội góp vài ý kiến nông cạn, nếu có sai sót mong quý vị chỉ bảo.

Đọc chữ Hán bằng tiếng Việt: Một sáng tạo xuất sắc của tổ tiên ta

Chữ viết hình vuông là một phát minh lớn của nền văn minh Trung Hoa, được người Hán chính thức sử dụng từ đời nhà Thương (thế kỷ 16 đến 11 tr. CN), ngày nay phổ biến được gọi là chữ Hán.

Thực ra trong hơn 2.000 năm kể từ ngày ra đời, thứ chữ viết ấy chỉ được người Hán gọi là chữ  (tự) hoặc văn tự 文字. Đến đời Đường (thế kỷ VII) cái tên 漢字 (Hán tự, tức chữ Hán) mới xuất hiện lần đầu trong sách Bắc Sử 北史 do Lý Diên Thọ biên soạn.[3] Sau đó người Nhật và người Triều Tiên cũng gọi thứ chữ này là Hán tự: tiếng Nhật đọc Kanji, tiếng Triều Tiên đọc Hantzu. Cho tới nay Bộ Giáo dục Đài Loan vẫn chỉ gọi là Quốc tự 國字.

Vì thứ chữ ấy khi vào Việt Nam còn chưa có tên nên tổ tiên ta bèn đặt cho nó cái tên là chữ Nhovới ý nghĩa là chữ của người có học, bởi lẽ Nho  là từ dùng để gọi những người có học. Dân ta gọi người dạy chữ là thầy đồ Nho, bút và mực họ dùng để viết chữ là bút Nho và mực Nho.[4]

Đây quả là một điều độc đáo, bởi lẽ Hán ngữ xưa nay chưa hề có khái niệm chữ Nho; tất cả từ điển Hán ngữ cổ hoặc hiện đại và các từ điển Hán-Việt đều không có mục từ Nho tự 儒字 với ý nghĩa là tên gọi của chữ Hán.

Có thể suy ra: Việt Nam thời xưa không có chữ viết (hoặc đã có chữ Việt cổ nhưng chưa hoàn thiện, chưa diễn tả được các khái niệm trừu tượng), vì thế khi tiếp xúc với chữ Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã nhận thấy đây là một phương tiện cực kỳ hữu ích dùng để truyền thông tin được xa và lâu, không bị hạn chế về khoảng cách và thời gian như cách truyền thông tin bằng tiếng nói, do đó họ đã sớm nghĩ tới việc mượn thứ chữ này làm chữ viết của dân tộc ta.

Muốn vậy dân ta phải biết chữ Hán, một thứ ngoại ngữ. Làm cho dân chúng học và dùng được một ngoại ngữ là việc hoàn toàn bất khả thi ở thời ấy. Hơn nữa chữ Hán cổ khó đọc (vì không biểu âm), khó viết (vì có nhiều nét và cấu tạo phức tạp), khó nhớ (vì có quá nhiều chữ), thuộc loại chữ khó học nhất trên thế giới.

Nói chung, mỗi chữ viết đều có một âm đọc; không ai có thể xem một văn bản chữ mà không vừa xem vừa đọc âm của mỗi chữ (đọc thầm hoặc đọc thành tiếng). Mỗi chữ Hán đều có một âm tiếng Hán; muốn học chữ Hán tất phải đọc được âm của nó. Viết chữ Hán khó, tuy thế tập nhiều lần sẽ viết được, nhưng do khác biệt về hệ thống ngữ âm, người Việt nói chung khó có thể đọc được các âm tiếng Hán.

Ngoài ra Trung Quốc là một nước rộng lớn, đông dân; cho tới trước nửa cuối thế kỷ 20 cả nước vẫn chưa thống nhất được âm đọc của chữ. Loại chữ này chỉ thể hiện ý nghĩa, không thể hiện âm đọc, cho nên nhìn chữ mà không biết cách đọc. Người dân các vùng xa nhau thường đọc chữ Hán theo âm khác nhau, thậm chí khác xa nhau, vì thế thường không hiểu nhau nói gì. Các thứ tiếng địa phương ấy ta gọi là phương ngữ, người Hán gọi là phương ngôn (方言); Hán ngữ hiện có 7 phương ngữ lớn, nhiều phương ngữ nhỏ (次方言).

Không thống nhất được âm đọc chữ Hán là một tai họa đối với người Hán. Với người nước ngoài học chữ Hán cũng vậy: khi mỗi ông thầy Tàu đọc chữ Hán theo một âm khác nhau thì học trò khó có thể học được thứ chữ này.

Để có thể học được chữ Hán mà không cần đọc âm tiếng Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã sáng tạo ra một giải pháp xuất phát từ ý tưởng: nếu người Hán khác vùng có thể tự đọc chữ Hán theo âm riêng của vùng, thì ta cũng có thể đọc chữ Hán theo âm riêng của người Việt.

Muốn vậy, mỗi chữ Hán được tổ tiên ta quy ước đọc bằng một (hoặc vài, tùy chữ Hán gốc) âm tiếng Việt xác định có gốc là âm chữ Hán — ngày nay gọi là âm Hán-Việt, nghĩa là mỗi chữ Hán đều được đặt cho một (hoặc vài) cái tên tiếng Việt xác định, gọi là từ Hán-Việt.

Thí dụ chữ  được đặt tên là chữ Thủy, âm đọc thủy khác với âm đọc shuẩy của người Hán. Chữ , tiếng Hán đọc sưa, ta đọc sắcThủy và Sắc là từ Hán-Việt, cũng là âm Hán-Việt của .

Âm/từ Hán-Việt được chọn theo nguyên tắc cố gắng bám sát âm Hán ngữ mà tổ tiên ta từng biết.[5] Như chữ , âm Hán và âm Hán-Việt đều đọc chung, tức hệt như nhau; chữ , Hán ngữ đọc hái, ta đọc Hài, gần như nhau. Nhưng hầu hết chữ đều có âm Hán-Việt khác âm Hán. Như 集 âm Hán là chí, ta đọc Tập ;  giú, ta đọc Nho. Có chữ âm Hán như nhau mà âm Hán-Việt có thể như nhau hoặc khác nhau, như  và , âm Hán đều là thúng, từ Hán-Việt đều là Đồng ; nhưng  và , âm Hán đều là xi, lại có hai từ Hán-Việt khác nhau là Hệ và Tế. Chữ Hán có hai hoặc nhiều âm thì có thể có một, hai hoặc nhiều âm/từ Hán-Việt, như  có hai âm Hán là tâu và tu, lại chỉ có một âm/từ Hán-Việt là Đô ;  có hai âm Hán shảo và shao, cũng có hai âm/từ Hán-Việt là Thiểu (trong thiểu số) và Thiếu (trong thiếu niên).

Thứ chữ Hán đọc bằng âm Hán-Việt này được dân ta gọi là chữ Nho. Vì đọc chữ bằng tiếng mẹ đẻ nên chữ Nho trở nên dễ học đối với người Việt: chỉ cần học mặt chữ, nghĩa chữ và cách viết văn chữ Hán mà không cần học phát âm cũng như học nghe/nói tiếng Hán. Vì thế thời xưa ở nông thôn nước ta không hiếm người 6-7 tuổi đã biết chữ Nho.[6] Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) 12 tuổi đỗ Cử nhân, 16 tuổi đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ). Người không biết chữ cũng có thể học truyền miệng các tác phẩm ngắn có vần điệu, như Tam Thiên Tự.[7]

Người biết chữ Nho có thể xem hiểu các thư tịch chữ Hán, viết văn chữ Hán; tuy không nói/nghe được tiếng Hán nhưng vẫn có thể dùng bút đàm để giao tiếp bình thường với người Hán. Chỉ bằng bút đàm chữ Nho, Phan Bội Châu giao tiếp được với các nhà cải cách Trung Quốc và Nhật Bản, đưa được mấy trăm thanh niên Việt Nam sang Nhật học quân sự chính trị, chuẩn bị về nước đánh đuổi thực dân Pháp.

Cần nhấn mạnh: vì âm/từ Hán-Việt không thể ghi âm hầu hết từ ngữ tiếng Việt cho nên cách đọc chữ Hán theo âm Việt hoàn toàn không thể biến tiếng Việt thành một phương ngữ của Hán ngữ,[8] và dân ta vẫn hoàn toàn nói và nghe bằng tiếng mẹ đẻ.

Chữ Nho chỉ dùng để viết mà thôi, và chỉ được giới tinh hoa (trí thức và quan lại người Việt) dùng trong giao dịch hành chính, ngoại giao, lễ tiết, chép sử, giáo dục, thi cử, sáng tác văn thơ. Còn ở Trung Quốc, những người nói một trong các phương ngữ tiếng Hán đều có thể dùng chữ Hán để ghi âm được toàn bộ tiếng nói của phương ngữ ấy, nghĩa là họ có thể dùng chữ Hán để ghi âm tiếng mẹ đẻ.

Dĩ nhiên cách đọc tiếng Việt chỉ có thể làm với chữ Hán, là loại chữ biểu ý (ghi ý), chứ không thể làm với chữ biểu âm (ghi âm). Ngày nay âm/từ Hán-Việt của mỗi chữ Hán có thể dễ dàng viết ra bằng chữ Quốc ngữ (một loại chữ ghi âm), nhưng ngày xưa, khi chưa có bất kỳ loại ký hiệu nào ghi âm tiếng nói, tổ tiên ta chỉ có thể truyền khẩu. Thế mà lạ thay, việc dạy chữ Nho đã được mở rộng, ở thời Nguyễn là đến tận làng, có thể suy ra tỷ lệ người biết chữ Hán của dân ta cao hơn Trung Quốc!

Chỉ bằng cách truyền miệng mà người Việt thời xưa đã tạo ra được một bộ từ Hán-Việt tương ứng với bộ chữ Hán khổng lồ — bộ chữ này trong Tự điển Khang Hy (1716) có hơn 47 nghìn chữ; Tiêu chuẩn Nhà nước Trung Quốc GB18030 (2005) có 70.217 chữ; Trung Hoa Tự hải có 85.568 chữ Hán.

Quá trình tiến hành Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán kéo dài trong hàng nghìn năm, là một thành tựu văn hóa vĩ đại. Có thể phỏng đoán đó là một quá trình mở, do nhiều thế hệ người Việt thực hiện, thể hiện sức sáng tạo bất tận của tổ tiên ta.

Nhật và Triều Tiên cũng mượn dùng chữ Hán, nhưng họ tự đến Trung Hoa nghiên cứu đem chữ Hán về dùng chứ không bị ép dùng từ sớm như ta. Họ cũng đọc chữ Hán theo âm bản ngữ của dân tộc mình — giải pháp do người Việt nghĩ ra và thực hiện trước họ nhiều thế kỷ.

Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Nguyễn Tài Cẩn nói: “Cách đọc Hán Việt là một tài sản của riêng dân tộc ta. Có dùng nó khi đọc Đạo đức kinh, Kinh Thi, Sở từ… thì mới phù hợp với thói quen dân tộc, tiện lợi cho dân tộc. Theo ý chúng tôi, dùng cách đọc Hán Việt ở những trường hợp này là một điều hết sức phù hợp với khoa học. Đọc theo lối Hán Việt thì dễ hiểu hơn, bởi lẽ ngay trong tiếng Việt đã có khá nhiều tiếng Hán Việt quen thuộc, chỉ đọc lên, nghe được, là hiểu được; đọc theo lối Hán Việt thì cũng thuận tai hơn… ”.[9]

Đúng thế. Thí dụ từ 社會, người Anh biết Hán ngữ đọc shưa huây, người Anh không biết Hán ngữ khi nghe âm đọc ấy sẽ chẳng hiểu gì; còn người Việt biết Hán ngữ đọc “xã hội”, người Việt không biết Hán ngữ nghe đọc sẽ hiểu ngay nghĩa của từ; âm “xã hội” thuận tai, dễ đọc dễ nhớ hơn âm shưa huây. Rõ ràng cách đọc Hán-Việt thật tiện lợi cho người Việt. Trong bài sau, chúng tôi sẽ nói thêm về vấn đề này.

Ngày nay mỗi chữ Hán trong tất cả các từ điển Hán-Việt đều phải ghi kèm từ Hán-Việt tương ứng. Hán-Việt Tự điển của Thiều Chửu có kèm Bảng tra chữ theo âm Hán-Việt, dùng tra chữ Hán rất tiện và nhanh hơn tra theo bộ thủ. Người có sáng kiến làm Bảng này là bà Nguyễn Thị Quy (1915-1992), em ruột Thiều Chửu, khi bà lần đầu xuất bản Tự điển nói trên tại Sài Gòn năm 1966.[10]

Như vậy, bằng cách đọc chữ Hán theo âm tiếng Việt, tổ tiên ta đã thành công trong việc mượn chữ Hán để dùng làm chữ viết chính thức của dân tộc mình và gọi nó là chữ Nho. Sự vay mượn này chẳng những không làm cho tiếng Việt bị biến mất mà còn làm cho nó phong phú hơn rất nhiều, trở thành một ngôn ngữ cực kỳ linh hoạt, có thể tiếp nhận và Việt hóa hầu như toàn bộ từ ngữ mới xuất hiện trong tiến trình phát triển của loài người toàn cầu.

Chữ Nho khác chữ Hán ở phần ngữ âm: nó là chữ Hán được đọc bằng âm tiếng Việt chứ không đọc bằng âm tiếng Hán như chữ người Hán dùng. Nói cách khác, chữ Nho là chữ Hán đã được Việt Nam hóa phần ngữ âm; còn về tự dạng và nghĩa chữ thì cơ bản như chữ Hán của người Hán. Vì thế có người gọi chữ Nho  chữ Hán-Việt.

Rõ ràng nó là chữ của người Việt Nam, đã Việt Nam hóa phần ngữ âm, không thể coi là chữ của người Hán. Chữ Nho là chữ viết chính thức của dân tộc ta trong hơn 2.000 năm, kể từ thời điểm muộn nhất là bắt đầu thời Bắc thuộc cho tới khi được thay thế bằng chữ Quốc ngữ cực kỳ ưu việt, được chính các nhà Nho tiên tiến tán thưởng và đi tiên phong ủng hộ sự phổ cập Quốc ngữ.

Cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt đã đáp ứng nhu cầu giao tiếp bằng bút đàm giữa quan lại cấp thấp người Việt với quan lại cấp cao người Hán, khiến cho bọn thống trị người Hán vẫn thực thi được quyền lực cai trị dân bản xứ. Hơn nữa, cách đó làm cho việc phổ cập chữ Hán trong người Việt trở nên dễ dàng, tức đáp ứng yêu cầu dạy chữ Hán của các vương triều người Hán. Vì vậy chúng không còn lý do cưỡng chế dân ta phải học nghe/nói tiếng Trung Quốc.

Cách đọc chữ Hán như trên đã có tác dụng không ngờ là làm cho người Hán dù có cai trị Việt Nam bao lâu thì cũng không thể tiêu diệt nổi tiếng Việt và Hán hóa được dân tộc ta. Có thể là khi bắt đầu sáng tạo cách đọc ấy, tổ tiên ta chưa nghĩ tới điều đó, nhưng rốt cuộc sáng tạo xuất sắc này đã giúp dân tộc ta tránh được nguy cơ bị người Hán đồng hóa. Đây là một thành công vĩ đại!

Đáng tiếc là hiện không thấy có thư tịch nào ghi chép ai nghĩ ra và thời điểm nào xuất hiện cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt. Có thể cho rằng sáng kiến đó ra đời khi chữ Hán bắt đầu vào nước ta, tức muộn nhất là khoảng thế kỷ 2 – 1 tr.CN.

Có ý kiến cho rằng cách đọc Hán-Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng hai thế kỷ 8, 9.

Nếu hiểu ý kiến này theo nghĩa đến đời Đường mới xuất hiện cách đọc Hán-Việt thì e rằng khó có thể giải đáp câu hỏi: vậy thì trong thời gian khoảng ngót 1000 năm trước đó người Việt đọc chữ Hán bằng cách nào? Đến đời Đường, người Hán đã thống trị Việt Nam được hơn 9 thế kỷ, quá thừa thời gian để họ hoàn toàn đồng hóa người Việt bằng văn hóa, ngôn ngữ, khi ấy tiếng Việt đã bị biến mất, sao còn có thể xuất hiện cách đọc Hán-Việt?

Phải chăng nên hiểu ý kiến trên theo nghĩa: đến thời Đường, cách đọc Hán-Việt được hoàn thiện nhờ học tập Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ 8 – 9.

***

Có thể kết luận: dân tộc Việt Nam tồn tại được và không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm chịu sự thống trị của một quốc gia liền kề có nền văn hóa lớn mạnh là nhờ đã phát huy bản lĩnh trí tuệ của mình, thể hiện ở chỗ sáng tạo được biện pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Hoa.

Có những người Hán đã nhận ra bản lĩnh trí tuệ ấy của người Việt.

Năm 987, nhà Tống cử Lý Giác李覺 đi sứ sang Hoa Lư, Việt Nam, được hai vị Quốc sư Khuông Việt và Pháp Thuận đón tiếp, đàm phán các vấn đề quốc gia đại sự và họa thơ. Khi về nước, Lý Giác tặng vua Lê Đại Hành một bài thơ, trong có câu: “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu 天外有天應遠照”, nghĩa là: “Ngoài trời này còn có trời khác, nên nhìn thấy”. Nói cách khác, thế giới này đâu phải chỉ có một mặt trời Trung Hoa mà còn có mặt trời Việt Nam!

Câu thơ cho thấy Lý Giác đã bước đầu nhận ra bản lĩnh trí tuệ của người Việt. Đúng thế, tổ tiên ta thật vô cùng tài giỏi, nếu không thì còn đâu giang sơn tươi đẹp này!

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

—————————

[1] Nói là “muộn nhất” vì còn có các quan điểm như: chữ Hán vào VN qua con đường giao thương hoặc truyền bá tôn giáo từ lâu trước khi nước ta bị Triệu Đà chiếm; VN đã có chữ viết từ đời Hùng Vương (Hoàng Hải Vân: Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động).

[2]宋代中越文学交流述 có câu 黎嵩越鑑通考總論 viết : 趙佗建立學校,導之經義。由此已降,四百余年,頗有似類” .

[3] Bài 汉字名称的来由 (http://blog.sina.com.cn) và một số bài khác có viết: Từ  Hán tự  漢字 xuất hiện sớm trong Bắc sử, quyển 9 [biên soạn xong năm 659]. 汉字一词早出自《北史》卷九本纪第九, “章宗一十八年,封金源郡王.习本朝语言小字汉字经书,进士完颜匡、司经徐孝美等侍读”. Từ Hán tự xuất hiện nhiều trong sách Kim sử 金史 (năm 1345) đời Nguyên. Ở đời nhà Thanh (1644-1911), thời kỳ đầu do chữ viết chính thức của chính quyền không phải là chữ Hán mà là chữ Mãn (满文) nên phải dùng tên gọi chữ Hán 漢字 để chỉ loại văn tự truyền thống của người Hán, nhằm phân biệt với chữ Mãn.

[4] Có ý kiến nói do thời bấy giờ thứ chữ đó được dùng để dạy dân ta học Nho giáo 儒教 nên dân ta gọi nó là chữ Nho. Nhưng Nho với nghĩa “người có học” xuất hiện trước rất lâu, sau đó mới dùng chữ ấy vào từ Nho giáo để gọi học thuyết của Khổng Tử. Cùng lý do ấy, chữ Khổng có trước khi Khổng Tử ra đời.

[5] Khó có thể biết đó là âm tiếng địa phương nào ở TQ. Trong đó có những âm tiếng Quảng Đông, như nhất, nhì, shập, học chập khi đọc các chữ  一,二,十,學習 (âm Hán-Việt đọc nhất, nhị, thập, học tập).

[6] Thí dụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) 8 tuổi học chữ Nho, 13 tuổi văn hay chữ tốt, 24 tuổi đậu Giải Nguyên, 28 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ. Phan Bội Châu (1867-1940) 6 tuổi học ba ngày đã thuộc lòng 1440 chữ Nho trong Tam Tự Kinh. Trần Gia Minh tác giả sách Huyền thoại Kim thiếp Vũ Môn 5-6 tuổi đã học chữ Nho truyền khẩu từ người ông mù lòa.

[7] Do nhà Nho Đoàn Trung Còn sáng tác, là một bài vè dài, mỗi câu hai âm, đọc lên có vần điệu dễ nhớ.

[8] Năm 1867, G. Aubaret trong cuốn Grammaire annamite từng sai lầm nhận định: “Tiếng bình dân nói trong vương quốc An Nam là một phương ngữ của tiếng Trung Quốc” (trích dẫn theo Phạm Thị Kiều Ly trong “Ghi âm tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ”, sách “Tiếng Việt 6”, Nxb Tri Thức, 2015).

[9] Nguyễn Tài Cẩn : Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt.

[10] Dẫn theo Lê Quốc Trinh, con trai bà Quy và là người trực tiếp tham gia làm Bảng tra này.