NHÂN TÂM

Lương Văn Can

NHÂN TÂM

Tôi nhớ hồi còn nhỏ, có lần một người đàn ông ghé vào nhà tôi xin tiền. Ông nói ở quê lên đây chữa bệnh, giờ đã mất hết tiền rồi, không còn tiền về quê nên ông phải đi xin. Mẹ tôi đưa cho ông số tiền ít ỏi bà có và hỏi ông ăn cơm chưa rồi bảo tôi xới cho ông bát cơm nguội với mắm. Bà lấy cho ông cái áo của anh tôi cho ông ấy mặc…

Ông ăn xong, cầm cái áo và tiền cứ vừa đi thụt lùi ra cổng vừa chắp tay chấp bái vừa nói:

– “Tôi đội ơn cô, cầu Trời Phật ban phước cho nhà mình….!”*

Với một đứa trẻ ở quê, đó là một câu chuyện lạ, tôi tò mò níu áo Mẹ,

– “Mẹ, ông ấy quê ở đâu…? Ông ấy bị bệnh gì…? Ông ấy đi xin được nhiều tiền không…?”

Mẹ mỉm cười:

– “Mẹ không hỏi.”

– “Tại sao Mẹ không hỏi…?”

– “Ừ, người ta xa quê, rơi vào cảnh khốn cùng thì hỏi về quê hương là đụng vào nỗi đau của họ. Người thành đạt rất tự hào khi nói về quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, người sa cơ thì xấu hổ khi nói về quê của mình. Mình cho người ta có một chút mà mình lại chạm vào nỗi đau, nỗi xấu hổ của người ta thì không phải, không đúng. Làm vậy là ác tâm…!”

Tôi lại băn khoăn:

– “Ông ấy sắp chết hả Mẹ…?” Ông ấy có xin đủ tiền về quê không…?”

Mẹ nhìn xa xăm…

– “Ừ, phần lớn con người dù có thế nào thì vẫn muốn khi mất, được chôn trên mảnh đất nơi mình sinh ra, nơi chôn nhao cắt rốn… Cái đó gọi là tình yêu quê hương….! À, lúc nãy con đưa cho chú ấy bát cơm bằng một tay rồi chạy biến đi không mời là sai đấy nhé…!”

Tôi xấu hổ dụi mặt vào ngực Mẹ. Bà nghiêm khắc:

– “Tại sao con được dạy đưa đồ cho người lớn phải đưa bằng hai tay mà hôm nay con lại chỉ đưa bát cơm bằng một tay cho chú…? Chú ấy đi xin, nhưng không có nghĩa là con được phép đưa đồ cho chú bằng một tay…

Làm vậy người ta sẽ nghĩ Mẹ không biết dạy con tôn trọng lễ phép với người lớn tuổi. Hôm nay, người ta phải đi xin hay sắp chết thì con người vẫn luôn có phẩm giá của họ. Con không được khinh khi người ta vì biết đâu sau này mình sẽ như họ…!”

Tôi càng xấu hổ và rúc sâu hơn vào lòng Mẹ vì biết mình sai…

Ngày bé, những bài học Mẹ dạy cứ nhẹ nhàng như vậy nhưng nó đi vào đầu tôi và ở đó, không thể quên. Những bài học đã hình thành nên tính cách, con người của tôi hiện tại. Khi lớn, tôi mới hiểu hết những lời dặn và sự tinh tế trong cách cư xử, trong các bài học của Mẹ. Nó cũng làm cho tôi nhận biết người có nhân tâm hay ác tâm, tinh tế hay hời hợt qua hành vi, lời nói, cách ứng xử, hành động, hành vi của họ chứ không phải nhân danh việc của họ làm.

Khi chịu khó để ý, suy nghĩ để nhận ra đâu là hành động xuất phát từ nhân tâm, đâu là từ nhân danh nhân tâm, ta sẽ thấy có rất nhiều việc làm nhân danh nhân tâm nhưng thật ra nó lại phục vụ cho một mưu toan, mục đích khác…

Đôi khi chúng ta để cho bản thân bị đánh lừa và khi số đông bị lừa thì nó sẽ là tai hoạ cho xã hội, cho cả dân tộc…

Tôi khát khao, khi đất nước tự do, các bài học trong môn văn học và giáo dục công dân là những bài học đơn sơ như thế, để con người có thể phân định rõ các giá trị và trả nó về đúng giá trị của nó, dần loại bỏ các hành động nhân danh để xã hội là một xã hội trung thực và nhân văn đúng nghĩa…!

– Kim Oanh Phung –

DU HỌC SINH: “ĐI ĐI, ĐỪNG VỀ!”

Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Bạn Bè

Thuận Đinh  

Đến con cháu của thg hồ, thg giáp…mà còn chẳng thèm về, thì đủ hiểu rồi hén.

Báo Tin Tức Việt Đức

 DU HỌC SINH: “ĐI ĐI, ĐỪNG VỀ!”

Đây là những tâm sự thật của một bạn du học sinh Mỹ vừa về Việt Nam trong đợt hè 2018. Tôi quyết định giấu tên người chia sẻ câu chuyện này.

Góc nhìn Việt Nam: ‘Đi Mỹ được rồi, về làm gì?

Tôi năm nay 21 tuổi, đang du học tại Mỹ. Kết thúc 4 năm Đại học, tôi muốn về Việt Nam. Nhưng ai cũng ngăn cản: ‘Đi đi, đừng về!’

Bố mẹ tôi làm trong ngành y. Hai người bắt đầu nói về chuyện du học và định cư tại Mỹ khi tôi mới học 11. Mẹ thường hay kể công việc hằng ngày tại bệnh viện, để tôi hiểu lời hối thúc ‘đừng về Việt Nam’ bắt nguồn từ 20 năm sống trong bức xúc của mẹ: ‘Bệnh viện của mẹ có một bác giám đốc lên chức từ những năm 80. Kể từ đó, bác đã cho không biết bao nhiêu họ hàng từ Bắc, Trung vào làm hộ lý, điều dưỡng, kỹ thuật viên,…

Với ‘quyền lực mềm’ của giám đốc, bác chỉ nói một tiếng, có anh trưởng khoa nào không dám nhận người? Toàn con ông cháu cha. Còn những sinh viên chính quy, nắm tấm bằng Đại học, phải trầy trật khổ sở để được bước chân vào cổng viện. Không chỉ ở đây, mà bất cứ nơi đâu tại Việt Nam này cũng có ‘quyền lực mềm’ giống thế hoặc hơn thế. Nhiễu nhương lắm. Hách dịch lắm. Về làm gì hả con?’

Khi không thuyết phục được tôi, ba mẹ viện đến dì. Dì bảo: ‘Dì hiểu là con muốn về Việt Nam để cống hiến. Nhưng, ở nơi này, tài năng của con không có cơ hội phát triển. Tìm cách định cư đi. Khi đã có kinh tế, con muốn làm gì cho quê hương mà chẳng được!’ Không chỉ bố mẹ, dì, mà các bác đang sống ở Mỹ đều đồng ý với quan điểm ấy.

Lăng kính Mỹ: ‘Lý do nào để quay về quê hương?’

Trong vòng tròn bạn bè của tôi, chỉ ra ai không muốn về Việt Nam thì rất dễ. Còn tìm người quyết tâm trở lại thì thật khó khăn. Nhiều bạn lưỡng lự, không ai dám chắc chắn hai chữ: ‘Sẽ về!’

Tôi có một cô bạn thân đang học ngành Công nghệ thực phẩm. Cô bảo: ‘Ngành mình học, về nước không xài được. Còn đường ở Canada thì rộng mở. Mình không muốn trở về để chật vật kiếm một chỗ làm sau 4 năm vất vả!’ Một người bạn khác chia sẻ: ‘Từ lúc quyết tâm theo đuổi sự nghiệp sản xuất âm nhạc, mình đã biết.

Tại Việt Nam, mình sẽ không làm được.’ Một chị theo học kinh tế thì bảo: ‘Đơn giản chị không muốn!’ Chị đang đi thực tập rất nhiều nơi, kiếm tìm một chỗ tài trợ visa cho mình. Anh bạn học kỹ sư hóa, vừa apply thạc sĩ thành công nói với tôi: “Anh thích nghiên cứu khoa học, Việt Nam sao có đất cho anh?

Về ư? Anh không thể.” Những thằng Mỹ thì hỏi thẳng vào mặt tôi: ‘Tụi mày từ Việt Nam đến đây học, thụ hưởng văn hóa của tụi tao, thụ hưởng cả những đồng tiền bố mẹ tao còng lưng đóng thuế. Học xong mày phủi tay quay về nước, thế thì có công bằng với tụi tao hay không?’

Giữa dòng ý kiến ‘Đi đi, đừng về!’ dữ dằn như thác lũ đẩy tôi lùi lại, tôi nhìn về quê hương, cố gắng tìm một lý do cho mình quay lại. Nhưng tìm hoài mà không thấy.

Chưa bao giờ sách giáo khoa nói về những cái cúi đầu của chúng tôi trên đất Mỹ, vì nỗi tự ti quê hương thua kém hơn, mà chỉ bảo: ‘Nước ta rừng vàng biển bạc.’ Chưa bao giờ chúng tôi được dạy về ‘trách nhiệm công dân’.

Chúng tôi chỉ học ganh đua điểm số, chứ không học cách cùng nắm tay nhau mà đi xây dựng đất nước. Chưa bao giờ bố mẹ nói tôi phải có trách nhiệm với Việt Nam, mà chỉ nói: ‘Đừng về để dẫm vào đường cụt. Trên mảnh đất này, người tài không có cơ hội. Vì tương lai của con, hãy đi đi!” Việt Nam ơi, người có cho tôi một lý do để trở về?’

________________

Tâm sự của một du học sinh Mỹ trong dịp hè về thăm Việt Nam

Đỗ Thanh Lam

Bàn cờ thế cuộc

Bàn cờ thế cuộc

Bởi  AdminTD

 Tạ Duy Anh

5-2-2022

Từ năm 1957, trong cuốn “Chính đề Việt Nam”, của Tùng Phong (nghe nói là bút danh của ông Ngô Đình Nhu) tác giả đã đưa ra tiên đoán trước sau nước Nga cũng sẽ quay lại châu Âu, như trở về đại gia đình văn hóa của mình.

Năm 1991, điều này đã xảy ra.

Nhưng 30 năm sau dưới thời Pu-tin, nước Nga lại phải tìm đến Trung Quốc, kẻ thù lịch sử của mình, bằng thái độ nhún nhường, cầu cạnh của kẻ dưới. Thực sự thì Nga đang dung dưỡng một con hổ luôn đói mồi ngay trong nhà. Giới tinh hoa của nước Nga sẽ khó mà nuốt trôi viên thuốc đắng này.

Vì đâu nên nỗi?

Hẳn Pu-tin, một cáo già chính trị, biết rất rõ câu trả lời.

Nếu ông đã đọc cuốn “Sự trả thù của địa lý”, chắc cũng sẽ đồng ý với kiến giải của tác giả vì sao tổ tiên của ông cứ phải mở rộng lãnh thổ ra đến mênh mông như vậy?

Tuyên bố chung Nga-Trung, nghe thì hùng hồn, hùng hồn từ cái đầu đề, nhưng vẫn không che đậy được sự sáo rỗng, đầy tính tạm bợ, cảnh giác nhau của hai con sói. Cảnh giác nhất là không để mày kéo tao đối đầu với Mỹ! Quân sự thì chả ai thua ai, nhưng chỉ kẻ nào dại dột mới chối bỏ miếng bánh Chúa ban cho riêng Hoa Kỳ!

Ngày mai nếu Nga tiến quân vào Kiev và bị lãnh hậu quả, Trung Quốc sẽ cười thầm theo kiểu ngư ông đắc lợi. Tình huống khác, nếu Trung Quốc huy động một triệu quân vượt eo biển Đài Loan, đối đầu với liên minh Mỹ-Nhật, Nga sẽ chờ xem thằng nào chết chìm để nâng cốc!

Bỗng nhớ Nguyễn Trần Bạt, khi ông bảo rằng, trên thế giới chỉ có vài kẻ chơi cờ, còn lại thì đều là quân cờ, đều là những kẻ “lon ton” (nguyên văn lời ông) chạy theo phía sau. Lãnh đạo của những nước thân phận quân cờ đừng cố phỉnh rằng mình cũng phải là kẻ chơi cờ, mà nên tìm cách để làm sao mình không phải là con tốt gỉn, không bị thí khi kẻ chơi cờ bí nước, hoặc khi họ tạm thời hoãn chiến!

Người Việt cứ cảm tính, hồn nhiên ủng hộ Nga chiếm Crưm, mà quên rằng mình cùng cảnh ngộ với U-crai-na: Oằn mình sống bên cạnh một nước lớn còn lâu mới văn minh.

Thủ tướng Ba Lan mới đây nói rằng: “Ở bên cạnh nước Nga, chả khác nào ở dưới chân núi lửa!” Ông chỉ nhắc lại-theo cách của ông- một câu ngạn ngữ của người Mê-hi cô: “Chúa ở xa còn nước Mỹ ngay sát nách”.

Người Việt thì ngàn đời nay vẫn truyền nhau: “Con ơi nhớ lấy câu này/ thằng tây nó tếch, thằng Tầu nó sang”.

“Nó sang”, vì nó ở ngay bên kia rặng rào.

Ba Lan đã “thoát Nga” và đang đầy kiêu hãnh trở về với thế giới văn minh, một bài học hay nhưng cực khó. Mê-hi-cô thì vừa ghét Mỹ vừa cần Mỹ, chấp nhận số phận với may mắn lớn là dù sao nước Mỹ cũng không củ chuối như Nga hay Tầu. U-crai-na thì đang vật vã giữa hai sự lựa chọn: Thần phục Nga thì yên thân, nhưng mãi mãi sống thân phận chư hầu. Thoát khỏi Nga về với châu Âu dân chủ, có thể phải đổ máu, đất nước có thể tan hoang, nhưng may ra còn thấy tương lai?

Nhưng luôn sẵn một câu hỏi khó trả lời hơn nhiều, dành cho giới tinh hoa U-crai-na: Ngay cả khi chấp nhận rủi ro lớn, thì liệu có thực sự thoát được Nga và thoát bằng cách nào?

Lựa chọn Tự do chưa bao giờ thoát khỏi cảnh khốn nạn. Ở đâu và bao giờ cũng thế. Nhưng thiếu Tự do, thì sống (dù sống trong nhung lụa) cũng không bằng chết!

MƯỜI ĐỊA DANH NỔI TIẾNG TRONG ÂM NHẠC MIỀN NAM – Phạm Văn Duyệt

MƯỜI ĐỊA DANH NỔI TIẾNG TRONG ÂM NHẠC MIỀN NAM – Phạm Văn Duyệt

ĐỒI CHARLIE

Trong vài chục năm ngắn ngủi, các nhạc sĩ thân thương của Miền Nam Tự Do đã dày công sáng tác nhiều bài hát để đời. Một số địa danh được nhắc nhở trang trọng qua những dòng nhạc lãng mạn trữ tình.

Bài này xin nêu lên mười vùng đất quê hương để cùng nhớ lại trang sử “nhạc vàng” từng được ưa chuộng mê say trước cũng như sau 1975.

  1. CẦU ÁI TỬ 

“Mẹ thương con ra cầu Ái Tử

Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu”

Chiều chiều trông về biên khu

Lòng căm hờn oán quân thù

Mở đầu là hai câu ca dao mà Nhạc Sĩ Duy Khánh nhắc lại trong bài Lối Về Đất Mẹ.

“Chiều qua giả từ đất Mẹ mà đi

Vì nghe tình quê tình nước đôi bề

Nước chia hai đường nước chưa về

Trót thương cho người lỡ câu thề

Lên đường từ ly, hỏi lòng mình lưu luyến gì”.

Vậy Ái Tử nằm ở đâu ? Vì sao tác giả nói tới địa danh này ?

Để lời lời câu hỏi đó, chúng ta hãy tham khảo wikipedia, lần giở lịch sử nước nhà giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh.

Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Lê, Nguyễn Kim (1468 – 1545) cùng một số danh tưởng khác chạy sang Ai Lao phù Lê diệt Mạc, lập nên Nhà Lê Trung Hưng (1533).

Vì quý mến tài năng Trịnh Kiểm nên Ông gả con gái Ngọc Bảo cho viên tướng này.

Sau khi Ông mất, Trịnh Kiểm lên nắm binh quyền, liền giết ngay anh vợ Nguyễn Uông. Người em còn lại Nguyễn Hoàng lo âu cho số phận mình. Thỉnh ý Trạng Trình Bỉnh Khiêm thì được lời khuyên “Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân”. Nghe xong Nguyễn Hoàng (1545 – 1613) nhờ Chị xin anh rễ cho vào trấn Thuận Hóa năm 1558. Nơi dừng chân đầu tiên là vùng đất hoang vu Ái Tử, Triệu Phong, Quảng Trị. Chúa Nguyễn đóng đô ở đây cho đến 1626 thì dời đi.

Trong thời chiến tranh Quốc- Cọng, một dạo Hoa kỳ từng sử dụng Ái Tử làm căn cứ quân sự.

Mới nghe qua ai cũng hiểu ái tử là thương con. Nhưng vì sao Duy Khánh lại mượn câu ca dao để mở đầu cho bài hát của mình?

Đây là chuyện kể của một người gốc Quảng Trị: vào giai đoạn toàn dân kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) có người chiến binh ôm mìn ngụy trang trôi theo đám lục bình bơi tới cầu Ái Tử đang thuộc quyền cai quản của Pháp với mưu toan giựt sập. Chẳng may viên lính gác cầu phát hiện bắn chết, có ngờ đâu đó là đứa con trai của mình.

Người Mẹ hay tin vội vã ba chân bốn cẳng chạy tới ôm xác kẻ lìa trần mà đau đớn tột cùng. Suốt mấy tháng trời bà vẫn hay ra cầu Ái Tử vật vã kêu gào thương khóc con. Phải chăng cảnh tượng này làm động lòng nhạc sĩ miền Trung đa tình?

PHÁ TAM GIANG

  1. PHÁ TAM GIANG

Năm 1972, Thi Sĩ Tô Thùy Yên cùng Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh viếng thăm vùng địa đầu giới tuyến. Bay ngang phá Tam Giang thấy cảnh sông nước lửng lờ trong buổi chiều tà, chợt nhớ Saigon đang bước vào mùa thi, Nhà Thơ dạt dào thi hứng làm bài thơ dài đưa cho Nhật Trường xem. Quá xúc động và đồng cảm với thi nhân, Trần Thiện Thanh phổ thành bài Chiều Trên Phá Tam Giang để rồi nhận ngay vòng nguyệt quế. Thi Sĩ nổi tiếng hơn mà Nhạc Sĩ cũng được hâm mộ nhiệt thành. Đã 50 năm trôi qua vẫn còn hằng triệu người khắp nơi ca hát xem như tâm sự của chính mình.

“Chiều trên phá Tam Giang

Anh chợt nhớ em

Nhớ ôi!  Niềm nhớ! Ôi niềm nhớ

Đến bất tận

Em ơi! em ơi!”

Phá Tam Giang rộng 50 km² chạy dài từ Sông Ô Lâu tới Cầu Hai, ngang qua hai huyện Phong Điền và Quảng Điền, Thừa Thiên, với độ sâu 2 – 4 m. Phá này được biết tiếng từ lâu với câu ca dao:

“Thương em anh cũng muốn vô

Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”.

Xưa có gã thư sinh từ xứ Nghệ vô kinh đô ứng thí. Khi ngang qua bến Sông Ô Lâu thì chàng phải lòng cô lái đò duyên dáng dễ thương. Hai người thề non hẹn biển sau khi đỗ đạt sẽ cùng kết tóc xe tơ.

Chàng thi đậu công thành danh toại, nàng ngày ngày ngóng trông tái hợp. Nhờ người nhắn gởi thì chàng mượn câu ca dao đó để thoái thác lời ước thề.

Về sau Nội Tán Nguyễn Khoa Đăng (1690 – 1725) đã điều động dân phu đào bới mở rộng cửa phá cho nên sóng biển không còn. Nhờ vậy mà tai nạn giật thuyền bè giảm hẳn.

“Phá Tam Giang ngày rày đã cạn

Truông Nhà Hồ Nội Tán dẹp tan”.

Còn cô lái đò vẫn giữ lòng chung thủy, mơ màng lặn lội băng rừng vượt núi kiếm tìm.

“Đói lòng ăn nửa trái sim

Uống lưng bát nước đi tìm người thương”.

Tới nơi mới hỡi ơi chàng đã yên bề gia thất. Nàng choáng váng xây xẩm mặt mày. Cố lê lết trở về quê cũ với nỗi niềm chua xót thở than:

“Đi đường những lách cùng lau

Những tràm với chổi bỏ nhau sao đành”.

Thế rồi không chịu nổi nghịch cảnh bị phụ tình, lỡ bước sang ngang, nàng trầm mình theo giòng nước nơi hai người từng tha thiết hẹn hò.

  1. LẦU ÔNG HOÀNG 

“Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa

Lầu Ông Hoàng đó, thuở xưa chân Hàn Mặc Tử đã qua

Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài hoang vắng”.

Đó là lời trong bài “Hàn Mặc Tử” của Trần Thiện Thanh.

Theo wikipedia, tòa lâu đài này được công tước người Pháp vốn là cháu nội vua Louis xây cất năm 1911 rộng 500 m² cách tháp Chàm Pôshanu vài trăm mét thờ công chúa người Chăm và cách thành phố Phan Thiết 7 km.  Vua Bảo Đại từng mua lại Lầu này làm chỗ nghỉ ngơi, thưởng ngoạn cảnh đẹp hoang dã nên thơ của bãi cát dài trắng xóa cùng tiếng sóng rì rào với gió thổi vi vu từ đại dương.

Về sau người Pháp xây dựng nhiều đồn bót quanh khu vực nên không tránh khỏi chinh chiến điêu linh, danh thắng này trở nên đổ nát hoang tàn chẳng còn để lại dấu tích. Nhưng nơi đây từng là chốn hẹn hò của đôi tình nhân Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) và Mộng Cầm (1917 – 2007) trong những năm 1936 – 1937. Ta hãy nghe Hàn thổn thức khắc khoải nhớ nhung thần tượng bẻ nhỏ tên Nghệ (Mộng Cầm) qua bài Muôn Năm Sầu Thảm:

“Nghệ hỡi Nghệ muôn năm sầu thảm

Nhớ thương còn một nắm xương thôi

Thân tàn ma dại đi rồi

Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan

Thấy gió là ôm ngang lấy gió

Tưởng chừng như trong đó có hương

Của người mình nhớ mình thương

Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì

Nhớ lắm nhớ như si như dại

Nhớ quá nhiều mà bại hoại chân tay

Nhớ hàm răng nhớ hàm răng

Mà ngày nào đó vẫn khăn khít nhiều

Dẫu đau đớn vì lời phụ rãy

Nhưng mà ta không lấy làm điều

Trăm năm vẫn một lòng yêu

Và còn yêu nữa rất nhiều em ơi!”

Thêm nữa, hãy đọc bài Phan Thiết!  Phan Thiết! để nghe Hàn thở than rên xiết:

“Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng

Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng

Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang

Nơi đã khóc đã yêu thương da diết

Ôi trời ơi ! là Phan Thiết ! Phan Thiết!

Mà tang thương còn lại mãnh trăng rơi

Ta đến nơi nàng ấy vắng lâu rồi

Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ

Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ

Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng

Ta vãi vung thơ lên tận sông Hằng

Thơ phép tắc bỗng kêu lên thống thiết

Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!

Mi là nơi ta ôm hận nghìn thu

Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư”.

Nghe lời thơ tưởng chừng như không có ai đau thương vì tình hơn chàng thi nhân đoản mệnh. Có biết đâu rằng trong một lúc nào đó song đôi với Mộng Cầm mà nhà thơ họ Hàn đã dịu dàng thỏ thẻ như trong bài Đà Lạt Trăng Mờ:

“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để nghe trời giải nghĩa yêu”.

Hiện nay khu vực Lầu Ông Hoàng là địa điểm du lịch của tỉnh Phan Thiết.

  1. ĐỒI THÔNG HAI MỘ

Cạnh Hồ Than Thở, Dalat có ngôi mộ đôi nằm hiu quạnh hoang vu trên đồi

thông. Ngang qua đây mấy ai mà không khỏi chạnh lòng một nỗi u hoài. Trong tâm trạng đó, nhạc sĩ Hồng Vân đắm mình sáng tác bài ĐỒI THÔNG HAI MỘ kể lại cuộc tình bi thương ai oán có một không hai trên cõi đời này.

Chàng tên Tâm, con nhà địa chủ ở Gò Công. Đang theo học khóa Võ Bị Dalat thì gặp Thảo, con một gia đình công chức. Hai người thầm yêu trộm nhớ và thường hẹn hò bên Hồ Than Thở. Mãn khóa ra trường, Tâm xin cưới Thảo nhưng bị cha mẹ từ chối vì vì không môn đăng hộ đối.

Buồn tình trắc trở, chàng xin ra tiền tuyến. Phần Thảo còn đau khổ hơn khi biết song thân người yêu khước từ và chàng vì phẩn chí mà tình  nguyện xông pha ngoài biên ải. Tuy vậy nàng luôn một lòng chung thủy đợi chờ, lấy niềm vui qua những giờ phút trông ngóng thư người tình từ nơi phương trời lửa đạn.

Bỗng một hôm có thư báo về cái tin sét đánh ngang tai: Tâm vừa anh dũng hy sinh ngoài trận tuyến.  Trời đất quay cuồng sụp đổ.

“Rồi nàng buồn thơ thẩn chẳng còn ngồi trang điểm qua màu phấn

Để phai úa đến tàn cả hương sắc

Tháng ngày luôn héo hon”.

Chờ ai đây đợi ai đây khi mà người thương vĩnh viễn ra đi. Thế rồi tuyệt  vọng tình, nàng nhảy xuống bờ hồ quyên sinh theo người yêu. Gia đình thương tiếc cho lập mộ trên đồi thông.

Ngang trái thay lá thư báo tử là lá thư lầm lẫn chết người. Tâm không tử trận mà vẫn còn chiến đấu dưới cờ. Tám tháng sau chàng trở về thăm thì nghe hung tin Thảo không còn.

“Sao người về đây để tìm nhưng thôi đã mất còn đâu

Ôi buồn làm sao đồi thông xưa nay vắng bóng người yêu

Đời hợp tan, hợp rồi tan như mây kia gặp gió”.

Thật đắng cay chua xót, đồng cảnh ngộ của Thi Bá Vũ Hoàng Chương thuở nào: Đời vắng em rồi say với ai !

“Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu

Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu

Thôi rồi tay nắm tay lần cuối

Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau

“Gặp gỡ chừng như chuyện Liêu Trai

Ra đi chẳng hẹn một ngày mai

Em ơi ! lửa tắt bình khô rượu

Đời vắng em rồi say với ai?”.

Nghĩ mình đã tới đường cùng. Chàng quẩn trí tự vẫn với ước nguyện mồ chôn nằm bên cạnh người yêu. Cha mẹ chấp nhận và cho mai táng gần Thảo.

“Rồi mộ chàng được ở bên cạnh nàng như lời xưa thề ước

Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấc dưới mộ sâu đất khô”.

Nhưng từ sau 1975, do tuổi già sức yếu, đường sá đi lại quá khó khăn nên cha mẹ phải đành đoạn di dời mộ chàng về quê quán. Còn Thảo tuy xa Tâm nhưng vẫn nằm yên nghỉ bên cạnh ngôi mộ trống của chàng. Ai qua đây mà không khỏi bùi ngùi cho số kiếp người bạc mệnh.

  1. ĐỒI CHARLIE

Dựa theo bút ký Người Ở Lại Charlie của Nhà Văn Phan Nhật Nam, Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh đã soạn thành ca khúc cùng tên.

Charlie với cao độ gần 1000 m là dãy đồi nằm cạnh huyện Dakto, Kontum.

Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi đầu giai đoạn chiến tranh khốc liệt nổ ra khắp các chiến trường miền Nam. Binh sĩ Cọng Hòa hành quân liên miên không một ngày thư thả.

Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù của Người Anh Cả Nguyễn Đình Bảo đã quần thảo ở Toumorong, Dakto, Dambe, Krek, Snoul, Đức Cơ, Khe Sanh, Hạ Lào… Có nơi chỉ đáo qua vài ngày rồi phải vội vàng từ giả theo tình hình chiến sự nóng bỏng trên bốn vùng chiến thuật.

Tháng 4.1972 được lệnh trấn đóng đỉnh đồi Charlie với nhiệm vụ án ngữ và kiểm soát ngã 3 biên giới Việt Miên Lào. Chừng 500 binh sĩ nhảy dù đối đầu lực lượng địch hùng hậu cấp sư đoàn. Chúng vẫn sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung quen thuộc, cường tập pháo kích hàng ngàn hỏa  tiễn suốt ngày đêm nhằm uy hiếp tinh thần và làm tiêu hao quân số trú phòng.

Sau hơn mười ngày đêm tử thủ dưới làn mưa pháo, Trung Tá Bảo bị sập hầm trúng đạn tử thương. Ngay sau đó Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó Lê Văn Mễ lên thay thế khi mà đơn vị gần như cạn kiệt vũ khí và lương thực.

Tình hình quá khẩn trương không thể cầm cự lâu hơn. Nếu chậm trể sẽ bị bao vây tràn ngập.Thiếu Tá Mễ cùng một số đồng đội phải gấp rút kiếm đường thoát thân, tìm cái sống trong cái chết rồi kêu gọi thượng cấp cho

pháo đài bay B52 dội bom ngay ngọn đồi vừa rút đi. Hàng ngàn cán binh sinh bắc tử nam bị tiêu diệt. Còn theo Nhà Văn Phan Nhật Nam, bên ta thiệt mất 400 binh sĩ đền nợ nước.

Trong số sĩ quan thoát ra từ tử địa có Y Sĩ Tô Phạm Liệu. Tuy thương tích ở chân nhưng Anh vẫn không nản chí ngã lòng. Rán điều trị rồi chờ đơn vị tái bố sung để cùng ra trận trong tháng 6 nơi vùng hỏa tuyến.

Tới tháng 9.1972 tất cả quân cọng sản xâm lăng phải tháo chạy về phương bắc. Y Sĩ Phạm Anh Dũng cho hay Đại Úy Tô Phạm Liệu được tuyên dương sĩ quan xuất sắc nhất của Sư Đoàn Dù.

Hy sinh vì đại nghĩa, Trung Tá Bảo được truy thăng Đại Tá, để lại bao tiếc thương cho hình ảnh người chỉ huy tài ba, gan dạ, luôn hết lòng thương yêu thuộc cấp. Ông giả biệt vợ trẻ và 3 con thơ lúc mới 36 tuổi đời. Bà Nguyễn Đình Bảo là cựu chiêu đãi viên hàng không vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con ăn học thành tài.

“Anh! Anh! hỡi Anh ở lại Charlie

Anh! Anh! hỡi Anh giả từ vũ khí

Vâng, chính Anh là ngôi sao mới

Một lần này chợt sáng trưng

Là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng

Anh! cũng Anh vừa ở lại một mình

Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành

Xin một lần thôi, một lần thôi

Vẫy tay tạ từ Charlie

Xin một lần nữa, một lần nữa

Vẫy tay chào buồn Anh đi”.

Vời lòng cảm phục vô biên những Người Anh Hùng Mũ Đỏ, nhiều cựu binh và dân thường đã lặn lội tìm đường tới Charlie thăm chiến trường xưa. Trong tận sâu thẳm đáy lòng, ai ai cũng đều ngậm ngùi khi nhìn lại ngọn đồi nơi mà 50 năm về trước những người con thân yêu của Tiểu  Đoàn 11 Nhảy Dù oanh liệt ra đi chẳng hẹn ngày về.

  1. PLEIME

Trại Lực Lực Lượng Đặc Biệt Pleime nằm giáp ranh vùng 3 biên giới, cách Pleiku 40 km về hướng nam.

Pleime được Phạm Duy nhắc tới trong nhạc phẩm Kỷ Vật Cho Em, phổ từ bài thơ Để Trả Lời Một Câu Hỏi của Thi Sĩ Linh Phương với lời lẻ vô cùng áo não tang tóc bi ai dễ làm nao lòng chiến sĩ. Chính vì vậy mà từng bị xếp vào loại nhạc phản chiến và cấm hát một thời gian.

“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về

Anh trở về có thể bằng chiến thắng Pleime

Hay Đức Cơ Đồng Xoài Bình Giả

Anh trở về, anh trở về hàng cây nghiêng ngả

Anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa

Anh trở về trên chiếc băng ca

Trên trực thăng sơn màu tang trắng”.

Nhạc Sĩ Trúc Phương cũng nhắc đến Pleime trong bài Trên Bốn Vùng Chiến Thuật:

“Tôi thường đi đó đây

Bùn đen in dấu giày

Chân nghe lạ từng khu chiến thuật

Áo nhà binh thương lính, lính thương quê

Vì đời mà đi

Pleime gió mưa mùa

Bốn vùng nghe lưu luyến bước bâng khuâng của vạn người thân”.

Tại Pleime từng xảy ra hai trận đánh  khốc liệt.

* Trận đầu ở Thung lũng Ia – Drang:

Theo lời kể của Thiếu Úy Trần Quốc Cảnh (khóa 19 Võ Bị Dalat) thì cuối tháng 10.1965 Việt Cọng bao vây Trại Pleime. Lực lượng tham chiến bên ta

có trung đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 21 biệt động quân, tiểu đoàn 1/42, 400 dân sự chiến đấu và một bộ phận của lữ đoàn dù cùng chống trả chiến thuật công đồn đả viện của 3 trung đoàn cọng quân.

Mặc dù quân số đông đảo cọng thêm trang bị vũ khí tối tân nhưng sau 7 ngày giao tranh ác liệt, phía bắc phương thiệt hại nặng nề phải rút chạy vào rừng. Ta bẻ gãy kế hoạch cắt đôi Tây Nguyên của chúng.

Đó là nhờ tinh thần chiến đấu gan dạ cùng sự phối hợp nhịp nhàng hoàn hảo giữa quân đội Cọng Hòa và Không Lực Hoa Kỳ.

Theo Time Magazine ngày 5.11.1965, trong số 6000 quân cọng phỉ, ước chừng 1000 tử vong và 2000 thương tích.

* Trận thứ nhì: sau trận đầu, trại Pleime cũ bị phá hủy và trại mới được xây dựng. Đầu năm 1974, Thiếu Tá Vương Mộng Long nhậm chức Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng phụ trách bảo vệ vùng núi rừng rộng lớn bao quanh Pleime.

Đây là hành lang chiến lược cho cọng quân di chuyển từ bắc vô nam, từ đồng bằng lên Tây Nguyên và vận hành binh lính vũ khí quân lương qua các tỉnh vùng 3 biên giới. Vì vậy mà  chúng quyết tâm nhổ sạch Trại để rộng đường cho giấc mộng xâm lăng. Cuộc chiến khởi đầu từ cuối tháng 7.1974.

Theo Thiếu Tá Long về tương quan lực lượng đôi bên thì địch có quân số gấp mười lần, chưa kể cơ giới, pháo binh, chiến xa và phòng không.

Biết mình sức yếu thế cô phải một chọi mười, thật là không cân sức. Nhưng cả Tiểu Đoàn quyết tử để quyết sinh. Chiến đấu đến người lính cuối cùng. Thề sống chết có nhau đồng lòng bảo vệ quê hương tự do và đời sống ấm no cho đồng bào. Nhiều ngày bị cô lập với bên ngoài và lương thực đạn dược gần như cạn kiệt. Nhưng Trời luôn phù hộ người chính nghĩa. Bất chấp hàng loạt mưa pháo  hoặc cái lạnh cắt da của núi rừng trùng điệp. Thiếu Tá Long khóa 20  Võ Bị Dalat luôn điều động binh sĩ vững lòng chống trả các đợt tấn công biển người của giặc thù. Nhờ vậy mà chúng không thể tràn ngập tiêu diệt căn cứ kể cả cho tank 54 lồng lộn  xung trận nhưng cũng đành thúc thủ rút lui vào cuối tháng 8 sau 33 ngày đêm tử thủ kiêu hùng của Tiểu Đoàn. Quốc Kỳ Việt Nam Cọng Hòa lại phất phới tung bay trên cột cờ cao vào sáng ngày 2.9.1974.

Hai dãi băng trắng chữ sơn đỏ căng ngang trước tư dinh Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2: “Toàn dân Pleiku ghi ơn Thiếu Tá Vương Mộng Long và  các chiến sĩ Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân”. Hàng ngàn quân dân cán chính long trọng làm lễ khao quân suốt mấy ngày. Đâu đâu cũng nghe vang dội khúc quân hành: “Kìa đoàn quân chiến thắng trở về trong nắng hồng…” (Bài Ca Chiến Thắng, Minh Duy).

  1. THA LA XÓM ĐẠO 

Tha La là xóm nhỏ ở vùng Trảng Bàng Tây Ninh.

Gần 200 năm trước một số con chiên từ Huế do bị Vua Minh Mạng cấm theo Thiên Chúa Giáo nên chạy trốn vào ẩn trú ở vùng đất hẻo lánh này. Họ chung tay khẩn hoang lập ấp, xây dựng thôn xóm để bảo tồn niềm tin tôn giáo.

Năm 1950, Nhà Thơ Vũ Anh Khanh (1930 – 1956) tình cờ ghé thăm nơi đây. Duyên nợ đẩy đưa Anh sáng tác bài thơ dài Hận Tha La:

“Đây Tha La xóm đạo

Có trái ngọt cây lành

Tôi về thăm một dạo

Giữa mùa nắng vàng hanh”.

Nhạc Sĩ Dzũng Chinh đã phổ thành bài hát Tha La Xóm Đạo:

“Đây Tha La, đây xóm đạo tiêu điều

Cây buồn quanh hận thù dâng ai oán” Người Tha La rất hãnh diện hát bài quê hương mình để ghi nhớ một thời đao binh:

“Đây Tha La, đây xóm đạo hoang tàn

Mây trời vây quanh màu tang khói  lửa

Bao năm qua Tha La còn trơ đó

Đoàn người đi giết thù đã hẹn thề từ dạo ấy

Lòng viễn khách bồi hồi như thương tiếc mùa xuân nắng hanh vàng”.

Nhà Văn Xuân Vũ gặp Anh Khanh tại miền Tây năm 1950 khi cùng tham gia kháng chiến. Xuân Vũ cho biết: “Nhà thơ tốt nghiệp khóa lục quân 12 tháng. Anh hay mặc áo nhà binh xập xệ, quần ống cao ống thấp, miệng cười xề xề. Lúc nào có liên hoan thì bạn bè hay bắt Anh lên ngắm thơ”.

Tới hiệp định Geneve 1954 cả hai cùng tập kết ra bắc. Vài năm sau Anh được cử đi dự hội nghị văn chương quốc tế ở Ấn Độ. Khi về Anh kể chuyện thăm ngôi đền lạ lùng thờ “cái đó” và “cái ấy”. Bạn bè thắc mắc một hồi thì Anh cho biết “cái đó” dài bằng cây cột còn “cái ấy” to bằng cái nia. Ai nghe cũng ôm bụng cười sặc sụa.

Bữa ấy Anh khao anh em một chai rượu ngoại vừa mang về từ hội nghị.

Thế rồi Anh xin đi công tác. Giấy phép ghi tới Vĩnh Phúc nhưng anh sửa thành Vĩnh Linh để tìm cách vượt tuyến vào Nam. Gần Cầu Hiền Lương anh nhìn lui nhìn tới rồi vội vàng lặn hụp cố bơi qua bờ. Rủi thay bị công an biên phòng phát hiện. Chúng dùng mũi tên tẩm độc bắn chết anh rồi vùi thây ngay đụn cát ven sông. Thế là mộng ước của bao nhiêu người Tha La đành trở thành tuyệt vọng, cho dù ai nấy đều thầm ca bài  Chuyến Đò Vỹ Tuyến của Lam Phương như bày to niềm khát vọng một ngày Anh Khanh trở lại:

“Bùi ngùi nhìn cách xa ngàn trùng

Giờ đây em điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm

Bao đêm thổn thức dưới trăng ngà

Hồn đắm say chờ đón ngày anh về sưởi lòng nhau”.

Xuân Vũ từng đóng vai phóng viên  thăm vùng giới tuyến. Ngang khúc sông Anh Khanh gặp nạn, Vũ âm thầm muốn trốn nhưng quan sát kỹ thấy nguy hiểm không an toàn nên đành thối lui. Khi về Nhà  Văn Đoàn Giỏi hỏi:

“Mày vô đó có thấy mộ Anh Khanh không?

– Chẳng biết mộ anh ấy nằm ở đâu vì gặp quá nhiều nắm đất dọc bờ cát trắng.

Đoàn Giỏi buồn rầu nói thêm: Phải chi biết ngày nó chết tụi mình cơm canh cúng giỗ một bữa cho nó bớt tủi vong hồn”.

Anh Khanh là văn nghệ sĩ hăng say theo cọng sản rồi bỏ hàng ngũ trở về với chính nghĩa tự do sớm nhất. Sau Anh có nhiều người vượt thoát thành công như Xuân Vũ, Ca Sĩ Bùi Thiện… Một số manh nha ly khai nhưng chưa kịp đào tị thì bị trù dập tả tơi. Điển hình là Nhà Thơ Trần Vàng Sao đang là sinh viên đại học Huế lại thoát ly lên rừng núi Trường Sơn “chống Mỹ cứu nước” rồi chợt hiểu rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của cọng sản liền thức tỉnh viết ra những nhận thức phê phán chân thành. Hậu quả là không những bị hạch hỏi trừng trị mà còn hết tin dùng. Ai đọc bài thơ “Tau Chửi” nguyền rủa lên án việt cọng tàn ác gian manh vắt chanh bỏ vỏ mới hiểu thấu nỗi uất hận cay đắng của kẻ trót dại lầm đường như Ông.

  1. ĐƯỜNG DUY TÂN 

là đoạn đường nối Nhà Thờ Đức Bà và Hồ Con Rùa thuộc quận 3 Saigon. Hai bên đường có hàng cây sao cổ thụ cao vút, vài cây tồn tại cả trăm năm, xen lẫn nhiều ngôi biệt thự uy nghi kín cổng cao tường che phủ bởi những giàn bông giấy sắc màu rực rỡ.

Đường Duy Tân mang tên Nhà Vua thứ 11Triều Nguyễn là Thái Tử Vĩnh San lấy niên hiệu Duy Tân (1900 – 1945) với hoài vọng đổi mới cải cách cho đất nước. Năm 16 tuổi do chống Pháp nên Ngài bị đày sang Đảo Reunion (Phi Châu) và tới 1945 thì tử thương trong một tai nạn phi cơ.

Con đường này trở nên nổi tiếng từ khi nhạc phẩm Trả Lại Em Yêu của Phạm Duy ra đời.

“Trả lại em yêu khung trời đại học

Con đường Duy Tân cây dài bóng mát

“Trả lại em yêu con đường học trò

Những chiều Thủ Đô tưng bừng phố xá

Chủ nhật uyên ương hẹn hò đây đó

Uống ly chanh đường uống môi em ngọt”.

Duy Tân là con đường tình yêu học trò, con đường hẹn hò đưa đón, con đường tạ từ chia biệt, con đường gặp gỡ lứa đôi, con đường hạnh phúc thiết tha, con đường ngọt ngào âu yếm, con đường giận hờn đổ vỡ, con đường đau khổ ly tan…

Đường này có Đại Học Luật Khoa với hàng chục ngàn sinh viên ghi danh. Trong 20 năm trời lắm cuộc tình diễn ra ở đó để lại bao nhiêu dư âm buồn vui suốt cả cuộc đời. Ai có chút tâm hồn mơ mộng mà không bày tỏ nỗi niềm thi nhân khi mỗi chiều ngang qua đây tình cờ bắt gặp những đôi tình nhân sánh bước chung đôi dưới hai hàng cây xanh mát.

Khung cảnh thơ mộng tưởng chừng Lưu Thần Nguyễn Triệu đáo Thiên Thai. Nhưng xa rồi những ngày xưa thân ái. Không chỉ tên đường thay đổi mà cảnh vật xung quanh cũng đổi thay. Không còn hai hàng cây thẳng tắp quen thuộc. Chủ nhân mấy ngôi nhà cổ kính bỏ đi xa, thay vào đó là lớp người mới giàu có từ đâu tới xây cất những biệt thự cao tầng nguy nga tráng lệ. Vừa chật hẹp mà lưu lượng quá đông nên nạn kẹt xe xảy ra hằng ngày.

Chính tại đường Duy Tân đã chứng kiến bản chất côn đồ giết người không gớm tay của việt cọng.

Mùa hè 1971 diễn ra cuộc bầu cử Ban Chấp Hành Sinh Viên Đại Học Luật Khoa giữa hai liên danh Lê Khắc Sinh Nhật và Trịnh Đình Ban. Kết quả  Sinh Nhật thắng cử vẻ vang. Phe thất bại là nhóm thân cọng đã điên cuồng tức giận trả thù hèn nhác và ra tay bắn chết đối thủ trước cổng trường ngay giữa ban ngày. Từ đó con đường cây dài bóng mát trở thành con đường đau buồn tan nát.

Ai gây ra thảm cảnh này?

  1. PHÀ HẬU GIANG (Phà Cần Thơ)

Băng qua Sông Hậu nối liền Cần Thơ và Vĩnh Long dài 1840 mét.

Trong một chuyến về quê vợ ở miền Tây có công việc nhà, Nhạc Sĩ Nhật Ngân đang thơ thẩn đi tới đi lui ngóng chờ phà Hậu Giang thì chợt nghe văng vẳng đâu đây tiếng hát mượt mà của ai đó giữa đám đông người lũ lượt chen chúc trên bến sông.Tiến lại gần thì Ông thấy người thương binh chống nạn, cụt mất một chân bận bộ đồ treillis rách nát bạc màu đang ca bài Xuân Này Con Không Về.

“Con biết bây giờ Mẹ chờ mong con

Khi ánh mai đào nở vàng bên nương

Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về

Nay én bay đầy trước ngõ mà tin con vẫn xa nghìn xa

“Con biết không về Mẹ chờ em trông

Nhưng nếu con về bạn bè thương mong

Bao lứa trai hùng chào xuân chiến trường

Không lẻ riêng mình êm ấm

Mẹ ơi! con xuân này vắng nhà”.

Nghe xong Nhạc Sĩ quá xúc động, đâu ngờ ở nơi chốn chợ đời đua chen này lại có người hát thành thạo bản nhạc của mình mà không cầm được nước mắt.

Ông chạy tới chuyện trò hỏi han, bỗng nhận ra người bạn cùng lớp thời trung học sau gia nhập Võ Bị Dalat. Ra trường một năm thì bị thương gãy chân phải giải ngũ. Trở lại Mỹ, Nhật Ngân cùng Trần Trịnh hợp soạn ca khúc Chiều Qua Phà Hậu Giang để nói lên tâm sự của người thương binh quân lực Việt Nam Cọng Hòa sau cuộc chiến:

“Chiều qua phà Hậu Giang, tiếng ai hát dạo buồn thay

Tiếng ca sầu mênh mang như khơi  niềm đau năm tháng xưa

Chân nạng gỗ thấp cao kéo lê đời theo dòng nhạc đưa

Mãnh chiến y phai màu khúc ca nào gợi sầu không nguôi”.

Sự hy sinh tuổi thanh xuân và một phần thân thể của hàng vạn thanh niên trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam là vô bến bờ, không lấy gì đền đáp được. Bao năm qua nhiều nơi tổ chức Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh nhằm vinh danh Người Thương Binh, gây quỹ giúp Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ Việt Nam Cọng Hòa còn kẹt lại ở quê nhà. Trong nước có Dòng Chúa Cứu Thế, Chùa Liên Trì…đã tận tay trao phát nhiều đợt quà tình nghĩa cho thành phần thiệt thòi này.

Nhưng nghĩa cử đó thực ra cũng quá nhỏ nhoi. Chỉ ước mong may ra có thế làm ấm lòng các gia đình kém may mắn trong một chừng mực nào đó mà thôi.

Về phần bến phà, sau khi Cầu Cần Thơ khánh thành năm 2010, tuy đường sá được thông xe, phà Hậu Giang kết thúc sứ mạng sau 100 năm hoạt động nhưng hiện nay vẫn còn bến đò vận hành loại phà nhỏ hơn cho người và xe mô tô qua lại vì nhanh và ít tốn phí hơn so với lưu thông bằng xe. Không biết có còn ai sống đời hát dạo như trước không?

  1. LĂNG MẠC CỬU 

Nhạc Sĩ Lê Dinh một lần ghé thăm  đã cảm tác ca khúc dễ thương Hà Tiên Mến Yêu.

“Tôi nhớ hoài một chiều

Dừng chân ghé qua thăm miền ước mơ

Tôi qua Lăng Mạc Cửu

Nằm trên con voi phục

Tôi vô thăm Thạch Động

Trời bát ngát mênh mông”.

Mạc Cửu (1655 – 1735) là thủy tổ dòng họ Mạc ở Hà Tiên. Do không thần phục Nhà Thanh nên Ông rời bỏ Quảng Đông trốn qua Nam Vang năm 1668 hành nghề thương nhân quanh các nước Đông Nam Á. Đến 1699 Ông khai khẩn nhiều khu vực hoang địa của Hà Tiên lập thành 7 xã thôn. Năm 1708 chịu thần phục Chúa Nguyễn, được phong Tổng Trấn Hà Tiên, cai quản như một Tiểu Vương theo truyền thống cha truyền con nối. Liên tục 7 đời, con cháu họ Mạc cải biến Hà Tiên từ vùng đất ít người biết đến thành cửa ngõ giao thương sầm uất của Đại Việt.

Di tích Lăng được xây dựng từ năm 1739. Trên cổng nhà thờ có câu đối Hán Nôm do chính Nhà Nguyễn ban tặng:

“Một nhà trung nghĩa danh thơm cả họ

Bảy lớp giậu che, cả nước mến yêu”.

Quanh mộ phong cảnh mây, nước, biển, trời quyện vào nhau thành bức tranh thủy mạc hữu tình, ngắm trông hoài tưởng chừng như lạc vào tiên giới.

Người Việt cảm hoài tấm lòng của dòng họ Mạc tận tụy mở rộng bờ cõi phương Nam cho cả nước. Nhớ ơn Mạc Cửu, thiết tưởng chúng ta không thể quên hai nhân vật gốc Hoa khác từng đóng góp nhiều cho sự phồn vinh của Miền Nam.

* Chú Hỏa (1851 – 1901)

Người gốc Phúc Kiến, Trung Quốc, mang quốc tịch Pháp. Di cư tới Saigon sống bằng nghề bán ve chai mà trở nên giàu có nhanh chóng.

Khoảng nửa đầu thế kỷ 20 đã là một trong tứ đại phú hào của Saigon: nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa (Huyện Sĩ – Lê Phát Đạt, Tổng Đốc Phương – Nguyễn Hữu Phương, Bá Hộ Xường – Lý Tường Quan, Chú Hỏa – Hui Bon Hoa).

Tuy xếp thứ tư nhưng Chú vẫn để lại tiếng thơm muôn đời nhờ tấm lòng không chỉ làm giàu cho riêng mình mà còn quan tâm giúp đỡ cộng đồng xung quanh.

Suốt thời gian dài gia đình Chú đóng góp lớn lao cho sự phát triển của thành phố về vật chất lẫn tinh thần, hiến tặng nhiều công trình phúc lợi như Bệnh Viện Từ Dũ, Bệnh Viện Đa Khoa Saigon, Bệnh Viện Nguyễn Trãi, Trường Tiểu Học Minh Đức…

* Mã Tuyên (1909 – 1994)

Bang Trưởng và Chủ Tịch 11 bang Hoa Kiều Chợ Lớn. Với chức vụ này Ông từng có dịp gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Chính mối tương giao đó mà tối ngày 1.11.1963 lúc đang bị quân đảo chánh bao vây, Tổng Thống và Cố Vấn Ngô Đình Nhu theo xe ra khỏi Dinh Gia Long rồi chọn nhà Ông để ẩn mình trong đêm định mệnh.

Đón chào Anh Em Tổng Thống tới tá túc. Ông hết mực ân cần chăm sóc tiếp đãi. Một lòng nồng hậu cung kính. Lo chu toàn mọi chuyện mà Tổng Thống cậy nhờ. Căn dặn gia nhân kín đáo bảo mật sự hiện diện của hai Ngài.

Thế rồi tình hình vẫn không sáng sủa. Trong bối rối lo âu Anh Em Tổng Thống phải giả biệt Người Bang Trưởng trung hậu hiếu khách để sang Nhà Thờ Cha Tam rồi bị thảm sát trên đường đến Bộ Tổng Tham Mưu.

Liền sau đó phe đảo chánh kết án Ông 3 năm tù và tịch biên tài sản. Nhưng đời vẫn chưa yên. Sau 30.4.75, việt cọng lại bỏ tù Ông 4 năm ròng.

Thật đáng thương cho Vị ân nhân Việt gốc Hoa chơn chất hào hiệp. Chỉ vì che chở cho Người Lãnh Tụ lâm nạn mà chịu thiệt thân. Xin cầu nguyện Ông yên nghỉ.

Do đâu mọi người bình đẳng với nhau?

Do đâu mọi người bình đẳng với nhau?

Con Cọp thở hơi ra lạnh quá đi thôi! Mến chúc bạn một ngày thật ấm áp trong Thánh Tâm Chúa và Trái Tim Vẹn Sạch của Đức Mẹ. Nhớ mặc đồ đủ ấm nhé kẻo ho làm người xung quanh lại tưởng là bị COVID đấy.

Cha Vương

Thứ 6: 04/02/2022

GIÁO LÝ: Do đâu mọi người bình đẳng với nhau? Mọi người đều bình đẳng với nhau, vì họ có cùng một nguồn gốc, trong Tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Mọi người đều có cùng một Đấng Cứu chuộc là Chúa Giêsu Kitô. Mọi người đều có thể tìm kiếm và được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trong Thiên Chúa. (YouCat, số 61)

SUY NIỆM: Mọi người đều là anh chị em với nhau. Kitô hữu không được chỉ liên đới với các Kitô hữu khác nhưng với tất cả mọi người để chiến đấu mạnh mẽ chống các thứ chia rẽ vì kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, kỳ thị kinh tế trong gia đình nhân loại. (YouCat, số 61 t.t)

❦Hãy mở miệng bênh vực người câm, vì quyền lợi của mọi kẻ bị bỏ rơi. (Cn 31:8)

Ngày nay: rất nhiều người trên thế giới, rất nhiều, hàng triệu người, không có quyền ăn, không có quyền học hành, không có quyền làm việc: họ là những nô lệ mới, những người ở ngoại vi cuộc sống, những người bị bóc lột khai thác bởi tất cả mọi người. Ngay cả ngày nay vẫn có chế độ nô lệ: chúng ta hãy nghĩ về điều này một chút. Chúng ta phủ nhận nhân phẩm của những người này. Họ là nô lệ. (Nhận định của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung, 8/9/2021)

LẮNG NGHE: Căn tính mới này vượt qua mọi khác biệt về sắc tộc, xã hội và tôn giáo: trong Đức Kitô, “không còn phân biệt người Do Thái hay người Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ” (Gl 3:28).

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, trong ánh mắt Chúa nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, mọi sắc tộc, tất cả đều có một phẩm giá cao trọng như nhau, xin ban thêm lòng mến cho con để con biết tôn trọng phẩm giá con người trên khuôn mặt những người con gặp hôm nay, nhất là thể hiện phẩm giá của mình bằng cuộc sống quảng đại, phục vụ và yêu thương.

THỰC HÀNH: Tập đối xử với tất cả những người xung quanh với một tấm lòng khoan dung yêu mến như Chúa vậy.

From: Đỗ Dzũng

ĐÊM TẠ ƠN  

ĐÊM TẠ ƠN

Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

Một năm cũ sắp trôi qua và một năm mới sắp đến.  Trong khoảnh khắc giao thừa giữa cũ và mới này, chúng ta đến với Chúa, Đấng Tạo dựng muôn loài, Đấng làm chủ thời gian, để tạ ơn Ngài về 365 ngày sắp qua, và xin Ngài giúp chúng ta biết sử dụng 365 ngày sắp đến theo đúng thánh ý Ngài.

Đêm nay người ta vẫn gọi là đêm giao thừa, là nhịp cầu chuyển tiếp giữa cũ và mới.  Ai ai cũng mong muốn trút khỏi lòng mình mọi lo âu phiền muộn, không ai dám nhắc tới những rủi ro bất hạnh của ngày hôm qua, dường như ai cũng thầm mong ước cho đêm nay như là một khởi đầu tốt đẹp cho hành trình mới của tương lai.  Ai cũng gác lại quá khứ để bước vào năm mới trong niềm vui và hy vọng như câu ca dao xưa:

“Đêm ba mươi co cẳng đạp thằng bần ra cửa.

Sáng mồng một giang tay bồng ông phước vào nhà.”

Thực vậy, mùa xuân, ngày tết, ai cũng mong nhận được nhiều phước lộc, nên ai cũng chúc cho nhau nhiều tài lộc, nhiều tiền, nhiều của.  Những người có tín ngưỡng thì tin rằng may mắn, tiền của là ân lộc trời ban.  Nhưng phước hạnh đời người mà chúng ta cầu chúc cho nhau không chỉ là nhắm đến tài lộc mà là hạnh phúc miên trường, hạnh phúc của người có tâm hồn bình an.

Nhìn lại một năm qua, có những người được hạnh phúc vì làm ăn thuận buồm xuôi gió, công thành danh toại, có những người hạnh phúc vì tìm được chân lý, tìm được lẽ sống, tìm được bình an trong tâm hồn.  Nhưng vượt lên trên tất cả cái may mắn đó, chính là sự sống, là sự bình an của đời người. 

Sự sống luôn ở bên ngoài khả năng của chúng ta, sự sống của chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa.  Hạnh phúc là ân ban của Thiên Chúa.  Con người không thể kiến tạo hạnh phúc cho mình bằng thủ đoạn, bằng gian dối hay sự ác.  Con người phải sống ngay lành nhờ đó mà Thiên Chúa mới ban phúc lành là bình an.  Một năm qua với những vụ trọng án cho ta thấy con người không thể tạo dựng hạnh phúc cho mình bằng quyền lực để tham nhũng hại dân mà phải bằng tấm lòng luôn đi theo chân thiện mỹ.  Đâu ai ngờ một ông Đinh La Thăng dám nói dám làm đầy quyền thế lại phải hầu tòa?  Đâu ai ngờ một Trịnh Xuân Thanh luôn sống trong nhung lụa giầu có quyền thế lại phải thân tàn ma dại?  Đâu ai ngờ một đại gia Vũ Nhôm khuynh đảo thành phố đáng yêu Đà Nẵng lại có kết cục trong tù tội…?

Hạnh phúc đến từ lộc Trời ban xuống thì con người phải sống theo lẽ Trời.  Phải sống ăn ở ngay lành và làm việc thiện phúc đức.  Quy luật của trời đất là “Xởi lởi trời gửi của cho – Co ro trời co của lại.”   Càng gieo nhân nghĩa con người lại càng tìm được niềm vui hạnh phúc tự trong tâm hồn.  Đây gọi là tích đức để Trời sẽ ban hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và cho mọi người thân nhờ công đức của ta.

Nếu hiểu rằng hạnh phúc – bình an là lộc ban từ Trời thì giây phút này là giây phút tạ ơn về quá khứ đã qua.  Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng ta 365 ngày bình an.  Tạ ơn Chúa vì những biến cố xảy ra trong cuộc đời giúp ta nhận ra tình yêu của Chúa luôn bao bọc gìn giữ chúng ta.  Có thể đó là những đau khổ, là những mất mát nhưng chúng ta lại được bàn tay Chúa dìu dắt và bồng ẵm chúng ta qua những thăng trầm cuộc đời.  Tạ ơn Chúa đã cho chúng ta niềm tin tưởng vào Chúa, nếu không, biết đâu giờ này chúng ta đang rơi vào tâm trạng tuyệt vọng vì không đủ can đảm đối diện trước gian nan.

Nguyện xin Chúa Xuân đang về trên quê hương ban cho chúng ta những giây phút đầu xuân tràn đầy bình an và hoan lạc.  Xin Chúa Xuân chúc lành cho giây phút giao thừa này được vơi đi những ưu phiền để người người hưởng một mùa Xuân thánh ân hạnh phúc dư tràn.  Amen!

Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

THÁNH THIỆN VÀ TỘI LỖI

THÁNH THIỆN VÀ TỘI LỖI

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Thánh thiện và tội lỗi là hai phạm trù đối lập nhau.  Thánh thiện thuộc về Thiên Chúa và tội lỗi là bản chất của con người.  Hai nhân vật được nêu trong Lời Chúa hôm nay, một trong Bài Cựu ước và một trong Bài Tin Mừng, đã khẳng định sự tách biệt này.  Khi được chiêm ngưỡng vinh quang của Thiên Chúa với lời tung hô ba lần “Thánh!  Thánh!  Thánh”, ngôn sứ Isaia đã thốt lên: “Vô phúc cho tôi!  Tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn, tôi ở giữa một dân tộc mà lưỡi họ đều nhơ nhớp, mắt tôi đã trông thấy Đức Vua, Người là Chúa các đạo binh.”  Về phần ông Phêrô, khi chứng kiến mẻ lưới lạ, đã khiếp đảm thú nhận: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi.”  Phản ứng của hai nhân vật trên đây cho thấy quan niệm của Do Thái giáo về sự cách biệt giữa Thiên Chúa và con người, vì Thiên Chúa là Đấng Chí thánh và con người là kẻ phàm hèn tội lỗi.  Sự khác biệt này đã tạo một khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người.  Khoảng cách ấy ngặt nghèo đến nỗi, nếu con người lỡ nhìn thấy Chúa, thì phải chết.

Nếu con người lo sợ và mặc cảm về thân phận tội lỗi của mình, thì Thiên Chúa lại chủ động đến với họ.  Thiên Chúa trong Cựu ước đã trấn an ông Isaia: “Hãy nhìn xem, than lửa này đã chạm đến lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ, và tội của ngươi được thứ tha.”  Đức Giêsu trong Tân ước thì lại nói với ông Phêrô: “Đừng sợ hãi: từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta.”  Thật lạ lùng!  Thiên Chúa không những bỏ qua thân phận tội lỗi của con người, mà còn chọn gọi họ như những cộng sự viên thân cận của Ngài.  Ông Isaia và ông Phêrô không những không phải chết, mà còn được gọi và sai đi để loan truyền giáo huấn của Thiên Chúa, giúp cho nhiều người nhận biết Ngài.  Quả thật, ông Isaia và ông Phêrô đã nhiệt thành đáp lại lời mời gọi của Chúa, trở nên ngôn sứ và tông đồ của Ngài.

Thiên Chúa đã lấp đầy khoảng cách giữa Ngài với chúng ta.  Không chỉ chủ động đến gần con người tội lỗi, Chúa Cha còn sai Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô đến trần gian để sống thân phận con người.  Người thánh thiện, mà chấp nhận hòa mình vào đám đông tội nhân đang xin ông Gioan Tẩy giả làm phép rửa.  Người là Đấng vô tội mà bị kết án như một kẻ bất lương.  Người là nguyên lý của sự sống mà đã phải mang lấy cái chết trên thập giá.  Qua Đức Giêsu, nhờ Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, con người tội lỗi được trở nên con Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh.  Đây là sự trao đổi nhiệm màu: Con Thiên Chúa mang lấy tội lỗi của con người để con người được làm con Thiên Chúa.

Con Thiên Chúa đã làm người để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa.  Từ nay, không ai còn mặc cảm thân phận tội lỗi nữa.  Hết thảy đều được Thiên Chúa yêu thương và mời gọi làm sứ giả của Ngài giữa lòng thế giới.  Thánh Phaolô là một bằng chứng: ông thú nhận mình đã từng giết hại các tín hữu, nhưng khi được Chúa quy phục, ông đã ăn năn sám hối và cuộc đời của ông đã sang trang.  Ông tâm sự: “Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa.  Nhưng nay tôi là người thế nào, là nhờ ơn của Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các Đấng: song không phải tôi, nhưng là ơn của Thiên Chúa ở với tôi” (Bài đọc II).  Đó là điều kỳ diệu của tình thương.  Phaolô luôn tâm niệm điều này và ông thấy có bổn phận làm cho vương quốc của Chúa sớm được thực hiện nơi trần gian.

Isaia, Phêrô, Phaolô, ba con người xuất thân từ ba hoàn cảnh xã hội khác nhau, nhưng có chung một lý tưởng và một ơn gọi: làm sứ giả của Chúa và nhiệt thành loan báo lời Ngài.  Hôm nay, Chúa vẫn đang kêu gọi chúng ta.  Đừng mặc cảm cho rằng mình bất xứng hay bất tài.  Ơn của Chúa sẽ phụ giúp và ban cho chúng ta sức mạnh.  Về phía chúng ta, chúng ta cần đáp lại lời mời gọi của Chúa, bằng tâm tình yêu mến, nhiệt thành và thiện chí.  Chúa sẽ làm cho chúng ta trở nên những dụng cụ hữu ích trong Giáo Hội của Người.  Qua những dụng cụ bé mọn ấy, Chúa tiếp tục làm nên những mẻ cá kỳ diệu, và làm cho cuộc sống này nở hoa.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Người Ăn Thì Còn… 

Người Ăn Thì Còn… 

– Sông Hương –

Năm đó cả miền Nam đói meo sau lần đổi tiền kinh thiên động địa. Qua một đêm toàn dân thức dậy thấy mình trắng tay. Nhà nhà cầm cự bằng cách ôm đồ ra chợ trời, khi cần đong gạo thì giá nào cũng bán. Gần Tết. Nghĩ tới bầy con, làm sao để may cho mỗi đứa một bộ đồ mới. Nghĩ tới Tết nhất với mâm cúng gia tiên. Ít ra cũng phải có cái bánh chưng, đòn bánh tét, hủ dưa hành củ kiệu, chút ít thịt kho với trứng. Nghĩ tới nghĩ lui, bấn cả ruột gan, biết bán cái gì nữa đây cho đủ chi tiêu ba ngày Tết.

Rốt cuộc sau nhiều màn “chà đồ nhôm” thì năm đứa trẻ trong nhà, đứa lớn nhất 13 đứa nhỏ nhất 4 tuổi cũng được tíu tít, rộn ràng bên thau đậu, thau nếp và mấy miếng thịt heo mỡ và da nhiều hơn nạc. Mấy mẹ con “hồ hỡi” xúm nhau rửa lá, đãi đậu, ngâm nếp, rộn ràng xếp xếp, gói gói được 6 cái bánh chưng lớn, 4 đòn bánh tét và 5 cái bánh chưng nhỏ xíu đặc biệt phần mỗi đứa một cái.

Thấy bầy con lăng xăng sung sướng, đứa bé nhất cũng ngoan ngoãn ngồi bên cạnh đưa dây cho mẹ cột bánh, nhìn bàn tay bé xíu, ốm nhom vì không đủ dinh dưỡng, thỉnh thoảng sờ sờ, vuốt ve những cái bánh với đôi mắt sáng trưng thèm thuồng mà lòng đau như cắt. Chỉ mới mấy năm tuyệt đại đa số dân miền Nam đã rơi xuống gần chạm đáy vực thẳm thê thảm đến vậy rồi!!!

Tối đó cơm nước xong bầy trẻ nhất định xin thức để cùng canh nồi bánh. Nhà không có vườn sau, chỉ có sân trước với cây ngọc lan, cây khế ngọt và chỗ đậu của chiếc xe hơi chưa bán được. Hai đứa lớn lăng xăng bên nồi bánh được đào lỗ bắt ông táo dưới gốc ngọc lan, ba đứa nhỏ ngồi xích đu trên thềm nhà chọc ghẹo nhau nói cười như nắc nẻ, cả nhà hân hoan bên nồi bánh cho tới gần nửa đêm thì bầy trẻ bắt đầu ngủ gục. Cả ngày vất vả tới một giờ sáng cha mẹ cũng nhíp mắt. Lửa đang cháy liu riu, cổng đã khóa kỹ, tự nhủ mình chợp mắt một chút cho đỡ mệt rồi ra canh tiếp. Vậy nhưng ngủ quên cũng gần 2 tiếng đồng hồ.

Giật mình choàng dậy nhớ tới nồi bánh, thôi chết không biết lửa củi ra sao rồi. Ra sân thật mừng thấy than vẫn còn hồng dưới bếp dã chiến, vừa quay qua hông nhà lấy thêm củi khi ông xã dở nắp nồi định châm thêm nước thì bỗng nghe “ủa” một tiếng thật to, tiếp theo là tiếng nắp nồi rơi loảng xoảng trên sân xi-măng – Sao vậy bố?- Em coi nè, bánh mất tiêu hết rồi.- Trời đất ơi, thiệt không?- Thiệt, cái nồi trống rỗng.

Nồi bánh, công trình và tâm huyết của cả nhà, có cả 5 chiếc bánh chưng be bé xinh xinh của năm đứa trẻ đã không cánh mà bay. Hai vợ chồng ngồi xẹp xuống hiên, nghĩ tới gương mặt thất vọng của các con mà đau thắt ruột. Phải chi mình đừng vô ý ngủ quên. Phải chi người ta vớt hết bánh lớn, làm ơn làm phước chừa lại 5 cái nhỏ xíu cho bầy con nít. Đã ba mươi rồi, chỉ còn một ngày nữa là Tết, đào đâu ra bánh chưng bánh tét cho con ăn tết. Thời gian đó làm gì có hàng quán bình thường, cái gì cũng hợp tác xã, cũng nhà nước, từ cây kim sợi chỉ, từ cọng rau cho tới củ hành, chút tiêu chút muối nhất nhất đều phải sắp hàng trước cửa hợp tác xã …Cả đời chưa hề tưởng tượng có ngày chỉ vì mất chục cái bánh chưng mà mình phải rơi nước mắt. Cả đời chưa hề nghĩ tấm bánh, miếng ăn, lại trở thành quan trọng nhường ấy. Vậy mà khuya đó, giữa đất Saigon, giữa một xã hội dở tờ giấy nào ra cũng thấy đập vào mắt “độc lập, tự do, hạnh phúc” có người ngồi trước bếp lửa, than vẫn còn hồng, trước cái nồi đen thui trống rỗng mà khóc ngon lành.

Khóc chán. Lửa tàn. Muỗi bắt đầu tấn công. Thì cũng phải thất thểu đứng dậy vào nhà. Cũng may là người ta không lấy luôn cái nồi. Mà cũng đâu phải may mắn gì, người ta không lấy vì nó chỉ là nửa cái thùng phuy nhỏ cắt ra một năm chỉ dùng một lần để nấu bánh. Thôi thì tự an ủi bằng câu nói của người xưa “Người ăn thì còn, con ăn thì hết”, chắc con người ta còn đói hơn con mình … nghĩ thì nghĩ vậy nhưng cả cha lẫn mẹ lại nhìn nhau ngơ ngẩn, sáng ra biết an ủi các con bằng cách nào đây?

Cái Tết năm đó thật là xui hết biết. Mất nồi bánh làm lũ trẻ chưa hết buồn thì sáng mùng ba mới bảnh mắt đã nghe con gái lớn kêu hoảng “Bố mẹ ra coi nè”. Bước ra trước thềm thấy con gái đang chỉ tay vào chiếc xe Ford Taurus từ lâu nay vẫn nằm một chỗ chờ được bán. Thoáng nhìn thấy có gì kỳ kỳ, nhìn kỹ thì ra cái xe bỗng nhiên lùn tịt … 4 bánh xe đã bị gỡ mất tiêu. Kẻ trộm rành nghề chắc tay chân không hề bối rối trong khi chủ nhân của chiếc xe thật tình bối rối không biết giải thích với con trẻ ra sao trước những hành vi “bần cùng sinh đạo tặc” của một xã hội mới mẻ, hết mất mát này đến mất mát kia, với cuộc sống hoàn toàn đảo ngược mà những tâm hồn non trẻ chưa thể nào hiểu được.

Bầy trẻ năm đứa mặt mũi buồn hiu một ngày Tết năm nào bây giờ đã là những trung niên với đời sống vui vẻ thoải mái nhờ bao nhiêu năm được hấp thụ không khí “độc lập, tự do, hạnh phúc” thật sự chứ không chỉ trên những mảnh giấy. Những gương mặt trẻ thơ mếu máo ngày nào bây giờ mỗi lần nhắc lại kỷ niệm cũ ở Saigon không bao giờ quên được “chiếc xe cụt bốn giò” và “nồi bánh chưng không bánh” mùa Tết năm đó. Có khi chúng còn đùa đùa đổ lỗi cho cha mẹ, phải chi bố mẹ cho tụi con thức canh lửa thì mình đã không mất tiêu nồi bánh chưng bánh tét ít thịt nhiều đậu đó rồi!!!

Sông-Hương

From: TU-PHUNG

Vụ chém chết linh mục lúc giải tội được BPSOS báo động

Đài Á Châu Tự Do 

Ông Nguyễn Đình Thắng cho rằng việc Chính phủ Việt Nam dung dưỡng sự phỉ báng và phát biểu hận thù nhắm vào các vị lãnh đạo tôn giáo không phục tùng chính quyền có thể dẫn đến bạo lực.

Báo động của ông Nguyễn Đình Thắng được nêu ra cho hơn 100 người tham dự cuộc họp của nhóm Bàn tròn Tự do Tôn giáo Quốc tế. Ông này còn cho biết BPSOS đã tiến hành thành lập tổ công tác để theo dõi diễn tiến vụ việc, lập báo cáo và vận động quốc tế.

BPSOS cho biết, trong năm 2021, BPSOS đã tiến hành nhiều cuộc họp với các giới chức Liên Hiệp Quốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và các tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế để nêu ra tình trạng những người gọi là ‘dư luận viên’ dùng mạng xã hội để kích động hận thù tôn giáo tại Việt Nam.

Vụ chém chết linh mục lúc giải tội được BPSOS báo động
RFA.ORG

Vụ chém chết linh mục lúc giải tội được BPSOS báo động

Việc Chính phủ Việt Nam dung dưỡng sự phỉ báng và phát biểu hận thù nhắm vào các vị lãnh đạo tôn giáo không phục tùng chính quyền có thể dẫn đến bạo lực. 

Tại sao người Việt khó hòa giải

Bauxite Việt Nam

Tại sao người Việt khó hòa giải

Nguyễn Quang Dy

“Đoàn kết ta đứng vững, chia rẽ sẽ thất bại” (United We Stand Divided We Fall).

Tết đang đến rất gần, như chỉ còn mấy gang tay. Tết là dịp để người Việt đến với nhau theo truyền thống “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”. Nhưng Tết này buồn vì nhiều người vẫn chưa có lương, hay không được về quê ăn Tết vì dịch. Tết này còn buồn hơn vì “đám mây đen Việt Á” vẫn đang ám ảnh.

Sinh thời, cụ Hồ rất thích bài hát “Kết Đoàn”, vì đó là nguồn gốc của sức mạnh, như “con ngươi của mắt mình”. Không chỉ ở Châu Á mà ở Phương Tây người ta cũng coi trọng đoàn kết (unity) như quy luật sinh tồn của loài người. Nhưng đáng tiếc, nhiều người Việt đã làm ngược lại các giá trị truyền thống và phổ quát. Tội ác và lừa đảo ngày càng tăng.

Gần đây, khi đọc bài “Người Việt Mới” của Lê Kiên Thành (Tiếng Dân, 13/1/2022) tôi muốn viết một cái gì đó để chia sẻ với anh và bạn đọc vào dịp Tết. Chắc nhiều người cũng có tâm trạng tương tự như vậy. Đó là tâm trạng của thế hệ người Việt bị xô đẩy vào cuộc chiến tranh tương tàn, nay dù đất nước đã thống nhất nhưng vẫn khó hòa giải.

Cũng là người Việt, nhưng người Miền Bắc hơi khác Miền Nam hay Miền Trung. Sự khác biệt về tập quán văn hóa và phương ngữ vùng miền là điều bình thường tại nhiều nước. Nhưng người Việt còn bị phân hóa thành hai phe Bắc-Nam hay “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”. Kết cục năm 1975 làm “hàng triệu người vui, và hàng triệu người buồn”.

Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây 47 năm. Hai kẻ thù là Mỹ và Việt Nam đã trở thành “đối tác toàn diện”, nay thực chất là “đối tác chiến lược”. Nhưng người Việt vẫn chưa hòa giải với nhau, giữa “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”. Nay trong cùng “bên thắng cuộc”, người Việt lại phân hóa thành “người Việt mới” và “người Việt cũ”.

Đó là hiện tượng “phân hóa đa chiều” (multiple polarization) đang làm cho quá trình hòa giải dân tộc vốn đã phức tạp lại càng thêm phức tạp và khó khăn hơn. Không thể đổi mới và chấn hưng đất nước nếu thiếu đồng thuận quốc gia. Các vụ đại án như Việt Á chứng tỏ “đốt lò” không đủ răn đe chống virus tham nhũng, mà còn làm “nhờn thuốc”.

Con trai Tổng bí thư

Bài viết “Người Việt Mới” của Lê Kiên Thành tuy ngắn gọn (có 477 từ), nhưng ẩn chứa tâm trạng của một thế hệ như “phần nổi của tảng băng chìm”. Trước khi viết bài này, tôi đã tìm đọc lại các bài viết hoặc trả lời phỏng vấn của Thành. Tuy anh luôn tự hào về người cha của mình, nhưng Thành không hay khoe khoang và dựa dẫm vào ông.

Tôi quen biết Thành đã lâu, từ những năm đầu thập niên 1990 khi anh mới khởi nghiệp với TMC, một công ty nho nhỏ, có một văn phòng nho nhỏ ở phố Cao Bá Quát (Hà Nội). Tuy lâu ngày không gặp, nhưng tôi vẫn đọc các bài viết và trả lời phỏng vấn của Thành. Đó là một người chính trực, dám nói thẳng cả những chuyện nhạy cảm.

Tuy Thành “không làm chính trị” (hơi đáng tiếc) nhưng anh vẫn quan tâm đến chính trị và thời cuộc “như một người yêu nước”. Điều đó thể hiện qua các bài viết khi Thành kể lại thời kỳ đầu đổi mới như chuyện “tại sao làm kinh tế tư nhân” hay chuyện “suýt nữa phải ra khỏi đảng vì làm kinh tế”, (trong loạt bài “Đêm trước Đổi mới” của báo Dân Trí).

Tuy là con trai cố Tổng bí thư, nhưng Lê Kiên Thành cũng “lên bờ xuống ruộng” như nhiều người khác khi khởi nghiệp. Với mối quan hệ bạn bè ở Liên Xô cũ, Lê Kiên Thành và Nguyễn Duy Tộ đã có sáng kiến mua giúp quân đội khí tài cho không quân (trước khi có Công ty Vạn Xuân). Ngày nay người ta hay gọi việc đó là “buôn vũ khí”.

Sau khi có vốn, Thành và bạn bè đã lập ra Ngân hàng Kỹ Thương (Techcombank), một trong những ngân hàng TMCP đầu tiên thành công, sau đó bán lại cho người khác. So với những doanh nhân khác cùng thời, tuy Thành không trở thành “đại gia”, nhưng anh thường tự hào vì coi trọng nhân cách hơn tiền, không “làm giàu bằng mọi giá”.

Lê Kiên Thành khác Trương Gia Bình (FPT), tuy cùng thời và “con ông cháu cha” (princelings). Bình là con rể Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tuy sau này ly dị vợ. Có lẽ Thành không hợp với triết lý khởi nghiệp của Bình như lời chế trong bài “Đoàn FPT”: “Thằng Tây nó tiến thì mình giật lùi, thằng Tây nó lùi thì mình giật tiền”. Thành không chụp giật.

Thành không trực tiếp “làm chính trị” (như quan chức) nhưng anh vẫn tham gia Mặt trận Tổ quốc Thành phố, tuy biết khộng có quyền lực. Đã có lần Thành tranh cử vào Quốc hội tuy biết “99% sẽ thất bại”. Thành là con trai của cố Tổng bí thư nổi tiếng, nhưng điều đó chưa chắc đã đem lại lợi thế chính trị, vì anh có đầu óc đổi mới cấp tiến.

Người Việt mới là ai

Sau chiến tranh, đất nước đã đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, nhưng chưa hoàn chỉnh, làm cho khoảng cách giàu-nghèo trong xã hội ngày càng tăng. Một số người (cả quan chức và doanh nhân) đã câu kết thành các nhóm lợi ích, thao túng thể chế để vơ vét làm giàu nhanh, trở thành “tư bản đỏ”, trong khi đa số người dân ngày càng nghèo.

Với nền kinh tế thị trường “định hướng XHCN”, xã hội Việt Nam bị phân hóa thành thiểu số có đặc quyền, được hưởng nhiều đặc lợi nên “có tài sản” (the haves) và những người không có đặc quyền và thất thế bị gạt ra ngoài lề nên “không có tài sản” (the haves not). Nói cách khác, đó là sự phân hóa giữa những “người Việt mới” và “người Việt cũ”.

Trong bối cảnh đó, những khẩu hiệu như “uống nước nhớ nguồn” hay “đền ơn đáp nghĩa” ngày càng sáo rỗng và vô nghĩa. Nhiều người thuộc thế hệ có đóng góp nhiều cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, nay cũng bị gạt ra ngoài lề vì không thích hợp với những nhóm lợi ích thân hữu đang thao túng thể chế để làm giàu nhanh.

Mâu thuẫn bùng phát thành các chiến dịch “đốt lò” (chống tham nhũng). Gần đây, vụ Phan Quốc Việt (Việt Á), Trịnh văn Quyết (FLC), và Đỗ Anh Dũng (Tân Hoàng Minh) chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”. Việt Á đã nhập ba triệu bộ kit xét nghiệm của Trung Quốc giá 21,560 đồng về thổi giá lên 470,000 đồng, bán cho 62/63 tỉnh thành để trục lợi.

Muốn biết xu hướng “đốt lò” sắp tới, hãy chờ xem cách xử lý các vụ đại án (như Việt Á) liệu có triệt để không, hay “đầu voi đuôi chuột” vì “sợ vỡ bình”. Trong thời đại dịch, Việt Nam đứng trước “nguy cơ kép” (double dangers): tham nhũng đang “lũng đoạn nhà nước” (nội xâm) và Trung Quốc đang đe dọa chủ quyền tại Biển Đông (ngoại xâm).

Có thể nói các nhóm lợi ích thân hữu đã làm giàu nhanh trên mồ hôi, nước mắt, và cả sinh mạng của hàng triệu đồng bào, ngay trong đại dịch. Đó không chỉ là tội về kinh tế và hình sự mà còn là “giặc nội xâm”, nguy hiểm không kém virus Corona. Vì lòng tham, họ có thể tiếp tay cho “giặc ngoại xâm” trong cuộc chiến âm thầm không tiếng súng.

Vậy ai là chủ nhân thật sự của đất nước? Những “người Việt cũ” thường phàn nàn rằng họ giống những người “ngồi ghé trên một chuyến tàu không phải của mình”. Thực ra đó chính là chuyến tàu của họ, nhưng đã bị “những kẻ cướp tàu” (train hijackers) bắt cóc và bẻ ghi chạy theo hướng có lợi cho các nhóm lợi ích thân hữu – những “người Việt mới”.

Nếu nhà nước không cải tổ thể chế kịp thời để kiểm soát quyền lực, thì các nhóm lợi ích thân hữu sẽ lớn mạnh và biến tham nhũng chính sách thành “lũng đoạn nhà nước” (state capture). Thay vì nhà nước kiểm soát quyền lực của các nhóm lợi ích, thì chính họ sẽ lũng đoạn chính sách và kiểm soát nhà nước. Đó là nguy cơ từ “người Việt mới”.

Trong giai đoạn quá độ đi lên CNXH (hay CNTB), xã hội Việt Nam đứng trước nhiều thách thức và khủng hoảng, như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng giáo dục, khủng hoảng lòng tin. Khủng hoảng nhân cách tuy ít được nói đến nhưng rất hệ trọng. Người ta nói đánh mất lòng tin rất khó lấy lại, và đánh mất nhân cách dễ trở thành thú hoang.

Việt Nam là một xã hội “đang chuyển đổi” (transitional) vẫn chưa công nghiệp hóa, trong khi thế giới đã bước sang giai đoạn “hậu công nghiệp” (post-industrial). Quá trình “tích tụ tư bản” theo “kinh tế thị trường” thường dễ méo mó vì người ta có thói quen duy ý chí hoặc ngộ nhận nên bất chấp quy luật. Vì vậy, người Việt vẫn cần “khai dân trí”.

Trong thế giới đa dạng và “tùy thuộc lẫn nhau” (inter-dedendance), người ta không thể trục lợi cho mình mà không nghĩ đến người khác, và không thể làm theo cách của mình (exceptionalism) mà không hợp tác với người khác. Ngày nay, không một nước nào có thể sống biệt lập trước những mối đe dọa toàn cầu như biến đổi khí hậu và dịch bệnh.

Lời cuối

Cách đây đã lâu lắm, khi trao đổi với Giáo sư của mình trong văn phòng của ông ấy tại đại học ANU, tôi thấy trên bức tường có treo một đoạn trích dẫn diễn ngôn của triết gia Plato. Tôi đã lặng lẽ nhẩm thuộc lòng đoạn đó và nhớ đến tận bây giờ, như một kỷ niệm của thời sinh viên. Tôi hiểu từ xa xưa, giới trí thức đã chịu nhiều bất cập.

Plato đã mô tả những nghịch cảnh của giới trí thức: “We the willing, guided by the unknowing, are doing the impossible for the ungrateful. We have done so much for so long with so little that we are now qualified to do anything with nothing, while the unknowing and the ungrateful are being congratulated for doing nothing, for so long, so well”.

Tạm dịch: “Chúng tôi là những người tâm huyết, được chỉ đạo bởi những kẻ dốt nát, đang làm những việc bất khả thi cho những kẻ vô ơn. Chúng tôi đã làm quá nhiều, quá lâu, với nguồn lực quá ít, nên bây giờ có thể làm bất cứ điều gì mà chẳng có gì, trong khi những kẻ dốt nát và vô ơn được chúc mừng vì không làm gì, quá lâu và quá giỏi”.

Trong đám tang anh Phạm Xuân Ẩn (2006) tôi bỗng nhớ tới lời Plato và chạnh lòng khi vĩnh biệt “người anh hùng thầm lặng” đã cống hiến cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng, nhưng vẫn mong đến ngày Mỹ và Việt Nam trở thành bạn bè. Đó là một nhân cách lớn được cả bạn và thù quý mến. Tôi đã lặng lẽ ghi vào sổ tang cảm xúc của mình.

Sau đó Larry Berman đã tìm thấy đoạn tôi viết trong sổ tang của gia đình và đưa vào chương Epilogue trong cuốn “Perfect Spy”: “Final farewell to our dear brother, teacher and colleague, Hai Trung, ‘a quiet Vietnamese’ hero, who is so uncommon in qualities yet so human in nature that he is well respected by both friends and foes alike, and standing out larger than life, almost a myth. Now that it’s all over, may his soul rest in peace in the next life, with all the pains and ironies, all the mysteries and memories of the good old days that not all is well understood, that he could quietly bring with him to the other world”.

Tạm dịch: “Giã từ người anh, người thầy và đồng nghiệp Hai Trung kính mến, ‘một người Viêt Nam thầm lặng’ và dũng cảm, mà phẩm chất và nhân cách đặc biệt đã làm cho cả bạn lẫn thù đều quý trọng, vượt lên trên cuộc đời thường, như một huyền thoại. Giờ đây khi mọi chuyện đã qua, cầu mong cho linh hồn anh được yên nghỉ trong kiếp sau, với tất cả những nỗi đau và oan trái, với tất cả những bí ẩn và ký ức của một thời xa vắng mà không phải ai cũng hiểu được, mà nay anh có thể lặng lẽ đem theo sang thế giới bên kia”.

28/01/2022

N.Q.D.  

C H Ồ N G C Ũ

C H Ồ N G C Ũ

Chia tay rồi, mỗi người đi một ngã

Mình trở thành… Người lạ đã từng yêu

Em và con làm bầu bạn sớm chiều

Anh rẽ bước, cưới thêm người vợ mới

Chuyện riêng anh, em không hề nhắc tới

Cũng không hề nghĩ ngợi, đắn đo chi

Ly hôn xong, em còn có là gì

Quyền làm vợ đã mất đi từ đó!

Nhưng sâu thẳm trong lòng, em hiểu rõ

Tim sẵn dành một góc nhỏ riêng anh

Dù tình kia như làn khói mong manh

Nhưng hiện hữu trong lòng em mãi mãi!

Chia tay rồi, vài lần anh ghé lại

Ôm chầm con, anh hôn mãi không thôi

Em thoáng buồn vì ý nghĩ xa xôi

Nếu ngày đó chữ… “tôi” đừng hiện hữu

Giá như mình biết mở lòng lượng thứ

Giá như mình biết gìn giữ tình yêu

Thì con mình sẽ vui biết bao nhiêu

Vì trọn vẹn tình thương cha lẫn mẹ

Em bây giờ đã qua thời son trẻ

Đã bước chân bên sườn dốc cuộc đời

Nhan sắc giờ đâu bướm lả ong lơi

Đã qua rồi cái thời khoe xuân sắc!

Chia tay anh, cha mẹ em mãi nhắc

Tuổi còn son thôi… bước nữa đi con

Mãi một mình rồi buồn tủi, héo hon

Em cười trừ: “Mẹ, cha ơi chớ vội!”

Nhìn con mình sao mà em thấy tội

Lấy chồng rồi, con mình sẽ ra sao?!

Với người ta, có huyết thống đâu nào

Biết người ta có mở lòng đón nhận?!

Là vợ chồng tránh được đâu buồn, giận

Sợ người ta trút giận hết vào con

Thương con mà em đánh mất tuổi son

Giờ nhìn lại, cuộc đời bên sườn dốc!

Có nhiều đêm âm thầm em bật khóc

Nhìn con mà thấy dáng vóc của anh

Người dẫu xa, dù duyên đã không thành

Sợi thương nhớ vẫn mong manh hiện hữu…

* * *

Ghé thăm con bao nhiêu là cũng đủ

Anh về đi, kẻo vợ lại ngóng trông

Em hiểu mà cái cảm giác chờ chồng

Luôn bất an trong lòng đầy lo sợ!

Hãy yêu thương, quan tâm nhiều đến vợ

Đừng làm cho cô ấy phải tổn thương

Em vì con mà đi tiếp quãng đường

Về đi anh!… Chồng của em… hồi đó…

ST

Hai Năm Tình Lận Đận

Hai Năm Tình Lận Đận

 Nguyễn Ngọc Duy Hân

(Đặc San Lâm Viên)

Chắc hẳn thỉnh thoảng bạn cũng đã “ca lẻ” trong phòng tắm (chứ không phải là “ca sỉ” trong phòng trà) với bài hát “Hai năm tình lận đận”. Bài nhạc này Phạm Duy đã phổ từ thơ của thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên, trong đó có những câu rất gợi cảm:

Hai năm tình lận đận

hai đứa cùng xanh xao

Hai năm tình lận đận

hai đứa cùng hư hao

Em bây giờ có lẽ

toan tính chuyện lọc lừa

anh bây giờ có lẽ

xin làm người tình thua

chuông nhà thờ đổ mệt

tượng Chúa gầy hơn xưa

hai năm tình lận đận

mình đã già hơn xưa!…

Vâng, những câu thơ này được viết từ năm 1970 tức là hơn 50 năm rồi, mà lại vẫn đúng với tâm trạng của tôi bây giờ trong mùa đại dịch Covid. Sau 2 năm dài với bao chuyện lọc lừa, lận đận, nhà thờ chùa chiền bị đóng cửa, mất mát người thân, ai cũng đã già hơn xưa rất nhiều dù chỉ mới 2 năm.

Tình lận đận mà tôi muốn nói ở đây không phải là tình yêu nam nữ, mà là tình người, tình quê hương, tình cảm xã hội, mà sao cũng đã phải gặp đủ thứ khó khăn lận đận.

Cuối năm mạt Chạp, tôi xin viết lại đôi chút kinh nghiệm trong khoảng thời gian “dịch vật” này, mong rằng bạn sẽ đồng cảm trong một vài chi tiết, cũng như hy vọng mình có thể bớt tiêu cực hơn dù có khi phải cười ra nước mắt.

Đúng thế, từ cuối năm 2019 khi cơn đại dịch xuất phát từ Vũ Hán lan tỏa, thì cả thế giới điêu đứng, lận đận trong suốt hai năm dài mà còn chưa biết khi nào chấm dứt. Sau nhiều lần “lockdown” đóng cửa, người dân đã quá khổ sở, mỏi mệt nên tôi xin gọi đó là cơn lốc đau. Cơn lốc khủng khiếp này đã thổi mạnh làm đau đớn cả địa cầu. Tính tới giữa tháng 1 năm 2022, số người lây nhiễm vi trùng Covid trên thế giới đã lên tới 305 triệu người, số người chết vào khoảng 5 triệu rưởi, cũng may số người đã chích ngừa lên tới gần 5 tỷ, khoảng 60% dân số khắp nơi.

Khởi đầu chuyện 2 năm dài lận đận thì phải nhắc lại việc bắt đầu phải đeo khẩu trang. Lúc đầu năm 2019, nhiều tranh cãi, thậm chí đánh nhau, bắn nhau đã xảy ra cũng vì việc ép buộc phải đeo cái mặt nạ này, chưa kể tới việc khan hiếm khẩu trang trong thời gian đó. Để làm gương, người ta cho các bức tượng thật to, thật nổi tiếng trên thế giới cũng đeo khẩu trang. Mới đây vào Noel 2021, một nhà thờ ở Việt Nam cũng cho ba ông vua Phương Đông và Chúa Hài Đồng tức là baby Jesus đeo mặt nạ, cũng gây nhiều tranh cãi. Thú thật thời gian đầu khi thấy các tu sĩ Công Giáo, Phật Giáo đeo khẩu trang khi mặc lễ phục, tôi thấy rất lạ, rất khó chấp nhận nhưng riết rồi cũng quen. Bây giờ khi ra đường mà không có miếng vải che mặt này, lại thấy trống trải chi đâu. Nhưng tính ra che mặt cũng có cái lợi, vì không ai biết mình xấu hay đẹp, khỏi phải tốn giờ tốn tiền mua mỹ phẩm trang điểm, giảm bớt hít thở phải bụi bậm ô nhiễm. Chỉ có cái hơi lẫn lộn, nhìn người nọ xọ ra người kia. Nghe nói có ông chồng vô ý đã chở bà khác về nhà thay vì vợ mình, không biết có thật không!?

Thời Covid mới bắt đầu lây lan, người ta còn dành nhau mua các nhu yếu phẩm, đặc biệt giấy dùng khi đi cầu là món hàng khan hiếm đã xuất hiện nhiều trên các trang mạng xã hội, báo chí lúc đó. Các đôi bông tai, nữ trang hình cuộn giấy vệ sinh cũng được chế tạo đánh dấu một sự kiện chưa từng có trước nay. Điều này đã làm mình suy nghĩ lại. Nhiều vật dụng, tiện nghi mình có và dùng hằng ngày nhưng vì bận rộn đã không thấy tầm quan trọng cho tới khi nó trở thành khan hiếm. Một thí dụ khác là hơi thở. Hằng phút hằng giây mình đã thở và sống, cho tới khi mình hay người thân nhiễm Covid, hấp hối khó thở thì mới thấy khi được thở bình thường là quý giá cỡ nào. Lúc bị cấm cửa trong nhà, nhất là trong thời gian hoàn toàn không thể ra đường như ở bên Tàu, bên Việt Nam, lúc đó mới thấy quý hơn những giờ khắc được sum họp, đi thăm nhau, cùng nhau ăn uống, xem văn nghệ, sinh hoạt thể thao, cộng đồng…Tin tức cũng đã loan truyền việc bên Tàu trừng phạt người dân vi phạm luật dám ra đường đi chợ, bằng cách bắt họ đeo tấm hình của mình to tướng trước ngực, đi vòng quanh thành phố để bêu xấu. Tục “gọt đầu bôi vôi” ngày xưa mà nay vẫn còn bị áp dụng tại xứ Tàu, nghe thấy mà rầu.

Tiếp theo phải nhắc tới chuyện chích ngừa. Mới đầu người ta ước ao mau có thuốc chủng để bớt chết vì dịch, nhưng khi có thuốc rồi thì một số suy nghĩ trái chiều đã xảy ra. Nhiều nước nếu không có giấy chứng nhận chích ngừa sẽ không được đi du lịch, thậm chí không được đi ra chợ, đi tới nơi công cộng. Nhưng ngược lại nhiều người lại không tin vào thuốc, sợ vaccine có các phản ứng phụ, thí dụ bị ảnh hưởng không thể sanh con, nên đã biểu tình chống vaccine, thậm chí bỏ xứ, bỏ việc đi Mexico hay các nước không bắt buộc phải chủng ngừa để sinh sống. Chính phủ các nơi phải “dụ” người dân đi chích bằng các giải thưởng, nào là trúng xổ số nhiều tiền, nào là trúng súng săn, được uống bia miễn phí hay các món quà nhỏ. Vui nhất là được xem vũ sexy miễn phí ở Las Vegas nếu tới đó tiêm chủng. Nghe nói nhiều ông đã hăng hái tham gia chương trình này, thật là bất công vì không có vũ nam sexy cho các bà! Tại tiểu bang West Virginia, Hoa Kỳ, người ta làm bảng quảng cáo rằng không chích ngừa cũng được trúng số luôn, nhưng lô trúng là cái chết, tức là trúng được tiếng gọi của Tử Thần. Quả là chuyện dài chích ngừa, đi đâu cũng nghe người ta hỏi nhau, chích chưa, chích thuốc gì, có bị hành không. Để khuyến khích người dân chích ngừa, một nhiếp ảnh gia đã chụp được hình đàn cừu sắp hàng thành hình cái ống chích và kim chích, nhìn cũng rất đặc biệt, muốn “train” đàn cừu này đứng sắp thành hàng như thế không dễ đâu.


Quan trọng hơn cả là nền kinh tế đã bị ảnh hưởng nặng nề. Có thực mới vực được đạo, dù chánh phủ các nước đã cố gắng hỗ trợ, giúp tiền để người dân sống tạm qua ngày, nhưng số nhà hàng, cơ sở thương mại phải đóng cửa tạm hoặc đóng cửa luôn lên rất cao, làm biết bao người bị khốn đốn. Thương hiệu Victoria’s Secret tuyên bố phá sản, Zara đóng cửa 1200 cửa hàng, La Chapelle rút xuống chỉ còn hơn 4000 cửa hàng, Chanel, Hermes, Patek Philippe, Rolex ngừng sản xuất. Nike và rất nhiều công ty phải sa thải nhân viên liên tục. Người sáng lập dịch vụ thuê nhà AirBnb nói rằng vì đại dịch, 12 năm nỗ lực của họ đã bị phá hủy trong 6 tuần. Ngay cả hệ thống Cà-phê Starbucks cũng đóng cửa vĩnh viễn hơn 400 cửa hàng. Biết bao người có cửa tiệm khóc dở, người tiêu thụ cũng gặp bao khó khăn.

Riêng ngành du lịch thì thê thảm, lận đận hơn hết. Hồi xưa du lịch thì sang, bây giờ du lịch cả làng cách ly. Báo chí đã đăng tin 30 ngàn người đi chơi Disney Land ở Thượng Hải đã bị đóng cửa xét Covid rất lâu rồi mới được về nhà. Các hãng máy bay, xe taxi và Uber, khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ liên hệ đói meo. Khi cơn dịch bớt hoành hành thì chính phủ cho đi tới đi lui trở lại, ngành du lịch tạm thời tái hoạt động, nhưng thủ tục khám xét chích ngừa vừa rắc rối vừa hao tốn nhiều tiền, làm nhụt chí khách đi chơi, đi thăm viếng gia đình. Tiếp theo vì thiếu nhân viên, thiếu xăng dầu nên nhiều chuyến bay bị đình trệ hoặc hủy bỏ hẳn, khiến việc đi chơi đã trở thành “flymare”, lấy từ chữ “nightmare” tức là cơn ác mộng mà ra. Có khi chuyến bay đầy đủ xăng dầu, có phi công, đông đủ hành khách nhưng không cất cánh được chỉ vì thiếu người đẩy xe đem thức ăn lên máy bay. Nhiều con chip nhỏ, nhiều việc rất nhỏ nhưng vì bị trở ngại nên việc sản xuất bị đình trệ, khó khăn, làm giá thành tăng cao nhiều lần. Cũng có lúc khoai tây, nông sản, thịt cá phải đem bỏ bãi rác vì ảnh hưởng dây chuyền của Covid, thật là một giai đoạn đầy cam go, lận đận.

Số người mất việc tại các nước kể cả Việt Nam cũng lên cao kỷ lục. Mới đầu là bị đóng cửa không được đi làm, nhưng sau khi ở nhà một thời gian thì lại đâm ra ươn lười, mệt mỏi không muốn đi làm nữa. Chưa kể rất nhiều người phải từ chức, mất việc một cách lãng xẹt. Chẳng hạn ông bộ trưởng bộ y tế nước Anh chỉ vì một cái hôn mà phải mất chức. Ông ôm hôn cô bạn gái ở nơi công cộng không theo luật gián cách xã hội nên bị phản đối. Còn rất nhiều nhân vật chính phủ, chính trị gia bị “in trouble” vì đi du lịch trong khi dân bị cấm cửa, nói một đàng làm một nẻo không làm gương “người tốt, việc tốt” cho dân nên bị ép phải từ chức.

Tại Việt Nam thì kinh khủng hơn, mới đầu nhà cầm quyền Cộng Sản rất tự hào đã chống dịch như chống giặc, nhưng rồi cuối cùng vẫn bị “dính”. Khoảng 1 triệu rưởi dân lao động đã phải rời thành phố, đặc biệt là Saigon để về quê tránh dịch, tạo thành một cuộc di tản to lớn. Dân chúng về quê để có gì ăn đó, tìm cách sinh nhai vì ở thành phố mà không được ra đường đi làm, suốt ngày trong bốn bức tường chật hẹp thì làm sao sống. Việc thử nghiệm, cách ly người nghi ngờ bị Covid đã bị thực hiện cách thiếu khoa học, quan niệm sai lầm nên người dân vô cùng khổ sở. Hình ảnh người phụ nữ bị xe cần cẩu “cẩu” đi đem bỏ ở khu vực cách ly ô hợp, dơ dáy là hình ảnh xấu không tin được, nhưng đã xảy ra ở nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

Sau khi mất hàng triệu mạng sống vì Covid, thiệt hại về tiền bạc, kinh tế, thì phải kể tới những hao tổn tinh thần to lớn chưa từng xảy ra trước giờ. Do nằm nhà lâu ngày bị tù túng ảnh hưởng tinh thần, nhiều người đã trở nên nóng nảy, thậm chí dễ dàng rút súng rồi gây ra nhiều tai nạn, chết chóc. Một người khi ra Starbucks mua bánh mì bagel ăn sáng, chỉ vì cái bánh không có cream cheese mà ông đã rút súng ra hăm dọa cô gái bán hàng. Ở Hy Lạp, một linh mục Chính Thống giáo đã tạt acid vào 7 vị giám mục khác. Rất nhiều chuyện hăm dọa, kiện tụng, đánh đấm xảy ra vì “stress” quá không chịu nổi các áp lực, khó khăn, sợ hãi trong cuộc sống. Vợ chồng thì gây lộn ì sèo vì ở nhà cả ngày, nhìn thấy nhau bèo nhèo phát chán! Có người còn đưa ra “thuyết âm mưu”, cho rằng vì thuốc chích ngừa làm ảnh hưởng nên người ta mới mau quên, mau nổi nóng. Riêng “sự cố” lên cân mùa Covid thì không biết bao nhiêu là chuyện tiếu lâm đã được lan truyền.

Quả là rảnh rỗi sinh nông nỗi, cấm cung ở nhà có nhiều giờ dư nếu không suốt ngày nấu ăn rồi nằm dài xem phim bộ, thì làm cái gì cho hết ngày. Các trung tâm tập thể dục lại bị đóng cửa nên tha hồ mà lên ký. Quả thế, mùa Covid các bà không làm vương phi, quý phi mà lại làm thùng phi mới chết chứ. Thương hiệu Victoria Secret chuyên bán quần áo lót cho phụ nữ bị ế ẩm, phải thay đổi người mẫu. Thay vì thon đẹp sexy, vào thời Covid hãng phải thay quảng cáo bằng hình ảnh người mập cũng có thể mặc loại quần áo lót của họ như các người mẫu! Bản thân tôi cũng bị lên cân khá khá, nghĩ cũng sợ nhưng xem hình thấy Bill Gate, nhiều tài tử ca sĩ nổi tiếng cũng tròn trịa hẳn ra, đành phải an ủi là phải theo thuở theo thì, không cần đi ngược lại thời đại, người ta sao mình vậy!

Cũng có người nói đùa sẽ mướn luật sư “sue” chánh phủ vì họ không cho đi gym tập thể dục, làm mình mập ra yếu đi nên bắt họ phải bồi thường. Cũng xin mở ngoặc là mùa Covid, các luật sư đã giàu to vì có nhiều job hơn bao giờ hết. Không biết bao nhiêu vụ bất đồng, kiện tụng đã xảy ra, bên nào cũng có lý, bên nào có tiền mướn luật sư thì bên đó có nhiều cơ hội thắng hơn. Bạn bè cũng trêu chọc sau khi lận đận 2 năm với Covid, đã đạt được danh hiệu “Da trắng tóc dài”. Bốn chữ này khi xưa ông bà ta dùng để diễn tả người khá giả, không bị chân lấm tay bùn, không phải cắt tóc ngắn để làm ruộng, bây giờ cấm cung ở trong nhà riết ai nấy da trắng bệch, tiệm bị cấm mở cửa không đi cắt tóc được thì tóc không dài sao được. Nhiều đám tang, đám cưới bị giới hạn số người tham dự nên vắng hoe. Năm ngoái chúng tôi đi lễ đám cưới con người bạn tại nhà thờ, khi ấy được tối đa 60 người dự, vị linh mục vui vẻ cho biết đây là đám cưới lớn nhất trong năm.

Sau những lận đận vì Covid, tôi cũng xin nhắc sơ qua vài sự kiện được cho là “nổi cộm” xảy ra trong năm vừa qua.


Điều đầu tiên được cho là khủng hoảng ở Mỹ khi 1,7 triệu người đã nhập cư bất hợp pháp vào xứ Cờ Hoa này. Người ta than phiền nước Mỹ ngày nay xuống cấp, chính trị rối beng, đời sống khó khăn nhưng nó vẫn là thiên đường và nhiều người tứ xứ muốn được vào sinh sống, dù là làm chui lấy tiền mặt không bảo hiểm, không giấy tờ hợp lệ. Tiếp tới là thống kê của những vấn đề an ninh quốc gia bị vi phạm, số lượng ma tuý khổng lồ bị đưa vào nước Mỹ bán chợ đen và các tội phạm, đặc biệt các vụ bắn nhau hằng loạt do sự dễ dãi quá đáng của việc cho phép mua súng. Số cảnh sát thiệt mạng khi làm nhiệm vụ trong năm 2021 cao kỷ lục, đám tang của họ thua xa đám tang của George Floyd – một người từng có nhiều thành tích bất hảo đối với pháp luật Hoa Kỳ và bị ông cảnh sát da trắng chấn cổ đến chết. Cùng thời gian này, nhiều nhà thờ bị đốt cháy, các bức tượng, di tích lịch sử bị đập phá.
“Asian Hate” tức hiện tượng người châu Á da vàng mũi tẹt bị ghét, bị đuổi về Tàu cũng xảy ra thường xuyên hơn, người Việt cũng bị vạ lây, không lẽ ra đường phải đeo bảng “Tôi không phải người Tàu!”

Chuyện được báo chí cho là đặc biệt xảy ra trong năm là vụ nổi loạn tại Điện Capitol, Hoa Kỳ vào ngày 6 tháng Giêng 2021. Hiện vấn đề này cũng còn phải điều tra, nhiều vụ lùm xùm ý kiến trái ngược nhau. Gia đình tranh cãi, mất vui vì kẻ bênh Biden, người bênh Trump.

Vào 24 tháng 3, một trong những tàu container lớn nhất thế giới với trọng tải hơn 200,000 tấn đã mắc cạn ở kênh đào Suez, bịt kín tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới, khiến mọi hoạt động bị đình trệ trong gần một tuần, gây thiệt hại rất nhiều.

Kế tới là việc sét đánh từ trời xuống trong lúc người dân Bắc Kinh đang chứng kiến màn trình diễn ánh sáng vào tháng 6, 2021, khi Trung Cộng mừng lễ 100 năm thành lập Đảng. Trung Cộng cũng hứng chịu nhiều thiên tai bão lụt như trận lũ rất lớn Hà Nam. Nhiều người cho rằng do chính quyền Trung Cộng quá ác nên uất khí tuôn ra quá nhiều đã chạm tới Trời, nên ông Trời phải trừng phạt.

Việc căn nhà 12 tầng ở Surfside, Florida (Mỹ) bị sập khiến gần 100 người thiệt mạng vào ngày 24/6/2021 cũng được cho là chuyện đáng chú ý trong năm.

Cuộc đảo chánh tại Miến Điện, Thế Vận Hội tại Tokyo, cuộc chiến tại Afghanistan chấm dứt cũng được truyền thông nhắc tới như những sự kiện quan trọng đã xảy ra năm 2021 trên thế giới. Riêng tôi rất quan tâm và bất bình trước các bất công, đàn áp xảy ra ở Miến Điện và Afghanistan. Hình ảnh dân Afghanistan phải trốn khỏi nước mong đi tị nạn khi bị Mỹ bỏ rơi bất ngờ không khác gì hình ảnh Saigon trong cơn hấp hối 1975. Thương thay cho người dân xứ này khi nhóm Taliban lên cầm quyền, họ giới hạn quyền cơ bản của phụ nữ, diễn giải nghiêm ngặt luật Hồi giáo khiến người dân vô cùng khổ sở.

Tại Đức, bà Angela Merkel hôm 8/12/2021 đã kết thúc 4 nhiệm kỳ dài tổng cộng 16 năm, nhường ghế Thủ tướng lại cho Olaf Scholz cũng là điều đáng nói trong giới truyền thông và chính trị.

Trở lại Việt Nam, với tôi sự kiện quan trọng xảy ra vào tháng 12, 2021 là việc Cộng sản tiếp tục đàn áp, bắt bớ người bất đồng chính kiến. Tiêu biểu là nhà báo Phạm Đoan Trang bị kết án 9 năm tù. Sau vụ Đồng Tâm, Trịnh Bá Phương cũng bị tuyên phạt 10 năm, Nguyễn Thị Tâm 6 năm và Đỗ Nam Trung 10 năm. Sau đó đầu tháng 1, 2022, anh Lê Trọng Hùng, một nhà báo độc lập cũng bị tuyên án 5 năm. Họ cũng đã kết tội ít nhất 18 người khác chỉ vì những người này dám lên tiếng đòi cải tổ xã hội. Các tổ chức nhân quyền quốc tế như Human Rights Watch, Phóng viên không biên giới, Ủy ban Bảo vệ Nhà báo cũng như một số nước phương Tây đều đã mạnh mẽ lên án các vụ xử này, nhưng bọn cầm quyền Việt Nam vẫn trơ trơ thi hành “nghị quyết”, tưng bừng ăn hối hộ, ăn bò dát vàng như vụ Tô Lâm và Việt Á khi đấu thầu các dụng cụ thử nghiệm Covid 19, số tiền hối lộ lên tới mức khủng khiếp và là đường dây có tính cách quốc gia rộng lớn. Những người có tài, có tinh thần đấu tranh đều bị bắt, bị trù dập cả, tương lai của nền Dân Chủ Việt Nam rồi sẽ ra sao?

Việc bà Nguyễn Phương Hằng kiện ông “thần y” Võ Hoàng Yên rồi sau đó thành “youtuber” đông đảo khán giả cũng là chuyện lạ đã xảy ra ở quê nhà, nhiều ca nghệ sĩ, nhân vật nổi tiếng tại Việt Nam bị vạch mặt chỉ tên, việc làm từ thiện cần phải được xem xét lại. Dù bao bất công, đói khổ vẫn xảy ra, các Hoa hậu Việt Nam vẫn tưng bừng nhận chức, một vài cô chiếm được giải trên thế giới, cũng là chuyện hay nhưng quả là Việt Nam ta thiếu hoa tươi, thừa hoa hậu!

Nhìn chung, thế giới năm qua hứng chịu nhiều bất ổn chính trị, xung đột, thiên tai và rắc rối, trong khi Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, sau Omicron rồi không biết còn biến thể nào nữa. Con số nợ quốc gia, thất nghiệp, lạm phát, giá nhu yếu phẩm, xăng dầu lên đến mức không tin được, nhưng thôi đành an ủi sống lây lất qua cơn đại dịch này là may rồi. Hy vọng tương lai sẽ tốt đẹp hơn. Dù sao cũng nên nói tới mặt tích cực của cơn dịch Covid là do nhà hàng đóng cửa ở nhà phải tự nấu ăn, nhiều người đã trở thành đầu bếp giỏi, có thì giờ trồng cây, đọc sách, dọn dẹp, gia đình có nhiều giờ hơn để quay quần bên nhau, lại cũng có thể để dành được tiền cho người nghèo vì không thể du lịch, đi shopping mua sắm. Nhưng xin đừng để cô Vi thành cô đơn, vì một số người lại quen với cách ở một mình, sống ảo, mua sắm “online” không thích gặp nhau nữa.

Nãy giờ điểm qua toàn tin buồn, nghe tin tức mà không dám tin, chỉ thấy tức, thì xin nói tới tin vui nhất trong 2 năm qua là Mỹ đã phê duyệt thuốc viên điều trị Covid-19 của hãng Pfizer. Tin khác cũng vui chút chút là dù số người lây nhiễm vi trùng Omicron cao nhưng con số nhập bệnh viện hoặc chết ít hơn. Người ta cũng sáng chế ra máy thay cho chó để đi tìm ra mùi của bệnh Covid. Giống chó thính mũi ghê, ngửi được mùi Covid, nhưng kiếm không ra nhiều chó để làm công việc này, lại chưa chính xác nên ngày nay đã phát minh ra được máy, hay các Rapid Test cũng giúp rất nhiều. Chị bạn tôi hi vọng sau này chó hay máy cũng có thể tìm ra mùi “tiểu tam”, phát hiện được bồ nhí của chồng vì họ dấu rất tài tình!

Tin vui khác là nếu được Thống Đốc Ron DeSantis chấp nhận và ký trong năm 2022, ngày 7 tháng 11 hàng năm tại Florida sẽ được công nhận là “Ngày Nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản”. Học sinh trung học tại Florida cũng sẽ được hướng dẫn về sự tàn bạo của chủ nghĩa Cộng sản và câu chuyện về những nạn nhân của chủ nghĩa này ở Cuba, Venezuela, Nicaragua, Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Nam, Nga… Điều này nếu thành sự thật thì tôi vui lắm, vì thế giới và giới trẻ cần biết nhiều hơn về tai hại của chủ nghĩa Mác Lê này.

Vâng, hy vọng năm 2022 sẽ có nhiều điều tích cực hơn, lạc quan hơn, so với hai năm vừa qua. Chúng ta ca bài “Hai năm tình lận đận”, mong rằng không có bài “Ba năm tình lận đận”. 

Để kết thúc 2 năm tình hư hao, xanh xao, tôi xin thay đổi không khí bằng một chuyện vui cười thời Covid để chấm dứt bài viết.

Chuyện là một ông chồng nọ bị nhiễm Covid và phải cách ly. Ông bị ở riêng một mình dưới tầng hầm basement trong nhà. Hằng ngày không phải đi làm, được vợ con cơm bưng nước rót tận cửa phòng. Quần áo thay ra ông bỏ vào cái bọc chìa ra ngoài cửa, vợ đeo bao tay, bịt mũi đem đi giặt, có gì cần thì “text”, thì email, ít khi vợ con dám đứng gần nói chuyện trực tiếp, khỏi nghe nói nhiều nhức xương. Sau 10 ngày, bác sĩ long trọng báo tin vui ông đã hết vi khuẩn, có thể trở về cuộc sống bình thường. Ông run run xin bác sĩ đừng báo cho bà vợ biết tin này. Ông còn muốn tận hưởng những ngày “cách ly” không bị nghe cằn nhằn, không phải giúp việc nhà, lại được phục vụ tận cửa. Bạn có muốn “được” cách ly như ông chồng trong chuyện vui cười có thật này không??!!

Cuối năm Âm lịch, Tết Nhâm Dần đã sắp đến, chúc quý bạn gia quyến, một năm mới tràn đầy thương yêu, niềm tin và hy vọng. Để bớt những tiêu cực làm mình xanh xao, hư hao, lận đận, hãy cùng nhau nhắc nhở chính mình suy nghĩ tích cực, vận động cơ thể. Xin chúc nhau nhẹ gánh buồn, khỏe mạnh hơn, và nhất là không bị mắng là đồ mắc dịch dù nghĩa đen hay nghĩa bóng. Cầu chúc “Hai năm tình lận đận” được chấm dứt ngay đầu năm 2022 này

Nguyễn Ngọc Duy Hân

(Đặc San Lâm Viên)