Vì mắc tội Tổ tông, chúng ta có bị bó buộc phải phạm tội không?

Vì mắc tội Tổ tông, chúng ta có bị bó buộc phải phạm tội không?

Chúc bạn ngày thứ 6 bình an cả trong lẫn ngoài nhé. Xin một lời cầu nguyện khẩn thiết cho những người dân Ukraine đang bị anh đại ca ăn hiếp. Còn Việt Nam ta thì sao nhỉ? Sớm muộn gì “nay anh mai tôi” thôi. Đúng là TỘI…!

Thứ 6: 25/02/2022

GIÁO LÝ: Vì mắc tội Tổ tông, chúng ta có bị bó buộc phải phạm tội không? Không. Con người dù bị tổn thương nặng bởi tội Tổ tông, và có khuynh hướng nghiêng chiều về tội lỗi, nhưng với ơn Chúa giúp, con người có thể làm điều tốt. (YouCat, số 69)

SUY NIỆM: Không khi nào bị bó buộc phải phạm tội. Nhưng thực ra, ta không ngừng phạm tội được là vì ta yếu đuối, không hiểu biết, nên dễ sa chước cám dỗ. Bị bó buộc phải phạm tội thì không có tội, vì chỉ có tội khi ta tự ý phạm. (YouCat, số 69 t.t) Xin ôn lại bài số 67, tội là gì? Tội là hoàn toàn từ bỏ Thiên Chúa, từ chối không đón nhận Tình yêu Thiên Chúa, khinh thường không giữ giới răn của Thiên Chúa.

Vậy khi con người TỰ Ý khước từ Thiên Chúa thì đời sống luân lý sẽ ra sao? Nói chung là phong hoá suy đồi, một sự mất mát đưa nhân loại tới chỗ huỷ diệt mà họ không nhận thấy. Thánh Phaolô kể ra những thói hư tật xấu của xã hội ngoại giáo đương thời như sau: đồng tính kuyến ái, bất công, độc ác, ham hố, ghen tương, lừa đảo, nói xấu, khoe khoang, kiêu căng, nổi loạn chống lại cha mẹ. Toàn những tội nghe mà phát ớn đến ngay cả những người ngoại đạo cũng không thể chấm nhận được huống chi là người Ki-tô hữu. Trong lòng của bạn đang ở trong tình trạng nào hả? Nhìn vào đống tội kếch xù của xã hội được kể trên, bạn có tí gì liên quan đến nó không? Tuy không lừa đảo ai như nói dối một tí thôi. Nói dối cũng là tội vậy.

LẮNG NGHE: Đức Giê-su lại gọi đám đông tới mà bảo: “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế. (Mc 7:14-15)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa ban cho con người có tự do, là để họ dùng tự do ấy một cách đúng mức và để họ có trách nhiệm về những việc mình làm. Và lạy Chúa vì con người hay lạm dụng tự do, nên Chúa đã thiết lập lề luật làm nền tảng để lượng giá một hành động của họ. Xin cho con biết vâng theo luật Chúa đã khắc ghi vào lương tâm con để con sống xứng đáng là con của Chúa.

THỰC HÀNH: Bị cưỡng ép hay bị bó buộc không phải là tội. Hôm nay mời bạn hãy nhìn lại lối sống của mình coi đâu là khuynh hướng tội mà bạn tự ý chọn để thoả mãn cái tôi, cái lòng ích kỷ của mình nhé.

From: Đỗ Dzũng

Giáo hoàng phá lệ, đích thân đến đại sứ quán Nga để nêu vấn đề Ukraine (VOA)

VOA Tiếng Việt 

Giáo hoàng Francis hôm 25/2 đã đến Đại sứ quán Nga tại Vatican để nêu quan ngại của ngài với đại sứ Nga về việc Nga xâm lược Ukraine, trong một hành động được xem là phá lệ nghi thức ngoại giao chưa từng có, theo Reuters.

Ông Matteo Bruni, Người phát ngôn Vatican, cho biết Giáo hoàng đã họp hơn nửa giờ ở đại sứ quán Nga.

Ông Bruni nói: “Ngài đã bày tỏ mối quan ngại của mình về cuộc chiến.” Tuy nhiên, ông Bruni từ chối cho biết chi tiết về chuyến thăm hoặc nội dung cuộc đối thoại này.

Ông Bruni cũng không bình luận về một bản tin của Argentina nói rằng vị giáo hoàng, 85 tuổi, đề nghị Vatican sẽ làm trung gian hòa giải. Đại sứ Nga Aleksandr Avdeyev đã phủ nhận điều này, theo thông tín viên của hãng thông tấn Nga tại Rome.

Đại sứ Avdeyev nói với hãng thông tấn RIA Novosti rằng cuộc gặp với Giáo hoàng kéo dài khoảng 40 phút và Giáo hoàng bày tỏ “quan ngại lớn” về tình hình nhân đạo ở Ukraine.

Đại sứ được dẫn lời nói rằng Giáo hoàng “kêu gọi bảo vệ trẻ em, bảo vệ những người bệnh tật và đau khổ, và bảo vệ mọi người”.

Trong một tuyên bố hôm 24/2, Ngoại trưởng Vatican, Hồng y Pietro Parolin, cho biết Vatican hy vọng rằng những người nắm giữ vận mệnh của thế giới trong tay họ sẽ có một “tia sáng lương tâm”.

Giáo hoàng phá lệ, đích thân đến đại sứ quán Nga để nêu vấn đề Ukraine
VOATIENGVIET.COM

Giáo hoàng phá lệ, đích thân đến đại sứ quán Nga để nêu vấn đề Ukraine

Giáo hoàng Francis hôm 25/2 đã đến Đại sứ quán Nga tại Vatican để nêu quan ngại của ngài với đại sứ Nga về việc Nga xâm lược Ukraine, trong một hành động được xem là phá lệ nghi thức ngoại giao chưa từng có.

Biểu tình nhiều nơi trên thế giới phản đối Nga xâm lăng Ukraina (RFI)

RFI Tiếng Việt 

Ngay trong ngày 24/02/2022, sau khi Nga tấn công Ukraina, nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra, từ Tokyo đến Vacxava, từ Praha đến Paris, Berlin hay Luân Đôn và cả tại Matxcơva, Saint Petersbourg, để phản đối việc Nga xâm chiếm Ukraina. Tại Nga, cảnh sát bắt giữ hàng trăm người biểu tình.

Theo tổ chức phi chính phủ OVD- Info, được AFP trích dẫn, gần 1.400 người bị câu lưu tại Nga trong ngày hôm qua 24/02 do tham gia các cuộc tuần hành chống chiến tranh tại Ukraina. Hơn 700 người bị bắt tại Matxcơva.

Chiều qua, khoảng 3.000 người tập hợp tại quảng trường Cộng Hòa Place de la République- Paris giương cao biểu ngữ « Putin, kẻ sát nhân », và đòi quốc tế mạnh mẽ áp dụng các biện pháp « trừng phạt Nga », « trang bị vũ khí giúp Ukraina tự vệ ». Một số chính khách Pháp đã tham dự cuộc tuần hành. Ứng cử viên tổng thống Pháp đại diện cho đảng Xanh, Yannick Jadot, kêu gọi châu Âu phong tỏa tài sản và tài khoản ngân hàng của giới tài phiệt Nga.

Trong đoàn biểu tình có nhiều người Nga kịch liệt lên án tổng thống Vladimir Putin mở chiến dịch tấn công nước láng giềng. Một đoàn người biểu tình tập hợp trước tòa đại sứ Nga ở Paris để phản đối. Tại Marseille, thành phố cảng ở miền nam kết nghĩa với Odessa, hàng chục người Ukraina sống tại Pháp và một số chức sắc địa phương cũng đã tuần hành đòi Nga tôn trọng chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraina.

Tại Đức, cổng thành Brandebourg ở thủ đô Berlin được thắp sáng với hai màu xanh và vàng, màu cờ Ukraina. Gruzia, từng bị Nga xâm chiếm hồi năm 2008, hàng ngàn người xuống đường phản đối chiến tranh. Tại thủ đô Praha, dân chúng chưa quên hình ảnh xe tăng Liên Xô tràn vào hồi năm 1968, cho nên hôm qua, hàng ngàn người đã tuần hành từ quảng trường Wencesls đến trước cửa tòa đại sứ Nga và hô to khẩu hiệu ủng hộ Ukraina.

Nhìn sang Ba Lan, cờ của nước Nga bị người biểu tình đốt tại thủ đô Vacxava. Tại thủ đô Vilnius của Litva, quảng trường Boris Nemkov trước sứ quán Nga đông kín người. Cảnh sát Litva đưa ra con số 15.000 người biểu tình. Không đông đảo như tại các quốc gia đông Âu, công luận Liban, Nhật Bản, Hà Lan hay Thổ Nhĩ Kỳ cũng thể hiện mạnh mẽ quan điểm bất đồng với Matxcơva.

RFI.FR | BY RFI TIẾNG VIỆT

Ngay trong ngày 24/02/2022, sau khi Nga tấn công Ukraina, nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra, từ Tokyo đến Vacxava, từ Praha đến Paris, Berlin hay Luân Đôn và cả tại Matxcơva, Saint Petersbourg, để phản…

Một kẻ “về hùa với bạo lực”, “chà đạp luật pháp quốc tế”

Một kẻ “về hùa với bạo lực”, “chà đạp luật pháp quốc tế”

24-2-2022

Mình vẫn nhớ bài diễn văn của Putin nhân kỷ niệm 60 năm ngày chiến thắng fascist Đức, 9/5/2005. Thời điểm đó, nước Nga đang ở vùng đáy của vị thế. Một năm trước, trường tiểu học số một tại Beslan bị nhóm phiến quân Chechnya tấn công, bao vây. Cuộc giải cứu bất thành, 333 người, trong đó nhiều trẻ em bị sát hại. Ba năm trước, một nhà hát ở Moscow bị tấn công. 131 nạn nhân thiệt mạng (cùng 40 tên khủng bố). Năm năm trước, tàu ngầm nguyên tử Kursk chìm mãi mãi xuống đáy đại dương cùng với 118 thuỷ thủ đoàn. 

Trên bình diện quốc tế, nước Nga bất lực nhìn Mỹ và đồng minh tấn công Afghanistan, và đặc biệt là Iraq. Vị thế nước Nga xuống thấp như vậy, nhưng thông điệp của bài diễn văn năm đó của Putin thì lại là lời kêu gọi hoà bình. Putin lên án những kẻ “về hùa với bạo lực”, chỉ trích “chủ nghĩa dân tộc cực đoan và tinh thần thượng đẳng”, kêu gọi “mọi tranh chấp phải được giải quyết theo luật pháp quốc tế”, và kết thúc bài diễn văn bằng khẩu hiệu “vinh quang thuộc về nước Nga”, những người đã đổ máu cho cuộc chiến chính nghĩa 60 năm trước chống lại chủ nghĩa Quốc Xã.

17 năm sau bài diễn văn năm đó, nước Nga đã thay đổi, và Putin đã thay đổi. Nước Nga dưới thời Putin (kể cả bốn năm “gián đoạn kĩ thuật” dưới thời Medvedev) đã tham gia tích cực vào bốn cuộc chiến khác nhau. Năm 2008, Nga tấn công Georgia trong một cuộc chiến ngắn ngày nhưng chết chóc. Năm 2014, quân sĩ Nga tháo cầu vai, cờ hiệu… giả dạng làm những lực lượng quân sự không thuộc Nga để tiến vào Crimea, Sevastopol, đông Ukraine.

Tại miền đông Ukraine cùng năm, một chiếc máy bay của hãng Malaysia Airlines bị bắn rơi. 298 người thiệt mạng. Một năm sau, Nga can thiệp quân sự vào nội chiến Syria với danh nghĩa chống ISIS. Các thủ lĩnh ISIS bị tiêu diệt, bước tiến của lực lượng nổi dậy Syria cũng bị chặn đứng. Để trả đũa, một chiếc máy bay của hãng Metrojet bị đánh bom khi đang trên bầu trời. 224 người thiệt mạng, trong đó có 219 người Nga.

Trong hai thập kỷ biến động, Nga dần trở lại là một cường quốc quân sự, nhưng vẫn là một thế lực trung bình về kinh tế. Thậm chí, một nhà kinh tế dưới thời Obama còn ví von nền kinh tế Nga như một “cây xăng”, không có quá nhiều ảnh hưởng đến kinh tế thế giới ngoài giá dầu. Nếu bạn không tin, hãy thử kể tên một công ty Nga hoặc một sản phẩm của Nga mà bạn đang sử dụng trong nhà. Và hãy so sánh với sự trỗi dậy của Trung Quốc, của Việt Nam, và thậm chí là của lân bang như Ba Lan, Baltic.

Tuy vậy, có lẽ Putin đã tìm được một biện pháp hữu hiệu để nói lên tiếng nói của mình với thế giới, sau khi đã hợp pháp hoá việc cầm quyền lâu dài của mình vào năm 2020 (thông qua một bản tu chính Hiến pháp rất đáng ngờ). Không có được vị thế kinh tế như Trung Quốc, quyền lực mềm (và kinh tế, và quân sự) như Mỹ, Nga có lẽ chỉ còn dựa vào vũ khí và các chiến dịch tung tin giả, viết lại, xét lại lịch sử chủng tộc. Có lẽ thời khắc mọi thứ lộ mặt nhất là khi Putin công khai tuyên bố lịch sử Ukraine sẽ chẳng là gì nếu không có người Nga, ngụ ý rằng dân tộc Ukraine là một thứ tưởng tượng, và thấp kém hơn người Nga. Luận điểm này vốn tồn tại trong giới sử gia theo trường phái dân tộc cực đoan của Nga từ nhiều năm nay, và lần đầu được chính thức hoá. Câu chuyện chỉ mới diễn ra vài ngày trước.

Dần dần, Putin đã ủng hộ, và trở thành, những điều ông lên án 18 năm trước, một kẻ “về hùa với bạo lực”, “chà đạp luật pháp quốc tế”, “dân tộc thượng đẳng”. Một kẻ như vậy đang tự cho mình sứ mệnh “phi Quốc xã hoá” một nhà nước hợp hiến, có chủ quyền, gán cho quân xâm lược mác “gìn giữ hoà bình”. Rốt cuộc, phương Tây đã đúng về Putin.

Một con người có thể bị thay đổi như vậy, vì vốn dĩ thời thế thay đổi. Nước Nga giờ đây không còn là Liên Xô nữa. Quân đội Nga không còn là Hồng Quân giải phóng. Và Putin không còn là một nhân vật để có thể kỳ vọng, ngưỡng mộ như cách đây 22 năm nữa.

Thỏa thuận của cường quốc và bài học cho Việt Nam (Phần 2)

Thỏa thuận của cường quốc và bài học cho Việt Nam (Phần 2)

 Bởi  AdminTD

23-2-2022

Tiếp theo Phần 1

II. LÝ LẼ KẺ MẠNH VÀ THÔNG ĐIỆP MANG TÍNH “TỐI HẬU THƯ” CỦA ÔNG PUTIN

Ngày 22/2/2022 Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Antonio Guterres đã khẳng định, nhóm lính Nga được triển khai ở miền Đông Ukraine không phải là “lực lượng gìn giữ hoà bình” như Matxcova tuyên bố.

Thực ra, từ khi ông Putin xâm chiếm và sát nhập Crimea tháng 2 năm 2014, là bắt đầu một cuộc chiến tranh không tuyên bố giữa Nga và Ukraine. Dân quân hai vùng Donetsk và Lugansk không thể chống lại được quân đội Ukraine. Lực lượng chủ chốt và vũ khí tại Donetsk và Lugansk là của Nga.

Với việc sát nhập Crimea và công khai đưa quân vào Donbass, chiếm 2 vùng lãnh thổ Donetsk và Lugansk của Ukraine, ông Putin đã vi phạm luật pháp quốc tế về biên giới hiện hành, không đếm xỉa đến chữ ký của tiền nhiệm trong Bản ghi nhớ Budapest về đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ Ukraine, chối bỏ ngay cả thoả thuận của chính ông Putin về tôn trọng đường biên giới hiện hành của Ukraine trong thoả thuận Minsk.

Các đế chế xuất hiện rồi tan biến. Nếu nói rằng Crimea và miền Đông Ukraine là lãnh thổ trước đây của Nga, nay lấy lại, thì Mông Cổ sẽ đòi lại phần lớn lãnh thổ LB Nga (bao gồm Matxcova), Đông Âu và các lãnh thổ khác với diện tích lên đến 24 triệu km2; Trung Quốc sẽ đòi lại 600.000 km2 vùng viễn đông của LB Nga bao gồm Vladivostok; Người da đỏ sẽ đòi lại châu Mỹ; Anh sẽ đòi lại 35% lãnh thổ thế giới… cả thế giới không thể vẽ lại được bản đồ. Lý luận “lãnh thổ trước đây” nay tiến hành chiến tranh lấy lại là lý luận bất chấp luật pháp quốc tế, là lý lẽ của kẻ mạnh.

Ông Eltsin, tiếp theo là ông Putin, đã đàn áp bằng được sự đòi độc lập của dân tộc Cherchen cộng hoà Chechnia qua hai cuộc chiến tranh đẫm máu hoang tàn 12/1994 – 8/1996 và 8/199 – 5/2000. Nhưng ông Putin lại ủng hộ và dưỡng sinh những nước “cộng hoà độc lập” trong lòng Grudia và Ukraine. Những người điếc cũng nghe được tiếng súng mà nhận ra “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” của các hoàng đế xâm lược và các bạo chúa độc tài.

Ông Putin tập trung khoảng 190.000 quân tại biên giới Ukraine không phải chỉ để tập trận, không phải để đe doạ, mà để hành động. Một bộ phận trong số đó đã được bố trí ngập tràn ở Donetsk và Lugansk. Hôm 22/2/2022 ông Putin đã không ngần ngại gửi một thông điệp mang tính “tối hậu thư” cho Ukraine và Phương Tây để tránh chiến tranh, với 4 điểm mấu chốt:

Điều gì nên xảy ra để, theo quan điểm của chúng tôi, tình hình được xem xét giải quyết theo quan điểm lịch sử lâu dài, để chúng ta có thể sống trong hòa bình, không để xảy ra bất kỳ cuộc xung đột nào, đặc biệt là những cuộc xung đột vũ trang”, ông Putin nói.

Trước tiên, theo ông, mọi người nên công nhận Crimea bị chiếm đóng là của Nga. Thứ hai, Ukraine phải tự nguyện từ bỏ tư cách thành viên NATO. Thứ ba, “giải quyết vấn đề Donbass thông qua các cuộc đàm phán và thực hiện các thỏa thuận Minsk”, nhưng điều này, theo Putin, “đã không còn phù hợp”.

“Và cuối cùng, điều quan trọng nhất, điều thứ 4. Mọi thứ đã nói ở trên có thể được lật ngược trong một giây nếu những người được gọi là đối tác của chúng tôi bơm cho chính quyền Kiev những loại vũ khí hiện đại. Do đó, điểm quan trọng nhất là mức độ nhất định về việc phi quân sự hóa Ukraine ngày nay”.

Bốn điều kiện mà ông Putin đưa ra, Ukraine khó mà chấp nhận, nguyên tắc nhất là toàn vẹn lãnh thổ. Và như ông Putin đe doạ “mọi thứ đã nói ở trên có thể được lật ngược trong một giây”.

Ai cũng biết, NATO không bao giờ dám gây chiến tranh với Nga, tổng thống Mỹ cũng đã tuyên bố rõ ràng như vậy. Trong trường hợp Nga tấn công Ukraine, Anh, Mỹ đều công khai tuyên bố không mang quân trợ giúp, chẳng những thế các nước Phương Tây đã sơ tán cả nhân viên ngoại giao và cảnh báo công dân của họ rời khỏi Ukraine. Còn Ukraine thì không bao giờ có thể đe doạ hay tấn công được Nga. Nhưng điều 4 đã cho thấy ông Putin lo sợ Ukraine có vũ khí hiện đại. Ông muốn Ukraine không có được khả năng quân sự đủ để cầm cự được sự tấn công chớp nhoáng của Nga. Và như vậy, Ukraine luôn nằm trong thế thần phục ông Putin.

Từ năm 1991, sau khi Liên Xô tan rã, Ukraine đã chung sống với LB Nga mà không hề có ý định gia nhập NATO. Ý định gia nhập NATO chỉ xuất hiện sau khi ông Putin xâm chiếm Crimea và sát nhập vào LB Nga năm 2014. Chính ông Putin đã đẩy Ukraine vào thế phải tìm kiếm NATO để bảo vệ lãnh thổ.

Nhưng thực chất, vấn đề Ukraine chưa bao giờ được nằm trên bàn NATO để thảo luận. Có hai điều khoản của NATO mà Ukraine khó vượt qua. Một là, NATO không kết nạp các thành viên đang có tranh chấp lãnh thổ. Hai là, chỉ cần một nước trong NATO phủ quyết là không được thông qua. Không ít các thành viên trong NATO không chấp nhận Ukraine vì quan hệ với Nga.

Nhưng bây giờ, khi ông Putin công khai đưa quân vào Donbass, thì khát vọng gia nhập NATO của Ukraine còn lớn hơn, và vấn đề gia nhập NATO của Ukraine có thể ở một tình thế khác.

Còn nói về tên lửa của NATO, thì ba nước Ban-tích thành viên NATO là Litva, Latvia, Estonia nằm cạnh Saint Petersburg, gần Matxcova như Kiev. Tất cả các lý do đưa ra đều là lý lẽ của kẻ mạnh.

III. TUYÊN BỐ CỦA TỔNG THỐNG UKRAINE ZELENSKY

Sau phát biểu mang tính “tối hậu thư” của ông Putin, vào lúc 22 giờ ngày 22/2/2022, Tổng thống Ukraine Zelensky đã có bài phát biểu dưới đây.

“Dân tộc tự do của đất nước tự do!

Tôi đã hứa rằng chúng ta sẽ thường xuyên trao đổi với nhau, và quan trọng nhất là trao đổi một cách thành thật.

Hiện giờ là 22h, giờ Kiev. Như đã hứa, tôi xin được báo cáo lại tất cả các hoạt động của chúng tôi một cách rõ ràng để các bạn hiểu chính xác những gì đang diễn ra ở Ukraine và cả ở ngoài biên giới của chúng ta.

Ngày hôm qua, Liên bang Nga đã công nhận độc lập cho những thực thể hình thành tại khu vực bị chiếm đóng trên lãnh thổ Ukraine. Ngày hôm nay họ đã phê chuẩn cái gọi là “Thỏa thuận” và cho phép tổng thống Nga có thể sử dụng quân đội ở nước ngoài, nghĩa là ở Donbas, thuộc lãnh thổ Ukraine. Bằng vào việc đó, họ chính thức thay lời dối trá “chúng tôi không có ở đó” bằng “Dù sao chúng tôi vẫn ở đây”. Quyết định này được tất cả họ đồng thuận. Như thế là đã rõ, ai là bên muốn hòa bình trên trái đất này, còn ai là bên muốn chia chác lại đất đai.

Với quyết định này của họ, trên thực tế Nga đã rời bỏ mọi thỏa thuận Minsk, thỏa thuận mà theo lời của họ là không có gì có thể thay thế. Còn đối với cá nhân tôi, kết thúc chiến tranh mới không thể khác được chứ không phải là cơ sở hay định dạng để đàm phán. Vì vậy, tôi sẵn sàng đàm phán cả ở các cuộc đàm phán song phương lẫn các cuộc đàm phán có sự tham gia của các nhà lãnh đạo khác. Nhưng tôi xin nhấn mạnh rằng, đối với tôi, điều quan trọng nhất là chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Trước tiên, chúng tôi đã đề nghị tổ chức Hội nghị thượng đỉnh các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc với sự tham gia của Ukraine, Thổ Nhĩ Kỳ và Đức. Phần lớn các thành viên tham gia Hội nghị thượng đỉnh đều ủng hộ sáng kiến này, trong đó có tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Erdogan.

Đồng thời các đối tác của Ukraine cũng cho thấy rõ, không còn con đường nào khác ngoài việc áp dụng các chế tài đối với Liên bang Nga. Tổng thống Mỹ Joe Biden đã thông qua các chế tài đối với những thực thể khủng bố LDNR, còn Anh quốc đã công bố các chế tài khác đối với các ngân hàng và các tài phiệt thân hữu. Phía Đức cũng đình chỉ việc cấp phép đường ống dẫn khí “Dòng chảy phương bắc -2”. Cannada cũng cho biết, sẽ áp dụng chế tài với Liên bang Nga vì sự vi phạm trắng trợn toàn vẹn lãnh thổ Ukraine.

Tôi cũng xin cảm ơn mọi giúp đỡ tài chính từ Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Nhật và Ngân hàng thế giới. Đây là những nguồn tài chính để bảo đảm sự vững vàng cho nền kinh tế Ukraine.

Liên quan đến an ninh và quốc phòng.

Cho đến hôm nay, việc tổng động viên trên toàn quốc là chưa cần thiết. Hiện tại, chúng ta chỉ cần tích cực hoàn thiện quân đội và các tổ chức quân sự khác.

Với tư cách là Tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang Ukraine, tôi ban hành lệnh triệu tập quân số dự bị trong giai đoạn đặc biệt. Xin nhấn mạnh, chỉ những người thuộc lực lượng dự bị chiến đấu liên quan đến sắc lệnh này. Chúng ta cần nâng cao tính sẵn sàng chiến đấu cho quân đội trong mọi bối cảnh. Trong những ngày tới, sẽ tổ chức tập huấn quân sự cho các lực lượng dự bị ở địa phương.

Chúng ta cũng cần làm việc và đóng góp cho nền kinh tế Ukraine để có thể bảo đảm một quân đội vững mạnh. Người yêu nước không chỉ là những người chiến đấu với kẻ thù bảo vệ quê hương, mà còn là những người làm việc đóng góp vật chất và tạo ra công ăn việc làm cho đất nước. Do đó, nhà nước quyết định thực thi Chương trình kinh tế yêu nước. Đây là những ưu đãi đối với nền sản xuất nước nhà.

Mục đích chương trình kinh tế này hỗ trợ một số lĩnh vực sản xuất, giảm nhẹ gánh nặng thuế má và hạn chế thanh tra doanh nghiệp. Sự ưu đãi này nhằm thu hút nguồn lực của nhân dân đầu tư vào kinh doanh và hệ thống ngân hàng. Nhà nước cũng sẽ giảm thuế giá trị gia tăng cho xăng dầu. Mục đích của chúng ta là có một nền kinh tế độc lập, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng.

Đã đến lúc mọi chính trị gia đều phải trở thành nhà hoạt động chính sách. Hãy vứt bỏ mọi tham vọng cá nhân để vì lợi ích quốc gia. Tôi đã trao đổi với những người đứng đầu các đảng phái chính trị, mọi người đều hiểu rõ rằng, hiện tai, trong quốc hội chỉ cần một liên minh duy nhất – đó là liên minh quân sự: đồng lòng, đưa ra những quyết định quan trọng và nhanh chóng để có một nền kinh tế vững mạnh và nâng cao khả năng quốc phòng của đất nước. Từ hôm nay, mọi đảng phái đều đứng dưới một màu cờ – màu xanh – vàng của chúng ta.

Ngày mai, tôi sẽ gặp gỡ với 50 doanh nghiệp hàng đầu. Tất cả các doanh nghiệp này cần ở lại trong nước. Nhà máy, xí nghiệp của họ nằm trên lãnh thổ Ukraine mà quân đội chúng ta có trách nhiệm bảo vệ. Do đó, các doanh nghiệp cũng có trách nhiệm bảo vệ nền kinh tế và tạo thêm công ăn việc làm. Tất cả đồng lòng vực dậy và củng cố nền kinh tế. Mỗi người đều ở trên mặt trận của mình.

Đồng bào kính mến!

Ukraine là một dân tộc hiền lành, Chúng ta thích yên ổn. Nhưng nếu hôm nay chúng ta im lặng, ngày mai chúng ta sẽ bị tiêu diệt. Chờ đợi phía trước chúng ta là những tháng ngày khó khăn, vất vả. Nhưng chúng ta đã sẵn sàng. Hãy tự tin vào bản thân. Hãy tin vào đất nước và tin vào chiến thắng!

Đừng than vãn mà hãy chiến thắng!

Vinh quang Ukraine!

Volodymyr Zelensky”

22.02.2022.

(https://www.rbc.ua/rus/news/zelenskiy-zapisal-ocherednoe-obrashchenie-1645564980.html, bản dịch của Nguyễn Hồng Giang).

Về quan điểm phía Nga, truyền thông Việt Nam đã đưa nhiều, còn quan điểm phía Ukraine thì ít được nhắc đến. Để có thêm thông tin, xin giới thiệu ý kiến của Đại biện lâm thời Ukraine tại Việt Nam, bà Natalia Zhynkina – một công dân từ Lugansk của Ukraine.

Bà Natalia Zhynkina khẳng định: “Trong mọi trường hợp, chúng tôi sẽ bảo vệ đất mẹ của mình và dựa vào sự hỗ trợ của quốc tế”.

Nga – Công thức cũ và chiến lược gặm nhấm

Nga – Công thức cũ và chiến lược gặm nhấm

Bởi  AdminTD

Ngô Huy Cương

23-2-2022

Xúi giục nổi dậy, bạo loạn, thành lập chính quyền bất hợp hiến, sau đó công nhận chính quyền bất hợp hiến này, rồi đưa quân vào chiếm đóng là một công thức cũ đã được sử dụng quá nhiều trên thế giới từ trước tới nay.

Nhưng với chiến lược gặm nhấm dần lãnh thổ của một quốc gia yếu hơn với công thức như vậy và “xé toạc” những cam kết quốc tế còn hơi ấm, đồng thời lại ngụ ý về việc ngăn chặn một cuộc chiến tranh thế giới có thể xảy ra và bảo vệ hòa bình, thì đó đúng là một hành động tạo ra một tiền lệ cực xấu, đáng lên án.

Người Việt Nam chúng ta nghĩ gì, nếu như những kẻ thích la liếm lãnh thổ thuộc chủ quyền của chúng ta cũng theo đó mà hành động?

Hết sức lưu ý rằng, nước Nga không còn là một nước xã hội chủ nghĩa để chúng ta cứ mãi chạy theo để bảo vệ lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chiến tranh theo đường lối xã hội chủ nghĩa như Liên Xô trước kia luôn khẳng định là chiến tranh vệ quốc chứ không phải là chiến tranh ăn cướp.

Chiếm Ucraina làm vùng đệm như trước đây để bảo vệ chính Nga chứ không phải là để bảo vệ Việt Nam hay bảo vệ cho hòa bình thế giới.

Vậy hãy nhìn nhận thật đúng hành động của Nga bây giờ để rút ra kinh nghiệm bảo vệ tổ quốc Việt Nam của chúng ta, chứ đừng hùa theo việc bảo vệ Nga như bảo vệ lợi ích của Việt Nam hoặc bảo vệ Nga một cách mù quáng, chỉ vì ghét Mỹ và Phương Tây!

Đứng trước một nước lớn luôn có ý đồ gặm nhấm lãnh thổ của các nước yếu hơn xung quanh, chúng ta, qua sự kiện Nga chiếm đóng Ucraina, quyết không thể để cho nước lớn này sử dụng công thức nói trên, đồng thời phải củng cố quân đội của chúng ta thật sự mạnh và hiện đại.

Nên học từ Nga một điểm là luôn luôn duy trì quân đội mạnh dù kinh tế có khó khăn hay chưa thực sự phát triển. Quân đội của họ mạnh và hiện đại chính là thứ mà họ đã tận dụng để đòi chia lại thế giới và chiếm đóng.

SỰ KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG…

SỰ KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG…

Giống như bất kỳ người mẹ nào, khi Karen biết mình mang thai, cô làm tất cả những gì có thể để giúp đứa con trai 3 tuổi, Michael, chuẩn bị tâm lý chào đón một thành viên mới trong gia đình.

Thành viên mới này là một bé gái. Ngày ngày, Michael hát cho đứa em gái còn trong bụng mẹ nghe. Cậu bé đã xây dựng tình yêu thương đối với em gái mình ngay cả trước khi cô bé ra đời.

Thai kì tiến triển bình thường. Theo thời gian, những cơn đau chuyển dạ đến. Mỗi năm phút, ba phút rồi một phút một lần. Tuy nhiên, biến chứng nghiêm trọng phát sinh, Karen chuyển dạ hàng giờ. Cuối cùng, em gái của Michael chào đời. Nhưng cô bé lại trong tình trạng rất nguy kịch. Tiếng còi hú trong đêm, xe cứu thương vội vàng chở đứa trẻ sơ sinh đến khu chăm sóc trẻ sơ sinh tại bệnh viện St. Mary, Knoxville.

Thời gian trôi dần… Tình trạng của bé trở nên tồi tệ hơn. Các bác sĩ nhi khoa nói với cha mẹ Michael rằng có rất ít hy vọng, hãy chuẩn bị tinh thần cho tình huống xấu nhất…!

Karen và chồng liên lạc với một nghĩa trang địa phương để chuẩn bị cho việc chôn cất. Họ đã chuẩn bị một căn phòng đặc biệt trong nhà cho em bé mới, nhưng giờ phải lên kế hoạch cho một đám tang…!

Tuy nhiên, Michael đã van nài cha mẹ cho cậu vào gặp em gái mình. Cậu bé nói: “Con muốn hát cho em ấy nghe…!”.

Tuần thứ hai trong phòng chăm sóc đặc biệt. Michael tiếp tục nài nỉ để được hát cho em gái mình, nhưng trẻ con không được phép vào phòng chăm sóc đặc biệt.

Karen quyết định đưa Michael vào thăm em mình cho dù bệnh viện có đồng ý hay không. Nếu giờ cậu bé không được nhìn thấy em gái mình, thì có thể sẽ không bao giờ còn cơ hội nữa. Michael mặc bộ quần áo quá khổ và được dẫn đến phòng chăm sóc đặc biệt. Trông cậu bé giống như một giỏ đựng quần áo di động.

Người y tá trưởng nhận ra cậu bé và hét lên: “Đưa nó ra khỏi đây ngay. Trẻ con không được phép vào!”

Bản năng làm mẹ trong Karen trổi dậy và người phụ nữ bình thường hòa nhã nhìn trừng trừng vào mắt người y tá trưởng, với một giọng đanh thép, cô nói: “Cậu bé sẽ không rời khỏi cho đến khi nó hát cho em gái mình nghe…!”

Sau đó, Karen kéo Michael đến bên giường cô bé. Cậu bé nhìn chằm chằm vào đứa em đang yếu dần trong cuộc chiến giành lấy sự sống…! Sau một lúc, cậu bắt đầu cất giọng. Bằng giọng trong veo của một đứa trẻ 3 tuổi, Michael hát:

“You are my sunshine, my only sunshine, you make me happy when skies are gray.” (Bé là ánh nắng, ánh nắng mặt trời duy nhất của anh, bé làm anh hạnh phúc dẫu bầu trời xám xịt.)

Ngay lập tức, cô bé dường như có phản ứng. Mạch bắt đầu trở nên ổn định.

“Tiếp tục đi Michael”, Karen động viên, mắt ngấn lệ.

“You never know, dear, how much I love you, please don’t take my sunshine away.” (Bé con à, em không biết anh thương em thế nào đâu, xin đừng lấy đi ánh nắng mặt trời đi.)

Khi Michael hát, hơi thở rời rạc, yếu ớt của em bé trở nên nhịp nhàng. “Tiếp tục đi, con yêu…!”

“The other night, dear, as I lay sleeping, I dreamed I held you in my arms”. (Bé con ơi, một đêm nọ, khi anh nằm ngủ, anh mơ được ôm em trong vòng tay.)

Em gái của Michael bắt đầu thư giãn như đang ngủ. “Tiếp tục đi, Michael.” Lúc này, nước mắt đầm đìa trên gương mặt của người y tá trưởng hống hách. Karen thì cảm thấy ấm lòng.

“You are my sunshine, my only sunshine. Please don’t take my sunshine away…” (Bé là ánh nắng, ánh nắng mặt trời duy nhất của anh. Xin đừng lấy ánh nắng ấy đi …)

Ngày hôm sau, ngay ngày hôm sau…, một thời gian ngắn tiếp theo…, cô bé đã đủ khỏe để trở về nhà…!

*Thế mới hiểu: “Nơi nào có tình yêu thương chân thành thì nơi đó, luôn có điều kỳ diệu đáp đền…!”*

Trần Hồng Điệp

*Dịch từ truyện ngắn The miracle of love, true story.

From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

Cách đây đúng 64 năm, năm 1957, một vị Bác sĩ đã quyết định không cần cấp bằng sáng chế cho vắc-xin của mình, để tất cả các công ty dược phẩm được quyền sản xuất và cung cấp nó cho trẻ em toàn thế giới.

Đó là vị Bác sĩ Mỹ gốc Do Thái/Ba Lan, sinh ra ở Bialystok – ông Albert Bruce Sabin (1906 – 1993); nhà vi-rút học nổi tiếng với phát minh vắc-xin bại liệt (Polio Vaccine). Ông không cần tiền thưởng cho bằng sáng chế, để vắc-xin được tiếp cận tất cả mọi người bất kể giàu nghèo.

Từ năm 1959-1961, hàng triệu trẻ em khắp thế giới đã được chủng ngừa vắc-xin bại liệt của Sabin, dập tắt dịch bệnh này. Trong khi trước đó, gần như cả 1 thế hệ bị xóa sổ vì bệnh bại liệt.

Ông Sabin nói: “Nhiều người khuyên tôi nhất định phải lấy bằng sáng chế cho vắc-xin nhưng tôi không muốn. Đây là món quà tôi dành cho tất cả trẻ em trên thế giới”.

Được biết vì là người Do Thái, 2 cháu gái của ông đã bị phát-xít Đức giết hại. Được hỏi liệu ông có muốn trả thù, ông đáp: “Họ đã giết 2 đứa cháu gái tuyệt vời của tôi, nhưng tôi đã cứu hàng triệu đứa trẻ khắp thế giới. Bạn không nghĩ đây là một sự ‘trả thù’ lớn hơn sao?”

Trong thời Chiến tranh lạnh, Sabin đã tặng miễn phí các chủng vi-rút của mình cho nhà khoa học Liên Xô Mikhail Chumakov, cho phép phát triển vắc-xin của ông ở đất nước này.

Ông Sabin tiếp tục sống với mức lương bình thường, nhưng trái tim ông tràn ngập niềm vui vì đã làm được điều tốt đẹp nhất cho nhân loại.

SƯU TẦM

From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

Bí thư đảng ủy Thị trấn Vụ Bản lỗ mãng, vô học xúc phạm nghi lễ tôn giáo

Đài Á Châu Tự Do 

Theo chương trình của Năm Truyền Giáo, vào Chúa Nhật thứ III trong tháng– cầu cho việc truyền giáo của Tổng Giáo phận Hà Nội, Đức tổng Giuse sẽ dành hai ngày thăm viếng các giáo xứ miền Hòa Bình… Sáng 20/2/2022, là ngày Chúa Nhật đầu tiên ngài đi thăm giáo xứ Vụ Bản (thuộc huyện Lạc Sơn, Tỉnh Hoà Bình) và dâng Thánh lễ cho Giáo xứ ở đó.

Sự hiện diện của Đức Tổng Giám mục và dâng Thánh lễ là sự kiện trọng đại của Giáo xứ, đáp ứng mong mỏi của Giáo dân nơi đây.

Trong Thánh lễ sáng Chúa nhật 20/2/2022 tại đây, khi Thánh lễ đang tiến hành đến lúc hết sức linh thiêng là rước lễ, thì Bí thư Đảng ủy thị Trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn là Phạm Hồng Đức cùng với Phạm Văn Chiến là Phó Chủ tịch đã xông lên Cung Thánh, giành micro làm loạn Thánh lễ bất chấp Đức TGM Giuse Vũ Văn Thiên và các linh mục đang đồng tế tại đây.

Diện mạo của hai kẻ xông lên cung thánh này mặc quần áo bạt công an cấp nhìn như côn đồ, và có những lời nói đe dọa, xông vào cướp micro của Nhà thờ làm loạn.

Chúng hò hét la lối vào micro và loa phóng thanh mặc cho giáo dân vẫn đang đọc kinh, cầu nguyện hết sức nghiêm túc và các linh mục can ngăn.

Đặc biệt là hành động phá rối Thánh lễ linh thiêng của người Công giáo là một hành động rừng rú, lỗ mãng vô giáo dục và là sự vi phạm trắng trợn niềm tin, tín ngưỡng của giáo dân Vụ Bản cũng như Giáo hội Công giáo Việt Nam và giáo hội Hoàn Vũ.

Bí thư Đảng ủy thị Trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn là Phạm Hồng Đức cùng với Phạm Văn Chiến là Phó Chủ tịch tại Thánh lễ sáng 20/2/2022 tại giáo xứ Vụ Bản

RFA.ORG

Trí thức và độc tài

Trí thức và độc tài

Bởi  AdminTD

Nguyễn Hưng Quốc

21-2-2022

Đọc lịch sử các chế độ độc tài, từ độc tài phát xít với những Hitler và Mussolini đến độc tài cộng sản với những Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Nicolae Ceauşescu, và Kim Chính Nhật (bây giờ là Kim Chính Ân) hay độc tài cá nhân với những Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, Robert Mugabe… chúng ta không thể không ngạc nhiên.

Có rất nhiều điều để ngạc nhiên.

Thứ nhất, tất cả các tên độc tài, dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau, đều vô cùng tham lam và độc ác. Chúng thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay và với quyền lực vô tận ấy, giết vô số người, từ những kẻ thù thực sự đến những kẻ thù tưởng tượng, trong đó phần lớn là chính dân chúng ở nước chúng.

Thứ hai, tất cả đều mắc bệnh huyễn tưởng, tự xem vị thế và quyền lực của mình như một thứ gì thuộc về thiên mệnh; và vì thiên mệnh, chúng nằm ngoài hoặc nằm trên không những luật pháp mà còn cả các nguyên tắc đạo lý thông thường của con người. Giết người, thậm chí, giết vô số người, với người khác, là tội ác; với chúng, là thiêng liêng và cao cả.

Thứ ba, vì căn bệnh huyễn tưởng ấy, rất nhiều nhà độc tài trở thành lố bịch, không khác những tên hề. Ceauşescu tự xưng mình là “Thiên tài của vùng Carparthians”, một vùng núi rộng lớn ở Trung Âu, kéo dài từ Slovakia qua miền Nam Ba Lan, miền Tây Ukraine đến tận phía Đông Bắc của Romania. Còn vợ của ông, Elena, người được cử làm Phó Thủ tướng, thì được tuyên truyền như một “Quốc mẫu”, một nhà khoa học vĩ đại (dù bà thực sự bỏ học từ năm 14 tuổi, và tất cả các cái gọi là “công trình khoa học”, kể cả luận án tiến sĩ của bà, đều do người khác viết). Rafael Trujillo, nhà độc tài ở Dominican Republic từ 1930 đến 1938 và từ 1942 đến 1952 thì tự xem mình là Thượng đế. Ông ta ra lệnh cho mọi nhà thờ trong nước phải khắc câu “Chúa ở trên Trời, Trujillo ở dưới Thế” (God in Heaven, Trujillo on Earth) và mọi bảng xe đều khắc câu “Trujillo vạn tuế”. Francisco Macias Nguema, nhà độc tài ở Equatorial Guinea từ năm 1968 đến 1979 cũng thế. Cũng tự xưng mình là Thượng đế. Dưới thời ông, biểu ngữ chính trong nước ghi “Không có Thượng đế nào khác ngoài Macias Nguema”. Saparmurat Niyazov, Tổng thống xứ Turkmenistan từ năm 1990 đến 2006 thì ra lệnh đổi tên 12 tháng trong năm theo tên ông và người thân trong gia đình của ông. Ông cũng viết sách và ra lệnh bất cứ người dân nào, để được thi lấy bằng lái xe, cũng phải thuộc lòng nguyên cả cuốn sách của ông.

Thứ tư, tất cả đều giả dối, đều sử dụng vô số huyền thoại láo khoét để biến mình thành thần tượng, thành những lãnh tụ anh minh, đầy viễn kiến, mở ra những chân trời mới cho đất nước hoặc cho cả nhân loại. Những huyền thoại ấy nhiều khi rất ngây ngô, ví dụ chuyện Kim Chính Nhật điều khiển đội tuyển bóng đá Bắc Triều Tiên trong giải World Cup 2010 bằng cách chỉ dẫn từng đường đi nước bước trong suốt trận đấu cho huấn luyện viên Kim Jong-Hun qua một chiếc điện thoại di động vô hình!

Nhưng cả bốn điều “đáng ngạc nhiên” trên đều không đáng ngạc nhiên bằng hai điều này:

Một, mặc dù tham lam, độc ác, mắc bệnh huyễn tưởng và giả dối như vậy, những tên độc tài ấy lại cầm quyền, hơn nữa, cầm quyền một cách tuyệt đối, trong thời gian rất dài, có khi cả đời hoặc nhiều đời, hết đời con đến đời cháu, chắt.

Hai, dù đầy khuyết điểm như vậy, những tên độc tài ấy vẫn được nhiều người, kể cả giới trí thức, thậm chí là trí thức xuất sắc ở Tây phương, ngưỡng mộ và hết sức bênh vực cũng như góp phần tuyên truyền cho chúng một cách nhiệt tình.

Trong hai điều trên, điều thứ hai quan trọng hơn. Giải thích điều thứ nhất, người ta có thể nói: Bởi các nhà độc tài đã xây dựng được một bộ máy tuyên truyền hữu hiệu đủ để nhồi sọ tất cả mọi người và một bộ máy quyền lực mạnh mẽ đủ để nghiền nát bất cứ người nào dám chống đối. Nhưng không có một bộ máy xã hội và chính trị nào có thể tồn tại độc lập. Vấn đề chính là ở con người, tức ở khía cạnh thứ hai, chúng ta vừa nêu ở trên: Tại sao người ta lại khiếp sợ và ngưỡng mộ các tên độc tài đến như vậy? Tại sao người ta lại để cho các tên độc tài dễ dàng lừa dối mình đến như vậy?

Trên thế giới, cũng có nhiều người từng ngạc nhiên như vậy. Có thời, những kẻ như Hitler, Mussolini, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Fidel Castro, thậm chí, Kim Chính Nhật đã trở thành thần tượng của nhiều trí thức và văn nghệ sĩ Tây phương. Đạo diễn Oliver Stone khen Fidel Castro là một kẻ “rất vị tha và đạo đức. Một trong những người khôn ngoan nhất trên thế giới.” Một đạo diễn khác, Steven Spielberg, cho “gặp gỡ Fidel Castro là tám giờ quan trọng nhất” trong cuộc đời của ông. Trước đó, ở Ý, Gabriele D’Annunzio, một nhà thơ lớn, cũng như nhiều nhà thơ thuộc trường phái Vị Lai khác, từng là những kẻ ủng hộ nhiệt thành Benito Mussolini. Ở Đức, Hitler không thiếu người ngưỡng mộ, kể cả một trong những triết gia lớn nhất của thế kỷ, Martin Heidegger, một trong những hoạ sĩ lớn nhất của thế kỷ, Salvador Dali, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ, Ezra Pound. Nhà văn Na Uy từng đoạt giải Nobel năm 1920, Knut Hamsun, cũng rất ủng hộ Adolf Hitler.

Đối với các nhà độc tài cộng sản, số trí thức ngưỡng mộ nhiều hơn hẳn. Nhà văn Anh George Bernard Shaw (1856-1950) suốt đời ủng hộ Lenin, Stalin, và cả Hitler nữa. Cả Andre Gide và Doris Lessing đều từng ủng hộ Stalin tuy cả hai, sau đó, tự nhận là mình lầm. Picasso, Bertolt Brecht, Pablo Neruda, W.E.B. Du Bois, Graham Greene, v.v… cũng đều ủng hộ Stalin; trong đó, có người vừa ủng hộ Stalin vừa ủng hộ Mao Trạch Đông.

Jean-Paul Sartre cũng từng là người ủng hộ Stalin và chế độ cộng sản rất nồng nhiệt. Ông là tác giả của một câu nói gây rất nhiều tai tiếng: “Mọi kẻ chống cộng đều là chó” (every anti-communist is a dog). May, sau đó, ông thay đổi thái độ. Khi quân đội Sô Viết xâm lăng Hungary vào tháng 11 năm 1956, ông lên án Liên Xô kịch liệt. Sự phê phán của Sartre đối với Liên Xô càng mạnh mẽ hơn nữa vào năm 1968 khi quân đội Sô Viết trấn áp dân chúng Czechoslovakia trong sự kiện được gọi là “mùa xuân Prague”. Trước năm 1975, trong chiến tranh Việt Nam, ông là người tích cực ủng hộ miền Bắc và lên án Mỹ một cách gay gắt. Sau năm 1975, chứng kiến thảm cảnh của người Việt Nam vượt biển, ông lại lên tiếng phê phán chính quyền Việt Nam và kêu gọi chính phủ Pháp cứu giúp người tị nạn.

Chúng ta lại phải tự hỏi: Tại sao nhiều người trí thức lại dễ dàng bị các nhà độc tài lừa bịp đến như vậy? Tại sao họ lại nhẹ dạ và cả tin đến như vậy?

Nhớ, trước đây, trong những lần về Việt Nam, tôi gặp khá nhiều văn nghệ sĩ và “trí thức” ở miền Bắc. Nhiều người kể lại, trước phong trào đổi mới, đặc biệt, trước năm 1975, họ gần như tuyệt đối tin tưởng vào giới lãnh đạo và chế độ. Trong các buổi học tập chính trị và văn hoá, họ lắng nghe cán bộ giảng bài như nghe những lời thánh phán. Họ cắm cúi ghi chép rồi về nhà, đọc lại một cách thành kính. Sau này, cũng theo lời họ, đọc lại các cuốn sổ tay cũ, họ thấy những ý kiến trong ấy rất hời hợt, thậm chí, ngô nghê. Họ tự hỏi: Tại sao thời ấy họ lại xem những ý kiến ấy như những lời vàng ngọc như vậy? Chính họ, họ cũng không biết rõ câu trả lời. Tất cả đều cho: Đó chỉ là hậu quả của việc nhồi sọ.

Lại nhớ, mấy năm đầu sau 1975, một số “trí thức” Việt kiều ở Pháp về thăm nước rồi viết bài đăng tải trên báo chí ở Paris. Họ khen Việt Nam không tiếc lời. Trong lúc người Việt Nam đói đến xanh xao mặt mũi, họ khen đời sống rất sung túc. Trong lúc cả hàng chục ngàn người bị bắt đi cải tạo và con cái họ không được vào đại học, họ khen “chính quyền cách mạng” thực tâm hoà giải, không có bất cứ một chính sách kỳ thị nào đối với những người thuộc chế độ cũ trước đó. Trong lúc cả hàng triệu người bất chấp nguy hiểm tìm cách vượt biên tìm tự do, họ cho Việt Nam là một quốc gia dân chủ và ao ước một ngày nào đó được về nước sống hẳn (dù trên thực tế, không bao giờ họ về cả!)

Trí thức trong nước bị nhồi sọ. Nhưng còn trí thức ngoài nước thì sao?

Trong lúc loay hoay tìm cách trả lời cho câu hỏi ấy, cũng như câu hỏi về sự nhẹ dạ và cả tin của trí thức thế giới nói chung, tự dưng tôi nhớ đến mấy câu thơ của Nguyễn Quốc Chánh trong bài “Tao là đứa bé ngoẻo trên lưng Linda Lê”:

“Có 3 thứ không thể kết hợp với nhau nổi. Đó là: Thông minh, lương thiện & cộng sản.

Một người thông minh và lương thiện thì không thể cộng sản,

Một người thông minh mà cộng sản thì không thể lương thiện, và

Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh.”

Những câu thơ ấy ám ảnh tôi đến độ tôi không thể nghĩ tiếp được nữa.

_____

*Ghi chú: Bài viết được trích từ cuốn “Những bài viết về chính trị”, Lotus Media xuất bản và phát hành trên Amazon.com)

 Những hiểu lầm về tự tử

 Những hiểu lầm về tự tử

  • TS Nguyễn Phương Mai
  • Viết cho BBC News Tiếng Việt 

BBC 19/02/2022.

Câu chuyện bạn sinh viên đeo đá tự vẫn mới đây khiến chúng ta ai nấy đều đau đớn. Đó không chỉ là một cái chết thương tâm mà còn là bao nhiêu câu hỏi sẽ còn quanh quẩn day dứt với người ở lại. 

Trong những khắc khoải đòi câu trả lời ấy, có một vài điều chúng ta cần chia sẻ rộng hơn để xã hội thêm sự thấu cảm với những cái chết như vậy.    

Chỉ những người bị trầm cảm hay có vấn đề về tinh thần mới tự sát 

Đúng là trầm cảm chiếm tỷ lệ lớn, đôi khi đến 50% số người tự sát. Tuy nhiên, lý do để một người chấm dứt cuộc đời đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau. 

Theo một báo cáo của UNICEF ở Việt Nam, lý do tự sát vô cùng đa dạng: áp lực học hành, bị bắt nạt, thất tình, bất hạnh và xung khắc với gia đình, gánh nặng kinh tế, bị ép buộc cưới sớm hoặc bị cản trở trong hôn nhân, áp lực phải thành công và mạnh mẽ…vv.

Như vậy, ta không nên coi tất cả những người tự tử là bệnh nhân trầm cảm vì như vậy giải pháp sẽ chỉ dồn về việc chữa trị một căn bệnh. Trong khi đó, nguyên nhân tự sát không chỉ là một căn bệnh đơn lẻ. Rất nhiều áp lực, bất công và vấn đề trong cuộc sống hàng ngày đều có thể là lý do để người thân của chúng ta tìm đến cái chết. 

Trong báo cáo của UNICEF về Việt Nam có một chi tiết khá quan trọng, đó là việc sống riêng có tác dụng bảo vệ người có ý định tự tử. Lý do có thể đến từ việc cha mẹ mong đợi quá nhiều ở con cái, biến yêu thương thành áp lực.      

Những người tự tử thường hành động bất ngờ, chẳng có dấu hiệu gì báo trước

Một trong những hình xăm tạo viral trên mạng khi mới xuất hiện là dòng chữ “I’m fine” (tôi ổn mà), nhưng khi nhìn ngược lại, chính dòng chữ ấy có thể đọc là “save me” (cứu tôi với). 

Khi một người ra đi, họ đã bằng nhiều cách khác nhau để lại những tín hiệu của dự định tìm đến cái chết. Câu hỏi là liệu xung quanh họ có những người đủ gần gũi, đủ sắc bén, đủ thấu cảm để nhận ra những tín hiệu đó?

Danh sách những tín hiệu của ngõ cụt, đường cùng bao gồm: xa lánh người xung quanh, buồn bã, không chăm sóc bản thân, có hành vi khác thường, thay đổi thói quen ăn uống và sinh hoạt theo hướng tồi tệ hơn, giận giữ, mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều, dùng chất kích thích, tự làm đau bản thân, than thân trách phận, có cái nhìn bế tắc với cuộc sống, tin rằng mình là gánh nặng cho người khác, coi bản thân là sự thất bại, tự coi mình là vô nghĩa, và bộc lộ suy nghĩ về tự sát. 

Từ khía cạnh sinh học tiến hóa, hành vi tự tử là kết quả cuối cùng của một chuỗi những tín hiệu cảnh báo mà không được để ý (bargaining model). Giả thuyết này cho rằng những người gặp vấn đề đã vô thức tìm đến việc phát đi tín hiệu cứu giúp ở mức độ cao nhất, và cái chết chỉ là một hệ quả không hề mong muốn của tín hiệu đường cùng đó. 

Nói về tự tử là vẽ đường cho hươu chạy

Không hẳn, bởi con hươu ấy đã đang chạy rồi, và chạy trong một ma trận không có đường thoát. Cách xã hội nhìn tự tử như một chủ đề nhạy cảm và cấm kỵ khiến ma trận đó càng khó giải hơn. Vấn đề này cũng khá giống cách một xã hội bảo thủ nhìn tình dục hay LGBTQ. Tìm hiểu về sex không có nghĩa là con trẻ sẽ tìm đến sex, nói về tình dục đồng giới không có nghĩa là góp phần bẻ thẳng thành cong. 

Người có ý định tự sát sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn khi được chia sẻ. Ba câu hỏi mà các chuyên gia khuyên nên dùng, theo thứ tự, chỉ hỏi câu tiếp theo khi câu đầu tiên trả lời là “có”:

  • Bạn có nghĩ rằng cuộc đời này đáng sống hay thà chết còn hơn? 
  • Bạn đã bao giờ nghĩ về tự tử chưa?
  • Bạn có nghĩ mình sẽ chấm dứt cuộc đời không? Bạn đã từng thử làm điều đó chưa? 

Những khó khăn về tinh thần cũng giống như những khó khăn về cơ thể, đều cần trị liệu mới khỏi. Một người gãy chân không thể tự đứng dậy mà đi. Tương tự, một người bị áp lực tinh thần không thể cứ vui lên mà sống tiếp mà không có sự chia sẻ, trợ giúp và nâng đỡ nào.

Những người tự tử là kẻ ích kỷ 

Một cái chết luôn để lại đau thương cho người ở lại. Chính vì thế mà kẻ tự tử bị coi là ích kỷ khi chỉ nghĩ đến giải thoát cho chính mình. 

Tuy nhiên, việc “bôi đen” hành động tự tử cũng là một cơ chế tâm lý vị kỷ nhằm gián tiếp bảo vệ bản thân kẻ phán xét. Ta sợ rằng mình sẽ là nạn nhân của sự đau khổ ấy, từ đó vô thức tìm cách giảm thiểu khả năng xảy ra hành vi tự tử bằng cách dán cho hành vi ấy một cái nhãn xấu xí

Trong thực tế, bất chấp giá trị thực trong mắt xã hội, nhiều người tìm đến cái chết thường thật lòng tin rằng họ là một gánh nặng cho người xung quanh. Họ coi tự tử là một giải pháp quên mình, xóa đi một mối lo, bỏ đi một mắt xích lỏng lẻo, khiến những người ở lại có thể trút được một phần khổ đau. 

Điều này chính là giả thuyết thứ hai của hành vi tự tử từ góc nhìn sinh học tiến hóa (adaptive suicide). Các nghiên cứu về vấn đề này cho rằng, khi tìm đến cái chết, những người tự tử không hẳn chỉ tìm đến sự giải thoát cho bản thân mà còn là sự giải thoát cho những người xung quanh, giống như một sự hy sinh vô thức cho lợi ích của cộng đồng.

Những người tự tử là kẻ yếu đuối 

Con người chúng ta sinh ra không hề bình đẳng. Chúng ta chỉ có quyền đấu tranh để đạt được điều đó. Không ai có thể chọn cho mình một sức khỏe hoàn hảo, một gia đình hạnh phúc, một ngôi nhà giàu sang, một đất nước phồn vinh vv…rồi mới chấp nhận chào đời. 

Bởi mỗi chúng ta đều mang vác trên mình những gánh nặng vô hình rất khác nhau của sức khỏe và tâm sinh lý, thật khó để phán xét rằng tại sao tôi cũng bị áp lực như bạn mà tôi không bỏ cuộc. Ngưỡng chịu đựng của mỗi người khác nhau bởi nguồn tài nguyên cung cấp cho sự sống của mỗi người là khác nhau. 

Đây chính là giả thuyết thứ ba của hành vi tự tử, nhìn từ góc độ sinh học tiến hóa (pain-brain hypothesis). Giả thuyết này cho rằng chỉ loài người mới có khả năng nhìn nhận và đánh giá nỗi đau của mình, rồi dùng bộ não để lập kế hoạch tự hủy diệt nhằm chấm dứt nỗi đau ấy. 

Cao hơn, đó thậm chí còn là câu hỏi về quyền tự quyết. Ta đã không được chọn phương cách được sinh ra, nhưng ta có thể chọn phương cách mình chết đi. 

Sự phán xét, thậm chí rủa xả những người tự tử là kẻ hèn nhát phản ánh nhiều điều, trong đó rõ nhất là khả năng thấu cảm của người phán xét. Những người có ý định tự sát khi đọc được những lời phán xét đó có thể tìm cách vượt qua nỗi đau. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sự phán xét đó cũng khiến họ che giấu nỗi đau kỹ hơn, từ chối tìm đến sự trợ giúp. 

Đây chính một trong những nguyên nhân lớn nhất giải thích cho việc tỷ lệ nam giới tự vẫn luôn cao gấp nhiều lần nữ giới, ở Việt Nam là gấp hai, ở Úc là gấp ba. 

Như vậy có phải là đàn ông bản chất là yếu đuối hơn phụ nữ hay không? 

Đàn ông vốn được cho là phái mạnh. Họ cũng bị áp lực phải là phái mạnh. Nếu họ thất bại trong cuộc sống, đó là do họ yếu đuối, nhu nhược, là do tự bản thân họ không xứng đáng chứ không phải do các nguyên nhân khác. 

Lấy ví dụ như bạo hành. Không khó để thấy những câu chuyện đàn ông bị đánh đập và thiên hạ thi nhau thả mặt cười. Sự chế giễu “đàn ông mà yếu đuối” vô tình ngăn cản họ tìm kiếm sự giúp đỡ, xuất phát từ nỗi sợ rằng không ai tin họ. Họ tự xấu hổ và trách móc chính bản thân mình.

Như vậy, không chỉ xã hội đổ lỗi cho nạn nhân (đàn ông mà thế à?) mà chính nạn nhân cũng đổ lỗi cho chính mình (tại bản thân tôi yếu kém). Kết cục là người đàn ông phải đối mặt với không chỉ một mà tận hai tầng chướng ngại vật, khiến họ phải trả giá đắt vì phải chịu đựng, che dấu các vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần. 

Thậm chí chính người đàn ông cũng cố gắng tự coi đó là chuyện nhỏ để tránh làm mình bị tổn thương hơn, hoặc để không bị xấu hổ. Tại Mỹ chẳng hạn, tỷ lệ những người bị mắc chứng trầm cảm tìm đến giải pháp tự sát là 1% với phụ nữ, nhưng với đàn ông, tỷ lệ đó là 7%. 

Việc tỷ lệ nam giới tự tử cao gấp nhiều lần nữ giới khiến ta hiểu rằng, các vấn đề trong cuộc sống không đứng riêng lẻ mà tương tác với nhau. Như một kẻ bị đánh hội đồng, các vấn đề liên quan đến giới, giai tầng xã hội, tuổi tác, sức khỏe, tài chính, tinh thần …vv cùng “xúm vào” dần cho nạn nhân tơi tả, không có thời gian hồi phục. Chính vì thế, ta nên cân nhắc để không so sánh một cú đấm riêng lẻ với một trận tấn công dồn dập, để từ đó phán xét rằng kẻ tự tử chỉ là một kẻ yếu đuối. 

Vả lại, cái chết luôn là điều đáng sợ. Vì sự sinh tồn, tạo hóa đã cài đặt nỗi sợ ấy sâu đến mức con người luôn bằng mọi giá né tránh cái chết. Dù là tự tử, cảm tử, trợ tử, hay thậm chí chết vì danh dự, những con người tự nguyện đối mặt với cái chết đều có một động lực mạnh mẽ hơn cả cái chết. Vượt qua được nỗi sợ có tính bản năng đó có thể nào thuần túy là hèn nhát yếu đuối không hay thực sự là một trạng thái của lòng can đảm? 

*PGS.TS Nguyễn Phương Mai làm việc tại ĐH Khoa học Ứng dụng Amsterdam, Hà Lan. Bà nghiên cứu quản trị đa văn hoá bằng phương pháp liên ngành kết hợp với kiến thức thần kinh não bộ (neuroscience). Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

From: Đỗ Tan Hung & KimBang Nguyen